1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ gis trong công tác quản lý cây xanh đường phố thực hiện cụ thể tại khu vực quận 10, thành phố hồ chí minh công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2006

91 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Công Nghệ Gis Trong Công Tác Quản Lý Cây Xanh Đường Phố Thực Hiện Cụ Thể Tại Khu Vực Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phạm Công Thức, Trần Duy Minh, Lê Long Nam, Trần Ngọc Tây, Lê Thị Mỹ Thùy
Người hướng dẫn Th.S Lê Minh Vĩnh
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Địa Lý Môi Trường
Thể loại Công trình dự thi
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 5,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng công cụ này để tạo ra một sản phẩm cụ thể bằng cách xây dựng hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu mẫu về cây xanh đường phố tại khu vực được giới hạn là quận 10, TP HCM.. Phạm vi nghiên cứu

Trang 1

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU

Họ và tên sinh viên: Trần Duy Minh Nam, Nữ: Nam Dân tộc: Kinh Lớp: Địa Lý Du Lịch Năm thứ: 4 / Số năm đào tạo: 4

Họ và tên sinh viên: Lê Long Nam Nam, Nữ: N ữ Dân tộc: Kinh Lớp: Địa Lý Môi Trường Năm thứ: 4 / Số năm đào tạo: 4

Họ và tên sinh viên: Trần NgọcTây Nam, Nữ: Nam Dân tộc: Kinh Lớp: Địa Lý Du Lịch Năm thứ: 4 / Số năm đào tạo: 4

Họ và tên sinh viên: Lê Thị Mỹ Thùy Nam, Nữ: N ữ Dân tộc: Kinh Lớp: Địa Lý Môi Trường Năm thứ: 4 / Số năm đào tạo: 4 Người Hướng Dẫn: Th.S Lê Minh Vĩnh

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 10

CHƯƠNG 1 14

TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ 14

1.1 Bản đồ 14

1.2 Các khái niệm về GIS 15

1.3 Các thành phần của GIS 17

1.4 Các ứng dụng của GIS 19

CHƯƠNG 2 : HIỆN TRẠNG CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ TRONG NỘI THÀNH TP HỒ CHÍ MINH 22

2.1 Các khái niệm liên quan 22

2.2 Hiện trạng cây xanh thành phố ở 12 quận nội thành TP HCM 24

2.3 Tình hình quản lí, những tồn tại và bất cập 33

CHƯƠNG 3 : XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU GIS PHỤC VỤ QUẢN LÝ CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ 39

3.1 Phân tích và thiết kế cơ sở dữ liệu 39

3.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu 52

CHƯƠNG 4 60

KẾT QUẢ THỰC HIỆN - CÁC ỨNG DỤNG CỤ THỂ 60

4.1 Kết quả của cơ sở dữ liệu 60

4.2 Các ứng dụng cụ thể 63

4.3 Xây dựng giao diện ứng dụng 72

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề Mục tiêu đề tài Phạm vi nghiên cứu Tình hình nghiên cứu trong & ngoài nước Phương pháp nghiên cứu

Các bước thực hiện

Trang 6

Chương 2

HIỆN TRẠNG CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ TRONG NỘI THÀNH

TP HỒ CHÍ MINH

Các khái niệm liên quan

Hiện trạng cây xanh thành phố ở 12 quận nội thành TP HCM Tình hình quản lí, những tồn tại và bất cập

Trang 7

Chương 3

XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU GIS PHỤC VỤ QUẢN LÝ CÂY XANH

ĐƯỜNG PHỐ

Phân tích và thiết kế cơ sở dữ liệu

Xây dựng cơ sở dữ liệu

Trang 9

KẾT LUẬN

Kết luận chung Đóng góp của đề tài Hạn chế và hướng mở rộng

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Khi nhắc đến một thành phố, đô thị hiện đại thì một yếu tố mà người ta không thể không quan tâm là mảng xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng Cây xanh không chỉ được xem là lá phổi của thành phố, giúp cho môi trường không khí của thành phố trong lành hơn mà còn mang lại bóng mát cho thành phố nhất là những thành phố quanh năm nắng nóng như TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, cây xanh còn mang lại sự mềm mại cho thành phố, giúp làm giảm bớt đi cái vẻ cứng nhắc của các tòa nhà chọc trời, những kiến trúc bê tông

đồ sộ ngày càng gia tăng trong thành phố

Hệ thống cây xanh ở TP Hồ Chí Minh được hình thành qua nhiều giai đoạn

Từ thời Pháp thuộc, trước 1975 và sau ngày giải phóng Do đó mà hệ thống cây xanh ở TP rất đa dạng về chủng loại và phong phú về số lượng Cây xanh nói chung và cây xanh đường phố nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra

“bộ mặt” của một đô thị Ngoài ra, nó còn là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững của một đô thị TP Hồ Chí Minh là đô thị phát triển năng động nhất cả nước, với sự phát triển và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng của thành phố và kèm theo đó là sự thu hẹp dần của hệ thống mảng xanh và cây xanh trong thành phố Vì vậy, vấn đề quản lý cây xanh để tạo mảng xanh cho đô thị và tạo

vẻ mỹ quan cho thành phố là vấn đề cấp thiết hiện nay Tuy nhiên, công tác quản

lý tốn khá nhiều công sức, tiền của nhưng hiệu quả đem lại chưa cao Chính vì vậy quản lý đô thị nói chung và quản lý cây xanh đô thị nói riêng trong một thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh là một vấn đề không đơn giản Hiện tại, có rất nhiều cách thức tổ chức khác nhau đã và đang được áp dụng trong thực tế Trong xu thế phát triển của khoa học kỹ thuật, để đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi của ngành thì Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một công nghệ mới nhưng là một hệ thống mạnh có khả năng quản lý thông tin địa lý (vị trí và thuộc tính), có thể cập nhật, truy xuất, phân tích, tổng hợp và chỉnh sửa thông tin một cách dễ

Trang 11

dàng Đây là một công cụ hiệu quả hỗ trợ rất đắc lực trong công tác quản lý Công ty Công Viên Cây Xanh Thành Phố cũng đã mong muốn áp dụng công nghệ GIS nhằm giảm bớt khối lượng công việc hiện hành do việc quản lý dữ liệu

về cây xanh chủ yếu vẫn ở trên giấy tờ

Vì thế, nhóm sinh viên Địa Lý mong muốn tìm tòi học hỏi, thử áp dụng công nghệ mới vào một lĩnh vực cụ thể để nâng cao vốn tri thức, kinh nghiệm của mình Đồng thời góp một phần nhỏ đưa khoa học công nghệ ứng dụng vào đời sống thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung: qua đề tài này chúng tôi muốn đề xuất việc áp dụng công nghệ mới trong công tác quản lý cây xanh: công nghệ thông tin địa lý GIS Sử dụng công cụ này để tạo ra một sản phẩm cụ thể bằng cách xây dựng hoàn chỉnh

cơ sở dữ liệu mẫu về cây xanh đường phố (tại khu vực được giới hạn là quận 10,

TP HCM)

Mục tiêu cụ thể: sử dụng GIS để xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ thống cây xanh đường phố TP Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đề xuất một số ứng dụng phục

vụ cho công tác quản lý được dễ dàng và hiệu quả

Mục tiêu lâu dài: thông qua kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu để minh chứng cho sự cần thiết và khả năng ứng dụng GIS vào thực tiễn đời sống nói chung và công việc quản lý đô thị nói riêng

