Tìm hiểu lịch sử Văn miếu Trấn Biên để cĩ giải pháp giữ gìn những giá trị truyền thống, đồng thời phát huy được tốt vai trị và ý nghĩa giáo dục văn hĩa trong thời đại ngày nay, đĩ là mục
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ ANH TUẤN
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VĂN MIẾU TRẤN BIÊN (BIÊN HÒA - ĐỒNG
NAI) TỪ 1715 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 - 22 – 54
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ ANH TUẤN
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VĂN MIẾU TRẤN BIÊN (BIÊN HÒA - ĐỒNG
NAI) TỪ 1715 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 - 22 – 54
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN THỊ MAI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Hướng tiếp cận đề tài – Phương pháp nghiên cứu 8
4 Kết cấu của đề tài 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TRẤN BIÊN 10
1.1 Điều kiện tự nhiên –xã hội và dân cư vùng Biên Hòa – Đồng Nai 10
1.2 Văn hóa Trấn Biên 15
CHƯƠNG 2: VĂN MIẾU TRẤN BIÊN – LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 24
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Văn miếu Trấn Biên 24
2.1.1 Nhận thức của chính quyền họ Nguyễn đối với việc phát triển Nho học trên vùng đất mới 24
2.1.2 Văn miếu Trấn Biên ra đời 30
2.1.3 Văn miếu Trấn Biên qua các thời kỳ 41
2.2 Sự phát triển của Nho học và giáo dục Nho học trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai 49
2.2.1 Sự phát triển của Nho học 49
2.2.2 Giáo dục Nho học trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai xưa 53
2.2.3 Các trung tâm Nho học tiêu biểu trên vùng đất Đồng Nai – Nam Bộ xưa 59
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN MIẾU TRẤN BIÊN 66
3.1 Giá trị của Văn miếu Trấn Biên 66
Trang 43.1.1 Giá trị của Văn miếu Trấn Biên đương thời 66
3.1.2 Giá trị của Văn miếu Trấn Biên đối với việc giáo dục truyền thống hiện nay 69
3.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy Văn miếu Trấn Biên 73
3.2.1 Thực trạng 73
3.2.2 Giải pháp 78
3.3 Ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy đối với việc phát triển giá trị văn hóa vùng Đông Nam Bộ 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu
Khi nói về vùng đất Nam Bộ, Đồng Nai – Gia Định là hai địa danh đầu tiên thường được nhắc đến Với Đồng Nai, vùng đất được mệnh danh là vùng đất của Tứ linh, có con sông Đồng Nai uốn khúc chảy từ Bắc xuống Nam giống như con long ấn dưới nước, theo người xưa, con sông này đem phước quả vào đất Đồng Nai
Hơn 300 năm hình thành và phát triển, Đồng Nai trong đó có Bin Hòa ngày càng khẳng định được vị trí và ngày nay là một trong những tỉnh
có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh và mạnh, nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời Một trong những giá trị truyền thống đó chính là dấu ấn của nền giáo dục Nho học nổi tiếng một thời Qua sự thể hiện của Văn miếu Trấn Biên, một công trình văn hoá tuy mới mẻ hiện đại nhưng cũng là nơi lưu giữ những tinh hoa văn hoá buổi đầu của nền văn hoá Trấn Biên
Văn miếu Trấn Biên là biểu tượng của truyền thống văn hóa Đồng Nai: hiếu học, “tôn sư trọng đạo”; là nơi đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho vùng đất phương Nam; là nơi gìn giữ tinh hoa của nền văn hóa Đồng Nai – Gia Định hng mấy trăm năm qua Theo năm tháng, Văn miếu Trấn Biên đã được trùng tu tôn tạo Ngày nay, tuy không giữ nguyên vẻ ban sơ, nhưng ý nghĩa của Văn miếu Trấn Biên vẫn không thay đổi
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập văn hóa hiện nay, việc bảo tồn Văn miếu Trấn Biên là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa lịch sử - văn hoá sâu sắc Việc bảo tồn Văn miếu Trấn Biên không đơn thuần chỉ là bảo vệ, giữ gìn một công trình văn hóa lịch sử của thời đại mới, mà qua đó còn nhằm phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo
Trang 6đã tồn tại từ lâu trong lịch sử Việt Nam nĩi chung và Biên Hịa – Đồng Nai nĩi riêng Tìm hiểu lịch sử Văn miếu Trấn Biên để cĩ giải pháp giữ gìn những giá trị truyền thống, đồng thời phát huy được tốt vai trị và ý nghĩa giáo dục văn hĩa trong thời đại ngày nay, đĩ là mục đích và cũng là lý
do để chúng tơi chọn vấn đề “Lịch sử hình thành và phát triển Văn Miếu Trấn Biên (Biên Hịa – Đồng Nai) từ 1715 đến nay” làm đề tài nghiên cứu
- Khẳng định giá trị lịch sử của Văn miếu Trấn Biên trong qúa khứ cũng như hiện tại, từ đĩ chỉ ra thực trạng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy vai trị của di sản văn hĩa vật thể độc đáo, tiêu biểu cho hào khí Đồng Nai thời mở ci
Mục đích của đề tài:
Tìm hiểu vấn đề này, chúng tơi hướng đến các mục đích nghiên cứu cần đạt được như sau:
Thứ nhất: nghiên cứu làm rõ lịch sử hình thành vùng đất Biên Hịa –
Đồng Nai, nền văn hĩa Trấn Biên
Thứ hai: tìm hiểu sự ra đời, quá trình phát triển và đặc điểm của Văn miếu
Trấn Biên Qua đĩ tìm hiểu sự phát triển của Nho học và nền giáo dục Nho học trên vùng đất Biên Hịa – Đồng Nai nổi tiếng một thời trong lịch sử
Trang 7Thứ ba: rút ra những giá trị và đặc điểm của Văn miếu Trấn Biên
truyền thống cũng như trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập văn hóa ngày nay Từ đó đưa ra một vài giải pháp góp phần vào việc bảo tồn một công trình văn hóa tiêu biểu và việc phát huy những giá trị văn hóa cao đẹp của Văn miếu Trấn Biên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài nghiên cứu về Biên Hòa – Đồng Nai từ lâu đã được quan tâm, song những công trình chuyên khảo về Văn hóa Văn Miếu Trấn Biên thì lại khá khiêm tốn Đó chủ yếu chỉ là những nghiên cứu chung về Biên Hòa – Đồng Nai – Gia Định trên các lĩnh vực: lịch sử, kinh tế, văn hóa, giáo dục,
tư tưởng, nghệ thuật … như công trình lịch sử “Gia Định thành thông chí”
của Trịnh Hoài Đức, các tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu như
“Địa bạ triều Nguyễn – Biên Hòa”, “Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh”, “Ký ức về Sài Gòn và vùng phụ cận”…, các nghiên cứu của Sơn Nam như: “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”, “Đất Gia Định – Bến Nghé xưa và người Sài Gòn…”, hay “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển;
“Việt sử xứ Đàng Trong 1558 – 1777” của Phan Khoang; “Hào khí Đồng
Nai” của Ca Văn Thỉnh; các nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng, “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” và “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX” của Huỳnh Lứa, “Công cuộc phát triển nước Việt về phương Nam” (Luận án Thạc sĩ của Nguyễn Văn Tích) Và các
nghiên cứu về Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh – người mở mang vng đất
phương Nam, có “Nguyễn Hữu Cảnh chân dung người mở cõi” của Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, “Kỷ yếu hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh” của Sở Văn hóa thông
tin An Giang…
Trang 8Riêng mảng nghiên cứu về Văn hóa và Văn Miếu Trấn Biên thì chưa được đầu tư đúng mức Có chăng đó chỉ là những nghiên cứu có liên quan ít
nhiều đến vấn đề này Như tác giả Lương Văn Lựu có “Biên Hòa sử lược toàn biên, quyển 1 – Trấn Biên cổ kính; quyển 2 – Biên hùng oai dũng”
đã nghiên cứu bước đầu về Trấn Biên Songcông trình này chỉ nói ngắn gọn
