1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực ở tây ninh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

187 58 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển nguồn nhân lực ở tây ninh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả Nguyễn Thị Trúc Uyên
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Trọng Ân
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2010 – 2015 khẳng định: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực

Trang 1

NGUYỄN THỊ TRÚC UYÊN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở

TÂY NINH TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

NGUYỄN THỊ TRÚC UYÊN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TÂY NINH TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Chuyên ngành : TRIẾT HỌC

Mã số : 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS LÊ TRỌNG ÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Trọng Ân

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguốn gốc xuất xứ rõ ràng

Tác giả

NGUYỄN THỊ TRÚC UYÊN

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của luận văn 7

6 Kết cấu luận văn 7

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 KHÁI NIỆM “CÔNG NGHIỆP HÓA”,”HIỆN ĐẠI HÓA” 8

1.1.1 Khái niệm “công nghiệp hóa” 8

1.1.2 Khái niệm “hiện đại hóa” 15

1.2 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIÊP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 19

1.2.1 Khái niệm “nguồn nhân lực” và “phát triển nguồn nhân lực” 19

1.2.2 Vai trò phát triền nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa 37 Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TÂY NINH HIỆN NAY 2.1 NHỮNG YẾU TỐ VỀ LỊCH SỬ, TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TÂY NINH 61

2.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Tây Ninh 61

2.1.2 Điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu – nhân tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Tây Ninh 63

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế, văn hóa xã hội – nhân tố quyết định sự phát triển nguồn nhân lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Ninh 70

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH TÂY NINH SAU 25 NĂM ĐỔI MỚI 96

2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực 96

2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 99

2.2.3 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực 104

2.2.4 Thu hút và sử dụng nguồn nhân lực 113

2.2.5 Những hạn chế và bài học kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của Tây Ninh sau 25 năm đổi mới 125

2 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NHU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA TÂY NINH HIỆN NAY 128

2.3.1 Mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Ninh hiện nay 128

2.3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Ninh hiện nay 141

KẾT LUẬN 161

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nếu công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ lâu được xem là con đường tối ưu hướng đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của mỗi quốc gia, thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là điều kiện tiên quyết nhất cho sự phát triển của quốc gia đó Tất nhiên, sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở mỗi nước, ngoài nguồn nhân lực, đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực cần thiết khác kể

cả trong nước và từ nước ngoài như nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn lực tài nguyên, các ưu thế và lợi thế về điều kiện địa lý, thể chế chính trị Nhưng với tính chất vượt trội về mọi mặt, nguồn nhân lực bao giờ cũng là nhân

tố quan trọng nhất, quyết định nhất Bởi xét đến cùng, nguồn nhân lực là cội nguồn của mọi giá trị sáng tạo và phát triển, không có sự hiện diện của nó thì các nguồn lực khác cũng trở nên vô nghĩa hoặc khó có thể phát huy được tác dụng Do đó, phát triển nguồn nhân lực hiện nay là một tất yếu, trở thành vấn đề thời sự cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Gho nên, Đại hội VIII của Đảng

Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu

tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững [31, 85] Gần đây nhất, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [36, 41]

Tây Ninh là một trong những tỉnh biên giới giáp nước bạn Campuchia thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Sau 25 năm đổi mới, đặc biệt trong 5 năm 2005 – 2010, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tây Ninh đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua những khó khăn, trở ngại đưa kinh tế tỉnh nhà liên tục phát triển, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 1.400 USD/năm, cao hơn mức bình quân chung của cả nước; văn hóa – xã hội,

y tế, giáo dục có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ổn định Quan hệ với

Trang 7

các tỉnh Campuchia có chung đường biên giới rất tốt Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Tây Ninh còn một số mặt hạn chế cần phải nhanh chóng khắc phục như: “Tiềm năng, lợi thế trên từng lĩnh vực khai thác chậm; việc huy động và sử dụng các nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế Nguồn nhân lực còn thiếu và yếu Đặc biệt, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý còn hụt hẫng, chưa đồng đều ở cả 3 cấp, nhất là cấp cơ sở, tinh thần trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ; thiếu đội ngũ cán bộ tham mưu giỏi, chuyên gia đầu ngành trong một số lĩnh vực then chốt Cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu; hoạt động quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực thiếu chặt chẽ; Chưa có nhiều giải pháp tốt huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ thuật” [41, 50 - 52] Nhìn chung, những hạn chế đó chủ yếu xuất phát từ vấn đề đào tạo, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực Mặc dù trong những năm gần đây, Tỉnh ủy Tây Ninh đã ban hành chính sách thu hút nguồn nhân lực nói chung và nhân tài nói riêng Song, do những nguyên nhân về mặt chủ quan cũng như khách quan (ngân sách đầu tư, phương hướng, giải pháp ) dẫn đến việc thực hiện còn nhiều bất cập

Để có thể hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra, Nghị quyết Đại

hội IX của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (nhiệm kỳ 2010 – 2015) khẳng định: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực trên cả ba mặt: thu hút, đào tạo và sử dụng, nhất là quan tâm đào tạo công nhân kỹ thuật, đào tạo, thu hút đội cán bộ có trình độ cao, tham mưu giỏi, chuyên gia đầu ngành trên một số lĩnh vực then chốt và đẩy mạnh, đào tạo chuẩn hóa, nâng cao năng lực trình độ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [41, 147]

Từ những đòi hỏi của thực tiễn ở Tây Ninh, cùng với những tiềm năng chưa

được đánh thức của tỉnh nhà, đã thúc đẩy tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển nguồn

nhân lực ở Tây Ninh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

cho luận văn thạc sỹ Triết học của mình và coi đó như sự đóng góp nhỏ bé của bản thân vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương

Trang 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trước những yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong những thập niên gần đây luôn được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu như sau:

“Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của

PGS Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) Các tác giả đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của giáo dục – đào tạo, qua đó nêu bật vai trò của giáo dục – đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

“Triết học với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PGS.TS Nguyễn

Thế Nghĩa (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) Trong đó, tác giả phân tích giá trị thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong việc nhận thức và hoạch định chiến lược, chính sách và phương pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, tác giả phân tích khá sâu sắc vai trò của nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS Mai Quốc Chánh chủ biên (Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1999) Các tác giả đã phân tích vai trò của nguồn lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Từ đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở nước Việt Nam” của TS Bùi Thị

Ngọc Lan (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Từ sự phân tích vị trí vai trò của nguồn nhân lực trí tuệ trong sự phát triển xã hội, những đặc điểm chủ yếu của nguồn lực trí tuệ, thực trạng và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam;

Trang 9

tác giả đưa ra những phương hướng giải pháp chủ yếu để phát huy nguồn nhân lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

“Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn Hữu

Dũng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) Trong đó, tác giả đã phân tích một

số vấn đề lý luận và thực tiễn liện quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người, đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong sư phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

“Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS Đoàn Văn Khái (Nxb Lý luận chính trị, 2005) Tác phẩm đã trình

bày vai trò của nguồn nhân lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay Qua đó, đưa ra các giải pháp

cơ bản nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người trong thời ký công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngoài các công trình tiêu biểu kể trên, còn có nhiều đề tài, luận án, luận văn nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các vùng và các tỉnh, thành phố Có thể kể một số công trình được nghiên cứu gần đây nhất

như: “Phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” (Bùi Thị Thanh, Luận án tiến sĩ kinh tế, năm 2005); “Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Nguyên” (Lê Văn Thanh, luận án tiến sĩ triết học năm 2007); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng” (Dương Anh Hoàng, luận án tiến sĩ triết học, năm 2008); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” (Nguyễn Thị

Mỹ Phương, luận văn Thạc sĩ triết học, năm 2009); “Phát triển nguồn nhân lực phục

vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tiền Giang hiện nay” (Phạm Văn Thanh, luận văn

Thạc sĩ triết học, năm 2010) Tùy đặc điểm, tình hình cụ thể của từng địa phương mà các đề tài này đã thể hiện những quan điểm khác nhau của mình nhằm góp phần làm

Trang 10

sáng tỏ ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương mình nói riêng và cả nước nói chung

