Chọn hướng nghiên cứu, tiếp cận có chịu ảnh hưởng lối phê bình ấn tượng chủ nghĩa và cũng là một cách khẳng định sở trường cảm thụ thi ca tài hoa của mình, trong phần viết về Hàn mặc Tử,
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN HOÀNG KHÁNH CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân, người đã tận tình hướng dẫn
và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ Quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè - những người đã nâng bước, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin ghi nhận lòng biết ơn chân thành của tôi
-Nguyễn Hoàng Khánh Chi-
Trang 3Dẫn luận 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề .2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .8
4 Phương pháp nghiên cứu .8
5 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài .9
6 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1: Đôi nét về lý thuyết cổ mẫu và tình hình phê bình cổ mẫu 12
1.1 Đôi nét về lý thuyết cổ mẫu 12
1.1.1 Carl Gustav Jung và lý thuyết về cổ mẫu 13
1.1.2 Khái niệm cổ mẫu 19
1.1.3 Một số cổ mẫu tiêu biểu 21
1.1.3.1 Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ 21
1.1.3.2 Trăng 23
1.1.3.3 Hồn 23
1.1.3.4 Máu 24
1.2 Tình hình phê bình cổ mẫu 24
Chương 2 : Hệ thống cổ mẫu trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử 29
2.1 Cổ mẫu Trăng 30
2.2 Cổ mẫu Hồn 51
2.3 Cổ mẫu Máu 65
Chương 3 : Cội nguồn của hệ thống cổ mẫu trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử 70
3.1 Cuộc đời dị biệt của Hàn Mặc Tử 70
3.1.1 Những ham mê tuổi nhỏ 72
Trang 43.1.4 Những riêng tư kì dị 80
3.1.4.1 Những nàng thơ đi qua cuộc đời Hàn Mặc Tử 80
3.1.4.2 Định mệnh nghiệt ngã 82
3.2 Tư duy tôn giáo 85
3.2.1 Ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo 86
3.2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo 94
3.2.3 Ảnh hưởng của Đạo giáo 100
Kết luận 106
Thư mục tài liệu tham khảo 109
Trang 5DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 là một cuộc cách mạng trong
thi ca Việt Nam, đã đưa văn học dân tộc tiến nhanh trên con đường hiện đại
hóa Về phương diện nào đó, có thể nói, nhóm thơ Bình Định, “Trường thơ loạn” dường như là một hình ảnh thu nhỏ độc đáo về con đường mà Thơ mới
đã đi qua Trong số các thi sĩ của nhóm thơ Bình Định, Hàn Mặc Tử được coi
là nhà thơ tiêu biểu, là kết tinh của văn hóa phương Đông và phương Tây, của văn hóa Việt và văn hóa Chăm, của nhiều tư tưởng tôn giáo như: Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Đạo giáo …
Hàn Mặc Tử, một tài năng độc đáo, một cuộc đời dị biệt, đến nay đã được khẳng định và tôn vinh là nhà thơ lớn của thơ ca Việt Nam hiện đại Hiếm có nhà thơ nào mà độ lùi thời gian càng lớn người ta càng mê say và ngưỡng mộ như Hàn Mặc Tử Thời gian không làm cho thơ ông trở thành xưa cũ mà trái lại càng thanh tân rực rỡ bội phần
Có thể nói, các sáng tác của Hàn Mặc Tử đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình và ca tụng Có người chiêm ngưỡng thơ Hàn Mặc Tử như một thế giới tràn đầy cảm xúc Có người dùng phê bình phân tâm học mổ xẻ thơ Hàn Mặc Tử như một biểu hiện tâm lý khác thường Có người ca tụng thơ Hàn Mặc Tử như một sức sống mãnh liệt của cuộc đời
Các cách tiếp cận ấy đều có lý, nhưng có lẽ chưa phải là đã đủ, với Hàn Mặc Tử Từ quá trình học tập, bổ sung những phương pháp mới, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói nhận định về tính chất đa dạng và phức tạp trong tác phẩm Hàn Mặc Tử trên cơ sở vận dụng lý thuyết phê bình cổ mẫu
Đó là lý do mà đề tài Tác phẩm Hàn Mặc Tử dưới lăng kính phê bình cổ mẫu
được tiến hành
Trang 62 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với đề tài Tác phẩm Hàn Mặc Tử dưới lăng kính phê bình cổ mẫu, phần
lịch sử nghiên cứu vấn đề lẽ ra tập trung vào hai phương diện: Một là lịch sử nghiên cứu về lý thuyết phê bình cổ mẫu ở Việt Nam Hai là việc vận dụng lý thuyết phê bình cổ mẫu vào nghiên cứu tác phẩm Hàn Mặc Tử Tuy nhiên, do tài liệu về phương diện thứ hai không nhiều lắm, nên chúng tôi mở rộng phạm
vi là khảo sát những công trình nghiên cứu về thơ ca Hàn Mặc Tử, nhằm nhặt nhạnh đó đây những phân tích, đánh giá có thể góp phần gợi ý cho việc khảo sát của luận văn
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lý thuyết phê bình cổ mẫu không nhiều
Năm 1997, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (do Jean Chevalier và
Alain Gheerbrant biên soạn, Phạm Vĩnh Cư và nhiều tác giả chuyển ngữ, Nxb Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du)
Năm 2003, tập sách Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái
nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20 (do I P Ilin và
E.A.Tzurganova chủ biên, Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) đã dành một số trang để nói về Phê bình huyền thoại (myth criticism, từ trang 357 đến trang 384), và khái niệm
Archetype được dịch là Mẫu gốc (trang 347-349), Vô thức tập thể (Collective
unconsciousness, trang 349-352), Thần thoại gốc Monomyth (380-383), Thần thi (mythopetry, trang 383-384) và Huyền tích Mytheme (384)
Năm 2004, cuốn Thi pháp của huyền thoại, của E.M.Meleinsky do Trần
Nho Thìn và Song Mộc dịch, có các trang bàn về phân tâm học và thuật ngữ
“cổ mẫu” Theo Jung, về nội dung thuật ngữ này “có liên quan đến thuật ngữ
edios (hình ảnh, hình thức, bản thể) của Platon và không phải ngẫu nhiên mà
nó được truyền bá rộng rãi trong truyền thống của thuyết Platon” [50, 71] và Jung cho rằng “các nguyên mẫu là hiện tượng đặc biệt, gần với cái trong
Trang 7huyền thoại được gọi là “những môtíp”, còn trong xã hội học Pháp, các nguyên mẫu được gọi là “những quan niệm tập thể” và “các phạm trù của trí tưởng tượng”, còn Bastian thì gọi là “tư duy nguyên thủy” [50, 71]
Cuốn Huyền thoại và văn học của Khoa Văn học và ngôn ngữ với các bài
viết về huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học, mà tiêu
biểu là bài viết Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh
Xuân Bài này đã đưa ra những quan niệm của C.G.Jung về cổ mẫu trong văn học nghệ thuật, đồng thời “tập trung khảo sát một số cổ mẫu quan trọng, xuyên qua đơn vị tác phẩm, từ văn học dân gian đến văn học thành văn, không phân biệt thể loại” Cụ thể trong bài viết trên, tác giả đã nêu một số nhận xét của các nhà nghiên cứu về Hàn Mặc Tử Vương Trí Nhàn cho rằng những biểu hiện gần như mất trí, thậm chí bệnh hoạn, “mê man trên đường đi tới cái hư vô, siêu hình”, “lạ hóa ngay chính mình”… những điều tưởng chừng như phi lý, trừu tượng đó “đã có mầm sống từ lâu trong tư duy của nhân loại” [57, 298] Bên cạnh đó, Chu Văn Sơn đã lý giải thơ Hàn Mặc Tử bằng “khát vọng của cái tột cùng, qua bình diện: tác giả (cuộc đời, quan niệm, hành trình, đặc điểm) và tác phẩm, và cho đó là từ chí hướng “nguyện suốt đời đi tìm sự lạ” của Hàn Mặc Tử.” [57, 298]
Với những bước đi riêng, Phê bình huyền thoại của Đào Ngọc Chương đã
trình bày về những huyền thoại, vận dụng thi pháp học vào kết hợp cùng phê bình huyền thoại Tác giả đi tìm cái kinh nghiệm thân xác trong tác phẩm Hàn
Mặc Tử, cụ thể là bài Chơi giữa mùa trăng và ông đã nhận xét rằng:
Chơi giữa mùa trăng như xác tín với chúng ta rằng có một dòng chảy
của huyền thoại trong thơ Hàn Mặc Tử, không phải chỉ những cổ mẫu, không chỉ những huyền tích mà cả thứ kinh nghiệm tưởng đã bị quên lãng nhưng trong một cơn cớ hy hữu nhất của cuộc đời thi sĩ đã sống dậy một cách mãnh liệt: kinh nghiệm thân xác và huyền thoại [11, 128]
Trang 8Bài viết “Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn chương Việt Nam”
của Nguyễn Thị Thanh Xuân trích trong cuốn Nghiên cứu văn học Việt Nam –
Những khả năng và thách thức đã dùng quan niệm và phương pháp của phê
bình cổ mẫu của Carl Gustav Jung, Gaston Bachelard và Northrop Frye như
những căn cứ quan trọng để khám phá cổ mẫu Nước trong tác phẩm văn
chương Việt Nam Đồng thời bài viết còn ghi nhận đóng góp rất đáng kể của phê bình cổ mẫu
Kế đến là các công trình nghiên cứu về tác phẩm Hàn Mặc Tử
Sau khi Hàn Mặc Tử về cõi vĩnh hằng, có ba nhà phê bình nổi tiếng viết nhiều về thi sĩ: Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan Năm 1941,
Trần Thanh Mại hoàn thành sách Hàn Mặc Tử- Thân thế và thi văn, công
trình quy mô đầu tiên chuyên biệt về Hàn Mặc Tử Ông đã thiên về miêu tả đời tư đau khổ, bệnh tật nan y, những mối tình dở dang, ánh trăng huyền ảo
cô đơn, màu trắng đến hãi hùng mênh mông của những dòng sông, trảng cát
xa xăm, dằng dặc của xứ sổ miền Trung… đã ảnh hưởng đến những sáng tác Hàn Mặc Tử như thế nào Cuối cùng, nhà nghiên cứu đã đánh giá rất cao về người thi sĩ tài hoa bạc mệnh này: “Hàn Mặc Tử là người đầu tiên trong thế
kỷ XX mở ra một cuộc cải cách lớn cho văn chương Việt Nam thành công một cách vinh quang, rực rỡ” và “thiên tài của Hàn là cao hơn tất cả các thi hào trên thế giới”.[49] Có thể nói, con đường nghiên cứu của Trần Thanh Mại có thể chưa hoàn toàn thuyết phục được công chúng, nhưng ít ra cũng đã khai mở một hướng tiếp cận mới
Chọn hướng nghiên cứu, tiếp cận có chịu ảnh hưởng lối phê bình ấn tượng chủ nghĩa và cũng là một cách khẳng định sở trường cảm thụ thi ca tài hoa
của mình, trong phần viết về Hàn mặc Tử, tác giả Thi nhân Việt Nam (1942)
đã thực hiện một cuộc hành trình đầy cảm xúc qua các thi phẩm của Hàn Mặc
Tử và thừa nhận: “Ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử Tôi đã
theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần tiên hội Và
Trang 9tôi đã mệt lả… Chính như lời Hàn Mặc Tử nói trong bài tựa Thơ Điên, vườn
thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh” [70] Kết thúc phần viết về Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận xét: “ Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hờ hững bỏ quên Bây giờ mất rồi, ta xúm lại kẻ khen, người chê Chê hay khen tôi thấy có cái gì bất nhẫn” [70] Như vậy, hai nhà nghiên cứu đã giành được những kết quả ban đầu, có ý nghĩa khai mở quan trọng trong việc chiếm lĩnh giá trị thơ Hàn Mặc Tử, phát hiện ra một số cái “thần” của thi sĩ một cách tinh tế, sắc sảo Cuối cùng, tác
giả Thi nhân Việt Nam cho rằng tập Xuân như ý là hay nhất và với trường hợp
Hàn Mặc Tử thì Đạo Thiên Chúa đã tạo ra một thi sĩ kỳ dị ở đất này
Nắm 1942, Vũ Ngọc Phan đã đưa tên tuổi Hàn Mặc Tử vào công trình Nhà
văn hiện đại và cố tìm con đường chiếm lĩnh về thơ Hàn Về vấn đề Thiên
Chúa giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, Vũ ngọc Phan khẳng định thi sĩ này là người Việt Nam ca ngợi Thánh nữ Đồng Trinh Maria và Chúa Jésus bằng thơ trước nhất, cũng như ca tụng đạo Gia tô bằng một giọng rất chân thành hiếm
có, chẳng khác nào một thi sĩ Âu Tây
Năm 1975, nước Việt Nam thống nhất, lịch sử sang trang Lý luận nghiên cứu phê bình văn học bắt đầu có điều kiện để đánh giá phong trào Thơ mới
Công trình Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975 của hai nhà nghiên cứu Phan Cự
Đệ và Hà Minh Đức đã tập hợp những thành quả của ba mươi năm phát triển thơ ca và văn xuôi cách mạng Hà Minh Đức đã có những đánh giá tinh tế về Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh Đặc biệt phần
viết Về một nền lý luận phê bình nghiên cứu văn học theo quan điểm Mác xít
( do Phan Cự Đệ thủ bút) đã đánh giá việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử của các phương pháp phê bình ấn tượng chủ quan, phương pháp phê bình khách quan
và phê bình phân tâm hiện sinh, chỉ ra những đóng góp và cả những hạn chế của phương pháp nghiên cứu đó
Trang 10Năm 1983, Nguyễn Hoành Khung có những đánh giá quan trọng về vai trò
Hàn Mặc Tử qua bài viết trong Từ điển Văn học: “Hàn Mặc Tử là người
đứng đầu Trường thơ loạn (còn gọi là Thơ điên)… Và Thơ điên có nhiều bài kinh dị, có những vần thơ giống như tiếng gào rú của một linh hồn đau thương cùng cực.” [105]
Năm 1989, Lê Đình Kỵ viết công trình Thơ mới, những bước thăng trầm
Trong phần nghiên cứu về Hàn Mặc Tử và các thi sĩ Bình Định, tác giả bộc lộ
những năng lực phẩm bình tinh tế và cho rằng trong Thơ điên “có nỗi đau
riêng của Hàn Mặc Tử hòa vào nỗi đau chung của đất nước” Có thể nói đây
là những ý kiến mới nhất về Hàn Mặc Tử và Thơ điên
Trong vòng bốn mươi năm, với tư cách người em ruột, Nguyễn Bá Tín
xuất bản liền hai cuốn sách: Hàn Mặc Tử, anh tôi (1991) và Hàn Mặc Tử
trong riêng tư (1994) nhằm cung cấp thêm những tư liệu mới và đáng tin cậy
về thi sĩ
Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng nghiên cứu sưu tầm tư liệu là sách Đi
tìm chân dung Hàn Mặc Tử (1997) của Phạm Xuân Tuyển Ông đã bỏ ra hơn
ba mươi năm trời ròng rã đi sưu tầm những chứng cứ xác đáng về thi sĩ Có thể nói, sự phong phú tư liệu trong cuốn sách đã thể hiện công lao đáng khâm phục của Phạm Xuân Tuyển
Nhìn chung, thành quả nghiên cứu về Hàn Mặc Tử ngày càng phong phú Nhiều công trình được viết theo kiểu tổng hợp các giai thoại, đời tư của thi sĩ
có xen kẽ phân tích cảm thụ thơ văn, hoặc in lại các tài liệu đã từng xuất bản
có sửa chữa thêm theo ý người tuyển chọn Tiêu biểu là cuốn sách Hàn Mặc
Tử, hương thơm và mật đắng (Trần Thị Huyền Trang – 1991), Hàn Mặc Tử thơ và đời ( Lữ Huy Nguyên – 1995)
Sách Thơ văn Hàn Mặc Tử (Phê bình và tưởng niệm) (1993) của Phan Cự
Đệ đã tiếp tục phát triển những thành tựu nghiên cứu trong chuyên luận
Phong trào thơ mới 1932 – 1945 (xuất bản năm 1966, tái bản năm 1982),
Trang 11đồng thời công bố thêm nhiều tư liệu quý hiếm, xác thực về Hàn Mặc Tử Bên
cạnh đó, Phan Cự Đệ còn cho rằng từ tập Đau thương, thơ Hàn Mặc Tử đã
thấm đẫm màu sắc tượng trưng gần gũi với Baudelaire, Rimbaud, Mallarmé, Valéry… Đề cập tới vấn đề tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, nhà nghiên cứu còn phân tích “Chất Đạo” và “Chất Đời” trong thơ của thi sĩ và kết luận Hàn Mặc Tử là “con chim đầu đàn của nhóm thơ Quy Nhơn, là một trong những ngọn cờ tiêu biểu của trào lưu văn học lãng mạn và tượng trưng thời kỳ 1930 – 1945.” [21, 78]
Năm 1997 với Con mắt thơ, Đỗ Lai Thúy làm một cuộc hành trình “mã
thám” vào thế giới nghệ thuật của phong trào Thơ mới và đã vẽ nên chân dung Hàn Mặc Tử trong “một tư duy thơ độc đáo” Ông đã nêu ra một số đặc trưng tư duy thơ Hàn Mặc Tử như : “tính trữ tình”, “tư duy tôn giáo”, “mô hình sáng tạo” và coi đó là “chiếc chìa khóa vàng” để mở cánh cửa lâu đài nghệ thuật
Với nội dung làm sáng rõ con đường hình thành một cá tính sáng tạo dựng nên một “ thế giới hình tượng kì dị” (Hoài Thanh) có một không hai trong
thời kỳ phong trào Thơ mới, Thơ Hàn Mặc Tử và những lời bình do Mã
Giang Lân tuyển chọn và biên soạn đã giới thiệu các bài viết nghiên cứu về Hàn Mặc Tử cũng như các tác phẩm của nhà thơ, đồng thời giới thiệu một chùm thơ chọn lọc với một số bài tiêu biểu
Hàn Mặc Tử – Tác phẩm và dư luận do Tôn Thảo Miên tuyển chọn cũng
đã giới thiệu một loạt các ý kiến của dư luận về con người và tác phẩm của Hàn Mặc Tử Tiêu biểu là bài viết của Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan, Phan Huỳnh Anh, Đỗ Lai Thúy…
Nhằm nghiên cứu Hàn Mặc Tử trong mối quan hệ với một nhóm tổ chức
thi ca ở Quy Nhơn, Bình Định trong thời kì Thơ mới, cuốn Hàn Mặc Tử và
nhóm thơ Bình Định của Nguyễn Toàn Thắng đã góp một số trang bàn về
Trang 12những ảnh hưởng của trào lưu lãng mạn, tượng trưng, siêu thực đối với Hàn Mặc Tử và “Trường thơ loạn”
Ở bài viết “Hàn Mặc Tử và sự sáng tạo cuồng nộ” (Tạp chí Nhận thức,
tháng 3, năm 1964), Nguyễn Mộng Giác đã cho rằng Hàn Mặc Tử đã có sự sáng tạo cuồng nộ nghĩa là thi sĩ dùng cảm giác thân xác làm phương tiện khám phá ý nghĩa đời đời sống Ngoài ra, tác giả còn có một số khám phá về
đặc trưng hồn thơ Hàn Mặc Tử trong tập Thơ điên, đề cập tới những biến thái
của hình tượng “trăng”, “hồn” và “máu” trong thơ Hàn Mặc Tử và coi đó là kết quả của sự thăng hoa (sublimation) những ám ảnh vô thức của con người Bên cạnh đó, bài viết “Hàn Mặc Tử – một hiện tượng độc đáo của thi ca Việt Nam thế kỷ XX” của Bích Thu đã có những nhận định thật xác đáng khi cho rằng: “Hàn Mặc Tử là một trong những nhân vật bí ẩn và kì lạ nhất của thế kỉ sắp qua này” [74] Không những thế, bài viết còn đi sâu bình luận và phân tích về bản chất sáng tạo thơ ca của Hàn Mặc Tử
Tóm lại, luận văn của chúng tôi kế thừa và tiếp thu những thành tựu từ lịch
sử nghiên cứu lý thuyết phê bình cổ mẫu và lịch sử nghiên cứu các tác phẩm của Hàn Mặc Tử, tuy chưa được phong phú, nhưng cũng đặt tiền đề và cơ sở cho người viết nghiên cứu một cách cân nhắc, thận trọng trên tinh thần khách quan, khoa học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào Lệ Thanh thi tập, Đau thương, Mật đắng, Máu cuồng và
hồn điên, Xuân như ý và Chơi giữa mùa trăng, chúng tôi khảo sát hệ thống cổ
mẫu trong tác phẩm Hàn Mặc Tử gồm Trăng, Hồn, Máu
Để xác lập căn cứ lý thuyết, chúng tôi tìm hiểu các quan niệm và các khái niệm chính của phê bình cổ mẫu
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau
đây:
Trang 13- Phương pháp phê bình cổ mẫu: Luận văn nghiên cứu tác phẩm Hàn Mặc Tử một cách chỉnh thể như là sự biểu hiện của chiều sâu tâm thức tập thể của loài người Phương pháp này thể hiện rõ ở chương 2
- Phương pháp tiểu sử: Tác phẩm Hàn Mặc Tử được khảo sát trong mối quan
hệ chặt chẽ với hoàn cảnh lịch sử đương thời và với cuộc đời của thi sĩ Phương pháp này thể hiện rõ ở chương 3
- Phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh: luận văn nghiên cứu cổ mẫu trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử như một hệ thống và chia thành ba hệ thống
nhỏ hơn: Cổ mẫu Trăng, Cổ mẫu Hồn và cổ mẫu Máu Bên cạnh đó, luận văn
còn so sánh phong cách của Hàn Mặc Tử với phong cách của một số thi sĩ như Tản Đà, Lý Bạch, Baudelaire… Hai phương pháp này chủ yếu sử dụng ở chương 2 và chương 3
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được áp dụng như là một phương pháp phụ trợ để xác định tần số xuất hiện của các từ “Trăng”, “Hồn”, “Máu” trong tác phẩm Hàn Mặc Tử Từ đó, người viết có đủ cơ sở để kết luận ba hình ảnh trên được xem như sự ám ảnh thường trực trong tâm hồn thi sĩ, và nó trở thành hệ thống cổ mẫu xuyên suốt trong các sáng tác của ông
5 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài
Luận văn này là công trình tập trung nghiên cứu chuyên sâu về tác phẩm
Hàn Mặc Tử dưới lăng kính phê bình cổ mẫu Người viết mong muốn đóng góp thêm tiếng nói khẳng định vai trò và vị trí của Hàn Mặc Tử trong tiến trình văn học Việt Nam với tư cách là một nhà thơ có cuộc đời dị biệt và phong cách thơ khá độc đáo Trong khả năng nhất định, người viết cũng hi vọng sẽ nghiên cứu các tác phẩm của Hàn Mặc Tử dưới lăng kính phê bình cổ mẫu một cách có hệ thống và cụ thể
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập (11 trang), Kết luận (3 trang), Thư mục tài liệu tham khảo (8 trang), luận văn gồm có 3 chương:
Trang 14Chương 1: Đôi nét về lý thuyết cổ mẫu và tình hình phê bình cổ mẫu (16 trang): Trong chương này, chúng tôi trình bày về khái niệm,
các quan niệm của C G Jung về cổ mẫu và giới thiệu về tình hình vận dụng lý thuyết cổ mẫu vào phê bình văn học, xem đó là điểm tựa lý thuyết và những kinh nghiệm về phương pháp để từ đó triển khai nội dung nghiên cứu ở các chương sau
1.1 Đôi nét về lý thuyết cổ mẫu
1.1.1 Carl Gustav Jung và lý thuyết về cổ mẫu
1.1.2 Khái niệm cổ mẫu
1.1.3 Một số cổ mẫu tiêu biểu
1.1.3.1 Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ
1.1.3.2 Trăng
1.1.3.3 Hồn
1.1.3.4 Máu
1.2 Tình hình phê bình cổ mẫu
Chương 2: Hệ thống cổ mẫu trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử (40
trang): Từ căn cứ lý thuyết đã xác lập ở chương 1, tiếp cận tác phẩm Hàn Mặc Tử, trên cái nhìn hệ thống, chúng phát hiện ba cổ mẫu chính trong thế giới thơ ca Hàn Mặc Tử là: Trăng, Hồn, Máu Chương 2 tập trung
nghiên cứu ba cổ mẫu này trên các phương diện: tính chất, quan hệ…
Trang 15nêu ra hai yếu tố chính: Cuộc đời (yếu tố cá nhân) và tôn giáo (yếu tố văn hóa cộng đồng)
3.1 Cuộc đời dị biệt của Hàn Mặc Tử
3.1.1 Những ham mê tuổi nhỏ
3.1.2 Bước đầu trong thi nghiệp
3.1.3 Bạn bè và ảnh hưởng
3.1.4 Những riêng tư kỳ dị
3.1.4.1 Những nàng thơ đi qua cuộc đời Hàn Mặc Tử 3.1.4.2 Định mệnh nghiệt ngã
3.2 Tư duy tôn giáo
3.2.1 Ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo
3.2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo
3.2.3 Ảnh hưởng của Đạo giáo
Trang 16CHƯƠNG 1
ĐÔI NÉT VỀ LÝ THUYẾT CỔ MẪU VÀ TÌNH HÌNH
PHÊ BÌNH CỔ MẪU
1.1 Đôi nét về lý thuyết cổ mẫu
Là một xu hướng tựa trên nhân học và phân tâm học, lý thuyết cổ mẫu xuất hiện vào những năm 20 với Carl Gustav Jung và sau đó thuật ngữ phê bình cổ mẫu -Archetypal criticism (còn được gọi là Phê bình Huyền thoại -
Mythocritique) được khai sinh trong công trình Những dạng cổ mẫu trong
thơ: Nghiên cứu phân tâm học về Trí tưởng tượng (Archetypal Patterns in
Poetry: Psychological Studies of Imagination) năm 1934 của Amy Maud
Bodkin (1875–1967, nhà nghiên cứu và phê bình văn học người Anh)
Nếu trên phương diện nhân học, tác phẩm Cành vàng (The Golden Bough,
1890) của James George Frazer (1854-1941, nhà nhân học người Anh) là
công trình tạo ra những mầm mống ban đầu cho lý thuyết cổ mẫu, thì trên
phương diện phân tâm học, cùng khái niệm vô thức (unconcious), Sigmund
Freud, người thầy lớn đã tạo một tiền đề quan trọng cho Carl Gustav Jung
triển khai lý thuyết cổ mẫu, với khái niệm vô thức tập thể (unconcious
collectif)
Cùng xem vô thức và vô thức tập thể như là động lực dẫn dắt tác giả và tác
phẩm, nhưng trong vô thức (cá nhân) Sigmund Freud nhấn mạnh xung năng
tính dục (libido) như là cội nguồn của tất cả hành vi của con người, trong đó
có hành vi sáng tạo (là sự thăng hoa của các ẩn ức); Carl Gustav Jung thì quan niệm vô thức tập thể như là những kết tinh từ bản năng chủng loại của các tộc người với các phản ứng mang tính văn hóa Đề cao tưởng tượng, thế giới huyễn tưởng và giấc mơ, cả Sigmund Freud và Carl Gustav Jung đều cho rằng đời sống tinh thần của cá nhân và nhân loại chủ yếu hình thành trong thời kỳ
Trang 17thơ ấu (cá nhân) và thời kỳ nguyên thủy (cộng đồng) Huyền thoại chính là mảnh đất lưu giữ toàn vẹn và đầy đủ nhất các biểu tượng lớn của vô thức (S Freud) và cổ mẫu (C G Jung); các biểu tượng, cổ mẫu này đã không ngừng tái sinh trong lịch sử văn học nhân loại Thế giới của văn học là thế giới của những “giấc mơ tỉnh thức” Huyền thoại, “những giấc mơ lâu đời của nhân loại thời non trẻ" là đối tượng chính của phê bình Cổ mẫu
Phê bình Phân tâm học và Phê bình Cổ mẫu tiếp cận tác phẩm văn học từ bên ngoài, trên các nguyên tắc về tâm lý học, cụ thể là vô thức Với S Freud
là vô thức cá nhân, với C.G Jung là vô thức tập thể Trên tinh thần ấy, S Freud có Giải mộng, C.G Jung có Phân tích những giấc mơ, Con người và
biểu tượng…
Xem các văn bản là một loại giấc mơ, hoạt động theo nguyên tắc tích tụ (concentration) và chuyển dịch (displacement), các nhà phê bình đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn (latent) sau những nội dung hiển lộ (manifest) qua việc phân tích ngôn ngữ và biểu tượng của một văn bản, tái hiện lại quá trình biểu hiện của giấc mơ
1.1.1 Carl Gustav Jung và lý thuyết về cổ mẫu.
Carl Gustav Jung sinh ngày 26 tháng 7 năm 1875 tại một làng quê phong
cảnh tươi đẹp – bên hồ Konstanz ở Thụy Sĩ Ông là cậu bé trai duy nhất trong gia đình, bố làm mục sư, mẹ không may bị mắc chứng bệnh thần kinh Thiếu thời Jung rất thích môn khảo cổ, nhưng vì gia đình bần hàn, mẹ đau kinh niên nên buộc ông phải học Y khoa và chuyên về các bệnh thần kinh Ông đã từng
tu nghiệp ở ngoại quốc, có qua Paris, ở đây ông là học trò của Pierre Janet Năm 1900, ông là giảng sư ở Trường Đại học Zurich Ông cùng với thầy học
là giáo sư Bleuler huấn luyện cho các sinh viên thực tập Như vậy, tương lai rực rỡ đang chào đón ông trong ngành dạy học Nhưng ông không theo con đường ấy, để dành hết thì giờ cho khách hàng và những cuộc khảo sát tâm lí học, thần thoại học và ngôn ngữ học Hai năm sau, ông đã đạt được học vị
Trang 18tiến sĩ y khoa với luận án Bàn về tâm lý học và bệnh lý học của những hiện
tượng thần bí Và chính trong thời gian này ông đã phát minh ra Phép thí nghiệm liên tưởng qua từ ngữ, rất có tác dụng trong việc nghiên cứu tâm lí
tình cảm con người Đến năm 1907 ông lại cho công bố công trình Tâm lý
học của chứng phát sớm bệnh ngây si Cũng chính trong thời gian này, Jung
bắt đầu kết giao với Sigmund Freud Ông rất có thiện cảm với học thuyết của Freud và chỉ để ý đến những cuộc khảo cứu của Freud về bệnh thác loạn thần kinh và giấc mơ Hai người chơi thân với nhau đến nỗi Freud muốn chọn ông làm kế nghiệp Nhưng Jung ngờ vực lý thuyết của Freud về dục tình, về môn cận tâm lý học (parapsychologie) và khoa thần thoại học so sánh (mythologie comparée) cho nên hai người chia tay nhau, đi theo con đường của mình Năm 1932, ông được chính thức phong hàm giáo sư và đã từng đi thỉnh giảng ở các trường đại học Anh, Mỹ, được các trường Havard và Oxford
phong tặng học vị tiến sĩ danh dự Các tác phẩm chính gồm có: Tâm lý học
của quá trình vô thức (1917), Loại hình tâm lý (1923), Lý thuyết và thực hành tâm phân học (1958), Trí nhớ, giấc mơ và suy nghĩ (1962)…
Ông có gia đình và sinh được năm người con Về già ông lui về Bollingen vùng cao nguyên hồ Zurich Ông dựng lên một căn nhà nhỏ gọi là cái “Tháp”, ông quan niệm đó là một cách ghi tạc vào đá quan niệm có tính cách biểu tượng của ông về con người và cuộc đời
Du khách từ khắp nơi trên toàn cầu đến viếng thăm ông như một nhà hiền triết và ông mệnh chung tại đó vào tháng Sáu năm 1961, hưởng thọ 86 tuổi
Trong tập Ký ức của mình, ông ghi lại những câu:
Người ta bảo rằng tôi là nhà hiền triết, nhưng tôi không dám nhận (…)
Có khi tôi ngạc nhiên, có khi tôi cụt hứng, có khi tôi tự mãn, có khi tôi thất vọng chán nản, có khi tôi phấn chấn; tôi là tất cả những tâm tình ấy nhưng không thể cộng lại với nhau (…) Tôi không cho cái gì là chắc chắn cả Lão Tử đã nói: “Ai ai cũng có điều tin chắc, chỉ có mình tôi
Trang 19thấy tối tăm” Lúc trở về già tôi mới thấm thía ý nghĩa câu nói ấy Con người sinh ra trong một thế giới ác nghiệt và tàn nhẫn nhưng cũng là một thế giới đẹp đẽ thần tiên Đời sống có ý nghĩa gì chăng hay là vô nghĩa? Cũng như tất cả các vấn đề siêu hình, có lẽ cho là vô nghĩa hay
có ý nghĩa cũng đầu đúng cả Nhưng tôi thích niềm hy vọng rằng cuộc đời có một ý nghĩa, đứng trước hư không người ta phải chấp nhận cuộc đời và con người ta chiến thắng [37, 15]
Tâm phân học của Carl Gustav Jung là cơ sở lí thuyết của phê bình cổ mẫu (Archetypal criticism), một trào lưu phê bình, theo sự đánh giá của các học giả Hoa Kỳ, là đã cùng phê bình Mác xít, phê bình tâm lí, phê bình cấu trúc, xứng đáng được gọi là những mô thức phê bình thực sự mang tính chất quốc
tế
Nhắc đến ý nghĩa quan trọng của thuyết Jung đối với việc phát triển cách tiếp cận văn học từ góc độ nghi lễ huyền thoại, chúng ta cần nói qua học thuyết về các cổ mẫu của Jung
Cũng như Freud, Jung quan tâm nghiên cứu tâm lý học của cái vô thức mà ông cho là chiếm phần lớn trong tâm hồn con người (psyche) Ông cho rằng, tiềm thức hướng hoàn toàn vào thế giới nội tâm của con người và là nguồn dự trữ các phản ứng tiêu biểu như: nỗi sợ hãi, quan hệ về giới tính và các thế hệ, tình yêu – lòng căm thù, …đối lập tính cách chưa bị phân hóa với nhận thức Tiềm thức và ý thức có quan hệ bổ sung và điều chỉnh lẫn nhau
Cuộc chia tay của C.Jung với Freud có lẽ bắt đầu từ vấn đề biểu tượng đến
vô thức tập thể hay là từ việc Jung đặt lại vấn đề đối với khái niệm libido của Freud Chính các bài tập (tests) liên tưởng từ đối với các bệnh nhân bị chứng loạn tâm tiềm ẩn đã giúp Jung phát hiện hiện tượng bị dồn nén, sự dồn nén, và điều đó đã đưa Jung đến với Freud Nhưng trong quá trình điều trị, Jung phát hiện rằng trong những giấc mơ của các bệnh nhân này hiện diện một thứ kinh nghiệm mà cá nhân chưa hề trải qua, tức một thứ kinh nghiệm vượt khỏi vô
Trang 20thức cá nhân Điều này buộc Jung phải quan tâm không chỉ đến ý nghĩa của những triệu chứng mà còn quan tâm đến ý nghĩa của những biểu tượng có trong giấc mơ Vì thế có một sự khác nhau trong nội hàm khái niệm biểu tượng của Freud và của Jung Jung cho rằng phải hiểu được những biểu tượng này thì mới có thể điều trị được Chính điều này đã thúc đẩy Jung nghiên cứu huyền thoại, và ông nhận thấy rằng có mối quan hệ hết sức thú vị giữa các huyền thoại cổ với tâm lý của những con người nguyên thủy Khi đi sâu vào nghiên cứu tâm lý của con người nguyên thủy, Jung bắt gặp vô thức tập thể
Và khái niệm vô thức tập thể của Jung đã ra đời Trong bài Cổ mẫu của vô
thức tập thể, Jung khẳng định mạnh mẽ rằng:
Một lớp bề mặt của vô thức chắc chắn là thuộc về cá nhân , tôi gọi nó là
vô thức cá nhân Nhưng vô thức cá nhân này còn ở một tầng sâu hơn,
không bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân, không phải là cái đạt được
thuộc cá nhân mà là bẩm sinh Tầng sâu hơn này tôi gọi là vô thức tập
thể… nó đồng nhất với mọi người và vì thế kiến lập một tầng nền tâm
thức chung của bản chất siêu cá nhân hiện diện trong mỗi con người chúng ta Sự hiện tồn tâm thức có thể được nhân ra chỉ bằng sự hiện diện của các nội dung mà những nội dung này có khả năng ý thức được Cho nên chúng ta có thể nói về vô thức cá nhân chỉ trong chừng mực chúng ta có thể chứng minh được những nội dung của nó Những nội
dung của vô thức cá nhân chủ yếu là những mặc cảm thể điệu tình cảm
( the feeling – toned complexes ) như chúng ta gọi; chúng kiến lập đời sống tâm lý riêng tư và cá nhân Còn những nội dung của vô thức tập
thể thì lại được biết đến như là những cổ mẫu.[38]
Trong Cổ mẫu của vô thức tập thể, C.Jung như “người đại diện của tinh
thần phương Tây đi tìm lại di sản tinh thần đã bị đánh mất trong hệ thống giáo điều của Cơ Đốc giáo, trong sự phá hủy của cuộc cải cách Tin Lành, và
Trang 21ông đã nói đến phương Đông, Phật giáo như là những truyền thống tinh thần rực rỡ những biểu tượng, cổ mẫu cùng vô thức tập thể.” [38]
Như vậy, khác với Freud, Jung chia tiềm thức thành hai tầng bậc: ở phía trên là lớp thuộc về cá nhân gắn với kinh nghiệm của cá nhân, là nơi chứa đủ loại “mặc cảm” tâm lý bất bình thường; lớp nằm sâu hơn thuộc về tập thể, không được phát triển riêng biệt mà chỉ kế thừa và chỉ có thể trở thành ý thức khi được lặp lại Trong giấc mơ và trí tưởng tượng của con người xuất hiện các hình tượng gợi nhớ tới các hình tượng hoặc môtíp của huyền thoại và truyện cổ tích Các phần lõi tập thể nằm sâu bên trong tiềm thức, theo Jung,
chứa đựng những cổ mẫu chứ không phải những mặc cảm Như vậy, Jung đã
mở rộng lý thuyết vô thức cá nhân của Freud khi khẳng định rằng bên dưới vô thức cá nhân là một vô thức nguyên thủy, tập thể được chia sẻ trong di sản tâm thức của tất cả các thành viên trong gia đình loài người
Jung thừa nhận rằng ông không phải là người đưa ra khái niệm cổ mẫu
mà theo ông khái niệm cổ mẫu đã xuất hiện từ lâu như “hình ảnh – thần” (Imago – Dei) trong con người, cổ mẫu ánh sáng, những cổ mẫu phi vật chất,
đá cổ mẫu Đồng thời ông cũng cho rằng khái niệm cổ mẫu là một cách diễn
đạt khác khái niệm eidos của Platon Từ đó cho thấy cổ mẫu là một tồn tại đã
được nhận thức từ rất lâu trong tư tưởng phương Tây, và vì thế vô thức tập thể cũng đã được chú ý
Theo Jung, cổ mẫu là dữ liệu trực tiếp của kinh nghiệm tâm linh mà biểu hiện rõ nhất của nó là được lưu giữ trong huyền thoại Và như vậy, cổ mẫu trở thành cây cầu nối huyền thoại với vô thức tập thể và về sau chính cổ mẫu đã
nối huyền thoại với văn học thông qua vô thức tập thể Đó là con đường chuyển hóa của huyền thoại theo cách nhìn của Jung Và một hiện tượng cực
kì quan trọng mà chúng ta cần tìm hiểu chính là “sự phóng chiếu” (projection) Đây là một hiện tượng tâm lý ở tầng sâu vô thức, luôn hiện hữu một cách thường xuyên và sẵn sàng vận hành trong đời sống tâm linh của loài
Trang 22người Jung cho rằng các nhà thần thoại học khi lý giải thần thoại thường chỉ dựa vào các ý tưởng về mặt trời, mặt trăng, cây cỏ… mà không chú ý đến vấn
đề huyền thoại là một hiện tượng tâm linh tiết lộ bản chất của linh hồn Theo Đào Ngọc Chương:
Người nguyên thủy có một nhu cầu cấp thiết là đồng hóa những kinh nghiệm cảm giác bên ngoài với bên trong, tức những sự kiện tâm linh
Vì thế tất cả các tiến trình huyền thoại hóa tự nhiên (các mùa, các tuần trăng…) được thực hiện bằng sự phóng chiếu của tâm linh, nhờ thế ý thức mới có thể tiếp cận được tâm linh, tức là khi mà tâm linh được phản ánh trong những sự kiện của tự nhiên Sự phóng chiếu lên đối tượng như thế của tâm linh là rất cơ bản và kéo dài hàng ngàn năm, và
đã trở thành thứ ký ức của loài Cổ mẫu vừa là cổ mẫu nhân cách hóa
và là cổ mẫu dịch biến có lẽ là vì thế, và là nội dung của vô thức tập thể [11,96]
Jung cho rằng trong vô thức, ta đánh mất vai trò chủ thể của ta và ta trở thành đối tượng của mọi chủ thể, ta trở thành một với thế giới, ta quên mất ta thật sự là ai Đây là trạng thái của kiểu nhà văn hướng ngoại theo cách nhìn của Jung Và khi đó, sự phóng chiếu xuất hiện và nhà văn bị sự dẫn dắt của các cổ mẫu Từ hiện tượng này, Jung đã nói đến hai kiểu nhà văn: hướng nội
và hướng ngoại Nhà văn hướng nội hoàn toàn làm chủ quá trình sáng tác của mình, họ là chủ thể của quá trình đó Ngược lại với kiểu nhà văn hướng nội như trên là kiểu nhà văn hướng ngoại, tức là người bị vô thức chạm vào và hóa vô thức hay bị vô thức dẫn dắt
Jung cẩn thận giải thích rằng những cổ mẫu không phải là những ý niệm hoặc những mẫu tư tưởng được kế thừa, mà đúng hơn chúng là những tác nhân nào đó Trong khi nhấn mạnh rằng những cổ mẫu là “những hình thức được kế thừa thật sự”, Jung cũng đi xa hơn hầu hết các nhà nhân học là những người có khuynh hướng nhìn những hình thức này như những hiện tượng xã
Trang 23hội truyền thống từ một thế hệ đến thế hệ kế tiếp thông qua những hiện tượng
xã hội truyền thống từ một thế hệ đến thế hệ kế tiếp thông qua những nghi lễ linh thiêng đa dạng hơn là thông qua cấu trúc của chính tâm thức
Tóm lại, không một nhà phê bình văn học hay nghiên cứu phong cách học hiện đại có tầm cỡ nào mà không chịu ảnh hưởng của phân tâm học, và lý thuyết mẫu cổ của Jung thì đó là chỗ dựa của toàn bộ nền phê bình chủ đề học hiện đại Từ L.Spitzer đến G.Bachelard phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học của Ch.Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một cách rất rõ ràng Như vậy, Jung là người đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lý thuyết cổ mẫu
1.1.2 Khái niệm cổ mẫu.
Khái niệm cổ mẫu mà chúng tôi dùng ở đây được dịch từ Archetype (Anh)
Archétype (Pháp), còn được gọi là mẫu gốc, siêu mẫu, nguyên mẫu, nguyên tượng
Trên con đường phát triển ngành phân tâm học, vốn được khai sinh bởi người thầy của mình là Sigmund Freud, Carl Gustave Jung (1875-1961) đã
đề xuất khái niệm cổ mẫu, như là một biểu hiện kết tinh của vô thức tập thể
Cổ mẫu (archetype) là những biểu tượng lớn, thoát thai từ vô thức tập thể,
xuất hiện từ thời kỳ hồng hoang của nhân loại, có giá trị bền vững và phổ quát, được lưu giữ trong các huyền thoại, là kết tinh của các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, nằm trong khu vực tưởng tượng của con người, chịu sự dẫn dắt của
vô thức cộng đồng
Xuất hiện như “những mô hình tiền tạo” “giàu tính năng động sáng tạo”,
cổ mẫu nối liền cái phổ quát với cái cá thể
Cổ mẫu có một số tính chất sau: tính tự trị, bổ sung, chuyển dịch, tham gia vào một tình huống có sẵn với những xung năng riêng và những tư tưởng riêng, có vai trò như những mặc cảm (chống lại hay điều chỉnh những dự định
Trang 24có ý thức), biểu hiện kép về chức năng, cổ mẫu luôn tương tác với những cổ mẫu khác, dệt nên một tấm thảm độc đáo về cuộc sống
Các cổ mẫu được tìm thấy ở nhiều dân tộc thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau Nó xuất phát từ một cái nôi chung là vô thức tập thể khi nhân loại còn sống giữa mơ và thực Cổ mẫu được biểu hiện bằng những giấc mơ, những hình ảnh huyễn hoặc của vô thức cá nhân (Phantasme /fantasme), và bằng những biểu tượng lớn, những tác phẩm văn chương, nghệ thuật (hội họa, điêu khắc, kiến trúc…) chẳng hạn các thần thánh: Trời, Đấng tối cao, cô tiên, địa ngục, đèn thần…, hoặc những tình huống mẫu, những tính cách mẫu, những hoài niệm mẫu, về thân phận con người: Oedip, thằng ngốc, phồn thực, thiên đường đã mất…
Một số nhà phê bình văn học, dựa theo lý thuyết của Jung coi tác phẩm văn chương là giấc mơ hiện nay được xây dựng trên cổ mẫu xa xưa, với những âm vang hiện đại Chẳng hạn nhà phê bình phân tâm học Gaston Bachelard (1884 – 1962) cho rằng hình tượng văn chương là sự biến dạng, là vết tích của cổ mẫu trong vô thức tập thể từ thời nguyên thủy Nhân loại vẫn chìm đắm trong giấc mơ về bốn nguyên tố của vũ trụ: nước, đất, lửa, không khí
Cổ mẫu khác mẫu gốc ở chỗ: cổ mẫu nằm trong vô thức tập thể nhân loại
từ thời nguyên sơ, trong thần thoại, truyền thuyết (Prômêtê, Đại hồng thủy, Thiên đường…), còn mẫu gốc hypotexte lấy từ hình tượng văn học quá khứ hay hiện đại được sử dụng để sáng tạo những hình tượng mới (Chí Phèo của Nam Cao sinh ra những Chí Phèo khác) gọi là mẫu con hypertexte
Như vậy, cổ mẫu được xác định như thế nào? Theo các nhà phê bình cổ mẫu, cổ mẫu bao gồm các phương diện: hình tượng, nhân vật, thiết kế tự sự (narrative designs), chủ đề và các yếu tố văn học khác
Khi thực hành phê bình cổ mẫu, người viết có thể tiến hành các công việc sau: Định giá một mẫu: đối chiếu với cổ mẫu để xem văn bản có gì đặc biệt
Trang 25Phân tích văn bản: thảo luận về chức năng của cổ mẫu trong văn bản, qua cốt truyện, nhân vật, biểu tượng…So sánh các đặc trưng cổ mẫu Định danh các
cổ mẫu
Đọc một tác phẩm theo tinh thần cổ mẫu là:
• Dõi theo những motif lặp đi lặp lại trong tác phẩm
• Trong motif, tìm hình tượng
• Trong hình tượng tìm biểu tượng
• Trong biểu tượng, tìm cổ mẫu
• Nghiên cứu hệ thống cổ mẫu như là chuỗi biểu tượng tương tác từ văn bản này sang văn bản khác
Thế thì đâu là sự khác nhau giữa hình tượng, biểu tượng và cổ mẫu?
Hình tượng (image) là hình ảnh dùng để chuyên chở ý nghĩa tinh thần của
một vật, một sinh thể, một ý niệm, theo mối quan hệ tương đồng (ẩn ngầm hay hiển lộ) giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, nhằm đưa đến một cảm nhận trực tiếp và khơi gợi trí tưởng tượng của người tiếp nhận
Biểu tượng (symbol) cũng là hình tượng, nhưng là hình tượng có khả năng
biểu đạt một ý nghĩa có tính bền vững và phổ quát Những ý nghĩa ấy bắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử của các cộng đồng C.G Jung coi biểu tượng là một sản phẩm của tự nhiên, triệu chứng của một tình huống xung đột
có khi không là kết quả ngụy trang
1.1.3 Một số cổ mẫu tiêu biểu
1.1.3.1 Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ.
G Bachelard, như ta đã nói ở trên, đã dùng bốn yếu tố của vũ trụ theo triết học cổ đại: Nước – Đất – Lửa – Không khí mà tiếp cận tác phẩm văn học Theo ông, người nghệ sĩ chìm trong mơ mộng về bốn yếu tố vật chất ấy và sáng tạo ra những hình tượng
Theo triết học cổ Trung Hoa, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên
tố cơ bản và luôn luôn trải qua năm trạng thái được gọi là: Kim, Mộc, Thủy,
Trang 26Hỏa, Thổ Năm trạng thái này được gọi là ngũ hành, không phải là vật chất
như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong tên gọi của chúng mà đúng hơn
là cách quy ước của người Trung Hoa cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật
* Kim
Là một trong các biểu tượng của năng lượng, kim loại được C.G.Jung
đồng nhất với xung năng tính dục (libido) Phương thức luyện kim, giả kim, làm cho kim loại thấp kém trở thành vàng ròng, theo Jung, có nét gần gũi với
sự thăng hoa, tức là chuyển các ẩn ức tính dục thành năng lượng sáng tạo
* Mộc
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, do có hình dáng vươn lên trời,
cây được xem là biểu tượng về sức mạnh và quyền năng của mặt trời, là một dương vật, hình ảnh nguyên mẫu của người cha Mặt khác, những cây có hốc sâu hoặc có tán lá um tùm và sum suê quả, là nơi chim thường làm tổ, lại là biểu tượng của người mẹ mắn con Từ đó, với C G Jung, cây cũng có thể là biểu tượng của người lưỡng tính
* Thủy
Là nước, biểu tượng của cội nguồn sự sống và sự linh hoạt Sao Thủy là thiên thể thứ ba sau mặt trời và mặt trăng Do gần với mặt trời nhất nên sao Thủy (Mercure) cũng là sao có tốc độ nhanh nhất, là biểu tượng của sự trao đổi, chuyển động và thích ứng Trong thần thoại Hi – La, thần Mercure có bàn chân là đôi cánh nhỏ, là sứ giả của núi Olympe
* Hỏa
Là nguyên tố có sự tham gia của con người, là biểu tượng của nghị lực, ý chí, sự hăng hái, trạng thái căng thẳng và tính hung hăng Sao Hỏa tượng trưng cho ngọn lửa dục vọng, tính năng động, bạo lực và các cơ quan sinh dục của nam giới Thần thoại gắn sao hỏa với vị thần chiến tranh (thần Mars)
Trang 27
* Thổ
Là đất đai, thổ là nguồn sản sinh mang tính tập trung, tính cố định và sức
ỳ Sao Thổ, theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, là năng lượng giải thoát
chúng ta khỏi xiềng xích của cuộc sống bản năng và những dục vọng Theo ý nghĩa đó, nó là một sức mạnh kìm hãm có lợi cho tinh thần và là cái đòn bẫy lớn của cuộc sống trí tuệ, đạo đức và tinh thần
1.1.3.2 Trăng
Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, trăng là một biểu tượng của các
nhịp điệu sinh học: là thiên thể lớn lên, nhỏ đi, rồi biến mất, có cuộc sống tuân thủ qui luật của sự tiến triển, sự sinh thành và sự chết Trăng mang một
số phận thống thiết cũng như số phận của con người nhưng cái chết của nó không bao giờ là chết hẳn, tính tuần hoàn bất tận đó khiến trăng là thiên thể cầm nhịp tốt nhất cho sự sống
Trăng cũng là biểu tượng của chiêm mộng và của vô thức, là những giá trị ban đêm
1.1.3.3 Hồn
Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, từ hồn gợi ý niệm về một quyền
năng vô hình: một bản thể khác biệt trong một sinh thể Nhờ khả năng huyền
bí của mình, nó gợi ý tưởng về một sức mạnh siêu nhiên, về thần linh, về một trung tâm năng lượng
Từ giác độ phân tâm học, Jung nói rằng:
Nó ứng với một trạng thái tâm lí cần phải được dành cho một sự độc
lập nhất định trong khuôn khổ của ý thức (…) Tâm hồn không trùng hợp với tổng thể những chức năng tâm lý (Nó thể hiện) một quan hệ với cái vô thức và cũng (…) một sự nhân cách hóa những nội dung của cái vô thức (…) Những quan niệm dân tộc học và sử học về tâm hồn cho thấy rằng nó ban đầu là một nội hàm thuộc về cá nhân, nhưng nó cũng thuộc về thế giới của cái linh thiêng, nó là cái vô thức Tâm hồn
Trang 28vì thế luôn luôn tự thân là một cái gì đó vừa trần thế vừa siêu nhiên [9, 251]
1.1.3.4 Máu
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Máu gắn với lửa, sức nóng, sự
sống, mặt trời và những giá trị như: đẹp đẽ, quý phái, hào hiệp, cao thượng
Ở khắp mọi nơi, máu được coi như là phương tiện truyền dẫn sự sống, máu
là bản nguyên của thân xác và là phương tiện, truyền dẫn những đam mê Với một số dân tộc, máu được coi như là vật dẫn linh hồn
1.2 Tình hình phê bình cổ mẫu
Như trên đã giới thiệu, nói đến lí luận phê bình cổ mẫu không thể không nhắc đến lí thuyết của nhà nhân loại học người Anh James George Frazer J.G.Frazer (1854 - 1941) là nhà nhân học, nhà lịch sử tôn giáo người Anh có tầm ảnh hưởng rất rộng gần suốt thế kỷ XX Trong nửa đầu thế kỷ XX và có
lẽ cả đến bây giờ, công trình The Golden Bough (Cành vàng) đồ sộ của ông
vẫn còn ảnh hưởng to lớn đối với giới phê bình huyền thoại và đặc biệt trong giới sáng tác Đối với J.G.Frazer, huyền thoại với nghi lễ, ma thuật, thậm chí
một số dấu tích ngôn ngữ có mối quan hệ đặc biệt Trong Cành vàng, ông
nhiều lần trở đi trở lại vấn đề này Ông đã dùng huyền thoại, truyền thuyết để
lý giải các nghi thức, nghi lễ, ma thuật:
Huyền thoại về cái chết của thần Balder không chỉ là một huyền thoại,
có nghĩa là một việc mô tả các hiện tượng vật chất bằng các hình ảnh vay mượn từ đời sống con người mà đồng thời còn là câu chuyện mọi người kể lại vì sao hàng năm họ hỏa thiêu một người tượng trưng cho
vị thần và cắt cây tầm gửi cùng với các nghi lễ trọng thể [11]
Trên cơ sở nghiên cứu nhân học so sánh tiến hóa theo cách như vậy, J.G.Frazer đã chỉ ra nét đồng nhất của các nghi thức ở nhiều vùng, nhiều cộng đồng khác nhau, đặc biệt thông qua hệ thống huyền thoại Sự tương đồng này
“đã nói lên được sự tương đồng không chỉ trong nghi thức như là một biểu
Trang 29hiện mà cả trong cảm thức về thế giới nói chung theo hướng “thờ phụng” và phần nào đó là lý giải sự sống, đời sống như một khát vọng”.[11]
Có thể nói, công trình này có nội dung vô cùng phong phú, đã miêu tả lại tục sùng bái linh hồn, sùng bái đất đai, cây cối, những tập tục kiêng kị, bói toán, tế lễ, hôn nhân… của người nguyên thủy Từ đó sẽ dẫn đến quan niệm cho rằng trong tác phẩm văn học ít nhiều đều có yếu tố nghi thức thần thoại, phải dùng con mắt thần thoại để xem xét văn học
Người tiêu biểu của khuynh hướng này là nhà lý luận phê bình văn học
người Canada, Narthrop Frye với công trình Giải phẫu phê bình Trong tác
phẩm này, N.Frye đề cập đến cổ mẫu theo cách nhìn của Jung, là hình ảnh nguyên thủy, một bộ phận của vô thức tập thể, và thừa nhận một số cổ mẫu
của Jung như persona, aima, counseller, shadow, đồng thời ông cũng định
nghĩa lại và bố trí cổ mẫu trên những căn cứ mới, tách cổ mẫu ra khỏi tâm lý học chiều sâu theo cách nhìn của Jung N.Frye cho rằng trong phê bình văn học, chúng ta không cần thiết phải dùng lý thuyết vô thức tập thể để giải thích
cổ mẫu, bởi theo ông khái niệm cổ mẫu như là một sự kiện văn học tự thân, một hiện tượng lặp lại đặc biệt mang tính liên văn bản giống như một qui ước Đồng thời, N.Frye đã gắn kết quan niệm về cổ mẫu của Jung với tính chu kỳ với tư cách là thuộc tính cơ bản của tư duy huyền thoại Như vậy, sự kết hợp trên đã tạo nhiều cơ hội hơn cho N.Frye lý giải các hiện tượng văn học nói chung, tạo nên một khu vực riêng dành cho những sáng tạo vô cùng sâu sắc của chính ông
Có thể nói, đóng góp không nhỏ của Northrop Frye cho lí thuyết cổ mẫu chính là chỗ vạch ra tính xã hội lịch sử của cổ mẫu cùng những biểu hiện của
nó trong lịch sử văn học Và như vậy, “phê bình huyền thoại đến với N.Frye trở thành một hợp lưu, một dạng tổng thể, mở ra con đường thênh thang cho những khám phá mới, cho những trào lưu phê bình mới mở rộng phạm vi
Trang 30hoặc mang tính liên ngành”.[11, 78] Ông là người bổ sung, kết hợp và chuyển hướng cách nhìn của Frazer Và Jung
Tuy nhiên, người đầu tiên chính thức khai sinh phê bình cổ mẫu là Maud
Bodkin, một nhà nghiên cứu người Anh Maud Bodkin là người đầu tiên vận dụng một cách hệ thống tư tưởng cổ mẫu của Jung vào nghiên cứu văn học khi bà cố gắng đưa sự phân tích tâm lí qui vào cho kinh nghiệm tưởng tượng được thứ thơ ca tuyệt tác truyền tải và khảo sát những hình thức hay là những mẫu hình kinh nghiệm kia mà trong mẫu hình ấy những sức mạnh vũ trụ của
bản chất con người chúng ta tìm được sự biểu hiện cụ thể
Nếu C G Jung xoáy vào vô thức cộng đồng thì G Bachelard lại tập trung vào bản chất và hoạt động tưởng tượng trong văn học Ông cho rằng bản thân con người thuộc về một chất liệu và những giấc mơ của họ mang tính chất của chất liệu ấy, trước khi nó mang dáng vẻ của những cái mà họ chiêm ngưỡng được: “Sự mơ mộng thường xuyên quay trở lại những chủ đề nguyên thủy, thường xuyên hoạt động như một tâm hồn nguyên thủy bất chấp những bước tiến của tư tưởng được rèn dũa, chống đối lại ngay cả việc dây dỗ của những kinh nghiệm khoa học” [60,176] Vì vậy, hoạt động tưởng tượng của con người phát triển trên hai trục chính: tưởng tượng hình thức (một tưởng tượng sản sinh ra nguyên nhân hình thức) và tưởng tượng vật liệu (một tưởng tượng sản sinh ra nguyên nhân vật liệu) Đây là hai từ khóa của phê bình G Bachelard Jung cho rằng đọc từ bên trong (đọc nội quan) bao giờ cũng tốt hơn, nhưng ông chọn cách đọc từ bên ngoài (đọc ngoại quan) là phê bình cổ mẫu Trong khi đó, G Bachelard nói vẻ đẹp bồng bột của hình thức tác phẩm quyến rũ người đọc ngay từ đầu, nhưng ông chọn vẻ đẹp thầm kín của vật liệu Và G.Bachelard không dừng lại ở việc nghiên cứu đơn thuần phương diện tưởng tượng vật liệu mà ông còn đi tìm mối quan hệ nhân quả giữa tưởng tượng vật liệu và tưởng tượng hình thức Ông triển khai nghiên cứu tưởng tượng vật liệu của mình trên bốn nguyên tố chính của vũ trụ: Nước,
Trang 31Lửa, Khí, Đất Trong LEau et les Rêves (Nước và những giấc mơ, 1942), Bachelard đã đi tìm những nét đẹp của tư duy nước bằng việc xuyên qua các
bề nổi để thấy bề sâu, xuyên qua trí tưởng tượng hình thức để khai mở trí tưởng tượng về nội dung Đi từ hình tượng bề nổi đến hình tượng bề sâu của
nước trong một số tác phẩm văn học, G Bachelard nhận lòng si mê bản thể cá
nhân hòa vào lòng si mê vũ trụ Như vậy, với G.Bachelard, “cổ mẫu là hình tượng được tạo dựng vượt lên hiện thực, nó gắn liền với những giấc mơ nguyên thủy Người nghiên cứu phải bám sát mối liên hệ giữa những mặc cảm nguyên bản và những mặc cảm văn hóa Theo ông, dưới một hình thức tốt đẹp thì mặc cảm văn hóa làm cho một truyền thống được sống lại và trẻ ra,
và ngược lại.”[60, 178]
L.Guerin đã đồng nhất phê bình huyền thoại với phê bình cổ mẫu Trong khi đó, dẫu hoàn toàn thống nhất với ông về cơ sở lí thuyết của phê bình cổ mẫu là các công trình của Jung, nhưng Carol Scherreter Rupprecht, tác giả
mục từ “Lý thuyết và phê bình cổ mẫu” trong sách Hướng dẫn về lý thuyết và
phê bình văn học lại cho rằng: “Như thế khuynh hướng phê bình phát triển từ
công trình của ông (tức Jung) được gọi chính xác hơn phải là “cổ mẫu” (archetypal) và hoàn toàn khác biệt với phê bình huyền thoại”
Gilbert Murray là người đầu tiên vận dụng kết hợp hướng phê bình nghi lễ với phê bình cổ mẫu và trong một cách nhìn nhất định, là người đầu tiên mở
ra hướng phê bình cổ mẫu khi ông chứng minh rằng Shakespeare không hề biết gì về huyền thoại Orest, và vì thế bằng vào vô thức tập thể, Shakespeare
đã sáng tạo một dị bản huyền thoại Orest
Chúng tôi xin trích dẫn một nhận xét sau để làm rõ hơn về toàn cảnh của lịch sử phê bình cổ mẫu:
So với nhiều trường phái phê khác, lịch sử của phê bình cổ mẫu không dài, vị trí của nó cũng khiêm tốn Vốn là một xu hướng khởi đi từ phân tâm học, phê bình cổ mẫu hình thành trong tinh thần dung hợp cởi mở
Trang 32hơn các thành tựu khác (văn hóa học, nhân học, lý thuyết về người đọc…) Đề cao tính trải nghiệm và khước từ việc đưa ra mô hình, những công trình của các nhà phê bình thường như là một tìm tòi dò dẫm đầy cảm hứng mang tính cá nhân Những nhà phê bình cổ mẫu lớn thường uyển chuyển về quan niệm và mềm mại về phương pháp, họ luôn có ý thức chống lại sự xơ cứng, giản lược Trong lịch sử của phê bình cổ mẫu, số công trình giá trị gắn với một số ít tên tuổi, cho đến nay vẫn còn sức hấp dẫn Bên cạnh đó, cũng không ít người thất bại vì muốn đưa ra những phương pháp quá cụ thể [60, 180]
Trang 33CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG CỔ MẪU TRONG TÁC PHẨM CỦA HÀN
MẶC TỬ
Nền văn học của một dân tộc nào cũng dung chứa trong lòng nó ít nhiều
cổ mẫu Và văn học Việt Nam cũng là trường hợp không ngoại lệ Bước vào khu rừng văn học của dân tộc mình, Nguyễn Thị Thanh Xuân trong bài viết “
Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam” đã ghi nhận: “trong văn học Việt Nam chi chít những cổ mẫu, trong đó có những cổ mẫu chung của nhân loại
và những cổ mẫu riêng của cộng đồng người Việt, thoát thai từ huyền thoại” [57, 284]
Trong nền thơ ca Việt Nam, cho đến nay chưa có một thi sĩ nào gắn toàn
bộ cảm xúc thơ ca của mình trên thân xác đau thương như Hàn Mặc Tử Và chính kinh nghiệm thân xác ấy với những biến điệu của nó đã làm nên giá trị còn mãi của các sáng tác Kinh nghiệm thân xác đồng nhất với kinh nghiệm huyền thoại, và điều này đã tạo nên một nét rất riêng, “như xác tín với chúng
ta rằng có một dòng chảy của huyền thoại trong sáng tác Hàn Mặc Tử, không phải chỉ những cổ mẫu, không chỉ những huyền tích mà cả thứ kinh nghiệm tưởng đã bị quên lãng nhưng trong một cơn cớ hy hữu nhất của cuộc đời, thi
sĩ đã sống dậy một cách mãnh liệt: kinh nghiệm thân xác và huyền thoại” [11, 128]
Đã có nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến đặc điểm thân xác của sáng tác Hàn Mặc Tử Trần Thanh Mại có lần đã đề cập đến mối liên hệ giữa bệnh phong của Hàn Mặc Tử với trăng, sau này Thế Phong có nhắc lại nội dung đó khi viết về trăng trong thơ Hàn Mặc Tử: “ Hàn đã hòa đồng thẩm mỹ quan của mình vào thiên nhiên và riêng vào trăng Có thể nói là trăng đã chiếm một địa
vị quan trọng trong thơ Hàn” [62, 48] Và Đỗ Lai Thúy đã nhận định: “Ba
Trang 34hình tượng trăng, hồn, máu dồn đọng lại trong một tương quan chặt chẽ: nhà
thơ khạc hồn ra khỏi miệng, điên cuồng mửa máu ra hay ngậm cả một miệng
trăng Như vậy, cả ba trăng, hồn, máu đều từ thân xác, thân xác Đau thương”
[80, 299]
Có thể nói, Trăng, Hồn, Máu là hệ thống cổ mẫu trong tác phẩm của Hàn
Mặc Tử
Sở dĩ chúng tôi gọi Trăng, Hồn, Máu là cổ mẫu mà không phải là biểu
tượng vì cả ba ảnh này xuất hiện rất nhiều lần trong các sáng tác của Hàn Mặc
Tử và trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong tâm thức của tác giả, là những kết tinh của vô thức không chỉ của cá nhân mà là của cộng đồng Hơn nữa, khi đọc các tác phẩm này, người đọc dễ dàng phát hiện ra sự ảnh hưởng của các nghi lễ, văn hóa của nhân loại lên các lớp ngôn từ của thi ca
Nếu như ở cực phổ quát trần thế, trăng hiền hòa thân thuộc thể hiện qua
các tác phẩm: Đây thôn vĩ Dạ, Tiêu sầu, Âm thầm… thì ở cực cao siêu bí ẩn,
Trăng là hóa thân của những trạng thái kinh hoàng, quằn quại của Hàn Mặc
Tử Và như vậy, cổ mẫu trong sáng tác Hàn Mặc Tử không chỉ có Trăng, nhưng Trăng đã trở thành biểu tượng chủ đạo
Vầng trăng tỏa sáng hàng ngàn năm lịch sử thi ca nay lại chiếu rọi sáng ngời trong các sáng tác của Hàn Mặc Tử, biểu hiện một thế giới tiên nghiệm,
Trang 35tiềm thức huyền bí mà nhà thơ có ý đồ “khải thị”.Tất cả những biểu hiện về trạng thái tâm lý của Hàn Mặc Tử trong các sáng tác ít nhiều chịu sự chi phối
bởi hình ảnh Trăng
Hàn Mặc Tử có tới 15 bài thơ có tiêu đề Trăng: Chơi giữa mùa trăng,
Uống trăng I, Uống trăng II, Đà Lạt trăng mờ, Sáng trăng, Trăng vàng trăng ngọc, Ngủ với trăng, Say trăng, Rượt trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng, Một miệng trăng, Một nửa trăng, Vầng trăng, Ứng trăng Ngoài ra, tần số từ
“Trăng” trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử là 244 lần Bấy nhiêu đó thôi cũng
đủ chứng minh cho chúng ta thấy Trăng chiếm một vị trí vô cùng lớn lao trong suy nghĩ của Hàn Mặc Tử
Vậy vì sao Trăng lại xuất hiện nhiều lần và trở thành một nỗi ám ảnh không dứt trong Hàn Mặc Tử? Thử tìm hiểu những cơ sở lịch sử xã hội, văn hóa ở Nam Trung Bộ và Bình Định chúng ta sẽ được lí giải cụ thể hơn
Nam Trung Bộ và Bình Định có vẻ đẹp của một không gian thiên nhiên, không gian văn hóa, lịch sử truyền thống được kết hợp với các yếu tố văn hóa phương Tây hiện đại trong các trường học ở Huế và Quy Nhơn Tất cả đã tạo
ra một vùng “khí hậu” độc đáo cho văn học nghệ thuật đâm chồi, nảy lộc Đây cũng là nơi giao hòa giữa văn hóa Việt với văn hóa Chăm, là mảnh đất nảy nở nhiều tôn giáo như Đạo Thiên Chúa, Đạo Phật, Đạo giáo… Hình ảnh những ngôi tháp Chàm rêu phong cổ kính với vẻ đẹp u buồn, bí ẩn, trầm mặc, trơ trọi
in hình trên nền trời miền Trung xanh thẳm đã đi sâu vào tâm hồn Hàn Mặc
Tử từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành và là nỗi ám ảnh thường trực đối với
thi sĩ Trong bài thơ Phan Thiết! Phan Thiết!, Hàn Mặc Tử lại nhắc đến tháp
qua từ “Lầu trăng” để chỉ tháp Pô xah Inư nằm trên đồi Lầu Ông Hoàng, nơi hẹn hò tình yêu với Mộng Cầm:
Ta lang thang tìm đến chốn Lầu Trăng Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang
( Phan Thiết ! Phan Thiết !)
Trang 36Theo lời kể của Hoàng Diệp, Hàn Mặc Tử và các thi hữu luôn luôn dành những khoảnh khắc đáng quý của cuộc đời để sống với thiên nhiên:
Những đêm trăng sáng, màu trăng hoang dại, huyền hoặc thường quyến
rũ chúng tôi đi ngủ biển Chế Lan Viên, Yến Lan và tôi hội họp tại nhà Hàn Mặc Tử rồi đem ra (drap) mền đi ngủ biển chỉ cách nhà độ chừng
200 thước Những đêm ấy là những đêm mưa tầm tã, lụt ngập trời Nhưng mưa ở đây là mưa sao Lụt ở đây là lụt trăng Chúng tôi bị trăng vây phủ tứ bề, ngăn hết nẻo đường và bị muôn sao đứng sững dòm ngó chúng tôi… Sau một thời gian (trên một năm) nằm chung, ngủ chung,
ôm choàng lấy nhau trên bãi cát vàng, dưới bóng trăng sao, cảnh thông
và trăng đã cảm hứng rất nhiều cho Hàn Mặc Tử [17,80]
Không những thế, ánh trăng ở chợ Chua Me, Động Cát chiếu rọi vào tâm hồn con người Hàn Mặc Tử từ thơ bé đến lúc trưởng thành trở thành những
ám ảnh kỳ lạ, để một khoảnh khắc nào đó sẽ bừng sáng thành những vần thơ lung linh huyền ảo Hãy nghe người em trai Hàn Mặc Tử, ông Nguyễn Bá Tín hồi tưởng về những kỷ niệm thơ ấu của hai người:
Vào những đêm trăng sáng thì tuyệt đẹp, nhưng huyền ảo đến rợn người như đi vào một thế giới xa lạ (…) Trăng bao phủ tứ phía bằng một ánh sáng lung linh chờn chợn khó phân biệt từ trên trăng tỏa xuống hay từ cát trắng chiếu lên Tơ trăng dày đặc, mỗi cử động hay di chuyển đều như lùa cả trăng theo Nhìn xa về chợ Chua Me độ cây số, nhiều tảng đá lớn đen đủi, trồi lên trên cát trắng trông phát sợ, tưởng chừng như những tên quỷ khổng lồ nhúc nhích xê dịch bên ranh giới vào
“Tiên Động” Chúng tôi không dám đi xa, cũng không dám nhìn về phía đó (Có lẽ anh Trí đã đi nhiều lần đến đây ngắm trăng khi còn ở Sa
Kỳ, mà điạ danh nghe đã kỳ diệu rồi) [44,350]
Tắm mình trong ánh trăng huyền ảo, trong màu trắng mênh mông của những dòng sông trảng cát tinh khiết, Hàn Mặc Tử thường bơi thuyền đi
Trang 37“Chơi giữa mùa trăng” để viết nên những áng thơ văn xuôi trong suốt như thủy tinh Có thể nói, trăng ở chợ Chua Me, Động Cát, trăng ở Gò Bồi, xóm Động, xóm Tấn, trăng ở trời biển Quy Nhơn, Quy Hòa đã tỏa sáng huyền ảo trong thơ Hàn Mặc Tử
Những năm thập niên 1940, ngôn ngữ thi ca có phần nào ước lệ, khuôn sáo Với ánh trăng, Lưu Trọng Lư viết :
Em nghe chăng mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức…
Với Hàn Mặc Tử, ngay từ Lệ Thanh thi tập, hình ảnh Trăng đã hiện lên
với những nét rất riêng của thi sĩ Trăng táo bạo len vào: “Bóng nguyệt leo
song sờ sẫm gối” (Thức khuya), trăng suồng sã và tai quái: “Dì nguyệt trớ trêu lòng dạ thiểm” (Gái ở chùa)
Đến với Gái quê, chúng ta như bước vào một thế giới đầy những hình ảnh
mơ mộng, thế giới của tình yêu trái cấm Tình cảm của tập thơ vừa có cái e ấp rất “gái quê” lại vừa có những nét táo bạo rất riêng trong chất thơ Hàn Mặc
Tử Chàng trai trẻ đã thể hiện cái khao khát và nỗi buồn vu vơ không duyên
cớ Với thi sĩ, ánh trăng thượng tuần có khác hơn :
Trên đọt tre già trăng lưỡi liềm Hỡi trăng hãy chặt khóm thùy dương Nghiêng mình trước gió chiều lơi lả
Và chặt luôn ta dứt nỗi niềm
(Tiếng vang)
Trang 38Trăng lưỡi liềm là trăng non, ánh sáng dật dờ Trong khoảnh khắc ấy, thi
sĩ muốn hưởng trọn vẹn ánh trăng nên không cần cây cỏ xung quanh, thậm chí muốn trăng chặt cả khóm thùy dương
Đôi lúc, chàng trai dường như mắc cỡ, nên nhục cảm tràn trong chiêm bao, trong các sáng tác Trăng trở thành người phụ nữ gợi tình:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi
(…)
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
(Bẽn lẽn)
Thật ra, hình ảnh trăng được ví như thân thể đàn bà đã xuất hiện từ Hồ
Xuân Hương trong bài Hỏi trăng:
Mấy vạn năm nay vẫn hãy còn
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn Hỏi con Ngọc thỏ đà bao tuổi?
Chớ chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng, Ngày xanh sao nỡ tạnh lòng son, Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng với nước non?
Như vậy, sự liên hệ giữa đàn bà và mặt trăng cũng không có gì lạ Theo tín ngưỡng cổ xưa, mặt trăng có một sự tác động phồn thực tới người đàn bà:người đàn bà có kinh nguyệt (máu) theo tuần trăng: sự vận động của mặt trăng theo chu kỳ từ khuyết đến tròn rồi lại khuyết là hình ảnh của sự tăng trưởng và lụi tàn của vạn vật cũng như của con người, người đàn bà và mặt trăng đều là nguyên tắc nữ tính Bởi vậy, trong tâm thức cũng như theo truyền thống văn hóa, người ta thường ví người đàn bà với trăng
Trang 39Với Hàn Mặc Tử, chàng trai bắt đầu háo hức với trăng:
Tôi thích len vào trong đám lau Núp chờ trăng xuống để quàng nhau Giả đò ân ái như năm ngoái
Gió lại, ta ngờ nàng tới sau
(Mơ)
Có thể nói, “xung năng thân xác trong chàng quá mạnh, trí tưởng tượng của chàng quá dồi dào mà lòng yêu không thỏa Trăng như là người phụ nữ khai tâm cho Hàn Mặc Tử trong đường tình ái Với trăng, chàng được giải phóng năng lượng trong mình Cái vô thức cá nhân đã lộ, nhưng hòa lẫn trong cảm giác và cảm xúc” [57, 300]
Những bài thơ của Hàn Mặc Tử đã thể hiện hình ảnh một chàng trai mới lớn tràn đầy sức sống, sung mãn khí huyết, rạo rực ước mơ tình tự ái ân, nhưng luôn tự đắp một con đập ngăn giữa những cơn thủy triều khát vọng của lòng mình Có thể nói, chính vì bản tính Hàn Mặc Tử hay mắc cỡ, thẹn thò, nhút nhát trong tình yêu nên mới sinh ra cái ẩn ức muốn giải thoát trong thơ
Trong bài Chạy theo hạnh phúc, Hàn viết:
Đêm ấy mơ hoa ở dọc đàng Say sưa ta đuổi bóng trăng đang Vẩn vơ luồng gió như lưu luyến Đem lại bên tai tiếng thở than
Bài Rượt trăng:
A ha! Ta đuổi theo trăng
Ta đuổi theo trăng Trăng bay lả tả trên cành vàng Tới đây là nơi tôi được gặp nàng
Tất cả đều thể hiện trạng thái khao khát hưởng thụ tình ái một cách mãnh liệt:
Trang 40Bóng Hằng trong chén ngả nghiêng
Lả lơi, tắm mát, làm duyên gợi tình Sóng sao mặt nước rung rinh Lòng ta khát miếng chung tình từ lâu Uống đi cho bới khô hầu
Uống đi cho bớt cái sầu mênh mang
Có ai nuốt ánh trăng ngàn
Có ai nuốt cả bóng nàng tiên nga
Đã thèm, cái giấc mơ hoa…
(Uống trăng)
Phải chăng những ẩn ức tình dục ấy bắt nguồn từ sự ám ảnh bởi tín ngưỡng phồn thực? Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực phát triển từ xa xưa và rất mạnh mẽ Theo Đỗ Lai Thúy: “Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam khác với Trung Hoa và Ấn Độ, không phát triển lên thành vũ trụ luận, triết học, hay văn hóa tính dục Phải chăng đó là sự qui định của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, đặc biệt là vai trò của làng xã bảo lưu ngàn đời và không có tiếp xúc với văn hóa du mục?” [76, 67]
Ngoài ra, các tôn giáo lớn với sự thiết lập một hệ thống tôn ty trật tự chặt chẽ, với sự chế dục, cấm dục và diệt dục, đã chèn ép tính ngưỡng phồn thực khiến nó phải dồn về lớp bề sâu của tâm thức, tức tiềm thức hoặc vô thức trong đời sống tâm linh của người Việt cổ Nó:
lắng đọng trong thời gian thành một lớp trầm tích văn hóa, một kho ký
ức tập thể trong vô thức cộng đồng dưới dạng những siêu mẫu (archétype) Chính những siêu mẫu này tạo ra các khuôn mẫu văn hóa, khuôn mẫu tư tưởng và khuôn mẫu hành vi của con người Khi tâm thế
xã hội không cho phép thì chúng cứ tồn tại tiềm tàng như thế trong vô thức tập thể, còn khi có điều kiện thì các siêu mẫu này “giáng lâm” vào đời sống văn hóa cộng đồng, hoặc trong các sáng tạo văn hóa cá nhân