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Với mục tiêu thử nghiệm và do sự hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ:

- Giới hạn về nội dung: là ứng dụng GIS trong công tác quản lý cây xanh đường phố ở khu vực một quận của thành phố

- Giới hạn phạm vi địa lý: là khu vực quận 10, TP Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, việc giới hạn này không làm mất đi khả năng mở rộng của kết quả nghiên cứu Mô hình đã được xây dựng có thể được nhân rộng, áp dụng cho

Trang 12

các quận khác trên địa bàn TP Hồ Chí Minh nói riêng và các thành phố khác nói chung

4 Sơ lược tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước:

Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS) ra đời trên cơ sở sự phát triển của khoa học máy tính (Computer Science), khoa học trái đất… và xuất phát từ các yêu cầu quản lý tài nguyên – môi trường Cho đến nay, GIS đã được ứng dụng trong nhiều lãnh vực có liên quan đến dữ liệu không gian,

từ những các lãnh vực tự nhiên đến khoa học xã hội

Trên thế giới, công nghệ GIS đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống Tại Việt Nam, đây là một công nghệ mới đã được nghiên cứu và triển khai nhưng vẫn chưa phổ biến Những năm gần đây, rất nhiều ngành đã bắt đầu nghiên cứu đưa vào ứng dụng như: quản lí nhà đất, quản lí số nhà, quản lí rác thải, xây dựng bản đồ du lịch, tìm kiếm thông tin du lịch…

Hòa trong xu thế phát triển chung nhằm hiện đại hóa hệ thống quản lí, Tp HCM đã và đang tiến hành dự án “HCM GIS” trong đó công ty Công Viên Cây Xanh (thuộc Sở Giao Thông Công Chánh) là một thành viên của dự án này Việc

áp dụng công nghệ GIS để quản lý hệ thống cây xanh đường phố là một xu hướng tất yếu để hiện đại hoá công tác quản lý cũng như đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống quản lý đô thị Tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng GIS vào công tác quản lý cây xanh trong thành phố vẫn chưa được thực hiện

5 Phương pháp thực hiện

Quá trình nghiên cứu có sự áp dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, do yêu cầu đặc thù của mục tiêu nghiên cứu nên các phương pháp GIS đã được sử dụng chủ yếu Cụ thể :

Phương pháp tổng hợp: tìm hiểu, đánh giá hiện trạng đối tượng nghiên cứu; tham khảo và đề xuất ý kiến các chuyên gia, cơ quan hữu quan…

Phân tích thiết kế cơ sở dữ liệu theo mô hình GIS

Thu thập và xử lý thông tin thuộc tính – không gian ngoài thực địa

Trang 13

Nhập dữ liệu không gian và những dữ liệu thuộc tính đi kèm

Sử dụng công cụ GIS để quản lý, phân tích và hiển thị dữ liệu về cây xanh đường phố cùng các dữ liệu khác có liên quan

6 Các bước thực hiện mục tiêu đề tài

Nghiên cứu GIS

Xác định mục tiêu

Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc quản lý cây xanh đường phố

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ

1.1 Bản đồ

1.1.1 Ý niệm

Bản đồ là một đối tượng nghiên cứu lâu đời của ngành khoa học bản đồ Có nhiều định nghĩa về bản đồ, trong đó có thể xem quan điểm của giáo sư K.A Xalisev là một quan điểm rõ ràng và đầy đủ: “Bản đồ địa lý là mô hình kí hiệu hình tượng không gian của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên và xã hội được thu nhỏ, được tổng hợp hóa theo một cơ sở toán học nhất định nhằm phản ánh vị trí, sự phân bố, mối tương quan giữa các đối tượng và hiện tượng và cả những biến đổi của chúng theo thời gian để thỏa mãn mục đích, yêu cầu đã được định trước”.1

1.1.2 Đặc điểm cơ bản

Với định nghĩa này, chúng ta có thể thấy bản đồ có ba đặc điểm cơ bản làm

nó khác với các đối tượng khác Đó là: Bản đồ được xây dựng dựa trên cơ sở toán học, để thể hiện nội dung bản đồ, người ta sử dụng hệ thống kí hiệu bản đồ

và có sự tổng quát hóa nội dung biểu hiện

Trang 15

Thông tin địa lý là thông tin có phần dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính

Trong quá trình phát triển của loài người đã nảy sinh nhu cầu giao lưu, trao đổi thông tin với nhau Bản đồ là phương tiện thể hiện thông tin địa lý hữu hiệu nhất

Trong thực tế, việc dùng bản đồ, không chỉ giúp tiếp nhận thông tin mà còn

có cả xử lý thông tin nữa Sử dụng bản đồ có thể giúp con người tư duy để phục hồi cấu trúc không gian của hiện tượng ở những thời điểm khác nhau, từ đó đưa

ra các nhận xét, đánh giá và dự đoán trong tương lai

Như vậy, chính nhờ vai trò thể hiện thông tin địa lý hữu hiệu, bản đồ trở thành một trong những ngành khoa học cơ bản của công nghệ mới ra đời: Công nghệ GIS

1.2 Các khái niệm về GIS

1.2.1 GIS là gì?

GIS được hiểu là Geographic Information System là một công nghệ mới nhưng phát triển khá nhanh Ngày nay, do sự mở rộng và phát triển về chức năng cũng như các ứng dụng của GIS nên GIS còn được hiểu ở một nghĩa như là ngành khoa học độc lập, đó là khoa học thông tin địa lý (GIS: Geographic Information Science)

Từ khi ra đời, GIS đã nhanh chóng chứng tỏ khả năng ưu việt hơn hẳn các

hệ thông tin bản đồ truyền thống nhờ vào khả năng tích hợp dữ liệu mật độ cao, cập nhật thông tin dễ dàng cũng như khả năng phân tích, tính toán của nó Do đó

hệ thống thông tin địa lý đã trở thành công cụ trợ giúp quyết định cho rất nhiều ngành, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Ngày nay, GIS được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Chính vì thế, GIS được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau do đó cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về GIS tùy theo quan điểm sử dụng Theo NCCGIA (Nationnal Center of Goegraphic Information and Analysis) GIS được định nghĩa như sau:

Trang 16

“Hệ thống thông tin địa lý là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu bằng máy tính để thu thập, lưu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian” (1988)

Cho dù với cách tiếp cận nào thì hệ thống thông tin địa lý vẫn có những khả năng của hệ thống máy tính (phần cứng, phần mềm) và các thiết bị ngoại vi dùng

để nhập, lưu trữ, truy vấn, xử lý phân tích, các hiển thị hoặc xuất dữ liệu Trong

đó, cơ sở dữ liệu của hệ thống chứa những dữ liệu của các đối tượng, các hoạt động kinh tế, xã hội, nhân văn, phân bố theo không gian và những sự kiện xảy ra theo tiến trình lịch sử

