Cảm ơn chị Phạm Thị Quỳnh Trang, bạn Nguyễn Văn Đạo và các bạn khác đã hỗ trợ tôi về tư liệu, phụ lục; cảm ơn những ý tưởng đã giúp tôi gợi mở vấn đề; cảm ơn những người bạn đã quan tâ
Trang 1-
HUỲNH BÁ LỘC
QUÁ TRÌNH TIẾP XÖC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH
VỚI CÁC SĨ PHU VIỆT NAM TRƯỚC KHI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
(1895 - 1911)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 08/2010
Trang 2-
HUỲNH BÁ LỘC
QUÁ TRÌNH TIẾP XÖC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH
VỚI CÁC SĨ PHU VIỆT NAM TRƯỚC KHI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
(1895 - 1911)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS HÀ MINH HỒNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 08/2010
Trang 3dùm tôi vì cho rằng đây là đề tài khó Có người khuyên tôi nên chọn đề tài khác…
Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn giữ ý định Và đến lúc này luận văn đã được hoàn thành Tôi xin được cảm ơn những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin được cảm ơn Thầy, PGS.TS Hà Minh Hồng! Người thầy chỉ dẫn tôi từng bước trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học Là người hướng dẫn, Thầy đã định hướng và động viên để tôi luôn giữ vững niềm tin trong những lúc còn phân vân về đề tài Lúc tôi gặp khó khăn, Thầy đã dành cho tôi những lời khích lệ
để tôi vượt qua Tôi xin cảm ơn Thầy, với sự tri ân sâu sắc nhất của mình!
Tôi cũng xin được cảm ơn quý Thầy, Cô đã dạy tôi trong các buổi lên lớp ở giảng đường; xin cảm ơn những lời chỉ bảo từ những ngày tôi mới làm quen với khoa học; cảm ơn những góp ý về đề cương, nội dung đề tài; cảm ơn sự quan tâm, nhắc nhở, chia sẻ và những lời khuyên chân thành; cảm ơn những lo ngại cho tôi khi biết tôi thực hiện đề tài này,
Cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, những người tôi có thể tìm đến khi gặp khó khăn, những người đã dành cho tôi thời gian để tôi có thể chú tâm nghiên cứu Cảm
ơn chị Phạm Thị Quỳnh Trang, bạn Nguyễn Văn Đạo và các bạn khác đã hỗ trợ tôi
về tư liệu, phụ lục; cảm ơn những ý tưởng đã giúp tôi gợi mở vấn đề; cảm ơn những người bạn đã quan tâm, lắng nghe tôi tâm sự, trực tiếp hoặc qua những cuộc gọi, những tin nhắn, dẫu có lúc bạn còn chưa biết việc tôi đang làm…,
Xin gửi lời cảm ơn đến nhà văn Sơn Tùng, các nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, Trần Minh Siêu, Chu Trọng Huyến đã bỏ thời gian để tiếp chuyện, hỗ trợ tư liệu và gợi cho tôi nhiều ý tưởng; cảm ơn bác Phạm Xuân Cần (Sở Khoa học và Công Nghệ - Nghệ An), chú Trần Thanh (Phòng Văn hoá thông tin Thành phố Huế)
đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài,
Cảm ơn sự tận tình của các Phòng ban Trường ĐHKHXH&NV, của Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Bình Định, Bảo tàng Hồ Chí Minh - Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Khu di tích Kim Liên, Dục Thanh, Phòng Văn hoá thông tin Thành phố Huế,… cảm ơn những người tôi đã gặp và chỉ cho tôi những địa chỉ, ngôi nhà, con đường Nguyễn Tất Thành đã đi qua thời thiếu niên và thanh niên,
Và gia đình, nơi luôn là chỗ dựa cho tôi trong học tập và công việc, nơi luôn dành cho tôi niềm tin và sự ủng hộ trong mọi hoàn cảnh
Tôi cũng xin được cảm ơn những người sẽ góp ý cho tôi những điểm còn sai sót để tôi có thể hoàn thiện đề tài của mình tốt hơn trong thời gian tới
Một lần nữa, xin gửi đến tất cả mọi người lời cảm ơn chân thành của mình!
Tác giả - 8/2010!
Trang 4trang
MỞ ĐẦU 01
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 01
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 03
3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
4 Kết cấu của đề tài 14
CHƯƠNG 1: QUÊ HƯƠNG, GIA ĐÌNH VÀ TUỔI THƠ NGUYỄN SINH CÔN 15
1.1 Trung kỳ và Nghệ Tĩnh thời thuộc địa 15
1.2 Gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc 21
1.3 Tuổi thơ Nguyễn Sinh Côn trên đất Nam Đàn 32
CHƯƠNG 2: NGUYỄN SINH CÔN NHỮNG NĂM ĐẦU ĐI HỌC TRÊN ĐẤT THỪA THIÊN HUẾ (1895 - 1901) 43
2.1 Từ quê hương Nghệ Tĩnh vào kinh thành Huế 43
2.2 Huế thời thuộc địa với tuổi thơ Nguyễn Sinh Côn 48
2.3 Nguyễn Sinh Côn học chữ từ các sĩ phu 55
Trang 5NGHỆ AN VÀ HUẾ - TỪ VAI TRÕ THÔNG NGÔN ĐẾN TÌM
CHÍ HƯỚNG (1901 - 1908) 65
3.1 Nguyễn Tất Thành thọ giáo các sĩ phu ở Nghệ An 65
3.2 Hình thành dần nhân cách thế hệ mới 79
3.3 Nguyễn Tất Thành trở lại Huế, theo gương các sĩ phu trong phong trào Duy tân 92
CHƯƠNG 4: NGUYỄN TẤT THÀNH TIẾP CHÍ HƯỚNG CÁC SĨ PHU VÀ HÀNH TRÌNH TRƯỚC KHI RA ĐI TÌM ĐƯỚNG CỨU NƯỚC (1908 - 1911) 116
4.1 Nguyễn Tất Thành rời Huế vào Bình Định 116
4.2 Dạy học ở trường Dục Thanh (Bình Thuận) 123
4.3 Nguyễn Tất Thành ở Sài Gòn (2/1911 - 5/6/1911) 131
KẾT LUẬN 143
PHỤ LỤC 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 233
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu:
Rosa Luxemburg - người được Lénine gọi là “người đại biểu chân chính nhất của chủ nghĩa Marx”, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc ở thế kỷ XIX
đã từng viết về mình: “Phải có một người nào đó tin tôi nói điều này: vì lạc lối
mà tôi quay cuồng trong cơn lốc của lịch sử thế giới; tôi sinh ra vốn để ngắm nhìn mấy con ngỗng” Sự lạc lối mà Rosa Luxemburg nói đến đó chính là định mệnh thời khắc đã sinh ra bà Có mấy ai sinh ra đã muốn lao vào vòng tranh đấu? Nhưng vì họ sinh ra trong hoàn cảnh mà áp bức bất công vẫn còn
đè nén, nhân dân còn thân phận nô lệ, và với tình thương yêu của mình, họ đã chấp nhận bước vào những cuộc hành trình gian khổ để giải phóng con người Nếu họ sinh ở một thời kỳ khác, được sống trong một đất nước thanh bình, họ
sẽ là những người sống yên vui
Nhưng số phận lãnh tụ luôn gắn liền với số phận dân tộc Nguyễn Tất Thành được sinh ra khi Việt Nam đã rơi vào tay thực dân Pháp, mỗi người dân đều đang rên siết dưới chế độ thuộc địa trên chính đất nước của họ Người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với lòng yêu nước, thương dân thiết tha
đã chọn con đường đi cho mình
Làm rõ hành trình Nguyễn Tất Thành từ năm 1895 đến 1911 sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khoa học trong việc hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh ở các giai đoạn sau Đây là giai đoạn căn bản trong những nhận thức đầu tiên của người thanh niên yêu nước về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về tình hình, xu thế của đất nước và dân tộc; là giai đoạn hình thành căn bản nhân cách và tư tưởng Từ đó Người có những nhận định, hành động cho riêng mình và cuối cùng đi đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước
Trang 7Trong hành trình của Nguyễn Tất Thành trước khi rời Tổ quốc, việc tập trung nghiên cứu mối quan hệ và quá trình tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với các sĩ phu Việt Nam đầu thế kỷ XX nhằm giải quyết những vấn đề khoa học và thực tiễn, góp phần phân tích để làm rõ hơn quá trình chuyển biến trong nhận thức của Nguyễn Tất Thành từ lúc còn mang tên Nguyễn Sinh Côn đến học sinh trường Quốc học Huế và trên bước đường xuôi dần về phía Nam
Tổ quốc Từ đó đưa ra những bằng chứng, lập luận thuyết phục để lý giải và trả lời cho những hành động có tính quyết định của Nguyễn Tất Thành đến ngày ra đi tìm đường cứu nước Bởi như Karl Marx đã từng nói: “lịch sử của
cá nhân hoàn toàn không thể tách rời mà là bị quy định bởi lịch sử của các cá nhân tiền bối hoặc cùng thời với họ”
Nghiên cứu mối quan hệ và quá trình tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với đội ngũ sĩ phu Việt Nam, nhất là sĩ phu cấp tiến trước lúc ra đi tìm đường cứu nước sẽ góp phần tìm hiểu vai trò cũng như những ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, của hoàn cảnh đất nước, của những luồng tư tưởng mới đối với Nguyễn Tất Thành lúc bấy giờ, họ là những đại biểu ưu tú nhất cho dân tộc, những người góp phần thức tỉnh nhân dân Việt Nam vào đầu thế kỷ XX
Nghiên cứu quá trình này cũng góp phần bổ sung lý luận cho việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn sau Thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tên Nguyễn Tất Thành có vai trò to lớn trong việc hình thành tư tưởng của Người về nhiều vấn đề, trong đó tiêu biểu là các vấn đề lớn như: tư tưởng yêu nước và tinh thần quốc gia dân tộc,
tư tưởng nhân văn, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, Trong thời gian đó, các sĩ phu Việt Nam đương thời đã có những ảnh hưởng to lớn đối với sự hình thành nhân cách và nhận thức của Nguyễn Tất Thành Không những thế, tầng lớp sĩ phu này còn là những người góp phần đưa Nguyễn Tất Thành từng bước đến
Trang 8với hệ tư tưởng mới và hỗ trợ lớn cho anh trên những chặng đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước
Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài “Quá trình tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với sĩ phu Việt Nam trước khi ra đi tìm đường cứu nước (1895 - 1911)” làm Luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Từ đầu những năm 50 đến nay, nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiều ngành, nhiều giới
từ Trung ương đến địa phương Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về Hồ Chí Minh trên nhiều mặt từ tư tưởng đến cuộc đời, sự nghiệp và mối quan hệ của Hồ Chí Minh với nhiều bộ phận, tầng lớp trong xã hội Việt Nam cũng như trên thế giới, cũng đã có nhiều thư mục về
Hồ Chí Minh để phục vụ công tác học tập và nghiên cứu
Về tư tưởng đã có nhiều công trình nghiên cứu trên hầu hết các lĩnh vực từ tư tưởng yêu nước đến các vấn đề về lý luận, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, con đường cách mạng Việt Nam,…
Trong khi đó trên bình diện nghiên cứu về thân thế, con người, cuộc đời và sự nghiệp cũng được quan tâm từ rất sớm, cho đến nay đã có rất nhiều công trình về tiểu sử, sự nghiệp, hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh do nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện… Thông qua những công trình đó, thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các giai đoạn được hiện lên một cách trân trọng và đầy khâm phục
Trong vài năm gần đây, Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện Chính trị -
hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và xuất bản công trình Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (do giáo sư Đặng Xuân Kỳ chủ biên) giới thiệu
cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lúc được sinh ra cho đến lúc qua đời Đây là công trình sưu tầm công phu, đầy đủ nhất về mặt tư liệu trong
Trang 9những năm hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cung cấp cho nhân dân và giới nghiên cứu những nguồn tư liệu quý để có thể hiểu ngày càng rõ hơn về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Về nghiên cứu giai đoạn trước lúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước cũng được nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, chúng ta có thể chia làm ba dạng: hồi ký, tiểu thuyết lịch sử, kịch bản điện ảnh; các sách, công trình, luận văn, luận án, báo cáo khoa học trên các tạp chí; và các hội thảo
Đối với các dạng hồi ký, tiểu thuyết lịch sử, kịch bản điện ảnh:
Về tác phẩm là tiểu thuyết lịch sử có thể kể đến Búp sen xanh, Bông sen vàng của Sơn Tùng, Cha và con của Hồ Phương… Đây là những tác
phẩm viết về thời thơ ấu và thiếu niên, thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình cảm sâu nặng của người viết, thông qua đó các tác giả cũng khắc họa hình ảnh người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong dòng chảy của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải thích truyền thống quê hương, gia đình, văn hóa dân tộc kết tinh trong nhận thức và hành động của người thanh niên yêu nước ấy
Ngoài ra còn phải kể đến một số tác phẩm hồi ký, ký, truyện kể đã cung cấp những tư liệu quan trọng về Hồ Chí Minh giai đoạn trước lúc xuất dương
như Đường Bác Hồ đi cứu nước, Thời thanh niên của Bác Hồ của Hồng Hà,
Từ làng Sen đến Bến Nhà rồng của Trình Quang Phú, Thư ký Bác Hồ kể chuyện của Vũ Kỳ, Chuyện kể từ làng Sen của Chu Trọng Huyến, Kể chuyện
cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc của Bùi Thu Hà, Bác Hồ với nhân sĩ trí thức của Trần Đương, Bác Hồ - hồi ký của nhiều tác giả, kịch bản phim Hẹn gặp lại Sài Gòn của Sơn Tùng, Ký sự Hành trình theo chân Bác của hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và gần đây là Nhìn ra biển cả với kịch
bản của Nguyễn Thị Hồng Ngát
Trang 10Các tác phẩm nêu trên chủ yếu dưới dạng tiểu thuyết lịch sử, hồi ký,
ký Vì thế dù các tác giả đã cố gắng khách quan trong việc nghiên cứu về tuổi trẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì trong một số tác phẩm vẫn có chi tiết được
hư cấu để phục vụ cho yêu cầu của thể loại và mục đích tác giả Tuy nhiên, những tác phẩm này đã cung cấp nhiều sử liệu quý, phong phú có thể dùng đối chiếu, phân tích về thời thơ ấu cũng như thời thanh niên của Nguyễn Tất Thành
Về các Hội thảo, các cơ quan từ Trung ương đến địa phương như Bảo
tàng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia, Tỉnh uỷ địa phương,… đã tổ chức nhiều đợt khảo sát, nhiều Hội thảo khoa học liên quan đến giai đoạn Nguyễn Tất Thành còn ở trong nước, bên cạnh đó cũng có nhiều tập chuyên san về Chủ tịch Hồ Chí Minh được xuất bản; có thể kể ra một số tài liệu, Hội thảo như:
- Các tài liệu khảo sát hện có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Ban Quản lý các khu di tích Hồ Chí Minh
- Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ tại Nghệ An năm 1970
- Cuộc gặp gỡ toạ đàm với các học trò của thầy giáo Nguyễn Tất Thành năm 1910 ở trường Dục Thanh do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thuận Hải tổ chức năm 1987
- Hội thảo Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng
Trang 11- Hội thảo Đi theo con đường Bác Hồ đã chọn, tổ chức tại Thành phố
Hồ Chí Minh ngày 3/6/1993
- Hội thảo Nguyễn Tất Thành ở Bình Định của Tỉnh uỷ Bình Định, năm
1990 và 2009
- Hội thảo: Bác Hồ - tuổi 20 tìm đường cứu nước của Bảo tàng Hồ Chí
Minh - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001
- Hội thảo Nghiên cứu, xác minh tư liệu và di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1890 - 1911 của Bảo tàng Hồ Chí Minh - Thừa Thiên Huế năm
2008
- Hội thảo Nghiên cứu xác minh giá trị di tích và tư liệu về sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh) sống và dạy học ở Phan Thiết, Bình Thuận thời kỳ cuối 1910 đến đầu 1911 của Bảo tàng Hồ Chí Minh
Về cơ bản, các Hội thảo trên đã thu thập được một lượng tư liệu lớn trong giai đoạn của Nguyễn Tất Thành từ năm 1895 đến 1911 Nguồn tư liệu này có tư liệu có thể xác thực, cũng có những tư liệu còn cần phải nghiên cứu thêm Ba Hội thảo gần nhất tại Huế, Bình Định, Phan Thiết đã cho thấy được
sự ảnh hưởng của truyền thống quê hương, môi trường giáo dục gia đình, các mối quan hệ xã hội đến nhận thức của Nguyễn Tất Thành và xác minh được
cơ bản những vấn đề như: tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc còn nhỏ, thời gian Nguyễn Sinh Côn sống ở Nghệ An, Huế; các nơi ở, việc học tập tại các
Trang 12trường, tham gia đấu tranh chống thuế…; đưa ra một số vấn đề cần giải quyết như năm sinh, thời gian rời Huế, Bình Định, Phan Thiết, về người em của Nguyễn Sinh Côn,… Trong các Hội thảo đó, các mối quan hệ, các cuộc tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với sĩ phu cũng được nêu lên ở một vài tư liệu
Về các sách, công trình, luận văn, luận án, báo cáo khoa học trên các tạp chí có thể nêu ra một số tác phẩm, công trình như sau:
Tác phẩm đầu tiên có thể kể đến là tác phẩm Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên Tác phẩm này được xuất bản
lần đầu tiên năm 1948, cung cấp nhiều tư liệu quan trọng về đời hoạt động
của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cho đến nay, cùng với các tác phẩm như Vừa đi đường vừa kể chuyện của T Lan, Hồ Chí Minh tiểu sử (và sự nghiệp) của Ban
Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, tác phẩm của Trần Dân Tiên đã được tái bản nhiều lần và luôn được các nhà khoa học xem là một tài liệu chính thức khi nghiên cứu và viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bên cạnh các tác phẩm trên, các công trình như Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, Bác Hồ thời niên thiếu của Bùi Ngọc Tam, Nguyễn Tất Thành ở Bình Định của Đỗ
Quyên… đã cung cấp thêm những tư liệu quý, góp phần làm sáng tỏ những cuộc tiếp xúc đầu tiên của Nguyễn Tất Thành với các sĩ phu Việt Nam, cùng
với việc tiếp xúc tư tưởng mới Trong đó, khi thực hiện công trình Ho Chi Minh, A life, nhà sử học Mỹ Wiliiam J Duiker đã trích dẫn lại tài liệu của Nguyễn Đắc Xuân đến 12 lần Ngoài ra còn có những tác phẩm như Nguyễn
Ái Quốc của tác giả Việt Nam (xuất bản tại Trung Quốc năm 1946 - in lại trong 50 năm chân dung một con người của Nguyễn Văn Khoan), công trình Vàng trong lửa của nhóm Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng… Đến những công trình chung như Hồ Chí Minh tiểu sử của Bảo tàng Hồ Chí Minh (2008),
Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử của Viện Hồ Chí Minh (2006), Hồ Chí Minh
Trang 13tiểu sử của Song Thành (chủ biên - 2006, 2010), Hồ Chí Minh chân dung một tâm hồn và trí tuệ vĩ đại của giáo sư Trần Văn Giàu (2010)… cũng đóng góp
nhiều mặt về tư liệu
Một số luận văn, luận án liên quan đến hành trình của Nguyễn Tất Thành và quá trình tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với các sĩ phu yêu nước
Việt Nam trước khi ra đi tìm đường cứu nước như: Luận án tiến sĩ Tìm hiểu quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin của Đức Vượng (1985), Viện Sử học, Hà Nội, Luận án tiến sĩ Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh của Nguyễn Mạnh Tường (1999), Viện Triết học, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quê hương - gia đình một yếu tố quan trọng góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh của Nguyễn Hữu Hiếu (1997)
Học viện Chính trị - hành chính quốc gia, Hà Nội,
Ngoài ra còn nhiều công trình khác có nghiên cứu về hoạt động của Nguyễn Tất Thành tại những nơi người thanh niên yêu nước đã đi qua ở các địa phương như Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bình Thuận, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh… Hay những bài viết về hành trình Nguyễn Tất Thành, về
sự lựa chọn con đường xuất dương cũng được các cơ quan, tổ chức thực hiện
trong vòng mấy mươi năm qua Bên cạnh đó trên những tạp chí như Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Đảng, Giáo dục, Sự kiện và nhân chứng; các báo Đại đoàn kết, Nhân dân, Sài Gòn giải phóng, các báo địa phương và các chuyên
san,… nhiều bài viết đã cung cấp những tư liệu và góc nhìn khác nhau về Hồ Chí Minh giai đoạn mang tên Nguyễn Sinh Côn và Nguyễn Tất Thành, có một số bài liên quan trực tiếp đến đề tài như: “Hồ Chí Minh và các nhà yêu
nước tiền bối” của Lê Hữu Phước (2000), in trong Mãi mãi theo người Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, “Sự hình
thành và phát triển nhân cách Hồ Chí Minh ở giai đoạn Người mang tên
Trang 14Nguyễn Tất Thành” của Trần Tuấn Lộ (1990), in trong Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục, Sự thật - Giáo dục, Hà Nội,…
Thông qua các các bài viết, chúng ta có thể thấy được một phần mối quan hệ và những cuộc tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với các sĩ phu yêu nước Việt Nam như Đào Tấn, Vương Thúc Quý, Phan Bội Châu, Lê Văn Miến, Hoàng Thông, Lê Đình Mộng, Nguyễn Qúy Anh, Nguyễn Trọng Lội, Trương Gia Mô… Song đó chỉ là những phác hoạ còn rời rạc, chưa làm rõ vai trò to lớn của tầng lớp sĩ phu đối với nhân cách, nhận thức và sự lựa chọn con đường xuất dương của Nguyễn Tất Thành
Về quá trình tiếp xúc cũng như những ảnh hưởng và vai trò của các sĩ phu yêu nước Việt Nam đối với Nguyễn Tất Thành, chúng ta có thể thấy rõ nhất là ảnh hưởng và vai trò của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, người cha và cũng là người thầy đầu tiên của Nguyễn Tất Thành Đó là những nhận định trong các Hội thảo về Nguyễn Sinh Sắc và các công trình nghiên cứu về cụ của các nhà nghiên cứu như giáo sư Trần Văn Giàu, tác giả Nguyễn Đắc Hiền, Nguyễn Hữu Hiếu,…
Có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã quan tâm đến cuộc đời
và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ có những công trình cung cấp một
số tư liệu xác tín để bổ sung cho các công trình trong nước “Theo thống kê, cho đến nay (năm 2005) có trên 200 tác phẩm và các công trình nghiên cứu, hàng trăm tạp chí, hàng ngàn bài báo của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, triết học, tâm lý học, nhân chủng học, văn hóa học, các nhà thơ, các phóng viên của các tờ báo lớn trên thế giới… viết về Hồ Chí Minh”[56, tr.37]
Chúng ta
có thể kể đến E Cobelép, William J Duiker, Sophie Quinn - Judge, Pieerr Brocheux, Jean Lacouture, David Halberstam, Bernard Fall, Jeane Sainteny, Kataép, Lăng Kỳ Hàng, Hoàng Tranh,… và một số người Việt Nam ở nước ngoài như Thu Trang, Huỳnh Kim Khánh, Nguyễn Văn Huyên,… Trong đó,
Trang 15một số tác phẩm có giá trị về mặt tư liệu đáng chú ý như Ho Chi Minh, a biography của Jean Lacouture, tác giả đi sâu vào nội tâm Nguyễn Tất Thành
trong bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế Việt Nam mà Nguyễn Tất Thành
“đẫm mình”, cả ở những khúc ngoặc quanh co”[129, tr.56], hay như Ho Chi Minh
- a life của William J Duiker, tác giả “đã thành công trong bức tranh toàn
cảnh, tổng hợp về cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh”[129, tr.57]
, và các tác
phẩm khác như Ho Chi Minh, the missing years, 1919-1941 của Sophie Quinn
- Judge; Ho Chi Minh của Pierre Brocheux; Ho của David Halberstam, Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917 - 1923) của Thu Trang…
Có thể thấy, quá trình tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với các sĩ phu yêu nước Việt Nam đã được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết khác nhau Song cho đến nay, sự đề cập đó vẫn còn dưới dạng những tư liệu rời rạc, có những tư liệu dưới dạng hồi ký… với một số sử liệu, thông tin cần được đối chiếu và xác minh Bên cạnh đó, những công trình được công bố vẫn chưa vạch lên được một sự tiếp xúc xuyên suốt và mối quan hệ của Nguyễn Tất Thành với những sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế
kỷ XX, nhất là giai đoạn từ lúc học tập tại Nghệ An, Huế đến lúc ra đi tìm đường cứu nước
3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu:
Với đối tượng nghiên cứu được xác định như tên đề tài, quá trình nghiên cứu được thực hiện dựa trên hai phương pháp cơ bản của nghiên cứu lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử sẽ giúp tác giả ghi lại sự tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành đối với các sĩ phu Việt Nam qua từng thời kỳ trước khi ra đi tìm đường cứu nước Qua đó làm hiện lên quá trình tiếp xúc phong phú với nhều mức
độ, dạng thức khác nhau trong môi trường giáo dục có tính định hướng yêu nước, thương dân đối với Nguyễn Tất Thành Đó là quá trình tiếp xúc với
Trang 16nhiều con người, nhiều quan điểm, nhiều chí hướng của đội ngũ sĩ phu đương thời Quá trình đó hiện lên với hành trình của Nguyễn Tất Thành từ Nghệ An vào Huế và những nơi trên bước đường đi về phía Nam đất nước
Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc ra đi tìm đường cứu nước, những sử liệu có được sẽ rời rạc, không liên tục Vì vậy phương pháp logic sẽ rất quan trọng trong việc giúp tác giả xâu chuỗi, hệ thống lại những
sử liệu về quá trình tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với tầng lớp sĩ phu đương thời, nhìn thấy được các đặc điểm trong quá trình tiếp xúc và vai trò của quá trình tiếp xúc này đối với sự hình thành nhân cách và tư tưởng Nguyễn Tất Thành nói chung và sự lựa chọn con đường ra đi tìm đường cứu nước nói riêng Sự kết hợp hai phương pháp lịch sử và logic là yêu cầu cơ bản đối với việc nghiên cứu đề tài, vừa làm cho đề tài mang tính định lượng cụ thể, vừa mang tính định tính để có thể thấy được bản chất của quá trình tiếp xúc
Ngoài ra, đối với đề tài này, tác giả còn sử dụng các phương pháp như phương pháp mô tả để phục dựng sinh động quá trình tiếp xúc với sĩ phu và hành trình của Nguyễn Tất Thành; phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm xác minh giá trị các sử liệu có được; phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm lý giải các vấn đề khoa được nêu ra; phương pháp điền dã, quan sát; phương pháp nghiên cứu liên ngành,…
Về nguồn tư liệu của đề tài, tác giả đã tiếp cận nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhưng đối với đề tài liên quan đến thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những nguồn tư liệu khoa học có thể có được là không nhiều Tác giả
Nguyễn Đắc Xuân, trong công trình Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác
Hồ ở Huế đã kể cho ta nghe câu chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với ông
Nguyễn Đình Hoan - một cán bộ của Bảo tàng Hồ Chí Minh khi ông này đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại chuyện thời niên thiếu của mình: “Thời thơ
ấu của Bác cũng giống như các cháu nhỏ bây giờ thôi Bác cũng nghịch
Trang 17ngợm, cũng vọc đất, cũng nhác học và cũng bị mẹ đánh đòn Các chú thấy các cháu bây giờ thế nào thì thời thơ ấu ngày xưa của Bác cũng như thế ấy”[100, tr.14]
Với lời nói đó, chúng ta hiểu rằng muốn nghiên cứu các vấn đề trong giai đoạn tuổi thiếu niên, thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vấn đề tư liệu là một vấn đề khó khăn, vả lại sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất ít nói về mình
Trong quá trình thực hiện đề tài, các tư liệu gốc hiện nay tác giả có thể tiếp cận để nghiên cứu rất hạn chế, những tư liệu tác giả có được chủ yếu thông qua các sách, công trình, các bài nghiên của các nhà nghiên cứu trước
đó, hoặc những tư liệu tại các đơn vị có liên quan Nghiên cứu cuộc đời Nguyễn Tất Thành thời kỳ này đã khó, nghiên cứu về mối quan hệ và tiếp xúc với sĩ phu lại càng khó hơn Tác giả xem xét sự tiếp xúc của Nguyễn Tất Thành với các sĩ phu trên hai phương diện Thứ nhất là những cuộc gặp gỡ, trao đổi, thọ giáo trực tiếp và thứ hai là sự tiếp xúc về mặt nhận thức, tiếp xúc qua tư tưởng, chí hướng bằng cách đọc các tác phẩm, tham gia vào các hoạt động liên quan
Ngay cả các tư liệu hồi ký, ngoại trừ một vài tư liệu tác giả có được từ các bảo tàng, các khu di tích và những nhà nghiên cứu đi trước, tác giả đã không gặp được ai có mối liên hệ với Chủ tịch Hồ Chí Minh thuở thiếu thời
Đó là hạn chế về mặt thời gian không thể vượt qua được Đối với một số nhà nghiên cứu trước, họ cũng không thể trực tiếp mà chỉ có thể gặp con cháu của những người đã sống cùng thời với Chủ tịch Hồ Chí Minh,…
Tuy nhiên ở khía cạnh khác, những sách, công trình, bài viết về Hồ Chí Minh chúng ta cũng có thể tìm thấy rất nhiều thông qua các phương tiện khác nhau, và có thể sẽ không tiếp cận hết Bên cạnh những tài liệu khoa học, dạng tài liệu này còn có những tài liệu ngợi ca, cũng có những tài liệu mang tính
Trang 18xuyên tạc Việc tiếp cận và xử lý những tư liệu đó về mặt khoa học là việc không dễ
Vì vậy, thực hiện đề tài này, công tác tư liệu gặp nhiều khó khăn lớn Cho đến khi hoàn thành, số tư liệu trong tay tác giả có tính thuyết phục về mặt khoa học là không nhiều (số tư liệu gốc càng ít hơn) Do đó, trong khả năng của mình, tác giả đã cố hết sức để có thể xử lý và sử dụng các nguồn tư liệu một cách tốt nhất Tác giả cũng xác định rằng tư liệu chỉ là đường dẫn, nhiệm
vụ của tác giả là phải từ đường dẫn đó, đi sâu vào bản chất của vấn đề Nhưng đây là một việc khó
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã thực hiện tiếp cận tài liệu từ các nguồn sau:
- Các văn bản hiện được công bố của các cơ quan mật thám Pháp, các tài liệu trong châu bản triều đình Huế có liên quan đến giai đoạn Nguyễn Tất Thành trước năm 1911, một số hồi ký, mẫu chuyện được lưu tại các chi nhánh của Bảo tàng Hồ Chí Minh Do tài liệu ít, cũng do khả năng ngoại ngữ hạn chế của tác giả, những tài liệu này tác giả chỉ sử dụng các bản dịch được lưu tại các bảo tàng, hay được tác giả khác đưa vào các công trình của mình dưới dạng phụ lục
- Nguồn tài liệu thứ hai là các công trình nghiên cứu về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong và ngoài nước Đặc biệt là các sách, công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh giai đoạn trước khi ra đi tìm đường cứu nước hoặc các công trình liên quan…
- Nguồn tài liệu thứ ba là các kỷ yếu Hội thảo Khoa học có liên quan đã được tổ chức, các bài chuyên khảo, các mảng tư liệu về sự kiện, cá nhân, các báo cáo khoa học được công bố trên các phương tiện khác nhau
Trang 194 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Quê hương, gia đình và tuổi thơ Nguyễn Sinh Côn
Chương 2: Nguyễn Sinh Côn những năm đầu đi học trên đất Thừa
Thiên Huế (1895 - 1901)
Chương 3: Nguyễn Tất Thành thọ giáo các sĩ phu ở Nghệ An và Huế -
từ vai trò thông ngôn đến tìm chí hướng (1901 - 1908)
Chương 4: Nguyễn Tất Thành tiếp chí hướng các sĩ phu và hành trình
trước khi ra đi tìm đường cứu nước (1908 - 1911)
Trang 20CHƯƠNG 1:
QUÊ HƯƠNG, GIA ĐÌNH
VÀ TUỔI THƠ NGUYỄN SINH CÔN
1.1 Trung kỳ và Nghệ Tĩnh thời thuộc địa:
Dải đất miền Trung rất hẹp, và trải dài so với hai đầu của Việt Nam, nhìn vào đó người ta có thể liên tưởng đến hình ảnh của một đất nước nhỏ bé, phải luôn luôn đấu tranh để vươn lên trong đời sống nhằm giành quyền sinh tồn Lịch sử Việt Nam nói lên rằng, miền Trung luôn là nơi chịu nhiều thiên tai, đời sống xã hội khó khăn, cũng là nơi có nhiều cuộc đấu tranh mạnh mẽ trước áp bức bất công qua các thời kỳ
Từ khi triều đình Nhà Nguyễn ký với Pháp hiệp ước Patonotre vào năm
1884, Trung kỳ là nơi được đặt dưới chế độ “nửa bảo hộ”, một tên gọi dùng
để phân biệt với Bắc kỳ và Nam kỳ, nhưng thực chất là cùng một thực trạng thuộc địa!
Tuy nhiên ở Trung kỳ, triều đình Nhà Nguyễn vẫn còn tại vị, hình ảnh nhà vua, triều đình và bộ máy quan lại vẫn còn đó, dù rằng sự tồn tại của nó được đảm bảo bởi chính quyền thuộc địa tại đây Trung kỳ là nơi thể hiện rõ nét sự cấu kết giữa hai thế lực trong đời sống chính trị, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, cũng là nơi có bầu không khí chính trị ngột ngạt nhất, vì thế, nơi đây luôn là nơi có phong trào đấu tranh mạnh mẽ, xuyên suốt kể từ khi quân Pháp đặt chân đến Sơn Trà - Đà Nẵng đến khi bị buộc phải rút khỏi đất nước này
Càng là vùng đất chịu nhiều thiên tai, chịu nhiều áp bức, những con người Trung kỳ càng có tình yêu quê hương, yêu nước thiết tha Trong những năm cuối của thế kỷ XIX đến những năm đầu của thế kỷ XX, người ta thấy Trung kỳ trở thành trung tâm của phong trào đấu tranh yêu nước ở Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, cũng là trung tâm của những cuộc hô hào đổi
Trang 21mới, duy tân Những cái tên ta có thể nhắc đến trong buổi đầu chống thực dân Pháp như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Định, Nguyễn Trung Trực… đều là những người con của miền Trung Việt Nam Rồi thời kỳ phong trào Cần Vương bùng nổ, cả Bắc kỳ và Trung kỳ đều nổ ra các cuộc đấu tranh mạnh mẽ, nhưng cuộc khởi nghĩa kéo dài và tiêu biểu nhất, đó là cuộc đấu tranh của Phan Đình Phùng với căn cứ Hương Khê, một vùng núi của quê hương Hà Tĩnh Ngoài ra, là các cuộc đấu tranh khắp nơi, kéo dài từ Nghệ
An, Hà Tĩnh đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa… Qua những năm đầu thế kỷ XX, một phần không thể thiếu trong lịch sử Việt Nam
là sự xuất hiện của các phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản Người ta không thể không nhắc đến hai chí sĩ họ Phan cùng với các đồng chí của mình như Nguyễn Hàm, Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng,… những nhà lãnh đạo của phong trào Đông Du và Duy tân, những con người của vùng đất cằn cỗi Trung kỳ Nơi đây cũng là nơi bùng nổ cuộc đấu tranh trực diện, tập thể đầu tiên của nông dân Việt Nam với thực dân Pháp, đó là cuộc đấu tranh chống sưu thuế, mà Nguyễn Ái Quốc gọi là cuộc
“dân dậy” năm 1908 Trung kỳ, là nơi thể hiện rõ nét đời sống nô lệ, những bất công và sự phản kháng của nhân dân Việt Nam dưới thời thuộc địa
Thuộc Trung kỳ, Nghệ Tĩnh là một vùng đất nổi tiếng Là vùng đất có thiên nhiên phong phú nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt, những người nơi đây luôn phải đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh với áp bức bất công xã hội, bảo vệ độc lập dân tộc; cũng là nơi hiếu học, là đất khoa bảng, trí thức; là xứ
sở sản sinh, hoặc nuôi dưỡng thi thân, những tâm hồn, những khí phách lớn Người ta có thể liên tưởng, cái nắng nóng bỏng rát, những cơn bão, sự cuồng
nộ của thiên nhiên hàng năm cũng góp phần hình thành nên tính cách đặc trưng của những người con xứ Nghệ, mà ít nơi nào trên đất nước Việt Nam có được
Trang 22Tính cách đặc trưng của người Nghệ Tĩnh luôn có trong hầu hết những người con ưu tú của địa phương này, và Nguyễn Tất Thành là một trong những người con như vậy Ngay cả sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn luôn giữ được những đặc trưng đó
Trong những năm 1925, 1926, dù cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều tỏ ra tin tưởng vào tương lai của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc thì hai cụ vẫn có ý cho rằng Nguyễn Ái Quốc quá cứng rắn, nghiêng theo phe tả! Lời này đến tai ông Cả Khiêm (Nguyễn Tất Đạt), ông Khiêm cho rằng hai cụ chưa hiểu hết về Nguyễn Ái Quốc, ông Khiêm nhận xét:
“… Nói như thế là chưa hiểu con người Nguyễn Ái Quốc Đất Nghệ An
đã sản sinh ra cái cứng rắn, cái cương quyết có lúc đến quyết liệt của Nguyễn
Ái Quốc chứ không phải Nguyễn Ái Quốc qua Pháp theo những người trong phe tả rồi mới như thế đâu!”[100, tr.63]
Nghệ Tĩnh lại là vùng đất có bề dày truyền thống với nhiều di tích lịch
sử văn hóa Ở địa phương này, nhiều tấm gương về các vị anh hùng được kể lại trong các đền miếu, trong các câu chuyện được người dân truyền tụng cho nhau nghe
Có thể nói rằng, đi trên vùng đất Nghệ Tĩnh là đi trên lịch sử, sống chung với lịch sử Đất này, từng là vùng đất chiến lược của các triều đại Việt Nam Mai Thúc Loan đã lấy mảnh đất trên thị trấn Sa Nam (phía Tây của núi Chung Cự) để làm địa bàn khởi nghĩa chống Nhà Đường xâm lược năm 722 Nơi đây cũng đã từng diễn ra trên dòng sông Lam (địa phận Nam Đàn) chiến công của Trần Quang Khải và quân dân thời Trần trước sức mạnh của vó ngựa ngoại xâm Nguyên Mông Phía Nam núi Chung là núi Lam Thành, nơi Nguyễn Biểu - một sứ thần thời Trần đứng trước kẻ thù đã “không run sợ, nét mặt vững vàng, lời nói mạnh bạo” làm cho tướng Nhà Minh phải kinh sợ,
Trang 23phía Đông núi Chung có làng Thái Xá (Hưng Đạo, Hưng Nguyên), là quê tổ của ba anh em Tây Sơn[75, tr.36] Phía Tây ngọn núi Chung là dãy Thiên Nhẫn, nơi có đền thờ Tống Tất Thắng, tướng đời Trần đánh tan quân Chiêm Thành, trong đền còn câu đối: “Miếu đường Nhật Lệ kinh thiên trụ, cung kếm sương hoà Quải bái sơn”[158, tr.5]
Thiên Nhẫn cũng là nơi Nguyễn Trãi xây thành Lục niên làm chiến lũy chống quân Nhà Minh trong khởi nghĩa Lam Sơn Đất Nghệ Tĩnh từ là đất phên dậu dưới thời Lý - Trần, đến đất đứng chân dưới thời Lê và sau này là nơi được Quang Trung chọn làm kinh đô của đất nước…
Xã Võ Liệt - huyện Nam Đàn là một xã có truyền thống yêu nước, là quê hương của Phan Đà, người thanh niên mới 17 tuổi đã đứng ra chiêu tập nghĩa binh, tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, đó cũng là quê hương của Trần Tấn, người khởi xướng cuộc khởi nghĩa năm Giáp Tuất (1874) của Văn thân Nghệ - Tĩnh[95, tr.17]
Cuộc khởi nghĩa gồm có những nhà Nho như Tú Tân, Tú Mai, Tú Điểm, Tú Đậu, Tú Khanh… Trong đó người đứng đầu là Trần Tấn, huyện Thanh Chương (Thôn Chi Nê, tổng Võ Liệt, Thanh Chương)… Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, nơi diễn ra lễ tế cờ trở thành đền thờ của những người con này
Nghệ Tĩnh còn là xứ sở của những học trò, những danh sĩ nổi tiếng Con người xứ Nghệ bên cạnh những đặc trưng về tính cách còn là những con người chịu thương chịu khó, luôn luôn phấn đấu vươn lên
Sĩ phu và học trò vùng đất này nổi tiếng là những người hiếu học và khổ học, họ đã góp một phần to lớn của mình vào quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Từ khi có kỳ thi đầu tiên năm 1075 đến kỳ thi cuối cùng năm
1919 cả tỉnh Nghệ An có 829 người đỗ cử nhân, huyện Nam Đàn có 159 người, 335 người đậu từ phó bảng, tiến sĩ đến trạng nguyên, trong đó Nam Đàn có 51 người[73, tr.31]
Tác giả Ninh Viết Giao đã dẫn lại một nhận xét rất
Chữ dùng của tác giả Ninh Viết Giao[30]
Trang 24tinh tế của Đặng Thai Mai về truyền thống học tập của vùng đất này: “khi chế
độ khoa cử còn thịnh, cơ hỗ mỗi làng đều nhìn thấy trong núi của mình một cái bảng, một quản bút, một cái án thư, hoặc một thanh gươm, một chiếc án, một con nghê vàng, một con voi trắng, một cái yên ngựa”[30, tr.28] Ở các làng của địa phương này người ta cũng có thể được nghe những câu ca dao như
“làng ta khoa bảng thật nhiều, như mây trên núi như diều trên không”[30, tr.29] (làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), hay “Ngọc Đình có lắm bò to, Kim Liên có lắm nhà Nho dài quần”[31, tr.379]
(làng Kim Liên)
Tính riêng trên mảnh đất địa linh nhân kiệt Nam Đàn, các nhà khoa bảng nổi tiếng đời nào cũng có, trong đó có những người tiêu biểu như tiến sĩ Tống Tất Thắng, tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường, tiến sĩ Nguyễn Trọng Đường, tiến sĩ Nguyễn Thiện Chương, thám hoa Nguyễn Văn Giao ở Trung Cán (nay
là Nam Trung), thám hoa Nguyễn Đức Đạt ở xã Hoành Sơn (hai người đậu đầu năm Quý Sửu 1853), tiến sĩ Nguyễn Quý Song, tiến sĩ Nguyễn Đình Tuấn… Trong đó, từ đời Dương Hòa (1635) cho đến khi bỏ thi chữ Hán (1918), Kim Liên có 53 người thi đậu từ hiệu sinh, tú tài đến cử nhân, phó bảng”[31], [158]
Và trong thời kỳ gần nhất ở Nam Đàn có song nguyên Vương Hữu Phu, hoàng giáp Nguyễn Thái, phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, giải nguyên Phan Bội Châu (được đặc cách đứng riêng một bảng khi xướng danh), cử nhân Vương Thúc Quý, cử nhân Trần Văn Lương… Trong đó có những người nổi tiếng là “tứ hổ”, “Uyên bác bất như San, thông minh bất như Sắc, tài hoa bất như Quý, Cường ký bất như Lương”[8, tr.132]
bảng thế gian vô” (nghĩa là: ba nhất hai năm thiên hạ có, riêng tên một bảng thế gian không) [31, tr.170]
Ý kiến của Ninh Viết Giao, Nguyễn Trọng Thụ,… cho rằng trong “tứ hổ” không có Nguyễn Sinh Sắc,
“Nam Đàn tứ hổ là ai? Nói cho em biết để mai em chào “Nam Đàn tứ hổ là đây - San Song Lương Quý một bầy bốn anh”, “Mẫn tiệp bất như San - Thông minh bất như Quý - Cường Ký bất như Lương - Thâm thúy bất như Song” (tức Nguyễn Quý Song) [31], [158]
Trang 25Cuối thế kỷ XIX, nhân dân Việt Nam lần đầu tiên chống lại một thế lực xâm lược mới với trình độ văn minh cao hơn hẳn Trong hoàn cảnh đó, cả dân tộc phải đứng dậy để quyết tâm bảo vệ độc lập Kể từ lúc kẻ thù mới bước chân vào đến lúc chúng đặt được ách thống trị ở Việt Nam, tiếng súng đấu tranh không bao giờ ngừng nghỉ Người người đứng lên đánh giặc, nhà nhà cùng giữ nước Ngọn lửa đấy tranh lúc này lúc khác mạnh yếu khác nhau nhưng tinh thần đấu tranh thì luôn âm ỉ Trong dân gian lúc này, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Nghệ Tĩnh đã khiến thực dân Pháp phải rất khó khăn mới có thể bình định được Việt Nam, nhất là vùng đất Trung kỳ Người
ta đã truyền tụng câu: “Tây lấy hết nước Nam rồi mới lấy được tỉnh Nghệ…”[59, tr.85] Đó không là một lời nói quá mà đó chính là sự thể hiện tầm quan trọng của vùng đất này, và quan trọng hơn, nó thể hiện rõ nét cho tinh thần đấu tranh anh hùng, cho sự kiên trì, bền gan, vững lòng của nhân dân Nghệ Tĩnh Cái tinh thần đó là sự kết tinh trong quá trình sinh sống, lao động
và đấu tranh của người dân nơi đây Một khi kẻ thù xâm lược, nó trở thành sức mạnh để mọi người đứng lên cùng chung sức bảo vệ quê hương, đất nước
Chỉ mới đây thôi, các làng Xuân Hồ, Xuân Liễu nằm dưới dãy Đại Huệ phía Bắc núi Chung Cự từng là nơi tụ kết nghĩa binh của Hội văn thân Nghệ
An làm lễ tế cờ, mở đầu cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874)
Huyện Nghi Lộc, một huyện cách Nam Đàn không xa có Hoàng Phan Thái, thi Hương đỗ đầu xứ Nghệ được các nhà Nho kính trọng gọi là “đầu xứ Thái”, nhưng ông không dùng văn chương để lập thân Khi nghe tin vua Tự Đức ký nhượng các tỉnh Nam kỳ, ông đã chiêu tập nghĩa binh, tự xưng là
“Đông hải đại tướng quân”, quyết chống giặc giữ nước Trước ngày bị thực dân Pháp chém đầu, Hoàng Phan Thái đã để lại câu đối đầy khí phách: “Thiên khả thê phong, huyền đào giang hà thanh nhất nộ; Địa nan mai cốt, vãn hồi nhật nguyệt bạch tam quân” Nghĩa là: Trời có thể dừng gió, Ta sẽ dốc hết
Trang 26xuống sông suối để rửa cơn giận này; Đất khó vùi xương, ta phải xoay vầng nhật nguyệt gọi ba quân[76, tr.16-17]
Nhân dân đã thờ ông ngay tại nơi ông bị chém đầu (Quán Bàu, Nghi Phú, Nghi Lộc) Phan Bội Châu đã viết “Hoàng Đại hữu tiên sinh truyện” để ca ngợi Hoàng Phan Thái
Cuối thế kỷ XIX, trong phong trào Cần Vương, “ở Nghệ Tĩnh, dân tình lại càng náo động hơn đâu hết Trống mõ Cần Vương liên hồi kỳ trận vang khắp nơi chung quanh các địa đầu chưa bị giặc chiếm đóng Trong các đồn lũy miền sơn cước, lá cờ phấn nghĩa vẫn phấp phới tung bay”[59, tr.147] Nhiều
sĩ phu Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ đã trở thành niềm hy vọng, sự ước mong và là tấm gương kiên trung bảo vệ Tổ quốc
Chính vì vậy, vùng đất này cũng là vùng đất bị giặc Pháp tàn phá, thiêu hủy toang hoang: “… Dọc đường Tây phá hủy, Đốt hết cửa hết nhà, Giết con nít, ông tra (già), Chỉ trừ riêng trích sáp, Cầu Phù Đồng lửa táp, Đức Nghĩa cũng ra tro, Cả Xuân Liễu, Xuân Hồ, Nghe một mùi khét lẹt”[31], [75]
Đặng Thai Mai trong hồi ký của mình viết: “Con đường đi bộ từ quê làng Lương Điền xuống Vinh dài gần tới bốn chục cây số (khoảng năm 1914)
Từ huyện Nam Đàn trở đi, đôi bên làng mạc san sát, cây cối xum xuê với những cánh đồng kéo dài, lại còn có cái hồ sen mát dịu thơm nứt dưới ánh sáng mùa hè… Trên những chặng đường đi bộ ấy,… Nhiều làng mạc đã bị chúng (Pháp) triệt hạ Nhiều gia đình phải đem nhau trốn sang Lào, Xiêm”[59, tr.206]
1.2 Gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc:
Những gia đình yêu nước, đấu tranh kiên cường xuất hiện trong các phong trào cách mạng không phải là sự xuất hiện ngẫu nhiên mà đó chính là truyền thống của dân tộc Việt Nam Một khi có giặc xâm lược, chủ nghĩa yêu nước trở thành chất keo gắn kết toàn bộ mọi người, nhiều làng mạc trở thành những thành lũy đấu tranh, nhiều gia đình trở thành những pháo đài chống
Trang 27giặc, hay trở thành nơi hun đúc những người con yêu nước, thương dân Gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc là ví dụ điển hình
Nguồn gốc của gia đình ấy là từ dòng họ Nguyễn Sinh ở làng Nam Liên (Kim Liên, làng Sen) và dòng họ Hoàng Xuân ở làng Hoàng Trù (làng Chùa)
Vào đầu thế kỷ XX, làng Kim Liên là một trong bảy làng của xã Chung
Cự, huyện Nam Đàn Trong làng có nhiều đầm sen nên được gọi với nhiều tên như: Đồng Sen, Cồn Sen, Đầm Sen, Giếng Sen, Làng Sen Bên cạnh làng,
có ngọn núi Chung Cự, tuy không cao nhưng đứng trên ngọn núi này có thể nhìn thấy cả vùng núi non rộng lớn chung quanh, và có thể hướng tấm mắt của mình đến những làng khác trong huyện Dòng họ Nguyễn Sinh đã đến lập nghiệp tại Làng Sen từ thế kỷ thứ XVII, đến đời thứ mười, có ông Nguyễn Sinh Nhậm (Nguyễn Sinh Vượng) sinh sống tại Xóm Phú Đầm (Nam Lĩnh), thuộc lớp gia đình khá giả ở làng, nhưng hiếm con Khi vợ cả mất, ông cưới
bà Hà Thị Huy, một người có nhan sắc, thông minh tài hoa nhưng lỡ thời Bà
Hà Thị Huy là con ông Hà Văn Cẩn, một nghệ nhân nổi tiếng về đàn đáy, rất ham học, hay mời thầy về dạy dỗ con cái trong nhà, vì thế bà Hà Thị Huy tuy
là con gái nhưng cũng được học tập từ cha và những thầy đồ trong nhà mình
Cử nhân Hồ Sĩ Tạo, người huyện Thanh Chương đã có một thời gian làm gia
sư cho gia đình, dạy học cho bà Hà Thị Huy[42, tr.33]
Sau khi về làm vợ Nguyễn Sinh Nhậm được ít lâu, bà Hà Thị Huy sinh một người con trai, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc (1862)
Làng Hoàng Trù cũng nằm trên địa bàn xã Chung Cự, là nơi cứ trú từ mấy đời trước của tổ tiên dòng họ Hoàng Xuân Theo gia phả họ Hoàng, chi nhánh ở làng có nguồn gốc là làng Hoàng Vân, tổng Yên Lạc, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc tỉnh Hưng Yên)
làng này thuộc xã Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An)
Trang 28Do đó, ngay trước nhà thờ họ Hoàng có câu đối: “Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổ - Chung Cự hung thanh chấn ức niên” Dịch nghĩa: Hoàng vân khí tốt truyền từ ngàn xưa, Chung Cự tiếng hùng vọng đến vạn năm sau[75, tr.10]
Cụ Hoàng Xuân Đường (Hoàng Đường) là cháu đời thứ sáu của chi nhánh dòng họ Hoàng được lập ra ở làng Hoàng Trù[69, tr.43]
, cụ học rộng, tuy thi cử chỉ trúng nhất trường nhưng nhân dân trong vùng vẫn gọi là cụ Tú Đường Cụ bà là con của nhà Nho Nguyễn Văn Giáp ở huyện Hưng Nguyên,
cụ Giáp đi thi bốn khoa đều đỗ tú tài Lúc cụ đỗ tú tài lần thứ hai cũng là lúc
vợ sinh con gái đầu lòng nên đặt tên con là Nguyễn Thị Kép
Cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép sinh được hai người con gái
là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An Khi Hoàng Thị Loan đến tuổi lấy chồng, cụ Hoàng Đường đã gả con gái của mình cho Nguyễn Sinh Sắc, người con của làng Sen, và cũng đang là con nuôi của mình (1883)
Cụ Nguyễn Sinh Sắc (1862 - 1929) - thân sinh Nguyễn Sinh Côn
ngay từ nhỏ đã là một người hiếu học, thông minh Nhưng khi Nguyễn Sinh Sắc lên ba tuổi thì ông Nguyễn Sinh Nhậm mất, một năm sau bà Hà Thị Huy cũng qua đời, Nguyễn Sinh Sắc được ông ngoại đưa về làng Sài nuôi dưỡng, nhưng sống với ông ngoại chưa đến 10 tuổi thì ông ngoại cũng qua đời, lúc này Nguyễn Sinh Sắc lại trở về làng Sen sống với người anh của mình là Nguyễn Sinh Trợ
Sắc hiếu học, thông minh, nhưng gia đình Nguyễn Sinh Trợ lại rơi vào cảnh sa sút từ sau khi bố mất, do đó Nguyễn Sinh Sắc không có điều kiện đến
Tên thuở thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Sinh Côn hay một tên khác? Theo công bố của Nhà nước Việt Nam, tên chính thức là Nguyễn Sinh Cung Nhưng hiện nay, với nhiều tư liệu thành văn tìm được, cùng với ghi nhận từ hồi ký, lời kể của nhiều người, tên Nguyễn Sinh Côn có tính thuyết phục hơn về mặt khoa học, do đó trong luận văn của mình tác giả sử dụng tên thuở thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Côn, thay thế cho tên Nguyễn Sinh Cung được sử dụng chính thức Tuy nhiên ở một số chỗ, vì tôn trọng lời trích dẫn, tác giả vẫn giữ nguyên chữ “Cung” chứ không đổi thành
“Côn”
Trang 29trường, cậu bé Sắc phải hàng ngày chăn trâu và làm việc nhà Những lúc đó, với bản tính ham học của mình, Nguyễn Sinh Sắc luôn tranh thủ thời gian và tìm mọi cách để học tập, lúc thì ghé ngang lớp học của thầy đồ để nghe lén bài giảng, lúc thì mải mê viết chữ trên đất hay khi ngồi trên lưng trâu… Quãng thời gian này là quãng thời gian cực khổ, cay đắng trong cuộc đời Nguyễn Sinh Sắc, nhưng đó cũng là thời kỳ tính kiên trì, chịu khổ, ham học của Nguyễn Sinh Sắc được mọi người biết đến và ca ngợi Và một dịp tình cờ,
cụ Hoàng Đường trong lần qua chơi làng Sen đã vô cùng xúc động trước hoàn cảnh và tinh thần hiếu học của Nguyễn Sinh Sắc, cụ Hoàng đã đưa Nguyễn Sinh Sắc về nhà mình, nhận làm con nuôi và cho ăn học (1878)
Từ đó, Nguyễn Sinh Sắc chính thức bắt đầu con đường học vấn của mình Nguyễn Sinh Sắc càng học càng tiến bộ, hiểu biết Tiếng tăm được mọi người đồn đại khắp vùng Lúc đầu cụ Hoàng Đường trực tiếp dạy dỗ, kèm cặp người con nuôi, nhưng sau đó hai năm vì cảm thấy trình độ của mình có hạn,
cụ đã gửi Nguyễn Sinh Sắc sang làng Đông Chữ, học với thầy Nguyễn Thức
Tự, người nổi tiếng uyên bác và có lòng yêu nước Thời gian này, Nguyễn Sinh Sắc đã bắt đầu tình bạn của mình với Phan Bội Châu và Vương Thúc Quý[8], [42]
Học giỏi, nổi tiếng thông minh nhưng Nguyễn Sinh Sắc lại lận đận trên con đường thi cử, lần đầu tiên năm Tân Mão (1891), Nguyễn Sinh Sắc chỉ đạt nhị trường Đến năm 1893, khi cụ Hoàng Đường qua đời, Nguyễn Sinh Sắc quyết tâm ôn tập để báo hiếu người cha của mình, và cụ đỗ cử nhân năm
1894 Nhưng hai kỳ thi Hội sau đó (1895 và 1898), Nguyễn Sinh Sắc đều bị đánh hỏng, mãi đến năm 1901 (Tân Sửu), cụ mới đỗ phó bảng - một học vị tương đương tiến sĩ để đền đáp công ơn người vợ hiền vừa mới qua đời
Sau khi đỗ đạt, vì không muốn làm quan, Nguyễn Sinh Sắc đã nhiều lần viện cớ có mẹ già cần phải chăm sóc để được ở tại quê nhà Thời gian này
Trang 30cụ mở trường dạy học, đi khắp đó đây để bốc thuốc, khám bệnh cho nhân dân
và thăm nhiều sĩ phu trong vùng, ngoài tỉnh Là phó bảng nhưng Nguyễn Sinh Sắc luôn tỏ ra khiêm nhường, có lối sống giản dị, yêu thương nhân dân nên được mọi người kính mến Nguyễn Sinh Sắc luôn dạy những người con của mình cách đối nhân xử thế, cách sống với bà con láng giềng, dạy dỗ, tạo điều kiện cho con của mình mở rộng hiểu biết, tầm mắt, và nhất là giáo dục tinh thần thương dân, yêu nước
Ở quê được ít năm, sau khi bà Nguyễn Thị Kép (vợ của cụ Hoàng Đường) mất, Nguyễn Sinh Sắc buộc phải theo lệnh triều đình vào kinh chuẩn
bị nhậm chức Từ đây, Nguyễn Sinh Sắc bất đắc dĩ phải bước vào con đường hoạn lộ Nhiều người có ý chúc mừng, nhưng với Nguyễn Sinh Sắc, đi làm quan chỉ là một cách để che thân, cụ không coi việc làm quan là sự vinh hiển
mà xem đó là một cái vòng kiểm soát của chính quyền, còn là tội với nhân dân Và quả thật cuộc đời làm quan của Nguyễn Sinh Sắc đã diễn ra đúng như những gì cụ đã nghĩ tới Cuộc đời làm quan của Nguyễn Sinh Sắc bắt đầu bằng việc làm Thừa biện bộ Lễ rồi đến Tri huyện Bình Khê (nay là Tây Giang, Tây Sơn, Bình Định), và cuối cùng là bị cách chức triệu hồi về kinh và
bị khép tội “lạm quyền”
Từ năm 1910, Nguyễn Sinh Sắc bị cách chức Tri huyện, cụ bắt đầu bước vào chặng đường mới Không ở Huế, cũng không ở Nghệ An, Nguyễn Sinh Sắc bắt đầu con đường xuôi vào miền Nam của mình Trong suốt thời gian từ 1910 đến 1929, lúc tạ thế ở Đồng Tháp, Nguyễn Sinh Sắc đã đi khắp nơi, làm nhiều việc, gặp nhiều người, nhiều sĩ phu yêu nước và các chiến sĩ cách mạng để trao đổi, bàn luận về thời cuộc, khích động tinh thần yêu nước, đấu tranh của nhân dân ở các tỉnh miền Nam
Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho thanh cao, có tinh thần yêu nước thương dân, từ một vị phó bảng, một vị quan của triều đình, đã dần dần bước
Trang 31chân vào con đường “cách mạng”, là một người có ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành trong suốt quá trình từ nhỏ đến lúc trưởng thành
Bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901) là một người vợ tần tảo, một người
mẹ hết lòng giáo dục và yêu thương con cái, là con đầu của cụ Hoàng Đường
và cụ Nguyễn Thị Kép
Sau khi cưới, Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan được ở riêng trong ngôi nhà tranh nhỏ mới dựng ngay bên cạnh ngôi nhà cụ Hoàng Đường Căn nhà đơn sơ ấy bao giờ cũng ngăn nắp, hạnh phúc nhờ bàn tay chăm chỉ của người vợ trẻ “Sáng trăng trải chiếu hai hàng - Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ”
Bà Hoàng Thị Loan kế thừa được những đức tính quý báu của cha mẹ, tiếp thu được truyền thống người phụ nữ Việt Nam Ngay từ thuở nhỏ cho đến khi lập gia đình bà luôn là một người siêng năng, giản dị, chăm lo làm tròn phận sự của một người con, người vợ Bà còn được cha dạy cho chữ nghĩa, lại
là người thông minh, ham học nên bà sớm có nhiều hiểu biết Những kiến thức đó đã trở thành hành trang đầu tiên cho bà trong thời gian làm mẹ
Những câu hát dân ca, những làn điệu và cả những câu Truyện Kiều đã trở
thành những khúc hát ru của bà Hoàng Thị Loan đối với những đứa con của mình Bà là người đã thay chồng dạy dỗ con cái, giảng giải cặn kẽ những bài học đầu tiên, những câu hỏi của con, và cũng là người chăm lo kinh tế cho cả gia đình với chiếc khung cửi và những cái thoi đưa đều đặn cả ngày lẫn đêm
Bảy năm sau ngày cưới, bà Hoàng Thị Loan sinh được ba người con: Nguyễn Thị Thanh (1884), Nguyễn Sinh Khiêm (1888), Nguyễn Sinh Côn (1890) Họ sau này đều là những người con ưu tú của đất nước, trong đó có Nguyễn Sinh Côn, người sau này trở thành Hồ Chí Minh, người giải phóng
Có tài liệu cho rằng Nguyễn Sinh Sắc là nhà “cách mạng trong làng Nho” theo cách riêng của mình[11], [53]
Trang 32cho cả dân tộc Việt Nam thoát khỏi thân phận nô lệ Thời gian sau bà còn sinh thêm người con thứ tư, nhưng bị mất sớm
Hoàng Thị Loan là một người vợ hết mực vì chồng, năm 1895, khi Nguyễn Sinh Sắc không đậu kỳ thi Hội, cụ xin được vào học ở trường Quốc
tử giám, bà Loan đã cùng chồng đưa hai con nhỏ vào kinh thành để nuôi chồng ăn học Mà thời đó, hai tiếng “trẩy kinh” đối với người dân xứ Nghệ là bao nỗi gian truân, sự lo lắng và cả sợ hãi
Trong những ngày ở Huế, bà Loan tiếp tục làm nghề dệt vải để kiếm tiền nuôi chồng con Sự tần tảo của bà Loan trong suốt thời gian dài đã tạo điều kiện cho Nguyễn Sinh Sắc yên tâm học tập và làm việc Nguyễn Sinh Sắc bận việc học ở trường, bà Loan cũng là người dạy dỗ hai cậu Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Côn Từ người mẹ của mình, hai cậu bé Khiêm, Côn đã có được những bài học đầu tiên về chữ thánh hiền, về cuộc sống, về văn hóa, truyền thống dân tộc Đó là những nét văn hóa dân gian qua các câu
ca, bài hát bà dạy và ru con, là những phẩm chất của tầng lớp lao động bình dân qua tình mẫu tử Bà còn là tấm gương sáng về đạo đức cho con cái học tập Ở đâu, bà Loan cũng luôn thể hiện lối sống trong sáng, giàu tình nghĩa, yêu thương mọi người Với những phẩm chất, tình thương và việc làm của mình, bà Loan đã vun trồng trong ý thức của con những phẩm chất, đạo lý làm người
Chính trong thời gian ở Huế cùng mẹ, Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Côn đã tiếp nhận được những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa, những bài dân ca, ca dao mộc mạc nhưng đầy tình nghĩa Sau này, khi Nguyễn Sinh Khiêm được Công sứ Nghệ
An yêu cầu tham gia biên khảo lại tập dân ca tục ngữ Nghệ An, Nguyễn Sinh Khiêm đã bổ sung nhiều câu ca dao phản ánh thuần phong mỹ tục, tinh thần đấu tranh chống áp bức của nhân dân Vốn hiểu biết đó có nguồn gốc từ
Trang 33những bài hát, lời ru của mẹ ngày xưa[69, tr.52] Với Nguyễn Sinh Côn cũng vậy, hình ảnh người mẹ tần tảo và những bài học từ mẹ luôn đi theo cậu trong suốt cuộc hành trình sau này Những đức tính, những bài học từ người mẹ thảo hiền như những sợi tơ dệt nên nhân cách Nguyễn Sinh Côn trong thời thơ ấu
Tháng tám năm Canh Tý (1900), Nguyễn Sinh sắc được cử làm giám thị ở trường thi Hương Thanh Hóa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng cha, Nguyễn Sinh Côn ở nhà với mẹ Trong thời gian này, bà Loan đau bệnh nặng và mất vào tháng Chạp cùng năm (10/2/1901) Thi hài của bà được đưa ra khỏi kinh thành trong một đêm tối trên một chiếc thuyền qua cống Thanh Long lên sông Hương, và được an táng ở chân núi Ba Tầng (thuộc dãy núi Ngự Bình) Sau này, Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Sinh Khiêm đã đưa thi hài của mẹ về cải táng trên vùng núi Đại Huệ tại Nam Đàn, Nghệ An
Cụ Hoàng Xuân Đường (Hoàng Đường) - ông ngoại Nguyễn Sinh
Côn, một người rất quan trọng trong gia đình nhỏ của Nguyễn Sinh Sắc Người ta nhắc tới cụ Hoàng Đường như một nhà Nho chân chính Suốt cuộc đời cụ luôn sống bằng nghề dạy học và khám bệnh cho mọi người, trong đó
có nhiều người là nghĩa sĩ Cần Vương, được nhân dân trong vùng yêu mến
Cụ cũng chính là người đã phát hiện ra tài học, cảm mến sự siêng năng của Nguyễn Sinh Sắc khi còn là cậu bé ngồi trên lưng trâu đọc sách
Cũng chính vì phát hiện ra tài học của Nguyễn Sinh Sắc, nhận làm con nuôi, lại còn gả con gái thân yêu của mình, cụ Hoàng Đường được xem là một nhà Nho có tinh thần phóng khoáng, thức thời, đầy hiểu biết và cảm thông
Cụ không bị những nền nếp, lễ nghĩa, quan niệm xưa làm sai lệch đi khả năng nhìn nhận, và quyết định của mình Đó thật là một điều may mắn cho Nguyễn Sinh Sắc nói riêng, cho dân tộc Việt Nam nói chung Nếu không có cụ Hoàng Đường, có lẽ đã không có “một gia đình đẹp”, và cũng sẽ không có cậu bé
Trang 34
Nguyễn Sinh Côn - người thanh niên Nguyễn Tất Thành và vị lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Đối với Nguyễn Sinh Côn, cụ Hoàng Đường chưa có ảnh hưởng gì, vì khi vừa được ba tuổi, ở cái tuổi mà con người ta mới bắt đầu có những nhận thức đầu tiên về những hình ảnh cuộc sống xung quanh mình thì Nguyễn Sinh Côn đã chịu cái tang đầu tiên: cụ Hoàng Đường qua đời! (ngày 22/5/1893 tức 7/4 năm Quý Tỵ) Nhưng có lẽ ở cái tuổi của một đứa trẻ, hình ảnh cụ Hoàng Đường và những điều diễn ra trong đám tang của cụ - một người được nhân dân trong vùng kính trọng, yêu mến cũng kịp gợi lại những ấn tượng về ông ngoại trong lòng cậu bé Nguyễn Sinh Côn
Cụ Nguyễn Thị Kép với tình thương yêu vô bờ bến của mình đã luôn
động viên, khuyến khích con cháu trên từng bước đường đi
Lúc cụ Hoàng Đường gợi ý gả Hoàng Thị Loan cho Nguyễn Sinh Sắc,
cụ Nguyễn Thị Kép không khỏi lo ngại vì không môn đăng hổ đối Nhưng khi được chồng phân giải cụ đã đồng ý, và sau này, cụ là người đã dành trọn vẹn lòng yêu thương cho gia đình cụ phó bảng Cụ không ngần ngại nhận lời nuôi
và dạy dỗ Nguyễn Thị Thanh (11 tuổi) khi gia đình Nguyễn Sinh Sắc vào kinh Rồi chính cụ là người đã động viên, khuyến khích con gái của mình
“trẩy kinh” nuôi chồng ăn học Khi con gái mất, có ý kiến lo ngại về chuyện Nguyễn Sinh Sắc sẽ lập gia đình mới, cụ không quan tâm đến mà chỉ một lòng chăm làm, dành dụm tiền bạc tiếp tục thay con nuôi Nguyễn Sinh Sắc ăn học cho đến ngày đỗ thi Hội Cụ cũng là người chăm lo cho hai người con nhỏ của Nguyễn Sinh Sắc trong những ngày cụ phó bảng bận học và ứng thí
Đối với Nguyễn Sinh Côn, hình ảnh bà ngoại luôn ở trong tâm khảm của cậu, những ngày tháng vừa mất mẹ, bà ngoại là chỗ dựa tinh thần, là nơi
để Nguyễn Sinh Côn được yêu thương, vỗ về Những lời hát ru, những bài học từ bà ngoại chắc chắn ảnh hưởng rất sâu đối với nhận thức của Nguyễn
Trang 35Sinh Côn những ngày còn tuổi thiếu nên Năm 1961, trong lần về thăm quê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhắc lại những kỷ niệm về bà ngoại[76, tr.28]
Nguyễn Thị Thanh (1884 - 1954) và Nguyễn Sinh Khiêm (1888 - 1950) là chị và anh của Nguyễn Sinh Côn Cả hai người đều là những người
con ưu tú của vùng đất xứ Nghệ, họ đã tham gia các phong trào đấu tranh yêu nước và trở thành những chiến sĩ cách mạng theo con đường của mình
Nguyễn Thị Thanh (Nguyễn Thị Bạch Liên) là con gái đầu lòng của Nguyễn Sinh Sắc, tiếp thu những nét đẹp từ truyền thống gia đình, bà là người
có nhiều hiểu biết, không đi học nhưng có vốn Hán học khá nhờ sự dạy dỗ của cha và mẹ Bà được nhân dân gọi là Bạch liên nữ sĩ
Nguyễn Thị Thanh từ sớm đã tham gia vào các hoạt động yêu nước, từng nuôi giấu các thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp, bí mật vận động tiếp tế lương thực cho nghĩa quân, sau đó bà tham gia Duy tân hội - “Hội kín” của Phan Bội Châu Nguyễn Thị Thanh cùng với đội Quyên và đội Phấn hoạt động trong các năm sau khi phong trào Đông du tan rã, bị Pháp bắt năm 1910, tra tấn dã man và thả ra năm 1911 Đến năm 1918, bà lại bị thực dân Pháp bắt
vì tội tổ chức cướp súng của quân đội Pháp, bà bị đưa ra giam ở Quảng Ngãi rồi lại đưa về quản thúc tại Huế Trong thời gian ở Huế, bà bắt liên lạc, trao đổi qua lại với Phan Bội Châu và các đồng chí của cụ Sau đó Nguyễn Thị Thanh tiếp tục các hoạt động yêu nước của mình và đi bốc thuốc, khám bệnh,
mở lớp dạy chữ Hán
Anh của Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt) là người đã luôn có mặt bên cạnh Nguyễn Sinh Côn trên bước trưởng thành đầu đời của hai anh em Sự trưởng thành của cả hai luôn gắn bó với nhau từ những lần theo cha mẹ vào Huế, trong lớp học của Thầy Vương Thúc Quý, đến các lớp học ở Vinh, trong trường Đông Ba và Quốc học Huế, rồi cả khi tham gia phong trào chống thuế năm 1908
Trang 36Lúc cha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, trong khi Nguyễn Sinh Côn tiếp tục đi về phía Nam thì Nguyễn Sinh Khiêm trở lại Kim Liên, làm tròn nghĩa vụ của người anh Cả với gia đình, với quê hương Kim Liên Ông mở lớp dạy học, tổ chức khám bệnh và tham gia vào các hoạt động yêu nước Cũng như chị của mình, Nguyễn Sinh Khiêm đã phối hợp cùng đội Phấn, đội Quyên trong các hoạt động đấu tranh Nguyễn Sinh Khiêm cũng từng đưa lên Toàn quyền Albert Sarrau bản điều trần của nhân dân Kim Liên năm 1912 Năm 1914, Nguyễn Sinh Khiêm bị Pháp bắt và xét xử ba năm tù khổ sai vì tội tiếp ứng cho nghĩa quân, sau đó án tăng thêm 9 năm vì gây thêm tội “gây phiến loạn”, năm 1915, Nguyễn Sinh Khiêm bị đưa đi làm khổ sai ở Nha Trang, đến 1920, Pháp đưa về giam lỏng ở Huế Thời kỳ này Khiêm tiếp tục công việc khám bệnh, bốc thuốc, sau đó cùng với chị cả tiếp tục tham gia công tác cách mạng Đến năm 1940, Pháp lại bắt và xử án Nguyễn Sinh Khiêm tại Kim Liên
Đối với chị và anh ruột của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một tình yêu thương vô hạn Sau ngày đất nước giải phóng, Người được gặp chị và anh sau nhiều năm xa cách Trong hai lần gặp đó, Hồ Chí Minh đã rất xúc động[22], [90]
Riêng đối với người anh của mình, Hồ Chí Minh đã gửi bức điện khi Nguyễn Sinh Khiêm mất năm 1950: “Nghe tin anh cả mất, lòng tôi rất buồn rầu Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nôm, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu
Tôi xin chịu tội bất dễ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”[69, tr.82]
Bức thư đã thể hiện tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho anh của mình, chúng ta có thể cảm nhận tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong từng câu chữ, tình cảm đó như được nén lại, rất sâu lắng, nhưng cũng rất thiết
Trang 37tha, chỉ chực ùa về của một người đã chia xa quê hương, gia đình mấy mươi năm
Gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc trong lịch sử của mình đã là một gia đình
“lạ lùng”, những mốc thời gian của gia đình luôn gắn với vận mệnh của đất nước, năm 1883: năm cưới Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan cũng là năm Triều đình ký hiệp ước Hacmand, năm 1884: sinh bà Thanh, là năm Triều đình ký hiệp ước Patonotre, năm 1888: sinh Nguyễn Sinh Khiêm được sinh, là năm vua Hàm Nghi bị bắt,… Sự trùng hợp đó là ngẫu nhiên nhưng đã gắn liền cuộc đời của những người con với quê hương xứ sở khi mà quê hương đang rơi vào cảnh lệ thuộc Cả gia đình cụ phó bảng là một bức tranh sáng như gương Mỗi một người là một hình ảnh đại diện cho sự kết tinh văn hóa truyền thống và chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam Gia đình đã sinh
ra người con vĩ đại: Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc
- Hồ Chí Minh
1.3 Tuổi thơ Nguyễn Sinh Côn trên đất Nam Đàn:
Gia đình Nguyễn Sinh Sắc cũng là một trong những gia đình đại diện cho gia đình Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc Trên khắp đất nước có nhiều gia đình mà tất cả mọi người đều trở thành những chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc, giang sơn, như gia đình của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, gia đình Tôn Thất Thuyết,…
Ở vùng đất Nghệ Tĩnh, có rất nhiều gia đình yêu nước đã xuất hiện Gia đình Phan Đình Phùng là một trong số đó Phan Đình Phùng là một thủ lĩnh kiệt suất của phong trào Cần Vương, người thể hiện sức mạnh và tính chính nghĩa rõ nét nhất của phong trào Mười năm trời ròng rã, Phan Đình Phùng đã giáng cho Pháp những đòn nặng nề, đã nhiều lúc mang lại niềm tin cho dân tộc trong công cuộc bảo vệ đất nước, là nơi tìm đến của hầu hết các cuộc khởi nghĩa khác khi thất bại Dù cuối cùng khởi nghĩa của Phan Đình Phùng cũng
Trang 38bị dập tắt song ông trở thành đại diện tiêu biểu cho tinh thần và sức mạnh nhân dân trong vùng và cả nước Cha của ông, Phan Đình Tuyển, phó bảng khoa Giáp Thìn (1814) đời vua Thiệu Trị, làm quan tới Phủ doãn Phủ Thừa Thiên, cũng là người đã hy sinh ở ải Lạng Sơn, nhân dân đã lập đền thờ ông Phan Đình Thuật, anh Phan Đình Phùng, đậu cử nhân, là bố nuôi Cao Thắng, một trong những thủ lĩnh của khởi nghĩa Hương Khê, người luôn sát cánh cùng Phan Đình Phùng chiến đấu, mất năm 1885 Phan Đình Thông, anh thứ hai của Phan Đình Phùng, cũng tham gia đấu tranh, cuối cùng bị Pháp chém ngang người trên núi Nài Em của Phan Đình Phùng, Phan Đình Vận, đậu phó bảng, tham gia đấu tranh chống Pháp, hy sinh ở Thanh Chương
Truyền thống đấu tranh của quê hương Nghệ Tĩnh đã sản sinh ra những gia đình luôn sẵn sàng hy sinh vì dân tộc Đó là những gia đình anh hùng trên quê hương anh hùng! Thời kỳ sau Cần Vương, những gia đình này được xếp vào những gia đình chống Pháp, và con cháu của họ được khép vào hàng “cừu gia tử đệ” – tức con em các gia đình “chống đối”, và thường được theo dõi gắt gao
Ở Nam Đàn có gia đình cụ Đông Khê Nguyễn Thức Tự là học trò Hoàng Phan Thái[30, tr.41] thi đỗ từ năm 1868, mười năm sau được bổ làm Tri huyện Thạch Hà, sau đó thay đổi nhiều lần, từng giữ chức Sơn Phòng dưới triều Tự Đức Năm 1883, ông xin cáo quan về chăm sóc mẹ và mở trường dạy học Nguyễn Sinh Sắc và Phan Bội Châu thuộc lớp học trò đầu tiên của ông Thầy Nguyễn Thức Tự, vừa là người đức cao, vừa là một sĩ phu đấu tranh, kiên quyết đứng về phía nhân dân, ủng hộ nhân dân chống giặc Ông có ba người con đều hy sinh cả ba trong các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, trong đó có Nguyễn Thức Đường, người giàu lòng yêu nước và sớm tham gia phong trào Đông du của Phan Bội Châu[21, tr.175]
Trang 39
Trong bức trướng học trò mừng Nguyễn Thức Tự 60 tuổi có đoạn viết:
“Đạo đầy đủ bởi ngậm được nay, nuốt cả xưa… Giáo dục con trẻ có chí hướng, có phương, dạy dỗ người đời không chán, không mệt (để) trong danh giáo (có) được niềm vui”[49, tr.27]
Cũng ở ngay trên xã Chung Cự có Vương Thúc Mậu, người lập đội nghĩa binh đóng ở núi Chung (gọi là Chung nghĩa binh) để hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp Ông trở thành thủ lĩnh của phong trào Cần Vương ở huyện Nam Đàn, nhân dân Chung Cự và các xã theo ông rất đông Đội Chung nghĩa binh đã nhiều lần làm cho Pháp và triều đình phải lao đao Vương Thúc Mậu đã hy sinh trong một cuộc càng quét của Pháp tại xã Kim Liên Mến phục vị lãnh tụ Cần Vương, nhà Nho Dương Công San đã làm câu đối: “Trì biên thủy trích hô quân lệ, Thụ thượng phong xuy mạ tặc thanh” Nghĩa là: Nước giọt bờ ao vọng tiếng gọi quân, Gió rung ngọn cây ầm câu chửi giặc”[31], [49]
Người con của Vương Thúc Mậu là Vương Thúc Quý, đỗ cử nhân, cũng là một sĩ phu có tinh thần yêu nước sâu sắc Là một thầy giáo, Vương Thúc Quý luôn giảng dạy và giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương, yêu
Tổ quốc và sẵn sàng đấu tranh vì quyền lợi, vì tinh thần dân tộc Sau này, Vương Thúc Quý trở thành một trong những người cùng với Phan Bội Châu trù định kế hoạch chống Pháp với phong trào Đông Du sôi nổi Vương Thúc Lương, em Vương Thúc Quý, theo anh vận động Đông Du, sau tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí Hội
dân Pháp bắt và đày đi Côn Đảo Ông tìm cách trốn thoát nhưng bị Pháp bắt trở lại, giam vào ngục tối, ông mất tại Côn Đảo Dương Công San có câu đối về mình: “Nhàn anh hùng chi tuế nguyệt, nhục cộng bi sinh khấp Tần đình chi sơn hà, huyết tuỳ lệ sái” Nghĩa là: Ngày tháng anh hùng nhàn đáo để, buồn thấy sống thừa, non sông phong cảnh khác không cùng, máu theo nước mắt [33, tr.133]
Trang 40Ở làng Hoàng Trù có “con người thần thoại” Hoàng Xuân Hoành hoạt động trong phong trào văn thân, sau đó tham gia nghĩa quân Yên Thế, rồi lại trở về Nghệ An, lập căn cứ ở vùng Bố Lư thuộc huyện Thanh Chương để chống Pháp Khi bị bắt, bị tra tấn hỏi cung, ông liền tự cắt đứt một khúc lưỡi, làm cho giặc Pháp phải kinh sợ Hoàng Xuân Hoành bị Pháp đày ra Côn Đảo[31],[76],[158]
Dòng họ Nguyễn Sinh cũng có Nguyễn Sinh Quyến[31],[158]
tham gia Chung nghĩa binh Sau khi cụ Vương Thúc Mậu tử tiết, ông đem bộ phận Chung nghĩa binh vào Vũ Quang tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng Cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Sinh Quyến bị bắt đem về Kim Liên
xử chém Trước lưỡi đao của giặc, ông vẫn thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất[76, tr.16]
Bên cạnh những gia đình, dòng họ yêu nước đó, quê hương Nam Đàn trong thời kỳ này còn là nơi có nhiều chí sĩ yêu nước, sẵn sàng từ bỏ công danh để phất cờ khởi nghĩa
Nguyễn Đức Đạt (người Hoành Sơn) đậu Thám hoa, bỏ Tuần phủ Hưng Yên lên Sơn phòng ra mắt vua Hàm Nghi… Sau cùng Nguyễn Quang (người Hoành Sơn) và Nguyễn Đức Quý (em con chú ruột Nguyễn Đức Đạt (đỗ Hoàng Giáp) chiêu dụ nghĩa binh, dựng cờ nghĩa tại Nam Hoa hưởng ứng
“nghĩa tiên thanh phù xã tắc” như bao cuộc nổi dậy khác Hồ Duy Cương, Nguyễn Sĩ tại Hồ Liễu cùng phó bảng Nguyễn Văn Đỉnh, tú tài Trần Văn Tạo cũng nổi dậy, “chiếu nhà phú hộ quyên lương, chiếu dân thôn xã tráng cường tranh binh”, bổ ra đội nhất, đội nhì đốc binh đốc chiến rồi “định ngày làm lễ
tế cờ, tu đồ khí giới để chờ Tây lên”[31, tr.113]
Lê Ninh cũng mộ quân chống Pháp tại Trung Lễ, sau lên cùng Phan Đình Phùng
Chữ dùng của nhà văn E Côbelép[24]