Xuất phát từ những yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, cũng như đòi hỏi từ chính sự phát triển tư duy triết học trong thời đại mới, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HUỲNH BÍCH PHƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HUỲNH BÍCH PHƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ THIÊN SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hà Thiên Sơn
Các số liệu, tài liệu, trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Nguyễn Huỳnh Bích Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN 8 1.1 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lịch
sử triết học trước Mác 8
1.1.1 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lịch
sử triết học phương Đông cổ đại 8 1.1.2 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lịch
sử triết học phương Tây trước Mác 18
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên 29
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên 29 1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên 36
1.3 Quan điểm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dưới ánh
sáng của khoa học và thực tiễn xã hội hiện đại 43
1.3.1 Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ
phát triển của xã hội 43 1.3.2 Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc trình độ nhận
thức và vận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn 47 1.3.3 Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên với tính cách là một
trong những vấn đề toàn cầu 49
Trang 5Chương 2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY 58
2.1 Thực trạng môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay 58
2.2 Cách tiếp cận triết học nhằm giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên hiện nay 78
2.2.1 Quan điểm con người hòa hợp với tự nhiên 78
2.2.2 Quan điểm đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên 81
2.2.3 Quan điểm phát triển bền vững cho con người và tự nhiên 84
2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay 86
2.3.1 Có quan điểm đúng đắn về tự nhiên, về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên 87
2.3.2 Giáo dục và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng 91
2.3.3 Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về môi trường 94
2.3.4 Nâng cao hiệu lực quản lý trong vấn đề môi trường 97
2.3.5 Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong việc bảo vệ môi trường 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người và tự nhiên là vấn đề muôn thuở của triết học Do vậy, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là một trong những vấn đề trọng tâm của việc nghiên cứu triết học Từ lâu, nhân loại đã quan tâm, suy ngẫm và bàn luận về vấn đề này Trong triết học phương Đông cổ đại, tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất”, “Thiên nhân cảm ứng” của Nho giáo, hay thuyết “Duyên khởi” của Phật giáo nguyên thủy… đã chứng tỏ điều đó Trong các giai đoạn phát triển của lịch sử triết học phương Tây trước Mác, với tính chất hướng ngoại như là đặc trưng cơ bản của nó, vấn đề này càng thể hiện rõ nét trong cách tiếp cận của các trường phái triết học Như vậy, thái độ của con người với tự nhiên và vai trò của tự nhiên đối với con người ở thời đại nào cũng đều được triết học bằng cách này hay cách khác quan tâm giải quyết Tuy nhiên, phải đến những năm 40 của thế kỷ XIX, vấn đề mới được giải quyết một cách thật sự khoa học bởi sự ra đời và phát triển của triết học Mác
Trong thời đại ngày nay, bên cạnh những thành tựu kỳ diệu mà con người đạt được trong việc chinh phục giới tự nhiên thì con người cũng phải đương đầu với biết bao vấn đề nghiêm trọng nảy sinh từ chính quá trình chinh phục tự nhiên Xã hội hiện đại với những thành công về kinh tế và khoa học – công nghệ đã làm tăng thêm khả năng con người trở thành kẻ thù của tự nhiên và giới tự nhiên luôn luôn rình rập báo thù con người Vì vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đòi hỏi phải được suy nghĩ một cách sâu sắc ở tầm triết học
Một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu hiện nay là vấn đề môi trường Cuộc sống luôn luôn chứng tỏ rằng, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc một phần lớn vào việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống Nạn ô nhiễm môi trường; nạn khai thác cạn
Trang 7kiệt tài nguyên thiên nhiên; sự tuyệt chủng nhiều loài sinh vật quý hiếm,… đang tạo nên sự khủng hoảng môi trường, sự mất cân bằng sinh thái một cách nghiêm trọng
Ở Việt Nam hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn đặt
ra hàng loạt vấn đề môi trường nan giải Mặc dù Đảng và Nhà nước đã nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp tích cực, nhưng vẫn chưa thể giải quyết vấn đề môi trường một cách triệt để Dường như chúng xuất hiện ngày càng nhiều hơn, nan giải hơn, tính chất cấp bách và sự tác động của chúng đến đời sống cộng đồng dường như cũng ngày càng mạnh hơn Trước tình hình ấy, trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, cần đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững; đồng thời chỉ rõ: “Phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái” [16, 72] Chính vì vậy, dưới góc độ lý luận cần phải làm rõ hơn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trên cơ sở ấy mới có được những giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay
Xuất phát từ những yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, cũng như đòi hỏi
từ chính sự phát triển tư duy triết học trong thời đại mới, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển xã hội, mà ngay cả đối với sự phát triển của tư duy triết học Vấn đề này cần phải được nghiên cứu sâu sắc hơn, toàn diện hơn, để từ đó có được cơ sở lý luận vững vàng trong việc giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay Chính vì thế, việc nghiên cứu triết học vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên càng trở nên bức bách Do vậy, tôi mạnh
dạn chọn đề tài Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên với việc giải quyết
vấn đề môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ
triết học của mình
Trang 82 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đã được quan tâm nghiên cứu trong tiến trình phát triển của lịch sử triết học, cả ở phương Đông lẫn phương Tây, từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, trong các tài liệu triết học trong nước lẫn ngoài nước Song, chỉ khi triết học Mác ra đời, vấn đề này mới được nghiên cứu từ lập trường thế giới quan và phương pháp luận triệt
để khoa học Sự phát triển của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội đã chứng
tỏ rằng, chỉ có triết học Mác – Lênin mới thực sự giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết trong các giáo trình triết học đều trực tiếp hay gián tiếp có đề cập đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, gắn liền với một trong các vấn đề toàn cầu bức bách – vấn đề môi trường – sinh thái
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề môi trường sinh thái trên cơ sở lý luận giải quyết mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên Chẳng hạn, cuốn Môi trường sinh thái- vấn đề và giải
pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; rất nhiều bài viết của tác giả về
vấn đề môi trường sinh thái được đăng trên các Tạp chí Triết học và Tạp chí Cộng sản
Tác phẩm Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý
tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam của Hà Huy Thành, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001 đã phân tích những khía cạnh đạo đức – xã hội về vấn đề sử dụng tài nguyên môi trường, từ đó nêu lên tính cấp bách của việc
bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay; Tác phẩm Bảo vệ môi trường của Chu
Công Phùng, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1999 trình bày vấn đề môi trường với tính cách là một trong những vấn đề toàn cầu bức bách và những
giải pháp nhằm bảo vệ môi trường trong điều kiện hiện nay; Cuốn Môi
Trang 9trường và con người của Văn Thái, Nxb TP.Hồ Chí Minh, 1998 đã đi sâu
vào việc phân tích các khái niệm môi trường, những vấn đề đặt ra về môi
trường, mối quan hệ giữa con người và môi trường; Cuốn Tài nguyên môi
trường và phát triển bền vững của Lê Huy Bá, Nxb Khoa học và kỹ thuật,
Hà Nội, 2002 đã phân tích triết lý về sự phát triển bền vững trong mối quan
hệ với nguồn tài nguyên môi trường, những nguy cơ về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và những biện pháp khắc phục,…
Tác giả Phạm Văn Boong với cuốn Ý thức sinh thái và vấn đề phát
triển lâu bền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 đã phân tích mối quan
hệ giữa phát triển lâu bền và ý thức sinh thái, nhận thức mới về sinh thái, vai trò của ý thức sinh thái đối với sự phát triển lâu bền, vấn đề xây dựng ý thức sinh thái trong điều kiện hiện nay nói chung, ở Việt Nam nói riêng
Các tác phẩm Sinh thái và môi trường của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 và Những vấn đề sinh thái và môi trường ở Việt Nam
của Đoàn Cảnh, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1980 đã phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của vấn đề sinh thái, ý thức sinh thái, đạo đức sinh thái, từ
đó nêu lên thực trạng và một số giải pháp đối với vấn đề môi trường hiện nay
ở Việt Nam
Công trình Đổi mới quản lý kinh tế và môi trường sinh thái của Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997 tập trung làm rõ các vấn đề về đổi mới quản lý kinh tế trong điều kiện môi trường sinh thái hiện nay, nhất là nêu lên những giải pháp tổng thể trong việc đổi mới quản lý kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững
Tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan với cuốn Môi trường tự nhiên trong hoạt
động sống của con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 đi sâu vào
việc nghiên cứu mối quan hệ, tác động qua lại giữa con người và môi trường
tự nhiên, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của sự tác động ấy, từ đó đề
Trang 10xuất những phương hướng và giải pháp, biện pháp để bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên ở nước ta
Công trình Hiện trạng môi trường Việt Nam của Bộ Khoa học - Công
nghệ và Môi trường, Hà Nội, 1996 là một công trình khoa học đồ sộ tập trung phân tích thực trạng môi trường ở nước ta hiện nay, nguyên nhân, đặc điểm của thực trạng ấy, cũng như những giải pháp để bảo vệ môi trường
Cuốn Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã
hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010 do tác giả Hồ Sĩ Quý chủ biên đã
đề cập đến các vấn đề triết lý phát triển, triết lý con người chinh phục tự nhiên và triết lý con người hòa hợp với tự nhiên, đồng thời chỉ ra vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội, những giải pháp trong việc giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên hiện nay,…
Công trình Hệ thống phạm trù lý học của học giả Trung Quốc Mông
Bồi Nguyên, do Tạ Phú Chinh và Nguyễn Văn Đức dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 đã đề cập nhiều vấn đề triết học, trong đó có vấn đề Thiên – Nhân hợp nhất, để phân tích một cách sâu sắc mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên trong triết học trung cổ đại
Nói chung, trong các công trình, tài liệu trên đây các tác giả đều chỉ ra nguyên nhân và thực trạng của vấn đề môi trường ở nước ta từ việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Đặc biệt, các tác giả ấy còn đi vào việc phân tích cơ sở lý luận để đề ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn
đề môi trường ở nước ta hiện nay
Tuy nhiên, những tài liệu trên đây mới chỉ khai thác những khía cạnh nhất định của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, cũng như những khía cạnh khác nhau của vấn đề môi trường – sinh thái Vấn đề quan trọng là ở
chỗ, phải nghiên cứu những cơ sở triết học của việc giải quyết vấn đề môi
Trang 11trường tự nhiên, chứ không dừng lại dưới góc độ của khoa học về môi trường Luận văn sẽ cố gắng thực hiện theo xu hướng đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ quan điểm duy vật biện chứng về mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên, từ đó vận dụng quan điểm này trong việc giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay
Để thực hiện được mục đích đó, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tìm hiểu quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên trong lịch sử triết học
Thứ hai, làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Thứ ba, tìm hiểu quan điểm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
dưới ánh sáng của khoa học và thực tiễn xã hội hiện đại
Thứ tư, chỉ ra thực trạng của vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện
nay, từ đó nêu lên một số cách tiếp cận triết học và đề ra một số giải pháp trong việc giải quyết vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp xuyên suốt của việc nghiên cứu đề tài
Ngoài ra, để nghiên cứu đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp:
So sánh, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, phương pháp hệ thống,…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập bộ môn triết học Mác- Lênin
Trang 12- Luận văn có tác dụng gợi ý và khuyến nghị đối với những người làm công tác tổ chức, quản lý lĩnh vực môi trường ở nước ta hiện nay
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 2 chương và được chia thành 6 tiết
Trang 13Chương 1 QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN 1.2 QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC
1.1.1 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Xu hướng chung của các học thuyết triết học phương Đông cổ đại khi giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là sự hòa hợp của con người với tự nhiên Điều này thể hiện rõ trong tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất”, “Thiên nhân cảm ứng” của Nho giáo, trong học thuyết “vô vi” của trường phái Đạo gia, hay thuyết “Duyên khởi” của Phật giáo nguyên thủy…
Có thể nói, tuy còn manh nha, chưa hoàn chỉnh hoặc ít nhiều còn mang màu sắc thần bí, song tư tưởng về mối quan hệ gắn bó, khăng khít giữa con người và tự nhiên đã nảy nở ngay từ thời cổ đại Thái độ hòa hợp của con người với tự nhiên của phương Đông đã được hình thành từ lâu và đã định hình trên cơ sở những quan niệm về con người trong các học thuyết triết học phương Đông Trong quan niệm của tất cả các tôn giáo và học thuyết triết học phương Đông truyền thống, con người không đối lập với giới tự nhiên, mà luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên Nho giáo cho rằng, con người sống giữa trời đất, giữa vạn vật nên quan hệ giữa con người với trời đất là quan hệ "thiên nhân cảm ứng" Phật giáo nguyên thuỷ coi mọi
sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời
là điều kiện cho sự tồn tại của nhau Ở Việt Nam, tư tưởng về sự hoà hợp giữa con người và tự nhiên cũng xuất hiện khá sớm
Vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học
Trung Quốc cổ đại
Trang 14Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được thể hiện đặc thù trong triết học Trung Quốc cổ đại thông qua việc giải quyết mối quan hệ Thiên – Nhân trong học thuyết “Thiên – Nhân hợp nhất”
– Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên của các nhà lý
học
Vấn đề quan hệ Thiên – Nhân là vấn đề cơ bản của triết học truyền thống Trung Quốc cổ đại Các nhà tư tưởng cổ đại coi việc nghiên cứu Thiên – Nhân là học vấn và trí tuệ cao nhất và từ đó hình thành nên phương thức tư duy độc đáo của nền triết triết học Trung Quốc cổ đại Tư tưởng cốt lõi của quan niệm này là sự thống nhất hữu cơ giữa con người và tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể, nghĩa là “Thiên – Nhân” hợp nhất Nó được tạo thành từ bốn bộ phận là lý khí (Thiên), nhân tính (Nhân), tri hành (trung giới) và Thiên Nhân Thiên – Nhân hợp nhất là phạm trù cuối cùng của hệ thống phạm trù này Trong đó, mỗi bộ phận có tính độc lập tương đối, song giữa chúng cấu thành nên một hệ thống tự đóng kín Toàn bộ hệ thống bắt đầu từ
“Thiên” (Trời) quá độ sang “Nhân” (Người), qua sự nối tiếp của phạm trù
“tri hành”, cuối cùng đạt tới điểm kết thúc của nó là “Thiên – Nhân hợp nhất” Nhưng đó không phải là trở về khởi điểm một cách giản đơn, mà là sau khi Nhân và Thiên, chủ thể và khách thể triển khai đầy đủ rồi, mới lại thực hiện sự thống nhất lấy con người làm trung tâm Trong hệ thống này, Thiên là sự tồn tại cao nhất, nhưng con người cuối cùng chiếm địa vị trung tâm
Mệnh đề “Thiên – Nhân hợp nhất” do nhà lý học Trương Tải chính thức nêu ra Nhà tư tưởng Nhị Trình thậm chí còn nói: “Thiên – Nhân vốn không có hai, không cần nói đến hợp” (“Di thư”, quyển 6) [Dẫn theo: 55, 809] Sự thực, toàn bộ phạm trù lý học, đều triển khai xoay quanh vấn đề quan hệ giữa trời và người Vũ trụ luận, nhân tính luận và nhận thức luận mà
Trang 15các nhà lý học hoàn thành, chẳng qua chỉ là sự triển khai và tiến hành trong một kết cấu cơ bản đó
Cái gọi là quan hệ Thiên – Nhân, thực tế là nói về quan hệ giữa con người và giới tự nhiên (bao gồm cả xã hội) Các nhà lý học tuy lấy con người làm trung tâm, nhưng con người không tách rời hoàn cảnh và điều kiện khách quan mà con người đang sống, tức giới tự nhiên Vì thế, vấn đề của con người cần được giải quyết trong cùng mối quan hệ với giới tự nhiên
Theo quan niệm của các nhà lý học, “Thiên – Nhân hợp nhất” không
có nghĩa coi con người và giới tự nhiên là một mớ hỗn độn không có chút phân biệt nào, trở thành trạng thái hỗn hợp không có ý thức, cũng không phải đối lập hoàn toàn, mà là sự hợp nhất trong sự khác biệt, tức là sự thống nhất trong sự đối lập Điều đó thể hiện tư duy biện chứng sâu sắc Con người và giới tự nhiên là một chỉnh thể hữu cơ, con người là sản vật của giới tự nhiên, cuối cùng phải trở về với giới tự nhiên Nhân tính bắt nguồn từ đạo trời, bản tính con người là sự thể hiện cụ thể của quy luật tự nhiên và phép tắc tự nhiên, bản chất xã hội của con người là do giới tự nhiên phú cho Quan niệm này đã mắc phải một thiếu sót là đã thiếu sự nhận thức cụ thể về quy luật tự nhiên, cũng như về bản chất xã hội của con người Nhưng mặt khác, nó lại có giá trị sâu sắc khi thấy được sự thống nhất giữa con người và tự nhiên, con người cần phải phục tùng quy luật và phép tắc của tự nhiên, phải tìm được sự
ổn định và cân bằng với giới tự nhiên, từ đó mà đạt tới sự cân bằng của thế giới tinh thần nội tại
Vấn đề là ở chỗ, các nhà lý học tuy nhận thức được tầm quan trọng của
sự thống nhất giữa con người và giới tự nhiên, lại coi thường sự khác biệt và đối lập giữa con người và tự nhiên Họ nêu ra vấn đề quy luật tự nhiên và phép tắc tự nhiên, nhưng chưa đi theo con đường nhận thức và cải tạo tự nhiên Tuy họ thấy được tự nhiên là nguồn gốc của tất thảy, nhưng lại không
Trang 16phân biệt được con người và tự nhiên về bản chất, mà lại phú cho tự nhiên những tính chất và đặc điểm của con người Họ nhấn mạnh tính chủ thể con người, nhưng chỉ là vì thực hiện mối quan hệ thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên Từ nguyên tắc chỉnh thể “Thiên – Nhân hợp nhất”, các nhà lý học coi xã hội loài người là một thành tố hữu cơ của chỉnh thể giơí tự nhiên
– Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết
học Nho giáo
Như trên đã nói, trước Khổng Tử, triết học Trung Quốc đã có sự bàn luận về “Thiên” và “Nhân” Trong các quan niệm Nho giáo, tự nhiên, vũ trụ (Thiên, Thiên đạo, Thiên tính, Thiên mệnh,…) bao giờ cũng là cái nằm ngoài
ý chí của con người, sinh ra họa phúc, thiện ác,… trần gian Các nhà Nho đều thừa nhận “Thiên mệnh” và cho rằng, không một ai có thể cải tạo được
“Thiên mệnh” mà cần phải thích nghi với nó Mặc dù không phủ nhận đời sống con người cũng có “đạo”, có “thời” của riêng nó, nhưng Nho giáo không đối lập “Thiên đạo” với “Nhân đạo” Ngược lại, Nho giáo cho rằng, con người sống trong trời đất, con người là trung tâm của trời đất, sống giữa vạn vật nên giữa con người và trời đất luôn luôn có quan hệ “Thiên nhân cảm ứng” Nghĩa là, trong đời sống của mình, con người cần phải hiểu mệnh trời, phải biết sợ mệnh trời (“tri Thiên mệnh”, “úy Thiên mệnh” – Khổng Tử); để
từ đó biết “ứng thời” theo “Thiên mệnh”, “Thiên đạo” [Xem: 69, 12–52]
Xuất phát từ lập trường nhân bản học, Khổng Tử đã nêu ra vấn đề quan hệ Thiên – Nhân Ông cho rằng, chỉ có “Biết được mệnh trời” mới có thể đạt tới tự do Cái gọi là “mệnh Trời” của Khổng Tử không phải đơn giản
là mệnh lệnh của Thượng đế, mà dùng để chỉ tính tất yếu khách quan của giới
tự nhiên “Trời nói gì nào! Bốn mùa vận hành, trăm vật sinh ra, trời nói gì nào!” (Luận ngữ, Dương hóa”) [Dẫn theo: 55, 820]“) Điều nhân nghĩa là do
Trang 17mình, nhưng muốn đạt được ranh giới cao nhất thì cần phải “biết Trời” (tri Thiên) và “phép Trời” (tắc Thiên), Thánh nhân là thực hành theo “phép Trời” Theo Khổng Tử, con người và vạn vật trong vũ trụ đều là kết quả của
sự bẩm thụ lý – khí của trời đất và sự hội hợp của âm dương mà thành Xuất phát từ quan điểm “Thiên nhân tương đồng”, ông cho rằng, đạo sống của con người là biểu hiện của đạo trời Bản tính của con người, theo Khổng Tử, là tính tự nhiên trời phú cho con người Điều đó càng cho thấy tư tưởng hòa hợp giữa con người và trời đất trong triết lý nhân sinh của Khổng Tử
Xuất phát từ nguyên tắc chủ thể của đạo đức, Mạnh Tử đã giải quyết con đường và phương pháp thực hiện “Thiên – Nhân hợp nhất” Ông thừa nhận nhân tính bắt rễ ở tâm và chịu ở Trời, biết được tính thì có thể biết được trời Trời (Thiên) là sự tồn tại cao nhất của giới tự nhiên, Người (Nhân) là chủ thể đạo đức Thiên và Nhân cấu thành mối quan hệ chủ – khách thể thật
sự
Tuân Tử rất sáng suốt trong việc “phân chia Thiên và Nhân”, nhưng đồng thời lại thừa nhận trời là “bản” (cái gốc) của con người và muôn vật Theo Tuân Tử, “duy chỉ có Thánh nhân là không cầu biết trời” (“Tuân Tử” – Thiên Luận) Thánh nhân đến với luân lý con người, chứ không phải là anh hùng nhận thức và cải tạo tự nhiên Theo Tuân Tử, không cầu biết trời là không cần nhận thức về giới tự nhiên; nhưng việc học của Thánh nhân lại cần phải “biết đạo”; biết được đạo trời thì có thể tham gia với trời đất Điều này chứng tỏ Tuân Tử vừa có tư tưởng “Thiên – Nhân tương phân” vừa có tư tưởng “Thiên – Nhân hợp nhất”
Sau này, Đổng Trọng Thư đã đưa mục đích luận vào quan hệ Thiên – Nhân, một mặt, thể hiện đặc sắc thần học; mặt khác, lại nêu ra vấn đề giới tự nhiên hợp với tính mục đích, thể hiện lập trường duy tâm
Trang 18Tóm lại, cái gọi là “Trời” của Nho giáo, nói chung chỉ là sự tồn tại cao
nhất của giới tự nhiên Cái gọi là “Thiên – Nhân hợp nhất” chỉ là sự thống nhất hài hòa giữa con người và giới tự nhiên Lấy con người làm trung tâm và mục tiêu nhận thức, triết học Trung Quốc cổ đại đề cao tinh thần nhân văn, khẳng định giá trị tồn tại tích cực của con người đối với chính bản thân mình
và đối với thế giới bên ngoài Con người là trung tâm của vũ trụ, nhưng không đồng nhất với động vật, với thần linh mà hòa hợp với trời và đất Từ con người có thể suy ra nắm bắt được cả thế giới (“Hiểu rõ cái tâm của nó thì
sẽ hiểu cái tính của nó, hiểu cái tính của nó thì sẽ biết trời”) Những luận điểm như “Thiên Nhân vô nhị” , “tâm của thánh nhân với trời là một”, “trời là người, người là trời”, “vạn vật trong trời đất với con người vốn là nhất thể” được đưa ra nhằm khẳng định con người gắn liền với vũ trụ, với tự nhiên
– Vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học Đạo
gia
Trường phái Đạo gia đã phủ nhận tính chất thần bí tôn giáo của “Trời” trong Nho giáo, đã khôi phục thuộc tính “tự nhiên” của nó, đồng thời nêu ra phạm trù “Đạo” để bản thể hóa “Trời” Đạo gia cũng coi trọng sự hòa hợp, thống nhất của con người trong quan hệ với tự nhiên, với vạn vật trong vũ
trụ
Mở rộng tư tưởng về “đạo” trong đời sống xã hội, Lão Tử đã đề xướng học thuyết “vô vi”, qua đó ông đã trình bày những quan điểm hết sức đặc sắc của mình về các vấn đề đạo đức nhân sinh, chính trị – xã hội, nhất là trong đó toát lên một vấn đề triết học của mọi thời đại, đó là mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Trong việc giải quyết mối quan hệ này, quan niệm của
Lão Tử thể hiện ở hai nội dung cơ bản: một là, sự thống nhất, hài hòa giữa con người và tự nhiên; hai là, sự giữ gìn, bảo vệ của con người đối với giới
tự nhiên
Trang 19Trước hết, về sự thống nhất, hài hòa giữa con người và tự nhiên
“Vô vi” là một học thuyết triết học của người Trung Hoa cổ đại đã được Lão Tử nâng lên thành học thuyết về nghệ thuật sống của con người trong sự hòa nhập với tự nhiên
Theo Lão Tử cũng như theo cách hiểu của người Trung Hoa, “vô vi” không có nghĩa là không có sự hoạt động gì, mà là hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động có tính chất giả tạo, gò ép, trái với bản tính tự nhiên của mình, không làm trái với quy luật tự nhiên, không can thiệp vào tự nhiên, không thái quá và bất cập Lão Tử viết: “Đạo thường không làm gì mà không gì không làm Vua chúa nếu giữ được đạo, muôn vật sẽ tự mình chuyển hóa… Không ham muốn để được yên lặng, thiên hạ sẽ tự yên”
(Đạo đức kinh, Chương 37) Ông còn nói: “…đạo đức là cái luật tự nhiên,
không cần tranh mà thắng, không cần nói mà ứng nghiệm, không cần mời mà
các vật vẫn theo về, lờ mờ mà hay mưu tính” (Đạo đức kinh, Chương 42)
Nếu không thuận theo đạo tự nhiên, đem ý chí và dục vọng của con người cưỡng ép vạn vật tức là lấy cái nhân vi, giả tạo thay thế cho cái tự nhiên, là trái với “đạo vô vi”, tất nhiên sẽ thất bại Lão Tử nói: “Nếu trời không trong
sẽ vỡ Đất không yên sẽ lở Hang không đầy sẽ cạn Vạn vật không sống sẽ
dứt” (Đạo đức kinh, Chương 39)
Theo Lão Tử, chính con người cũng đồng nhất, thống nhất với “đạo”, tức là mang tính tự nhiên Con người – Tự nhiên – “Đạo” là một thể thống nhất Con người, tự nhiên vừa nằm trong “đạo”, vừa thuộc về “đạo”, vừa tuân theo “đạo” Do đó, “đạo” chính là cơ sở của sự thống nhất, hài hòa giữa con người và tự nhiên
Đối với Lão Tử, vạn vật đều có bản tính tự nhiên của mình, chúng tồn tại, vận động, biến hóa theo lẽ tự nhiên, không cần biết đến ý nghĩa, mục đích của bản thân chúng, như cá bản thân nó là bơi lội dưới nước, chim là bay trên
Trang 20trời Nghĩa là sống với cái vốn có tự nhiên, mộc mạc, thuần phác của mình, không trái với quy luật của tự nhiên, không can thiệp vào quá trình vận hành của các vật khác, biết chấp nhận và thích ứng với mọi hoàn cảnh, môi trường
Có thể nói, Lão Tử cố gắng tìm ra quy luật khách quan trong sự biến hóa của vạn vật, dạy mọi người hành động theo quy luật tự nhiên Nhưng ông cho rằng, con người chỉ thích ứng với quy luật tự nhiên một cách bị động, đứng trước tự nhiên con người không cần làm gì cả Như vậy, ông đã dẫn người ta đến chỗ không cần phải tích cực đấu tranh, cải tạo tự nhiên
Song, cũng cần phải thấy rằng, thời Lão Tử sống là thời người ta chỉ biết tàn phá tự nhiên, biết những cuộc chiến đẫm máu để tranh giành ngôi báu, chỉ biết đặt ra những phép tắc phi nhân, vị kỷ Do vậy , trong quan niệm của ông về sự hài hòa, thống nhất với tự nhiên đã lóe lên một tia sáng lấp lánh của
tư tưởng thiết tha với sự bảo tồn và phát triển của giới tự nhiên
Thứ hai, sự giữ gìn, bảo vệ của con người đối với giới tự nhiên
“Vô vi” cũng còn có ý nghĩa là bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của mình và của vạn vật Lão Tử chủ trương ngăn chặn, bài trừ những gì làm tổn hại đến bản tính tự nhiên của vạn vật, mà trước hết là chống lại sự xâm hại của con người và xã hội đối với giới tự nhiên Ông nói: “Ta có ba của báu hằng nắm giữ và bảo vệ: một là từ ái, hai là tiết kiệm và ba là không dám
đứng trước thiên hạ” (Đạo đức kinh, Chương 67) Vì từ ái cho nên không
cưỡng ép vật, vì tiết kiệm cho nên không thái quá, không trái với đạo tự nhiên và vì không dám đứng trước thiên hạ cho nên tự nhiên, thuần phác, không trái với tạo hóa, không áp chế nhau, không ai lấy không ai bỏ, không
ai hơn không ai kém Từ đó, Lão Tử phản đối mọi chủ trương “hữu vi”, bởi
vì “hữu vi” chỉ khiến cho con người làm xáo trộn mọi trật tự của tự nhiên, con người bị ràng buộc bởi những danh vọng, ham muốn và mất đi bản tính
tự nhiên của chính mình
Trang 21Quan điểm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên còn được thể hiện khi Lão Tử chủ trương trị nước bằng đạo “vô vi”, tức là trả bản chất con người về cho giới tự nhiên, không được trái với tạo hóa, phải gạt bỏ hết những gì trái với tự nhiên, trái với bản chất tự nhiên của con người Con người cần phải trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên thủy, chất phác, không ham muốn, không dục vọng, không lễ giáo, không thể chế, không pháp luật, không bị ràng buộc bởi truyền thống đạo đức, văn hóa, không cần tri thức, văn hóa, kỹ thuật Lão Tử nói: “Thiên hạ nhiều kỵ húy thì dân càng nghèo, dân nhiều khí giới nhà nước càng loạn, người nhiều tài khéo vật xảo càng
thêm, pháp luật càng tăng trộm cướp càng nhiều” (Đạo đức kinh, Chương
57) Cho nên phải “dứt thánh, bỏ trí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa dân quay về lòng hiếu thảo và tự ái; dứt kỹ xảo, bỏ lợi trộm cướp không còn”
(Đạo đức kinh, Chương 19)
Phát triển quan niệm trên đây của Lão Tử theo tinh thần tuyệt đối hóa bản tính tự nhiên của con người, Trang Tử chủ trương sống tự nhiên, thuần phác, gần gũi với thiên nhiên, sống tự do, tự tại, không màng danh lợi, mọi người tự làm những việc mà mỗi người cần phải làm một cách tự nhiên, chống lại mọi ràng buộc của trật tự, lễ giáo hà khắc Theo ông, cuộc đời chỉ
là một giấc mộng ngắn ngủi Qua giấc mơ hóa bướm, ông ca ngợi vẻ đẹp của những sinh linh bé nhỏ, đẹp đẽ và tự do, nhởn nhơ bay lượn; đồng thời bộc lộ khát vọng của con người được hòa nhập vào tự nhiên Trong thiên “Tề vật luận”, Trang Tử cho rằng, vật và ta đều bình đẳng, “trời đất cùng sinh với ta, vạn vật và ta là một” Như vậy, trường phái Đạo gia đã thể hiện một triết lý nhân sinh độc đáo, đối lập với những đường lối tư tưởng đương thời, chống lại mọi trật tự, giáo lý ràng buộc khiến con người đánh mất cái bản ngã tự nhiên của chính mình Coi trọng sự hòa hợp, sự thống nhất trong quan hệ
Trang 22giữa con người và tự nhiên, giữa mọi sinh vật trong vũ trụ, Đạo gia đã đề cao thái độ tôn trọng tự nhiên của con người
Với quan điểm “vô vi”, thuần phác tự nhiên của Lão Tử, cũng như
“thuận thiên tính”, hòa vào vạn vật của Trang Tử, một mặt, nó có giá trị to
lớn và sâu sắc, khi nó khuyên con người cần phải sống hài hòa với tự nhiên, tuân theo các quy luật của tự nhiên Với cách hiểu ấy, con người có được một
hệ thống giá trị tinh thần sâu sắc, góp phần tạo nên sự ổn định xã hội Nhưng
mặt khác, quan điểm ấy không thấy được tầm quan trọng của tri thức, kỹ
thuật của con người, nó thủ tiêu khả năng nhận thức của con người về bản chất và các quy luật của tự nhiên Do vậy, nó phủ nhận việc chinh phục giới
tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên của con người; nó làm cho con người ta an phận, trì trệ, không cầu tiến và thờ ơ lãnh đạm trước cuộc đời Chính vì thế,
nó kìm hãm sự phát triển của xã hội Hơn nữa, trong xã hội có giai cấp mà lại phủ nhận mọi truyền thống đạo đức, luân lý, chính trị, pháp luật, văn hóa,…,
có nghĩa là, rút cuộc, nó đã kéo thụt lùi lịch sử, nó muốn đưa xã hội trở về thời kỳ nguyên thủy Như vậy, dưới góc độ này, quan niệm ấy mang tính chất
ảo tưởng và bộc lộ rõ nét những hạn chế về mặt lịch sử Mặc dù vậy, nói chung, quan niệm của trường phái Đạo gia về mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với xã hội hiện nay
Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học Ấn Độ cổ đại
Trong học thuyết “Duyên khởi” của trường phái triết học Phật giáo nguyên thủy, quan hệ tác động qua lại của vạn vật, trong đó có tự nhiên và con người, còn được giải thích một cách biện chứng hơn Theo thuyết này, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều có quan hệ với nhau và đều là điều kiện cho sự tồn tại của nhau (“Thử hữu cố bỉ hữu, thử sinh cố bỉ sinh, thử vô
cố bỉ vô, thử diệt cố bỉ diệt” – Sở dĩ cái này tồn tại nên cái kia tồn tại, sở dĩ
Trang 23cái này sinh ra nên cái kia sinh ra, sở dĩ cái này không tồn tại nên cái kia cũng không tồn tại, sở dĩ cái này mất đi nên cái kia cũng mất đi) [Xem: 84, 300] Đương nhiên, thuyết Duyên khởi không trực tiếp giải thích mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên, song với lôgíc của quan niệm như trên, chúng
ta có thể hiểu không có sự đối lập giữa con người và tự nhiên
1.1.2 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lịch sử triết học phương Tây trước Mác
Khác với phương Đông, trong lịch sử triết học phương Tây trước Mác khi đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên thì xu hướng chung của nó là đề cao việc chinh phục giới tự nhiên của con người, đề cao đến mức tuyệt đối hóa con người trong mối quan hệ với tự nhiên Nó tìm sức mạnh của con người ở tri thức, ở sự hiểu biết của con người về tự nhiên và khả năng chinh phục tự nhiên của con người Điều đó đã tạo nên nét đặc trưng riêng của các trường phái triết học phương Tây trước Mác là mang tính hướng ngoại
Quan niệm của triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại về sự tôn vinh vị trí và vai trò con người và tinh thần của Kitô giáo về sự sáng tạo của Thượng đế luôn luôn chi phối và ảnh hưởng một cách sâu sắc đến sự phát triển của các nền văn minh phương Tây Phần lớn những thành tựu làm nên diện mạo của phương Tây, cũng như phần lớn những quan điểm tiêu cực nảy sinh trong quá trình đối xử của con người với thế giới xung quanh đều có khởi nguồn sâu xa từ đây Cũng từ đây, quan niệm con người chinh phục tự nhiên đã xuất hiện và phát triển
Ở thời cổ đại Hy Lạp, lần đầu tiên thái độ tôn vinh con người nhưng thái quá đến mức vị kỷ thể hiện ở trường phái ngụy biện, mà tiêu biểu là Prôtago Khi đưa ra quan niệm của mình về chân lý, Prôtago cho rằng, việc chứng minh sự vật nào đó là hiện thực hay không hiện thực hoàn toàn phụ
Trang 24thuộc vào ý kiến của từng chủ thể cá biệt; điều đó có ý nghĩa đối với từng chủ thể đó Prôtago khẳng định: “Con người là thước đo tất thảy mọi vật”[Xem: 81, 180]
Quan điểm của Prôtago được Xôcrát tán đồng và làm rõ thêm rằng,
“con người với tư cách là kẻ biết suy nghĩ mới là thước đo của vạn vật” Đối với Xôcrát, con người là trung tâm của thế giới; tuy nhiên, ông nhấn mạnh năng lực tư duy của con người với nghĩa là không phải tất cả mọi người đều
có vị trí trung tâm ấy Ở thời cổ đại Hy Lạp, kiến thức về giải phẫu học đã đạt đến trình độ khá cao; hội họa và điêu khắc cổ đại đã sử dụng rất phổ biến những tỷ lệ của cơ thể người để tiêu chuẩn hóa hình họa Vì vậy, luận điểm
“con người là thước đo của vạn vật” càng có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc
Xôcrát cho rằng, con người luôn luôn là một bí ẩn đối với nhận thức;
vì vậy, thuộc tính biết tư duy mới là cơ sở để khẳng định con người là trung tâm của thế giới Với luận điểm nổi tiếng: “Hỡi con người, hãy tự biết mình”, như cách đánh giá của Hêghen, Xôcrát đã kéo triết học từ trên trời xuống đất
và ông đã tạo nên một bước ngoặt triết học
Đỉnh cao trong các quan niệm về con người trong triết học cổ đại ở phương Tây đó là quan niệm của Arixtốt Khi tiếp tục truyền thống đề cao con người có từ trước đó, Arixtốt đã phát triển thêm tư tưởng của Xôcrát, Platôn và từ đó đưa ra những quan điểm mới của mình Arixtốt khẳng định:
“Do bản tính, con người là một động vật chính trị” [79, 40] Đây là tư tưởng
có ý nghĩa rất đáng kể trong việc nhận thức vấn đề con người cho đến tận sau này Có thể nói, Arixtốt là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên sớm nhận
ra tính xã hội của hoạt động người
Như vậy, nếu lôgíc của sự chinh phục thế giới diễn ra theo đúng quan niệm cho rằng, lúc đầu sự chinh phục thế giới của con người chỉ được thực
Trang 25hiện với tính cách là loài hoặc cộng đồng, phải đến khi tri thức về thế giới được tích lũy nhiều, xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, con người mới có khả năng khẳng định mình với tính cách là những cá nhân, thì đến thời kỳ cổ đại Hy Lạp, vấn đề chinh phục thế giới đã được đặt ra ở trình độ
cá nhân Điều đó thể hiện đặc biệt rõ ở Xôcrát và Arixtốt Cũng ở thời kỳ này, khái niệm tự nhận thức đã xuất hiện và có giá trị định hướng to lớn Quan niệm con người chinh phục thế giới đã bao hàm cả nội dung con người chinh phục xã hội Không phải ngẫu nhiên Xôcrát khẳng định: “Phẩm hạnh đồng nhất với tri thức; khi hiểu được điều thiện là gì, con người sẽ không cư
xử một cách tồi tệ” [78, 599]
Ở thời kỳ trung cổ, Thượng đế luận Kitô giáo cho rằng, trước khi sáng tạo ra con người, Chúa đã sáng tạo ra thế giới Một mặt, sự sáng tạo đó là nguyên nhân tồn tạo của con người, của xã hội loài người và của vạn vật Nhưng mặt khác, con người lại là đỉnh cao của sự sáng tạo đó, là hình ảnh của Chúa, nên bản thân con người cũng có khả năng sáng tạo và có quyền thống trị giới tự nhiên Tính chất hai mặt của quan điểm này nằm ngoài tầm kiểm soát của Giáo hội Kitô giáo Đúng như A.G.Xpirkin nhận xét: “Kitô giáo thần thánh hóa nhân cách tuyệt đối của tạo hóa và bằng cách đó cũng thần thánh hóa cả con người như là hình ảnh và đồng dạng của tạo hóa” [83, 188] Điều này dĩ nhiên có mặt tiêu cực của nó, nhưng trong những trường hợp nhất định cũng có khả năng tạo cho con người lòng say mê, tín ngưỡng mãnh liệt vào sức mạnh của bản thân, kích thích thái độ tích cực của con người đối với thế giới Truyền thống văn hóa này rất khác với phương Đông, nó quy định tính chất của văn hóa châu Âu
Sau hơn mười thế kỷ bị mai một dưới sự thống trị của Nhà thờ Kitô giáo trung cổ, truyền thống đề cao con người bắt nguồn từ triết học Hy Lạp –
La Mã cổ đại được khơi dậy và phát triển rực rỡ kể từ thời Phục Hưng (thế kỷ
Trang 26XV – XVI) Trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, lý tưởng giải phóng con người khỏi xiềng xích tôn giáo đã được tiếp thêm sức mạnh
Và cũng từ đây, quan điểm chinh phục giới tự nhiên được bộc lộ ở một trình
độ mới cao hơn
Về phương diện chính trị – xã hội, từ giữa thế kỷ XV, phương Tây bắt đầu tiến hành tìm kiếm những miền đất mới Trong khoảng ba thế kỷ, gần như toàn bộ thế giới với những nền văn hóa rất khác nhau đã được khám phá
Có rất nhiều lý do để giải thích sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản châu Âu thời bấy giờ, trong đó quan trọng nhất là lý do tham tàn của chủ nghĩa thực dân
Về phương diện nhận thức, như Ph.Ăngghen đã nhận xét, từ cuối thế
kỷ XV, cùng với sự ra đời của “nền khoa học tự nhiên thật sự”, châu Âu đã đạt tới “những tiến bộ khổng lồ” trong lĩnh vực nhận thức giới tự nhiên Đối lập với thế giới quan tôn giáo hạ thấp con người, coi con người là một sinh vật thụ động chỉ biết thờ phụng Chúa và cầu mong được Chúa rửa tội, triết học thời kỳ này chứng minh sức mạnh của con người, đấu tranh cho sự giải phóng con người và những tư tưởng nhân đạo được phát triển
N Kudan (1401 – 1464) đã đề cao vai trò của con người trong mối quan hệ với giới tự nhiên và nhấn mạnh: “Con người chính là thế giới của con người bao quát dưới dạng tiềm tàng toàn bộ Thượng đế và thế giới…, nội tâm và triển vọng của con người đó là tất cả” [Dẫn theo: 5, 259] Tư tưởng đề cao con người của ông chịu ảnh hưởng xu thế đề cao con người của các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại và tư tưởng nhân đạo thời đại của ông
N Côpécníc (1473 – 1543) với thuyết Nhật tâm của mình, coi mặt trời
là trung tâm của vũ trụ đã đặt cơ sở nền tảng, một thế giới quan khoa học trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở thời đại lúc bấy giờ Thuyết Nhật tâm đã bác bỏ thuyết Địa tâm của Ptôlêmê coi trái đất
Trang 27là trung tâm của vũ trụ; nó giáng một đòn vào chỗ quan trọng nhất, xung yếu nhất của quan điểm thần học về thế giới; nó đã cách mạng hóa toàn bộ khoa học tự nhiên Phát hiện táo bạo của N Côpécníc có ý nghĩa là “một cuộc cách mạng trên Trời” báo trước một cuộc cáng mạng trong các quan hệ trần gian, quan hệ xã hội Ph Ăngghen viết: “Hành vi cách mạng mà khoa học tự nhiên dùng để tuyên bố sự độc lập của mình… chính là việc xuất bản tác phẩm bất hủ trong đó Côpécníc, - tuy với một thái độ rụt rè…, - đã thách thức quyền uy của giáo hội trong các vấn đề của tự nhiên Từ đó trở đi khoa học tự nhiên mới bắt đầu được giải phóng khỏi thần học…” [43, 461]
G Brunô (1548 – 1600) tiếp thu học thuyết “mặt trời là trung tâm” của
N Côpécníc, đồng thời kế thừa tư tưởng duy vật và vô thần của các nhà duy vật cổ đại, xây dựng quan niệm mới về vũ trụ Ông nêu ra phạm trù cái duy nhất, đó chính là Thượng đế tồn tại dưới dạng giới tự nhiên được hiểu như một thế giới độc lập, không do một cái gì sáng tạo ra cả Ông đã đồng nhất Thượng đế với giới tự nhiên Ông nêu ra quan niệm về tính thống nhất vật chất của vũ trụ: “Mọi sự vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tất thảy mọi vật Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong chúng ta” [Dẫn theo: 5, 261] Quan niệm này chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc Theo
G Brunô, thuyết Nhật tâm của Côpécních đáng được trân trọng, nhưng không nên quá sùng bái nó Trên cơ sở đó, ông đã bổ sung, vũ trụ là vô tận, không phải mặt trời là trung tâm của vũ trụ, mà chỉ là trung tâm của Thái dương hệ của chúng ta mà thôi Ngoài Thái dương hệ của chúng ta, còn có vô
số thế giới tồn tại, trái đất là hạt bụi nhỏ trong khoảng mênh mông của vũ trụ; không có hành tinh nào thực sự là trung tâm của vũ trụ, sự sống và con người
có thể có trên nhiều hành tinh khác của vũ trụ bao la; không có chúa Trời nào thống trị vũ trụ cả Như vậy, G Brunô đã bổ sung cho lý luận của N Côpécních một loạt những luận điểm đúng đắn và phỏng đoán thiên tài mà
Trang 28khoa học ngày nay đã chứng thực và đang tìm kiếm theo những tư tưởng sâu sắc của ông
Tiếp theo quan điểm của G Brunô, G Galilê (1564 – 1642) tiếp tục khẳng định tính thống nhất vật chất của vũ trụ Ông cho rằng, giới tự nhiên
và kinh thánh như “hai cuốn sách” không liên quan với nhau Kinh thánh dạy cho con người nhiều điều hay lẽ phải trong cuộc sống thông thường, còn khoa học giúp con người khám phá ra bản chất và các quy luật của tự nhiên
G Galiê đặc biệt đề cao vai trò của khoa học Ông khẳng định sức mạnh trí tuệ con người trong việc nhận thức thế giới Theo ông: “Giới tự nhiên nhạo báng các quyết định và mệnh lệnh của các công tước, hoàng tử, hoàng đế và vua chúa Nó chẳng mảy may thay đổi một tý gì những quy luật và trạng thái của mình theo những đòi hỏi của họ” [Dẫn theo: 80, 258]
Tóm lại, tuy còn những hạn chế, nhưng các nhà triết học ở thời kỳ
Phục hưng đã có công lao to lớn trong việc tìm thấy sức mạnh trí tuệ của con người nhằm hiểu biết bản chất và các quy luật của tự nhiên, trên cở đó để chinh phục tự nhiên, cải tạo nó nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người
Đến thời kỳ cận đại (thế kỷ XVII – XVIII), phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa về cơ bản đã được hình thành ở nhiều nước Tây Âu, các quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã được thiết lập Về mặt xã hội, giai cấp tư sản đã được hình thành
và ngày càng khẳng định sức mạnh của mình trên vũ đài chính trị Vì vậy, để củng cố và phát huy sức mạnh của mình, giai cấp tư sản buộc phải tiếp tục áp dụng các thành tựu của khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, nhằm nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Chính vì thế, trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên thì các nhà triết học thời kỳ này đặc biệt đề cao vai trò của trí tuệ con người trong việc hiểu
Trang 29biết giới tự nhiên, chinh phục nó, nhằm mang lại lợi ích vật chất ngày càng cao cho con người Luận điểm nổi tiếng của nhà vật lý học, triết học Ph Bêcơn “tri thức là sức mạnh” đã có ý nghĩa sâu sắc trong việc kêu gọi con người cần đi sâu vào việc tìm hiểu bản chất và các quy luật của tự nhiên Bởi
lẽ, những tri thức ấy là cơ sở, nền tảng của của công cuộc cách tân đất nước, phát triển kinh tế, bài trừ bất công và các tệ nạn xã hội Và cũng bởi lẽ, chỉ có
sự hiểu biết về giới tự nhiên thì con người mới có sức mạnh để làm chủ nó, chinh phục nó, cải tạo nó nhằm thỏa mãn nhu cầu, mục đích của con người
Những quan niệm đó là cơ sở cho sự nảy nở và phát triển triết lý con người chinh phục theo kiểu "thống trị", "tước đoạt" tự nhiên trong suốt một thời gian dài, để lại những hậu quả môi trường to lớn mà ngày nay, con người đang phải nỗ lực tìm cách khắc phục
Nhà cơ học, triết học T Hốpxơ thì lại giương cao ngọn cờ công kích thần học, chống lại chủ nghĩa kinh viện đã từng thống trị trong suốt đêm trường trung cổ trên một ngàn năm T Hốpxơ cho rằng, con người không chỉ
là một thực thể tự nhiên, mà còn là một thực thể xã hội và tự mình tham gia vào trong xã hội đó Tuy nhiên, khi giải quyết vấn đề thì ông lại chỉ thấy mặt
tự nhiên trong con người Song qua đó cũng thể hiện tư tưởng về mối quan
hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên trong quan niệm triết học của T Hốpxơ
Chủ nghĩa duy lý thế kỷ XVII – XVIII đã nhấn mạnh rằng, con người
là trung tâm của vũ trụ, là chúa tể của giới tự nhiên Đặc biệt, quan điểm của nhà toán học, nhà triết học xuất sắc của nước Pháp R Đêcáctơ cho rằng, điểm xuất phát của nhận thức là nghi ngờ có ý nghĩa sâu sắc không chỉ về nhận thức, mà kể cả về thực tiễn xã hội R Đêcáctơ đòi hỏi cần phải nghi ngờ tất cả những gì mà người ta coi đó là chân lý đã và đang thống trị bấy lâu nay Ông nói: “Dù anh nghi ngờ mọi cái nhưng không thể nghi ngờ một điều
Trang 30là anh đang nghi ngờ” Nhưng nghi ngờ cũng là tư duy, là suy nghĩ, vì vậy,
R Đêcáctơ đi đến kết luận: “Tôi tư duy, vậy là tôi tồn tại” Luận điểm ấy của ông đã có ý nghĩa to lớn trong việc lấy lại sức mạnh trí tuệ con người, chống lại mọi lòng tin mù quáng và đòi hỏi khi xem xét các hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội cần phải đặt lên tòa án của lý trí để phán xét Quan điểm của Đêcáctơ “con người là một động vật có lý trí”, hay quan điểm của Pascal
“con người là một cây sậy biết suy nghĩ” thể hiện lập trường đề cao sức mạnh trí tuệ con người trong mối quan hệ với tự nhiên
Trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ngày càng được thể hiện rõ nét khi đề cập đến vai trò quyết định của điều kiện tự nhiên đối với sự phát triển xã hội Tiêu biểu cho quan điểm này là các nhà triết học S Đ Môngtexkiơ (1689 – 1775) và G.G Rútxô (1712 – 1778)
S.Đ Môngtexkiơ cho rằng, có hai dạng quy luật chi phối sự vận động,
phát triển của lịch sử hân loại Thứ nhất, là các quy luật tự nhiên xuất phát từ
bản chất sinh vật của con người như kiếm sống, tìm thức ăn, bảo tồn nòi
giống,.v.v., Thứ hai, là các quy luật “đơn thuần xã hội” Tuy nhiên, quá nhấn
mạnh sự thống nhất giữa tự hiên và con người, S.Đ Môngtexkiơ chưa đánh giá đúng mức đặc thù riêng của các quy luật xã hội Điều này thể hiện rõ khi ông, một mặt, đề cao vai trò của sản xuất vật chất; mặt khác, lại khẳng định chính điều kiện địa lý đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của tiến trình lịch sử S.Đ Môngtexkiơ được coi là người khởi xướng ra thuyết địa lý
ở phương Tây Theo ông, từ sự khác nhau về điều kiện địa lý ở các vùng trên trái đất dẫn đến sự khác nhau giữa các dân tộc, các quốc gia về chủng tộc, lối sống, văn hóa, hệ thống luật pháp và thể chế xã hội,.v.v., Uy quyền của khí hậu, theo S.Đ Môngtexkiơ, mạnh hơn mọi uy quyền Khí hậu là yếu tố địa lý quan trọng nhất quyết định sự phát triển của xã hội “Chính sự nhu nhược của
Trang 31các dân tộc những vùng khí hậu nóng hầu như luôn luôn làm cho họ trở thành
nô lệ, trong khi đó sự dũng cảm, kiên định của các dân tộc vùng khí hậu lạnh
đã đem lại tự do cho họ” [Dẫn theo: 81, 352] Vì vậy, theo ông, mọi hình thức pháp luật, thể chế nhà nước, chiến lược, sách lược phát triển của các quốc gia cần phải được xây dựng dựa trên cơ sở tính toán các điều kiện địa
lý Với quan điểm ấy, chúng ta thấy rằng, nhìn thấy vai trò quan trọng của điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý là một cống hiến, nhưng lại tuyệt đối hóa
nó thì lại là sai lầm của Môngtexkiơ
Tiếp tục quan điểm của S.Đ Môngtexkiơ, G.G Rútxô cho rằng, điều kiện địa lý, nhất là khí hậu, đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển xã hội Các nước vùng khí hậu nóng thì chế độ chuyên quyền là hình thức nhà nước thích hợp, vì chỉ có thể dùng chuyên quyền cưỡng bức các thành viên xã hội ở vùng này thì mới lãnh đạo và quản lý họ được Còn thể chế chính trị đúng đắn phù hợp với tinh thần của khế ước xã hội thì chỉ thể hiện được ở vùng khí hậu ôn hòa
Sau này, đến giữa thế kỷ XX, một số học giả tư sản như Bơccon, C Ritte đã lạm dụng thuyết địa lý của S.Đ Môngtexkiơ để biến nó thành thuyết địa lý chính trị trong việc chứng minh tính vĩnh viễn của chiến tranh, giàu nghèo, bất bình đẳng,… Theo họ, chiến tranh, giàu nghèo, bất bình đẳng có nguyên nhân sâu xa từ hoàn cảnh địa lý Họ cho rằng, các quy luật tự nhiên chi phối toàn bộ đời sống xã hội, do đó, một quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì sẽ giữ vai trò thống trị, còn các quốc gia có điều kiện tự nhiên bất lợi thì phải chịu sự thống trị của các quốc gia khác Thuyết địa lý chính trị của các học giả tư sản, thực chất, chỉ là sự biện hộ cho chính sách xâm lược và hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc Học thuyết này không những bị phê phán mạnh mẽ về mặt khoa học, mà còn đã bị bác bỏ thực tế phát triển của lịch sử
Trang 32Nền triết học cổ điển Đức đã kế thừa những giá trị tư tưởng của triết học thời cổ đại, thời Phục Hưng và cận đại tiếp tục đề cao trí tuệ con người trong mối quan hệ với giới tự nhiên
I Cantơ (1724 – 1804) – người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức,
đã xác định rõ vị trí trong tâm của việc nghiên cứu triết học, đó là con người Ông nói: “Nếu như tồn tại một khoa học thực sự cần cho con người thì đó là khoa học mà tôi đang dạy, cụ thể là, xác định cho con người một vị trí xứng đáng trong thế giới- từ đó học được cái điều mà ai cũng phải học để làm người” [Dẫn theo: 5, 314] Theo I Cantơ, khoa học là triết học với mục đích
là xác định bản chất của con người, cần phải hướng vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống của mỗi con người Nó phải trả lời cho ba câu hỏi lớn:
“Tôi có thể biết được cái gì?”, “Tôi cần phải làm gì?” và “Tôi có thể hy vọng cái gì?” Đồng thời, I Cantơ cũng khẳng định, con người vừa là kết quả, vừa
là chủ thể của tự nhiên, chính bản thân tự nhiên cũng là kết quả hoạt động của con người
G.V.Ph.Hêghen (1770 – 1831) – nhà triết học, nhà biện chứng lỗi lạc lại tuyệt đối hóa sức mạnh con người, coi con người là “chúa tể của giới tự nhiên”, con người là hiện thân cao nhất của ý niệm tuyệt đối trong đời sống
xã hội Hêghen cho rằng, giới tự nhiên chẳng qua chỉ là kết quả của sự “tha hóa” của ý niệm tuyệt đối ở một dạng “tồn tại khác”, còn con người là giai đoạn phát triển cao nhất của ý niệm tuyệt đối- là giai đoạn ý niệm tuyệt đối quay trở về với chính bản thân nó Do vậy, theo Hêghen, mọi hoạt động nhận thức và cải tạo giới tự nhiên của con người chỉ là quá trình con người quay trở về với chính mình, nhận thức chính mình và cải tạo chính mình mà thôi
L Phoiơbắc (1804 – 1872) – đại biểu cuối cùng, đánh dấu sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, có ưu điểm so với các nhà triết học đương thời là ở chỗ, ông thừa nhận con người là “đối tượng của cảm giác” Đối với
Trang 33ông, con người là một thực thể sinh vật có cảm giác, có ham muốn, có ước
mơ, là một bộ phận của giới tự nhiên, và xét theo bản chất của nó là tình yêu,
mà mẫu mực của tình yêu là tình yêu nam nữ Ông không nhìn thấy phương diện xã hội trong con người Đó là con người chung chung, trừu tượng, phi
xã hội, phi giai cấp, với những thuộc tính sinh học bẩm sinh Ông dừng lại ở
lý luận mà không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định, trong những điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, trong những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đang tồn tại và hành động thực sự Ông chỉ biết đến quan hệ con người trong tình yêu và tình bạn đã được lý tưởng hóa
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, Phoiơbắc thừa nhận một cách siêu hình về một giới tự nhiên bất biến, mà không hiểu được rằng, con người đã tác động vào giới tự nhiên, tạo nên một giới tự nhiên có
tính chất lịch sử Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
chỉ rõ, ở Phoiơbắc, tự nhiên và lịch sử trở nên tách rời nhau, không liên hệ với nhau Các ông khẳng định: “Khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch sử; còn khi ông có tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở Phoiơbắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau” [42, 65]
Những quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lịch sử triết học trước Mác, mặc dù có những hạn chế nhất định về mặt lịch
sử, về thế giới quan và phương pháp luận, nhưng những giá trị của nó đóng vai trò là cơ sở, nền tảng cho quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng sau này
Trang 341.2 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Trong Bản thảo kinh tế – triết học 1844, khi phân tích quá trình “lao
động bị tha hóa” đã làm cho giới tự nhiên trở thành cái xa lạ với con người, C.Mác đã chỉ ra rằng, con người và giới tự nhiên có mối quan hệ khăng khít với nhau Theo C.Mác, nếu không có giới tự nhiên thì con người nói chung, người công nhân nói riêng sẽ không có “tư liệu sinh hoạt”, không có “tư liệu
để tồn tại về thể xác” Khi phân tích vai trò của giới tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của con người, C.Mác viết: “Thứ nhất, giới tự nhiên là tư liệu sinh sống trực tiếp đối với con người, và thứ hai, giới tự nhiên là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt động sinh sống của con người Giới tự nhiên là
thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế
nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại” [47, 135]
Từ đó, C.Mác đi đến kết luận: “Con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [47, 135], không tách khỏi giới tự nhiên Có thể nói, đây là một trong những
cơ sở, nền tảng để luận giải mọi vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Trong Hệ tư tưởng Đức, thông qua việc phê phán Phoiơbắc đã “phá
hoại sự hài hòa của tất cả các bộ phận của thế giới cảm giác được…, và đặc biệt là sự hài hòa giữa con người với giới tự nhiên” [42, 61], C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích một cách sâu sắc mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, cũng như sự thống nhất giữa lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội loài người C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Có thể xem xét lịch sử dưới hai mặt,
có thể chia lịch sử ra thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Tuy nhiên,
Trang 35hai mặt đó không tách rời nhau Chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch
sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [42, 25] Tất nhiên sự quy định này phụ thuộc vào sự phát triển của con người, vào sự tiến hóa xã hội Mỗi khi giới tự nhiên chưa được con người cải biến thì con người còn phụ thuộc vào giới tự nhiên Sự phụ thuộc đó biểu hiện ở chỗ “quan hệ hạn chế của con người với giới tự nhiên quyết định quan hệ hạn chế của con người với nhau, và quan hệ hạn chế của con người với nhau lại quyết định quan hệ hạn chế của con người với giới tự nhiên, chính là vì tự nhiên vẫn còn hầu như chưa bị tiến trình lịch sử cải biến” [42, 44]
Khi xác định tiền đề của mọi tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sâu sắc thêm mối quan hệ đó Theo các ông, đó là một “quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội” [42, 42] Các ông nhấn mạnh, nếu không có mối quan hệ này, con người không thể tồn tại và phát triển được
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, sau khi vạch trần và phê phán gay gắt
tính chất duy tâm chủ nghĩa của Đuyrinh về tính thống nhất của thế giới ở tính tồn tại của nó, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một
sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên” [43, 67]
Như vậy, triết học và khoa học tự nhiên đã chứng minh tính thống nhất của thế giới ở tính vật chất của nó Điều này cũng có nghĩa là thừa nhận sự thống nhất của con người với tự nhiên ở tính vật chất của chúng
Quan hệ giữa con người và tự nhiên thể hiện rõ nét hơn khi chúng ta
đề cập đến nguồn gốc, bản chất của ý thức Về vấn đề này, Ph.Ăngghen cho rằng, tư duy và ý thức của con người là sản phẩm của giới tự nhiên “Vì vậy,
lẽ tự nhiên là những sản vật của bộ óc con người, - quy đến cùng, cũng là
Trang 36những sản vật của giới tự nhiên, - không mâu thuẫn mà lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên” [43, 55] Vấn đề này được Ph.Ăngghen
tiếp tục luận giải một cách sâu sắc hơn trong tác phẩm Biện chứng của tự
nhiên
Bằng việc tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên đương thời, Ph.Ăngghen chứng minh rằng, nguồn gốc sinh học của con người là giới tự nhiên Giới tự nhiên phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau từ các vật thể anbumin đến sự xuất hiện tế bào làm cơ sở cho sự cấu thành các hình thức của thế giới hữu cơ để rối hình thành nên những cây cỏ, những động vật đầu tiên và đạt đến đỉnh cao là sự xuất hiện “một cơ thể phức tạp nhất” có khả năng tự nhận thức được chính bản thân mình- “đó là con người” [43, 475]
Sự phân tích đó cho phép Ph.Ăngghen đi đến kết luận: “bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên… mình với giới tự nhiên chỉ là một” [43, 655] Do đó con người phải biết đối xử “thân thiện” với tự nhiên
Sự thống nhất, gắn bó giữa con người và tự nhiên không chỉ về nguồn gốc sinh thành của nó, sự gắn kết ấy còn biểu hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người Chính quá trình đó đã giúp con người vượt lên thực thể sinh vật để trở thành thực thể xã hội Nói cách khác, con người là là một thực thể thống nhất giữa cái sinh vật (cái tự nhiên) và cái xã hội
Dựa vào khoa học địa chất và một số lĩnh vực khoa học khác, Ph.Ăngghen đã phân tích quá trình chuyển biến từ vượn thành người Quá trình đó được thực hiện thông qua quá trình lao động sản xuất Khẳng định vai trò to lớn của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội loài người, Ph.Ăngghen viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [43,
Trang 37641] Nhờ có lao động và thông qua lao động mà con người “thoát ra khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” [43, 673]
Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người phải cải tạo giới tự nhiên Thắng lợi vĩ đại đầu tiên của công việc này là con người đã dùng ma sát để tạo ra lửa Chính việc phát hiện ra lửa để làm chín thức ăn đã giúp cho bộ não của con người có những bước tiến đáng kể
Khi đề cập đến khả năng chinh phục giới tự nhiên của con người, V.I.Lênin đã khẳng định: “Tất cả mọi ranh giới trong tự nhiên đều là tương đối, có điều kiện có thể biến động; tất cả mọi ranh giới đó đều biểu hiện việc trí tuệ chúng ta tiến gần đến chỗ nhận thức được vật chất,… Trí tuệ con người đã tìm thấy và sẽ còn tìm thấy những cái kỳ diệu trong tự nhiên, do đó làm tăng thêm việc mình làm chủ đối với tự nhiên” [38, 392] Rõ ràng, việc nắm vững các quy luật tự nhiên ngày càng kích thích thêm những hoạt động của con người nhằm chinh phục, chế ngự tự nhiên, bắt chúng phải phục vụ mình
Nếu như loài vật chỉ biết lợi dụng giới tự nhiên bên ngoài để sinh tồn, thì con người biết biến đổi giới tự nhiên, “in cái dấu ấn của mình lên giới tự nhiên”, thống trị giới tự nhiên Tuy nhiên, “sự thống trị” này, như Ph.Ăngghen chỉ rõ: “chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần chúng ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế, mỗi thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó” [43, 654]
Chính vì vậy, con người phải tìm cách sống hài hòa, hòa nhập với chỉnh thể tự nhiên, phải điều khiển có ý thức mối quan hệ giữa con người và
Trang 38tự nhiên Bởi vì, “chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài
tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng tự nhiên, và tất
cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên
và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [43, 655] Lời cảnh báo ấy của Ph.Ăngghen cách đây trên 100 năm, nhưng đến nay vẫn giữ nguyên giá trị
Với luận điểm nổi tiếng - triết học không chỉ giải thích thế giới, mà còn
cải tạo thế giới, - triết học Mác cũng không nằm ngoài truyền thống con
người chinh phục tự nhiên của văn hóa châu Âu Tuy nhiên, triết lý con người cải tạo thế giới và chinh phục tự nhiên của triết học Mác khác hẳn với quan niệm truyền thống của phương Tây [Xem: 59, 48]
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, giữa con người và giới tự nhiên có mối quan hệ
gắn bó hữu cơ Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác khẳng định "Giới tự nhiên … - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người,
thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên"[47, 135] và bản thân lịch sử là một bộ phận hiện thực của lịch sử tự nhiên Với quan niệm đó, C.Mác kết luận rằng, chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau Theo đó, quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ đồng tiến hoá, cùng tồn tại và phát triển
Trang 39Con người và xã hội loài người không thể có sự phát triển ổn định, bền vững
và hài hòa nếu con người đối xử thô bạo với tự nhiên
Như trên đã nói, hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” là một chỉnh thể thống nhất Bản thân giới tự nhiên cũng là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, tồn tại và phát triển theo những quy luật của nó Sự cân bằng của hệ thống chỉ có thể được giữ vững và không bị phá vỡ khi sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành được duy trì trong phạm vi phù hợp, được quy định bởi các quy luật khách quan, nội tại của chính tự nhiên Chính sự liên hệ, gắn bó chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành đã quy định tính chất phản ứng dây chuyền của môi trường tự nhiên diễn ra khi sự tác động vào một yếu tố nào đó trong hệ thống lớn hơn giới hạn chịu đựng tự nhiên của nó Tính chất này khiến cho những vấn đề môi trường sống nảy sinh do tác động của con người càng trở nên phức tạp hơn và có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn Trên thực tế, một vấn đề môi trường này có thể là kết quả nảy sinh từ một vấn đề môi trường liên quan khác; đồng thời, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của một vấn đề môi trường mới
Trong khi đó, như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, tất cả các phương thức sản xuất đã có từ trước đến nay chỉ nhằm đạt được những hiệu quả có ích gần nhất và trực tiếp nhất của lao động, nhưng lại không chú ý đến những hậu quả
xa xôi sau này Với nhãn quan biện chứng, Ph.Ăngghen cho rằng, chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên; đồng thời, ông cảnh báo con người không nên quá tự hào về thắng lợi của mình đối với giới tự nhiên Bởi vì, mỗi kết quả mà con người coi là một kỳ tích chinh phục tự nhiên, tới một lúc nào đó, có thể gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được [Xem: 43, 654]
Trang 40Phải chăng, có sự mâu thuẫn trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen
khi, một mặt, các ông khẳng định con người - với năng lực và sự sáng tạo phi
thường của mình - có thể và cần phải cải tạo thế giới, trong đó có giới tự nhiên;
mặt khác, lại cho rằng, sự tác động của con người vào giới tự nhiên có thể gây
nên những hậu quả môi sinh nghiêm trọng không lường trước được? Thực tế, hoàn toàn không có sự mâu thuẫn trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen; trái lại, nó phản ánh chính lôgíc của thực tiễn Hoạt động lao động nhằm cải tạo tự nhiên là tiền đề, điều kiện cần thiết để con người duy trì sự tồn tại và phát triển của mình Tuy nhiên, con người cũng chỉ là một bộ phận của tự nhiên nên nó không thể đối xử với tự nhiên bằng thái độ và hành động của kẻ đứng ngoài tự nhiên, không tính đến hoặc bất chấp các quy luật của tự nhiên Do vậy, để tạo nên quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên - nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội, con người phải có sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của giới tự nhiên, về vị trí của con người trong hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội”; cần phải nâng cao sự hiểu biết về cái “thân thể vô cơ” - cái thân thể mà thiếu nó, cũng không có sự tồn tại, phát triển của con người, đồng thời tự giác điều chỉnh hành động của mình phù hợp với quy luật của giới tự nhiên
Một trong những ưu thế làm nên sức mạnh và cũng là điểm khác biệt quan trọng của con người so với các loài động vật khác là ở chỗ, con người biết tư duy, có thể nhận thức được các quy luật khách quan của tự nhiên và do
đó, hành động ngày càng phù hợp với các quy luật ấy Với quan điểm biện chứng và khoa học, Ph.Ăngghen khẳng định: "Sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng
ta nhận thức được những quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [43, 655] Nhờ có năng lực nhận thức
và sử dụng được những quy luật của giới tự nhiên, con người có thể dự báo,