1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động văn hoá tinh thần ở thành phố hồ chí minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

157 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên, trong công trình này, tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt độn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO TUẤN HẬU

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

VĂN HỐ TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ

TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ

QUỐC TẾ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO TUẤN HẬU

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

VĂN HỐ TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ

TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ

QUỐC TẾ HIỆN NAY

Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Trang 3

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập, trung thực của bản thân Nếu có gì không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2010

Tác giả

ĐÀO TUẤN HẬU

Trang 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của luận văn 7

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 7

6 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 8

1.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA TINH THẦN VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN 8

1.1.1 Khái niệm văn hóa tinh thần 8

1.1.2 Quan niệm về hoạt động văn hóa tinh thần 14

1.2 QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN 18

1.2.1 Khái niệm quản lý 18

1.2.2 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của quản lý hoạt động văn hóa tinh thần 23

1.3 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37

1.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động của nó đối với quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở Việt Nam hiện nay 37

1.3.2 Tầm quan trọng và những yêu cầu đặt ra đối với quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 66

Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 73

2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 73

2.1.1 Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh 73

2.1.2 Khái quát đặc điểm hội nhập kinh tế quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 75

Trang 5

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 83

2.2.1 Thực trạng quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua 84

2.2.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh những năm qua 115

2.2.3 Những vấn đề đang đặt ra đối với quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 124 2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 126

2.3.1 Phương hướng cơ bản của quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 126

2.3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 130

KẾT LUẬN 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động văn hoá tinh thần là một trong những hoạt động không thể thiếu được trong đời sống của con người Văn hóa tinh thần có vai trò, vị trí, ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội Tổng kết kinh nghiệm lịch sử đến cuối thế kỷ XX, Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã nhấn mạnh rằng: văn hoá không chỉ là mục tiêu, động lực mà còn là hệ điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội đối với các quốc gia và nhân loại nói chung

Tuy nhiên, để hình thành đời sống văn hóa tinh thần cao đẹp, phát huy vai trò tích cực của nó đối với sự phát triển của xã hội loài người thì không thể để văn hóa tinh thần phát triển một cách tự phát Văn hóa tinh thần đòi hỏi phải được xây dựng một cách chủ động, có kế hoạch, có lãnh đạo và có quản lý Kinh nghiệm phát triển thế giới đã chỉ ra rằng, phát triển kinh tế

mà không chăm lo đến đời sống văn hoá tinh thần, buông lỏng công tác quản lý đối với hoạt động văn hóa tinh thần, để cho nó phát triển một cách

tự phát sẽ đưa đến nguy cơ về một sự phát triển què quặt, mất cân đối hoặc lệch lạc Thực tế này cũng đã diễn ra ở nhiều nước tư bản Không phải tự nhiên mà triết gia phương Tây Môrin thốt lên rằng “trong các nền văn minh gọi là phát triển của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển một cách thảm hại về văn hoá, trí não, đạo đức và tình người” [6, 338] Chăm lo xây dựng, phát triển, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý đối với văn hóa tinh thần trở thành một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của các quốc gia

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, đã tạo ra cơ hội cho các quốc gia mở rộng giao lưu, trao đổi, hợp tác trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có giao lưu, trao đổi, hợp tác trên lĩnh vực văn hóa tinh thần Nhưng mặt khác, quá trình này

Trang 7

cũng đặt ra không ít những thách thức, những vấn đề buộc các quốc gia phải đối mặt như: vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp biến như thế nào văn hóa ngoại nhập, ngăn chặn các sản phẩm văn hóa độc hại đang xâm nhập vào quốc gia mình, v.v… Điều này đòi hỏi nhiều yếu

tố, nhưng quan trọng nhất và trước hết thuộc về trách nhiệm quản lý của nhà nước Tăng cường hiệu quả sự quản lý nhà nước sẽ là nhân tố quan trọng để đời sống văn hóa tinh thần mỗi quốc gia “tăng sức đề kháng” trước các nguy cơ, thách thức cũng như tận dụng tốt thời cơ, mặt tích cực trong quá trình giao lưu, trao đổi và hợp tác văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng như hiện nay

Ở nước ta, trong những năm gần đây, quá trình mở cửa hội nhập kinh

tế quốc tế đã góp phần làm cho kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người dân được nâng lên Và cùng với sự phát triển đó, các hoạt động văn hoá tinh thần cũng diễn ra sôi nổi, phong phú và đa dạng phản ánh nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày một tăng của nhân dân Nhưng mặt khác, dưới sự tác động của quá trình trên đã làm cho hoạt động văn hóa tinh thần cũng diễn ra khá phức tạp, nhiều bất cập trong hoạt động văn hoá tinh thần cũng đang diễn ra như: xu hướng “thương mại hóa” hoạt động văn hoá tinh thần, chạy theo thị hiếu tầm thường; tệ mê tín dị đoan hoặc lợi dụng tôn giáo để thực hiện những mục đích chính trị vẫn còn tồn tại; “giao lưu vǎn hóa với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở Số vǎn hóa phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn, trong khi đó,

số tác phẩm vǎn hóa có giá trị của ta đưa ra bên ngoài còn quá ít” [26, 158], v.v…

Những hạn chế và bất cập trên có nhiều nguyên nhân, song xét về mặt chủ quan thì, một trong những nguyên nhân của tình trạng đó chính là sự yếu kém trong công tác quản lý của các cơ quan chức năng đối với hoạt động văn hoá tinh thần, “có biểu hiện buông lỏng, né tránh, hữu khuynh” [26, 160] Do đó, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hoá tinh thần

Trang 8

trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một vấn đề quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nhất là trong bối cảnh hiện nay nhằm thực hiện mục tiêu văn hoá của Đảng là xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội

Tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hóa tinh thần đối với nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là quan trọng, và điều này lại càng quan trọng hơn đối với thành phố Hồ Chí Minh

So với cả nước, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm tâm kinh tế - xã hội lớn, có tốc độ, quy mô hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đầu cả nước; các hoạt động văn hóa tinh thần diễn ra rất sôi nổi, phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp Với đặc điểm như vậy, nếu buông lỏng quản lý hoặc quản lý thiếu chặt chẽ, thiếu khoa học, không kịp thời đối với các hoạt động văn hóa tinh thần sẽ dẫn dến nhiều tác động và hậu quả khôn lường cho xã hội

Do đó, tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở đây trở thành một nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa to lớn

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, nghiên cứu về quản lý các hoạt động văn hóa tinh thần để nâng cao hiệu quả của công tác này là vấn đề có

tính cấp thiết cao Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Quản lý hoạt động văn hoá tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chủ

nghĩa xã hội khoa học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, đề tài văn hóa tinh thần được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm với nhiều góc độ và khuynh hướng khác nhau Điều đó làm cho số lượng các công trình, các bài báo nghiên cứu về lĩnh vực này ở nước ta khá nhiều, khá đồ sộ

Ở góc độ quản lý văn hoá, chúng tôi nhận thấy ngoài một số bài báo

có tính tản mạn trên các tạp chí, thì có khá ít công trình nghiên cứu về vấn

Trang 9

đề này Hiện nay, có thể kể đến các công trình tiêu biểu liên quan đến vấn

đề quản lý văn hoá như sau:

- Giáo trình quản lý văn hoá của nhóm tác giả Nguyễn Văn Huy, Phan

Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Điền do Nxb Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1998 Công trình này đã cố gắng làm rõ những vấn đề lý luận chung về quản lý văn hoá như: Quan niệm về quản lý văn hoá, nguyên tắc, nội dung quản lý văn hoá… Nhưng công trình này vì có tính chất là một giáo trình nên chưa có điều kiện khảo sát thực trạng công tác quản lý ở phạm vi trong nước hoặc một địa phương nào đó Mặt khác, từ khi cuốn giáo trình này ra đời (1998) đến nay đã hơn 10 năm, do đó khó tránh khỏi ở nhiều nội dung, nhiều vấn đề lý luận còn thiếu sót, cần phải bổ sung và hoàn thiện thêm Nhưng dù sao, đây cũng là một công trình tham khảo có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết những vấn đề lý luận chung liên quan tới đề tài của tác giả

- Quản lý văn hoá đô thị trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước của Lê Như Hoa, Nxb Văn hoá - Thông tin, năm 2000 Công

trình này cũng đã cố gắng giải quyết những vấn đề như quản lý văn hoá, quản lý văn hoá đô thị, quản lý văn hoá đô thị trên các mặt (quy hoạch kiến trúc, bảo vệ môi trường, xây dựng lối sống đô thị, hoạt động giải trí của cư dân đô thị…); công trình này cũng đưa ra một số kiến nghị về kinh tế, chính trị, quy hoạch… để quản tốt hơn văn hoá đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Về lãnh đạo và quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới,

NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Đây là một công trình của Nguyễn Duy Bắc sưu tầm và tuyển chọn các bài viết của nhiều nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu bàn về lãnh đạo và quản lý văn học nghệ thuật Đây cũng là một công trình có ý nghĩa lớn để tác giả tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề lý luận chung và những vấn đề thực tiễn của lĩnh vực văn học nghệ thuật trong hoạt động tinh thần ở nước ta hiện nay

Trang 10

Nghiên cứu cụ thể về hoạt động văn hoá tinh thần và quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy rằng, trong những năm gần đây có các công trình đáng chú ý là:

- Phan Xuân Biên: Miền đông Nam bộ con người văn hóa, do Nxb

Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2004 Trong công trình này, tác giả giành một chương bàn về văn hoá ở thành phố Hồ Chí Minh, khái quát các đặc điểm tự nhiện và kinh tế - xã hội hình thành nên một số đặc điểm văn hóa của con người Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh

- Sở Văn hóa Thông tin thành phố Hồ Chí Minh: Sài gòn - TP Hồ Chí

Minh thế kỷ XX những vấn đề lịch sử - văn hóa, Nxb Trẻ ấn hành năm

2000 Công trình này chưa phải là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống mà chỉ mang tính chất tập hợp các bài báo của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo viết về một số khía cạnh khác nhau của lịch sử, văn hóa Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, v.v…

Như vậy, dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, một số

ít công trình nghiên cứu văn hoá tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh dưới những góc độ khác nhau, nhưng nghiên cứu về quản lý hoạt động văn hoá tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là một hướng nghiên cứu mới mẻ, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa Trên cơ sở

kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên, trong công trình này, tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động văn hóa tinh thần, sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản lý hoạt động văn hóa tinh thần, khảo sát đặc điểm, thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh, từ đó có những đề xuất, kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đối với lĩnh vực văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn: Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận

về quản lý hoạt động văn hóa tinh thần; thực trạng quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố này trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập

trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động văn hóa tinh thần và quản

lý hoạt động văn hóa tinh thần ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

- Phân tích thực trạng quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố

Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Hoạt động văn hóa tinh thần là lĩnh vực hoạt động phong phú, đa dạng

và rộng lớn Trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ, về mặt thời gian và năng lực, chúng tôi khó có thể có điều kiện khảo sát hết toàn bộ các lĩnh vực của nó Do đó, chúng tôi giới hạn các lĩnh vực nghiên cứu ở đây trước hết là các lĩnh vực chịu sự quản lý của ngành văn hóa - thông tin, bao gồm các lĩnh vực hoạt động cơ bản: tư tưởng; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; tín ngưỡng tôn giáo; lễ hội; giao lưu, trao đổi văn hóa

Các lĩnh vực khác như: khoa học, giáo dục, đào tạo v.v đều là những hoạt động quan trọng và cơ bản trong đời sống tinh thần của xã hội Nhưng

do nhiều điều kiện hạn chế như trên, cũng như các lĩnh vực này không phải

Trang 12

là lĩnh vực chịu sự quản lý trực tiếp của ngành văn hóa - thông tin, vì vậy tác giả không đưa vào phạm vi nghiên cứu trong luận văn này

Luận văn cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, từ 1986 trở lại đây

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của luận văn

Về cơ sở lý luận, luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác

-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về văn hóa

Về phương pháp luận nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp biện

chứng duy vật, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học…để nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

về quản lý hoạt động văn hoá tinh thần trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần chỉ ra thực trạng quản lý hoạt

động văn hoá tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay; trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần làm cho công tác quản lý hoạt động văn hoá tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh ngày một tốt hơn

Ngoài ra, có thể sử dụng công trình này làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, học viên cao học, sinh viên

và những ai quan tâm tới lĩnh vực này

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài mục mục; phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết

Trang 13

Chương 1 HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ QUẢN

LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY

1.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA TINH THẦN VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN

1.1.1 Khái niệm văn hóa tinh thần

Đề cập đến văn hóa và văn hóa tinh thần là đề cập đến một đề tài “bao

la như con người và sự sống” Để làm rõ khái niệm văn hóa tinh thần trước hết cần có một nhận thức khái quát về khái niệm văn hóa

Thuật ngữ văn hoá xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ của loài người

Về mặt từ ngữ, ở phương Tây, văn hoá bắt nguồn từ chữ Latinh colere, về sau trở thành cultura Nghĩa đen của từ này là cày cấy, gieo trồng, sau này

được hiểu rộng ra (nghĩa bóng) là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần trí tuệ

con người Ở Trung Quốc, từ văn hoá xuất hiện từ thời Tây Hán, khoảng năm 206 trước CN Văn của con người là lời hay ý đẹp, văn của xã hội là

điển chương, chế độ, phong tục, đạo đức…thể hiện trong quan hệ giữa con

người với nhau; Hóa là sự dạy dỗ, sửa đổi phong tục, làm cho chất tự nhiên của con người đẹp đẽ hơn (có văn) Do đó, văn hoá ở đây được hiểu như là

sự giáo hoá, dùng văn để giáo hoá con người, đối lập với vũ lực

Khi văn hoá trở thành vấn đề nghiên cứu của khoa học xã hội nhân văn từ thế kỷ XVIII, việc định nghĩa khái niệm văn hoá trở nên phức tạp hơn nhiều Trả lời cho câu hỏi văn hoá là gì đã đưa đến rất nhiều đáp án khác nhau từ nhiều học giả với các hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau

Trang 14

Theo một thống kê chưa đầy đủ của tiến sĩ triết học người Nga A.A.Migolatev thì có hơn 500 định nghĩa khác nhau về văn hoá [17, 11] Khái quát các cách định nghĩa về văn hóa, GS Hoàng Vinh đã phân loại ra

12 nhóm định nghĩa khác nhau về văn hoá, mỗi nhóm nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác của văn hoá Theo đó, có các nhóm định nghĩa về văn hoá như: định nghĩa mang tính chất miêu tả; định nghĩa mang tính chất lịch sử; định nghĩa nhấn mạnh vào nếp sống xã hội; định nghĩa nhấn mạnh vào sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên; định nghĩa nhấn mạnh vào tính chất di truyền xã hội, tức khả năng học tập của con người; định nghĩa nhấn mạnh vào phương thức ứng xử; định nghĩa nhấn mạnh vào khía cạnh tư tưởng của văn hoá; định nghĩa nhấn mạnh vào phương diện giá trị của văn hoá; định nghĩa nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo trong lịch sử nhằm hình thành nên hệ thống giá trị xã hội; v.v [97, 27-30]

Chính vì có rất nhiều định nghĩa về văn hoá như vậy mà học người Pháp J.Derrida đã phải thốt lên rằng: “văn hoá là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng đối với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” [71, 28]

Sở dĩ có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa như vậy là

do góc độ tiếp cận của các tác giả, của các ngành khoa học về văn hóa là không giống nhau Ngay trong bản thân một ngành khoa học, cũng có nhiều hướng tiếp cận, nhiều cơ sở lý thuyết khác nhau về văn hoá Giống như nhà văn hoá học người Nga V.M.Rôđin đã nhận định, “có bao nhiêu nhà văn hoá học lớn thì cũng có bấy nhiêu lý luận văn hoá, mỗi khuynh hướng văn hoá học độc đáo đều quy định cách tiếp cận và đối tượng của mình” [73, 66] Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào quan điểm tiếp cận (duy tâm hay duy vật…), và bị chi phối bởi các yếu tố giai cấp, dân tộc, thời đại, trình độ nhận thức… của các học giả trong những giai đoạn lịch sử và không gian nhất định

Trang 15

Trong luận văn này, tác giả lựa chọn một cách hiểu, một định nghĩa về khái niệm văn hóa phù hợp với góc độ tiếp cận của chủ nghĩa xã hội khoa học để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã nêu trong phần mở đầu của luận văn

Chủ nghĩa Mác - Lênin dù cũng đề cập đến vấn đề văn hóa, đặc biệt là văn hóa vô sản Nhưng C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cũng chưa có một định nghĩa đầy đủ nào về văn hóa Văn hóa trong quan điểm của các ông thường được hiểu là văn hóa tư tưởng, văn hóa tinh thần, trình độ dân trí, v.v là cái thuộc về hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội

Tại Hội nghị quốc tế về văn hóa do UNESCO tổ chức ở Mêhicô năm

1982, những người tham dự đã đưa ra khoảng hơn 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa như sau:

“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [106] Khái niệm trên vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hoá riêng biệt

Năm 1988, tại lễ phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa”, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [95, 23]

Trang 16

Hồ Chí Minh trong thập niên bốn mươi của thế kỷ XX có đưa ra một quan niệm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [59, 431] Với quan niệm này,

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hoá vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày

về ăn, mặc, ở…), có văn hoá phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Những sản phẩm do con người phát minh ra thuộc về văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong nội hàm khái niệm văn hóa là toàn bộ những sản phẩm sáng tạo của con người nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, khái niệm văn hóa do Hồ Chí Minh đưa ra là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng

Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra một nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong Nghị quyết đó, văn hóa được xác định có các lĩnh vực cơ bản như: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; giáo dục; khoa học; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hóa; tôn giáo; hệ thống thiết chế văn hóa

Như vậy, có thể thấy đã có nhiều định nghĩa về văn hóa được đề xuất, lưu hành ở Việt Nam và trên thế giới Tuy có khác nhau, nhưng nhìn chung, trong nhiều định nghĩa đó đều thống nhất với nhau về đặc điểm của văn hóa như sau:

Thứ nhất, văn hóa là sáng tạo của con người, thuộc về con người, đối

lập với trạng thái tự nhiên, là sự đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật

Trang 17

Thứ hai, Văn hóa bao gồm cả những sáng tạo giá trị vật chất và tinh

thần, chứ không phải chỉ riêng tinh thần, không chỉ là văn học nghệ thuật,

là học vấn, v.v như thông thường người ta hiểu

Thứ ba, Văn hóa là cái mang giá trị, tính nhân văn gắn với sự sáng tạo

của con người trong một bối cảnh lịch sử - xã hội nhất định và được biểu hiện thông qua mối quan hệ của con người trong cộng đồng đó Những cái

do con người sáng tạo ra nhưng không có tính nhân văn, không phục vụ lợi ích con người thì không được xem là văn hóa

Trên cơ sở khái quát những đặc điểm chung về khái niệm văn hóa như trên, cũng như để phù hợp với chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, phù hợp với góc độ tiếp cận của đề tài, chúng tôi tán thành và sử dụng định nghĩa về văn hóa sau đây:

“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người” [92, 973]

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đặt ra cho mình

nhiệm vụ nghiên cứu về văn hóa tinh thần trong đời sống xã hội

Với cách hiểu về văn hóa như trên cho chúng ta có sự phân chia tương đối văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Việc phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là căn cứ chủ yếu vào hai lĩnh vực cơ bản và chủ yếu nhất của đời sống con người: hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần Hoạt động sản xuất vật chất nhằm tạo

ra của cải vật chất thoã mãn nhu cầu vật chất như ăn, ở, mặc, đi lại … của con người Hoạt động tinh thần nhằm tạo ra các sản phẩm tinh thần (tác phẩm nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, …) thoã mãn nhu cầu tinh thần của con người

Khi định nghĩa về văn hóa tinh thần, cũng đã xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau Từ điển triết học của Liên xô (cũ) định nghĩa văn hóa tinh

Trang 18

thần là văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp, là “Toàn bộ những hình thức của đời sống tinh thần của xã hội” [92, 973]

Trong Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học của Liên xô (cũ), tại mục

từ “Văn hóa cộng sản chủ nghĩa” có giải thích văn hóa tinh thần bao hàm

“lĩnh vực sản xuất tinh thần (nhận thức, đạo đức, giáo dục và khai hóa)” [89, 386]

Với cách hiểu như trên, tuy đã xác định được phạm vi của văn hóa tinh thần là gắn với hoạt động tinh thần của xã hội, nhưng lại đồng nhất văn hóa tinh thần với hoạt động tinh thần, bỏ qua phẩm chất, tính giá trị trong những hoạt động đó Thực ra, không phải bất cứ sự vật, hiện tượng nào được tạo ra từ hoạt động tinh thần đều là văn hóa tinh thần Chỉ những sản phẩm hoạt động tinh thần nào thể hiện và thúc đẩy sự phát triển những năng lực và phẩm chất con người, hoàn thiện xã hội theo hướng chân, thiện, mỹ mới được mang danh là văn hóa tinh thần

Việc phân chia văn hóa thành văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất trong thực tế cũng chỉ mang tính chất tương đối Bởi vì trong bản thân các giá trị văn hoá vật chất cũng chứa đựng những giá trị tinh thần; và ngược lại, các giá trị văn hoá tinh thần bao giờ cũng phải chứa đựng dưới những hình thức vật chất nhất định Thực tế chúng ta cũng thấy rằng, có những công trình kiến trúc, những món ăn, những bộ trang phục, … không chỉ được tạo

ra thõa mãn nhu cầu vật chất của con người mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần trong nó, và ở nhiều quốc gia có những công trình, những trang phục, những món ăn… trở thành biểu tượng văn hóa cho dân tộc, quốc gia đó

Tuy nhiên, sự phân biệt giá trị vật chất và giá trị tinh thần ở một mức độ và phạm vi nhất định là điều có thể và cần thiết trong hoạt động nhận thức, là

cơ sở để chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn đối với các sản phẩm văn hoá, phân biệt những sản phẩm tinh thần như các tác phẩm văn học, nghệ thuật, phát minh khoa học, phong tục tập quán … với các sản phẩm vật chất như: công trình kiến trúc, di tích lịch sử; từ đó đưa ra những kiến giải để cải

Trang 19

thiện, phát triển và nâng cao hiện thực đời sống tinh thần của con người, của xã hội

Từ những sự phân tích như trên, chúng tôi quan niệm: Văn hóa tinh

thần là tổng thể những giá trị tinh thần được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội của mình Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người về các mặt chân, thiện, mỹ

1.1.2 Quan niệm về hoạt động văn hóa tinh thần

Nói đến hoạt động văn hóa tinh thần là nói đến hoạt động sáng tạo ra các giá trị tinh thần, làm cho các giá trị đó thấm sâu vào từng con người, vào mọi quan hệ và hoạt động của con người, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người, của xã hội

Hoạt động văn hóa tinh thần của con người và xã hội là hết sức đa dạng, phong phú, không ngừng phát triển, mở rộng, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ giới hạn việc trình bày một số trong những lĩnh vực cơ bản của hoạt động văn hóa tinh thần thuộc phạm vi quản lý của ngành văn hóa thông tin, bao gồm: tư tưởng; văn học, nghệ thuật; tín ngưỡng tôn giáo; lễ hội; thông tin đại chúng; giao lưu, trao đổi văn hóa

Hoạt động tư tưởng là một hoạt động cơ bản và quan trọng trong hoạt

động tinh thần của xã hội, góp phần hình thành thế giới quan khoa học - hệ thống các quan điểm về thế giới: giới tự nhiên, xã hội và qui luật vận động, phát triển của chúng, về các con đường nhận thức và cải tạo thế giới ấy Thế giới quan khoa học bao gồm không chỉ tri thức, nhận thức, quan niệm mà còn tình cảm, niềm tin

Trang 20

Chính tình cảm và niềm tin hình thành, phát triển và củng cố trên cơ

sở của tri thức là nguồn gốc của tính tích cực của cá nhân, của cộng đồng Thế giới quan khoa học vì vậy được coi là “cốt lõi” của văn hóa, có vai trò qui định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của từng cộng đồng đối với thế giới xung quanh, làm kim chỉ nam cho hoạt động và quan hệ đó phù hợp với quy luật phát triển của thực tại, thúc đẩy thêm sự phát triển trong hoạt động của con người

Hoạt động tư tưởng với tư cách là một lĩnh vực của đời sống văn hóa tinh thần có nhiệm vụ “đem lại được những tri thức đúng đắn, củng cố được niềm tin, rèn luyện được ý chí cách mạng và tinh thần lạc quan trước tiền đồ đất nước” [72, 31]

Hoạt động tư tưởng là hoạt động chỉ đạo, qui định trình độ và phẩm chất của đời sống văn hóa tinh thần, đảm bảo cho đời sống văn hóa tinh thần phát triển đúng hướng, có căn cơ, có gốc rễ vững chắc, bền lâu và có chất lượng thực sự

Hoạt động văn học, nghệ thuật cũng là một trong những hoạt động cơ

bản trong đời sống tinh thần của con người, là sự phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng nghệ thuật, “là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng - thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức” [107] Lĩnh vực nghệ thuật bao gồm nhiều bộ môn khác nhau như: văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, nhiếp ảnh, v.v…

Hoạt động nghệ thuật mang tính chất thẩm mỹ cao và là một trong những hoạt động đặc trưng cơ bản nhất trong hoạt động sáng tạo giá trị tinh thần, có tính giáo dục và cảm hóa mạnh mẽ nhất đối với con người Nghệ thuật bao giờ cũng hướng đến cái đẹp, nghệ thuật không chỉ có chức năng đơn thuần là giải trí mà thông qua cái đẹp nghệ thuật bồi dưỡng cho con người về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, lối sống có nhân cách cao đẹp, hoàn thiện con người và phát huy sự sáng tạo của con người Nghệ thuật không

Trang 21

chỉ thu hút sự chú ý của một số người mà thường có tính phổ biến, thu hút

và tác động đến nhiều người trong xã hội “Không hình thái tư tưởng nào

có thể thay thế được văn học nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” [21, 129 -130]

Hoạt động tín ngưỡng tôn giáo là một trong những hoạt động tinh

thần của con người hướng về một thế giới siêu nhiên với niềm tin tuyệt đối,

sự trông cậy và tình cảm yêu mến đối với thế giới siêu nhiên đó [12, 38 - 42] Hoạt động tín ngưỡng tôn giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần cho một bộ phận quần chúng trong điều kiện mà những nguồn gốc kinh tế - xã hội, tâm

lý, nhận thức cho sự nảy sinh và tồn tại của tôn giáo chưa mất đi Về mặt thế giới quan, đây là hoạt động thể hiện niềm tin và nhận thức duy tâm, phản khoa học về thế giới của những người có đạo Nhưng về mặt nhân sinh quan, về mặt đạo đức thì trong nguyên sơ và căn bản của nó, tôn giáo

“đều thể hiện khát vọng muôn thuở của con người là vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, vươn tới tình thương, lẽ phải và sự công bằng trong mọi mặt đời sống, hoạt động và quan hệ con người” [60, 24] Do đó mà hoạt động tín ngưỡng tôn giáo cũng góp phần vào giáo dục đạo đức và động viên những người có đạo góp phần vào cùng xã hội tạo ra các giá trị văn hóa

Hoạt động lễ hội là một hình thức hoạt động tinh thần của các cộng

đồng người Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm

một sự việc, sự kiện nào đó như suy tôn tưởng nhớ đến những vị thần che chở cho cộng đồng, những bậc tiền nhân có công với cộng đồng, với làng, với nước như: các anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người có công

dạy dỗ truyền nghề, cứu nhân độ thế, chống thiên tai, thú dữ, v.v… Hội là

“cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt”, chủ yếu là được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến cộng đồng, nhằm đem lại lợi ích tinh thần

cho thành viên của cộng đồng đó Do đó, lễ và hội thường đi kèm với nhau,

Trang 22

“cuộc lễ nào không có hội kèm theo người ta không gọi là hội Ngược lại, không có hội nào là không kèm theo lễ” [56, 14]

Mặc dù hiện nay có rất nhiều lễ hội khác nhau, được diễn ra với quy

mô, đặc trưng, thời gian khác nhau, nhưng ý nghĩa chung trong hoạt động

lễ hội là hết sức lớn lao Nó không chỉ nhắc nhở con người nhớ đến quá khứ, nhắc nhở con người đang sống biết “uống nước nhớ nguồn”, tự hào về quê hương, đất nước, mà thông qua đó, còn tăng cường sự đoàn kết cộng đồng, đáp ứng và thể hiện nhu cầu giải trí, tín ngưỡng, thi thố tài năng, biểu dương sức mạnh, thể hiện những ước vọng hướng tới cái chân, thiện, mỹ của một cộng đồng xã hội

Thông tin đại chúng được coi là một lĩnh vực hoạt động có ý nghĩa

quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và hoạt đồng văn hóa tinh thần nói riêng Hoạt động thông tin đại chúng được hiểu là toàn bộ các hoạt động truyền bá thông tin đến đông đảo các nhóm cộng đồng trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông như: báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản, các loại hình thông tin điện tử khác

Thông tin đại chúng có ý nghĩa không chỉ về mặt kinh tế, chính trị, mà còn có ý nghĩa rất lớn về tư tưởng và văn hóa Là một trong những hoạt động góp phần nâng cao dân trí, định hướng nhận thức, tư tưởng của cộng đồng, của dư luận, là phương tiện truyền bá nhanh, rộng, hiệu quả các sản phẩm văn hóa tinh thần đến cộng đồng xã hội phục vụ nhu cầu tinh thần của con người không phân biệt giai tầng, lứa tuổi, do đó thúc đẩy xã hội phát triển

Hoạt động giao lưu, trao đổi văn hóa là quá trình các chủ thể xã hội

(các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, các vùng miền, các tổ chức,…) giới thiệu, truyền bá các sản phẩm văn hóa tinh thần của mình đến với xã hội trong và ngoài ngước, đồng thời học hỏi, tiếp biến các sản phẩm văn hóa của chủ thể xã hội khác

Trang 23

Giao lưu, trao đổi văn hóa là một tất yếu, một khâu quan trọng của hoạt động văn hóa tinh thần Hoạt động giao lưu, trao đổi văn hóa xuất phát

từ nhu cầu phát triển tự thân của văn hóa mỗi quốc gia, dân tộc nhằm học hỏi, bồi bổ và làm phong phú lẫn nhau giữa các nền văn hóa Giao lưu, trao đổi văn hóa bao giờ cũng là sự tương tác giữa hai yếu tố văn hóa nội sinh

và ngoại sinh Kết quả của sự giao lưu chính là kết quả của sự tương tác giữa hai yếu tố đó Trong đó, vai trò của yếu tố nội sinh (mà chủ thể là con người của quốc gia đó) phải đóng vai trò quyết định, tính năng động, nhịp

độ giao lưu, trao đổi và học hỏi, tiếp biến các yếu tố ngoại sinh phụ thuộc vào yếu tố nội sinh này Nếu không có hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa thì rất có thể cả xã hội và nền văn hóa của một quốc gia, dân tộc sẽ rơi vào trì trệ, suy thoái Nhưng cũng không thể nhân danh trao đổi, giao lưu văn hóa mà tiếp nhận vô điều kiện các yếu tố ngoại sinh đến mức từ bỏ các giá trị nội sinh sẽ dẫn đến nguy cơ bị “đồng hóa” Vì thế, trong hoạt động giao lưu, trao đổi văn hóa cần phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh Cách xử lý ấy cho phép một xã hội, một nền văn hóa vừa biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên cơ sở giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa của dân tộc mình

Từ sự phân tích các lĩnh vực hoạt động văn hóa tinh thần cơ bản trong

giới hạn của luận văn như trên, có thể quan niệm: hoạt động văn hóa tinh

thần là hoạt động sáng tạo các giá trị tinh thần của con người và xã hội, bao gồm các lĩnh vực cơ bản: tư tưởng; văn học, nghệ thuật; tín ngưỡng tôn giáo; lễ hội; thông tin đại chúng; giao lưu, trao đổi văn hóa, v.v…

1.2 QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TINH THẦN

1.2.1 Khái niệm quản lý

Hiện nay, việc tiếp cận khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu tiến hành theo nhiều góc độ khác nhau Về cơ bản, có thể phân thành hai

Trang 24

cấp độ tiếp cận Theo cách tiếp cận rộng, quản lý được xem là hoạt động

có tính tổ chức có trong tất cả các giới sinh học nhằm duy trì cơ cấu xác định và sự phát triển của một tổ chức sống Cách tiếp cận này xác định quản lý là hoạt động không chỉ có trong đời sống con người mà có ở trong

tất cả các giới sinh học nói chung Theo cách tiếp cận hẹp, quản lý được

xem là một hoạt động có ý thức riêng có trong xã hội loài người Đây là cách tiếp cận phổ biến Hầu hết các định nghĩa hiện nay về quản lý đều

nhấn mạnh đến điều này Từ điển thuật ngữ kinh tế học định nghĩa: “quản

lý là quá trình tổ chức, sử dụng và kiểm soát những hoạt động của con người và những nguồn tài nguyên khác nhằm mục đích cụ thể” [91, 385]

Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học cũng quan niệm quản lý là “sự

tác động có ý thức, có mục đích của con người đến toàn bộ hệ thống xã hội hoặc đến từng khâu của nó (các phạm vi hoạt động xã hội, các ngành kinh

tế, các liên hiệp sản xuất, các xí nghiệp…) bảo đảm sự hoạt động tối ưu và

sự phát triển của chúng trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan và những xu hướng vốn có của xã hội” [89, 263]

Dù cho có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý, nhưng về cơ bản, khi đề cập đến quản lý chúng ta thấy có điểm chung nhất định, đó là dạng hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý là con người đối với đối tượng quản lý nhằm đạt những mục tiêu nào đó

Ở đây chúng tôi tiếp cận quản lý với tư cách là hoạt động có tổ chức,

tính mục đích của con người, tức theo cấp độ hẹp Theo đó, quản lý là quá

trình tổ chức, kiểm soát, điều khiển của một chủ thể đối với một đối tượng theo những phương thức nhất định đảm bảo cho nó vận động theo mục tiêu chủ thể đề ra Như vậy, khi đề cập đến quản lý chúng ta thấy đó là hoạt

động biểu thị mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng bị quản lý, trong đó chủ thể quản lý với những phương thức quản lý đã tác động lên đối tượng quản lý để cho nó vận động theo những mục đích nhất định mà chủ thể quản lý mong muốn

Trang 25

Chủ thể quản lý được xác định tùy theo những góc độ cụ thể, tùy theo

các cấp độ, phạm vi quản lý Đó có thể là nhà nước, các tổ chức, cá nhân, các hệ thống… có khả năng thực hiện việc tổ chức, điều hành một đối tượng quản lý nào đó

Trong tất cả các chủ thể quản lý, nhà nước là một chủ thể quản lý đặc biệt, quản lý xã hội theo ý chí của giai cấp lãnh đạo một cách toàn diện, bao trùm nhất và có quyền lực rất cao Mệnh lệnh của nhà nước có tính đơn phương và khách thể quản lý phải phục tùng chủ thể quản lý một cách nghiêm túc, nếu không sẽ bị truy cứu trách nhiệm và xử lý theo pháp luật một cách nghiêm minh Nhà nước thông qua pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý, hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật, ngân sách, tập quán, lực lượng chuyên chính (công an, quân đội…), v.v quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học, giáo dục, an ninh quốc phòng, tài nguyên, v.v… Ở đây chúng tôi nghiên cứu sự quản lý của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, cụ thể hơn là quản lý hoạt động văn hóa tinh thần của xã hội

Đối tượng quản lý cũng được xác định cụ thể tùy theo lĩnh vực, cấp

độ, phạm vi quản lý nhất định Xét một cách chung nhất, đối tượng của hoạt động quản lý của xã hội chính là con người, các hoạt động, các mối quan hệ của con người, các yếu tố nguồn lực tham gia vào mối quan hệ của con người mà chủ thể quản lý tác động để chúng vận động theo những mục tiêu nhất định Nếu xét về các mối quan hệ, đối tượng quản lý mà con người hướng tới là quản lý mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; quản

lý mối quan hệ con người với con người Nếu căn cứ vào các hoạt động của con người chúng ta sẽ có các lĩnh vực quản lý là: quản lý hoạt động kinh tế, quản lý hoạt động chính trị, quản lý hoạt động văn hóa xã hội, quản lý hoạt động khoa học, giáo dục, an ninh quốc phòng, v.v… Nếu xét về các nguồn lực tham gia vào quá trình hoạt động của con người, chúng ta sẽ có đối

Trang 26

tượng quản lý là các nguồn lực tự nhiên, các nguồn lực con người, các nguồn lực vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ…

Phương thức quản lý là tổng thể các cách thức chủ thể quản lý sử

dụng để quản lý đối tượng của mình một cách hiệu quả nhất Tổng thể các cách thức đó có thể phong phú, đa dạng tùy theo từng lĩnh vực, từng đối tượng, từng dạng hoạt động quản lý Đó có thể là các nguyên tắc, các cơ cấu tổ chức, các cơ chế, chính sách, các biện pháp thưởng phạt, v.v các chủ thể sử dụng để quản lý đối tượng của mình trong một tổ chức, một phạm vi nhất định

Đối với hoạt động quản lý của nhà nước, chung quy lại có các phương thức, phương pháp cơ bản như sau:

- Phương pháp thuyết phục, vận động, giáo dục

- Phương pháp tổ chức, bố trí lực lượng, đào tạo và tuyển chọn nhân tài

- Phương pháp kinh tế, chủ yếu là quan tâm đến lợi ích vật chất

- Phương pháp hành chính chủ yếu là các biện pháp có tính kỷ luật và cưỡng chế

- Phương pháp trấn áp, chủ yếu là sử dụng các biện pháp hình sự, quân đội và lực lượng an ninh

Cách thức quản lý rất quan trọng đối với hiệu quả của công tác quản

lý Quản lý càng khoa học, chặt chẽ, hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả, mục tiêu càng cao bấy nhiêu Xã hội càng phát triển, việc quản lý càng đòi hỏi phải chặt chẽ và khoa học, điều này đã dẫn đến sự ra đời của một ngành

khoa học chuyên nghiên cứu về quản lý, đó là khoa học quản lý

Quản lý là hoạt động có ý thức và mục đích của con người Trong bất

cứ xã hội nào, và trong bất cứ hoạt động nào của con người cũng cần thiết phải có những mối liên hệ, hiệp tác với nhau Chính nhu cầu phải liên kết hợp tác với nhau để phát huy sức mạnh, đạt hiệu quả cao đòi hỏi con người

Trang 27

phải có sự quản lý, nếu không con người không thể liên kết được trong những hoạt động chung Chúng ta không thể hình dung được các hoạt động của xã hội mà lại không có tính tổ chức, trật tự, không dành cho con người một ví trí nhất định, những chức năng nhất định trong quá trình hoạt động của hệ thống xã hội

Để thiết lập và duy trì trật tự con người cần đến quản lý, xã hội cần quản lý cũng giống như một dàn nhạc cần đến nhạc trưởng để liên kết và phối hợp các nhạc công với nhau C.Mác đã nhấn mạnh rằng, “bất kỳ một lao động xã hội hay cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện những chức năng chung nhất, xuất phát từ

sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sự vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy) Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ điều khiển

có chính mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [57, 342]

Do đó, hoạt động quản lý là nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, là hoạt động có ý thức và có mục đích của con người

Gần gủi với khái niệm quản lý, chúng ta còn thấy xuất hiện các khái

niệm như lãnh đạo, quản trị Chúng có những điểm chung nhưng cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Khái niệm lãnh đạo thường mang ý

nghĩa như là sự chỉ đạo có tính chiến lược, cấp chiến lược, “nó là sự chỉ huy chiến lược các hoạt động trong xã hội theo một đường hướng chính trị

tư tưởng của Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền thể hiện qua đường lối, nghị quyết của Đảng cầm quyền …” [43, 3 - 4]

Quản trị cũng là một hình thức của quản lý nhưng thường được hiểu

và áp dụng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, nhà máy, công ty Đó là hoạt động phối hợp, điều động, phân công, kiểm tra các thành viên thuộc tổ chức một công ty, xí nghiệp nào đó để làm cho hoạt động của tổ chức đó đạt hiệu quả cao nhất Nhiều ý kiến cho rằng, hai khái

niệm này thực chất là một, chỉ cách dịch khác của từ “management” trong

Trang 28

tiếng Anh Nhưng ở nước ta, từ quản lý được dùng phổ biến hơn trong hoạt động nhà nước

Tóm lại, khi đề cập đến quản lý, bao giờ cũng phải trả lời cho được các vấn đề cơ bản là: Ai quản lý? Quản lý cái gì, quản lý ai? Quản lý như thế nào? Quản lý nhằm mục tiêu gì? Việc xem xét các hoạt động quản lý bao giờ cũng phải chỉ ra được mối quan hệ giữa những yếu tố trên Đây là đặc điểm phổ biến của các hoạt động quản lý khác nhau Tuy nhiên, biểu hiện cụ thể của mối liên hệ trên ở mỗi lĩnh vực, ở mỗi phạm vi và cấp độ quản lý là khác nhau Ở mỗi lĩnh vực hoạt động, ở những mối quan hệ khác nhau chúng có quy luật vận động khác nhau, và do đó việc tiến hành quản lý cũng không hoàn toàn giống nhau Quản lý kinh tế sẽ có những đặc điểm khác với quản lý các lĩnh vực khác, và tương tự như vậy, việc quản lý hoạt động văn hóa cũng như quản lý hoạt động văn hóa tinh thần của xã hội cũng sẽ có những đặc điểm riêng khác với các lĩnh vực quản lý khác của xã hội

1.2.2 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

Khái niệm quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

Căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động của con người trong đời sống xã hội chúng ta có các lĩnh vực quản lý khác nhau như: quản lý kinh tế, quản

lý văn hóa, quản lý hoạt động chính trị, quản lý khoa học công nghệ, v.v… Khái niệm quản lý văn hóa bao hàm trong đó một phạm vi rộng lớn, bao gồm cả quản lý văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Trong Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi khảo sát thực trạng văn hóa Việt Nam đã xác định những lĩnh vực cơ bản như: Tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa nước ngoài, tôn giáo, hệ thống thiết chế văn hóa: văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngành văn hóa, nhà vǎn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, cửa hàng sách báo, khu vui chơi giải trí Do đó, nếu xét ở góc độ này, thì quản

Trang 29

lý văn hóa sẽ bao gồm quản lý các hoạt động, các lĩnh vực như trên Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu trong đề tài này chỉ giới hạn trong lĩnh vực quản lý một số hoạt động văn hóa tinh thần cơ bản

Hoạt động văn hóa tinh thần như đã trình bày, bao gồm các lĩnh vực

cơ bản như: hoạt động tư tưởng; văn học nghệ thuật; tín ngưỡng, tôn giáo;

lễ hội; thông tin đại chúng; giao lưu, trao đổi văn hóa v.v… Vì vậy, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần chính là quản lý các hoạt động của cá nhân, các thiết chế xã hội trên các lĩnh vực này để cho các hoạt động này diễn ra

và vận hành theo đúng quy định của nhà nước, và xa hơn nữa chính là để thực hiện mục tiêu văn hóa của mỗi quốc gia Toàn bộ các hoạt động văn hóa tinh thần kể trên của đời sống xã hội đặt dưới sự quản lý nhà nước Quốc gia nào cũng có sự quản lý các hoạt động này, chỉ khác ở mức độ, cách thức cũng như mục tiêu và hệ chuẩn giá trị quản lý

Tùy mỗi quốc gia mà cơ quan chuyên trách quản lý hành chính đó có

cơ cấu và tên gọi khác nhau Ở nước ta là Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch kết hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ; ở Thái Lan là Bộ Giáo dục và Văn hóa, Brunây là Bộ văn hóa - Thể thao - Thanh niên; ở Mỹ lại không có Bộ Văn hóa nhưng hoạt động văn hóa vẫn được quản lý tùy theo từng bang khác nhau và tùy theo lĩnh vực văn hóa mà giao cho các bộ khác nhau

Để quản lý, nhà nước hình thành các thiết chế quản lý bao gồm: 1)Dựa trên hệ thống quan điểm đường lối phát triển văn hóa của giai cấp cầm quyền (thường là do các Đảng cầm quyền đề ra) hình thành các văn bản pháp quy về văn hóa tạo hành lang cho hoạt động văn hóa tinh thần và quản lý hoạt động văn hóa tinh thần; 2) Hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy chuyên trách và quy định trách nhiệm cho các tổ chức quản lý; 3) Các hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật, ngân sách phục vụ công tác quản lý; 4) Các hình thức quản lý cụ thể, v.v…

Trang 30

Đường lối văn hóa của một đảng cầm quyền bao giờ cũng thể hiện

quan điểm chỉ đạo chung cho toàn bộ các hoạt động văn hóa, thể hiện mục tiêu phát triển văn hóa của một chế độ chính trị, có thể là mục tiêu trước mắt hoặc lâu dài Đường lối văn hóa đó được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của đảng cầm quyền Dĩ nhiên, đây không phải là những

gì mà đảng cầm quyền tự nghĩ ra một cách duy ý chí và chủ quan, mà là sự khái quát hóa những nhu cầu thực tiễn của xã hội trong những giai đoạn nhất định, bối cảnh nhất định Trên cơ sở đường lối lãnh đạo về văn hóa, nhà nước ban hành các đạo luật, các thông tư, chỉ thị, các cơ chế chính sách, các mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực, từng giai đoạn đối với hoạt động văn hóa tinh thần để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân Các văn bản pháp quy trở thành hành lang cho hoạt động văn hóa tinh thần

và công tác quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

Để trực tiếp quản lý hoạt động văn hóa tinh thần, nhà nước phải thiết

lập ra bộ máy quản lý có hệ thống từ trung ương tới địa phương, lan tỏa

theo các bộ, các ngành liên quan Hình thức tổ chức bộ máy quản lý ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm lịch sử có thể khác nhau, không phải nước nào cũng giống nước nào Dù dưới hình thức nào, bộ máy quản lý luôn phải thực hiện được hai yêu cầu có tính nguyên tắc là: 1) Thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ của chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động văn hóa tinh thần trên toàn xã hội; 2) phân định, phân quyền hợp lý giữa quản lý theo hệ thống dọc của ngành và quản lý theo hệ thống ngang của chính quyền địa phương trên từng địa bàn hành chính của một quốc gia Quản lý nhà nước ngoài công cụ quản lý là pháp luật, cơ chế quản lý, con người, còn cần đến tài chính và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hóa tinh thần và quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

Điều lưu ý ở đây là trong quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa tinh thần, ngoài quản lý về mặt hành chính, còn có sự quản lý về mặt chuyên môn Quản lý về mặt chuyên môn thường được giao cho các tổ

Trang 31

chức, hiệp hội, hội đồng thẩm định do nhà nước thành lập và chịu trách nhiệm trước nhà nước Sự quản lý của nhà nước một cách toàn diện đối với hoạt động văn hóa tinh thần cũng không đồng nghĩa với “nhà nước hóa” hoạt động văn hóa tinh thần Quần chúng nhân dân là vừa chủ thể của mọi hoạt động sáng tạo vừa là chủ thể thưởng thức tiêu dùng các giá trị của hoạt động văn hóa tinh thần Vì vậy, cần phân biệt rạnh ròi giữa quyền quản lý hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt động văn hóa tinh thần Quản lý là thuộc quyền của nhà nước, còn hoạt động văn hóa tinh thần là thuộc quyền của nhiều chủ thể xã hội, là của nhân dân

Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu quản lý hoạt động văn hóa

tinh thần là quá trình kiểm soát, tác động của nhà nước đối với toàn bộ các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa tinh thần của xã hội bằng những phương thức nhất định để cho những hoạt động trên lĩnh vực đó vận động theo những mục tiêu phát triển văn hóa đã đề ra

Nội dung quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

Nội dung quản lý nhà nước về một lĩnh vực trong xã hội nói chung bao gồm:

- Quyết định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách của nhà nước về lĩnh vực này

- Ban hành các văn bản pháp quy về quản lý các hoạt động trong phạm

vi lĩnh vực

- Chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp hoạt động của các ngành, các địa phương trong việc thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách của nhà nước thuộc lĩnh vực

- Quyết định và tổ chức thực hiện, chủ trương hình thức và biện pháp lớn, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực

- Kiểm tra, thanh tra giám sát các hoạt động, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực [93, 170]

Trang 32

Dựa vào những quan niệm trên, có thể thấy quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa tinh thần sẽ bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật để quản lý thống nhất các hoạt động văn hóa tinh thần Để quản lý hoạt động văn hóa tinh

thần, phải thể chế hóa thành luật pháp làm công cụ quản lý, tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa tinh thần diễn ra đúng quy định Trên bình diện quốc tế, quản lý các hoạt động văn hóa tinh thần trong giai đoạn hiện nay cần tuân thủ các công cước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như: Công ước quốc tế về quyền tác giả 1952 dưới sự bảo trợ của tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO); Luật bảo hộ sản xuất băng đĩa 1971, v.v…

Trên bình diện quốc gia, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần trong giai hiện nay phải thực hiện theo những quy định của Hiến pháp và Pháp luật về hoạt động văn hóa tinh thần Hiến pháp năm 1992 của nước ta có dành chương III với một số điều, khoản luật nhà nước đối với sự phát triển, vận hành các hoạt động văn hóa nói chung, và hoạt động văn hóa tinh thần, theo đó quản lý hoạt động văn hóa tinh thần trong giai đoạn hiện nay phải tuân thủ theo tinh thần: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân; Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa

Ngoài Hiến pháp năm 1992, việc quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

ở nước ta còn phải tuân thủ các đạo luật, các quy định riêng đối với các hoạt động văn hóa tinh thần như: luật về bảo hộ bản quyền tác giả; luật về xuất bản, báo chí, quảng cáo, Internet (đây là những lĩnh vực hoạt động liên quan rất nhiều đến phân phối sản phẩm văn hóa tinh thần); luật về tổ chức bộ máy quản lý văn hóa đối với các hội đồng, các ủy ban, các bộ; các quy định về hoạt động thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật như: điện ảnh,

Trang 33

nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật…; các quy định về xuất nhập khẩu văn hóa phẩm; về quản lý lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, v.v…