1.2.2 Cơ sở khoa học công nghệ thông tin địa lý

Ngày nay, bên cạnh ý niệm GISystem, người ta đã mở rộng thành khái niệm “khoa học thông tin địa lý” (Geographic Information Science) theo các hướng nghiên cứu về GIS và nghiên cứu với GIS Hiện nay, thuật ngữ khoa học thông tin địa lý (GIScience) được sử dụng phổ biến tại Hoa Kì , là nơi có thể được xem là một trong những cái nôi của GIScience và cũng là nước có hạ tầng thông tin địa lý cũng như dịch vụ thông tin địa lý (GIScience) phát triển mạnh

mẽ

GIS được phát triển trên cơ sở của khoa học máy tính, GIS sử dụng và phát triển các mô hình toán máy tính để biểu diễn, lưu trữ, phân tích, hiển thị dữ liệu không gian GIS xác định vị trí của các thực thể trong không gian bằng những phương pháp xác định vị trí của ngành bản đồ GIS xây dựng và phát triển các

mô hình toán máy tính để xử lý dữ liêu không gian và phân tích ý nghĩa của các đối tượng, các hoạt động, các sự kiện trong không gian theo các lý luận của địa

lý học Có thể nói khoa học địa lý là một khoa học liên ngành, bao gồm các ngành: khoa học máy tính, toán học, địa lý học và bản đồ học

Trang 17

Hình 1.1: GIS là một khoa học liên ngành

Từ khi ra đời, khoa học thông tin điạ lý (GIScience) đã và đang phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của khoa học máy tính và công nghệ thông tin Với sự phát triển đó, GIS càng ngày càng được nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực sử dụng như một công cụ để giải quyết những bài toán đặc thù của riêng ngành Sự ứng dụng rộng rãi đó, đã làm tăng thêm sức sống cho khoa học thông tin địa lý, vì khi sử dụng GIScience vào các chuyên ngành khác nhau đó, GIScience nhận thêm được nhiều bài toán cần được nghiên cứu

Tóm lại, GIS là một ngành khoa học liên ngành đồng thời cũng là một công

cụ của nhiều ngành Sự phát triển của GIS không những ở những bài toán do bản thân nó đặt ra mà còn từ những bài toán phong phú do sự ứng dụng trong nhiều chuyên ngành khác nhau mang lại

1.3 Các thành phần của GIS

Hệ GIS là một hệ thống với những hệ con gắn kết chặt chẽ với nhau Có nhiều quan điểm khác nhau về các thành phần của GIS Bao gồm:

 Mô hình hệ thống 3 thành phần : phần cứng, phần mềm, con người

 Mô hình hệ thống 4 thành phần : kỹ thuật (technoware) bao gồm phần cứng, phần mềm, thông tin(infoware), tổ chức(orgaware), con người(humanware)

 Mô hình 5 thành phần: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, qui trình, con người

Khoa Học Máy Tính

Toán học

GIS

Địa lý học Bản đồ học

Trang 18

 Mô hình 6 thành phần: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, qui trình, tổ chức, con người

Về cơ bản, có thể xem GIS gồm năm phần chính Năm thành phần quan trọng cấu thành nên GIS: phần cứng, phần mềm, ứng dụng, dữ liệu và con người Năm thành phần này phải cân bằng, hoàn chỉnh để GIS có thể hoạt động hiệu quả

Phần cứng: bao gồm hệ thống máy tính và các thiết bị nhập, xuất, lưu trữ,

hiển thị dữ liệu không gian Trong đó, hệ thống máy tính gồm có một hoặc nhiều máy được kết nối thành một hệ thống mạng: LAN hay WAN; các thiết bị ngoại

vi để nhập, xuất, lưu trữ dữ liệu như máy digitizer, scanner, các thiết bị định vị, máy in, plotter, máy phóng hình (projector), máy ghi đĩa quang hoặc CD, băng từ…Tuỳ theo mục tiêu và tổ chức hệ thống thông tin địa lý, nhà thiết kế sẽ xác định qui mô và cấu hình phần cứng thích hợp

Phần mềm: phần mềm GIS bảo đảm đủ bốn chức năng của hệ thống thông

tin địa lý là nhập, lưu trữ, phân tích và xử lý, hiển thị dữ liệu không gian, phi không gian Ngoài ra, phần mềm còn phải đáp ứng yêu cầu của hệ thống mở, cho phép nâng cấp khi cần thiết và có thể liên kết với hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống cơ sở dữ liệu thuộc tính hiện có Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phần mềm khác nhau như: Arc Info, Arc View, Mapinfo, SPANS, IDRISI, WinGIS…

Dữ liệu: bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian, được thu

thập, lưu trữ theo một cấu trúc chuẩn, có thể liên thông trên mạng và được bảo quản theo một chế độ nhất định

Các quy trình xử lý: được các nhà phân tích thiết kế hệ thống xác lập

trong tiến trình kiến tạo và khai thác hệ thống thông tin địa lý Các quy trình bao gồm: nhập dữ liệu, lưu trữ, bảo quản dữ liệu, truy vấn dữ liệu, xuất dữ liệu và hiển thị dữ liệu

Con người là yếu tố quyết định sự thành công trong tiến trình kiến tạo hệ

thống và tính hiệu quả của hệ thống trong tiến trình khai thác, vận hành Trong

Trang 19

hệ thống thông tin địa lý, con người sẽ làm việc trên 3 vị trí cũng là 3 cấp có chức năng khác nhau

- Nhóm một là cấp kỹ thuật viên thao tác trực tiếp trên các thiết bị khai thác

phần cứng, phần mềm để thu thập, nhập dữ liệu, tổ chức lưu trữ dữ liệu, hiển thị

dữ liệu và những thao tác khi có yêu cầu của người sử dụng cấp cao hơn

- Nhóm hai là những nhà quản trị hệ thống, sử dụng hệ thống để thực hiện

các bài toán phân tích, đánh giá, giải quyết những vấn đề theo một mục tiêu xác định để làm chức năng trợ giúp quyết định Những người quản trị hệ thống trong nhóm này đặt yêu cầu, bài toán cho những người làm việc trong nhóm một Những người quản trị hệ thống là gạch nối giữa những nhà lãnh đạo với hệ thống Người quản trị hệ thống tiếp thu yêu cầu của nhà lãnh đạo để triển khai cho nhóm một thực hiện trên hệ thống thông tin địa lý

- Nhóm ba là những người sử dụng các kết quả, các báo cáo của hệ thống

thông tin địa lý để ra quyết định Nhóm này đặt ra mục tiêu, yêu cầu hoạt động của hệ thống thông tin địa lý

Con người trong hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý hành chính nhà nước bao gồm những chuyên viên chuyên ngành trong các lĩnh vực khác nhau có nhiệm vụ nhập dữ liệu chuyên ngành, khai thác hệ thống, xử lý dữ liệu bằng cách phân tích và tổng hợp dữ liệu của nhiều ngành để giải quyết những bài toán

cụ thể của ngành mình, phục vụ công tác trợ giúp quyết định cho lãnh đạo trong ngành

1.4 Các ứng dụng của GIS

Hệ thống thông tin địa lý mặc dù là công nghệ mới nhưng nó đã dần chiếm một vị trí quan trọng Hiện nay, thực tế hơn 80% các thông tin trong lĩnh vực môi trường và quản lý đô thị đều là thông tin địa lý Vì vậy, công nghệ GIS ngày càng được ứng dụng rộng rãi GIS có khả năng sử dụng các dữ liệu không gian

và phi không gian từ các nguồn khác nhau khi thực hiện phân tích không gian để trả lời cho các câu hỏi của người sử dụng như: Có cái gì…ở? Ở đâu…? Cái gì đã thay đổi từ…? Đường đi nào là tốt nhất giữa…? Giữa…và…có quan hệ gì? Cái

Trang 20

gì xảy ra nếu…? Với những câu hỏi này, GIS sẽ giúp cho các nhà quản lý có thể nhận biết tên hay các thông tin khác của đối tượng bằng cách chỉ ra vị trí trên bản đồ, có thể xác định vị trí của một đôí tượng cụ thể hoặc toàn bộ đối tượng, các vùng ảnh hưởng, các mối quan hệ… Chính vì khả năng đặc biệt trong lưu trữ, quản lý và phân tích dữ liệu địa lý như trên mà GIS được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như:

Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong qui hoạch và quản lý

đô thị

Quá trình qui hoạch luôn luôn dựa trên những thông tin liên quan: địa hình, sông ngòi, đất đai hiện trạng sử dụng đất, hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước… Hệ GIS không chỉ cho phép quản lý được các thông tin không gian mà còn cho phép tích hợp, phân tích các thông tin cả về không gian lẫn thuộc tính

Mặt khác, các thông tin này thay đổi hằng ngày, hàng giờ, nên thông tin lạc hậu không thể đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn Chính vì thế mà việc cập nhật, lưu trữ, chỉnh lý rất tốn nhiều thời gian và công sức, nhưng khi sử dụng hệ thống thông tin địa lý đô thị, ta rút ngắn được thới gian thu nhập, chỉnh lý, cập nhật số liệu, thời gian thiết kế qui hoạch cũng sẽ được rút ngắn và hiệu quả qui hoạch cũng sẽ được nâng cao Chính vì lý do đó, các nhà quản lý đô thị đã dùng

nó để thực hiện các công việc cụ thể như:

- Quản lý và lập kế hoạch mạng lưới đường phố

- Quản lý đất đai

- Quản lý và lập kế hoạch các dịch vụ công cộng

Ứng dụng GIS trong quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Một lý do quan trọng thúc đẩy các nhà nghiên cứu ứng dụng GIS trong việc quản lý môi trường là vì môi trường là yếu tố tác động và có tính tổng hợp Chúng chịu tác động của mức độ phát triển kinh tế xã hội của con người Hệ GIS

sẽ cung cấp cho nhà quản lý những thông số cơ bản về hiện trạng môi trường

Trang 21

không khí, môi trường nước, lượng rác thải, những tai biến do môi trường địa chất, đánh giá mức ô nhiễm và nghiên cứu biến động môi trường quản lý giúp họ đưa ra những giải pháp tốt nhất Từ các chức năng này, GIS được dùng để quản

lý các công việc cụ thể như:

- Giám sát tài nguyên thiên nhiên môi trường

- Khai thác dầu khí và bảo vệ môi trường

- Quản lý chất lượng nước sông

Bên cạnh việc sử dụng công cụ GIS trong lĩnh vực qui hoạch và quản lý đô thị, quản lý môi trường thì GIS còn được ứng dụng trong du lịch

và dịch vụ

-Xây dựng bản đồ số phục vụ cho hướng dẫn du lịch

-Đánh giá vùng thuận lợi và ưu tiên đầu tư phát triển du lịch

-Quản lý và cung cấp thông tin về hiện trạng phát triển du lịch của một quốc gia, vùng…

Trang 22

CHƯƠNG 2 : HIỆN TRẠNG CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ TRONG NỘI

Cấu tạo mảng xanh đô thị sẽ rất khác nhau tùy theo điều kiện thiên nhiên và quy hoạch đô thị Nổi bật trong đó có thể là “ những đốm” cây xanh phân bố đều trong khu vực xây dựng, “ những cái nêm” công viên rừng cỡ lớn vào tận các khu trung tâm đô thị, dải cây xanh rộng song song với khu xây dựng …

Trong bất cứ trường hợp nào những mảng cây xanh nêu trên cũng cần có vành đai công viên bên trong và được nối với nhau bằng mạng lưới đường phố

và đường đi

2.1.2 Cây xanh đường phố

Cây xanh đường phố được tổ chức dưới dạng cây trồng thẳng hàng, dải cây bụi và hàng rào cây xanh, nhóm cây, dải thảm cỏ phân cách, dải đất bố trí đường ống, đảo cây xanh điều khiển giao thông

Tuỳ theo mặt cắt ngang của đường phố hoặc đường trục mà mức độ trồng cây xanh trong phạm vi các đường đó trong đoạn đường giữa hai ngã tư có thể là 52-55% trên đường phố nhà ở, 29-43% trên đường trục cấp quận, 24-25% trên đường trục cấp thành phố, 50-56% trên đường cao tốc

Nhà nước (ở đây là sở giao thông công chánh) có quy định cụ thể về quy cách trồng cây: chiều rộng tối thiểu của dải cây xanh để trồng một hàng cây thân

Trang 23

gỗ giữa phần đường xe chạy và vỉa hè là 3m, giữa hai đường xe chạy là 4m Ở đường phố trục có xe chạy tấp nập, để tránh bụi và khí thải của xe một cách tốt nhất cho bộ hành, ta phải trồng ở mỗi bên đường xe chạy hai hàng cây thân gỗ

và hàng rào cây xanh gồm những cây bụi (chiều rộng mỗi dải phải không nhỏ hơn 6m) Ở những dải cây xanh rộng từ 7,5m trở lên có thể trồng các cây thân gỗ thành từng nhóm và cây bụi khác nhau về loài, kích thước và tính chất tán lá kết hợp với cây thân gỗ trồng thành một hàng dọc đường xe chạy Trên đường trục cấp thành phố nên làm những dải cây xanh cách li rộng tối thiểu là 25m bằng những hàng cây thân gỗ và cây thân bụi nhiều tầng cao khác nhau Cây thân gỗ trồng trong hố nông (2 x 2m) chỉ được tiến hành ở nơi đỗ xe công cộng và trước công trình công cộng lớn Cây để trồng ở đường phố được lựa chọn tuỳ theo phẩm chất trang trí, điều kiện sinh trưởng, khả năng chống ồn, chống bụi của nó Khi trồng cây xanh đường phố cần chú ý hướng đường để tạo bóng mát tốt nhất Trường hợp nhiều xe và người thì nên trồng cây trong bồn (bồn có thể hình tròn hay hình vuông có đường kính hoặc cạnh tối thiểu 1,25m) Cây trồng phải đúng quy định như sau:

+ Thân cây cách mép đường tối thiểu 1,2m

+ Vỉa hè rộng tối thiểu 3,5m mới trồng cây

+ Bồn cây cách mép đường tối tiểu 0,5m

Khi trồng cây cần chú ý chỗ đường cắt nhau hoặc đường rẽ cong, không bố trí cây che khuất tầm nhín của người lái xe

2.1.2.1 Ý nghĩa

Thiết kế cây xanh đường phố là giải quyết việc trồng cây bên đường và trồng cây trước các công trình kiến trúc dọc theo đường Trồng cây bóng mát đường phố nhằm:

- Che mát cho người đi đường và xe cộ

- Dẫn gió hoặc chắn gió tuỳ gốc độ của hướng gió chủ đạo

- Bảo vệ đường: che mát đường, chống mưa nắng, xói mòn hay chảy nhựa

Trang 24

- Giảm bớt tiếng động từ đường phố đến các công trình kiến trúc chung quanh

- Chống bụi, cát bay

- Phòng hoả

- Làm khoảng phân cách giữa đường đi bộ và đường xe chạy

- Cùng với những công trình trang trí khác như luống hoa, tượng, vòi phun… tạo thành những nơi dạo chơi có nhiều nội dung phong phú làm tăng vẻ đẹp của thành phố, tăng sắc thái của công trình, che lấp những kiến trúc không thoả mãn ý thích mọi người

- Làm nhân tố nối liền các loại hình cây xanh trong và ngoài thành phố để tạo thành một hệ thống cây xanh thống nhất

2.1.2.2 Phân loại

Theo tiêu chí về công năng, cây xanh đường phố gồm 5 loại:

- Cây trồng trên lề đường: chủ yếu là cây bóng mát trồng hai bên đường đi, thường được trồng trong trường hợp kiến trúc hai bên đường tương đối gần và đường không rộng hoặc đường rộng nhưng chỉ trồng cây sát đường người đi

- Dải cây xanh trên lề đường: thường được trồng khi dải đất dành cho trồng cây rộng 2-7m

- Dải cây xanh chia cách: là dải cây chia cách các loại đường xe chạy

- Bulvar: loại này kết hợp giữa đi lại và dạo chơi, bố trí ở giữa hoặc ở bên đường xe chạy (loại nhỏ 8-20m, loại lớn 20-80m)

- Vườn hoa đặc biệt dọc đường phố rộng hơn 80m

2.2 Hiện trạng cây xanh thành phố ở 12 quận nội thành TP HCM

2.2.1 Cơ cấu cây xanh

2.2.1.1 Theo kích thước

Trang 25

Phân loại theo chiều cao

<6m % 6-12m % >12m % Quận 1 7800 22.9 2562 33.0 2792 36.0 2446 31.0 Quận 3 3459 10.1 1180 34.0 824 24.0 1456 42.0

Gò Vấp 2265 6.6 1022 45.0 1097 48.0 146 6.0 Tân Bình 5510 16.2 2556 46.0 2437 44.0 517 9.0

34082 100.0 13931 41.0 11921 35.0 8230 24.0 Nội thành

Bảng 2.1: Hiện trạng cây xanh đường phố 12 quận nội thành năm 1998 - Phân

theo độ cao

Trang 26

Hình 2.1: Tỷ lệ cây theo chiều cao của 12 quận nội thành

Các quận nội thành có 627 tuyến đường (tuyến đường tính trong phạm vi quận), trong đó có 440 tuyến đường có cây đường phố Tổng chiều dài của các tuyến đường có cây xanh đường phố là 481,96 km Tổng chiều dài đường không

có vỉa hè, chưa hề trồng cây trên vỉa hè là 51.6 km

Trong tổng số cây đường phố sau khi cập nhật biến động từ năm 1994

-1998 (đốn- trồng) có 34.082 cây Trong đó 39% cây còn nhỏ cao < 6m (13.931 cây loại 1); 35% số cây đường phố thuộc loại 2 (cao 6-12m có 11.921 cây); số cây cao>12m là 8.230 cây chiếm tỷ lệ 24,1%

Về cơ cấu đường kính: 57% số cây thuộc nội thành 12 quận có đường kính từ 20- 40 cm, tỷ lệ đó là hợp lý đối với quần thể cây đường phố Trong số 4.384 cây có đưòng kính trên 70cm (cấp 80-100 cm đường kính), trừ một số cây bị

Trang 27

tổn thương như: sam thân nặng, bọng ruột… cần thay thế và cải tạo (khoảng 800- 1000 cây), các cây “cổ thụ” thuộc các loài đặc trưng cho quần thể cây đường phố như Sao Đen, Dầu con Rái, Sọ Khỉ… chưa có dấu hiệu già cỗi và thành thục tự nhiên Các cây này có thể giữ lại để bảo tồn nguồn gien, nếu không bị hạn chế về chi phí bảo quản hàng năm nhằm bảo quản an toàn

Quận 1, 3, 5 là những nơi có nhiều cây cổ thụ, các quận này nằm ở trung tâm nội thành, tạo ra cho thành phố một nét đặc trưng riêng về mảng xanh cho thành phố, cần thiết phải duy trì đặc trưng đó

Phân loại theo cấp đường kính Quận Tổng số

Trang 28

Tân Bình 5510 1269 2718 1166 223 96 37

34082 62.1 11977 7462 2988 2940 1444 Nội thành

Bảng 2.2: Hiện trạng cây xanh đường phố 12 quận nội thành năm 1998 - phân

theo đường kính

2.2.1.2 Theo khu vực quận

Cây xanh đường phố phân bố không đều giữa các quận Quận 1 là quận có nhiều cây xanh, chiếm 22,9% tổng số cây nội thành hiện hữu Kế đến là quận Tân Bình với 5.510 cây Về cơ cấu chiều cao, tỷ lệ chung toàn khu vực nội thành hiện hữu, 59% cây cao trên 6m đã có tác dụng che bóng, còn 41% cây dưới 6m Quận 3 và quận 10 có tỷ lệ cây loại 3 chiếm 42%, các quận này đã “bảo hòa” về quỹ đất vỉa hè dành cho trồng cây xanh, ít có khả năng trồng mới Tình trạng này

có ở các quận trung tâm của thành phố như: quận 1, 4, 5, 6, 11, Phú Nhuận, kể cả các quận ven không có khả năng mở đường hoặc chỉnh trang đô thị như: quận 8, Bình Thạnh Các quận ven còn quỹ đất đang trong quá trình chỉnh trang đô thị như quận Tân Bình, Gò Vấp

2.2.1.3 Theo chủng loại sắc mộc

Về chủng loại thực vật, cây xanh đường phố khu vực nội thành thuộc 49 họ thực vật, có 135 sắc mộc, trong đó có:

+ Cây thuộc nhóm cây ăn quả, chiếm 15,88%

+ Cây thuộc nhóm cây gỗ thường cho bóng mát chiếm 12,51%

+ Cây thuộc nhóm cây cảnh, cây có hoa chiếm 17,39%

+ 9.905 cây thuộc nhóm cây danh mộc, có giá trị kinh tế chiếm 30,3%

Trang 29

nhóm cây chobóng mátnhóm cây cảnh

nhóm cây danhmộc

nhóm cây khác

Hình 2.2: Biểu Đồ Phân Loại Cây theo chủng sắc mộc

Các sắc mộc phổ biến trong cây xanh đường phố khu vực nội thành hiện hữu là: Dầu con Rái, Lim Xẹt, Bã Đậu, Me chua, Sao Đen, Phượng Vĩ, Bạch Đàn, cây Sọ Khỉ, Nhạc Ngựa Trong số các loài có nhiều cá thể như: Bã Đậu, Bạch Đàn, Keo lá Tràm, Dừa là các loài không phù hợp với mục đích trồng cây đường phố Loài Nhạc Ngựa tuy là cây du nhập nhưng phát triển không tốt trên các tuyến đường, cần hạn chế phát triển Dầu, Sao Đen, Nhạc Ngựa, Sọ Khỉ

là các loài có nhiều cây loại 3 chi phí bảo quản khá cao Tuy nhiên, các loài này tạo nên đặc trưng riêng cho mảng xanh của thành phố

2.2.2 Sự phát triển hệ thống cây xanh đường phố TP HCM qua các thời kì

Bỏ qua sự khác biệt nhỏ về địa bàn kiểm kê, số liệu kiểm kê cây xanh đường phố ghi ở bảng sau cho thấy quá trình phát triển về số lượng cây xanh đường phố ở 12 quận nội thành Qua đó có thể thấy rằng, sau 16 năm cây xanh đường phố tăng lên 18737 cây trong 12 quận, nhưng sự gia tăng số lượng không đều nhau

Trang 30

NĂM KIỂM KÊ QUẬN

Bảng 2.3: Cây xanh đường phố tại 12 quận nội thành qua các năm kiểm kê

Trang 31

Hình 2.3: Cây xanh đường phố tại 12 quận nội thành qua các năm kiểm kê

+ Sự gia tăng số lượng trong 4 năm gần đây cho thấy: số lượng cây mới tăng lên nhờ vào các tuyến đường mới chỉnh trang và kiểm kê bổ sung ở các khu vực trước đây chưa được kiểm kê Các quận nội đô như : quận 1, 3, 5, 10 quỹ đất vỉa hè gần như bão hòa nếu không muốn nói là bị thu hẹp Trong khi đó, mật

độ dân cư và người đi lại ở các quận khá cao Do đó giải pháp cho khu vực này

là phải tận dụng thêm vỉa hè còn trống để trồng cây trong bồn, chậu Ngoài ra còn có sự pháp lý hóa vị trí trồng cây xanh đường phố, nhằm bảo vệ số lượng cây không bị giảm sút

+ Các quận ở vị trí ven, không thuộc khu trung tâm như: Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, quận 8, số lượng cây xanh đường phố tăng nhiều hơn, tuy nhiên

Trang 32

sự gia tăng đó chưa tương xứng với tiềm năng và cũng chưa thể hiện sự quan tâm phát triển cây xanh đường phố Sự gia tăng cây xanh đường phố ở các quận này chủ yếu là sự gia tăng do kiểm kê đầy đủ hơn các tuyến đường trước đây chưa được thống kê

+ Ở quận Phú Nhuận, số cây bị giảm sút do sau khi đường được mở rộng, các cây bị đốn đi nhưng chưa có điều kiện trồng lại và chi phí đền bù khá cao nên không thể mở rộng vỉa hè như trước đây

Hình 2.4: Sự phát triển cây xanh đường phố qua các lần cập nhật

2.2.3 Ðánh giá hiệu quả, chất lượng cảnh quan của hệ thống cây xanh đường phố

Về phương diện cảnh quan các dải cây xanh đường phố có dạng hành lang Xét về nguồn gốc các dải cây xanh do nhân tạo, do trải qua nhiều thời kì chiến tranh tình trạng quần cư tự phát thiếu quy hoạch nên tình trạng vỉa hè không đều trên các tuyến đường Mặt khác lại bị lấn chiếm do việc quản lí đô thị không chặt chẽ Vì thế, các dải cây xanh đường phố không liên tục, không tạo thành các mạng lưới cảnh quan cây xanh

Ở các tuyến đường thuộc quận 1, 3, 5,10 thuộc khu trung tâm như : Tôn Đức Thắng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thị Minh Khai, Phạm Ngọc Thạch, Paster, Bùi Thị Xuân, Sương Nguyệt Ánh, Nguyễn Du, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Chí

Trang 33

Thanh, 3 Tháng 2 các hàng cây to tạo ra hành lang liên tục, tạo ra vi khí hậu cho đường phố Vấn đề ở các tuyến đường này là sự gãy đổ của cành nhánh, gây nguy hiểm cho người đi đường lúc mưa dông

Phần lớn các tuyến đường khác cây xanh không liên tục, một phần không

có vỉa hè đủ rộng, một phần do người dân tự trồng, nên có nhiều chủng loại trên một đoạn đường, cây thấp không đủ tán lá để tạo ra vi khí hậu cho mặt đường

Về phương diện thẩm mỹ, không tạo được vẻ mỹ quan cho đường phố

Ngoài ra, nhiều đường phố không có vỉa hè không thể phát triển cây xanh theo cách thông thường Ở các tuyến đường này có giá trị thấp về mỹ quan đường phố của đô thị

Trong quản lý cây xanh đường phố hiện nay, có những vấn đề cần quan tâm sau đây:

+ Có duy trì hay không hệ thống cây cổ thụ tạo nên truyền thống của thành phố? Thành phố Hồ Chí Minh không có phố cổ, hệ thống cây Sao, Dầu hùng vĩ làm nên vẻ đẹp riêng có tính văn hóa lịch sử Tuy nhiên, nếu duy trì phải có đầu

tư trang thiết bị chuyên dùng để bảo dưỡng, tránh tai nạn do cây gãy tét nhánh + Giải phóng lề đường để tạo cảnh quan, chọn loại cây trồng cho những đường

ý làm giàu giống cây, nâng cao trình độ nghệ thuật phối kết cây Cần làm tốt công tác diệt sâu trừ trùng, phòng bệnh cho cây (trong đó lấy phòng bệnh là

Trang 34

chính) Ngoài ra còn phải thường xuyên kiểm tra các thiết bị phục vụ của các loại công trình xây dựng trên đất cây xanh Đối với những danh lam thắng cảnh

và các vùng phong cảnh cần tu sửa và bảo vệ bộ mặt nghệ thuật nguyên có của

2.3.1 Các cấp quản lí

Tùy theo quy mô và tính chất của thành phố mà công tác quản lí cây xanh

có thể có một hoặc nhiều cấp Thành phố nhỏ (3-5 vạn dân) chỉ cần một cấp, thành phố lớn có nhiều cấp quản lí

2.3.1.1 Cấp thành phố

Quản lí chung toàn bộ hệ thống đất cây xanh ở các đường phố lớn, công viên lớn, vườn ươm của thành phố, các quảng trường, các dải cây dọc bờ sông, quanh hồ lớn, các công viên ở ngoại ô, vườn bách thú, vườn bách thảo Ở mỗi

bộ phận có cơ quan chuyên trách và đội sản xuất chuyên môn do thành phố quản

lí Cũng có thể cho từng đơn vị độc lập quản lí (đối với các công viên lớn)

TP Hồ Chí Minh là một đô thị lớn nên để quản lý có hiệu quả, công tác quản lý cây xanh thành phố được chia thành các cấp sau:

Sơ đồ 2: Tổ chức quản lý cây xanh tại TP Hồ Chí Minh

Sở Giao Thông Công Chánh Công ty Công Viên Cây Xanh

Đội QLCX 2 Khu vực phía Tây

Đội QLCX 1 Khu vực phía Đông

Các Tổ Quản Lý

Trang 35

Về cơ cấu tổ chức, cơ quan quản lí cấp khu phải có đầy đủ như ở cấp thành phố, nhưng nhân lực có thể ít hơn vì còn dựa vào lực lượng quản lí của dân cư trong các khu nhà ở đóng góp

Ngoài ra, nếu trong khu có công viên lớn cũng có thể thành lập cơ sở quản

lí riêng của công viên trực thuộc khu

Toàn thành phố có lực lượng quản lí chung, ở các cấp cần có lực lượng chuyên trách Việc quản lí này đòi hỏi nhiều lao động và thời gian, vì thế cần phát động phong trào sâu rộng trong nhân dân cũng tham gia Như vậy, không những tiết kiệm được kinh phí mà còn có tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ cây xanh đô thị

Chăm sóc cây trên đường phố trải dài tốn nhiều nhân công hơn ở công viên lớn, số người cần thiết phụ thuộc vào các loại đất, cây xanh… thí dụ: cây đường phố cần 1,1 người/ha, công viên văn hóa nghỉ ngơi: 0,7 người/ha

Để tiện cho việc phục vụ, trong những vùng lớn của thành phố, người ta tổ chức thành mạng gồm các điểm phục vụ, có thể chia theo quy định như sau: mỗi vùng cây xanh khoảng 40-100ha có một cơ sở phục vụ, bán kính phục vụ lớn nhất là 2km Các cơ sở kĩ thuật nên được bố trí ở trung tâm phục vụ gần một điểm lớn nhất có thuận lợi về giao thông và hệ thống cấp thoát nước các công trình trong khu vực này nên làm thấp tầng, có thể tập trung hoặc rải ra cho từng

bộ phận (hành chính, kế hoạch, kinh tế kĩ thuật), có các xưởng sữa chữa, kho dụng cụ

2.3.2 Công cụ quản lí

Trang 36

Hiện nay, việc quản lý cây xanh trong 12 quận nội thành nói riêng và cây xanh đường phố nói chung tại TP Hồ Chí Minh chủ yếu là sử dụng giấy tờ để ghi chép những thông tin liên quan đến hệ thống cây trồng trên các tuyến đường Bên cạnh đó, hiện nay máy tính cũng được đưa vào sử dụng để lưu trữ những dữ liệu về thuộc tính của cây nhưng còn ở mức độ hạn chế Việc quản lý cây xanh chủ yếu trên giấy tờ, bằng phương pháp thủ công, chưa có sự kết hợp giữa nguồn

số liệu và sự phân bố của chúng ngoài thực tế Do đó, hiệu quả quản lý chưa cao 2.3.3 Những khó khăn hiện tại trong công tác quản lí

Công tác quản lý cây xanh đường phố hiện nay là nhiệm vụ cấp thiết Tuy nhiên, việc quản lý còn gặp rất nhiều khó khăn:

+ Một trong những khó khăn cơ bản trong công tác quản lý hiện nay là vấn đề nguồn nhân lực có chuyên môn đáp ứng được yêu cầu quản lý trong thời kì mới với sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật

+ Đã có những đề xuất, những ứng dụng để quản lý hiệu quả cây xanh nhưng vẫn không thể tiến hành triển khai được vì chi phí tốn kém

+ Trang thiết bị, máy móc chuyên dụng còn thiếu thốn

+ Lực lượng quản lý còn mỏng, trình độ chuyên môn của cán bộ và nhân viên chưa đáp ứng hết yêu cầu

+ Ngoài ra, cây xanh đường phố được hình thành qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kì khác nhau (từ thời Pháp thuộc, trước 1975 và sau ngày giải phóng), dẫn đến hệ quả là hệ thống cây xanh đường phố rất đa dạng về chủng loại, sắc mộc

Do đó, công tác sàng lọc, kiểm tra, thống kê gặp rất nhiều khó khăn

+ Do sự phát triển nhanh của thành phố, sự mở rộng đường xá giao thông làm cho nhiều nơi trong thành thố không còn vỉa hè để trồng cây gây khó khăn cho việc trồng mới

+ Ở một số tuyến đường, cây to và mọc rất cao (cao hơn đường dây điện) nếu cải tạo, thay thế sẽ gặp rất nhiều khó khăn do bị khống chế về chiều cao Tuy nhiên, nếu không thay thế thì có nhiều nguy cơ gãy nhánh vào mùa mưa gây nguy hiểm cho người và các phương tiện Đồng thời, việc bảo dưỡng tán cây

Trang 37

cũng gặp khó khăn do đòi hỏi phải có các phương tiện kỹ thuật hiện đại (như xe thang cao hơn 20m)

+ Việc lựa chọn loại cây để trồng trên các tuyến đường sao cho cây phát triển tốt, đảm bảo vẻ mỹ quan đô thị và dễ quản lý cũng không phải là vấn đề đơn giản Vì để chọn được một loại cây thích hợp phải đáp ứng một số tiêu chuẩn bắt buộc: đặc điểm sinh lý hình thái, ảnh hưởng của hệ thống rễ đối với các công trình đô thị, khả năng chống chịu gió, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường đô thị…

2.3.4 Khả năng ứng dụng GIS trong công tác quản lý cây xanh đường phố

Ngành công viên cây xanh là một ngành quản lý nhà nước về các công trình

đô thị, là một ngành quản lý tổng hợp vừa có tính chất của ngành sinh học hay lâm nghiệp vừa quản lý các công trình xây dựng công ích Trong đó, công ty công viên cây xanh hiện quản lý hơn 34.000 cây xanh đường phố, phân bố trên

440 tuyến đường trong tổng số 627 tuyến đường chính Sự phân bố cây không đồng đều giữa các quận Trong cây xanh đường phố, về độ tuổi cũng không đồng đều, phản ảnh qua đường kính, chiều cao cũng phân cấp nhiều loại Đặc thù của cây xanh là tăng trưởng theo thời gian, vài ba năm, cơ cấu cây xanh lại thay đổi

về loại chiều cao Bên cạnh đó, cây đường phố cũng đa dạng về chủng loại (cây xanh đường phố thuộc về 137 sắc mộc khác nhau, trong đó thuộc 49 họ thực vật) nên việc quản lý trở nên phức tạp về mặt số liệu do việc thay thế loài

Ngoài kích thước và chủng loại, tình trạng già cỗi, sâu bệnh, tán to, nghiêng cũng cần phải được quản lý theo dõi để có kế hoạch thay thế, xử lý

Do đó việc theo dõi cho 34.000 cây đường phố đòi hỏi nhiều công sức và thời gian nếu không có công cụ hỗ trợ quản lý

Từ đó, cho thấy đặc điểm của đối tượng quản lý của ngành công viên cây xanh là: có số lượng lớn, có tính đặc thù vừa về mặt không gian địa lý lẫn biến đổi theo thời gian (cây tăng trưởng và thay đổi hoa theo thời vụ) Các đặc trưng

đó cho thấy tính cấp thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin địa lý để tạo ra một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý nhằm giúp việc quản lý có hiệu quả hơn

Trang 38

Bên cạnh đó, cây xanh không đứng đơn độc mà phát triển trong môi trường

đô thị với các hạ tầng cơ sở có liên quan như: đường điện, cống thoát nước, cáp điện ngầm, ống cấp nước Do đó, việc quản lý theo dõi những liên hệ của cây xanh với các thành phần hạ tầng nói trên là hết sức cần thiết cho việc lập kế hoạch quản lý Bằng công nghệ thông tin địa lý, với các hiển thị thông tin theo lớp thông qua các bản đồ đơn tính cho phép đánh giá một cách hệ thống mối quan hệ giữa cây xanh và các hạ tầng cơ sở, từ đó giúp cho việc quản lí hiệu quả hơn

Tóm lại, trước yêu cầu của chương trình công nghệ tin học quốc gia góp phần thiết thực vào việc cải tiến quản lí đô thị nói chung và ngành công viên cây xanh nói riêng, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lí cây xanh đường phố là yêu cầu hết sức cần thiết và cấp bách Yêu cầu đó được thể hiện qua các mặt sau đây:

+ Việc nghiên cứu để tìm ra các hình thức lưu trữ dữ liệu cơ bản, lập các cơ sở

dữ liệu về cây xanh đường phố Cho phép theo dõi những biến đổi trong quá trình xây dựng và dự đoán sự phát triển của cây xanh

+ Bằng cách soạn thảo các hệ phần mềm thông tin quản lí, cho phép nhà lãnh đạo và các nhân viên kĩ thuật với trình độ tin học không chuyên vẫn có thể tiếp cận số liệu, truy cập thông tin phục vụ cho công việc quản lí hàng ngày Xây dựng các phương pháp xử lý số liệu cây xanh trên máy vi tính sẽ đem lại hiệu quả cao về thời gian (xử lí nhanh); về công sức (xử lý khối lượng thông tin lớn một cách tự động và tin cậy do tính chính xác cao)

+ Việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào quản lý cây xanh như hệ thông tin địa lý GIS, cho phép thể hiện vị trí của cây xanh ngay trên màn hình, cây gì? ở đâu? Tình trạng sâu bệnh và hạ tầng liên quan ra sao? Sẽ giúp ích rất có hiệu quả trong công tác lập kế hoạch bảo quản, cải tạo, thay thế và trồng mới

Trang 39

CHƯƠNG 3 : XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU GIS PHỤC VỤ QUẢN LÝ

CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ

3.1 Phân tích và thiết kế cơ sở dữ liệu

3.1.1 Cơ sở dữ liệu GIS và các yêu cầu chung của cơ sở dữ liệu GIS

Cơ sở dữ liệu GIS được định nghĩa như một tập hợp các dữ liệu địa lý liên kết lại với nhau, được xây dựng theo một số quy tắc nhất định sao cho có khả năng quản lý một số lượng lớn dữ liệu địa lý và cho phép cùng dùng chung dữ liệu bởi các ứng dụng hoặc hệ thống GIS khác nhau 2

Cơ Sở Dữ Liệu GIS khi được xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu sau:

 Nhất quán với ít hoặc không có dư thừa dữ liệu

 Đảm bảo được chất lượng dữ liệu chính xác, đảm bảo việc cập nhật dữ liệu

 Hiệu quả trong vận hành bởi hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu

 An toàn dữ liệu kể cả trong việc kiểm soát truy cập

3.1.2 Mục đích và yêu cầu của cơ sở dữ liệu GIS Cây xanh đường phố TP Hồ Chí Minh

Mục đích hướng tới của cơ sở dữ liệu GIS cây xanh đường phố TP HCM là

tổ chức và quản lý hiệu quả các thông tin cơ bản về hiện trạng của hệ thống cây xanh đường phố TP HCM, bao gồm các thông tin thuộc tính gắn liền với thông tin không gian (vị trí địa lý) Trên cơ sở đó giúp cho công tác quản lý cây xanh đường phố có thêm sự hỗ trợ đắc lực của khoa học công nghệ để đạt hiệu quả tối

ưu nhất

Cơ sở dữ liệu cây xanh đường phố phải lưu trữ được các thông tin cơ bản của từng cây xanh trên đường như: số hiệu, sắc mộc, loại cây … và đáp ứng yêu cầu hiển thị vị trí cụ thể của chúng trên bản đồ số bằng các ký hiệu tương ứng với vị trí thực tế trên đường phố với mức độ sai lệch được hạn chế tối đa

Trang 40

Các thông tin trên cơ sở dữ liệu có thể dễ dàng chọn lựa, tìm kiếm, cập nhật

và phân tích không gian theo yêu cầu của công tác quản lý và các lĩnh vực liên quan nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí Đồng thời dựa trên kết quả phân tích có thể đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả giúp cho công việc quản lí thêm thuận lợi

Dữ liệu phải có tính chất nhất quán được duy trì ở mức độ cao đồng thời có tính mở đề thuận lợi cho việc trao đổi chia sẻ dữ liệu giữa các ngành có liên quan

và đáp ứng yêu cầu nâng cấp mở rộng ra vi phạm lớn hơn khi nhu cầu phát triển của xã hội đòi hỏi

Dữ liệu về Cây xanh đường phố là loại dữ liệu có tính động vì hiện trạng cây xanh đường phố thay đổi từng ngày từng giờ theo nhịp điệu sinh học, và theo nhịp điệu phát triển xã hội của thành phố Bởi đó dữ liệu về cây xanh đường phố phải đảm bảo tính cập nhật theo sát tình hình thực tế đồng thời cơ sở

dữ liệu phải thỏa mãn tiêu chí cập nhật dễ dàng khi có yêu cầu

3.1.3 Đối tượng sử dụng

Với mục đích đã nêu trên, cơ sở dữ liệu cây xanh dường phố sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ và chính xác về hệ thống cây xanh đường phố TP HCM Các thông tin này có thể hữu ích cho nhiều đối tượng với nhiều yêu cầu và đòi hỏi khác nhau Cụ thể là :

 Các nhà lãnh đạo, quản lí của các địa phương và của thành phố nói chung

 Các ban ngành trong thành phố có liên quan ít nhiều đến hệ thống cây xanh đường phố như: tài nguyên và môi trường, giao thông công chánh, điện lực …

 Các cơ quan trực tiếp quản lý hệ thống cây xanh đường phố của thành phố

 Những cá nhân và tổ chức quan tâm đến cây xanh đường phố - một bộ phận không thể thiếu được trong đời sống xã hội ở TP HCM

3.1.4 Thiết kế Cơ Sở Dữ Liệu

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Đình Dương và cộng tác (1999), Ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong quy hoạch môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong quy hoạch môi trường
Tác giả: Nguyễn Đình Dương và cộng tác
Năm: 1999
3. Đặng Văn Đức (2001), Hệ thống thông tin địa lý, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thông tin địa lý
Tác giả: Đặng Văn Đức
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
4. Trần Trọng Đức, GIS căn bản, NXB Đại Học Quốc Gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: GIS căn bản
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Tp.HCM
6. Trần Hợp, Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn – Tp Hồ Chí Minh, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ây xanh và cây cảnh Sài Gòn – Tp Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
7. Lê Huỳnh (1998), Bản đồ học, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ học
Tác giả: Lê Huỳnh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
8. Phạm Trọng Mạnh và Phạm Vọng Thành (1999), Cơ sở hệ thống thông tin địa lý (GIS), NXB Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Tác giả: Phạm Trọng Mạnh và Phạm Vọng Thành
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 1999
9. Đặng Hóa Nhung (2002), Ứng dụng GIS trong quản lý tài nguyên du lịch nhân văn, Luận văn cử nhân khoa học Địa Lý, Trường Đại học KHXH&amp;NV TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS trong quản lý tài nguyên du lịch nhân văn
Tác giả: Đặng Hóa Nhung
Năm: 2002
10. Trần Vĩnh Phước (1998), GIS – Một số vấn đề chọn lọc, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: GIS – Một số vấn đề chọn lọc
Tác giả: Trần Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
13. Ngô Đạt Tam (1983), Bản đồ học, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ học
Tác giả: Ngô Đạt Tam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1983
1. Công ty Công Viên Cây Xanh (1999), Hội thảo chuyên đề an toàn cây xanh đường phố Tp Hồ Chí Minh Khác
11. Số liệu thống kê của Đội QLCX 2, Phòng quản lý – kỹ thuật (số 209, Lý Thường Kiệt, Quận 11, TP HCM) Khác
12. Số liệu thống kê của Phòng Kỹ Thuật, Công ty Công Viên Cây Xanh TP Hồ Chí Minh Khác
14. UBND Q.010, Phòng quản lý đô thị, Phòng thống kê (545 Nguyễn Tri Phương, P.14, Q10) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm