Tính cấp thiết của đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THÒ ÁI NHÂN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ ÁI NHÂN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS TS LÊ TRỌNG ÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Trọng Ân
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguốn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả
LÊ THỊ ÁI NHÂN
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
Chương 1: NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN 10
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN 10 1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 10 1.1.2 Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 14 1.1.3 Chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam
với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân 18 1.1.4 Tinh hoa văn hoá nhân loại, một trong những tiền đề quan trọng
của tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân 23 1.1.5 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền đề lý luận cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân 29
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN 40
1.2.1 Khái niệm chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện của nó 40 1.2.2 Tác hại của chủ nghĩa cá nhân đối với xã hội 49 1.2.3 Những nguyên tắc chống chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng
Hồ Chí Minh……… 65
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG CHỦ NGHĨA
CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 78 2.1 THỰC TRẠNG VỀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM TRƯỚC
VÀ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 78
2.1.1 Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam trước
thời kỳ đổi mới……….78
Trang 52.1.3 Nguyên nhân của chủ nghĩa cá nhân và những bài học kinh nghiệm
chống chủ nghĩa cá nhân sau 25 năm đổi mới 109
2.2 QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA
CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 120
2.2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam về chống chủ nghĩa cá nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế 120 2.2.2 Một số giải pháp mang tính định hướng về chống chủ nghĩa cá nhân
ở Việt Nam hiện nay 127
KẾT LUẬN 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [50, 83-84] Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi
có ý nghĩa lịch sử mang tầm thời đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, trong đó tư tưởng về chống chủ nghĩa cá nhân là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống quan điểm lý luận của Người
Sau hơn 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: nền kinh tế Việt Nam đã thốt khỏi thời kỳ suy thối và
đi vào giai đoạn phát triển ổn định; GDP hàng năm trung bình 7 – 8%; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện; tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững; quan hệ quốc tế
và giao lưu văn hố với bên ngồi ngày càng được mở rộng; vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao… Những thành tựu to lớn đó không chỉ là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam mà còn
là cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp tục tiến lên cùng xu hướng phát triển chung của thời đại
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Việt Nam đang phải
Trang 7đối mặt trước những khó khăn, thách thức và những nguy cơ khó lường Sự suy thối đạo đức đang diễn ra rất phức tạp trong hầu hết các giai tầng xã hội
Để thỏa mãn nhu cầu vật chất, một bộ phận cán bộ Đảng viên và thành phần
xã hội đã rơi vào lối sống sa hoa, trụy lạc, đánh mất phẩm chất đạo đức, tự tha hóa và biến chất Văn kiện Đại hội Đại biểu tồn quốc lần thứ XI vừa qua Đảng ta xác định: “Tình trạng suy thối về chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”[51, 29]; hiện tượng chạy chức, chạy quyền, vụ lợi cá nhân đã gây bức xúc dư luận xã hội và ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và uy tín của chế độ “Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp”[51, 29]
Thực trạng tiêu cực nêu trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra Trong đó, một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất chính là do chủ nghĩa cá nhân Bởi vậy, muốn ngăn chặn, đẩy lùi và khắc phục chủ nghĩa
cá nhân một cách căn cơ, chúng ta phải đứng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cần xác định đây là một trong những nhiệm vụ cấp bách của tồn Đảng, tồn quân, tồn dân và tồn xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề “Tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ
nghĩa cá nhân” cho đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành triết học của mình
Đây cũng có thể coi là một sự biểu hiện cụ thể của bản thân tác giả trong việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” do Bộ Chính trị phát động
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng đã và đang là một chủ đề lớn thu hút sự
Trang 8quan tâm của các nhà khoa học xã hội, các nhà hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau của Đảng, Nhà nước và nhiều tổ chức xã hội ở trong nước, ngồi nước Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về chống chủ nghĩa cá nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh theo những hướng tiếp cận cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân thông qua các công trình nghiên cứu về lịch sử, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, trong đó có một số tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như:
Tác giả Đinh Xuân Lâm với tác phẩm “Góp phần tìm hiểu cuộc đời
hoạt động và tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2008 Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn các mốc lớn có tính quyết định mang ý nghĩa bước ngoặt lịch sử trên con đường hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”
do đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội
2000 Tác phẩm đề cập những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời khẳng định tư tưởng của Người tiếp tục soi sáng sự nghiệp cách mạng Việt Nam Khi phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng thời chỉ ra rằng cần kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân để mỗi người Việt Nam giữ vững lý tưởng, hồi bão xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh đồng thời phê phán lối sống ích kỷ, hại dân, hại nước, coi đồng tiền là trên hết, đặt lợi ích cá nhân, gia đình lên trên lợi ích của quốc gia, dân tộc
Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tác phẩm “Một số vấn đề nghiên cứu Tư
tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2004 Tác phẩm này đã
làm sáng tỏ những giá trị tư tưởng cơ bản của chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời gợi mở một số vấn đề về nguồn gốc, nội dung, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và cách vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào trong sự nghiệp đổi mới
Trang 9Trong đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải chú ý đến nhu cầu, lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân; đồng thời phê phán chủ nghĩa cá nhân - một trong những hiện tượng tiêu cực đang gây bức xúc cho xã hội
Tác phẩm “Hồ Chí Minh - Vĩ đại một con người” của Giáo sư Trần Văn
Giàu do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2011 Tác phẩm được tuyển chọn từ những tác phẩm lịch sử như: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam; Lịch sử chống xâm lăng; Giai cấp công nhân Việt Nam; Miền Nam giữ vững thành đồng; Đạo lý làm người từ Lý Thường Kiệt đến Hồ Chí Minh… Tác phẩm đã trình bày một cách hệ thống về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn về Bác đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hồ bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội Đồng thời, tác phẩm cũng khẳng định tầm quan trọng của tư tưởng
Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hố, hiện đại hố vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; nhận định tính đúng đắn của Đảng ta về lập trường lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động