Với Tây Ninh, từ khi đổi mới đến nay, đã có một số tác phẩm, bài viết về quá trình phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục Điển hình nhất là năm 2006, có 2 công trình nghiên cứu khoa học khá đồ sộ về Tây Ninh, một

là: Địa chí Tây Ninh – một công trình biên khảo do Sở Khoa học Công nghệ và Môi

trường Tây Ninh quản lý và tài trợ kinh phí Sở Văn hóa Thông tin và Viện Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện Đây là một công trình thuộc dạng “tỉnh chí” với nội dung chủ yếu bao gồm những ghi chép miêu tả, giới thiệu những hình ảnh, sự kiện cơ bản về thiên nhiên, cộng đồng dân cư, các đơn vị hành chính, truyền thống lịch sử, hoạt động kinh tế, đời sống văn hóa – xã hội, nhân vật lịch sử, di tích lịch sử và danh thắng nhưng khá toàn diện về vùng đất

Tây Ninh Hai là: Thư mục tài liệu địa chí tỉnh Tây Ninh, do Phạm Hồng Toàn chủ

biên Đây là công trình tập hợp những bài viết, tài liệu có giá trị khoa học lịch sử rất phong phú và đa dạng về cả nội dung, quan điểm chính trị và hình thức thể hiện, cung cấp cho người đọc cái nhìn toàn diện, sâu sắc, nhiều chiều về Tây Ninh xưa và nay Đặc biệt, tháng 4 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh giao cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư Tây Ninh xây

dựng: “Đề án tổng thể phát triển nguồn nhân lực của tỉnh giai đoạn 2011 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020” Đây là một công trình mang tính bao quát, tổng thể về

hiện trạng nhân lực tỉnh Tây Ninh Trên cơ sở này, đề án đã đưa ra những mục tiêu, phương hướng và giải pháp chung nhất về vấn đề phát triển nguồn nhân lực nhằm chuẩn bị phục vụ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011 -

2015 và tầm nhìn đến năm 2020 Tất cả những tác phẩm, công trình nêu trên là nguồn tài liệu quý báu cho tác giả tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu Song, trong

số các tác phẩm viết về Tây Ninh, kể cả Địa chí Tây Ninh và Thư mục tài liệu địa chí tỉnh Tây Ninh, vấn đề phát triển nguồn nhân lực đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa măc dù được các tác giả đề cập đến, nhưng hầu hết đều là những mãng viết nhỏ, phản ánh vấn đề này ở góc độ hạn hẹp hoặc mang tính chất thời sự, xã luận

Trang 11

nhìn chung vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và kỹ về vấn đề phát triển nguồn nhân lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tây Ninh nên đến nay

nó vẫn còn là mảnh đất mới, cần được tiếp tục nghiên cứu, khai thác để phát triển Đó chính là lý do thôi thúc tác giả chọn nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn

Góp phần làm rõ vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Tây Ninh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Ninh hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn

Để có thể hoàn thành mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận chung về công nghiệp hóa,

hiện đại hóa; về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng ta về những vấn đề này

Thứ hai, phân tích thực trạng và những đặc điểm chủ yếu về tình hình phát triển

nguồn nhân lực ở Tây Ninh sau 25 năm đổi mới

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp có tính định hướng nhằm phát triển nguồn

nhân lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Tây Ninh hiện nay đạt hiệu quả thiết thực

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta; các Văn kiện, Nghị quyết

Trang 12

của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh về vấn đề con người và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp khác, như: phương pháp lịch sử - lôgic, phân tích – tổng hợp, thống kê, diễn dịch – quy

nạp, so sánh và đối chiếu trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần khẳng định lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Ninh nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp đảng ủy, chính quyền, các ban, ngành thuộc tỉnh Tây Ninh trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách và qua đó đề ra các giải pháp thích hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm có 2 chương và 5 tiết

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

1.1 KHÁI NIỆM “CÔNG NGHIỆP HÓA”, “HIỆN ĐẠI HÓA”

1.1.1 Khái niệm “công nghiệp hóa”

Từ nửa sau thế kỷ XVIII, công nghiệp hoá với tư cách là một phương thức phát triển bắt đầu xuất hiện trên thế giới và ngày càng phổ biến, nhất là vào những năm giữa thập kỷ 90, công nghiệp hoá được coi như một nấc thang phát triển tất yếu mà bất cứ quốc gia nào muốn phát triển cũng phải đi qua Nói cách khác, công nghiệp hóa là biện pháp cốt lõi để biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại Vai trò của công nghiệp hóa quan trọng đối với mỗi quốc gia là thế, nhưng đến nay khái niệmc “công nghiệp hóa” vẫn chưa có sự thống nhất Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa và cách phân kỳ lịch sử công nghiệp hóa khác nhau, nhưng có một điểm chung nhất là các nhà nghiên cứu đều cho rằng “công nghiệp hóa” là một phạm trù lịch sử, gắn liền trước hết với sự xuất hiện của máy móc và sự thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí, nhờ sự thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp hay còn gọi là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ở thế kỷ XVIII tại các nước Tư Bản ở Tây Âu. Như vậy, khái

niệm công nghiệp hoá chỉ xuất hiện từ cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, khởi đầu ở nước Anh vào thế kỷ XVIII Đến thế kỷ XIX, khái niệm này mới được làm rõ dần với quan niệm coi đó quá trình biến một lĩnh vực sản xuất nào đó, hoạt động với sự trợ giúp đắc lực và sự đóng góp lớn của hoạt động cơ khí Do công nghiệp phát triển nhanh chóng từ đơn giản đến phức tạp với trình độ cơ khí hoá, tự động hoá ngày càng cao nên ý nghĩa của khái niệm công nghiệp hoá cũng ngày càng mở rộng ra Vì vậy, khi có một quan niệm đúng về công nghiệp hoá sẽ ý nghĩa đối với khoa học và hoạch định chính sách trong thực tiễn Công nghiệp hoá là quá trình rất phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh khó phân biệt về thời gian, về định tính hay định

Trang 14

lượng Do vậy, tuỳ theo cách nhìn khác nhau mà người ta có những quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa và bản chất của nó

Quan niệm đơn giản nhất cho rằng “Công nghiệp hoá là đưa tính đặc thù công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các loại hình công nghiệp ” Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chỉ chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp, mà không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá Quan niệm giản đơn trên đây có những mặt chưa hợp lý Trước hết, nó không cho thấy mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá cần thực hiện Thứ hai, nội dung quan niệm này gần như đồng nhất quá trình công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghiệp Thứ ba, quan niệm này cũng không thể hiện được tính lịch

sử của quá trình công nghiệp hoá Do vậy, quan niệm này được vận dụng rất hạn chế trong thực tiễn

Quan niệm phổ biến ở Liên Xô trước đây cho rằng: “công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp” Đó

là sự phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành chế tạo cơ khí, do

đó tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn Quan niệm trên xuất phát từ thực tiễn của Liên Xô khi triển khai công nghiệp hoá Liên Xô đã có một số tiền để ban đầu là công nghiệp đã phát triển triển đến trình độ nhất định dưới chủ nghĩa tư bản trước đây, dù trong thời kỳ nội chiến (1918 - 1920) công nghiệp có

bị tàn phá nặng nề Bên cạnh đó, trong thời kỳ tiến hành công hoá (1926 - 1940), Liên Xô bị chủ nghĩa đế quốc bao vây toàn diện nên sự trợ giúp từ bên ngoài hầu như không có Trong bối cảnh ấy, để tồn tại và phát triển Liên Xô phải tiến hành công nghiệp hoá với nhịp độ nhanh, phải tập trung cao độ phát triển công nghiệp nặng, phải hướng các ngành công nghiệp vào phục vụ nông nghiệp nhằm bảo đảm các nhu cầu trong nước, đồng thời góp phần tăng nhanh tiềm lực quốc phòng Quan niệm này, nhiều năm trước đây được coi là hợp lý và được áp dụng ở một số nước

Trang 15

Xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Thực tế, việc sao chép một cách máy móc mô hình công nghiệp hoá của Liên