Đồng thời, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần trong giai đoạn hiện nay nghiêm cấm, loại bỏ tất cả các hoạt động văn hóa tinh thần có các dấu hiệu sau: phản động về chính trị; làm băng hoại đạo đức, phá hoại nhân phẩm; các hoạt động làm tiết lộ bí mật quốc gia; các hoạt động xâm phạm quyền tác giả…

Thứ hai, phối hợp hoạt động giữa các ngành, các địa phương trong việc thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách của nhà nước đối với các hoạt động văn hóa tinh thần Chiến lược, kế hoạch, chính sách

văn hóa của nhà nước thực chất là nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong các hoạt động văn hóa tinh thần, thực hiện mục tiêu phát triển văn hóa của Đảng, Pháp luật của Nhà nước về hoạt động văn hóa tinh thần trong các cộng đồng như: công chúng; giới nghệ sĩ; các tổ chức chính trị từ trung ương đến địa phương Trong đó, với tư cách là chủ thể quản lý, để thực hiện hiệu quả công tác quản lý, thì cần tới sự tăng cường hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan công quyền ở mọi cấp từ trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan công quyền với các tổ chức tư nhân và xã hội để có thể hành động thực hiện các chính sách văn hóa tinh thần; tạo điều kiện để phát huy sáng kiến, khát vọng, nhu cầu văn hóa tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân; tạo ra được nhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao; bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc; tăng cường hợp tác giao lưu văn hóa quốc tế, làm giàu cho văn hóa dân tộc và giới thiệu văn hóa dân tộc với cộng đồng thế giới; phát triển hệ thống các cơ quan sản xuất, bảo quản, phân phối những giá trị văn hóa tinh thần một cách hiện đại

và hợp lý; phát triển đội ngũ những trí thức văn nghệ sĩ, những người làm công tác văn hóa một cách đồng bộ và có trình độ cao; thu hút đầu tư và phân bổ tài chính cho hoạt động văn hóa tinh thần một cách thỏa đáng; v.v…

Trang 34

Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan công quyền có nhiệm vụ quản lý trực tiếp các hoạt động văn hóa tinh thần, trong đó nhiệm vụ chính của các

tổ chức này là:

+ Định hướng nội dung các hoạt động về văn hóa tinh thần cho các tổ chức, công dân theo đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước + Xây dựng các chính sách nhằm bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; khuyến khích những tài năng sáng tạo; phổ biến những giá trị văn hóa, nghệ thuật, khoa học, nâng cao trình độ thẩm mỹ và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân

+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các tài năng văn hóa nghệ thuật, quản lý các trường, cơ sở đào tạo về văn hóa nghệ thuật theo quy định của chính phủ

+ Cấp, thu hồi các giấy phép hoạt động báo chí, xuất bản, quảng cáo,

cơ sở sản xuất băng, đĩa, cấp giấy phép xuất nhập khẩu các sản phẩm văn hóa như: sách, báo, phim ảnh, đĩa tiếng, đĩa hình, các tác phẩm văn hóa nghệ thuật khác, v.v…

+ Quyết định cho phổ biến các xuất bản phẩm, văn hóa phẩm hoặc thu hồi, cấm lưu hành, tiêu hủy văn hóa phẩm độc hại

+ Tổ chức, hướng dẫn việc sưu tầm, bảo quản, lưu giữ và phát huy những di sản văn hóa của các dân tộc anh em trong cả nước

+ Hướng dẫn việc chỉ đạo quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa, các lễ hội, tổ chức vui chơi, giải trí, hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật, điện ảnh, báo chí, ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam, v.v…

+ Quản lý một số hoạt động động văn hóa mang tính quốc gia, các hoạt động văn hóa của Việt Nam liên quan với nước ngoài, và quản lý các các hoạt động văn hóa của nước ngoài tại Việt Nam

Trang 35

Thứ ba, tổ chức chỉ đạo và tiến hành các hoạt động thanh tra, giám sát về các hoạt động văn hóa tinh thần trong xã hội, xử lý các trường hợp

vi phạm Hoạt động thanh tra, giám sát và xử lý các trường hợp vi phạm là

một những họat động cấu thành nội dung quản lý hoạt động văn hóa tinh thần ở nước ta hiện nay Đây là nội dung đặc biệt quan trọng của quản lý nhà nước đối với văn hóa vì mối liên hệ, ảnh hưởng của văn hóa đối với xã hội, đối với chính trị, kinh tế, tư tưởng, đạo đức, lối sống, v.v… Nó còn đặc biệt hơn khi quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, là khâu ngăn ngừa và hạn chế sự phổ biến các sản phẩm độc hại đến hoạt động tinh thần, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, v.v trong nước

và từ nước ngoài tràn vào

Trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về hoạt động văn hóa tinh thần, thì chú trọng đến phòng ngừa, ngăn chặn hơn là để sự việc xảy ra rồi mới xử lý Khi phát hiện các trường hợp vi phạm cần phải xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật

Đặc điểm của quản lý hoạt động văn hóa tinh thần

Trong các lĩnh vực quản lý xã hội, khi đặt dưới sự quản lý của nhà nước thì hoạt động quản lý nào cũng đều mang tính đảng, tính giai cấp nhất định; lĩnh vực hoạt động xã hội nào cũng đều được quản lý thông qua một

bộ máy nhà nước với những công cụ quản lý như pháp luật, chính sách, con người …; tất cả đều nhằm những mục tiêu ổn định và phát triển xã hội theo những đường hướng của giai cấp cầm quyền Có thể nói, đó là những nét chung cơ bản của công tác quản lý trong tổ chức đời sống xã hội

Tuy nhiên, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội đều có những đặc điểm, quy luật vận động riêng, không hoàn toàn giống nhau, do đó trong hoạt động quản lý đối với các lĩnh vực khác nhau cũng không hoàn toàn giống nhau Mỗi lĩnh vực quản lý bên cạnh những đặc điểm chung của công tác quản lý nhà nước cũng sẽ có những đặc điểm riêng của mình

Trang 36

Quản lý hoạt động văn hóa tinh thần cũng vậy, so với những hoạt động quản lý khác nó có những đặc trưng nhất định

Thứ nhất, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần là hoạt động tổ chức hướng dẫn, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát của nhà nước nhằm định hướng

xã hội hướng tới các giá trị tinh tinh thần cao đẹp

Các lĩnh vực hoạt động của con người về cơ bản bao gồm hai lĩnh vực chủ yếu là hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Cả hai lĩnh vực này đều đòi hỏi sự quản lý Nếu quản lý hoạt động vật chất hướng tới việc tạo

ra những giá trị vật chất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của con người và

xã hội thì quản lý hoạt động tinh thần chính là nhằm hướng tới những giá trị tinh thần, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người và xã hội Khi tham gia vào hoạt động tinh thần, con người vừa là chủ thể sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần nhưng đồng thời vừa là sản phẩm của chính quá trình hoạt động đó Thông qua hoạt động văn hóa tinh thần, các giá trị văn hóa thẩm thấu vào mỗi cá nhân và cộng đồng giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, tư tưởng, lối sống, tạo động lực cho sự phát triển xã hội Nhưng bản thân hoạt động tinh thần của con người cũng hàm chứa trong nó những hoạt động, những mặt, những yếu tố, những sản phẩm “phản văn hóa” ảnh hướng xấu đến xã hội, cản trở sự tiến bộ của

xã hội Do đó, công tác quản lý hoạt động văn hóa tinh thần của xã hội chính là phát hiện, loại bỏ những hoạt động, những mặt, những yếu tố, những sản phẩm “phản văn hóa” đó; đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện, định hướng cho xã hội hướng tới việc sáng tạo, sản xuất, trao đổi, hưởng thụ những giá trị tốt đẹp trên lĩnh vực tinh thần của xã hội, làm cho hoạt động tinh thần lành mạnh, phong phú, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng tăng của xã hội

Một trong những hạt nhân cơ bản của văn hóa tinh thần xã hội, quy định tính chất nền văn hóa tinh thần của xã hội là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Do đó, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần cũng đồng thời liên

Trang 37

quan đến việc bảo vệ, truyền bá hệ tuởng vào trong xã hội Vì vậy, trong công tác quản lý lĩnh vực văn hóa, người ta thường dùng cụm từ “tư tưởng

- văn hóa” đi liền nhau Có thể nói công tác tư tưởng - văn hóa là một công việc đặc biệt quan trọng, chỉ đạo, qui định trình độ và phẩm chất của đời sống văn hóa tinh thần, đảm bảo cho đời sống văn hóa tinh thần phát triển đúng hướng, có căn cơ, có gốc rễ vững chắc, bền lâu và có chất lượng thực

sự

Những giá trị tinh thần tốt đẹp của xã hội chính là những giá trị truyền thống tốt đẹp của mỗi quốc gia, vừa là những hệ chuẩn giá trị của xã hội hiện tại, vừa là những tinh hoa văn hóa của nhân loại; đó là những cái tốt, cái đúng, cái đẹp phù hợp và thúc đẩy sự tiến bộ của con người, của xã hội Nhà nghiên cứu Vũ Khiêu có viết như sau: “Giá trị tinh thần của xã hội bao gồm những giá trị khoa học, đạo đức, nghệ thuật…, đánh dấu về các mặt chân, thiện, mỹ của đời sống xã hội” [36, 11]

Quản lý hoạt động văn hóa tinh thần cũng chính là làm cho toàn bộ hoạt động văn hóa tinh thần của xã hội, làm cho đời sống tinh thần của mỗi con người phù hợp với những giá trị tốt đẹp đó Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có đề ra phương hướng cho công tác văn hóa nước ta là “làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo

ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [26, 161-162] Tuy nhiên đây là cả một sự nghiệp, “một mặt trận”, một quá trình hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài

Thứ hai, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần không tự nó trực tiếp tạo

ra các sản phẩm mà chỉ tạo ra những khả năng và điều kiện cơ bản cho

Trang 38

hoạt động sáng tạo, sản xuất, trao đổi và hưởng thụ các sản phẩm văn hóa tinh thần

Quản lý hoạt động văn hóa tinh thần như đã nói ở trên, là định hướng giá trị tinh thần cho xã hội, tạo ra môi trường lành mạnh cho các hoạt động văn hóa tinh thần Người quản lý hoạt động văn hóa tinh thần không đồng nghĩa với việc họ trực tiếp sản xuất, sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần; bản thân công tác quản lý không tự nó tạo ra sản phẩm văn hóa tinh thần mà chỉ tạo ra những điều kiện, những khả năng cho sự sáng tạo, cho

sự giao lưu, trao đổi và hưởng thụ văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân “Văn hóa vốn từ nhân dân”, đặc điểm này đòi hỏi phải phát huy vai trò của nhà nước, của chính quyền địa phương, tính tự quản của nhân dân, giải phóng tiềm năng sáng tạo, gắn sáng tạo với với sản xuất, phục vụ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của nhân dân Trong thực tiễn, khuynh hướng nhà nước hóa, hành chính hóa văn hóa là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến văn hóa bị trì trệ, xơ cứng

Đối với lĩnh vực sản xuất, sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần, nhà nước tạo mọi điều kiện, khuyến khích người nghệ sĩ sáng tạo, sản xuất

ra những sản phẩm văn hóa tinh thần có giá trị Đây là khâu liên quan đến

sự sáng tạo cao, đến tài năng, cảm xúc, sự tự do về mặt tư tưởng và cũng là công việc không dễ dàng, do đó sự quản lý ở khâu này trong hoạt động văn hóa tinh thần cũng khác so với quản lý trong hoạt động khác, chủ yếu là khích lệ, động viên, trân trọng hơn là nặng về các biện pháp cảnh cáo, gò

ép, cưỡng chế, cấm đoán Nếu trong quản lý hoạt động kinh tế, người quản

lý có thể sử dụng roi vọt, sử dụng kỷ luật sắt hoặc “đồng lương chết đói”, v.v để bắt người lao động sản xuất thì vẫn có thể tạo ra các sản phẩm vật chất, hàng hóa nào đó; nhưng tuyệt nhiên trong lĩnh vực tinh thần thì điều

đó rất khó xảy ra Tuy nhấn mạnh đến vai trò sáng tạo của người nghệ sĩ, của quần chúng nhân dân nhưng cũng không phải đề cao một cách chung chung, mà không quản lý Không thể nhân danh tự do mà thiếu quản lý

Trang 39

nhưng cũng nhưng không phải vì quản lý mà làm mất tự do sáng tạo trong hoạt động tinh thần của đời sống xã hội Ở đây, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự do sáng tạo với công tác quản lý của nhà nước phải làm sao khuyến khích được các tài năng sáng tạo, thiên hướng cá nhân và phong cách phải được tôn trọng, “đủ linh hoạt để dành miếng đất và tạo môi trường tự do tư tưởng cho sáng tạo”

Nếu trong lĩnh vực quản lý kinh tế người ta có thể lên kế hoạch và tính toán được lượng sản phẩm vật chất, lượng hàng hóa cần phải sản xuất cũng như thời gian cần thiết để tạo ra chúng Thì trong hoạt động quản lý sản xuất, sáng tạo tinh thần cho xã hội, nhà quản lý khó có thể làm được điều

đó Số lượng sản phẩm văn hóa tinh thần là kết quả sáng tạo của người nghệ sỹ, của quần chúng nhân dân, nhà nước chỉ có thể khuyến khích, tạo điều kiện sao cho sự sáng tạo đó ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị

mà thôi

Quản lý hoạt động sản xuất vật chất góp phần làm ra các sản phẩm vật chất, còn quản lý hoạt động văn hóa tinh thần không đơn thuần chỉ góp phần làm ra những sản phẩm văn hóa tinh thần như các tác phẩm hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, công trình khoa học, v.v mà sâu

xa hơn nó góp phần làm ra một sản phẩm đặc biệt là “con người” - sản phẩm cao quý nhất của xã hội

Thứ ba, quản lý hoạt động văn hóa tinh thần là công việc khó khăn, phức tạp; hiệu quả của quản lý hoạt động văn hóa tinh thần được xác định bằng định tính nhiều hơn định lượng

Tính khó khăn, phức tạp của quản lý hoạt động văn hóa tinh thần bắt nguồn trước hết từ bản thân đặc điểm của hoạt động văn hóa tinh thần Bản thân đời sống xã hội nói chung, hoạt động tinh thần nói riêng là vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp Tính đa dạng, phong phú của hoạt động tinh thần thể hiện ở nhiều khía cạnh như: tồn tại nhiều loại hình, nhiều lĩnh vực hoạt động tinh thần khác nhau trong xã hội; mỗi một giai cấp, tầng lớp,

Trang 40

cộng đồng khác nhau lại có những nhu cầu tinh thần khác nhau nên xuất hiện nhiều khuynh hướng, nhiều thành phần văn hóa khác nhau… Bản thân văn hóa tinh thần là cái thuộc về ý thức xã hội, vừa ở trạng thái động, vừa ở trạng thái tĩnh, vừa trông thấy vừa không trông thấy, v.v…

Mặt khác, văn hóa tinh thần tuy phụ thuộc vào tồn tại xã hội, trước hết

là trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội, định hướng cho xã hội phát triển nhưng nó cũng có thể lạc hậu hơn tồn tại xã hội Cải tạo đời sống tinh thần cho xã hội là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp Quản lý tốt đời sống văn hóa tinh thần đồng thời phải gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất cho người dân; gắn liền giữa “xây” và “chống” trong đời sống tinh thần xã hội, loại bỏ các tàn tích lạc hậu do đời sống văn hóa tinh thần của xã hội cũ để lại V.I.Lênin cho rằng “quá khứ tuy đã bị lật đổ nhưng chưa bị tiệu diệt, nó chưa phải là một giai đoạn văn hóa đã hết thời từ lâu” [48, 443], thói quen của hàng triệu con người là một sức mạnh ghê gớm

Sự phức tạp, khó khăn trong quản lý hoạt động văn hóa tinh thần còn xuất phát từ chính sự nhận thức, đánh giá của những người lãnh đạo, quản

lý hoạt động văn hóa tinh thần đôi khi còn chưa thống nhất; nó còn phụ thuộc vào trình độ dân trí; vào các điều kiện vật chất và nguồn lực tài chính; ngoài ra thì văn hóa tinh thần luôn là một lĩnh vực quan trọng để kẻ thù chống phá, v.v…

Trong quản lý hoạt động kinh tế của một doanh nghiệp, của một chính phủ, hiệu quả quản lý có thể xác định một cách dễ dàng thông qua số lượng hàng hóa được sản xuất ra và tiêu thụ trên thị trường, thông qua doanh thu, thông qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chuyển biến về đầu tư, lời lãi, v.v Nhưng trong quản lý hoạt động văn hóa tinh thần thì tính toán hiệu quả không đơn giản chỉ là số lượng vật phẩm văn hóa, doanh số, lời lãi đơn thuần có tính chất kinh tế (cho dù bản thân

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm