1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lời dẫn và câu hỏi của người dẫn chương trình truyền hình (khảo sát trên các chương trình tọa đàm của đài truyền hình tp hcm)

207 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ههه --- ---LÊ THỊ NHƯ QUỲNH LỜI DẪN VÀ CÂU HỎI CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Khảo sát trên c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ههه -

-LÊ THỊ NHƯ QUỲNH

LỜI DẪN VÀ CÂU HỎI CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

(Khảo sát trên các chương trình tọa đàm của Đài Truyền hình TP.HCM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60 22 01

Người hướng dẫn: TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh

TP HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ phụ trách các chuyên đề, đã luôn tận tình truyền đạt kiến thức lẫn kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt thời gian học Cao học Ngôn ngữ khóa 2008 – 2011 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh, để tôi có được nền tảng kiến thức về ngôn ngữ học, làm tiền đề thực hiện tốt luận văn này

Tôi cũng chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh, người đã tận tâm hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn GS.TS Bùi Khánh Thế, người luôn có những lời khuyên bổ ích giúp tôi thực hiện luận văn một cách tốt nhất

Tôi cũng xin được cảm ơn quý anh chị biên tập viên của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp cho tôi nguồn ngữ liệu quý giá để thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin được chân thành cảm ơn sự chăm sóc, cổ vũ, khích lệ của những người thân trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè gần xa, tất cả đã là nguồn động viên rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin chân thành gửi đến toàn thể quý thầy cô, gia đình, bạn

bè ngàn lời cảm ơn và vạn tình yêu thương

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 05 năm 2011

Tác giả luận văn

Lê Thị Như Quỳnh

Trang 3

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 8

7 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10

1.1 Thể loại truyền hình và chương trình truyền hình 10

1.2 Thể loại phỏng vấn, tọa đàm truyền hình và đặc điểm của các chương trình tọa đàm trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 10

1.2.1 Thể loại phỏng vấn và tọa đàm truyền hình 10

1.2.2 Đặc điểm của các chương trình tọa đàm trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 15

1.3 Ngôn ngữ truyền hình 17

1.4 Người dẫn chương trình truyền hình và ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình 18

1.4.1 Người dẫn chương trình truyền hình 18

1.4.2 Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình 21

1.5 Lời dẫn của người dẫn chương trình 22

1.5.1 Khái niệm lời dẫn 22

1.5.2 Phân biệt lượt lời dẫn và diễn ngôn lời dẫn 23

1.5.3 Vai trò của lời dẫn trong chương trình 24

1.5.4 Về cấu trúc của lời dẫn 24

1.5.5 Về mặt sử dụng 26

1.6 Câu hỏi và lời hỏi 27

1.6.1 Khái niệm câu hỏi và lời hỏi 27

1.6.2 Câu hỏi và câu hỏi báo chí 28

1.6.3 Cấu trúc của câu hỏi và câu hỏi báo chí 28

1.6.4 Vai trò của lời hỏi trong chương trình tọa đàm 34

1.6.5 Đặc điểm sử dụng của câu hỏi và câu hỏi báo chí 35

Trang 4

TRUYỀN HÌNH 38

2.1 Đặc điểm cấu trúc lời dẫn 38

2.1.1 Các dạng lời nói thường xuất hiện trong lời dẫn 38

2.1.2 Cấu trúc của diễn ngôn lời dẫn (lời dẫn tổng thể) 53

2.2 Đặc điểm sử dụng lời dẫn 72

2.2.1 Hành động lời nói và biểu cảm trong lời dẫn 73

2.2.2 Đặc điểm phong cách của lời dẫn 75

2.2.3 Đặc điểm giao tiếp hội thoại của lời dẫn 84

2.2.4 Phép lịch sự trong lời dẫn 90

2.2.5 Lập luận trong lời dẫn 98

2.3 Tiểu kết 100

Chương 3 CÂU HỎI CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM TRUYỀN HÌNH 102

3.1 Đặc điểm cấu trúc của lời hỏi 102

3.1.1 Lời hỏi có tiền đề và lời hỏi không có tiền đề 104

3.1.2 Lời hỏi có thêm phần phụ chú 107

3.1.3 Lời hỏi có thành phần lịch sự và định hướng hỏi 108

3.1.4 Lời hỏi đơn và lời hỏi phức 108

3.2 Đặc điểm về mặt sử dụng của lời hỏi 111

3.2.1 Đặc điểm sử dụng của năm loại câu hỏi trong lời hỏi 111

3.2.2 Đặc điểm sử dụng của các loại cấu trúc lời hỏi 117

3.2.3 Lập luận của lời hỏi 120

3.2.4 Đặc điểm về nội dung và cách khai thác vấn đề qua các lời hỏi 128

3.3 Tiểu kết 135

KẾT LUẬN 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

PHỤ LỤC 143

Phụ lục 1: Lời dẫn mở đầu 143

Phụ lục 2: Lời dẫn chuyển tiếp 160

Phụ lục 3: Lời dẫn kết thúc 194

Trang 5

1.2 Dấu ngoặc vuông

Dấu ngoặc vuông dùng để đóng khung các công thức, biểu thức ngôn ngữ,

mô hình và đóng khung chú thích trong dòng ngữ liệu Ví dụ:

[TIỀN ĐỀ (LUẬN CỨ) - CÂU HỎI (KẾT LUẬN)]

[TIỀN ĐỀ], [KẾT LUẬN]

2 Viết tắt

- HTV: Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

- MC: người dẫn chương trình, đọc là “em-xi”

- Tên các chương trình được viết tắt như sau:

1 Ẩm thực Việt Nam ATVN

8 Ngôi nhà mơ ước NNMU

9 Người Việt - hàng Việt NVHV

10 Phổ biến kiến thức về thuế PBKTVT

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trong các thể loại báo chí truyền hình, phỏng vấn là một loại hình báo chí được sử dụng phổ biến Đây là thể loại có hình thức là cuộc thoại giữa một hoặc nhiều nhà báo với một hoặc nhiều người nhằm khai thác thông tin hoặc tranh luận, bàn bạc, phản ánh, bộc lộ chính kiến, dự báo một vấn đề, phân tích một sự kiện So với phỏng vấn ở các thể loại báo chí khác, phỏng vấn truyền hình có được ưu thế vượt trội vì thông tin đến với khán giả sống động, với hình ảnh và âm thanh thật Tác động của thông tin là trực diện và có tính thuyết phục cao hơn nhiều

Phỏng vấn là một trong những kỹ năng quan trọng để khai thác thông tin Trong chương trình học của khoa Báo chí các trường đại học đều có dạy kỹ năng này, nhưng không chuyên sâu, cho nên khi ra trường, kỹ năng này gần như thuộc về năng khiếu của cá nhân hơn là kỹ năng chuyên môn nghề báo

Từ thực trạng nêu trên, chúng tôi quyết định chọn: Lời dẫn và câu hỏi của

người dẫn chương trình truyền hình mà cứ liệu khảo sát chủ yếu dựa trên các

chương trình tọa đàm của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) làm đề tài luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về lời dẫn

Ngôn ngữ của người dẫn chương trình thường thu hút sự quan tâm đánh giá nhiều chiều từ người xem và giới nghiên cứu, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống về cấu trúc lời dẫn và câu hỏi của người dẫn chương trình truyền hình

Những nhận định có liên quan đến ngôn ngữ của MC truyền hình đều không xuất phát từ những nghiên cứu chính thức mà hầu hết chỉ là những ý kiến đi kèm với một đề tài liên quan đến truyền hình, trong đó có điểm qua lời dẫn và câu hỏi của MC

Ngoài ra, hiện nay, có một số lớp dạy về cách dẫn chương trình ở Nhà văn hóa thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh hoặc chuyên đề về phương pháp dẫn chương trình ở một số trường đại học, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạt

Trang 7

kinh nghiệm chứ chưa phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này

2.2 Về câu hỏi

Nghiên cứu lời dẫn của người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình không thể bỏ qua câu hỏi trong lời dẫn “Hỏi” chính là một hành động bằng lời nói, được xem xét trên hai phương diện: phương diện ngôn ngữ học và phương diện báo chí

2.2.1 Trên phương diện ngôn ngữ

Trong các nghiên cứu về ngữ pháp và ngữ dụng, các nhà ngôn ngữ học đều

đề cập đến câu hỏi

Hiện nay, việc nghiên cứu câu hỏi đã triển khai trên ba bình diện: cấu trúc câu hỏi, ngữ nghĩa của câu hỏi (tức nghĩa tình thái của câu hỏi, hay thái độ cảm xúc thông qua câu hỏi), ngữ dụng của câu hỏi (tức hành động hỏi, trong đó có hành động gián tiếp của lời hỏi, mượn lời hỏi để thực hiện một hành động khác)

Kết quả nghiên cứu về câu hỏi theo quan điểm ngữ pháp truyền thống có sự thống nhất với nhau giữa các tác giả từ giai đoạn đầu cho đến giai đoạn phát triển sau đó Tiêu biểu như các tác giả: Trần Trọng Kim, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, đều chỉ ra được cách thức, phương tiện thành lập câu hỏi

và phân biệt các kiểu nội dung hỏi

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983), các tác giả đã dựa vào nội dung hỏi để chỉ ra các cách thức thể hiện và chia câu “nghi vấn” thành các loại sau [52; 202-205]:

a) Câu nghi vấn có lựa chọn, gồm hai tiểu loại:

- Hình thức liên hợp từ hay liên hợp ngữ (dùng liên từ hay)

- Hình thức dùng phụ từ có không; đã chưa

b) Câu nghi vấn không có lựa chọn (loại câu này dùng các đại từ nghi vấn:

ai, gì, đâu, sao, bao giờ, hay những từ ngữ tương đương: người nào, cái nào, chỗ nào, )

c) Câu nghi vấn giả thiết, gồm có năm tiểu loại:

- Dùng các phụ từ có không, có phải không, có đúng không,

- Dùng các trợ từ như à, ư, hả, chăng, phỏng, nhỉ,

- Dùng các phụ từ phải chăng (là)

- Dùng hình thức là nghi vấn, nhưng nội dung là khẳng định

- Dùng hình thức nghi vấn liên kết với hình thức phủ định để khẳng định

Trang 8

Ngoài ra trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, Diệp Quang Ban (2005) đã xuất phát từ phương thức thành lập câu hỏi, rồi mới chỉ ra các kiểu nội dung hỏi là gì Trong đó, tác giả đã chỉ ra bốn phương thức thành lập câu hỏi như sau [6; 213-227]:

- Câu nghi vấn dùng đại từ nghi vấn: ai, gì, sao, đâu,

- Câu nghi vấn dùng phó từ: có không, đã chưa, xong chưa

- Câu nghi vấn dùng quan hệ từ lựa chọn hay

- Câu nghi vấn dùng tiểu từ chuyên dụng: à, ư, a, ạ, hả, hử, hở, chứ,

Nhìn chung, các tác giả ngữ pháp truyền thống xác định được các đặc điểm

về hình thức và các kiểu nội dung của câu hỏi, nhưng về giá trị của cấu trúc hỏi (câu hỏi) trong hoạt động giao tiếp thì chỉ mới dừng lại ở mức độ phát hiện một số chức năng của câu hỏi như: hỏi để khẳng định, hỏi để phản bác, hỏi để cảm thán, chứ chưa đi vào lý giải giá trị sử dụng của các dạng câu hỏi khác nhau, cũng như chưa phân tích câu hỏi được sử dụng trong ngữ cảnh, tình huống giao tiếp khác nhau

Các tác giả nghiên cứu câu hỏi theo quan điểm ngữ pháp chức năng, logic ngôn ngữ, ngữ dụng học đã bổ sung những khiếm khuyết của ngôn ngữ học truyền thống Điều này được thể hiện rõ qua nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Hiệp,

Lê Đông, Đào Thanh Lan, Nguyễn Thị Lương,

Trong cuốn “Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng”, trên quan điểm cho rằng câu hỏi có chức năng thể hiện một hành động giao tế (hành động ngôn trung), tác giả Cao Xuân Hạo đã chỉ rõ cơ sở của câu hỏi chính danh (câu hỏi trực tiếp), đó chính là “tiền giả định hay tiền ước (presumption) của câu hỏi” [4; 391], và ông cũng đã phân tích giá trị năm dạng câu hỏi phi chính danh (câu hỏi gián tiếp) sau:

- Câu hỏi có giá trị cầu khiến

- Câu hỏi có giá trị khẳng định

- Câu hỏi có giá trị phủ định

- Câu hỏi có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại

- Câu hỏi có giá trị cảm thán [4; 319-412]

Những nhận định của Cao Xuân Hạo tạo ra những cơ sở lý luận khái quát đã giúp cho nhiều người kế thừa định hướng nghiên cứu về câu hỏi trong tiếng Việt

Bên cạnh đó, Nguyễn Đức Dân, tác giả của các chuyên luận, các bài viết về logic ngôn ngữ, hội thoại, lập luận, ngôn ngữ báo chí, cũng đã phát hiện, lý giải

Trang 9

nhiều đặc điểm dụng học của câu hỏi Điều này đã mang lại những gợi ý quý báu cho chúng tôi cũng như nhiều người nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay

Gần đây có nhiều người quan tâm nghiên cứu về câu hỏi ở cả ba phương diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đồng thời, cũng có nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu câu hỏi của tiếng Việt với các ngôn ngữ khác giúp cho việc dịch thuật, dạy học ngoại ngữ Chẳng hạn, Lý Thị Kim Thanh, tác giả luận văn “Phương thức biểu thị tình thái trong câu hỏi và câu trả lời tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)” [26], đã tổng kết tương đối hệ thống về câu hỏi trong tiếng Việt để nghiên cứu và đối chiếu với tiếng Anh Đặc biệt, từ việc kế thừa kết quả khảo sát về vị từ hành động tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị Quy (2002) [40], tác giả Lý Thị Kim Thanh đã có nhiều phát hiện mới trong dạng câu hỏi “có/không” mà tác giả gọi tên

là “câu hỏi chính phản” và có sự phân tích phù hợp với thực tế của tiếng Việt

Đào Thanh Lan (2010) trong chuyên luận “Ngữ pháp, ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt” đã dành đến 24 trang [8; 175-198] để phân tích câu hỏi có giá trị cầu khiến

2.2.2 Trên phương diện báo chí

Từ báo in đến báo nói (phát thanh, truyền hình) đều quan tâm đến câu hỏi vì đây là một nhân tố quan trọng trong thủ pháp thu thập thông tin Các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực báo chí về vấn đề này của các tác giả: Trần Bảo Khánh, Nguyễn Quang Hào, Công Khanh, Trần Hữu Quang, … đã phân câu hỏi ra thành một số dạng điển hình và thông dụng như: câu hỏi đóng – câu hỏi mở, câu hỏi một ý – câu hỏi nhiều ý, … Nhưng các tài liệu về câu hỏi cũng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chứ chưa nghiên cứu sâu về câu hỏi trong các chương trình tọa đàm truyền hình

Phần lớn tài liệu về nghề báo, về truyền hình được dịch, hoặc biên dịch từ sách nước ngoài Cho nên, các thao tác lấy tin, viết bài, … thuộc về kỹ năng ngôn ngữ trong các tài liệu đó vẫn là của tiếng nước ngoài, rất ít khi ứng dụng được cho tiếng Việt

Tóm lại, hiện nay thực sự vẫn chưa có một tài liệu tiếng Việt chuyên sâu về phỏng vấn – tọa đàm truyền hình Những người làm chương trình phỏng vấn – tọa đàm truyền hình bằng tiếng Việt, chủ yếu học hỏi kinh nghiệm của nhau

Riêng về câu hỏi tiếng Việt được sử dụng trong phỏng vấn – tọa đàm trên

Trang 10

truyền hình vẫn chưa được ai nghiên cứu

2.3 Về hành động lời nói

Theo lý thuyết hành động lời nói, thì nói là hành động Đây là một khía cạnh quan trọng để nghiên cứu lời dẫn Bởi vì lời dẫn chính là lời nói của người dẫn chương trình dùng để thực hiện hành động điều khiển, dẫn dắt chương trình

Hành động lời nói là đối tượng chính của Ngữ dụng học Ngoài hai nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiêu biểu là Nguyễn Đức Dân và Đỗ Hữu Châu, phải kể đến Cao Xuân Hạo với những bài viết trên tạp chí chuyên ngành và cuốn “Sơ thảo ngữ pháp chức năng tiếng Việt” Ông đã lý giải thấu đáo về dụng học tiếng Việt, đặc biệt giá trị hành động trực tiếp và gián tiếp của câu hỏi tiếng Việt (như đã giới thiệu

2.4.2 Lý thuyết hội thoại

Mặc dù chưa ai nghiên cứu ngôn ngữ trong cuộc hội thoại như trên, nhưng vấn đề hội thoại đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu Sau nhiều năm, các nhà ngôn ngữ học đã xây dựng nên lý thuyết hội thoại với hệ thống phương pháp, thuật ngữ đầy đủ để mô tả một cuộc thoại

Kế thừa thành quả của những nhà ngôn ngữ học trên thế giới, Việt Nam cũng

có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu và giảng dạy về Ngữ dụng học Nguyễn Đức

Trang 11

Dân và Đỗ Hữu Châu là các nhà nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này

Ngoài ra, các nghiên cứu sinh, học viên cao học trong những năm gần đây như: Mai Thị Kiều Phượng, Phạm Thị Ly, Lý Thị Kim Thanh, Nguyễn Thúy Oanh,… cũng có sự quan tâm rõ nét khi chọn đề tài liên quan đến lý thuyết hội thoại

Nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ truyền hình

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu

Thực hiện luận văn này chúng tôi mong muốn góp thêm một tài liệu về phương diện ngôn ngữ học để cho người dẫn chương trình nói chung và người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình nói riêng có thêm những cơ sở khoa học trong việc đặt lời dẫn mà đặc biệt là câu hỏi đúng và hay, tránh được những lỗi cơ bản trong giao tiếp trên truyền hình, làm cho các chương trình tọa đàm của đài truyền hình hấp dẫn hơn, thu hút được khán giả nhiều hơn

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau đây:

- Thu thập tất cả các kiểu dạng lời nói thường dùng trong lời dẫn và câu hỏi của những người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình của HTV

- Phân tích, mô tả về phương diện cấu trúc và phương diện sử dụng của lời dẫn và câu hỏi

- Chỉ ra giá trị sử dụng khác nhau về mặt cấu trúc của lời dẫn và câu hỏi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng mà chúng tôi chọn nghiên cứu là những lời dẫn và câu hỏi của người dẫn chương trình truyền hình trên các chương trình tọa đàm của HTV

Vì các chương trình tọa đàm của truyền hình rất đa dạng, nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát 17 chương trình phổ biến của HTV và chủ yếu sẽ khảo sát cụ thể

510 số phát sóng điển hình trong khoảng thời gian 2 năm (01/2009 – 12/2010)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phân tích và mô tả

Sự phân tích, mô tả gắn liền với các nhân tố chi phối hoạt động ngôn ngữ như người phát ngôn, người thụ ngôn, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, cách thức giao tiếp, …

Ngữ liệu được sử dụng để phân tích, mô tả hầu hết được chọn lọc từ các

Trang 12

chương trình tọa đàm của HTV (thu thập thêm một số chương truyền hình thực tế - tọa đàm ngoài hiện trường, để bổ sung ngữ liệu hội thoại trên truyền hình và giúp phân tích, so sánh làm rõ hơn thể loại tọa đàm truyền hình), gồm các chương trình

và người dẫn chương trình (MC) như sau:

STT TÊN CHƯƠNG TRÌNH TÊN MC

01 Ẩm thực Việt Nam Mỹ Hạnh

Như Quỳnh

02 Hương vị sống Mạnh Cường

03 Kết nối đến tuơng lai Mỹ Hạnh

04 Kiến thức cuộc sống Như Quỳnh

05 Kiến thức kinh tế Phú Lộc

Phương Thảo

06 Kiến thức tiêu dùng Ngọc Nga

07 Muôn mặt chuyện nghề Vân Anh

Quỳnh Giang Thanh Huyền Tuyết Vinh

08 Ngôi nhà mơ ước Đỗ Thụy

09 Người Việt - hàng Việt Phú Lộc

10 Phổ biến kiến thức về thuế Phú Lộc

11 Sức khỏe cộng đồng Thu Hiền

12 Sức sống mới Quỳnh Anh

Minh Cường Khánh Huyền

Lê Khánh Quyền Linh Thanh Mai Bình Minh

13 Trò chuyện cuối tuần Quỳnh Hương

Tường Lam

Lệ Ngọc

Trang 13

Hồng Phượng

14 Thế giới mẹ và bé Xuân Hiếu

15 Thường thức gia đình Như Quỳnh

16 Vì cuộc sống cộng đồng Thu Hiền

17 Yêu thương cuộc sống Thanh Điền

Như Quỳnh

Trong 17 chương trình mà chúng tôi khảo sát thì mỗi loại chương trình chúng tôi chọn 30 chương trình cụ thể (hay còn được gọi là số phát sóng) để phân tích Như vậy, tổng số lượng chương trình thực sự được đưa vào khảo sát là 510 chương trình cụ thể đã phát sóng

Tổng thời lượng chúng tôi dành để xem và nghe lại các chương trình đã phát sóng để phân tích là 12.750 phút (mười hai ngàn bảy trăm năm mươi phút)

Chúng tôi đã quan sát, phân tích những lời dẫn và câu hỏi của MC trong các chương trình trên với số lượng tương đương với 3.570 (ba ngàn năm trăm bảy mươi) trang giấy A4 (cỡ chữ 13), đồng thời lần lượt ghi lại các đơn vị lời dẫn và câu hỏi khác nhau về các kiểu dạng Mỗi đơn vị là một lần nói, có thể là một lời hoặc hoặc chuỗi lời nói

Trong tổng số những chuỗi lời nói mà chúng tôi thu thập được, có 338 đơn vị lời nói được chúng tôi trích lọc ra để làm mẫu cho các dạng lời dẫn và câu hỏi khác nhau khi đưa vào phân tích cụ thể và làm ví dụ minh họa cho luận văn (chúng tôi có tổng hợp trong phần phụ lục)

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học: Cung cấp những đặc điểm riêng của lời dẫn và câu hỏi

được sử dụng trong lĩnh vực phỏng vấn - tọa đàm truyền hình, góp phần mô tả các bình diện của câu hỏi tiếng Việt

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn này có thể làm tài liệu tham khảo, cung cấp cho

các MC truyền hình những cơ sở lý thuyết về lời dẫn và câu hỏi, … giúp họ rèn luyện kỹ năng đặt lời dẫn và câu hỏi hay, phù hợp với mục đích nói, góp phần nâng cao chất lượng chương trình truyền hình

Trang 14

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Trong đó nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Lời dẫn của người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình

Chương 3: Câu hỏi của người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình

Phần phụ lục gồm có 338 đơn vị ngữ liệu lời dẫn và câu hỏi của các MC trong 17 loại chương trình tọa đàm trên HTV Các đơn vị này gồm có ba loại:

1 Lời dẫn mở đầu

2 Lời dẫn chuyển tiếp

3 Lời dẫn kết thúc

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Thể loại truyền hình và chương trình truyền hình

Truyền hình (tức báo hình) kế thừa sự phát triển của báo viết nên cũng phân thành nhiều thể loại khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu thông tin của cộng đồng Theo Trần Bảo Khánh [46], thể loại truyền hình được phân thành 6 loại: Tin truyền hình, Phóng sự truyền hình, Ký sự truyền hình, Phỏng vấn truyền hình, Tạp chí truyền hình và Cầu truyền hình Ngoài ra, hiện nay thể loại truyền hình còn có thêm các thể loại như: Truyền hình thực tế (Relity Show), Trò chơi truyền hình (TV Game Show) và Tọa đàm truyền hình (Talk Show)

Cũng từ đó, trong từng thể loại truyền hình lại được chia ra làm nhiều nội dung khác nhau: Thời sự - Chính luận, Khoa học - Giáo dục, Đối ngoại, Vui chơi - Giải trí, và chia ra thành các dạng chương trình truyền hình như: Game show (Siêu quậy Tí hon, Nào ta cùng hát, ); Truyền hình thực tế (Ngôi nhà mơ ước, Yêu thương cuộc sống, ); Ký sự truyền hình (Hành trình theo chân Bác);

Trong đó, các chương trình thuộc thể loại Tọa đàm truyền hình hiện đang được sản xuất rất phổ biến Bởi khán giả luôn tin vào những điều mà họ trực tiếp được nghe, được chứng kiến hơn là được phóng viên cung cấp gián tiếp Tọa đàm hay phỏng vấn có thể giải quyết được vấn đề này, những trao đổi của khách mời sẽ làm tăng sự phong phú về thông tin và thuyết phục khán giả như chương trình: Bác

sĩ gia đình, Sức khỏe cộng đồng, Người Việt – hàng Việt, Trò chuyện cuối tuần, Phổ biến kiến thức về thuế, Kiến thức tiêu dùng, Thế giới mẹ và bé,

1.2 Thể loại phỏng vấn, tọa đàm truyền hình và đặc điểm của các chương trình tọa đàm trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.1 Thể loại phỏng vấn và tọa đàm truyền hình

Phỏng vấn truyền hình và tọa đàm truyền hình là hai thể loại khác nhau, nhưng đều dùng kỹ thuật phỏng vấn hay hỏi chuyện Trên thực tế, có nhiều chương trình vừa giống thể loại phỏng vấn truyền hình, vừa giống tọa đàm truyền hình Vì

lý do này mà xuất hiện thuật ngữ “phỏng vấn - tọa đàm truyền hình”

Trang 16

1.2.1.1 Khái niệm phỏng vấn và tọa đàm truyền hình

Phỏng vấn là sự trao đổi giữa một người với một hay một nhóm người để làm rõ một vấn đề nào đó, chủ yếu là hỏi để lấy thông tin

Phỏng vấn được dùng nhiều trong lĩnh vực như xã hội học, báo chí, tuyển dụng nhân viên, với những mục đích khác nhau

Trong báo chí, phỏng vấn được hiểu theo hai nghĩa:

- Phỏng vấn là một phương pháp thu thập thông tin

mang tính chủ quan (phong cách của khách mời/nhân vật khi trả lời)

Theo Nguyễn Thanh Huyền, trong cuốn “Thể loại báo chí”, Phần 5 (Phỏng vấn) [22; 170-174], căn cứ vào hai tiêu chí nội dung và đối tượng phỏng vấn để phân loại thể loại phỏng vấn,có các dạng phỏng vấn sau:

Phỏng vấn về sự kiện: Đây là dạng phỏng vấn để thông tin cho công chúng

biết về một sự kiện sắp diễn ra

Phỏng vấn về một vấn đề: Giải đáp những thông tin trong xã hội hoặc nhiều

câu hỏi của công chúng Dạng phỏng vấn này yêu cầu người có trách nhiệm đứng ra giải thích Cách đặt câu hỏi sao cho vấn đề được lật đi lật lại, hoặc tăng mức độ gay

cấn Loại câu hỏi thường dùng bắt đầu bằng “Tại sao…?”

Trang 17

Phỏng vấn một nhân vật (phỏng vấn chân dung): Nội dung bao gồm các vấn

đề về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, động cơ làm việc, tâm tư suy nghĩ, triết lý, thành bại, với nhiều câu hỏi tự do, phóng khoáng, kể cả câu hỏi có tính riêng tư

Phỏng vấn những nhà lãnh đạo, quản lý: Thường sử dụng những câu hỏi

mang tính bao quát, tổng kết, gợi mở mục tiêu, phương hướng, … đi thẳng vào vấn

đề, không vòng vo, ít câu hỏi Giọng điệu hỏi kính cẩn, nghiêm túc

Phỏng vấn các chuyên gia về một lĩnh vực nhất định: Câu hỏi phải có sự

chuẩn bị chu đáo về nội dung, thể hiện sự am hiểu của MC MC đóng vai trò là cầu nối giữa khán giả với chuyên gia MC thường hỏi lại và giải thích các thuật ngữ khoa học thành những từ ngữ dễ hiểu Câu hỏi thường có phần phụ để dẫn giải

Hiện nay, tùy theo từng góc độ tìm hiểu, nghiên cứu, người ta đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về phỏng vấn:

- Các bộ Bách khoa toàn thư xuất bản vào những năm 60 thế kỷ XX định

nghĩa: “Phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp giữa những người làm công tác báo chí với một nhân vật có tiếng tăm dưới hình thức một bài phát biểu chủ yếu mang tính chất chính trị Cuộc hỏi đáp này có thể được ghi chép đầy đủ - đúng nghi thức, với các câu hỏi và câu trả lời trong cuộc gặp gỡ tiến hành một cách độc lập hoặc là dưới dạng tường thuật cuộc gặp gỡ đó” (dẫn theo Nguyễn Thanh Huyền [22; 164-165])

- Các bộ Bách khoa toàn thư xuất bản vào những năm 70 thế kỷ XX định

nghĩa: “Phỏng vấn là một kiểu thông tin trình bày thông qua nhà báo dưới hình thức đàm thoại giới hạn ở một chủ đề nhất định, với một nhân vật có thẩm quyền trong một lĩnh vực nhất định” (dẫn theo Nguyễn Thanh Huyền [22; 164-165])

- Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2003 định nghĩa: “Phỏng vấn là hỏi ý kiến

để công bố trước dư luận” [17; 784]

- Bài “Phỏng vấn và phỏng vấn trong nghề báo” trong cuốn “Nghề nghiệp và công việc của nhà báo”, Hội Nhà báo Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1992, đã định nghĩa: “Phỏng vấn là một hình thức đối thoại trong đó nhà báo nêu các câu hỏi và người được phỏng vấn trả lời Mục đích của phỏng vấn trên báo chí là đem lại cho người đọc/xem/nghe những thông tin và lý lẽ về một vấn đề thời sự, chính trị, kinh

tế xã hội, … Thể loại phỏng vấn đáp ứng nhu cầu của công chúng là muốn có một

sự hiểu biết sâu sắc hơn về các sự kiện” (dẫn theo Nguyễn Thanh Huyền [22; 166])

Và theo “Phỏng vấn trong báo viết” do Đào Thanh Huyền dịch với sự hợp

Trang 18

tác giữa Hội Nhà báo Việt Nam và trường Đại học báo chí Lille EST (Pháp) thì:

“Phỏng vấn là thể loại báo chí phổ cập và mọi cuộc phỏng vấn đều là một cuộc gặp

gỡ, tức có sự trao đổi, thăm hỏi với mục đích tìm hiểu thông tin mới”

Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra định nghĩa về phỏng vấn như sau:

Phỏng vấn là một thể loại báo chí, trong đó nhà báo là người chủ động đặt câu hỏi

và hỏi chuyện trực tiếp một hoặc một vài nhóm người nhằm khai thác thông tin phục vụ cho yêu cầu và mục đích tuyên truyền của các phương tiện truyền thông

Khi bàn về phỏng vấn truyền hình, có người cho rằng nó chẳng khác gì so với phỏng vấn trên báo viết Có khác chăng đây chỉ là một cuộc trò chuyện bằng hình ảnh, thông qua hình ảnh để trao đổi, bày tỏ ý kiến của chủ thể phỏng vấn Cũng

có người cho rằng phỏng vấn truyền hình là một hình thức truyền tin dưới dạng một cuộc trao đổi giữa người được phỏng vấn và một đại diện trên truyền hình và thông điệp này được truyền dưới dạng hình ảnh

Tóm lại, có thể hiểu phỏng vấn truyền hình là một cuộc trao đổi, nói chuyện giữa người đại diện cho cơ quan truyền hình với một người đại diện trả lời phỏng vấn thông qua hình thức hỏi - đáp chính là nhằm mục đích cung cấp thông tin về

lĩnh vực nào đó mà cơ quan báo chí muốn cung cấp cho khán giả

Tọa đàm cũng là cuộc phỏng vấn, trao đổi thông tin giữa hai cá thể hoặc một nhóm người Nhưng tọa đàm không chỉ khai thác thông tin mà còn thể hiện quan điểm đối với người nói và sự việc cần nói

Phỏng vấn - tọa đàm là phỏng vấn tập thể về một vấn đề nhất định trong cùng một không gian Phỏng vấn - tọa đàm là cuộc đối thoại một chiều, chiều chủ động thuộc về MC, nhân vật/khách mời là thụ động, giữ vai trò trả lời, ít khi hỏi lại

Và trên thực tế cũng có nhiều phóng sự truyền hình hoặc truyền hình thực tế đều có lồng ghép tọa đàm truyền hình như các chương trình: Yêu thương cuộc sống, Ngôi nhà mơ ước, Kết nối đến tương lai, Kiến thức cuộc sống, Ẩm thực Việt Nam,

1.2.1.2 Điểm giống và khác nhau giữa phỏng vấn và phỏng vấn - tọa đàm truyền hình

Trong tọa đàm, vai trò của MC ngang bằng với khách mời, cũng đưa ra chính kiến của mình và nghe những ý kiến khác nhau; còn trong phỏng vấn thì vai trò của người trả lời là chính, MC chủ yếu nghe khách mời kể về một sự kiện nào đó

Trang 19

a Điểm giống nhau

- Làm sinh động cho chương trình truyền hình: Việc đặt câu hỏi để tìm thông

tin là một kỹ năng nghiệp vụ đặc trưng của nghề báo Quá trình này có tính chất tương tác và tăng tính sinh động cho chương trình bởi sự xuất hiện của nhiều khách mời ở những cương vị khác nhau cùng tham gia bàn luận, trao đổi về một vấn đề nào đó mà công chúng quan tâm

“Trong phỏng vấn báo chí, câu hỏi là một sự sáng tạo phản ánh tính chất, lập trường của phóng viên Vì vậy, nhà báo để có một cuộc phỏng vấn có hiệu quả cần nghiên cứu kỹ đối tượng và phải sáng tạo trong quá trình phỏng vấn.” [46; 125]

- Làm tăng tính khách quan của thông tin báo chí: Nội dung thông tin thu

nhận từ cuộc phỏng vấn do đối tượng cụ thể cung cấp Đó là những thông tin nằm ngoài ý muốn và suy nghĩ chủ quan của người phỏng vấn Vì vậy, hoạt động phỏng vấn giúp tăng cường tính khách quan của thông tin báo chí

- Khả năng thông tin nhanh chóng và chính xác: Phỏng vấn và phỏng vấn -

tọa đàm đều là những hoạt động mang tính tương tác Khoảng cách thông tin giữa người nhận và người phát được xác định bởi thời gian của câu trả lời Hoạt động này giảm thiểu được thời gian mày mò tìm hiểu của nhà báo Áp lực tâm lý và trách nhiệm cá nhân đối với nội dung thông tin cung cấp của người được phỏng vấn có khả năng mang lại tính trung thực cho thông tin

- Tăng tính cảm xúc cho tác phẩm: Các chủ thể tham gia vào quá trình phỏng

vấn thể hiện thái độ, quan điểm, tình cảm, tư duy của mình qua lời nói, điệu bộ, chất giọng, yếu tố biểu cảm trong ngôn từ, bối cảnh giao tiếp, … sẽ góp phần tạo nên những hiệu ứng cảm xúc cho tác phẩm báo chí

- Có khả năng thu hút công chúng: Khả năng thu hút của thể loại phỏng vấn

và phỏng vấn - tọa đàm ở chỗ làm cho khán thính giả thỏa mãn, có cảm giác “là người trong cuộc” Quá trình diễn tiến của cuộc phỏng vấn, làm cho khán thính giả cảm nhận được không khí và tính chất chân thực của những nội dung thông tin

b Điểm khác nhau

Theo Trần Bảo Khánh (2003), phỏng vấn làm một cách lấy tin của nhà báo Thao tác phỏng vấn sử dụng ở nhiều thể loại truyền hình khác nhau Thao tác phỏng vấn đóng vai trò chính yếu trong hai thể loại là phỏng vấn và đàm luận (tọa đàm) Phỏng vấn và tọa đàm có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Trang 20

“- Vị trí của người phỏng vấn và người trả lời khác nhau Trong đàm luận, cả phóng viên cũng đưa ra quan điểm, chính kiến của mình trao đổi với người khác, vị trí ở đàm luận là ngang bằng Trong phỏng vấn, người phỏng vấn đi khai thác tư liệu là chủ yếu Nhân vật trọng tâm của phỏng vấn là người trả lời

- Tính chất thông tin: Trong đàm luận, người đọc, xem, nghe chứng kiến các quan điểm, ý kiến khác nhau là chủ yếu Còn trong phỏng vấn, có thể qua lời kể mà biết được sự kiện đã hoặc sẽ xảy ra Nội dung quan trọng của phỏng vấn là khai thác thông tin về sự việc, sự kiện đã diễn ra, đang diễn ra, hoặc có thể sẽ diễn ra Dĩ nhiên, cả ý kiến, quan điểm cũng là nội dung của phỏng vấn” [46; 126-127]

Những điểm khác biệt nhau như trên là thuộc về lý thuyết, còn trong thực tế sản xuất chương trình truyền hình của HTV cũng như của nhiều đài truyền hình khác ở Việt Nam hiện nay, nhiều biên tập luôn muốn kết hợp cả phỏng vấn lẫn tọa đàm vào việc khai thác thông tin để chương trình hay hơn, cho nên, không có sự phân biệt rạch ròi giữa hai thể loại trên, từ đó xuất hiện một thể loại trung gian và thường được gọi là “phỏng vấn - tọa đàm”

Chính vì vậy, chúng tôi chọn cả hai thể loại “tọa đàm” và “phỏng vấn - tọa đàm” để khảo sát

1.2.2 Đặc điểm của các chương trình tọa đàm trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Nhìn chung, các chương trình tọa đàm của HTV là các cuộc tọa đàm “không chính danh”, vì nó chưa tách hẳn thể loại phỏng vấn truyền hình

Các cuộc tọa đàm thường chỉ là cuộc đối thoại một chiều: MC hỏi và khách mời trả lời MC ít khi đóng góp ý kiến của mình một cách trực tiếp MC chỉ đặt vấn

đề rồi khách mời đàm luận, còn vấn đề của khách mời đặt ra không được MC đàm luận, phát biểu ý kiến gì Cho nên, cuộc đối thoại giữa MC và khách mời không phải là một cuộc tọa đàm đúng nghĩa Vì vậy, chúng tôi tạm xếp các chương trình này vào thể loại phỏng vấn - tọa đàm

1.2.2.1 Về cấu trúc của chương trình

Cấu trúc một tác phẩm truyền hình có thể chia làm ba phần Phần đầu dẫn dắt nội dung tác phẩm truyền hình Phần thân diễn giải nội dung của tác phẩm Phần cuối nhận xét - kết luận tác phẩm

Trang 21

Trong một chương trình truyền hình chúng ta thường thấy MC có câu dẫn giới thiệu về nhà đài hoặc trong cuộc phỏng vấn sẽ giới thiệu khách mời Đó là phần lời dẫn quan trọng để hướng người xem tập trung chú ý đến tác phẩm truyền hình Phỏng vấn cũng phải giới thiệu bản thân và mục đích chương trình thật rõ

ràng, nêu cả lý do phỏng vấn để người được phỏng vấn an tâm và tự tin trả lời

Cấu trúc của một tác phẩm truyền hình khác nhau thì lời dẫn và câu hỏi sẽ khác nhau, trong đó cứ mỗi yếu tố khác nhau sẽ kéo theo sự thể hiện khác nhau

- Khác nhau về thời lượng:

Ví dụ 1: Chương trình “Chung tay vì cộng đồng” phát sóng trên kênh HTV7 với thời lượng 5 phút thì lời dẫn của MC chỉ gói gọn trong 1 phút kể cả phần dẫn

mở và dẫn kết Nội dung còn lại được phân bố cho hình ảnh, lời bình và có khoảng

1 phút 30 giây đến 2 phút phỏng vấn nhanh từ 1 đến 2 câu để cấu thành tác phẩm

Ví dụ 2: Chương trình “Ẩm thực Việt Nam” phát sóng trên kênh HTV9 với thời lượng 18 phút thì lời dẫn mở đầu và kết thúc của MC sẽ dài hơn, bên cạnh đó, ngoài hình ảnh và lời bình thì số lượng câu phỏng vấn cũng sẽ tăng lên

- Khác nhau về địa điểm:

Ví dụ: Chương trình “Yêu thương cuộc sống” phát sóng trên kênh HTV9,

MC ngoài hiện trường sẽ trình bày lời dẫn trau chuốt hơn để lấy cảm xúc của khán giả đối với nhân vật cần giới thiệu, đặt câu hỏi khai thác nhiều về nhân vật để xây dựng nên một tác phẩm truyền hình thực tế

- Khác nhau về tính chất của nội dung:

Ví dụ: Nếu là một tin tức bình thường, MC sẽ dẫn mở đầu và kết thúc ngắn gọn, sau đó nhường lời lại cho nội dung chính của bản tin Nhưng nếu là chương trình quan trọng như truyền hình trực tiếp về cuộc bầu cử quốc hội thì MC phải có lời dẫn mở đầu và kết thúc rõ ràng, mạch lạc, chính xác và sẽ đặt nhiều câu hỏi với các khách mời có mặt tại cuộc bầu cử quốc hội

1.2.2.2 Về người dẫn chương trình và khách mời của chương trình

Người dẫn chương trình phần lớn là người nói giọng Nam Bộ, nhạy bén, có kiến thức, biết sẻ chia và cũng cần phải thông minh để dễ dàng xử lý tình huống khi khách mời không trả lời theo yêu cầu của nội dung chương trình

Khách mời là những đối tượng được lựa chọn trước cho phù hợp với yêu cầu khai thác và truyền tải thông điệp của chương trình đến khán giả

Trang 22

1.3 Ngôn ngữ truyền hình

Khác với báo in và báo phát thanh (người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác hoặc thính giác), người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Qua nghiên cứu, người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được

là qua thị giác và 30% qua thính giác Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện

Người ta thường nói một cách bóng bẩy rằng “ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh”, nhưng nói chính xác thì ngôn ngữ truyền hình là dạng ngôn ngữ nói thành tiếng đi kèm với hình ảnh, thường gắn chặt với hình ảnh

Ngôn ngữ truyền hình có các đặc trưng sau:

- Tính phổ thông: Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ của toàn dân, vì truyền

hình không chỉ tập trung vào một đối tượng mà có rất nhiều đối tượng theo dõi, do vậy, ngôn ngữ truyền hình đòi hỏi phải có tính phổ thông

- Tính chuẩn mực: Truyền hình có tác động dư luận rất mạnh mẽ, chính vì

thế ngôn ngữ của truyền hình cần phải chuẩn mực vì chỉ một lời nói sai hay không

rõ nghĩa sẽ dễ dàng làm sai lệch vấn đề

- Tính phổ biến: Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có

khả năng thu hút hàng tỷ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa

Do các đặc trưng trên, ngôn ngữ truyền hình cần tránh những cấu trúc câu phức tạp hoặc sử dụng biệt ngữ sẽ khiến người xem không kịp hiểu

Ngôn ngữ truyền hình nên rõ ràng, cụ thể, ngắn gọn, súc tích, hạn chế những

từ thừa để không làm người nghe khó hiểu Bên cạnh đó, cần phải cung cấp thông tin chính xác, gắn kết chặt chẽ giữa các phần, dùng dự báo thu hút để giúp người xem biết còn nhiều điều hay để tiếp tục theo dõi Tạo sự mong đợi bằng những câu hỏi, nhằm khơi gợi sự tìm hiểu Ngoài ra, cần lôi kéo khán giả tham gia vào câu chuyện, đưa người xem vào cuộc, đưa ra những bình luận gần giống khán giả để có thể nói thay khán giả, đồng thời chỉ ra được những khía cạnh độc đáo hơn, nâng tầm suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề của khán giả

Do đó, tổ chức Southam đã đưa ra nguyên tắc "5 C" hướng dẫn cách viết cho

Trang 23

các phóng viên của mình như sau: Clear = rõ ràng; Correct = chính xác; Concise = súc tích; Comprehensive = dễ hiểu; Considerate = thận trọng

1.4 Người dẫn chương trình truyền hình và ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình

1.4.1 Người dẫn chương trình truyền hình

1.4.1.1 Khái niệm người dẫn chuơng trình truyền hình

Người dẫn chương trình - hay còn gọi là MC (viết tắt từ chữ tiếng Anh: Master of Ceremonies)

Từ điển Bách khoa toàn thư Enciclopedia định nghĩa: MC là người có tính hoạt bát, tự tin trước công chúng, có kiến thức rộng, khôi hài, thanh lịch, duyên dáng, có uy tín với công chúng MC có khả năng dẫn dắt chương trình như một cầu nối với khán giả, làm cho khán giả không chỉ say mê thích thú mà MC còn là một

bộ phận không thể thiếu trong kết cấu chương trình Chương trình có thành công hay không, hơn 50% là do tài năng của MC

Theo giáo trình của Khoa báo chí Đại học Lile (Pháp), những kỹ năng cần có của một MC gồm 6 điểm cơ bản: Đài từ - tiếng nói, âm vực sân khấu phải tròn, rõ, vang, chính xác; Nghệ thuật diễn cảm - biết diễn đạt cảm xúc theo vấn đề, có năng khiếu đạo diễn; Phong cách sân khấu - duyên dáng, thanh lịch, có cá tính riêng biệt; Nghệ thuật biên soạn lời dẫn - có kiến thức sâu rộng; Có khả năng của nhà biên kịch; Phương pháp phối hợp - kết hợp một cách thống nhất để tạo thành một sự nhất quán trước sau, có mở - đóng; …

Trên thực tế, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng nào về “người dẫn chương trình” Cho nên, chúng tôi tạm định nghĩa người dẫn chương trình và người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình như sau:

Người dẫn chương trình là người điều khiển, dẫn dắt chương trình, giữ chức năng nối kết giữa các tiết mục, các thành phần của chương trình, làm cho chương trình diễn ra liền mạch theo kế hoạch (thể hiện trong kịch bản)

Người dẫn chương trình tọa đàm truyền hình là người điều khiển, dẫn dắt cuộc hội thoại (chủ yếu là giữa MC với khách mời, và có hướng đến người nghe là khán giả) được phát sóng trên đài truyền hình

Trang 24

1.4.1.2 Vai trò và trách nhiệm của người dẫn chương trình

MC là người dẫn dắt khán giả, tạo nên sự kết nối xuyên suốt các tiết mục để đảm bảo sự liền mạch, nhất quán cho chương trình Qua đó, gắn kết khán giả với chương trình, tạo sự hưng phấn, thích thú nơi khán giả Người dẫn chương trình muốn thành công, nhất định phải có sự nhạy cảm để dự báo tình huống và đưa đến những quyết định đúng đắn

MC có trong tay toàn bộ chương trình (các phần, các tiết mục theo thứ tự diễn tiến từ khai mạc cho đến bế mạc), từ đó giữ vai trò xuất hiện để giới thiệu từng tiết mục cho khán thính giả hoặc quần chúng tham dự MC chịu trách nhiệm có tính quyết định về hiệu quả toàn bộ chương trình MC có khả năng cân chỉnh bầu không khí cho toàn bộ chương trình bằng cách tạo ra các đột biến cao trào phấn khởi hay lắng đọng sâu xa nhằm thu hút, lôi cuốn mọi người theo tiết tấu có tính toán trước một cách khéo léo và chu đáo MC xuất hiện rất nhiều lần trong một chương trình,

do vậy, cần có những nét mới, duyên dáng, hấp dẫn, lôi cuốn và gây được cảm xúc mới Tiết mục của MC tuy ngắn ngủi nhưng lại có thể làm nổi bật hơn những tiết mục khác vừa diễn xong hoặc sắp diễn ra trong chương trình

MC trong các chương trình phát sóng trực tiếp cần phải căn cứ theo những

kế hoạch sắp xếp của người tổ chức, căn cứ theo quy trình của chương trình truyền hình trực tiếp để dẫn chương trình theo đúng tiết tấu nhịp điệu một cách tự nhiên nhất Làm MC cho một chương trình truyền hình không đơn thuần là phát thanh viên, chỉ cần truyền đạt sao cho đúng nội dung đã biên tập, mà cần phải làm việc mang tính sáng tạo và bao quát được toàn bộ chương trình Do đó, mỗi một

MC cần phải tạo dựng phong cách riêng cho chương trình mà mình đảm nhận Phong cách, hình ảnh đó phải vì đông đảo khán giả, đáp ứng được yêu cầu mang tính cộng đồng của xã hội, đồng thời cũng cần phải mang tính đặc trưng, riêng biệt, mới có thể tạo nên hiệu ứng tốt trong suốt quá trình dẫn

Dẫn chương trình không phải là hành vi cá nhân, vì thế MC không thể hành động theo chủ ý cá nhân Mọi hoạt động của MC đều biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp một ý thức xã hội nhất định Giá trị cuối cùng của MC chính là thành công của chương trình MC là đại diện cho tiếng nói của công chúng và tượng trưng hình ảnh

xã hội, nên MC phải luôn là cầu nối giữa khán giả và những nhân vật của chương trình, phải nắm bắt vấn đề để khai thác câu chuyện cho phù hợp

Trang 25

MC phải chịu trách nhiệm trước khán giả của mình MC không thể trình diễn với phong cách tùy tiện Trong nhiều trường hợp, MC cũng sẽ phải giúp khách mời, người được phỏng vấn kể cả khán giả tìm ra được lời thích hợp để diễn giải ý kiến của mình, làm cho tất cả những người tham gia có cảm giác là chương trình đang chạy tốt và rất thú vị MC luôn xem việc dẫn chương trình là một vinh dự Họ luôn làm việc đó với sự cẩn thận và tinh thần trách nhiệm để đem lại niềm vui cho khán giả, cho chính bản thân Họ luôn nhìn thẳng vào khán giả khi nói cũng như chú ý lắng nghe những ý kiến phản hồi của khán giả Và cuối cùng, MC chính là người có thể tạo nên thành công nhưng cũng có thể làm cho chương trình đổ vỡ hoàn toàn

Ngày nay, dẫn chương trình được xem là một nghiệp vụ thuộc về lĩnh vực nghệ thuật Vì thế người làm nghiệp vụ này cũng được xem là một nghệ sĩ

1.4.1.3 Cách thức dẫn chương trình: dẫn đơn và dẫn đôi

Khi dẫn đơn, MC sẽ dễ dàng chủ động dẫn theo kịch bản hoặc những sáng tạo của chính MC Nhưng khi dẫn đôi, phải cần có sự ăn ý để hai MC đều có thể tung hứng hài hòa với nhau, tạo nên sự sinh động, lôi cuốn, hấp dẫn hơn cho chương trình Tuy nhiên, nếu hai MC quá khập khiễng về kiến thức, lẫn tác phong

sẽ dễ dàng làm cho chương trình giảm đi chất lượng

Khi dẫn đôi trong một chương trình, hai MC có thể là hai nữ, hai nam hoặc một nam và một nữ Trong đó, các phối hợp của hai MC là điều kiện để quyết định chương trình diễn ra có suôn sẻ và thành công hay không Do vậy, vai trò và sự phối hợp giữa hai MC rất quan trọng, cả hai cần tạo cho mình phong cách phù hợp với chương trình, hòa quyện nhịp nhàng, biết cách đỡ lời cho nhau khi một trong hai người bị lúng túng, nói sai, quên kịch bản, nhưng không có nghĩa là cướp lời của nhau Hai MC một nam và một nữ sẽ làm chương trình hấp dẫn hơn bởi sự hài hòa

về giới tính

Khi dẫn đôi, cả hai MC cần phải có cùng quan điểm, tôn nhau lên, không làm

mờ nhau Điều quan trọng là hai người biết nhường nhau, nếu người trước nói hết ý, người sau sẽ không còn cơ hội nói nữa Vì vậy, mỗi MC khi dẫn đôi chỉ nên nói nửa câu, nửa còn lại chuyển sang cho bạn dẫn Một đôi bạn dẫn hiểu nhau, biết tung hứng sẽ giúp họ thăng hoa, làm chương trình hấp dẫn, thú vị hơn Và có lẽ, sẽ là thảm họa nếu hai người chưa thực sự hiểu nhau

Trang 26

1.4.1.4 Cách thức dẫn chương trình tọa đàm truyền hình

Trước tiên cần phải phân biệt dẫn tại hiện trường khác với dẫn trong phim trường, trong phòng thu như thế nào

Dẫn tại hiện trường, thì MC là người kể lại câu chuyện và thu hút được sự chú ý của khán thính giả, giúp mọi người hiểu rõ hơn về câu chuyện và có thể thay thế những cảnh quay thiếu Dẫn tại hiện trường, MC chỉ dẫn ngắn gọn, MC xuất hiện đúng vào lúc cần thiết nhất đối với một kiểu chương trình nào đó, hoặc đối với một kiểu chương trình khác thì lại phải xuất hiện xuyên suốt Bên cạnh đó, do dẫn trực tiếp tại hiện trường nên đòi hỏi MC phải chuẩn bị kỹ kịch bản, ngôn ngữ nói, vì

dù có được quay lại nhưng lần quay lại sẽ làm mất cảm xúc nhân vật, khách mời và tạo áp lực cho chính MC

Dẫn tại phim trường, phòng thu thì MC chỉ cần giới thiệu nội dung dựa vào kịch bản có sẵn Nếu vấp váp hay nói sai thì sẽ được chỉnh sửa, quay lại để cắt dựng chỉnh chu

Vì thế khi dẫn chương trình tọa đàm truyền hình MC phải xác định được cuộc tọa đàm ấy diễn ra ngoài hiện trường hay trong phim trường, và tìm hiểu trước

về khách mời để thực hiện cuộc tọa đàm thành công

1.4.2 Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình

Ngôn ngữ là công cụ để MC thực hiện vai trò của mình trong chương trình truyền hình Đó là việc MC dùng ngôn ngữ để thực hiện các hành động như giới thiệu, điều khiển, dẫn dắt để chương trình diễn ra và kết thúc

Ngôn ngữ của MC chiếm một vai trò rất quan trọng suốt cả một chương trình MC cần biểu đạt ngôn ngữ mang tính lôgic cao, không quá nhấn mạnh vào việc biểu hiện tình cảm bề ngoài và chỉnh sửa ngôn ngữ, mà dựa vào cơ cấu kiến thức và những lý luận bên trong, để thâm nhập phân tích bản chất của sự vật và sự phát triển của sự kiện, thể hiện tính logic và lý luận của ngôn từ, bộc lộ tính nghiêm túc và sâu sắc Biểu hiện ngôn ngữ mang hơi thở cuộc sống, chính là trong quá trình biểu đạt ngôn ngữ bộc lộ giọng điệu ấm áp, dịu dàng, điềm tĩnh, thân mật Loại hình phong cách này thông thường không cần phải quá trau chuốt ngôn từ, tạo ra một cuộc đối thoại vui vẻ trong không khí tự do và thân mật Phong cách ngôn ngữ hài hước, dí dỏm, thể hiện ngôn từ đặc sắc hài hước Với cách thể hiện ngôn ngữ trí tuệ

và thông minh, MC có thể biến những vấn đề đôi khi phức tạp và khó hiểu thành

Trang 27

những câu thoại thú vị nhẹ nhàng, có lúc lại biến những tình huống căng thẳng trở nên hài hòa và đầy tính hài hước

MC truyền hình là người của công chúng Ngôn ngữ của MC dùng để giới thiệu, dẫn dắt vấn đề cho khán giả, nhưng đối tượng khán giả ở đây rất đa dạng vì người xem truyền hình bao gồm nhiều đối tượng, lúc này MC phải chọn lọc ngôn ngữ và cách dẫn dắt phù hợp với nhiều đối tượng và nội dung chương trình

Nhìn chung, ngôn ngữ được biểu đạt trong phỏng vấn phải đạt được những tiêu chuẩn sau: quy phạm, chuẩn xác, có tính biểu cảm, chân thực, rõ ràng, nhanh gọn, có hiệu quả và đầy tính ngẫu hứng

Giọng điệu của MC tùy vào chương trình, nội dung mà sẽ có các giọng điệu khác nhau như: đồng tình, chia sẻ, ngọt ngào, phản đối, vặn vẹo, …

1.5 Lời dẫn của người dẫn chương trình

Trong nhiều chương trình truyền hình của HTV hiện nay, lời dẫn đóng vai trò rất quan trọng để gây sự chú ý của khán giả vào chương trình, gợi mở hướng phát triển của câu chuyện Vì vậy, thể hiện lời dẫn đơn giản, ngắn gọn và rõ ràng là điều đặc biệt cần quan tâm

1.5.1 Khái niệm lời dẫn

Lời dẫn là lời nói của MC khi dẫn chương trình Đó là một thực thể ngôn ngữ do MC tạo ra để thực hiện các hành động bằng lời khi dẫn chương trình Bằng lời nói của mình, MC giới thiệu, điều khiển, kết nối làm cho chương trình diễn ra theo đúng kế hoạch

Lời dẫn là một thể loại diễn ngôn, tương đương với các thể loại diễn ngôn khác như thơ, truyện, ca từ, …

Lời dẫn được hiểu khác với ngôn ngữ của MC Nói đến ngôn ngữ của MC là nói đến tất cả các khía cạnh thuộc về ngôn ngữ khi MC dùng ngôn ngữ để dẫn chương trình Đó là giọng nói của MC, cách dùng từ, đặt câu của MC, …

Nói đến lời dẫn, ta chỉ quan tâm đến các đơn vị lời nói (đơn vị cơ bản, nhỏ nhất dùng để tạo thành lời nói là câu) Mỗi một lần MC nói là một lượt lời, tổng hợp tất cả các lượt lời trong một chương trình do MC nói là lời dẫn tổng thể của chương

trình tạm gọi là diễn ngôn lời dẫn

Trang 28

1.5.2 Phân biệt lượt lời dẫn và diễn ngôn lời dẫn (lời dẫn tổng thể của chương trình)

Trong một chương trình, MC không nói liên tục từ đầu đến cuối chương trình mà nói theo từng lần, từng hồi một Sau mỗi lần nói là một sự việc, tiết mục

của chương trình diễn ra Tất cả những lần nói của MC trong một chương trình hợp

thành diễn ngôn lời dẫn

Có thể xem một tập hợp gồm tất cả những lần nói của MC trong một chương trình là một diễn ngôn lời dẫn vì chúng ta có thể trừu tượng tách rời, phân biệt nó với phần nội dung của chương trình bởi hai lý do chính:

- Lời dẫn được chuẩn bị trước kèm theo kịch bản của chương trình (kế hoạch đường dây của chương trình) Lời dẫn giống như là một văn bản chú thích để khán giả dễ dàng theo dõi chương trình và hiểu chương trình Có thể hình dung lời dẫn đã xuất hiện trước khi chương trình diễn ra

- Lời dẫn được hiện thực hóa khi chương trình diễn ra, từng lần nói của MC luôn ở thế chủ động Kể cả khi MC đàm thoại với người khác thì MC vẫn luôn ở thế chủ động, chỉ có một chiều hỏi và điều khiển cuộc thoại Lời dẫn của MC không bị hòa lẫn, cuốn theo những lời thoại của người khác như trong các cuộc thoại thông thường, vì vậy trong chương trình chỉ có MC nói và người khác làm theo

Trong ngữ dụng học, đã có định nghĩa về lượt lời như sau: “Đơn vị cơ bản

của hội thoại là lượt lời Đó là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói.” [33; 87]

Trong thực tế dẫn chương trình, có nhiều trường hợp sau khi MC nói hết một lượt lời vẫn không có lượt lời của người khác chen vào, MC hình dung sự hồi đáp của khán giả rồi nói tiếp những lượt lời khác Chẳng hạn: MC chào khán giả truyền hình, MC không nhận được lời chào lại, nhưng MC vẫn tiếp tục giới thiệu tên chuyên mục, nhà đài, ngay sau lời chào khán giả

Do đó, mỗi lần MC nói có thể có nhiều lượt lời liên tiếp, vì không có sự trao lời cho người khác, người khác chỉ nghe mà không thể đóng góp lượt lời của mình

Nhiều lượt lời trong một lần nói có hai trường hợp:

- MC nói nhiều nội dung, mỗi nội dung có một mục đích riêng, có vai trò riêng trong tổng thể của chương trình Các lượt lời phải có ranh giới rõ ràng Thường thấy MC chuyển lượt lời này sang lượt lời khác bằng cách nói mở đầu lượt

Trang 29

lời mới là thưa/kính thưa quý vị

- Sau khi hết một lượt lời với khách mời này, MC chuyển hướng sang nói với khách mời khác thì tạo ra lượt lời mới tiếp theo trong khi chưa có lời nói của ai khách chen vào Ví dụ: chương trình tọa đàm có hai khách mời, sau khi hết một lượt lời với khách mời một, MC bắt đầu dùng lượt lời mới để mở đầu hoặc tiếp nối câu chuyện với khách mời hai

Tóm lại, một lượt lời dẫn của MC là mỗi lần MC nói có một nội dung và mục

đích thống nhất, hướng đến một đối tượng giao tiếp nhất định Do đó, trong một lần nói có khi MC nói nhiều lượt lời liên tiếp

Một lần nói liên tục của MC không đồng nhất với một lượt lời

1.5.3 Vai trò của lời dẫn trong chương trình

Trong một chương trình truyền hình, lời dẫn có chức năng giúp người dẫn

chương trình thể hiện vai trò: giới thiệu, điều khiển, dẫn dắt, làm cầu nối, trực tiếp làm cho chương trình vận động theo kế hoạch, ý đồ của đạo diễn

MC là người dẫn dắt khán giả, kết nối các tiết mục để tạo nên sự tổng thể, nhất quán cho chương trình

Từ những ý nêu trên ta có thể chỉ rõ ra đặc điểm của lời dẫn: lời dẫn dùng để

kể câu chuyện, khơi gợi tính hiếu kỳ, thu hút người xem; lời dẫn còn dự báo, định hướng, chuẩn bị tâm thế cho người tiếp nhận và định hình tâm trạng, liên kết các tiết mục trong chương trình để tạo sự liên tục

1.5.4 Về cấu trúc của lời dẫn

Cấu trúc của lời dẫn gắn liền với cấu trúc của chương trình, phụ thuộc vào cấu trúc của chương trình Thông thường chương trình có bao nhiêu phần, bao nhiêu tiết mục thì một diễn ngôn lời dẫn có bấy nhiêu phần, bấy nhiêu mục

Mỗi loại chương trình có cấu trúc khác nhau, vì vậy cấu trúc lời dẫn cũng khác nhau Có chương trình, MC xuất hiện với vai trò phụ (xuất hiện ít); có chương trình, MC giữ vai trò quan trọng (xuất hiện liên tục)

Ở thể loại phóng sự, phim tài liệu ngắn cần có sự xuất hiện của MC nhưng hạn chế, như các chương trình: Văn hóa ẩm thực, Nhịp sống Sài Gòn, Chung tay vì cộng đồng, Tạp chí văn nghệ, …

Hiện nay, theo khảo sát một số chương trình của Đài Truyền hình Thành phố

Hồ Chí Minh, MC giữ một vai trò khá quan trọng MC vừa giữ vai trò dẫn dắt

Trang 30

chương trình, vừa là nhân vật chính của chương trình, nghĩa là MC xuất hiện nhiều, nhiều lời dẫn, lời nói của MC là lời dẫn và cả nội dung chính của chương trình Thể loại chương trình này thường là những chương trình truyền hình thực tế như: Ngôi nhà mơ ước, Vượt lên chính mình, Yêu thương cuộc sống, Kết nối đến tương lai, Thường thức gia đình, Câu chuyện ước mơ, Nụ cười tuổi thơ, …

Trong các chương trình kể trên thì cấu trúc của chương trình bao gồm các phần, các tiết mục, … Nếu là chương trình phỏng vấn thì nội dung chính là các câu hỏi và câu trả lời Các nội dung của chương trình liên kết với nhau, thông thường

mở đầu chương trình, MC đưa ra cái cớ, lý do, rồi từ đó các phần nội dung diễn ra,

có nghĩa là chương trình có một đường dây xuyên suốt Sự thể hiện đường dây của chương trình chủ yếu là nhờ vào lời dẫn Nói cách khác, lời dẫn thể hiện một đường dây xuyên suốt, xâu chuỗi các sự kiện, các nội dung trong chương trình

Theo lý thuyết phân tích hội thoại, chúng tôi nhận thấy, một diễn ngôn lời dẫn chương trình truyền hình, đặc biệt là chương trình tọa đàm, là một cuộc thoại lớn, chứa nhiều cuộc thoại nhỏ, nhiều chủ đề MC phải giao tiếp với nhiều bên, vừa giao tiếp với một hay nhiều khách mời, vừa giao tiếp với khán giả

Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại mà lời dẫn của MC giữ vai trò chủ động ở các cuộc tọa đàm truyền hình cũng có mô hình như các cuộc thoại thông thường như sau:

[MỞ THOẠI – THÂN THOẠI – KẾT THOẠI]

(Theo Nguyễn Đức Dân [33; 83-86]) [LỜI DẪN MỞ ĐẦU – LỜI DẪN CHUYỂN TIẾP – LỜI DẪN KẾT THÚC] Đơn vị cơ bản cấu thành lời dẫn là các dạng lời nói thực hiện những hành động bằng lời khác nhau Các chuỗi những hành động bằng lời tạo thành các lượt lời Các lượt lời (hay chuỗi lời nói) của người dẫn chương trình có những nét riêng biệt làm cho lời dẫn là một thực thể ngôn ngữ có những nét đặc thù về cấu trúc, cần được khảo sát riêng

Xem xét cấu trúc của lời dẫn là xem xét các loại cấu trúc sau:

- Cấu trúc của lời dẫn tổng thể, bao gồm: phần mở đầu - phần chuyển tiếp - phần kết thúc

- Cấu trúc của từng phần (cấu trúc của chuỗi lời nói), có các dạng lời nói như chào, hỏi, giới thiệu, cầu khiến, cảm ơn, …

Trang 31

- Cấu trúc của các dạng lời nói, bao gồm các thành phần của lời nói như hành động, chủ thể, đối tượng, …

1.5.5 Về mặt sử dụng

Về mặt sử dụng, MC phải đặt lời dẫn sao cho phù hợp với các yếu tố của cuộc giao tiếp như chủ đề - nội dung của chương trình, thể loại chương trình, khách mời của chương trình, khán giả của chương trình, …

Lời dẫn thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố Trong đó nội dung của chương trình cũng ảnh hưởng một phần đến lời dẫn của MC bởi mỗi nội dung thể hiện một chủ đề và tư tưởng của người dàn dựng hoặc tổ chức chương trình Ví dụ: chương trình có nội dung viết về người mẹ Việt Nam anh hùng đòi hỏi MC phải có vốn kiến thức sâu rộng về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, biết dùng ngôn từ trau chuốt, giàu tính biểu cảm khơi gợi được cảm xúc của khán giả

Bên cạnh đó, tuỳ vào thể loại chương trình, ứng với từng chương trình có một cách đặt lời dẫn riêng Ví dụ: chương trình dành cho thiếu nhi thì lời dẫn phải ngắn gọn, từ ngữ trong sáng dễ hiểu Chương trình dành cho người trưởng thành thì ngôn từ phải sắc bén, chính xác, có căn cứ

Các đặc điểm của khách mời như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ,

là yếu tố quyết định để MC lựa chọn từ ngữ, cách thức diễn đạt Ví dụ: khách mời là một vị giáo sư thì MC trau chuốt ngôn từ thật kỹ để dẫn vào chương trình một cách suôn sẻ liền mạch, tạo điều kiện thuận lợi khi khai thác những nội dung thông tin cần thiết Nhưng một trong hai khách mời có độ chênh nhau về địa vị, kiến thức thì lời dẫn của MC phải thay đổi, chọn lọc sao cho phù hợp để tạo được không khí cởi

mở cho cả hai khách mời đều hiểu sự việc như nhau

Khán giả của chương trình cũng là một yếu tố chi phối đến lời dẫn của MC

Ví dụ: chương trình “Thay lời muốn nói” trên HTV có đối tượng khán giả rất đa dạng nên MC phải lựa chọn lời dẫn sao cho phù hợp với tất cả người nghe

Phong cách chức năng ngôn ngữ cũng là một khía cạnh quan trọng chi phối đến việc sử dụng ngôn từ trong lời dẫn

Theo đó, lời dẫn vừa có phần chuẩn bị trước vừa có phần không chuẩn bị trước, vừa có tính gọt giũa, vừa phi gọt giũa, vừa nghệ thuật vừa phi nghệ thuật, được sử dụng ở phạm vi ngoài xã hội, nói trước công chúng Lời dẫn được các nhà nghiên cứu xếp vào thể loại phong cách báo chí - truyền thông

Trang 32

Lời dẫn luôn tồn tại dưới dạng nói Lời nói của MC là lời nói thành tiếng, giao tiếp trực tiếp với khán giả, với nhân vật/khách mời của chương trình Lời dẫn của MC xuất hiện cùng với diễn tiến của chương trình

Điều đặc biệt là lời dẫn trước khi hiện thực hóa, nó được chuẩn bị dưới dạng văn bản viết Khi MC dẫn chương trình, những lời dẫn ở dạng viết được chuyển thành ngôn ngữ nói và thay đổi cách diễn đạt Cách diễn đạt mang tính khẩu ngữ bị phụ thuộc mạnh vào hoàn cảnh giao tiếp, có sự hỗ trợ của cử chỉ điệu bộ và xuất hiện nhiều các yếu tố chức năng của khẩu ngữ, của ngôn ngữ hội thoại mà ngôn ngữ

viết ít khi sử dụng như: à, ừ, nhỉ, ừm, hừ, á, vâng, thì, mà, là, những, cái,

Sự chuẩn bị trước thể hiện ở khâu viết lời dẫn Một văn bản lời dẫn chưa phải là một lời dẫn thật sự, vì nó chưa có tác dụng dẫn chương trình Viết lời dẫn là công việc của MC cùng với những người thực hiện chương trình

1.6 Câu hỏi và lời hỏi

1.6.1 Khái niệm câu hỏi và lời hỏi

Lời nói là một chuỗi âm thanh phát ra khi nói, nó mang một nội dung trọn vẹn nhất định, thực hiện một hành động nhất định, và có một mục đích nhất định như hỏi, chào, yêu cầu, thông báo, … Do hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần

của con người rất phong phú, phức tạp, nên hành động bằng lời của con người cũng vậy, có lời nói đơn và lời nói phức Trong lời nói phức có thể chứa nhiều loại lời nói

có hành động trực tiếp và gián tiếp với mục đích khác nhau

Câu là một đơn vị ngôn ngữ học dùng để tạo nên lời nói Khi nghiên cứu lời nói, người nghiên cứu phân xuất lời nói ra thành các câu Mỗi một câu ứng với một mệnh đề, thường có hai phần chính là đề và thuyết (hoặc chủ ngữ và vị ngữ)

Câu có giá trị tạo thành lời nói, do đó nó mang các đặc điểm có giá trị thể hiện tình thái, hành động lời nói như tình thái chủ quan, tình thái khách quan, hành động hỏi, hành động cầu khiến, …

Thông thường câu có chứa các đặc điểm thể hiện hành động hỏi gọi là câu hỏi, câu có chứa các đặc điểm thể hiện hành động cầu khiến gọi là câu cầu khiến, … Thực chất khi đi vào cấu tạo lời nói, có những câu không được sử dụng đúng với đặc điểm nổi bật của nó, chẳng hạn sử dụng câu hỏi để tạo lời cầu khiến hoặc lời cảm thán

Như vậy, câu hỏi là câu có chứa dấu hiệu hỏi, còn lời hỏi là lời nói thực hiện

Trang 33

hành động hỏi Lời hỏi chủ yếu được cấu tạo nên từ câu hỏi, nhưng cũng có lời hỏi được cấu tạo nên từ những dạng câu khác Lời hỏi có cấu tạo đơn giản chỉ bằng

một câu hoặc cấu tạo phức bằng nhiều câu

Khi nghiên cứu lời dẫn, ta cũng cần phải phân biệt hai khái niệm thường bị

Chúng tôi quan niệm, câu bao giờ cũng là một câu cụ thể được phân xuất ra

từ trong dòng lời nói Trong câu có những dấu hiệu ngữ dụng tiềm tàng, trong đó có dấu hiệu nổi bật hơn hết thường phát huy tác dụng tạo thành hành động lời nói khi hành chức

1.6.2 Câu hỏi và câu hỏi sử dụng trong báo chí

Như phân tích ở trên, câu hỏi là câu được phân xuất, nhận diện bằng các tiêu chí ngôn ngữ học từ trong dòng lời nói tự nhiên, và có dấu hiệu ngữ dụng nổi bật là

hỏi Các dấu hiệu đó là cấu trúc nghi vấn như: có không, đã chưa,… đại từ nghi vấn như ai, gì, đâu, nào, sao,… trợ từ nghi vấn như à, ư, hả, chứ,… liên từ lựa chọn

hay, hay là

Câu hỏi sử dụng trong báo chí là một lời hỏi được sử dụng trong tác phẩm báo chí Một câu hỏi báo chí có thể gồm một hoặc nhiều câu hỏi Câu hỏi của người dẫn chương trình chính là câu hỏi sử dụng trong báo chí

1.6.3 Cấu trúc của câu hỏi và câu hỏi sử dụng trong báo chí

1.6.3.1 Cấu trúc của câu hỏi

Về mặt nội dung, câu hỏi được chia làm ba loại: câu hỏi chuyên biệt, câu hỏi lựa chọn và câu hỏi tổng quát Về mặt cấu trúc, câu hỏi được chia làm năm loại: câu

hỏi dùng đại từ nghi vấn, câu hỏi dùng liên từ hay, câu hỏi có không, câu hỏi dùng

trợ từ nghi vấn và câu hỏi dùng ngữ điệu

Trang 34

a Câu hỏi dùng đại từ nghi vấn

Xét về nội dung, câu hỏi dùng đại từ nghi vấn thuộc loại câu hỏi chuyên biệt hay câu hỏi bộ phận Bộ phận nào được lấy làm tiêu điểm hỏi trong câu thì bộ phận

đó được thay thế bằng đại từ nghi vấn

Yêu cầu trả lời của câu hỏi loại này là cung cấp thông tin cụ thể cho tiêu điểm hỏi

Thành phần có giá trị hỏi được thể hiện bằng đại từ nghi vấn có thể đảm nhận hầu hết các thành phần chức năng trong câu như chủ ngữ / đề ngữ, vị ngữ / thuyết ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ, …

Dựa vào ý nghĩa, đại từ nghi vấn gồm có chín loại sau:

1 Hỏi về người: ai

2 Hỏi về vật, việc: gì

3 Hỏi về sự lựa chọn: nào

4 Hỏi về thời gian: khi nào, chừng nào, bao giờ, mấy giờ, …

5 Hỏi về không gian: đâu

6 Hỏi về số lượng: bao, bao nhiêu, mấy

7 Hỏi về cách thức, hình thức: sao, ra sao, làm sao, như thế nào

8 Hỏi về nguyên nhân: vì sao, tại sao, do đâu, …

9 Hỏi về mục đích: làm gì, làm chi, chi vậy, để làm gì, …

b Câu hỏi dùng liên từ lựa chọn hay

Về nội dung, câu hỏi dùng liên từ lựa chọn đưa ra một khả năng lựa chọn đối lập với thành phần làm tiêu điểm hỏi ở phía trước Tiêu điểm hỏi có thể là bất kỳ thành phần nào trong câu

Về cấu trúc, liên từ hay/hay là được dùng ở giữa hai vế đối lập nhau ở tiêu

điểm hỏi Cấu trúc lựa chọn có thể nằm ngay trong thành phần nào đó của câu hoặc được tách ra làm hai câu ghép lại với nhau Vế sau thường được tỉnh lược phần đầu nếu như tiêu điểm hỏi nằm ở giữa hoặc ở cuối

Ví dụ: Anh đi chợ hay anh đi chơi? (hai câu ghép lại)

→ Anh đi chợ hay đi chơi? (hai câu ghép lại, tỉnh lược chủ ngữ ở vế sau)

Trang 35

Trong trường hợp đặc biệt, vế phía sau chỉ có một từ phủ định không hoặc

chưa thì tiêu điểm hỏi thường rơi vào động từ chính của vị ngữ (xem thêm cấu trúc

chính phản)

Ví dụ: Anh có đi chơi hay không?

→ đầy đủ là: Anh có đi chơi hay không đi chơi?

c Câu hỏi dùng cấu trúc có/không

Nội dung của câu hỏi loại này là hỏi toàn bộ sự tình (sự việc) được nêu trong câu, và yêu cầu trả lời cho câu hỏi loại này là khẳng định hoặc phủ định, xác nhận hoặc phủ nhận Tùy theo hoàn cảnh giao tiếp, sự khẳng định/phủ định có thể rơi vào thành phần nào đó của câu chủ ngữ, động từ, bổ ngữ, trạng ngữ

Ví dụ: Anh có đi chợ không?

- Không, vợ tôi đi (tiêu điểm hỏi ở chủ ngữ)

- Không, tôi đi làm (tiêu điểm hỏi ở vị ngữ)

Cấu trúc của câu hỏi loại này là dạng đặc biệt của câu hỏi lựa chọn dùng liên

từ hay Đó là sự yêu cầu lựa chọn giữa cái khẳng định và phủ định

- Các tác tử khẳng định: có, đã, rồi, còn, phải, đúng

- Các tác tử phủ định: không, chẳng, chưa, đâu/nào

Câu hỏi chính phản là một dạng đặc biệt của câu hỏi lựa chọn dùng liên từ

hay Câu hỏi lựa chọn đưa ra hai hoặc nhiều điều bất kỳ để người nghe chọn trả lời

Còn câu hỏi chính phản chỉ đưa ra cái khẳng định và cái phủ định của một điều để người nghe chọn trả lời khẳng định hoặc phủ định

Ví dụ: Anh có biết hay là không biết?

→ Anh có biết hay là không?

→ Anh có biết không?

Cấu trúc chính phản có thể nằm ở những vị trí khác nhau trong câu, vì vậy ta

có các kiểu cấu trúc như sau:

+ Chính phản ở động từ chính của vị ngữ: có V… không / đã V chưa

Ví dụ: Anh có biết không?

+ Chính phản ở bổ ngữ của động từ (B là bổ ngữ chỉ trạng thái) : V có B không

Ví dụ: Món này ăn có ngon không? (tiêu điểm hỏi ở từ “ngon”)

+ Chính phản toàn câu: có phải CÂU không / CÂU phải không

Ví dụ: Có phải anh mới vừa về không?

Trang 36

→ Anh mới vừa về phải không?

Cấu trúc chính phản cũng bị chi phối bởi các loại ý nghĩa: ý nghĩa thời gian,

ý nghĩa hoàn thành, ý nghĩa khả năng Các loại ý nghĩa này quy định các yếu tố khẳng định, phủ định trong cấu trúc chính phản khác nhau, và cũng quy định cách thức trả lời Từ đó có các kiểu câu hỏi như sau:

+ Câu hỏi về quá khứ và tương lai: Nói về một sự việc xảy ra trong quá khứ

là nói về một sự việc có thật, sự việc mang tính hiện thực Để hỏi về một sự việc

mang tính hiện thực này, tiếng Việt dùng từ có Khi hỏi về một hành động sự tình động, bắt buộc phải dùng từ có trong câu hỏi chính phản Còn câu hỏi về sự tình tĩnh, hỏi về dự định thì không bắt buộc dùng từ có

Ví dụ: Hôm qua anh có đi với cô ấy không? (bắt buộc có từ có)

→ Hôm qua anh đi với cô ấy không? (thiếu từ có, sai ngữ pháp)

→ Cô ấy có đẹp không?

→ Bây giờ / ngày mai anh có đi với cô ấy không?

+ Câu hỏi về sự hoàn thành: đã / rồi… chưa

Ví dụ: Anh đã ăn cơm chưa?

→ Anh ăn cơm rồi chưa?

+ Câu hỏi về khả năng: có thể … không / được không

Ví dụ: Anh có thể kể cho mọi người nghe không / được không?

d Câu hỏi dùng trợ từ nghi vấn, tiểu từ tình thái

Về nội dung, câu hỏi loại này giống với câu hỏi chính phản, có nội dung hỏi tổng quát, yêu cầu trả lời khẳng định hoặc phủ định, xác nhận hoặc phủ nhận Có điều khác ở chỗ loại này có định hướng trả lời, hỏi để xác nhận lại, tranh thủ sự đồng tình của người khác

Về cấu trúc, nó có hình thức của câu khẳng định và không có đại từ nghi vấn, chỉ có thêm trợ từ nghi vấn vào cuối câu hỏi Theo thống kê của Lý Thị Kim Thanh [26; 107-108], trợ từ nghi vấn tiếng Việt gồm có 19 từ, chia thành ba nhóm như sau:

- Nhóm 1: à, á, ạ, ư, hả, hử, hở (7 từ)

- Nhóm 2: chứ, nhỉ, nhé, hén, với (5 từ)

- Nhóm 3: chắc, hẳn, ấy à, ta, sao, phỏng, chăng (7 từ)

Trong đó, nhóm 1 thiên về yêu cầu xác nhận / phủ nhận khách quan, nhóm 2 thiên về ướm hỏi, tìm kiếm sự đồng thuận, nhóm 3 thiên về sự nghi ngờ, phỏng

Trang 37

đoán Mặc dù có khác nhau giữa ba nhóm, xu hướng chung của ba nhóm trên là khẳng định

Ví dụ: Anh mới đi làm về à?

→ Anh đi chơi chứ?

→ Anh không đi chơi sao?

e Câu hỏi dùng ngữ điệu

Câu hỏi dùng ngữ điệu, nói chung là câu hỏi hầu như không có dấu hiệu nào

về cấu trúc hoặc từ ngữ có giá trị tạo ra lời hỏi Ý hỏi chủ yếu được thể hiện bằng ngữ điệu, chẳng hạn ngữ điệu lên giọng ở cuối câu, nhấn giọng ở thành phần nào đó trong câu

Về nội dung, thuộc câu hỏi tổng quát, hỏi toàn bộ sự tình giống như câu hỏi dùng dấu trúc chính phản hoặc câu hỏi dùng trợ từ nghi vấn

Về cấu trúc, có cấu trúc của của kiểu câu tường thuật, kèm theo ngữ điệu hỏi bắt buộc Có thể nói, loại câu này dùng ngữ điệu thay thế trợ từ nghi vấn ở cuối câu

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của Lý Thị Kim Thanh [26; 120-122] cho thấy phần lớn câu hỏi dùng ngữ điệu có dạng một câu hỏi không hoàn chỉnh, nghĩa là phần đầu của câu có dấu hiệu định hướng hỏi nhưng cuối câu lại vắng yếu tố hoàn tất cho câu hỏi Có các dạng sau:

+ Dạng dùng liên từ còn: ý muốn hỏi tương tự

Ví dụ: Tôi là nhà báo Còn anh? (câu hỏi đầy đủ: Còn anh làm nghề gì?)

+ Dạng câu hỏi dở dang: Câu nói bỏ ngỏ để cho người trả lời tự điền vào

Ví dụ: Tôi là nhà báo Anh là…?

+ Dạng câu hỏi chính phản vắng yếu tố phủ định ở cuối câu: ở phần đầu bao giờ cũng có yếu tố khẳng định, định hướng cho câu hỏi chính phản, nhưng đến cuối

câu lại vắng yếu tố phủ định như không, chưa làm cho câu hỏi bị hụt hẫng, nên phải

bù đắp lại bằng ngữ điệu

Ví dụ: Thưa đạo diễn, có phải ông đã từng đi bán vé số? (vắng không)

+ Dạng câu hỏi có định hướng dùng trợ từ nghi vấn như lại thiếu vắng trợ từ:

Ví dụ: Mà chẳng lẽ Điền phải thiệt? (vắng trợ từ như sao, à, ư, …)

1.6.3.2 Cấu trúc của câu hỏi sử dụng trong báo chí

Câu hỏi báo chí được hiểu là một lời hỏi hoặc một lượt lời của nhà báo hỏi

để lấy thông tin Trên quan điểm ngôn ngữ học, có nhiều trường hợp câu hỏi sử

Trang 38

dụng trong báo chí có thể được phân xuất ra thành nhiều câu có cấu trúc chủ - vị (đề

- thuyết) Như vậy, câu hỏi sử dụng trong báo chí tương đương với lời hỏi trong ngôn ngữ

Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu cấu trúc của lời hỏi được sử dụng trong tác phẩm báo chí một cách khoa học để chúng tôi có thể lấy làm

cơ sở mà khảo sát đề tài của luận văn

Vì vậy, ở đây chúng tôi đưa ra các dạng lời hỏi nói chung để làm cơ sở khảo sát trong báo chí, cụ thể là trong lời dẫn chương trình thường sử dụng các dạng lời hỏi nào để làm câu hỏi sử dụng trong báo chí

Các dạng cấu tạo của lời hỏi:

Lời hỏi ← câu hỏi

Lời hỏi ← câu hỏi + câu hỏi

Lời hỏi ← câu thuộc dạng khác

Lời hỏi ← câu hỏi + câu thuộc dạng khác

Lời hỏi ← nhiều câu thuộc dạng khác

Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài những lời hỏi chính danh còn có những lời hỏi chuyển đổi hình thái với các dạng như:

Lời khẳng định ← câu hỏi

Lời cầu khiến ← câu hỏi

Lời cảm thán ← câu hỏi

Đặc biệt, có dạng lời cầu khiến được tạo nên từ câu hỏi, nhưng lại có ý nghĩa tương đương với lời hỏi, đó là lời yêu cầu trả lời, yêu cầu nói, yêu cầu cung cấp thông tin, yêu cầu phát biểu cảm nghĩ, …

Lời hỏi ← lời cầu khiến ← câu hỏi

Ví dụ: Anh có thể kể cho khán giả nghe một số kỷ niệm được không?

Gọi tên, phân tích các kiểu lời hỏi:

+ Lời hỏi đơn và lời hỏi phức

Lời hỏi đơn là lời hỏi chỉ có một ý hỏi

Lời hỏi phức là lời hỏi có nhiều ý hỏi, được cấu tạo từ một câu phức hoặc nhiều câu ghép lại

+ Lời hỏi có tiền đề

Trang 39

Lời hỏi có tiền đề là lời hỏi mà trước khi đưa ra nội dung hỏi người ta đưa ra đưa ra tình huống, vấn đề, đối tượng để người nghe xác định được tình huống, vấn

đề, đối tượng của câu hỏi; hoặc là đưa ra luận cứ của lập luận mà kết luận chính là

nội dung hỏi Phần tiền đề của lời hỏi có thể gọi bằng tên khác là phần dẫn hỏi, hoặc phần đề dẫn của lời hỏi, hoặc lời dẫn của câu hỏi

Như vậy, tiền đề của câu hỏi có ba loại:

Loại 1: Sử dụng câu tường thuật (câu không mang dấu hiệu hỏi)

Loại 2: Sử dụng câu cầu khiến (câu có dấu hiệu cầu khiến, nội dung là yêu cầu nói)

Loại 3: Sử dụng lời cầu khiến có chất liệu là câu hỏi (câu có dấu hiệu hỏi, nội dung là yêu cầu nói)

Tuy nhiên, trong các lời hỏi phi chính danh thường chứa đại từ phiếm định

Ví dụ: (Bốn ví dụ sau đều có nội dung hỏi giống nhau trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định, nhưng cấu trúc khác nhau.)

i Thưa ông, mọi người sẽ gặp những khó khăn gì? (lời hỏi chính danh - sử

dụng câu hỏi)

ii Thưa ông, mọi người vẫn chưa biết sẽ gặp những khó khăn gì (lời hỏi phi

chính danh - sử dụng câu tường thuật)

iii Xin ông cho biết mọi người sẽ gặp những khó khăn gì! (lời hỏi phi chính

danh - sử dụng câu cầu khiến)

iv Ông có thể cho biết mọi người sẽ gặp những khó khăn gì hay không? (lời

hỏi phi chính danh - sử dụng câu hỏi có giá trị cầu khiến)

1.6.4 Vai trò của lời hỏi trong chương trình tọa đàm

Trang 40

Lời hỏi trong chương trình đọa đàm vừa là nội dung chính của chương trình, vừa là lời dẫn của chương trình

- Là nội dung chính vì một cuộc tọa đàm không thể thiếu lời hỏi Lời hỏi cũng thể hiện nội dung, ý kiến của MC, của nhà đài trong khi trao đổi với nhân vật / khách mời

- Là lời dẫn vì câu hỏi có chức năng điều khiển nhân vật / khách mời cung cấp thông tin đóng góp cho chương trình và câu hỏi cũng điều khiển, dẫn dắt cuộc tọa đàm đi đúng hướng

Trong một buổi phỏng vấn toạ đàm, nếu MC làm không đúng vai trò của mình, đặt một câu hỏi không có định hướng, có thể sẽ dẫn cuộc tọa đàm đi xa chủ

đề của chương trình

1.6.5 Đặc điểm sử dụng của câu hỏi và câu hỏi báo chí

1.6.5.1 Đặc điểm sử dụng của câu hỏi

Việc sử dụng câu hỏi chính là giá trị của nó trong việc cấu tạo thành lời hỏi nói riêng và lời nói nói chung

Mối quan hệ giữa câu hỏi và lời hỏi là mối quan hệ giữa chất liệu và sản phẩm Dùng chất liệu câu hỏi để cấu tạo thành sản phẩm lời hỏi Xem xét thành phần cấu tạo lời hỏi, ta thấy được giá trị của câu hỏi trong lời hỏi

Câu hỏi nào cũng có dấu hiệu hỏi Trong sử dụng, câu hỏi trước tiên phải là lời hỏi Lời hỏi này bị chi phối bởi các dấu hiệu ngữ dụng khác của câu và các yếu

tố như hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp, lịch sự, không lịch sự, … làm cho lời hỏi được sử dụng để thực hiện những hành động nói khác hỏi như chào, yêu cầu, than phiền, khẳng định, bác bỏ, …

Câu hỏi đôi khi cũng chứa những dấu hiệu ngữ dụng khác hỏi

1.6.5.2 Đặc điểm sử dụng của câu hỏi báo chí

Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” (2003) [46; 143-147], Trần Bảo Khánh đã giới thiệu tương đối đầy đủ về câu hỏi báo chí như sau:

- Về chức năng câu hỏi: Phải khai thác đúng, sâu và nhiều thông tin; tạo lập

quan hệ hợp tác giữa người phỏng vấn và người trả lời; hình thành cốt truyện và bố

cục của cuộc phỏng vấn

- Về yêu cầu đối với phóng viên: Cần phải thể hiện được sự am hiểu tường

tận đề tài, sự hiểu biết về bối cảnh; khi đặt câu hỏi phải tính toán sao cho người trả

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w