Xô đã không đem lại kết quả như mong muốn ở những nước này

Năm 1963, tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa sau đây: “Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh

tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội” Khái niệm này nói lên rằng công nghiệp hoá

là quá trình bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mà còn cả sự tiến bộ xã hội Đồng thời quá trình công nghiệp hoá trong điều kiện ngày nay cũng gắn liền với quá trình hiện đại hoá nền kinh tế, trong mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội Tuy nhiên, định nghĩa trên đây lại quá dài với ý tưởng dung hoà nhiều ý kiến khác nhau, nên nó mang tính chất một phương hướng thực thi hơn là một khái niệm

Năm 1995, Liên Hợp Quốc có một định nghĩa khác về “công nghiệp

hóa” như sau: “Công nghiệp hóa là quá trình trang bị máy móc và công nghệ hiện đại cũng như phương pháp quản lý tiên tiến vào mọi hoạt động sản xuất,

dù là sản xuất vật chất hay dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đưa đến tốc độ phát triển nhanh và bền vững về giá trị tăng thêm (GDP) Con đường công nghiệp hóa của một nước tùy thuộc vào đặc thù về nguồn lao động và tài nguyên của nước đó Tuy vậy, đối với các nước có dân số đáng kể, cái cần trung gian thường là từ phát triển công nghiệp chế biến hàng hóa tiêu dùng, dùng sức lao động cơ bắp tiến dần lên lao động chuyên môn, rồi lên công nghiệp cao cấp và kinh tế dịch vụ tiên tiến”

Trang 16

Công nghiệp hóa còn được các nhà khoa học dựa vào mục đích, phương pháp

và phương thức thực hiện nó để phân chia thành 3 loại sau:

a Công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa: có mục đích là mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà tư bản, được tiến hành một cách tự phát bằng phương pháp tước đoạt, sử dụng nguồn vốn do bóc lột

b Công nghiệp hóa dân tộc chủ nghĩa: có đặc điểm là cải tạo nền kinh tế, nâng dần tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế, xây dựng và bảo vệ đất nước

c Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa: có mục đích đáp ứng lợi ích của những người lao động, được thực hiện một cách tự giác, có kế hoạch, dựa trên nguồn vốn

do tích lũy và tiết kiệm, tiến hành với tốc độ cao, tạo ra nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí [75, 672]

Như vậy, xét về mục đích, phương thức tiến hành và sự chi phối của quan hệ sản xuất thống trị thì 3 loại công nghiệp hóa nêu trên có những nét khác nhau, chúng phục vụ cho 3 chế độ chính trị khác nhau Xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ thì chúng hoàn toàn giống nhau

Ở Việt Nam, đường lối công nghiệp hóa có thể chia ra làm 2 thời kỳ chính, trước và sau khi đổi mới mà dấu mốc được tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng

12 năm 1986 Quá trình công nghiệp hóa của nước ta trước thời kỳ đổi mới được chia thành 2 giai đoạn: công nghiệp hóa thực hiện ở miền Bắc từ năm 1960 đến năm

1975 và từ năm 1975 đến năm 1985 trên phạm vi cả nước Công nghiệp hóa trong thời kỳ này được tiến hành trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp, không thuận chiều, xét trên tổng thể nó có các đặc trưng cơ bản sau:

- Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế của thời bao cấp, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng

- Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc), chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để

Trang 17

công nghiệp hóa chủ yếu bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong nền kinh tế thị trường

- Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội

Do đó, trên thực tế đường lối công nghiệp hóa giai đoạn này vẫn không mấy thay đổi so với trước Mặc dù lúc bấy giờ nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu nhưng Đại hội vẫn xác định “Xây dựng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp hiện đại, lấy hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển làm nòng cốt” Sự điều chỉnh không dứt khoát đó đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam không tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn và khuyết điểm mới, tình hình kinh tế -

xã hội và đời sống nhân dân không những không ổn định được mà còn lâm vào khoảng trầm trọng Tuy nhiên, bên cạnh đó công nghiệp hóa giai đoạn này cũng đạt được những thành tựu không thể phủ nhận được Chẳng hạn, so với năm 1955, số xí nghiệp tăng lên 16,5 lần Nhiều khu công nghiệp lớn đã hình thành, đã có nhiều cơ

sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất được xây dựng Hàng chục trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đã đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật xấp xỉ

43 vạn người, tăng 19 lần so với 1960 là thời điểm bắt đầu công nghiệp hóa Cho nên, từ điều kiện đi lên từ điểm xuất phát thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, những kết quả đạt được trên đây có ý nghĩa hết sức quan trọng - tạo cơ sở ban đầu

để phát triển nhanh hơn trong các giai đoạn tiếp theo

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12 - 1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960 - 1985,

mà trực tiếp là mười năm từ 1975 đến 1985 Từ việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm đó, Đại hội VI đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên là thực hiện cho bằng được 3 chương trình: lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu trong những năm còn lại của

Trang 18

chặng đường đầu tiên trong thời kỳ quá độ Ba chương trình này liên quan chặt chẽ với nhau Phát triển lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng là nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho đời sống nhân dân sau mấy chục năm chiến tranh ác liệt và trong bối cảnh của nền kinh tế còn đang trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội; phát triển hàng xuất khẩu là yếu tố quyết định để khuyến khích sản xuất và đầu tư trong nước, tạo nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất Xác định thứ tự ưu tiên đó đã cho phép phát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài để phát triển kinh tế xã hội Thực chất, đây là sự thay đổi trong lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hóa, chuyển từ mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu) trước đây bằng mô hình hỗn hợp (hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu) đang được áp dụng phổ biến và khá thành công tại các nước Châu Á lúc bấy giờ

Trên cơ sở đổi mới của Đại hội VI, trong báo cáo Hội nghị Trung ương 7 (khoá VII) đã đưa một định nghĩa có ý nghĩa tương đối bao quát và phù hợp về công

nghiệp hóa, hiện đại hóa được dùng phổ biến ở nước ta hiện nay như sau: “Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học

- cong nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [30, 78] Định nghĩa này đã nói

lên được phạm vi và vai trò đặc biệt quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế - xã hội; gắn liền được hai phạm trù không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hóa Nó cũng xác định vai trò không thể thiếu của khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đến Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: “Từ nay đến năm

2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại” và "Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan

hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời

Trang 19

sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” [31, 67]

Như vậy, theo tinh thần Nghị quyết lần này, Đảng ta xác định công nghiệp hoá không chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất

Tóm lại, quá trình công nghiệp hóa diễn ra ở các nước khác nhau, thời điểm lịch

sử khác nhau, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Do vậy, nội dung khái niệm cũng có sự khác nhau Nhưng theo nghĩa chung nhất, khái quát nhất thì công nghiệp hóa là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp

Từ lịch sử công nghiệp hóa trên thế giới và xem xét các quan niệm trên, theo tác giả, nội dung chính của “công nghiệp hóa” bao gồm những vấn đề chính sau đây:

Thứ nhất, công nghiệp hóa là một sự biến đổi cơ cấu kinh tế nhiều ngành trong

nước với kỹ thuật hiện đại trong đó có sự biến đổi từ kinh tế nông nghiệp và lao động thủ công sang nền kinh tế được gọi là “công nghiệp” mà trước hết là công nghiệp cơ khí chế tạo

Thứ hai, quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ mang tính chất thủ công có năng suất

thấp và tăng trưởng chậm lên sản xuất lớn, mang tính chất kỹ thuật hiện đại có năng suất cao và tăng trưởng nhanh

Thứ ba, công nghiệp hóa phải được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội

nói chung Đó là cách để đạt được tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững

Tuy công nghiệp hóa có thể phát sinh những hậu quả tiêu cực nhất định về xã hội như: thất nghiệp và các hậu quả của thất nghiệp, ô nhiễm môi trường và các giá trị truyền thống, văn hóa có thể bị mòn Song, công nghiệp hóa với cách hiểu trên vẫn luôn luôn là cách thức phát triển mà các quốc gia, nhất là các quốc gia từ nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp, muốn nhanh chóng vươn lên một trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải qua Vấn đề đặt ra không phải là có nên công nghiệp hóa

Trang 20

hay không, mà chính là tiến hành công nghiệp hóa như thế nào? Hay nói cách khác làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa một cách có hiệu quả

1.1.2 Khái niệm “hiện đại hóa”

Cũng giống như “công nghiệp hóa”, “hiện đại hóa” cũng là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đã đưa ra những quan niệm khác nhau:

Quan niệm thứ nhất, hiện đại hóa là quá trình cải biến xã hội “phương Đông”

truyền thống thành xã hội phương Tây hiện đại, vốn được coi là giàu có Những người theo quan niệm này cho rằng, phương Tây không những chỉ giàu có về vật chất mà còn giàu có về tinh thần, và đây chính là “khuôn mẫu” cho các nước “ngoài phương Tây” học tập “Chính ở phương Tây và chỉ có ở đây, mới phát sinh những hiện tượng của văn hóa, được phát triển theo khuynh hướng đã mang ý nghĩa phổ quát” [58, 44] Do đó, nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh đã đặt nhiều

hy vọng vào con đường hiện đại hoá theo mô hình các nước Âu - Mỹ người ta đã đồng nhất hiện đại hoá với phương Tây hoá Kết quả là, sự thu nhập tùy tiện các giá trị bên ngoài không phù hợp với chính mình đã làm cho những chuẩn mực giá trị văn hoá truyền thống bị biến chất, khiến cho các nước đó chẳng những không đạt được mục tiêu hiện đại hoá mà còn đưa đất nước lâm vào tình trạng rối loạn

Như vậy, quan niệm này đã đồng nhất hiện đại hóa với “phương Tây hóa” Ở đây, quá trình hiện đại hóa được thực hiện chủ yếu bằng những nhân tố ngoại sinh

và theo kiểu “bắt chước” Do đó, cần nhận xét rằng, trong sự phát triển của mình, các nước phát triển phương Tây đã đạt sự giàu có nhất định về của cải vật chất và tinh thần Song, nếu từ đó mà cho rằng, hiện đại hóa là phương Tây hóa là điều lầm lẫn đáng tiếc Bởi lẽ, lịch sử phát triển của xã hội đã chứng tỏ rằng, một nước giàu

có chưa hẳn là một nước có trình độ văn hóa, văn minh cao Một thực tế hết sức thuyết phục là cuối thế kỷ XIX, nước Pháp, nước Anh có chế độ kinh tế cao hơn nước Đức, song lại kém nước Đức về mặt tư tưởng, lý luận…[75, 560]

Trang 21

Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu hiện đại hóa còn chỉ ra rằng: “Trong vòng một thế kỷ nay nền văn minh phương Tây đã làm giàu của cải vật chất và tinh thần, đồng thời cũng làm nảy sinh trong lý luận và thực tiễn những quan điểm, tâm trạng

hạ thấp phương diện tinh thần của tồn tại người Điều này được thể hiện trong quan niệm sống và lối sống của con người chỉ gắn với điều kiện vật chất, với tiêu dùng mà coi thường hoặc quên đi yếu tố truyền thống đạo đức, văn hóa, nhân văn”.[73, 6] Chúng ta học tập kinh nghiệm hiện đại hoá của các nước nhưng không bê nguyên xi các mô hình của họ, mà phải cải biến, sáng tạo chúng thành các giá trị văn hoá mới của Việt Nam, sắp xếp lại các thang giá trị cho thích hợp, cải biến, sáng tạo ra các hình thức mới để biểu đạt sâu sắc nội dung giá trị văn hoá Việt Nam, tạo ra thế và lực phát triển văn hoá dân tộc Tiến tới hiện đại hoá mọi lĩnh vực đất nước trong đó có văn hoá theo hướng toàn cầu hoá Nói như vậy không có nghĩa là đồng nhất hoá các giá trị và các tiêu chí văn hoá dân tộc với mọi nền văn hoá khác Điều này đã được Tổng thư ký UNESCO cảnh báo: “Xu hướng toàn cầu hoá có thể gây phương hại tới tính sáng tạo và đa văn hoá của thế giới, tạo ra sự đồng nhất nghèo nàn về văn hóa” [95, 7]

Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nhằm làm phong phú và hiện đại hoá văn hoá Việt Nam, làm đậm đà và bền vững thêm bản sắc văn hoá của mình, chứ không để cho nó bị hoà tan, làm sao để vào khoảng những năm 20 của thế kỷ này, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được sống trong một xã hội hiện đại với nền văn hoá đặc sắc của chính mình

Vả lại, hiện đại hóa không chỉ đơn giản là quá trình “chuyển tải” những của cải vật chất và các giá trị tinh thần từ dân tộc này sang dân tộc khác Bởi lẽ, mỗi dân tộc

có lịch sử, truyền thống, tâm lý, tình cảm, bản sắc văn hóa riêng của mình Vì vậy, tiếp thu cái gì, bằng cách nào là tùy thuộc vào nhu cầu và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của dân tộc đó; và điều này không thể áp dụng được Alain Touraine đã đúng khi nhận xét rằng: Hiện đại hóa cưỡng bức, rập khuôn theo mô hình của nước khác chỉ

là tai họa cho các dân tộc vì nó đối nghịch với bản sắc dân tộc, thù địch với dân

Trang 22

chủ Có thể nói rằng, không có và không thể có một “công thức”, “khuôn mẫu” hiện đại hóa chung cho tất cả các nước, mà chỉ có những hình thức hiện đại hóa cụ thể tương ứng nhu cầu phát triển cụ thể của mỗi nước mà thôi

Quan niệm thứ hai, cho rằng, hiện đại hóa cũng chính là quá trình công nghiệp

hóa: “Về thực chất quá trình hiện đại hóa trong thời đại hiện nay là quá trình phát triển công nghệ nhằm thay đổi cơ cấu các ngành sản xuất Cơ cấu lao động và cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, không ngừng nâng cao hiệu quả cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế” [3, 17]

Trước hết, cần nhận xét rằng, hiện nay ở các nước đang phát triển, hiện đại hóa được triển khai gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và giữa chúng có một số nội dung giống nhau, nhưng hai quá trình này không phải là một Thứ nhất, đúng như Đảng ta xác định: Ở nước ta “công nghiệp hóa thực chất là xây dựng cơ sở vật chất

kỹ - thuật của chủ nghĩa xã hội” [30, 27]

Như vậy, quá trình công nghiệp hóa kết thúc, về cơ bản, chúng ta đã có cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Thế nhưng, cơ sở vật chất – kỹ thuật chưa phải là toàn bộ chủ nghĩa xã hội, mà ngoài vật chất kỹ tầng với những bộ phận đa dạng của nó Ở đây, hiện đại hóa xã hội không chỉ góp phần xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật của xã hội, mà còn xây dựng cơ sở “tư tưởng – tinh thần” và tất cả các mặt khác nhau của đời sống xã hội

Thứ hai, như đã phân tích ở phần trên, xét về mặt lịch sử, quá trình ra đời và phát triển của công nghiệp hóa và hiện đại hóa hai quá trình không trùng khít nhau; công nghiệp hóa ra đời và được thực hiện bởi một cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, còn hiện đại hóa ra đời và được thực hiện gắn liền với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ từ giữa thế kỷ XX đến nay [91, 21- 23 - 28] Bởi vậy, không được quy công nghiệp hóa vào hiện đại hóa, càng không được đồng nhất chúng với nhau

Quan niệm thứ ba, hiện đại hóa là “một quá trình, nhờ đó mà các nước đang

phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành

Trang 23

cải cách chính trị và củng cố cơ cấu xã hội của họ, nhằm tiến tới một hệ thống kinh

tế, xã hội và chính trị giống hệ thống của các nước phát triển [63, 4] Với quan niệm này, trong một chừng mực nhất định, đã thể hiện được một số mặt cụ thể của quá trình hiện đại hóa ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, nó chưa phản ánh được thực chất của quá trình hiện đại hóa và cũng chưa bao quát được quá trình này đang diễn ra ở các nước phát triển

Qua đó, có thể kết luận rằng, khái niệm hiện đại hóa vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi Bởi lẽ, nó là một quá trình phức tạp tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nó được triển khai vào những thời điểm khác nhau ở những nước khác nhau với những hình thức và mức độ không giống nhau Do đó, trong một thời gian ngắn khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ về hiện đại hóa khả dĩ được mọi người chấp nhận Tuy nhiên, căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về hiện đại hóa

và những kinh nghiệm thực hiện ở một loạt nước đi trước, có thể rút ra những đặc điểm quan trọng nhất của nó và khái quát như sau: Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội

Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại Đó là quá trình văn hoá hoá đời sống xã hội và văn hoá hoá ngày càng cao bản thân con người Bởi văn hoá là hiện thân sức mạnh bản chất người được thể hiện trong “Thiên nhiên thứ hai” của con người (C Mác) Tất cả sức mạnh bản chất người đó được tàng chứa trong toàn bộ thế giới vật chất - tinh thần, nó thể hiện một cách năng động nhất trong cơ cấu - tổ chức - vận hành của một xã hội, đặc biệt là ở phần tinh thần - nơi thăng hoa toàn bộ giá trị văn hoá nằm tương ứng bên trên cơ cấu - tổ chức - vận hành đó, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cũng

đã vạch ra quy luật khách quan rằng, đời sống vật chất quy định đời sống tinh thần của xã hội và đời sống tinh thần cũng có vai trò quay trở lại tác động đời sống vật chất Do đó, trình độ kinh tế - chính trị - xã hội tiên tiến và hiện đại do công

Trang 24

nghiệphoá - hiện đại hoá tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và trình độ của nền văn hoá xã hội, để rồi sau đó chính nền văn hóa này sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho những bước phát triển tiếp theo

Từ những phân tích trên cho thấy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phức hợp, mà nội dung phong phú của nó được thể hiện dưới những hình thức cụ thể sinh động trong tất các các lĩnh vực của đời sống xã hội Để thực hiện những nội dung này cần không chỉ những nguồn lực, mà còn phải có sự hướng dẫn của những phương pháp luận khoa học Có thể nói, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta được tiến hành trong những điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn, thời cơ

và nguy cơ đan xen nhau Chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển

nhanh và chắc tạo ra thế và lực mới nhằm “nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta” [31, 53]

1.2 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.2.1 Khái niệm “nguồn nhân lực” và “phát triển nguồn nhân lực”

Khái niệm “nguồn nhân lực”

Lịch sử của các nền văn minh gắn liền với lịch sử phát triển con người Vì vậy, con người luôn giữ vị trí trung tâm trong mọi hoạt động thực tiễn nhằm cải biến thế giới tự nhiên, xã hội, tạo ra lịch sử để phát triển và hoàn thiện chính mình Con người - chủ thể sản sinh ra mọi giá trị, là thước đo của mọi giá trị, và trong nó còn chứa đựng nhiều tiềm năng, giá trị chưa phát hiện và khai thác hết Vì thế, bao nhiêu thời đại lịch sử đã đi qua, nhiều chế độ xã hội đã từng thay thế nhau, song vấn

đề con người vẫn không hề mất đi ý nghĩa lịch sử của nó, luôn là đề tài mang tính thời sự thu hút sự nghiên cứu của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau Ngày nay, với nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện quốc tế toàn cầu hóa với một nền kinh tế tri thức, thì việc nghiên

Trang 25

cứu con người với tư cách là một trong những nguồn lực cơ bản của sự phát triển xã hội là vấn đề mang nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn cần đặc biệt quan tâm

Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu, thuật ngữ “nguồn nhân lực”

(hurman resoures) đã xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý và sử dụng con người trong lao động Theo kết quả nghiên cứu, nếu như trước đây, phương thức quản lý người lao động (personnel management) với đặc trưng coi họ là lực lượng thừa hành, phụ thuộc và cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì những năm 80 đến nay với những phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động

có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng, tiềm năng vốn có của mình thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển Có thể nói, sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người Thế nhưng vẫn chưa có khái niệm thống nhất về nguồn nhân lực, do đó, hiện nay đã tồn tại khá nhiều định nghĩa được rút ra từ những quan điểm

và khía cạnh khác nhau Chẳng hạn như:

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), định nghĩa rằng: “Nguồn nhân lực là những gì có liên quan đến tri thức, kỹ năng và những thuộc tính tiêu biểu khác của một cá nhân mà nó có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế” [97, 18] Như

vậy, theo tổ chức này, nguồn nhân lực là một khái niệm phức tạp hàm chứa tất cả những kỹ năng, tri thức, khả năng lao động, những giá trị của con người Theo đó, nguồn nhân lực cũng giống như nguồn vật chất, nó có thể đầu tư thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế… và thu nhập của loại vốn này cũng tùy thuộc vào “số lượng” vốn mà một cá nhân sở hữu Tuy nhiên, nguồn nhân lực là một thứ vốn mà không thể thay thế hoàn toàn được bởi vốn vật chất, đất đai và lao động… Do đó,

theo OECD, vốn nhân lực có 2 đặc điểm quan trọng sau:

Trang 26

- Có khả năng di chuyển và chia sẻ, bởi tri thức rất dễ dàng di chuyển từ cá nhân này sang cá nhân khác, song sự chuyển giao đó không làm mất đi tri thức của người sở hữu ban đầu

- Có khả năng tăng lên và tự sinh ra khi sử dụng, chẳng hạn như một bác sĩ có thể có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình làm việc, kiến thức cơ bản của họ sẽ tăng theo thời gian

Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có cùng những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm

năng của con người” Quan niệm về nguồn lực theo hướng tiếp cận này có phần

thiên về chất lượng của nguồn nhân lực Như vậy, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng

Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp “nguồn nhân lực” bao gồm những người

trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm Với quan điểm này, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không muốn có việc làm thì không được xếp vào nguồn nhân lực xã hội

Trong khi đó, ở Úc xem nguồn nhân lực là toàn bộ những người bước vào tuổi lao động, có khả năng lao động Theo quan niệm này thì không có giới hạn hết độ tuổi lao động của nguồn nhân lực

Theo cách phân tích của Đại từ điển kinh tế thị trường, “nguồn nhân lực” là nhân khẩu

có năng lực lao động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nhân lực là chỉ tổng nhân khẩu xã hội, là nguồn tài nguyên Tài nguyên nhân lực là tiền đề vật chất để sản xuất và tái sản xuất xã hội Tài nguyên nhân lực vừa là động lực vừa là chủ thể của sự phát triển, có tính năng động trong tái sản xuất xã hội Chính vì lẽ đó, khi phân tích

về nguồn tài nguyên nhân lực, phải xem xét nó trong mối quan hệ với tốc độ tăng dân số, sự phát triển của giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí, và những điều kiện vật chất cần thiết đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất nguồn lực cho xã hội

Trang 27

Trong Quyển I, tập 1 của bộ Tư Bản, C Mác đã xem “nguồn nhân lực” là tổng

hợp tiềm năng lao động của con người trong một quốc gia, một vùng, một khu vực, một địa phương trong một thời điểm cụ thể nhất định Tiềm năng của nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống, lịch sử, văn hóa, dân tộc…) của bộ phận dân số có thể

tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội C Mác viết: “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem

ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [9, 217]

Rõ ràng, đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng kinh tế của C Mác với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ra giá trị; lao động là nguồn gốc duy nhất của mọi của cải trong xã hội Tư tưởng này có

ý nghĩa rất quan trọng, nó cho thấy sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa của yếu tố con người mà ngược lại, cùng với quá trình áp dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, con người cùng với tiềm năng trí tuệ của mình ngày càng có vai trò quan trọng

Điều 6 - Bộ Luật Lao động hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam xác định: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và

có giao kết hợp đồng lao động” Theo đó, nguồn nhân lực của xã hội bao gồm

những người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng lao động hoặc sẽ tham gia lao động Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo và thể chất người lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương Trong một chừng mực nào đó “ nguồn nhân lực” đồng nghĩa với “nguồn lao động”, nhưng nói về nguồn nhân lực là nói tới chất lượng của lao động

Nhân lực dưới góc độ từ và ngữ là danh từ (từ Hán Việt): nhân là người, lực

là sức Theo đó, nhân lực được hiểu là sức người lao động Tuy nhiên, ngay trong

Trang 28

phạm trù sức người lao động cũng chứa một nội hàm rất rộng Nếu tất cả các bộ phận cấu thành thì nội dung sức người lao động g ồ m : sức óc, sức cảm thụ, thích nghi, sức bắp thịt, sức xương; sức thể hiện thông qua các giác quan mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, da cảm giác… Còn chất lượng của “ sức lao động” đó là trình

độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, lành nghề, kỹ năng thực hành… của người lao động

“Nguồn nhân lực” theo quan điểm của các học giả George T.Milkovich and John W.Boudreau, đó là tổng thế các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức [44, 9]

Còn Stivastava M/P (Ấn Độ) trong cuốn “Human resource planing: Aproach needs assessments and priorities in manpower planing” đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế như sau: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn

bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân

sở hữu Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dạng một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được nhờ vào quá trình lao động sản xuất Do vậy, các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng… để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người” [83, 14]

Hoặc “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng vơi sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia khu vực, thế giới” [82, 25] Cách tiếp cận này về nguồn nhận lực xuất phát từ quan niệm coi

nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung và của các tổ chức nói riêng

Trang 29

Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Dũng trong tác phẩm “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” luận giải bản chất của nguồn nhân lực

dưới các lát cắt khá rộng như sau:

+ Nguồn nhân lực là tiềm năng của con người có thể khai thác cho sự phát triển kinh tế - xã hội;

+ Là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống;

+ Là tổng thể những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội;

+ Là sự kết hợp giữa trí lực và thể lực của con người trong sản xuất tạo ra năng lực sáng tạo và chất lượng, hiệu quả của hoạt động lao động

Tiến sĩ Chu Tiến Quang - Trưởng ban Chính sách phát triển nông thôn, Viện

nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương trong cuốn:“Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn - thực trạng và giải pháp.” đã khái quát nguồn nhân lực với đại ý sau: “Nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất

lượng của dân số và lao động trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, được chuẩn bị

về năng lực làm việc và kỹ năng chuyên môn ở một mức độ nhất định, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động kinh tế khác nhau trong xã hội” Còn theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của

một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia mọi công việc” [47, 40]

Như vậy, khái niệm “nguồn nhân lực” đã được hiểu khá rộng với các mức độ khác nhau Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực là: “số dân và chất lượng con người, gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là “lực lượng lao động, gồm số người đang làm việc, người thất nghiệp, và lao động dự phòng; bao gồm cả những người được đào tạo và chưa được đào tạo, hoặc có thể đang làm việc hoặc đang không làm việc Theo cách hiểu hẹp hơn nữa thì: “nguồn nhân lực là lực lượng lao động đang làm việc và lực lượng lao động có khả năng nhưng không có việc làm (tức đang trong tình trạng thất nghiệp)”

Trang 30

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiêp cận nghiên cứu, nhưng điểm chung mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa, quan niệm về nguồn nhân lực nêu trên đều có những điểm chung là:

- Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai Đó là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực Sự phát triển số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong Ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân;

- Chất lượng nhân lực: đó là tổng hợp của nhiều yếu tố trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng nhất trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực

- Cơ cấu nhân lực: đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét, đánh giá về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi…Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế, theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nhân lực Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế

tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 – 3 – 1, cụ thể là: 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề, 1 kỹ sư; đối với nước ta, cơ cấu này có phần ngược lại tức

số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật [82, 33] Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng có những biểu hiện của sự mất cân đối Chẳng hạn, công chức nữ lãnh đạo ở Trung ương chỉ chiếm trên 22%, ở địa phương chiếm trên 16% so với nam giới

Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai, là tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu

Trang 31

vực và thế giới Với những đặc điểm như vậy có thể khái quát: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng người trong độ tuổi lao động với những phẩm chất nhất định (sức khỏe, trí tuệ, đạo đức, chính trị, chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm…) đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia hay mỗi vùng, địa phương nhất định

Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực của nước ta hiện nay (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên người), tức là nói đến con người - chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, khi đề cập đến nguồn nhân lực, chúng ta cần lưu ý hai phương diện quan trọng sau:

Thứ nhất, với tư cách là nguồn lực con người - chủ thể không tồn tại một cách

biệt lập, mà chúng liên kết chặt chẽ với nhau thành một chỉnh thể thống nhất về tổ chức, tư tưởng và hành động Nói cách khác, nguồn nhân lực là tổng hợp những con người - chủ thể với những phẩm chất nhất định đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cần hiểu rằng, “tổng hợp những con người - chủ thể” này không đơn giản chỉ là số lượng người, mà nó thật sự là tổng hợp năng lực, sức mạnh của chỉnh thể người Năng lực, sức mạnh này bắt nguồn trước hết từ những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi con người - chủ thể, và nó được tăng lên gấp bội bởi cái “chỉnh thể” thống nhất trong hành động [75, 629]

Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm không chỉ những con người - chủ thể đã và

đang tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà cả những con người - chủ thể sẽ tham gia vào quá trình này Bởi vì, lịch sử tự nhiên của đời sống xã hội là quá trình phát triển kế tiếp nhau của các nền văn minh và các trình

độ văn minh; trong đó, các giá trị do các thế hệ trước tạo ra là nền tảng để các thế hệ sau kế thừa, phát triển và sáng tạo ra những giá trị mới Nếu không chú ý đến phương diện này của nguồn nhân lực thì không thể triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa có hiệu quả; và do đó, không có sự phát triển bền vững của đất nước [75, 630]

Trang 32

Khái niệm “phát triển nguồn nhân lực”

Từ sự phân tích, luận giải đã được trình bày ở trên và khái niệm về “nguồn

nhân lực”, chúng ta có thể hiểu: “phát triển nguồn nhân lực” là gia tăng giá trị cho

con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… để

họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nước và xã hội”

Trên ý nghĩa đó, phát triển nguồn nhân lực được xem xét toàn diện cả chất

và lượng Về chất, phát triển nguồn nhân lực được tiến hành trên cả 3 mặt: nhân cách, trí tuệ, thể lực; kỹ năng nghề nghiệp và tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển Về lượng, gia tăng số lượng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản

Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào các các yếu tố của quá trình sản xuất Cần lưu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư cho con người, tức đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư quan trọng nhất Đầu tư cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục đạo đức và chuyên môn tại nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc sức khỏe, đáp ứng các nhu cầu lành mạnh về văn hóa, tinh thần…

Phát triển nguồn nhân lực của một đất nước là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động năng động, thể lực và trí lực tốt, có trình độ lao động cao, có kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất Trí lực có được nhờ quá trình đào tạo, tiếp thu kinh nghiệm Thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể, chăm sóc y tế, môi trường làm việc…

Trang 33

Do đó, để phát triển có hiệu quả nguồn nhân lực cần chú trọng đến những nhân tố sau đây:

Phát triển nguồn nhân lực về số lượng

Nội dung cơ bản đầu tiên của phát triển nguồn nhân lực, đó là phát triển về

số lượng, hay nói cách khác là thúc đẩy sự gia tăng về số lượng con người trong nguồn nhân lực Hiểu theo nghĩa rộng phát triển nguồn nhân lực là phát triển dân số ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, hiểu theo nghĩa hẹp là phát triển về số người lao động của lực lượng lao động trong mỗi nền kinh tế

Sự phát triển nguồn nhân lực về số lượng hợp lý sẽ tạo ra số lượng người lao động phù hợp nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển, ngược lại sự phát triển quá nhiều hoặc quá ít dân số sẽ tạo ra sự thiếu hụt hay dư thừa so với nhu cầu của nền kinh tế quốc dân gây nên những khó khăn, trở ngại trong sử dụng nguồn nhân lực

Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực về số lượng có các nội dung cụ thể liên quan tới vấn đề sinh sản, xuất cư, nhập cư, phân công lao động giữa các ngành kinh

tế trong một nền kinh tế nhất định

Phát triển nguồn nhân lực về chất lượng

Phát triển nguồn nhân lực về chất lượng là làm tăng lên về mặt chất lượng của nguồn nhân lực, bao gồm: đạo đức, lối sống, thể lực, trí tuệ, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc

Phát triển nguồn nhân lực về chất lượng là tạo ra và làm tăng lên những năng lực mới trong từng người dân, từng người lao động, bao gồm nhiều nội dung, cụ thể như:

- Chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng thể lực cho người lao động

để tạo ra nguồn nhân lực có sức mạnh và có khả năng làm việc tốt nhất, làm việc với năng suất và chất lượng cao;

Trang 34

- Giáo dục văn hóa, đạo đức và nhân cách, tư duy kinh tế - xã hội và cách hành

xử trong quan hệ xã hội, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, yêu ngành, yêu nghề, yêu cơ sở làm việc, rộng lớn hơn là yêu Tổ quốc, yêu chế độ

- Đào tạo, tập huấn cho người lao động các kiến thức về khoa học, công nghệ mới, các kỹ năng lao động và ý thức chấp hành luật pháp về lao động, lề lối làm việc, lối sống, nếp nghĩ và hướng phát triển toàn diện của bản thân người lao động…

Như vậy, nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải kể đến là sức khỏe của nguồn nhân lực Đây là một yêu cầu tất yếu, tiên quyết và không thể thiếu Bởi sức khỏe là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là

cơ sở cốt yếu để tiếp nhận, duy trì và phát triển trí tuệ Hơn thế, chỉ có sức khỏe mới là cơ sở cho giáo dục - đào tạo tốt hơn, hình thành được nguồn nhân lực có sức khỏe tốt không chỉ về thể trạng mà cả nội dung bên trong của nó - nguồn nhân lực có chất lượng cao

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thì vai trò của đội ngũ trí thức, lao động chất xám ngày càng tăng và càng có ý nghĩa quyết định Đúng như C Mác tiên đoán cách đây hơn 160 năm về vai trò của

lao động trí tuệ: “đến một trình độ nào đó, tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp” và sự tiên đoán đó của C Mác ngày nay đã trở thành hiện

thực, nghĩa là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Cho nên, với những thành tựu vượt bậc của khoa học - công nghệ ngày nay, lao động trí tuệ

c h í n h là nhân tố quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, khoa học – kỹ thuật và công nghệ chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Hơn nữa, dù máy móc, công nghệ c ó hiện đại đến đâu thì chúng cũng không thể t ự vận hành để làm “sống lại” mình chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của chúng thông qua hoạt động của con người Từ đó, cho thấy vai trò của nguồn nhân lực nói chung, đặc biệt là nguồn lao động chất chất lượng cao, lao

Trang 35

động trí tuệ nói riêng là hết sức cần thiết; là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với nguồn nhân lực của xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao không có cách nào khác hơn,

đó là vai trò có ý nghĩa quyết định của giáo dục và đào tạo Chính vì vậy mà Đảng

và Nhà nước ta xác định: cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu Sự nghiệp giáo dục v à đào tạo góp phần quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất lượng của nguồn nhân lực Phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam là luôn tu dưỡng học tập nâng cao trình độ; trong đó hiếu học là không thể thiếu được: “Hiếu học, trọng học là một truyền thống quan trọng của người Việt Nam, 99,12% số người được hỏi bày tỏ lòng mong muốn con cái mình được học hành, 78,13% mong muốn con cái họ có trình độ đại học và trên đại học…” [47, 52] Gắn liền với truyền thống hiếu học, trọng học là vấn đề tôn

sư trọng đạo Đây là giá trị truyền thống đang chi phối giá trị cuộc sống của con người Việt Nam hiện nay

Trong các quan hệ cộng đồng thì quan hệ gia đình là tế bào của xã hội Đối với con người Việt Nam hiện đại, cuộc sống gia đình hòa thuận, hạnh phúc theo quan niệm truyền thống là nhân tố quan trọng chí phối tâm thức của họ Đối với một số quy phạm đạo đức truyền thống như đạo hiếu, lối sống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sẵn sàng tương trợ người khác trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn là những phẩm chất tốt đẹp cần phát huy và có ý nghĩa nhất định đối với chất lượng nguồn nhân lực

Cũng cần lưu ý rằng, cuộc sống trong điều kiện kinh tế thị trường thời mở cửa

đã có không ít những tác động tiêu cực làm biến đổi những giá trị truyền thống, thậm chí có những biểu hiện tiêu cực “có tính nghiêm trọng”, “kéo dài” Nghị quyết

Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan lieu, tham nhũng, lãng phí, trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong cơ quan công quyền… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”[34, 263 - 264] Và mới đây nhất, trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI,

Trang 36

Đảng ta thẳng thắn tiếp tục xác nhận: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa

xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp” [36, 29] “Trong

cuộc điều tra xã hội học do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhằm tìm hiểu mục đích của sinh viên cho thấy 92,8% trả lời rằng: phấn đấu để có được địa

vị xã hội là mục đích gần với mong muốn của họ nhất Xếp thứ hai trong bảng giá trị là làm giàu (87,2%) Trong khi đó mục đích phấn đấu để thành đạt trong chuyên môn đứng ở vị trí gần cuối bảng (62,8%)” [47, 55]

Từ những thực trạng nêu trên, chúng ta phải xác định rằng: trong điều kiện hiện nay, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, loại bỏ những hủ tục; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại

để bảo vệ và phát triển văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc lên một tầm cao mới nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao phải toàn diện, bảo đảm cả “đức” lẫn “tài”, “vừa chuyên, vừa hồng” Chất lượng nguồn nhân lực của từng loại lao động gắn với t ừ n g l o ại nghề nghiệp, chuyên môn nhất định Ở Việt Nam hiện nay, “có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động tri thức” [71, 78]

Tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực bao gồm nhiều yếu tố: đạo đức, lối sống,

lý tưởng, trình độ, thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp, trình độ học vấn (trung học cơ sở, trung học phổ thông, Cao đẳng, Đại học, sau đại học) của dân số trong

độ tuổi lao động, trình độ tay nghề và khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học -

kỹ thuật và công nghệ trong hoạt động sản xuất và đời sống; cơ cấu nguồn lao động được đào tạo và sử dụng… Người công nhân của quá trình công nghiệp hóa, hiện

Trang 37

đại hóa có trình độ cao là người lao động theo phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và biết thêm nghề khác, thâm nhập nhanh để vận hành được máy móc

Đặc trưng nguồn nhân lực Việt Nam có trình độ học vấn khá, thông minh, cần

cù, chịu khó, sáng tạo, có khả năng nắm bắt nhanh những thành tựu mới của khoa học công nghệ trên nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường Nguồn nhân lực đã qua đào tạo từ nhiều địa chỉ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Đây là nguồn lực cơ bản cần thiết trước mắt

và tương lai để tiến hành lao động sản xuất đạt hiệu quả cao Đặc biệt, ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số lực lượng lao động Do đó, trong tiến trình phát triển, cơ cấu lao động phải được đặc biệt chú ý chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chú trọng hệ thống các chỉ số trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực

Có nhiều chỉ số đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, song ở đây chúng ta chỉ nêu một số chỉ số quan trọng nhất mà Tổ chức Liên Hiệp quốc đưa ra Chẳng hạn: chỉ số phát triển con người (Human Development Index (HDI) để đo lường kết quả

và đánh giá thành tựu phát triển con người Đây là một tiêu chí đánh giá sự tiến

bộ và phát triển của mỗi quốc gia về con người Chỉ số HDI được xây dựng với ba chỉ tiêu cơ bản là: tuổi thọ bình quân, tức là số năm sống bình quân của mỗi người dân ở một quốc gia từ khi sinh ra đến khi chết (tuổi thọ bình quân) Thành tựu giáo dục, được tính bằng trình độ học vấn của người dân và số năm đi học bình quân của mỗi người dân tính từ tuổi đi học (mặt bằng dân trí) Mức thu nhập bình quân đầu người Theo con số thống kê được công bố ngày 28/11/2010, chỉ số HDI của Việt Nam là 0,733 xếp thứ 105/177 quốc gia so với các nước kém phát triển chỉ

số là 0,518; tuổi thọ bình quân là 73,7; số người biết chữ 90,3%, trong đó tiểu học 97,5% số sinh viên đại học cao đẳng tăng 8,4% năm, chi cho ngân sách giáo dục 18%, 200 sinh viên /10.000 dân Đây là một trong những con số chứng minh làm sáng tỏ chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ngày càng được nâng lên