Thứ hai, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân dưới góc độ đạo đức, đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học
cao như:
Tác phẩm “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh truyền thống dân tộc và
nhân loại” do giáo sư Vũ Khiêu chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1993 Trong tác phẩm này, các tác giả tập trung nghiên cứu tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển tư tưởng của đạo đức của dân tộc Việt Nam và tư tưởng đạo đức nhân loại, nhất là tư tưởng đạo đức của phương Đông; đồng thời lý giải tại sao tình hình đạo đức hiện nay ở nước ta đang có chiều hướng sa sút trong các tầng lớp nhân dân; tại sao trên phạm vi thế giới
Trang 10ngày nay đang có nhiều quan điểm sai trái và hành vi phi đạo đức; làm thế nào để khắc phục tình trạng nói trên và tiếp tục phát huy các giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam và nhân loại, không ngừng nâng cao phẩm giá của con người trước mọi thử thách Một trong những nội dung quan trọng của tác phẩm này là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải chống chủ nghĩa cá nhân, giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích xã hội; chống lại sự ích kỷ, hẹp hòi, cá nhân chủ nghĩa, bảo vệ sự hưởng thụ chính đáng cho tất cả mọi người có sự đóng góp tích cực cho tiến bộ xã hội
Tác giả Hồng Trung có tác phẩm “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh qua
các phạm trù mà Người đã sử dụng”, Nxb Đại học quốc gia, Thành phố Hồ
Chí Minh, 2005 Tác phẩm trình bày Hồ Chí Minh với cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức ở Việt Nam; tập trung phân tích các phạm trù đạo đức mà
Hồ Chí Minh đã sử dụng; kiến giải sự kế thừa đạo đức của Người trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Qua đó góp phần nhận diện chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của sự suy thối đạo đức đồng thời nêu lên một số biện pháp để phòng, chống và ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân để làm lành mạnh hóa đời sống xã hội
Thứ ba, Tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân dưới góc độ văn hóa phải kể đến các tác phẩm tiêu biểu sau: “Văn hóa, đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của PGS.TS Bùi Đình Phong, Nxb Công
an Nhân dân, 2008 Tác phẩm này chủ yếu tập trung bàn về quyền lực và đạo đức; về vấn đề chống tham nhũng, nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân; luận giải và khẳng định giá trị của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên tồn cầu hóa; tăng cường giáo dục văn hóa
- đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân bằng các giải pháp văn hóa, qua đó góp phần quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Trang 11Tác phẩm “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Lý luận và thực tiễn”,
PGS.TS Phạm Văn Năng chủ biên, Nxb Thanh niên, 2009 Tác phẩm bao gồm nhiều bài viết xoay quanh nội dung về lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu và sửa đổi lối làm việc Thông qua đó để thấy rõ nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cá nhân và
những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân Chẳng hạn như: Bài viết: “Quan niệm
của Hồ Chí Minh về “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” – Nhìn từ góc độ văn hóa” của PGS.TS Phạm Ngọc Anh đã đưa ra sự
đối nghịch giữa đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa cá nhân
là một biểu hiện của sự tha hóa văn hóa Đảng Bài viết: “Về hồn cảnh ra đời,
giá trị và ý nghĩa của tác phẩm “nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của chủ tịch Hồ Chí Minh” của GS.TS Hồng Chí Bảo đã khái
quát về giá trị và ý nghĩa của tác phẩm trên cả hai phương diện lý luận và thực
tiễn đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay Bài viết “Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng, lãng phí trong giai đoạn hiện nay”
của Th.s Hồng Xuân Sơn đã nêu chủ nghĩa cá nhân chính là nguyên nhân
chính làm nảy sinh tham ô, lãng phí Bài viết “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” của GS.TS Mạch Quang
Thắng có ý nghĩa rất sâu sắc về chống chủ nghĩa cá nhân Bài viết “Thực hành
tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của
TS Nguyễn Khánh Vân, trong đó tác giả nhấn mạnh việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phải gắn liền với chống chủ nghĩa cá nhân
Thứ tư, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân từ thực tiễn chống chủ nghĩa cá nhân và xây dựng con người mới được thể hiện tập
trung ở những bài viết đăng trên một số tạp chí chuyên ngành như:
Trang 12Tạp chí Cộng sản số 7 (127) năm 2007, chuyên mục “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có bài “Xây và chống trong tư tưởng
và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của PGS.TS Bùi Đình Phong Bài viết
nhấn mạnh thực hành chí công vô tư là phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá
nhân; nêu những tác hại của chủ nghĩa cá nhân và biện pháp chống lại những tiêu cực trong xã hội
Tạp chí Chính trị số 2 năm 2007, chuyên mục “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” có bài “Nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của
PGS.TS Bùi Đình Phong Theo tác giả, nội dung của chủ nghĩa tập thể trái ngược với chủ nghĩa cá nhân; muốn chống chủ nghĩa cá nhân cần nhiều giải pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 4 (27) 2008 có
bài “Từ tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân
- suy nghĩ về vấn đề chống tham nhũng hiện nay”, tác giả Lê Hữu Ái đã nêu
những suy nghĩ của mình khi tìm hiểu và thấm thía lời dạy của Bác về nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Tạp chí Tuyên giáo số 3 ngày 1 tháng 4 năm 2009 có bài “Nâng cao đạo
đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong điều kiện Đảng cầm quyền”, PGS.TS Bùi Đình Phong cho rằng Đảng cầm quyền phải chú trọng
hàng đầu tới đạo đức cách mạng, mà chú trọng đến đạo đức cách mạng thì cần phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Cũng trên Tạp chí Tuyên giáo số 5 ngày 2 tháng 6 năm 2009 có bài
“Chống chủ nghĩa cá nhân, chống nguy cơ suy thối của Đảng cầm quyền”,
PGS.TS Bùi Đình Phong nhấn mạnh rằng chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch nội xâm của những người cộng sản, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng
Trang 13Nhìn chung, tất cả những công trình nghiên cứu, những bài viết nêu trên
là nguồn tài liệu quý rất phong phú, rất đáng trân trọng, giúp ích rất nhiều cho
tác giả tham khảo và thực hiện đề tài luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn
Góp phần làm rõ những luận điểm khoa học và cách mạng của chủ tịch
Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, trên cơ sở phân tích tư tưởng, quan điểm của Người về chủ nghĩa cá nhân, tác hại và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đời sống xã hội Qua đó đề xuất một số giải pháp về chống chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng của Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lý luận tồn diện
và sâu sắc, đề cập đến nhiều lĩnh vực rộng lớn của cách mạng Việt Nam Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ muốn góp phần làm rõ những luận điểm cơ bản của chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân - một bộ phận hữu cơ hợp thành hệ thống lý luận của Người; qua đó nêu lên thực trạng
Trang 14và giải pháp chống chủ nghĩa cá nhân trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc
tế ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về “chủ nghĩa cá nhân” và “chống chủ nghĩa cá nhân” Đồng thời, luận văn còn kết hợp và sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, lịch sử – logic, đối chiếu – so sánh, lý luận kết hợp với thực tiễn… trong quá trình thực hiện
đề tài luận văn của mình
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học
Luận văn phân tích, góp phần khẳng định giá trị khoa học và cách mạng
của tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về
“chủ nghĩa cá nhân” và “chống chủ nghĩa cá nhân” ở Việt Nam hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với sinh viên học môn tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc nghiên cứu chuyên sâu chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về “nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”
6 Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 15Chương 1 NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
1.1 HỒN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam vốn là xã hội phong kiến suy tàn lạc hậu Nhà Nguyễn sau khi lật đổ triều đại Tây Sơn đã thi hành chính sách đối nội và đối ngoại vừa bảo thủ vừa phản động Về đối nội, tăng cường đàn áp nhân dân, cự tuyệt mọi đề án cải cách của các nhà Nho yêu nước Về đối ngoại, thực hiện bế quan toả cảng, bạc nhược trước ngoại xâm, chỉ lo bảo vệ ngai vàng cho hồng tộc Vì vậy, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), triều đình nhà Nguyễn bất lực, hèn nhát cuối cùng đầu hàng nhục nhã Khi hiệp định Patonot (1884) được ký kết, xã hội phong kiến Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Về chính trị, thực dân Pháp tuyệt đối không cho nhân dân Việt Nam
một chút tự do dân chủ nào “Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đồn kết”[36, 1] Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam bằng quân sự, chúng bắt tay ngay vào việc khai thác thuộc địa Chúng đã xây dựng ở nước ta bộ máy hành chính cai trị chặt chẽ, thiết lập hệ thống quân sự, cảnh sát, tồ án và nhà tù hết sức nghiêm ngặt Chúng dùng người Việt trị người Việt, lấy binh lính thuộc địa bảo vệ thuộc địa Hệ thống
tồ án, “nhà tù nhiều hơn trường học” do thực dân Pháp lập ra ở khắp Việt Nam “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong nhửng bể máu Chúng ràng buộc
dư luận, thi hành chính sách ngu dân Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược”[36, 1] Từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Trang 16xã hội của Việt Nam bị chính sách xâm lược và thống trị trực tiếp của thực dân Pháp hết sức dã man
Dưới tác động của chính sách bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất, cùng với chính sách cai trị của chủ nghĩa đế quốc, mỗi giai cấp xã hội thuộc địa ở Việt Nam có địa vị kinh tế, thái độ chính trị khác nhau, thậm chí có lợi ích đối lập nhau, nhưng nổi lên mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai của chúng
Trong lòng xã hội thuộc địa, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ,
nó không thủ tiêu mâu thuẫn cũ mà là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ, làm cho
xã hội Việt Nam càng thêm đen tối Dân ta “một cổ hai tròng”, “dân vong quốc nô”, phải chịu kiếp nô lệ cùng lúc phải chống cả thù trong giặc ngồi, cả triều Nguyễn lẫn Tây nên cuộc đấu tranh của nhân dân ta càng khó khăn hơn Trong khi triều Nguyễn bất lực, hèn nhát, đầu hàng thực dân Pháp thì trái lại, nhân dân ta với truyền thống yêu nước không chịu khuất phục trước họa ngoại xâm, đã dấy lên các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ và rộng khắp ở Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ Thế nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều có một kết cục chung là bị dìm trong bể máu Sự thất bại của các phong trào vũ trang yêu nước lúc bấy giờ càng chứng tỏ sự bất lực của các phong trào đấu tranh dựa trên hệ tư tưởng phong kiến tiểu tư sản đã lỗi thời trước lịch sử dân tộc khi phải đương đầu với kẻ thù đế quốc hùng mạnh hơn mình rất nhiều là thực dân Pháp
Về kinh tế, thực dân Pháp bóc lột nhân dân Việt Nam đến tận xương tủy,
khiến cho người dân nghèo nàn, thiếu thốn, đất nước xơ xác, tiêu điều Theo
“Thống kê ruộng đất thu thuế của nhà Nguyễn vào nửa đầu thế kỷ XIX cho biết lúc bấy giờ trên phạm vi cả nước, ruộng đất công chỉ còn khoảng 20%, trong lúc các loại ruộng đất tư chiếm trên 80% diện tích ruộng đất” [27, 110]
Sự phát triển tư hữu ruộng đất dẫn đến sự gia tăng giai cấp địa chủ và tầng lớp
Trang 17nông dân tư hữu Chính sách khai thác - thống trị thuộc địa của thực dân Pháp làm cho kinh tế - xã hội Việt Nam từ thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX càng có nhiều biến động tiêu cực Trong chính sách của thực dân Pháp có những điều khoản mang tính “pháp lý” nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ruộng đất của nông dân Việt Nam dễ dàng vào tay tư bản thực dân Pháp “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng
và nhập cảng Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”[36, 2] Chính sách thống trị và xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp đã làm cho các giai tầng, kết cấu giai cấp ở Việt Nam có sự phân hố mạnh mẽ Phương thức bóc lột của chế độ phong kiến Việt Nam không bị xóa bỏ mà được thực dân Pháp duy trì áp dụng nặng nề hơn: “Tồn thể nhân dân đau khổ
vì sự bóc lột… thuế má và tạp dịch tăng lên Ruộng đất nhiều làng bị bọn địa chủ và chủ đồn điền Pháp chiếm đoạt Pháp thi hành chính sách gây nạn đói để làm cho nông dân bần cùng Giai cấp tư sản và giai cấp tiểu tư sản Việt Nam bị nghẹt thở vì sự áp bức nặng nề của tư bản thuộc địa” [65, 76]
Chính sách khai thác và thống trị của thực dân Pháp đã làm cho cơ cấu
xã hội Việt Nam có những biến đổi nhanh chóng Giai cấp tư sản, tiểu tư sản, tầng lớp công chức, trí thức và những người làm dịch vụ bắt đầu xuất hiện… Theo đó xuất hiện những mâu thuẫn mới và mâu thuẫn cũ càng trở nên sâu sắc
Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với tư sản, nông dân với địa chủ… nhưng mâu thuẫn cơ bản và sâu sắc nhất vẫn là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn thực dân đế quốc Pháp Tất cả những mâu thuẫn đó tạo tiền đề dẫn đến các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng hơn trên khắp đất nước Việt Nam Trong điều kiện
xã hội đó, Hồ Chí Minh nhận định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người
Trang 18Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến” [34, 28]
Cũng trong thời kỳ này, các tân thư và ảnh hưởng của cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu ở Trung Quốc đã có tác động nhất định làm cho phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam chống Pháp chuyển dần sang xu hướng tư sản với các phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, Duy Tân, Việt Nam quang phục hội…Tuy nhiên, những phong trào này chỉ rộ lên một thời gian ngắn rồi lần lượt bị thực dân Pháp dập tắt Có thể nói sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân sâu xa và quan trọng nhất là chưa có đường lối cứu nước đúng đắn, phù hợp với hồn cảnh lịch sử của cả dân tộc Những người lãnh đạo phong trào lúc bấy giờ chưa có được chiến lược đúng, chưa tìm được lực lượng cách mạng nòng cốt, tiên tiến đủ sức tập hợp sức mạnh của dân tộc để chống lại thực dân, đế quốc Lúc bấy giờ, sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, cho mọi người dân yêu nước Việt Nam là phải tìm ra con đường cứu nước đúng đắn để cứu nhân dân ta thốt khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai
Về văn hóa – xã hội, thực dân Pháp không ngừng thi hành chính sách
văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản, kích thích các hoạt động mê tín
dị đoan, đồi phong, bại tục, dùng rượu cồn, thuốc phiện để ru ngủ nhân dân nhất là tầng lớp thanh niên nhằm lung lạc tinh thần chống thực dân Pháp và sao nhãng trách nhiệm cộng đồng của họ đối với Tổ quốc Mọi hoạt động vốn là truyền thống văn hóa lâu đời của nhân dân ta đều bị thực dân Pháp cấm đốn Chúng tìm mọi cách để bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân
để dễ thống trị Từ khi xâm lược Việt Nam, đế quốc Pháp đã thi hành chính
Trang 19sách thống trị chuyên chế hà khắc, đàn áp nhân dân Việt Nam nhằm đạt được lợi nhuận kinh tế cao nhất Để đạt mục đích đó, bọn chúng đã nô dịch nhân dân ta từ chính trị đến văn hóa, giáo dục Những điều mà thực dân Pháp mang đến cho nhân dân Việt Nam hồn tồn không phải là sự “khai hóa văn minh” mà họ đã mượn danh nghĩa đó để giày xéo dân tộc ta
Trong bối cảnh lịch sử rối ren và đen tối ấy, Hồ Chí Minh xuất hiện là niềm hạnh phúc cho cả dân tộc Việt Nam Sinh ra trong bối cảnh đất nước
nô lệ, lầm than; được nuôi dưỡng trong tình yêu nước, thương nòi sâu sắc và
kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Người sớm có hồi bão cứu nước, cứu dân với sự căm thù thực dân Pháp sâu sắc Bởi vậy, Người đã quyết ra nước ngồi để tìm con đường giải phóng cho đồng bào mình Hành trang quý nhất mà Người mang theo là lòng yêu nước là ham muốn sao cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm no,
áo mặc, ai cũng được học hành…
1.1.2 Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản ở phương Tây bước sang một giai đoạn mới, đó là bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc Trong khi đó hầu hết các nước ở phương Đông vẫn chưa thốt ra khỏi chế độ phong kiến Chủ nghĩa đế quốc phát triển nhanh chóng, bành trướng khắp tồn cầu tạo nên những mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các nước thuộc địa, mâu thuẫn giữa đa số người lao động với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở thuộc địa với tư sản ở chính quốc và tư sản bản xứ, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau Những mâu thuẫn đó ngày một phát triển, tích tụ, tất yếu tạo tiền đề dẫn đến các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX Tính tất yếu đó được mở đầu bằng cuộc cách mạng
Trang 20Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và đặc biệt sau đó là cuộc Đại Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) “Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hồn tồn mới, một xã hội không có người bóc lột người” [44, 300-301] Sự thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười đã mở ra cho lồi người một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi tồn thế giới Nhận xét về vai trò và ý nghĩa to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh đã viết: Cuộc cách mạng đó đã làm “Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của lồi người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong xã hội, có sức mạnh vô cùng to lớn lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hành động cách mạng vì hồ bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [44, 303] Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã phá vỡ một khâu quan trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, thành lập nhà nước công nông đầu tiên thật sự thuộc về nhân dân lao động Cột mốc vĩ đại đó có vai trò hết sức to lớn và vạch
ra con đường đúng đắn cho các phong trào giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp trên thế giới Nó đã đánh thức và cổ vũ những người bị áp bức bóc lột trên thế giới, khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công Hồ Chí Minh nhận định:
“Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử lồi người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn
và sâu xa như thế” [44, 300]
Tuy nhiên, trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc bành trướng sức mạnh bao trùm khắp thế giới thì sự thất bại của tất cả các phong trào yêu nước của các dân tộc thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng không phải do nhân dân
Trang 21thiếu anh dũng và các lãnh tụ phong trào thiếu nhiệt huyết mà là do thiếu một đường lối đúng đắn Người nhận ra trong phong trào đấu tranh đòi tự do ở các nước thuộc địa và xóa bỏ sự áp bức của giai cấp công nhân đều nhằm chống một kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Khi tham gia cách mạng với vai trò là chiến sĩ cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng ngay trên đất nước của những kẻ đi xâm lược thuộc địa cũng có những con người đang đấu tranh chống lại bọn chúng Vì thế ở Paris, anh Nguyễn đã thiết lập nhiều mối quan
hệ với những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, với các chiến sĩ cách mạng thuộc địa và tham gia phong trào công nhân Pháp, qua đó tiếp cận được ánh sáng chân lý của chủ nghĩa Lênin và cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười
Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) được thành lập vào năm 1919 theo sáng kiến của V.I.Lênin đúng vào lúc nội bộ phong trào cộng sản quốc tế khủng hoảng, là sự kiện chính trị quan trọng và rất có ý nghĩa đối với anh Nguyễn Cũng năm đó, anh Nguyễn tham gia Đảng xã hội Pháp chỉ vì đây là
tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực Việt Nam, là tổ chức duy nhất theo đuổi
lý tưởng của Đại cách mạng Pháp: tự do, bình đẳng, bát ái Anh Nguyễn đã
lấy tên Nguyễn Ái Quốc khi ký tên vào bản “yêu sách của nhân dân An
Nam” gởi hội nghị Véc xây để đòi các quyền tự do, dân chủ bao gồm tám
điểm: “thứ nhất tổng ân xá tất cả những người bản xứ bịa án tù chính trị; thứ
hai, cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng
dược quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu, xóa bỏ hồn tồn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức
bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam; thứ ba, tự do báo chí và tự
do ngôn luận; thứ tư, tự do lập hội và hội họp; thứ năm, tự do cư trú ở nước
ngồi và tự do xuất dương; thứ sáu, tự do học tập, thành lập các trường kỹ
thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; thứ bảy, thay chế
Trang 22độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; thứ tám, có đại biểu thường trực
của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”[12, 35] Thế nhưng, chủ nghĩa đế quốc không chấp nhận trước khát khao tự do chính đáng của các dân tộc thuộc địa Có thể nói, bản yêu sách đã có một tiếng vang lớn gây nên sự chú ý đặc biệt trong cộng đồng người Việt ở Pháp, ở trong nước và cả đối với kẻ thù Người Pháp coi đó là một “quả bom chính trị” nổ giữa Paris và lần đầu tiên nhân dân Pháp thấy ra vấn đề ở Việt Nam Nhân dân Việt Nam thì cho đấy là phát pháo hiệu giục giã đấu tranh Bản yêu sách cũng đã thể hiện được nguyện vọng chung của nhân dân các nước thuộc địa và họ rút ra bài học: muốn độc lập, tự do không thể ngồi chờ “lòng tốt” của bọn thực dân đế quốc mà phải ra sức đấu tranh để giành lấy quyền
lợi của mình Ngay sau đó Nguyễn Ái Quốc đã viết bài “Tâm địa thực dân”
công khai vạch trần bộ mặt thực dân Pháp ngay chính sào huyệt của nó, đồng thời anh cũng phân biệt bọn thực dân Pháp với “những người Pháp tốt
ở nước Pháp”[65, 20]
Từ năm 1920 tiếng vang và ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga và lãnh tụ V.I Lênin lan rộng khắp Châu Âu và tồn thế giới Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga và Nhà nước Xô Viết đã ảnh hưởng mạnh
mẽ đến lý luận cách mạng và tư tưởng của Hồ Chí Minh, trong đó có tư
tưởng về chống chủ nghĩa cá nhân sau này Trong “Con đường dẫn tôi đến
chủ nghĩa Lênin” (1960), Hồ Chí Minh đã viết về ảnh hưởng lớn lao đối với
Người từ bản sơ thảo lần thứ nhất “Luận cương về vấn đề dân tộc thuộc địa”
của Lênin Đối với Người, bản luận cương như một tia sáng dẫn đến bước ngoặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh Người viết: “Luận cương của Lênin làm tôi cảm động phấn khởi, sáng tỏ và tin tưởng biết bao Tôi xúc động đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói
Trang 23trước đồng bào đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày, đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” Từ đó tôi đã có
sự lựa chọn, tán thành quốc tế thứ ba và hồn tồn tin tưởng theo Lênin” [42, 127] Vì Quốc tế III chủ trương giải phóng thuộc địa, nên Người đã từ Pháp tìm sang Nga Người đã không ngần ngại khi bỏ phiếu cho quốc tế Ba trong Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp diễn ra ngày 25 đến ngày 30 tháng 12 năm 1920 tại thành phố Tua bởi đối với Người vấn đề được quan tâm hàng đầu lúc đó là vấn đề dân tộc và thuộc địa Với việc “bỏ phiếu cho Đệ Tam quốc tế” [65, 51], Bác đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, thuộc thế hệ lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng cộng sản Pháp đồng thời là một chiến sĩ quốc tế
Về phương diện đạo đức, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng vẹn tồn cả về
tư tưởng, lý luận và thực tiễn về đạo đức trên cơ sở kết tinh các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và đạo đức mới, đạo đức cách mạng, nền đạo đức của giai cấp vô sản Đặc biệt Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng rất lớn ở Lênin tinh thần luôn nghĩ về lợi ích giai cấp của nhân dân lao động Hồ Chí Minh thấy ở Lênin: “Tính coi khinh sự sa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”[34, 295]
1.1.3 Chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hố của dân tộc Việt Nam với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân
Chủ nghĩa yêu nước
Trong thang bậc những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước được nhân dân ta tôn vinh và xếp ở hàng đầu Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước là một trong những tiền đề quan trọng nhất và là cội nguồn của việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng của Người về chống chủ nghĩa cá nhân
Trang 24Yêu nước là tư tưởng và tình cảm phổ quát của nhân dân các quốc gia dân tộc trên thế giới Nhưng tuỳ theo điều kiện tự nhiên và hồn cảnh lịch sử cụ thể, tinh thần yêu nước của mỗi quốc gia dân tộc có quá trình hình thành, phát triển sớm muộn khác nhau Đó là mối quan hệ giữa tính phổ quát và tính đặc thù của chủ nghĩa yêu nước của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong lịch sử, sức mạnh lớn lao của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của nhiều dân tộc được thể hiện trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mình trong đó có dân tộc Việt Nam “Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã tạo nên một hệ thống tư tưởng và một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc” [7, 85] Ngay từ buổi đầu dựng nước, là những “con Lạc, cháu Hồng” ai cũng nhận thấy yêu nước là tài sản tinh thần cao quý nhất của dân tộc Đại Việt, là tư tưởng và tình cảm thiêng liêng giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý làm người và đứng đầu bậc thang của các giá trị truyền thống của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phát huy sức mạnh vô biên của nó trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, là mẫu số chung và là một động lực nội sinh của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Truyền thống vô cùng quý báu đó đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy trong suốt cuộc đời của Người và đã được Người tổng kết tại Đại hội Đảng lần thứ II (1960) như một chân lý vĩ đại của lịch sử dân tộc:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[38, 171]
Truyền thống đại đồn kết tồn dân tộc
Truyền thống đại đồn kết tồn dân tộc đã hình thành và phát triển bền vững trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là truyền thống quý
Trang 25báu đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi người Việt Nam yêu nước
Cội nguồn của dân tộc Việt trong truyền thuyết là mẹ Âu Cơ và Lạc Long Quân sinh ra một bọc trăm trứng Từ truyền thuyết đó, chúng ta có hai tiếng đồng bào (chung một cái bọc) Tinh thần đại đồn kết tồn dân tộc của người Việt Nam được thể hiện không chỉ trong cuộc sống, trong lao động sản xuất mà còn thể hiện rõ nhất trong khi chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, địch họa tinh thần đại đồn kết tồn dân tộc luôn bừng sáng và mang tính quyết định sự tồn vong của đất nước Bởi vậy, từ xa xưa, ông cha ta luôn răn dạy các thế hệ con cháu rằng: “chia rẽ thì chết, đồn kết thì sống”, “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” như là mệnh lệnh của lương tâm, là phương châm hành động của con người Việt Nam Việt Nam là một nước gồm
54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 87% dân số, sống tập trung ở vùng đồng bằng và đô thị, đồng thời sống xen kẽ ở vùng trung du và miền núi Các dân tộc thiểu số phần lớn sống ở vùng trung du và miền núi và sống xen
kẽ với nhau Mỗi dân tộc có vốn văn hố riêng tạo nên những vùng địa – tộc người rất phong phú đa dạng Nhưng do sự gắn bó lâu đời trong một quốc gia thống nhất, do yêu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm và do sự giao lưu, hội nhập văn hố, các cộng đồng dân tộc Việt Nam đã tạo nên một nền văn hố thống nhất trong tính đa dạng, vì vận mạng cộng đồng, dân tộc Người Việt Nam trân trọng, giữ gìn vun đắp tình đồn kết, phát triển, gắn kết nhau trong tình làng xóm, quê hương, đất nước Tinh thần đại đồn kết dân tộc là những thành tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam
Đại đồn kết dân tộc không chỉ là sức mạnh, là nguồn gốc chiến thắng chống thiên nhiên, chống mọi kẻ thù xâm lược mà còn là động lực để chấn
Trang 26hưng đất nước, “lá lành đùm lá rách” Đại đồn kết là một yêu cầu bức thiết để tạo nên nội lực quốc gia
Đại đồn kết đã trở thành chiến lược trong tư tưởng và hành động cách mạng của Hồ Chí Minh Người luôn coi trọng tinh thần đồn kết quý báu trong mọi mối quan hệ: đồn kết dân tộc, đồn kết quốc tế Hồ Chí Minh rất coi trọng sức mạnh truyền thống đại đồn kết dân tộc, Người đã khái quát bằng câu nói bất hũ: “Đồn kết, đồn kết, đại đồn kết Thành công, thành công, đại thành công” [44, 517] Đặc biệt, trong Di chúc Bác vẫn không quên khuyên các Đảng viên trong Đảng “Phải giữ gìn sự đồn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở Đảng ta phải tích cực góp phần xây dựng tình đồn kết với bạn bè quốc tế, cùng phấn đấu vì
sự nghiệp chung giải phóng nhân loại
Truyền thống cần cù lao động, sáng tạo trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và trong lao động sản xuất
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của nước Việt Nam có khí hậu, tài nguyên, sinh thái của vùng nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với con người Vốn là một dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lâu đời, cuộc sống người dân Việt Nam đã gắn liền với hoạt động lao động nông nghiệp Để có hạt gạo, bát cơm, người nông dân phải cần cù lao động, chịu thương chịu khó dù phải quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” bởi họ tin tưởng rằng “bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm” Trong cuộc sống, con người vừa thích nghi, vừa khai phá, cải tạo thiên nhiên để mở mang đồng ruộng, xây dựng xóm làng, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với các nghề thủ công, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán… Muốn đạt được hiệu quả kinh
tế cao, con người phải liên kết lại với nhau trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên, chống thiên tai nhất là chống ngập lụt, hạn
Trang 27hán… Từ rất sớm nhân dân ta đã biết đắp đê ngăn sông, ngăn nước tràn vào đồng ruộng, đê biển, đào kênh, khơi mương làm thuỷ lợi để chống hạn hán tưới tiêu cho ruộng đồng Công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế
xã hội trong những đặc điểm của thiên nhiên Việt Nam đã sớm tạo nên sự gắn bó cộng đồng, sự gắn bó với quê hương, cơ sở của tình yêu đất nước
Từ đó tạo ra sự gắn bó, chung sống và hồ đồng giữa con người với thiên nhiên, sự gắn bó giữa con người với con người trong tính cộng đồng cao của truyền thống Việt Nam
Truyền thống yêu nước, đồn kết, tương thân, tương ái trong khó khăn, hoạn nạn, sự cần cù, yêu lao động còn được thể hiện trong quá trình dựng nước, giữ nước, chống giặc ngoại xâm Sự xâm lăng, giày xéo của các thế lực bên ngồi đã làm cho đời sống người dân càng trở nên cơ cực, để tồn tại họ đã không còn sự lựa chọn nào khác là phải nêu cao hơn nữa tinh thần cần cù, nhẫn nại và tiết kiệm Vậy là, truyền thống lao động cần cù và tinh thần tiết kiệm đã được hình thành từ yêu cầu tất yếu cho sự sinh tồn của dân tộc Trong cuộc chiến với thiên nhiên và kẻ thù xâm lăng, sự lao động cần cù và tinh thần tiết kiệm đã trở thành một giá trị đạo đức truyền thống quan trọng của con người Việt Nam Công cuộc xây dựng đất nước, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở là cơ sở chung của tình yêu đất nước đối với nhân dân của mọi quốc gia, dân tộc
Truyền thống nhân ái, nhân nghĩa, khoan dung, vị tha, tương thân tương
ái trong khó khăn, hoạn nạn
Truyền thống nhân ái, nhân nghĩa, khoan dung, vị tha, tương thân tương
ái trong khó khăn, hoạn nạn vốn là truyền thống quý báu của dân tộc ta Ông cha ta dạy: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng” Giá trị truyền thống này có nguồn gốc từ phương thức sinh tồn của người Việt Nam Con người biết yêu thương con người, sẵn sàng sẻ chia,
Trang 28giúp đỡ nhau khi cần thiết Truyền thống này phát từ tình cảm yêu quý con người: “tình làng, nghĩa xóm”, “tối lửa tắt đèn có nhau”, “lá lành đùm lá rách”,
“thương người như thể thương thân” “Thương người như thể thương thân” là một lẽ sống tốt đẹp đã gieo vào tấc lòng của mỗi người Việt từ bao đời nay Truyền thống ấy sau này đã được nhà thơ Tố Hữu khắc lại trong bài thơ “Bài
ca mùa xuân 1961”: “Có gì đẹp trên đời hơn thế/Người yêu người sống để yêu nhau” Truyền thống này còn được đắp xây bởi nghĩa vợ chồng, tình anh em, tình mẫu tử, xóm làng, cao hơn nữa là tình yêu quê hương, đất nước Không chỉ với quê hương, dân tộc, máu thịt, người Việt Nam từ xưa đã luôn giải quyết mọi việc theo phương châm “có lý có tình”, dựa trên sự khoan dung, lòng nhân ái Sự nhân ái đó vốn dĩ đã được khắc họa trong hình ảnh hào hùng
từ trang sử khai nguyên của dân tộc: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” (Bình Ngô Đại cáo - Nguyễn Trãi) hay “đánh kẻ chạy đi không ai nỡ đánh người chạy lại” Lòng thương người đã trở thành một nếp nghĩ, một cách sống, một giá trị đạo đức tốt đẹp, bền vững trong đời sống của người Việt Nam
1.1.4 Tinh hoa văn hố nhân loại, một trong những tiền đề lý luận quan trọng của
tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân
Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân không chỉ có cơ sở thực tiễn “mà còn có sự đóng góp của tư tưởng và nền văn hóa dân tộc, tư tưởng tiến bộ và nền văn hóa phương Đông, phương Tây”[9, 85], góp phần bổ sung cho quan điểm của Người về chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân trở nên tồn diện và sâu sắc
Việt Nam ở vào vị trí thuận lợi cho việc giao lưu với các nước Đông Nam Á; vừa nối liền với Châu Á – châu lục có số dân đông nhất thế giới, vừa nhìn ra biển Đông, một khu vực giao tiếp của nhiều nền văn minh trên thế giới Qua giao lưu và tiếp biến văn hố, Việt Nam đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ
Trang 29văn hố bên ngồi làm phong phú nền văn hố dân tộc nhưng vẫn giữ được cốt cách bản sắc văn hố của mình Đó là tính thích nghi, hội nhập và bản lĩnh của văn hố Việt Nam Trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc những mặt tích cực, tiến bộ của những tư tưởng khác nhau trên thế giới Ở Người là sự tổng hợp của một trí tuệ uyên bác
về văn hóa dân tộc Việt Nam và kết tinh những giá trị của văn hóa nhân loại từ
cổ chí kim, từ Đông sang Tây
Tinh hoa văn hóa đầu tiên mà Hồ Chí Minh tiếp nhận thuộc về văn hóa phương Đông, chủ yếu là văn hóa Trung Quốc Được sinh ra trong một gia đình Nho học, ngay từ khi còn nhỏ, Hồ Chí Minh đã được học và chịu ảnh
hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo Đó là tư tưởng về lễ, nghĩa, trí, dũng,
tín, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… mà nội dung và bản chất của các
phạm trù này đều đối lập với chủ nghĩa cá nhân, xa lạ với chủ nghĩa cá nhân
Hồ Chí Minh nhận xét: “Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó Người ta đưa ra khái niệm về thế giới đại đồng” [62, 26] Hồ Chí Minh đã mượn những
từ ngữ, những phạm trù đạo đức của Khổng Mạnh vốn rất quen thuộc với truyền thống của văn hóa Đại Việt để thức tỉnh dân tộc, truyền cho nhân dân ý
thức tự cường để làm chủ đất nước Trước hết, “Học thuyết của Khổng Tử có
ưu điểm là tu dưỡng đạo đức cá nhân”[9, 51] Thứ hai, tư tưởng về thế giới đại
đồng Đó là một nội dung quan trọng trong tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức và tư tưởng giáo dục của Khổng Tử Tư tưởng chính trị của Khổng Tử trước hết được thể hiện ở lý tưởng về một thế giới đại đồng Tư tưởng này
được nói rõ trong thiên lễ vận thuộc kinh lễ: Đạo đức lớn được thực hành thì
thiên hạ là của chung… Do đó mọi âm mưu đều mai một và không thể xảy ra, mọi hành vi trộm cắp, gây rối, giặc cướp đều không thể nổi dậy, cửa ngõ không cần đóng Như thế gọi là đại đồng Như vậy nền hòa bình trên thế giới này chỉ nảy nở từ nền đại đồng trong thiên hạ Người ta không sợ thiếu mà chỉ
Trang 30sợ không công bằng Có thể thấy Khổng Tử hướng tới một xã hội lý tưởng, thiên hạ như gia đình, mọi người coi nhau như anh em một nhà, cùng hưởng thụ các quyền lợi và cùng có trách nhiệm với nhau Tư tưởng đại đồng của Khổng Tử đã được Khang Hữu Vi, nhà tư tưởng cận đại của Trung Quốc giải
thích trong sách Đại đồng thư Người Việt Nam thường nói đến thế giới đại đồng chính là qua sách Tân thư của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi Từ tư
tưởng đại đồng, Khổng Tử đề cấp đến tư tưởng công bằng xã hội: Người cai quản quốc gia không lo thiếu của cải mà lo phân phối không đều, không lo nghèo đói mà lo lòng dân không yên Đại phàm đều thì là không nghèo, hòa thì không thiếu, yên thì không sợ nghiêng đổ Hồ Chí Minh đã chắt lọc và tiếp thu những điểm tích cực trong tư tưởng của Nho giáo Chẳng hạn trong thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Bác Hồ đã nhắc nhở: Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng, không sợ đói chỉ sợ lòng dân không
yên Về phương diện đạo đức, các phạm trù trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư, nhân, lễ, nghĩa … của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh chọn lọc
và bổ sung, phát triền những nội dung mới mới mang tính cách mạng Theo Hồ Chí Minh, đó là đạo lý làm người không thể thiếu trong mỗi con người
Xét ở góc độ văn hóa - đạo đức, Hồ Chí Minh là con người tồn vẹn, sống có lý tưởng vì nước, vì dân, không bị sự cám dỗ cá nhân: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất Ở Hồ Chí Minh ta thấy Người suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục
vụ nhân dân Đến khi sắp từ biệt thế giới này, Người tiếc là không được phục
vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa
Cũng như Nho giáo, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Tư tưởng tích cực của Phật giáo được thể hiện trong những quan niệm về vị tha, từ
bi, bác ái, cứu nạn cứu khổ, thương người như thể thương thân, tuyên truyền nếp sống đạo đức trong sạch, giản dị, chăm lo điều thiện; đề cao tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ, chất phác, chống mọi phân biệt đẳng cấp, ca ngợi lao
Trang 31động, phê phán thói lười biếng, Chính nhờ những tư tưởng này mà Phật giáo
đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư duy, hành động, cách ứng xử của con người Việt Nam, ảnh hưởng tích cực và nhanh chóng đồng điệu với tính cách con người Việt Chúa Giêsu đã làm nên sự vĩ đại của mình bằng tấm lòng nhân ái và sự hy sinh bản thân vì lý tưởng phục vụ nhân dân Hồ Chí Minh nhiều lần ca ngợi lòng từ bi, bác ái, tinh thần cứu khổ cứu nạn của đức Phật, lòng nhân đạo cao cả của chúa Giêsu Người tâm nguyện cố gắng suốt đời làm học trò của các vị ấy
Với tư tưởng nhạy bén, óc ham học hỏi, Hồ Chí Minh không dừng lại với những tri thức phương Đông, Người còn tiếp nhận và am tường cả tinh hoa văn hóa phương Tây trong đó nổi bật là những tư tưởng tự do, dân chủ, tư tưởng về quyền con người, tư tưởng nhân văn và hòa bình
Trên con đường tìm đến đất Pháp, Người đã đi qua nhiều nước phương Tây, nền văn hóa phương Tây đã có nhiều ảnh hưởng không chỉ trong việc hình thành con đường cách mạng Hồ Chí Minh mà cả đến tư tưởng đạo đức và nhân cách sống của Người như tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp Voltaire, Rousseau, Montesquieu Phong trào khai sáng coi việc tuyên truyền, phổ biến các tư tưởng tiến bộ, nâng cao các chuẩn mực đạo đức và tri thức khoa học là những phương tiện quan trọng để biến đổi cuộc sống xã hội, con người, làm cho nhân loại tiến bộ Phong trào thúc giục, kêu gọi các nhà tư tưởng – chính trị xây dựng lại quan hệ xã hội trên cơ sở bình đẳng, công lý và các nguyên tắc bắt nguồn từ quyền lợi con người Trong tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp, Hồ Chí Minh nhận thức được rằng trong văn hóa phương Tây chứa đựng chủ nghĩa nhân văn, khát vọng tự do của con người cũng như cuộc đấu tranh chống bóc lột, áp bức và bất công để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, mang đến hạnh phúc cho con người Tiếp cận với tư tưởng của Voltaire, Rousseau, Montesquieu Người quan tâm đến các trào lưu tư tưởng triết học, chính trị của thế kỷ ánh sáng và tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp trong
Trang 32đó có tư tưởng con người luôn được trân trọng và làm theo chân lý, điều thiện
và cái đẹp Mỗi cá nhân và nhân loại đều có khả năng tiến tới tự hồn thiện Có thể nói qua việc tiếp cận trực tiếp các tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp
như Tinh thần pháp luật, Bàn về khế ước xã hội Hồ Chí Minh thấy được sức
mạnh của tự do, dân chủ và quyền của con người: “Tất cả mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm, hồn tồn bình đẳng xét về khía cạnh lý lẽ và do đó họ được bình đẳng trước pháp luật và quyền tự do cá nhân Bởi vậy cần có những
cơ chế, hiến chương tránh lạm dụng, vi phạm những quyền cơ bản về sự tự do của cá nhân Những giải pháp đảm bảo tự do, bình đẳng được nhắc đến bao gồm: sử dụng thành tựu khoa học, tinh hoa trí tuệ, sức mạnh của lý trí, tinh thần hồi nghi và phê phán; sử dụng tình cảm và ngôn ngữ trái tim; khế ước xã hội đảm bảo người dân có tự do, bình đẳng” [84]
Ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Đông Ba rồi vào trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hóa Pháp Đặc biệt Người rất ham
mê môn lịch sử và say sứ tìm hiểu cuộc Đại cách mạnh Pháp Khi xuất dương, Người từng sang Mỹ, sống ở New York, làm thuê ở Bruclin và thường đến thăm khu Háclem của người da đen Người thường suy nghĩ về tự do, độc lập, quyền sống của con người… được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ Nghiên cứu Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789, Hồ Chí Minh đã tiếp thu được tinh thần của tư tưởng tự do, dân chủ trong hai bản tuyên ngôn đó và trích dẫn nó trong tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đó chính là sự cô đọng tư tưởng tự do, dân chủ, khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người, tất cả các dân tộc trong
tư tưởng của Người Vào khoảng năm 1912, Nguyễn Tất Thành đến Mỹ, bức tượng Nữ thần Tự do - biểu tượng của sự tự do dân chủ của đất nước Mỹ đã gây cho Nguyễn Tất Thành nhiều suy nghĩ Dưới chân Tượng Nữ thần Tự do
có xiềng sắt tượng trưng cho chiến công lật đổ chính quyền tàn bạo Tay trái
Trang 33của bức tượng nắm bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ Trên đầu đội vòng nguyệt quế có bảy đường tia sáng chiếu về các hướng như muốn lan truyền một nền tự do, dân chủ cho cả nhân loại, một biểu tượng tràn đầy tư tưởng nhân văn, nhân đạo đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong lòng chàng trai An Nam yêu nước Tuyên ngôn độc lập Mỹ, một bản tuyên ngôn đề cập đến chân lý chính nghĩa mà Hồ Chí Minh đang muốn kiếm tìm đồng bào mình “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [36, 1] Dù vậy, trong khoảng chừng một năm ở trên đất nước Mỹ, Người đã tận mắt chứng kiến những điều hồn tồn ngược lại nhất là khi ở khu Harlen (nơi sinh sống của người da đen Mỹ) Sự thống khổ của người Mỹ đen ở đây đã làm cho tất cả những biểu trưng của bức tượng nữ Thần nổi tiếng kia chỉ là sự sáo rỗng, giả dối Điều đó càng thôi thúc
Hồ Chí Minh quyết tâm tìm đến những giá trị đích thực trong bản Tuyên ngôn Đứng trước tượng Nữ thần tự do, Người ghi lại cảm tưởng của mình: “Ánh sáng trên đầu thần tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân thần tự do thì người da đen đang bị chà đạp, số phận người phụ nữ bị chà đạp Bao giờ người
da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới”[12,24] Những điều “mắt thấy, tai nghe” đã giúp Hồ Chí Minh nhận ra hơn 150 năm mà nông dân vẫn cứ cực khổ vẫn cứ lo tính tốn cách mạnh lần hai, “những quyền cơ bản của con người như quyền sống trong tự do, hạnh phúc vẫn không được giai cấp
tư sản cầm quyền thực hiện đối với đông đảo người lao động trong nước, vẫn còn nạn phân biệt chủng tộc đối với người da đen và những cuộc chiến tranh xâm lược các nước khác”[12, 22] Người có nhận xét về cách mạng tư sản Pháp “cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh chưa đến nơi Tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công
Trang 34nông, ngồi thì nó áp bức thuộc địa”[34, 274].Sau này, khi tham gia phong trào cộng sản quốc tế, Người luôn nhiệt tình ủng hộ, đấu tranh hết mình cùng tầng lớp lao khổ các nước để giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Tóm lại, nhờ sự thông minh, óc quan sát, ham học hỏi và được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, trên hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh
đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, của văn hóa Đông Tây, từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển Tinh hoa văn hóa Đông Tây với những yếu tố tích cực của nó đã có vai trò quan trọng trong sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
là học thuộc từng câu, từng chữ một cách giáo điều, sách vở Người luôn quan tâm và căn dặn chúng ta: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc đối với mọi người và đối với bản thân mình” [40, 247]
Trước hết, quan điểm chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa
xã hội luôn là một thể thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng tồn xã hội lồi người Theo đó, tính nhân đạo của nền đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa cũng được lan rộng
Trang 35hơn C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin đã từng bước xây dựng những luận điểm cơ bản về chủ nghĩa xã hội, chỉ ra những phương hướng phát triển chủ yếu và những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội Đặc trưng cơ bản nhất là giải phóng con người thốt khỏi tình trạng bị áp bức về chính trị, bị bóc lột về kinh
tế, bị nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người có thể tận lực phát triển mọi khả năng sẵn có của mình Trong xã hội đó tất cả hướng đến lợi ích và hạnh phúc của nhân dân lao động, công bằng trong hưởng thụ, hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Vì thế nếu nền sản xuất xã hội càng phát triển thì đời sống của nhân dân lao động càng đầy đủ, các giá trị về tư do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc… cho tất cả mọi người càng được bảo đảm và phát triển Tất
cả những giá trị đó đều có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng
Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đối với Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng có nghĩa là đến với con đường cách mạng vô sản Từ đây, khi thực sự tìm thấy con đường cứu nước chân chính, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không
có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và “chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là
sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản của cách mạng thế giới”[34, 416]
Thấm nhuần nguyên tắc “Lợi ích lớn nhất cho số đông người nhất”, gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc xã hội, ngay từ lúc trẻ C.Mác đã cho rằng nếu một người lao động chỉ cho mình thôi thì người đó có thể trở nên một nhà bác học nổi tiếng, một nhà thông thái lớn, một nhà thơ tuyệt vời nhưng người đó không bao giờ có thể trở thành một con người thật sự hồn thiện và vĩ đại Nhưng Nếu người ấy chọn nghề trong đó người ấy có thể làm được nhiều nhất cho nhân loại, thì lúc đó người ấy cảm thấy không phải một
Trang 36sự vui sướng ích kỷ, hạn chế và đáng thương mà hạnh phúc của người đó sẽ thuộc về hàng triệu người
Cả cuộc đời C.Mác đã thể hiện sự hy sinh cho sự nghiệp cách mạng cao
cả Trong “điếu văn trước mộ C.Mác” năm 1883 Ăngghen viết: “Đấu tranh là yếu tố tồn tại của cuộc đời C.Mác và C.Mác đã đấu tranh một cách say sưa, kiên cường và đạt được những thành công hiếm có” Theo C.Mác, tất cả những
gì mà con người đấu tranh để giành lấy đều gắn với lợi ích của họ Cả C.Mác
và Ph.Ăngghen đều xác định rằng, lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người đang theo đuổi những mục đích của mình Trong cuộc đấu tranh vì sự
sống còn của bản thân mình, con người có nhu cầu chung phải liên kết với
nhau Bản thân những nhu cầu chung là cơ sở nảy sinh những lợi ích chung
Nhưng ngồi những lợi ích chung đó, mỗi con người lại có những lợi ích riêng nảy sinh trên cơ sở của các nhu cầu được hình thành từ những hồn cảnh lịch sự
cụ thể Bên cạnh đó bản thân những nhu cầu chung của cộng đồng và xã hội, cũng như những nhu cầu riêng của cá nhân lại có nhiều loại: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần… những nhu cầu này là cơ sở để hình thành nên các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần… Tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ Điểm khác nhau chỉ là ở chỗ có hành vi chịu sự chi phối của lợi ích vật chất, có hành vi bị chi phối bởi lợi ích tinh thần, có hành vi chịu sự thúc đẩy của lợi ích cá nhân, có hành vi chịu sự thúc đẩy của lợi ích tập thể, xã hội… Không có hành vi nào của con người hồn tồn thốt khỏi sự thúc đẩy của lợi ích Trong xã hội, các lợi ích khác nhau đó, đặc biệt là giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội có thể phù hợp với nhau cũng có thể không phù hợp, thậm chí còn đối lập nhau Điều
đó còn xảy ra đối với cả những lợi ích chung của các cộng đồng khác nhau, cũng như đối với các lợi ích riêng khác nhau Để những hành vi và những hoạt động của từng người cụ thể đang theo đuổi những lợi ích khác nhau không triệt
Trang 37tiêu nhau và làm rối loạn xã hội, xã hội cần đến những phương thức điều tiết hành vi của con người mang ý nghĩa phổ biến Đạo đức là một trong những phương thức như vậy và là phương thức đầu tiên mà lồi người sử dụng Cùng với sự phát triển xã hội, khi mà sự phân công xã hội càng chặt chẽ, khi khả năng và tính tất yếu của sự hợp tác giữa người và người càng lớn thì người ta càng tuân thủ những yêu cầu đạo đức và quy phạm pháp luật nhất định, cần áp dụng các biện pháp không gây tổn hại đối với người khác
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh
có bước nhảy vọt lớn Đó là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc
tế vô sản, kết hợp dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa Mác Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, “muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lê-nin” Đối với Người, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra Người không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức nói chung và lối sống vì mọi người nói riêng có cơ sở khách quan của nó, đó là yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung cũng như sự phát triển và hạnh phúc của mỗi cá nhân nói riêng Nó còn xuất phát từ mối liên hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin
là một nguồn gốc – nguồn gốc chủ yếu nhất, của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh Không thể tách rời
Trang 38tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngồi hệ tư tưởng Mác - Lênin; nói cách khác, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng của nó là chủ nghĩa Mác Lênin Cho nên, có thể nói, ở Việt Nam, giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác Lênin Đó là logic của vấn
đề nghiên cứu và phát triển lý luận chính trị ở nước ta hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã từng khẳng định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, trong
đó có tư tưởng của Người về chống chủ nghĩa cá nhân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Khi tổng kết các bài học thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí không gì thay thế được Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt học được ở chủ nghĩa Mác – Lênin phương pháp biện chứng để giải quyết tốt công việc cách mạng ở nước ta Giáo sư, viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn đã từng nhận xét: “Có lẽ sau C.Mác và Lênin, Bác là người đã thực hiện một cách tuyệt vời không ai bì kịp, sự nhất trí giữa trái tim và khối óc, giữa tình cảm và lý trí Sự đóng góp của Bác trong việc vận dụng quy luật biện chứng của lịch sử thật là độc đáo” [14, 10]
Ngồi ra, sẽ là không đầy đủ và thiếu khách quan nếu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh mà không đề cập đến phẩm chất đặc biệt và hoạt động thực tiễn phong phú của bản thân Hồ Chí Minh Bởi lẽ, tư tưởng, lý luận bao giờ cũng là sản phẩm của tư duy con người bắt nguồn từ thực tiễn và được khái quát bằng trí tuệ chủ quan của con người Do đó, sự hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân cũng không nằm ngồi quy luật này
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm tinh thần gắn
Trang 39liền với những phẩm chất đặc biệt và hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh
Những phẩm chất đặc biệt của Hồ Chí Minh
Sinh ra trong một gia đình Nho học, giàu lòng yêu nước, yêu dân, yêu lao động và ham học Cụ phó bảng Nguyễn Sinh sắc là nhà Nho cấp tiến, học để giúp dân, giúp đời chứ không phải để làm quan Tấm gương học tập của cha, chịu thương chịu khó của mẹ, đặc biệt là chủ thuyết “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” (đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) [58, 19] của cụ phó bảng Sắc đã ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình hình thành nhân cách và tư tưởng Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, Nghệ Tĩnh, quê hương của Người rất giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm cũng như truyền thống lao động cần cù, truyền thống văn hố hiếu học Đây là quê hương của các anh hùng nổi tiếng thời phong kiến như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung…các lãnh tụ yêu nước nổi tiếng thời cận đại như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… Làng Kim Liên của Nguyễn Tất Thành cũng thấm máu bao liệt sĩ như Vương Thúc Mậu, Nguyễn Sinh Quyến
“Thực tế sôi động của nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng và cả nước ta nói chung cùng với nỗi niềm tâm sự của ông Sắc và các sĩ phu yêu nước thời bấy giờ”[58, 23] đã làm cho Nguyễn sinh Cung “đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào” [58, 23]
Trước hết, Hồ Chí Minh là điển hình cho những giá trị văn hố giàu trí tuệ,
sự ham học hỏi và nhân cách đậm chất nhân văn, trọng tình, giàu lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay Tình cảm được nuôi dưỡng, giáo dục trong tuổi ấu thơ trên quê hương xứ Nghệ anh hùng cùng gia đình có truyền thống nhân nghĩa là những dòng sữa mát lành nuôi dưỡng một tâm hồn thuần Việt biết yêu nước, thương nòi, giàu tình yêu thương con người, hun đúc nên tâm hồn, tình cảm của một nhà cách mạng yêu nước nhiệt thành - Hồ Chí
Trang 40Minh Những tình cảm hồn hậu đó là nền tảng quan trọng trong việc học hỏi không ngừng nghỉ; cần cù, nhẫn nại, kiên định không ngại khó khăn, gian nan
và nguy hiểm để kiếm tìm con đường cứu nước, cứu dân Không những vậy, những nền tảng đó còn được làm giàu thêm bằng những tư tưởng từ bi của nhà Phật, bác ái của Đức Chúa Giêsu, những quan điểm nhân văn của văn minh nhân loại về “Tự do, bình đẳng, bác ái”, “quyền mưu cầu hạnh phúc” cho lồi người mà Hồ Chí Minh đã dày công khảo cứu, chắt lọc, tiếp thu và phát triển
Thứ hai, Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại Hồ chí Minh là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách Hồ Chí Minh là một người hết lòng thương yêu quý trọng đối với nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân “lấy dân làm gốc” Người giáo dục cán bộ nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì
Thứ ba, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng và trong cuộc sống cá nhân, Hồ Chí Minh luôn đặt hạnh phúc của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân
Ngay trước lúc lâm chung Người nói: “Suốt đời tôi tôi chỉ có một ham muốn,
ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hồn tồn độc lập, dân ta được hồn tồn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[36, 161] Suốt cuộc đời Hồ Chí Minh luôn coi độc lập của Tổ quốc, tự
do và hạnh phúc của nhân dân là “mục đích cao nhất và duy nhất” là “ham muốn tột bậc của mình” Ngay từ nhỏ được giáo dục và thấm nhuần tư tưởng đạo đức truyền thống, Người đã có lòng yêu nước phục vụ Tổ quốc và nhân