Trang 38

Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm đến chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI, vì đây

là chỉ số đo lường các kết quả về xóa đói giảm nghèo, bảo đảm các nhu cầu cơ bản cho tất cả mọi người Đây cũng là một trong những chỉ số thể hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bởi giải quyết tốt vấn đề này sẽ là cơ sở để sản xuất và tái sản xuất sức lao động

Trên đây là những tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng nguồn nhân lực; ngoài ra còn có các chỉ tiêu cụ thể đánh giá từng lĩnh vực, từng khía cạnh cụ thể của đời sống xã hội: y tế, giáo dục, dinh dưỡng, nước sạch, dân số, môi trường, văn hóa, tội phạm…Tuy nhiên, cần phải thấy rằng mỗi chỉ tiêu riêng lẻ chỉ đánh giá trên từng khía cạnh cụ thể, để thấy hết ý nghĩa của nó cần phải có sự phối hợp tổng thể với các chỉ tiêu khác như: HDI, GDI, HPI… thì mới đánh giá một cách đầy đủ và chính xác nhất về chỉ số phát triển con người, chất lượng nguồn nhân lực trong từng giai đoạn cụ thể theo yêu cầu sự phát triển của kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Nhu cầu của thị trường sức lao động

Điều đáng buồn nhưng vẫn phải nhắc lại là chúng ta đã chủ quan, duy ý chí, mắc phải sai lầm kéo dài hàng chục năm thời kỳ “bao cấp” đã xóa bỏ các thành phần kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa” và xóa bỏ “thị trường sức lao động” gần giống như một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã thực hiện, dù nước ta chỉ mới ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ Nhưng rất may mắn cho dân tộc Việt Nam là có một Đảng mácxít vững mạnh lãnh đạo; Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời

“sửa sai”, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đúng đắn và kịp thời; trong đó, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những thành tựu nổi bật và quan trọng nhất Qua đó, “thị trường sức lao động” được đặt ra như một tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Để phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước, chúng ta không thể không chú trọng đến thị trường sức lao động Bởi chính sự tác động của thị trường sức lao động sẽ làm thay đổi về chất

Trang 39

và lượng việc phát triển nguồn nhân lực, nó gắn với quá trình chuyển đổi nền kinh

tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Thị trường sức lao động ra đời gắn liền với sự ra đời và vận động của một loại

“hàng hóa đặc biệt” - hàng hóa sức lao động Các yếu tố cơ bản trên thị trường sức lao động trước hết và quan trọng hơn hết là hàng hóa sức lao động, là cung cầu, giá cả sức lao động

Nguồn cung và cầu về sức lao động thực chất là cung và cầu về nguồn nhân lực được hình thành từ các yếu tố khác nhau Nguồn cung về nhân lực được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác Nguồn cung còn được thể hiện từ những người đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc nguồn cung còn được thể hiện từ nguồn lao động nhập khẩu Một nguồn cung khác được bổ sung thường xuyên từ những người đến độ tuổi lao động Đối với nước ta đây là nguồn cung rất lớn với đặc điểm Việt Nam dân số trẻ

Nguồn cầu về lao động được hình thành từ các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế, các thành phần và các tổ chức kinh tế, cơ quan, tổ chức hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nước ngoài Sự tác động qua lại giữa cung cầu về sức lao động hình thành nên giá cả sức lao động và khoản thù lao mà người lao động nhận được phản ánh trạng thái cân bằng trên thị trường sức lao động

Khẳng định vai trò và tầm quan trọng của thị trường sức lao động đối với phát

triển nguồn nhân lực, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ghi rõ: “Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất

là ở khu vực nông thôn Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp Hoàn thiện cơ chế, chính sách

Trang 40

tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền” [34, 82] Đồng thời, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chính sách

xã hội cũng là một trong những nhân tố quan trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực và thị trường sức lao động Bởi lẽ, hệ thống các chính sách xã hội nhằm vào mục tiêu vì con người, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, với phương hướng phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với việc chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Và xét cho cùng, kết quả của vấn đề cung cầu diễn biến trên thị trường sức lao động sẽ dẫn đến một điểm hết sức quan trọng nữa đó là vấn đề sử dụng sức lao động - tức sử dụng nguồn nhân lực sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Nếu xét ở góc độ của vấn đề phát triển nguồn nhân lực thì việc sử dụng nguồn nhân lực là một trong những nội dung vô cùng quan trọng, bởi toàn bộ vấn đề phát triển nguồn nhân lực là để nhằm mục đích sử dụng nó một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Vì vậy, phương thức sử dụng nguồn nhân lực chính là định hướng cho việc phát triển nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng Vì vậy, cần chú ý những nội dung cụ thể của việc sử dụng nguồn nhân lực, bao gồm:

Xác định nhu cầu sử dụng nhân lực về số lượng và chất lượng cho các ngành nghề kinh tế của một quốc gia, một vùng lãnh thổ trong dài hạn, trung hạn

và ngắn hạn: việc xác định nhu cầu sử dụng nhân lực sẽ là cơ sở để xây dựng quy hoạch và triển khai các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực về cả số lượng và chất lượng theo nhu cầu của nền kinh tế;

Phân bổ hợp lý nguồn nhân lực vào các ngành nghề kinh tế để toàn dụng lực lượng lao động đang và sẽ tham gia vào từng lĩnh vực Sự hợp lý trong phân bổ lao động được thể hiện qua sự phát huy tối đa năng lực cá nhân của từng người lao động đang và sẽ tham gia vào từng ngành nghề kinh tế trong hiện tại và tương lai;

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Alvin Toffler (1991), Thăng trầm quyền lực, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng trầm quyền lực
Tác giả: Alvin Toffler
Nhà XB: Nxb. Thông tin lý luận
Năm: 1991
[2] Phan Ngọc Anh (1995), Nguồn lực con người - nhân tố quyết định của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người - nhân tố quyết định của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phan Ngọc Anh
Năm: 1995
[3] Nguyễn Thành Bang (1994), Mấy suy nghĩ về con đường hiện đại hóa đất nước ngày nay, Tạp chí Cộng sản, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mấy suy nghĩ về con đường hiện đại hóa đất nước ngày nay
Tác giả: Nguyễn Thành Bang
Năm: 1994
[4] Bộ giáo dục và đào tạo (2005), Giáo trình triết học Mác - Lênin (dùng trong các trường đại học và cao đẳng), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin (dùng trong các trường đại học và cao đẳng)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[5] C. Mác – Ph. Ăngghen (1971), Gia đình thần thánh, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình thần thánh
Tác giả: C. Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1971
[6] C. Mác và Ph. Ăngghen (1945), Toàn tập, tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1945
[7] C. Mác và Ph. Ăngghen (1971), Tuyển tập, tập II, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập II
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1971
[8] C. Mác và Ph. Ăngghen (1981), Tuyển tập, tập VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập VI
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1981
[9] C. Mác và Ph. Ăngghen (1988), Tư Bản, quyển 1, tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư Bản, quyển 1, tập 1
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1988
[12] Cục thống kê tỉnh Tây Ninh (2010), Niên giám thống kê Tây Ninh 2009, XN. In thống kê TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Tây Ninh 2009
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Tây Ninh
Năm: 2010
[13] Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
[14] Nguyễn Trọng Chuẩn (1990), Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000, Tạp chí Triết học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1990
[15] Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), Nguồn lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Triết học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
[16] Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), Nguồn nhân lực và phát triển, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực và phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
[17] Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), Để khoa học, công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để khoa học, công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
[18] Nguy ễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguy ễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[19] Vũ Huy Chương (2002), Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Vũ Huy Chương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[20] Nguyễn Khắc Chương (2003), Công tác đào tạo đại học, cao đẳng, ngành nghề để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đào tạo đại học, cao đẳng, ngành nghề để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Khắc Chương
Năm: 2003
[21] Hoàng Đình Cúc (2008), Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Năm: 2008
[22] Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w