về thời gian xây dựng văn miếu, cấu trúc văn miếu và sự tàn lụi của nó chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu những hoạt động của văn miếu trong lịch sử, cũng chưa làm nổi bật được vai trò và sự ảnh hưởng của Nho giáo và giáo dục Nho học đối với sự tồn tại và phát triển của Văn miếu Trấn Biên Nhưng
dù sao, đây cũng là một trong những tài liệu tổng quan về Văn miếu Trấn Biên rất hữu ích cho tác giả khi tiếp cận nghiên cứu về vấn đề này Qua tài liệu này, tác giả có được những hiểu biết cơ bản về Văn miếu Trấn Biên để
từ đó định hướng nghiên cứu sâu thêm về hoạt động của văn miếu và sự phát triển cũng như vai trò của nền giáo dục Nho học trong lịch sử Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây có những công trình kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, như “Biên Hòa – ghi nhớ, tự hào” của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Biên Hòa, “Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành
và phát triển” của Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa –
Đồng Nai… Đây là những công trình nghiên cứu tổng quan về lịch sử, văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế…của Biên Hòa – Đồng Nai theo tiến trình lịch
sử Những tài liệu này đem đến cho tác giả những kiến thức tổng quát về địa danh đã sản sinh ra Văn miếu để từ đó rút ra những điều kiện để văn miếu
Trấn Biên hình thành và phát triển Bài viết về “Văn Miếu Trấn Biên” của
tác giả Hà Đình Nguyên trên tạp chí Xưa và Nay số 52B (6/1998); đề tài
nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên khoa lịch sử năm 2003 “Nghiên cứu cơ bản và đề xuất phương hướng bảo tồn một số di tích văn hoá vật thể ở Đồng Nai”… Đây thực chất cũng là những công trình, bài viết nhỏ
Trang 9bước đầu tìm hiểu về Văn miếu Trấn Biên nhằm giới thiệu đến người đọc về
sự xuất hiện của một công trình văn hóa trong lịch sử Biên Hòa – Đồng Nai
Từ những công trình, bài viết này đã giúp tác giả có những kiến thức nền về Văn miếu Trấn Biên để từ đó đi sâu nghiên cứu vấn đề này hơn nữa
Ngoài những công trình nghiên cứu chung về Lịch sử Việt Nam, Lịch
sử miền Nam, Lịch sử Biên Hòa – Đồng Nai và các công trình chuyên đề như đã trình bày ở trên Một công trình nghiên cứu gần đây của Thành ủy,
Ủy Ban nhân dân thành phố Biên Hòa “290 năm Văn Miếu Trấn Biên” do
Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai xuất bản năm 2005 – được coi là một công trình tổng quan về Văn Miếu Trấn Biên Trước tiên, đây là công trình nhằm hướng đến kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc: như 75 năm thành lập Đảng, 30 năm giải phóng miền Nam…và đặc biệt kỷ niệm Văn miếu Trấn Biên tròn 290 tuổi Công trình này chủ yếu giới thiệu đến người đọc quá trình và ý nghĩa phục dựng lại Văn miếu trong thời đại mới dựa trên những cứ liệu lịch sử; giới thiệu về kiến trúc và tác dụng của các hạng mục công trình Văn miếu Trấn Biên ngày nay Nhìn vào những thành quả vừa nêu của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về Văn Miếu Trấn Biên, chúng ta thấy rằng lịch sử nghiên cứu của vấn đề này còn thiếu những công trình nghiên cứu quy mô, chuyên sâu do đó cần thiết có nhiều nghiên cứu hơn nữa
về một cơng trình văn hóa tiêu biểu không chỉ của Biên Hòa – Đồng Nai mà tiêu biểu cho cả dân tộc Việt Nam Khi thực hiện đề tài này, với nguồn tư liệu tổng quan như đã trình bày, việc nghiên cứu chuyên sâu là rất hạn chế Chính vì thế, tác giả đi vào khái quát những đặc trưng của Trấn Biên, của Biên Hòa – Đồng Nai, để từ đó có những đánh giá khách quan và đưa ra những giải pháp duy trì, bảo tồn công trình văn hóa này và việc phát huy những giá trị văn hóa trong thời đại ngày nay
Trang 103 Hướng tiếp cận đề tài – Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi khai thác những tài liệu kinh điển của các sử gia Việt Nam, những nghiên cứu của các tác giả về lịch sử Việt Nam, lịch sử Biên Hòa – Đồng Nai; những chủ trương chính sách của nhà nước cũng như của tỉnh ủy Đồng Nai, thành ủy Biên Hòa về việc trùng tu tôn tạo Văn miếu Trấn Biên Trao đổi với các nhà nghiên cứu chuyên sâu, nhà giáo dục, nhà văn hóa, những công trình hội thảo chuyên đề, những công trình kỷ niệm 300 năm Biên Hoà – Đồng Nai, và các bài viết trên các tạp chí Xưa và Nay, Nghiên cứu Lịch sử… cùng những trang Web về Biên Hòa – Đồng Nai cũng như Văn hóa Việt Nam
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Từ đó vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử, là phương pháp lịch
sử và phương pháp lôgic Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp sưu tầm tư liệu, phỏng vấn chuyên sâu, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…v…v cũng được vận dụng để từ đó có cái nhìn toàn diện về sự hình thành và phát triển Văn miếu Trấn Biên và giá trị của nó trong thời đại ngày nay
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương và 7 tiết
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TRẤN BIÊN
1.1 Điều kiện tự nhiên – x hội và dân cư vùng Biên Hòa – Đồng Nai 1.2 Văn hóa Trấn Biên
CHƯƠNG 2: VĂN MIẾU TRẤN BIÊN – LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN
Trang 112.1 Quá trình hình thành và phát triển Văn miếu Trấn Biên
2.1.1 Nhận thức của chính quyền họ Nguyễn đối với việc phát triển Nho học trên vùng đất mới
2.1.2 Văn miếu Trấn Biên ra đời
2.1.3 Văn miếu Trấn Biên qua các thời kỳ
2.2 Sự phát triển của Nho học và giáo dục Nho học trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai
2.2.1.Sự phát triển của Nho học
2.2.2 Giáo dục Nho học trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai xưa 2.2.3 Các trung tâm Nho học tiêu biểu trên vùng đất Đồng Nai – Nam
Bộ xưa
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN DI SẢN VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
3.1 Gía trị của Văn miếu Trấn Biên
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TRẤN BIÊN
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI VÀ DÂN CƯ VÙNG BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI
Đồng Nai là một trong những trung tâm văn hóa lớn của nước ta, là vùng đất tiêu biểu của miền Đông Nam Bộ Đồng Nai nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Đồng Nai Hệ thống sông Đồng Nai bao gồm lưu vực sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và cả Vũng Tàu; bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên ở phía Tây Bắc, tiếp giáp một bên là miền sụt lún biển Đông ở phía Đông Nam Bộ và một bên là miền sụt lún Cửu Long ở phía Tây Nam Với những đặc điểm địa hình như vậy đã tạo nên một vùng sinh thái đặc trưng ở Đông Nam Bộ, đó là vùng đất đỏ bazan, vùng trũng và đồng bằng, vùng phù
sa của các con sông bồi đắp Địa hình đa dạng dẫn đến cấu tạo đất ở Đồng Nai cũng đa dạng, với 10 loại đất chính, tập trung thành 3 nhóm chủ yếu:
Đất hình thành trên đá Bazan gồm: đất đá bọt, đất đen, đất đỏ… có chất lượng độ phì nhiêu cao chiếm 39,1% diện tích phân bố chủ yếu ở các huyện Tân Phú, Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc…phù hợp với các loại cây trồng ngắn ngày và dài ngày
Đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét bao gồm: đất xám, nâu xám, đất loang lổ… có chất lượng kém hẳn so với đất hình thành trên đá Bazan, thường chua, nghèo chất hữu cơ, thiếu lân và Kali, chiếm diện tích 41,9%; phân bố ở các huyện Xuân Lộc, Long Thành, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Biên Hòa, Đông Vĩnh Cửu, phù hợp với các loại cây ngắn ngày nhất
là các loại đậu và cây ăn trái
Trang 13Đất thủy thành bao gồm: đất phù xa, đất cát, tầng đất mỏng Nhóm đất này hình thành trên các trầm tích sông, trầm tích biển, trầm tích sông biển hoặc trầm tích biển đầm lầy, “tuổi” còn trẻ, có phần bị phèn hoặc bị nhiễm mặn, cần cải tạo mới sử dụng được; chất lượng nhóm này khá tốt phù hợp với các loại cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái, chiếm diện tích 9,9% phân bố chủ yếu ở Tây Nam huyện Nhơn Trạch, Tây Vĩnh Cửu, Biên Hòa, Long Thành Với tính đa dạng của nhiều loại đất đã tạo thành thế mạnh trong việc phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn trái, cây lương thực ngắn và dài ngày có giá trị kinh tế cao của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai
Khí hậu Đồng Nai thuộc khí hậu nhiệt đới, gió mùa; chịu ảnh hưởng
của gió Đông Bắc và gió Tây Nam; ngoài ra chịu sự chi phối của không khí chí tuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10; rõ rệt hai mùa mưa nắng Mùa khô kéo dài từ 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc tháng
4 năm sau), mùa mưa 6 hoặc 7 tháng (từ tháng 4 đến tháng 11) Nhiệt độ trung bình tháng: 23,9 – 290C thấp hơn so với tiêu chuẩn trung bình vùng nhiệt đới (26 – 300C)
Lượng mưa trong năm là 1.500mm – 2750mm Phân bố lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam Lượng mưa lớn nhất là 2.500 mm/năm
Độ ẩm trung bình năm là 80 – 82%; trong mùa khô thấp hơn trong mùa mưa khoảng 10 – 12%; giữa vùng này với vùng kia nhưng chênh lệch không lớn
Khí hậu Đồng Nai với chế độ nóng, gió, mưa, nhiệt, ẩm ở tỷ lệ cao, ổn định và phân bố khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp và sinh hoạt văn hóa và du lịch
Bên cạnh đó Đồng Nai còn sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, phong phú Rừng là tài nguyên quan trọng thuộc dạng rừng nhiệt đới,
đa dạng sinh vật, giàu nguồn gien, nhiều hệ sinh thái Có hệ sinh thái nguyên
Trang 14sinh (rừng Giồng) và hệ sinh thái rừng ngập mặn (rừng Sác) Các loại động, thực vật quý hiếm ở Đồng Nai chiếm tỷ lệ cao trong tài sản động thực vật quý hiếm của quốc gia Nước cũng là nguồn tài nguyên quý giá, phong phú Đáng kể là hệ thống sông Đồng Nai với sông chính dài 610 km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài 220 km Bên cạnh lượng nước sông suối còn có lượng mưa sinh dòng tạo ao hồ trong tỉnh Như hồ Trị An, sông Mây…nguồn nước ngầm trong lòng đất có tác dụng bổ sung cho dòng chảy sông ngòi về mùa cạn và là nguồn tài nguyên quý cho các ngành sản xuất Cùng với sự đa dạng của các loại khoáng sản như vàng, thiếc, chì, kẽm , quặng và các mỏ đá đã thể hiện ưu thế cho việc phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp xây dựng
Những điều kiện của vùng sinh thái trên rất phù hợp cho con người sinh sống, giao lưu, buôn bán và sáng tạo văn hóa Đồng Nai được biết đến với tư cách là một trong những trung tâm ra đời và phát triển của xã hội loài người, cũng chính mảnh đất này đã từng chứng kiến quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người cổ và liên tục sáng tạo văn minh từ thời tiền
sử đến ngày nay Xã hội ở Đồng Nai được hình thành trên cơ sở hợp cư của nhiều nguồn cư dân, dung hợp nhiều dòng văn hóa Ít nhất, người Việt, người Hoa đã sinh sống ở Đồng Nai từ thế kỷ XVII, và trước khi Nguyễn Hữu Cảnh đặt bộ máy hành chính ở đây, người địa phương đã có nhiều chục năm sống ngoài vòng kiểm soát của chế độ phong kiến Nhưng nhìn chung người Việt là chủ yếu, họ là những người di cư đầu tiên và có mặt rất nhiều thành phần: những người trốn tránh sưu thuế binh dịch, những người tù tội
bị lưu đày, những người giàu có ở các tỉnh miền Trung, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ Nhưng thành phần chủ yếu nhất, chiếm đa số trong đám
di dân đầu tiên cũng như lần lượt về sau này chính là những người nông dân nghèo khốn khổ, cùng cực vì tai hoạ chiến tranh, vì bị giai cấp phong kiến
Trang 15áp bức, bóc lột nặng nề không thể sống nổi, buộc lòng phải rời bỏ quê hương, làng xóm, đi một mình hoặc đem theo cả vợ con di cư vào các vùng đất mới xa xôi để tìm con đường sống Điều này cùng với đặc điểm tự nhiên thuận lợi đã hình thành cách sống phóng khoáng, rộng mở, tự chủ của người Đồng Nai, cũng như việc hình thành các cấp làng ấp, thôn xóm ở Đồng Nai không theo khuôn mẫu nhất định
Các lớp cư dân đến sớm thường cư trú ở gò, đồi, vùng có nước ngọt theo tuyến kênh rạch, chủ yếu là các tuyến sông chính: Đồng Nai, Thị Vải, Nhà Bè… hình thành các thôn làng, gắn với nghề sông nước, ruộng, rẫy và buôn bán, như các làng cổ: Bến Gỗ (Long Thành), Đồng Môn (Nhơn Trạch), Bến Cá (Vĩnh Cửu), Cù Lao Phố (Biên Hòa)
Các đợt chuyển cư từ Trung Bộ, đồng bằng Bắc Bộ với nhiều lý do khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau dần hình thành các cộng đồng cư dân tỏa rộng ra các tuyến lộ và vùng trung du Các lớp người Hoa vùng Quảng Đông, Phúc Kiến nhập cư, giỏi nghề buôn bán sinh sống ở các thị tứ; người Triều Châu, người Hẹ có truyền thống nghề rẫy khai thác ở các vùng trung du ở Định Quán, Xuân Phú, Xuân Lộc…
Ở những nơi đó, họ sống quần tụ với nhau, tự động lập thành những thôn ấp, bởi vì tổ chức làng xã là những cơ sở hạ tầng quen thuộc của người Việt Nam với những truyền thống đoàn kết, tương trợ, thương yêu nhau là những truyền thống vốn có từ xưa Hơn nữa trên vùng đất mới, với rừng rậm đầy thú dữ, với sông sâu nhiều cá sấu, lại chưa quen thổ thuỷ, cho nên họ cũng phải gắn bó với nhau, tự động quần tụ với nhau thành thôn, thành ấp để
có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau khai hoang mở đất và đối phó với thiên tai, thú dữ Đây là cách sinh cơ lập nghiệp quen dùng của những người dân di
cư Những thôn, ấp mà những người di cư lập ra lúc ban đầu mang tính chất
tổ chức tự quản, chứ chưa phải là những đơn vị hành chính, vì bấy giờ chưa
Trang 16có chính quyền Chỉ đến khi Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh vào kinh lược năm 1698 thì các thôn ấp đấy mới chính thức trở thành những đơn vị hành chính
Người dân di cư sau khi định cư trên vùng đất mới, đã sinh cơ lập nghiệp bằng nhiều ngành nghề khác nhau tuỳ theo nơi họ cư trú, nhưng chủ yếu họ sống bằng nông nghiệp Bởi vì như trên đã trình bày, đây là những vùng đất đai rộng lớn nhưng chưa được khai phá Bản thân những người này lại là những người nông dân trước kia phải thất sở, phiêu tán Do đó, trên vùng đất này nguồn sống chính của họ là khai phá đất đai, làm ruộng và trồng dâu nuôi tằm
Qua những điều ghi chép trong Gia Định thành thông chí, ta thấy hầu hết nhân dân các trấn đều sống bằng nông nghiệp: “Trấn Biên Hoà…nhân dân siêng cày cấy, dệt cửi, đều có sản nghiệp”
Sự giao lưu giữa người Việt, người Hoa với các dân tộc ít người như Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng… đã tạo cho văn hóa Đồng Nai ngày càng đa dạng và phát triển Đến thời cận hiện đại, các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã làm cho mối quan hệ thêm gắn bó giữa các dân tộc ít người với
cư dân kháng chiến; đời sống của các dân tộc ít người chuyển động theo hướng Kinh hóa Với đức tính cần cù, kiên nhẫn, dũng cảm, với trí thông minh, sáng tạo, với tinh thần đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, với vốn kinh nghiệm sản xuất phong phú đã được tích luỹ từ trước, họ đã khắc phục vô vàn khó khăn, nguy hiểm trong buổi ban đầu và đã biến vùng đất hoang vu, sình lầy thành đồng ruộng phì nhiêu, tươi tốt
Xã hội Đồng Nai là xã hội mang tính cộng đồng đa tộc người, đa tôn giáo Do lịch sử hình thành các cộng đồng cư dân và điều kiện kinh tế xã hội ở địa phương, nó được tổ chức theo mơ hình tổ chức x hội truyền thống của người Việt Bắc bộ nhưng không rập khuôn; không xa rời cội nguồn mà
Trang 17đậm nét phong cách rộng mở, dễ tiếp thu nhân tố mới, nhạy bén với khoa học kỹ thuật, năng động trong cách nghĩ, cách làm, không gò bó trong khuôn khổ chật hẹp
1.2 VĂN HÓA TRẤN BIÊN
Từ những điều kiện về tự nhiên, lịch sử, kinh tế và xã hội con người Biên Hòa –Đồng Nai có thể hiểu được phần no về văn hóa Trấn Biên xưa Trên vùng đất mới khai phá, người Việt mang theo những truyền thống văn hóa và truyền thống xây dựng Văn Miếu để tôn vinh sự hiếu học từ miền Bắc vào vùng đất phương Nam Quá trình nhập cư và tiếp biến văn hóa lâu dài trên vùng đất mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân Đồng Nai có sự
kế thừa, tiếp xúc, giao lưu và phát triển khác nhau, tạo nên nét văn hoá riêng của vùng đất Trấn Biên Chính quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam đã góp phần định hình nên những nét văn hóa rất riêng của vùng đất mới, trong
đó nổi bật với những nét văn hóa hào hùng đó là văn hóa Trấn Biên – văn hóa Biên Hòa Đồng Nai
Vùng đất miền Đông Nam Bộ nói chung, Đồng Nai nói riêng vào cuối thế kỷ XVI, về cơ bản vẫn còn là vùng đất hoang dã chưa được khai phá Chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Cuộc phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn kéo dài suốt 175 năm trời, trong đó
có 45 năm (1627 – 1672) đã diễn ra liên tiếp 7 trận đánh lớn Để phục vụ cho những nhu cầu của cuộc chiến tranh giành giật quyền lực ấy, đồng thời
để thỏa mãn lối sống xa hoa quý tộc của mình, các tập đoàn Trịnh – Nguyễn
đã thi nhau vơ vét nhân vật, tài lực của dân chúng tạo nên cảnh đói rét khổ
sở lầm than phổ biến khắp nơi Người dân hoặc là đứng lên đấu tranh, hoặc
Trang 18là dời bỏ quê hương đi tìm những vùng đất mới Và vùng Đồng Nai – Cửu Long là vùng lý tưởng nhất của họ lúc đó
Như vậy, lớp người tiên phong tiến vào vùng Đồng Nai – Cửu Long để kiếm sống và an thân trước hết là những nông dân Trung, Bắc Số người này chiếm số lượng đông đảo nhất và cũng là lực lượng di cư chủ yếu trong thời
kỳ đầu thế kỷ XVII
Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, song song với việc chính quyền họ Nguyễn lần lượt xác lập quyền lực cai trị của mình trên vùng đất mới, lực lượng di cư được bổ sung thêm bằng một thành phần khác Đó là số ít người
có tiền của, quyền thế đứng ra chiêu mộ dân nghèo (số đông) ở miền Trung vào Nam khẩn đất theo lời kêu gọi của chính quyền họ Nguyễn
Tuy là người Việt nhập cư vào vùng đất này từ rất sớm và quá trình nhập cư diễn ra liên tục trong một thời gian khá dài, nhưng số lượng lưu dân lại tăng lên rất chậm Sử liệu còn ghi lại rằng năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý và thiết lập chính quyền ở miệt Đồng Nai – Gia Định thì dân số nơi đây mới có trên dưới 4 vạn hộ, tức khoảng 200.000 người, nếu tính trung bình mỗi hộ có 5 người Đến cuối thế kỷ XVIII, theo báo cáo của viên Cai bạ phủ Gia Định là Nguyễn Khoa Thuyên do Lê Qúy Đôn ghi lại trong Phủ Biên tạp lục, thì dân đinh trong toàn cõi Đồng Nai – Gia Định là
42.500 người {15, tr 196} Nếu giả định cứ 5 người dân có một người là dân
đinh thì tổng số cư dân ở vùng Đồng Nai – Gia Định lúc bấy giờ là 212.500 người Sang đến đầu triều Tự Đức, tức là những năm 40 của thế kỷ XIX, đinh suất của Nam Kỳ lục tỉnh cũng chỉ mới có 165.598 người trong tổng số 1.024.388 dân đinh trong toàn quốc {02, tr 14} Một vùng đất đai mênh mông như thế nhưng khi lưu dân người Việt đặt chân tới, mặc dù nơi đây vốn đã có những người dân địa phương sinh sống khai thác, vẫn là một vùng đất hoang vu, rậm rạp, sình lầy, đầy côn trùng, thú dữ và cỏ lác Lê Qúy Đôn
Trang 19vẫn còn ghi: “ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ, Lôi Rạp cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là những đám rừng hoang vu cỏ rậm, mỗi
vì hầu hết người Việt đến định cư là dân nghèo phiêu bạt, thiếu tài lực, vật lực, phương tiện sản xuất, kỹ thuật…
Phương thức khẩn hoang ban đầu hoàn toàn do lưu dân người Việt chủ động sáng tạo ra Những lưu dân Việt định cư khai khẩn ở Đồng Nai từ thế kỷ XVII phần lớn là những nông dân nghèo đi tìm vùng đất mới để sinh sống Vì thế khi đặt chân vào vùng đất mới, một số đã sinh sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau như buôn bán nhỏ, đánh bắt cá, làm mắm, săn bắn, khai thác gỗ, khai thác quặng hoặc một số nghề thủ công như dệt cửi, mộc, dệt chiếu, đan lát, làm đồ gốm… còn lại tuyệt đại bộ phận đều chọn nông nghiệp làm nghề chính sinh sống Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “Trấn Biên
Hòa nhân dân siêng cày cấy, dệt cửi đều có sản nghiệp”
Do đó, đứng về thành phần xã hội, trong các thế kỷ XVII, XVIII, và cả nửa đầu thế kỷ XIX, những người Việt di cư vào vùng Đồng Nai – Gia Định kiếm sống chủ yếu là những nông dân nghèo khổ lâm vào bước đường cùng, buộc phải rời bỏ quê hương làng mạc Người nông dân di cư này, về tính cách vẫn là người Việt Nam sinh sống trên đất nước Việt Nam, do đó về bản
Trang 20chất họ vẫn mang tính cách của vùng văn minh lúa nước sông Hồng, tinh thần cần cù chịu thương chịu khó, tính cách kiên cường dũng cảm, khả năng sáng tạo trong chinh phục đầm lầy, chinh phục thiên nhiên phát triển nghề nông trồng lúa nước Đây là những người ít nhiều có đầu óc mạo hiểm, hoặc dám chịu chấp nhận nguy hiểm, nói một cách khác, đó là những con người
bị buộc phải liều, cho nên lúc nào họ cũng kiên cường dũng cảm, coi tính mạng nhẹ như lông hồng, không sợ nguy hiểm khó khăn Đây cũng là đức tính, nét văn hóa mà việc mở mang những vùng đất mới đầy khó khăn nguy hiểm đào luyện nên Họ không bao giờ chịu lùi bước trước trở ngại thiên nhiên, cũng như không bao giờ chịu luồn cúi trước sức mạnh phi nghĩa Hầu hết những người nông dân di cư vào vùng Đồng Nai đều là những người nghèo khổ liều mình đi tìm đất sống, cho nên bên cạnh việc có sẵn trong dòng máu truyền thống đoàn kết của dân tộc, của văn hóa Thăng Long
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”, họ càng thương yêu đùm bọc nhau, giúp đỡ nhau tạo dựng cuộc sống, nhất là trước một hoàn cảnh hoàn toàn mới lạ và đầy dẫy khó khăn với rừng rậm đầy thú dữ, với sông sâu nhiều có sấu, lại chưa quen thủy thổ, bị nhiều thứ bệnh tật đe dọa Thường thì họ kết nghĩa với nhau và sống chết có nhau
Về cơ bản, văn hóa Trấn Biên – văn hóa Đồng Nai là văn hóa tích hợp từ văn hóa cội nguồn Thăng Long, do những con người thấm đượm văn hóa Thăng Long mang theo trong hành trang khai phá, phát triển trên vùng đất mới nên vẫn truyền tải đậm đà những nội dung đặc trưng của văn hóa Thăng Long truyền thống
Con người đến đây chinh phục hoang vu để tạo ra đất sống là chấp nhận một cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ chống thú dữ, cá sấu và muỗi mòng, khắc phục những hiện tượng thiên nhiên mà con người chưa nắm được quy luật Cuộc chiến đấu đó đòi hỏi một sức mạnh có tổ chức, có chỉ
Trang 21huy, một sự liên kết chặt chẽ, một tinh thần chia ngọt sẻ bùi Chính vì vậy, một nếp sống, một tập quán, một nét văn hĩa đặc trưng ở vùng Trấn Biên nĩi riêng và cả Nam Bộ nĩi chung là văn hĩa mến khách, uyển chuyển và phĩng khống, con người nơi đây sẵn sàng nhường cơm sẻ áo rất hào phĩng Như trong tác phẩm Gia Định thành thơng chí, tác giả đã cĩ những ghi chép
về điều này khá cụ thể: “Ở Gia Định cĩ người khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng tiếp cơm bánh, tiếp đãi trọng hậu, khơng kể thân
sơ quen lạ, tơng tích ở đâu, ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi khơng cần đem theo tiền gạo theo, mà lại cĩ nhiều người lậu xâu trốn thuế đi đến xứ này ẩn nấp, bởi vì cĩ chỗ dung dưỡng vậy” {14, tr 12a}
Đến năm 1679 một tập đồn di dân lớn người Trung Quốc do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cầm đầu, là những thế lực lưu vong của nhà Minh vì khơng chịu làm tơi địi cho nhà Thanh nên đã lánh mình đến nương nhờ chúa Nguyễn Chấp nhận lời thỉnh cầu, chúa Nguyễn đã cho họ vào ở đất Đơng Phố để mở mang vùng đất mới này Dương Ngạn Địch tiến vào cửa Lơi Lạp, theo Cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư ở Mỹ Tho, cịn đạo quân của Trần Thượng Xuyên tiến vào cửa biển Cần Giờ, lên định cư ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai (tỉnh lỵ Biên Hịa ngày nay) Ở hai nơi này, hai đồn di dân tiến hành vỡ đất, phá rừng, cất phố, lập chợ, từ đĩ thương thuyền các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bà (người Mã Lai) qua lại buơn bán trao đổi tấp nập
Ở Biên Hịa, Trần Thượng Xuyên tập trung Hoa thượng ở Đại Phố Châu (tức Cù Lao Phố), ở giữa sơng Nơng Nại (Đồng Nai) phía Nam tỉnh lỵ Biên Hịa ngày nay Cù Lao Phố là tục gọi cịn trong Gia Định Thành Thơng Chí, Trịnh Hồi Đức ghi là “Đại Phố Châu và cịn cĩ một tên gọi khác là Đơng Phố (Giản Phố) cũng cịn gọi là Cù Châu, bởi địa thế cù lao uốn mình
Trang 22khoanh duỗi hình như con cù bông giỡn nước, nên có tên như vậy” {14, tr 28} Cù Lao Phố là một vùng đất màu mỡ nằm giữa dòng Phước Giang,
sông nước bao quanh, cây cối xanh tốt, không những thế nơi đây còn rất thuận lợi cho việc buôn bán giao thương vì giao thông đường thủy có thể đưa hàng hóa đi bất cứ đâu Bởi vậy mà cù lao Phố thời chúa Nguyễn còn được mệnh danh là chốn Đại đô hội, là cù lao Đại Phố, là thương cảng sầm uất…
Cù Lao Phố có người Âu Châu, người Nhật, người Mã Lai, người Tàu đến mua bán ngày càng phát triển, phồn thịnh, trở thành trung tâm điểm thương nghiệp của xứ Nam Kỳ cho đến khi quân Tây Sơn vào chiếm đóng Ngoài một số sống tập trung ở Bàn Lân, Cù lao Phố, còn có nhiều người sống rải rác trong phạm vi vùng Đồng Nai Đây là lực lượng chân rết làm đại lý thu mua nguyên vật liệu, hàng hóa tại chỗ cung cấp về Cù lao Phố như Tân Bản (lúa gạo), Mỹ Khánh, Bình Long (hàng vạn bạc), Chợ Đồn (gốm, cát, đá ong), Tân Mai, Vĩnh Thanh, Bình Trước (lúa gạo), Đồng Bản, Thủ Đồn Xứ (gỗ quý, thú rừng), Bình Sơn (đá rửa dùng tô nhà), Phú Hội (xuất trà), An Lợi (xuất sầu riêng), Long Tân (chuối), Phước An (cá Buôi, sò huyết), Phước Khánh (lúa gạo thơm), Tam An (tôm càng), Hội Bài (cá), Long Phước (chuối, xoài)…
Nguồn hàng nhập khẩu vào Cù Lao Phố, phổ biến là đồ sứ Trung Quốc (đặc biệt là sứ nhà Thanh), tơ lụa, vải bố, thuốc bắc và các loại dược phẩm, đồng để đúc chuông, gạch ngói dùng để trang trí, các loại vật liệu dùng để xây dựng chùa, miếu và các loại khác như: nhang đèn, giấy, tiền, vàng, bạc…
Mặc dù mất đi vị trí là thương cảng quan trọng của cả một vùng rộng lớn thời chúa Nguyễn nhưng Cù Lao Phố bản thân nó đã tự mang trong mình
Trang 23những giá trị lịch sử, là nơi có những nét văn hóa, phong tục tập quán của lớp cư dân buổi đầu đi khai phá Trong bối cảnh hội nhập văn hóa, tiếp thu
có chọn lọc những hoạt động kinh tế và văn hóa của các thế lực khác mang tới, Trấn Biên vẫn giữ cho riêng mình những nét văn hóa uyển chuyển, phóng khoáng, giàu tính sáng tạo và khả năng cải biến chính bản thân mình cho phù hợp với những thay đổi mà bên ngoài mang vào Sự giỏi giang, sáng tạo và cải biến thể hiện ở chính quá trình tham gia làm phát triển và rạng danh thương cảng nổi tiếng một thời – thương cảng Cù Lao Phố
Năm 1698, Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh làm Kinh lược sứ vào kinh lý và xây dựng, ổn định bộ máy quản lý hành chính, từ đây chính thức đưa vùng đất phía Nam vào lãnh thổ nước Đại Việt Ông chọn đất Đồng Nai lập phủ Gia Định gồm huyện Phước Long với dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình đặt dinh Phiên Trấn Vùng Phước Long chính là tiền thân của tỉnh Biên Hoà, Đồng Nai ngày nay, huyện Phước Long lúc bấy giờ rất rộng bao gồm
cả các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương và một phần tỉnh Bình Phước ngày nay
Với việc lập dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn không chỉ khẳng định
về mặt vị trí địa chính trị mà còn khẳng định về một vùng văn hóa Đàng Trong đặc sắc Theo quan niệm của người xưa thì “Dinh” tức là nơi phồn thịnh, giống như hành dinh của một quân đoàn theo ý nghĩa quân sự Quân sĩ đông đúc là có cơ quan hành chính cùng vô số binh sĩ, quan lại, viên chức mặc nhiên thu hút các thương gia lớn nhỏ Dinh trở thành một chợ, một trung tâm hành chính và thương mại Lúc này những người ở chợ phố gọi là người dinh, ngược lại là người quê, những người nửa mùa, hiểu biết nông cạn bị chế nhạo là “nửa quê nửa dinh” Dinh Trấn Biên đặt tại Biên Hòa, người Biên Hòa mặc nhiên theo nếp sống sang trọng, đúng là người dinh
Trang 24Dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng người Biên Hòa và người Gia Định luôn hãnh diện là “gạo cội” – là người Việt đầu tiên ở miền Nam được chúa Nguyễn nhìn nhận Họ là dân của hai huyện Phước Long và Tân Bình trước kia Khi giao thiệp với các tỉnh khác, họ xưng là “dân hai Huyện” tức
là những người Việt sang trọng, am tường về vùng đất phương Nam mới khai phá
Quả thật công cuộc Nam tiến đầy cam go và cực khổ Việc xây dựng một vùng đất hoang vu trở thành một vùng thành thục với dân chúng sống
có nề nếp, có văn hiến là một công trình lâu dài và quyết liệt
Chính quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam đã góp phần hình thành nên nét văn hoá Trấn Biên đặc sắc Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và văn hoá, thông qua sự phát triển nổi tiếng của thương cảng Cù Lao Phố một thời đã cho thấy văn hoá Trấn Biên ngày càng được làm giàu trên vùng đất mới nên càng khẳng định tính đa dạng trong thống nhất Ở văn hoá Trấn Biên chúng ta thấy có nét văn hoá của người Hoa, người phương Tây, người dân tộc thiểu số nhưng nổi bật nhất vẫn là văn hoá của người Việt mang đậm chất văn hoá lúa nước Thăng Long truyền thống đã theo những con người đi khai phá đến và phát triển ở vùng đất này
Đồng bào và nhân sĩ ở Biên Hòa lấy làm hãnh diện với quá khứ của quê hương Khi xưa, vùng đất này là đầu cầu, là tiền đồn quan trọng đứng vào bậc nhất của nước Việt trên đường Nam tiến, và quả thật các vị tiền nhân ở Biên Hòa đã làm tròn nghĩa vụ đó Với niềm hãnh diện đó, tao nhân mặc khách trong văn chương thi phú đã gọi Biên Hòa là Trấn Biên Hùng Hùng có nghĩa là oai hùng, sinh lực có thừa Danh xưng Biên Hùng mãi đến ngày nay vẫn còn tồn tại để hậu thế nhớ về quá khứ và tin tưởng vào tương lai
Trang 25Quá trình hình thành vùng đất Trấn Biên đã sản sinh ra một nét văn hóa mới, đó là văn hóa Trấn Biên với những đặc điểm tự do, phóng khoáng, cần cù và sáng tạo, kiên cường và dũng cảm Những đặc trưng này thực chất bắt nguồn từ văn hoá Thăng Long với điểm nổi bật là nghề nông trồng lúa nước Điều đó cho thấy sức lan toả mạnh mẽ của một nền văn hoá truyền thống lâu đời vượt qua cả không gian và thời gian để đến với vùng đất phía Nam xa xôi của tổ quốc – đó chính là văn hoá Thăng Long nổi tiếng Chính những con người tham gia vào quá trình khai phá những vùng đất mới dù xuất hiện ở những địa danh rất khác nhau nhưng khi hội tụ lại trên vùng đất Đồng Nai – Nam Bộ đã góp phần xây dựng nên một văn hoá Trấn Biên đậm
đà bản sắc dân tộc và mang đặc trưng riêng của vùng đất địa linh nhân kiệt Biên Hoà – Đồng Nai
Trang 26CHƯƠNG 2 VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
Trang 27miếu Trấn Biên vẫn giữ một vai trò rất lớn trong hoạt động văn hóa của vùng góp phần xây dựng nếp văn hóa mới chung cả nước
Khởi đầu, sự hoạt động của Văn miếu Trấn Biên có lẽ chỉ là nơi thờ tự các bậc tiền hiền và là ngôi trường đào tạo nho sỹ phục vụ cho việc giáo dục khoa cử của vùng đất mà chúa Nguyễn mới tạo dựng Văn miếu Trấn Biên ngày ấy đơn sơ và mộc mạc biết bao nhiêu, những cột gỗ, những nếp tre ấy vậy mà đội ngũ nho học của trấn Biên Hùng không ngừng chứng tỏ khả năng của mình trong việc đóng góp công sức xây dựng đất nước vững mạnh Khi Văn miếu Trấn Biên ra đời các hoạt động văn hóa tín ngưỡng của vùng đất này cũng như được góp thêm sắc và sự hưng khởi cho một môi trường văn hóa mới đầy sức trẻ Được mệnh danh là trung tâm văn hóa của phương Nam, Văn miếu Trấn Biên diễn ra nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa không chỉ của tầng lớp tri thức mà của cả nhân dân trong và ngoài vùng Những nghi lễ cúng tế, những buổi bình văn chương, các lớp học đào tạo bồi dưỡng nhân tài… tất cả đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của vùng đất phương Nam nói riêng và cả nước nói chung
Việt Nam là đất nước có truyền thống hiếu học từ ngàn xưa Ngay dưới thời thống trị của phong kiến phương Bắc, các quan cai trị tìm mọi cách đồng hóa nhân dân ta, bằng cách dạy chữ Hán và văn hóa Trung Hoa cho các quan lại người Việt Nhân dân ta một mặt tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa Trung Hoa, mặt khác vẫn giữ phong tục tập quán và bản sắc quý báu của dân tộc
Tầng lớp thống trị lập ra trường học nhằm mục đích giáo dục đồng hóa Vì vậy chữ Hán trở thành văn tự chính thức của Nhà nước đô hộ, truyền
bá tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo cho nhân dân ta
Để bảo toàn nền văn hóa dân tộc, nhân dân ta đã dựa vào chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm, để ghi tiếng nói dân tộc Việt Sự xuất hiện chữ Nôm
Trang 28đánh dấu bước trưởng thành vững chắc về ý thức dân tộc của người Việt và trên cơ sở đó giúp cho nền văn hóa Việt Nam phát triển rực rỡ từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, đồng thời chứng minh một sự thật về thất bại của chính sách đồng hóa của bè lũ thống trị phong kiến phương Bắc
Trong thời gian dài lệ thuộc các triều đại phong kiến phương Bắc, nhiều người Trung Quốc đã đến Việt Nam sinh sống, tiếp xúc về tiếng nói, chữ viết, phong tục…, nói chung là về văn hóa, đã có một ảnh hưởng qua lại rất sâu sắc Ngay cả khi Nho giáo chưa có vị thế đáng kể trong xã hội, nhưng một khi đã dùng chữ Hán làm công cụ giao tiếp là đã có sự hiện diện ở một mức độ nào đó của hệ tư tưởng này Sau khi giành được độc lập vào đầu thế
kỷ X, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đã từng bước áp dụng thể chế cai trị theo mô hình chế độ phong kiến Trung Quốc Đặc điểm lớn của thời kỳ này là: trong khi chế độ phong kiến Trung Quốc lấy tư tưởng Nho giáo làm chỗ dựa tinh thần chủ yếu của xã hội, đã có định hướng rõ ràng trong việc đào tạo tầng lớp trí thức Nho sĩ, thì ở nước ta chưa hình thành tầng lớp trí thức Nho sĩ để đảm đương trách nhiệm của chính quyền Sử có ghi một vài sự kiện như triều Lê Đại Hành có dựng mở trường học, nhưng vì thời gian ngắn ngủi, lại lâm vào các cuộc nội chiến và ngoại xâm, các triều đại nói trên chưa làm được gì nhiều cho việc mở mang văn hóa giáo dục Giữ các chức quan chủ yếu tại triều vẫn là các tướng lĩnh, quý tộc, một số ít trí thức Phật giáo… Sau khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, mọi việc sắp đặt, xây dựng đều phải làm từ đầu Trong hoàng tộc và nhân dân vẫn tiếp tục học kinh sách Phật giáo bằng chữ Hán, còn việc dạy Nho học và chữ Hán thì chưa được triều đình quy định Để tăng cường quyền lực của nhà nước trung ương tập quyền, triều Lý cần thiết phải đào tạo đội ngũ trí thức để đảm đương trách nhiệm trị nước và nói rộng ra, Nho giáo cần được khẳng định như một tư tưởng chính thống để duy trí chế độ Đó là hai nguyên nhân nội
Trang 29tại đã dẫn đến quan điểm chính thống của triều Lý đối với Văn Miếu ở kinh
đô Thăng Long năm 1070 đã ghi trong quốc sử: “Năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu, tháng Tám dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tranh Thất thập nhị
hiền, bốn mùa cúng tế Vua cho Hoàng thái tử đến học ở đó” {26, T 1, tr
234} Đến năm 1076 song song với Văn Miếu, nhà Lý cho đặt Quốc Tử Giám để dạy học cho con em các quan lại, đây cũng chính là trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam lúc bấy giờ
Như trên đã trình bày, với yêu cầu phát triển văn hóa tại vùng đất mới của chúa Nguyễn, Văn miếu Trấn Biên đã ra đời như là một yêu cầu để các bậc hiền tài và đội ngũ trí thức Nho học xây dựng chính quyền mới
Ơ phủ Gia Định thời đó, các bậc tri thức Nho học với những tên tuổi như: Đặng Đức Thuật, Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh,
Lê Quang Định… đã làm rạng danh cả vùng Các trường học được mở ra rộng khắp nhằm đáp ứng nhu cầu học ngày càng gia tăng Đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn, giáo dục và khoa cử có phần được chú trọng hơn các triều đại trước nhưng nhìn chung không bài bản và quy củ như Đàng Ngoài
Thời này, các chúa Nguyễn không đứng ra lập trường để lo việc học cho dân mà chỉ tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài Việc duyệt tuyển bắt đầu từ năm 1631, thời chúa Hy Tông Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1634) để lấy Nhiêu học Nhưng mãi đến năm 1674, đời chúa Thần Tông Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648) mới có khoa thi Chính đồ và Hoa văn để lấy Giám sinh, Sinh đồ, Nhiêu học Các kỳ thi ở thời các chúa Nguyễn về sau, như Văn chức, Tam ty… cũng không có gì khác hơn, chủ yếu vẩn là tuyển chọn những người làm công việc hành chính Số người đi thi ít và cũng không được ghi chép lại Bên cạnh đó, việc tổ chức thi cử không lấy gì làm nghiêm túc và dễ dàng thay đổi ở mỗi đời chúa Nguyễn Đặc biệt, trong
Trang 30gần 2 thế kỷ nắm quyền thống trị Đàng Trong, các chúa Nguyễn chưa hề tổ chức thi Hội và thi Đình.
Đó là việc thi cử nói chung ở Đàng Trong, mà chủ yếu là vùng Thuận – Quảng Thời này, chỉ có một sự kiện đáng lưu ý nhất là việc chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu cho xây dựng văn miếu ở Trấn Biên
Giáo dục phong kiến ở vùng Đồng Nai – Gia Định thực sự tiến triển
từ khi Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long sau này) xưng Đại nguyên soái, cầm đầu tàn binh của chúa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) tiếp tục chống lại Tây Sơn (năm Mậu Tuất – 1778) Sau khi chiếm lại vùng Đồng Nai – Gia Định lần thứ nhất (1778), Nguyễn Ánh đã dốc sức tổ chức lại bộ máy cai trị, sắp xếp các khu vực hành chính, điều chỉnh mức thuế điền thổ, khuyến khích phát triển nông nghiệp Tất cả những việc này đều nhằm mục đích duy nhất là tăng cường binh mã để đủ sức chống lại những cuộc tấn công như vũ bão của phong trào Tây Sơn Nhu cầu phục vụ chiến tranh đó càng đòi hỏi đến đội ngũ cán bộ nhiều hơn nữa Vì thế, tập đoàn Nguyễn Ánh ra sức đề cao Nho giáo, trọng dụng và khuyến khích người có học Năm Mậu Thân (1788), khi vua Nguyễn Huệ đang phải dốc toàn lực để đánh đuổi
20 vạn quân Thanh ở phía Bắc, Nguyễn Ánh đã xua quân chiếm lại vùng Đồng Nai – Gia Định lần cuối cùng Từ đây, Nam Bộ hoàn toàn thuộc về nhà Nguyễn Một trong những việc hàng đầu của Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Trấn Biên và Phiên Trấn là ra mệnh lệnh miễn binh dịch và lao dịch cho học trò Cũng năm đó, Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) và Lê Quang Định – những đại thần của triều Nguyễn sau này, đi thi và được bổ chức Hàn lâm viện chế cáo Những người có thực tài này đã thăng tiến khá nhanh (năm sau, Trịnh Hoài Đức được cử làm tri huyện Tân Bình, rồi thị giảng cho Đông cung Cảnh…)
Trang 31Sự hình thành nền giáo dục ở Biên Hòa – Đồng Nai buổi đầu chủ yếu
là Nho học, nhưng thời gian này, một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của giáo dục là Phật giáo Từ thế
kỷ XVII, trong các đoàn di dân vào Đồng Nai – Gia Định, nhiều người là tín
đồ Phật giáo, các sư sãi Họ đến sống, xây cất chùa, am ở những vùng nay thuộc thành phố Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu, Bà Rịa – Vũng Tàu…
Buổi đầu, ở Biên Hòa nói riêng và Đàng Trong nói chung, Phật giáo không những không bị ngăn cản mà còn được khuyến khích phát triển Nhiều vị chúa Nguyễn cũng tôn sùng đạo phật, đã sắc tứ các chùa, sắc phong cho các nhà sư uy tín và có nhiều đóng góp cho sự ổn định đời sống Đàng Trong Bởi vậy, nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở Trấn Biên như: Bửu Phong, Kim Cang, Hộ Quốc, Vạn An… đã trở thành những trung tâm của Phật giáo Đàng Trong Các nhà sư đồng thời là thầy dạy của không ít bậc tài danh sau này Còn những nho sĩ, không chỉ thông thạo Kinh Dịch mà còn ưa thích cả kinh phật Nhiều người trong số họ đã nương nhờ và học hành ở cửa Phật trước khi xuất hành Tuy thiết chế văn hóa – tư tưởng thời ấy là như vậy, nhưng Nho giáo vẫn chiếm ưu thế vì được phát triển theo con đường chính thống Tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn khi mới chiếm vùng đất Đồng Nai
đã luôn tìm cách khuyếch trương và khẳng định Nho giáo và Nho học
Vào thời này, đạo Công giáo cũng đã phát triển nhiều nơi thuộc dinh Trấn Biên Nổi bật lên một số vùng truyền giáo quan trọng như: Phước Lễ, Tân Triều, Bến Gỗ, Mỹ Hội…cho đến cuối thế kỷ XVIII đã hình thành nên những nhà thờ, xứ đạo lớn Điều này ít nhiều đã ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục Nho học, Nho giáo thời kỳ này Nhưng nhìn chung, các nhà nước phong kiến, đặc biệt là chính quyền họ Nguyễn vẫn giữ một thái độ tôn trọng Nho giáo và nền giáo dục Nho học Điều này không chỉ đơn thuần là việc Nho giáo đã hằn sâu vào nhận thức của các thế lực phong kiến mà thực
Trang 32tế nó còn hỗ trợ rất nhiều cho công cuộc cai trị đất nước hiệu quả và tích cực
2.1.2 Văn Miếu Trấn Biên ra đời
Văn Miếu là biểu tượng văn hoá nhằm tôn vinh các giá trị văn hoá – giáo dục theo quan điểm, mục đích của nhà nước phong kiến Việt Nam Khởi thuỷ, văn miếu dùng để thờ Văn Xương đế quân – với ý nghĩa một vì sao coi sóc văn chương cho trần thế Về sau, văn miếu thờ Khổng Tử – một nhà tư tưởng lớn có công khai sáng ra Nho học – Nho giáo của Trung Quốc – và các học trò của ông Theo thư tịch cổ của nước ta, thì văn miếu ra đời sớm nhất là Văn Miếu Thăng Long do vua Lý Thánh Tông (1023 – 1072) xây dựng năm 1070 Đến năm 1076, nhà Lý cho đặt Quốc Tử Giám ở đấy để dạy học cho con em các quan lại, đây cũng chính là trường học cao cấp đầu tiên ở nước ta
Văn miếu Hà Nội xây dựng từ năm 1070 cho đến nay vẫn ở nguyên chỗ cũ, về tổng thể rất rộng gồm cả khu hồ Văn Chương ở phía trước và vườn cây – vườn cảnh xung quanh, mà sau khi bị đô thị hóa vẫn giữ được khu vườn phía trước và khu vườn phía bên phải Chỉ kể khuôn viên có tường bao xung quanh, thì Văn miếu Hà Nội là một khu có hình chữ nhật hướng Nam, rộng trên 20.000 m2 Trong khuôn viên có các lớp tường ngăn chia ra năm khu kế tiếp nhau và đều có cổng để qua lại:
Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn
Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn Các (do Đức tiền quân Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805) Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có
Trang 33những kết cấu gỗ rất đẹp Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện
và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản và mộc mạc Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình tám mái, gờ mái và mặt mái phẳng Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời tỏa tia sáng Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú của bầu trời tỏa xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng bằng hình vuông của giếng Thiên Quang Công trình mang vẻ đẹp của Sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học Đây là nơi thường được dùng làm nơi thưởng thức những sáng tác văn thơ từ cổ xưa đến nay Hai bên phải trái của Khuê Văn các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sĩ
Khu thứ ba là hồ Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời)
có hình vuông Hai bên hồ là các dãy nhà bia Tiến sĩ Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa, Hoàng Giáp Bia đặt trên lưng một con rùa Hiện còn 82 tấm bia lưu lại các khoa thi từ năm 1442 đến 1779
Khu thứ tư là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau Tòa ngoài nhà là Bái đường, tòa trong là Thượng cung
Khu thứ năm là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải Thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại từ năm 2000
Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử,
Tử Tư, Mạnh Tử) Ơ điện thờ Khổng Tử có hai cặp Hạc cưỡi trên lưng Rùa Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam Hình ảnh Hạc chầu trên lưng Rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, Hạc đứng trên lưng Rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh túy và thanh cao
Trang 34Theo truyền thuyết, Rùa và Hạc là đôi bạn rất thân nhau Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, Hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, Hạc không thể sống dưới nước nên Rùa đã giúp Hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo Ngược lại, khi trời hạn hán, Rùa đã được Hạc giúp đưa đến vùng có nước Điều này nói lên lòng chung thủy và tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt
Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội
Ý nghĩa của việc thành lập Văn Miếu năm 1070 và Quốc Tử Giám năm 1076 không đóng khung trong địa hạt văn hoá Trong nhân dân vừa giành được quyền tự chủ sau hơn 1000 năm đô hộ, đang dâng lên một sức sống phi thường, ý thức giữ gìn và củng cố độc lập, khẳng định bản lĩnh, là
tư tưởng chủ đạo của mọi hoạt động tổ chức, quân sự, văn hoá, đều hướng đến phục vụ sự nghiệp tự cường của dân tộc Việc lập Văn Miếu – Quốc Tử Giám như vậy nhằm đào tạo lớp quan liêu trị nước, nằm trong phương hướng vươn lên đó của thời đại
Văn Miếu không chỉ là nơi thờ kính các vị hiền tài, thánh thiện, danh nhân tiêu biểu về văn hoá giáo dục của Nho Giáo, mà nơi đây còn là một trung tâm văn hoá rất quan trọng, diễn ra các hoạt động giáo dục của đất nước Cũng từ đó, văn miếu đã trở thành nơi chiêu hiền đãi sĩ, thu hút trí tuệ của cả dân tộc phục vụ cho công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước Nối tiếp truyền thống của các thế hệ trước, các đời vua sau tiếp nhau tu sửa, tôn tạo những giá trị văn hoá, cải tạo Văn Miếu Thăng Long Đến năm 1483, nhà Lê cho tôn tạo Văn Miếu Thăng Long với quy mô lớn hơn và còn xây dựng thêm nhiều văn miếu khác ở các trung tâm dân cư (như văn miếu Bắc Ninh…) Đến thời các chúa Nguyễn, những văn miếu xây dựng từ trước vẫn
Trang 35được trùng tu tôn tạo, bên cạnh đó các chúa Nguyễn còn cho xây dựng mới nhiều văn miếu ở các trấn, tỉnh quan trọng để tôn vinh sự học, để nhân dân
có được nơi sinh hoạt văn hoá, vun đắp và nuôi dưỡng tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm Theo Đại Nam Nhất thống chí, văn miếu được xây dựng ở: Thăng Long (Hà Nội), kinh thành Huế, Trấn Biên (Biên Hoà – Đồng Nai), Nghệ An, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Vĩnh Long, Gia Định, Hưng Hoá, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Quảng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Sơn Tây
Văn miếu Huế, được các chúa Nguyễn xây dựng tại thủ phủ và đã thay đổi vị trí qua ba địa điểm khác nhau: làng Triều Sơn, làng Lương Quán, làng Long Hồ
Năm 1808, Gia Long cùng triều đình đã quyết định chọn một ngọn đồi thấp phía trên chùa Thiên Mụ, sát tả ngạn sông Hương, tức vị trí hiện tại để xây Văn miếu mới uy nghi, đồ sộ Lúc đó trường Quốc Tử Giám cũng được lập ra ở đây và hoạt động mãi cho đến năm 1908 mới dời về thành nội Công việc xây dựng Văn miếu khởi công từ ngày 17 tháng 4 năm 1808 đến ngày
12 tháng 9 năm 1808 thì hoàn thành
Văn miếu quay mặt về hướng Nam Các công trình kiến trúc chính đều xây trên mặt bằng ngọn đồi cao gần 3m so với nền đất xung quanh Các công trình của Văn miếu Huế được xây dựng trong mặt bằng hình vuông mỗi cạnh chừng 160m , xung quanh có xây la thành bao bọc Tất cả chừng
50 công trình kiến trúc lớn nhỏ, trong đó có 32 tấm bia tiến sĩ và 4 tấm bia khác Văn miếu gồm điện thờ chính thờ đức Khổng Tử và Tứ Phối, thập nhị triết), hai nhà Đông và Tây Vu (thờ Thất thập nhị hiền và các tiên nho), Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà kho), nhà Tổ công, Đại thành môn và Văn miếu môn… Các tòa nhà đều được xây dựng bằng gỗ lim và các vật
Trang 36liệu đắt giá khác Bố cục kiến trúc, trang hoàng và trang trí nội ngoại thất đều mang tính đăng đối uy nghi, văn vẻ
Văn miếu đã nhiều lần được tu sửa, xây dựng thêm các công trình phụ, nhất là dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị Trong thời trị vì của vua Gia Long, triều đình chưa mở các kỳ thi Hội, mới chỉ có các khoa thi Hương nên tại đây chưa dựng bia Tiến sĩ Từ thời Minh Mạng về sau (1820 – 1840) mới mở các khoa thi Hội nên bắt đầu dựng bia Tiến sĩ ở Văn miếu để khắc tên những người thi đậu Các “tiến sĩ đề danh bí” được lần lượt dựng lên ở sân Văn miếu từ năm 1831 đến năm 1919, năm có khoa thi Hội cuối cùng dưới thời vua Khải Định
Hơn nửa thế kỷ nay, chiến tranh và thiên nhiên đã tàn phá Văn miếu, chỉ còn 34 tấm bia đá là những di tích có giá trị nhất về nghệ thuật, văn hóa
1992, Văn miếu Hưng Yên được bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử
Văn miếu có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam, bao gồm Tiền tế, Trung
từ và Hậu cung Hệ thống mái của các tòa được làm liên hoàn kiểu “Trùng thiềm điệp ốc” Mặt tiền Văn miếu quay hướng Nam, cổng Nghi môn được
Trang 37xây dựng đồ sộ, bề thế mang dáng dấp cổng Văn miếu Hà Nội Phía trong cổng có sân rộng, ở giữa sân có đường thập đạo, hai bên sân có lầu chuông
và lầu khánh cùng hai dãy tả vu, hữu vu Khu nội tự gồm: Tiền tế, Trung từ
và Hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn Toàn
bộ khu nội tự Văn miếu tỏa sáng bằng hệ thống đại tự, câu đối, cửa võng và
hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim rất đẹp
Hiện vật quý giá nhất của Văn miếu là 9 tấm bia đá khắc tên tuổi, quê quán, chức vụ 161 vị đỗ đại khoa ở trấn Sơn Nam thượng ngày xưa (trong
đó tỉnh Hưng Yên có 138 vị, tỉnh Thái Bình 23 vị) thuộc các triều đại Trần, Mạc, Lê đến Nguyễn Thời xưa, Văn miếu có hai mùa lễ hội, trọng hội là ngày 10 tháng 2 và ngáy 10 tháng 8 hàng năm Cứ vào các ngày trọng hội, các vị nho học và quan đầu tỉnh phải đến Văn miếu tế lễ để thể hiện nề nếp nho phong, tôn sư trọng đạo, làm gương cho con cháu, cầu mong sự nghiệp giáo dục ngày càng tiến bộ Ngày nay, hàng năm cứ vào ngày đầu xuân tại Văn miếu đều tổ chức sinh hoạt văn hóa, đó là tổ chức tế lễ, dâng hương, triển lãm thư pháp, hát ca trù, từng bước khôi phục lại lễ hội xưa Ngoài ra vào mùa thi, thanh thiếu niên, học sinh về Văn miếu tìm hiểu truyền thống hiếu học của cha ông và thắp nhang cầu mong cho sự học hành ngày càng phát triển
Văn miếu Diên Khánh được xây dựng theo truyền thống nho giáo trước đây, nhằm ghi nhận công lao của những người có tài, học giỏi, đã được đỗ đạt Vào năm 1803, vua Gia Long ra chỉ dụ lập Văn miếu tại xã Phú Lộc, huyện Hòa Châu, thị trấn Bình Hòa, nay thuộc khóm Phú Lộc Tây, thị trấn Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
Văn miếu được xây dựng với quy mô lớn từ năm 1853 và đến năm sau thì cơ bản hoàn thành: phía trước có nhà bi đình, chính giữa có tòa tiền
Trang 38đường và chánh đường cao rộng, làm bằng gỗ xây tường gạch bao, các cột kèo được chạm trổ sơn son thếp vàng sáng đẹp, uy nghiêm
Cùng với sự thay đổi của thời gian, khu Văn miếu đã trải qua bốn lần
tu bổ vào các năm 1892, 1904, 1941 và 1959 nhưng cơ bản vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu Hiện tại Văn miếu chỉ còn giữ được hai tấm bia đá thời Tự Đức 11 (1858) giúp ta hiểu biết hơn về lịch sử, văn hóa, sinh hoạt của nhân dân Khánh Hòa và quá trình hoàn thiện khu Văn miếu năm 1854 Ngoài ra còn có một bài Minh ớ Bái Đường nói rõ hơn về sự đỗ đạt của các
vị văn võ, khoa bảng, hào mục, chức sắc và các học sinh địa phương từ đầu triều Nguyễn đến thời Tự Đức Với bề dày lịch sử, khu Văn miếu Diên Khánh mang giá trị to lớn mang giá trị to lớn về quá trình học tập, tiếp nhận tri thức và biểu hiện sự tôn sư trọng đạo, làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc
Là vùng “địa linh nhân kiệt” người Hải Dương vẫn luôn tự hào về truyền thống hiếu học và truyền thống tôn sư trọng đạo của mình Một trong những công trình có ý nghĩa, nơi hội tụ những tinh hoa văn hóa giáo dục của tỉnh Đông hàng mấy trăm năm trước, chính là Văn miếu Mao Điền – trường học, trường thi đầu tiên của trấn Hải Dương xưa
Từ giữa thế kỷ XV, với chủ trương mở mang việc học hành và đào tạo nho sĩ, quan lại… nhà Lê đã cho xây dựng một loạt những trường học (trường quốc lập), trong đó có Văn miếu Mao Điền Nơi đây, trước kia thuộc tổng Mao Điền, phủ Bình Giang, trấn Hải Dương, nay thuộc thôn Mao Điền,
xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Ngay khi mới xây dựng, Văn miếu đã là một công trình kiến trúc văn hóa bề thế, uy nghi Phần chính gồm hai tòa nhà lớn 7 gian, mái cong vút, chạm trổ hình rồng, phượng… áp sát vào nhau Nhà trong thờ Khổng Tử – ông tổ của Nho học Nhà ngoài là nơi tụ hội bái lễ của các bậc quan trường học giả Hai bên là hai dãy nhà giải
Trang 39vũ 5 gian đối diện nhau, do nằm ở hai hướng Đông và Tây nên người dân nơi đây vẫn quen gọi là nhà Đông Vu và Tây Vu Tiếp đến là hai gác chuông xây cất rất hoành tráng Phía trước là hai hồ nước trong xanh in bóng cây gạo già hàng trăm năm tuổi Xung quanh là bạt ngàn các loại cây cảnh, cây
ăn quả ôm lấy Văn miếu càng tôn lên vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch, dịu mát,
êm đềm của khu di tích, du lịch nổi tiếng xứ Đông
Xưa kia Hải Dương nằm ở phía Đông của kinh thành nên nên gọi là
xứ Đông, đây là vùng “đất học” vì thế triều Lê đã coi đây là một trong những trung tâm văn hóa giáo dục của cả nước, tiến hành tổ chức nhiều kỳ thi Hội Hàng năm đến kỳ thi, sĩ tử ở khắp nơi tề tựu về đây dựng lều chõng kín khắp cả khu cánh đồng Trong số các sĩ tử đó, có nhiều người là con dân của Hải Dương đã tham dự và hiển đạt từ chính nơi đây Trong đó có cả danh sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm, người mà trí tuệ và nhân cách đã tỏa sáng suốt bao thế kỷ
Như vậy trong quá trình tồn tại, Văn miếu Mao Điền từ vị trí là trường học của riêng trấn Hải Dương đã trở thành trường thi của cả vùng, góp phần giáo dục và đào tạo nhân tài cho địa phương và cho cả nước Nơi đây còn nhiều dấu tích của các sĩ tử, danh nhân đã chiếm bảng vàng trạng nguyên trong các kỳ thi cấp nhà nước
Năm 1948, giặc Pháp đánh chiếm Mao Điền, chúng biến Văn miếu thành khu căn cứ chiếm đóng, chúng phá nhà, xây lô cốt, tường rào kẽm gai xung quanh, tiến hành tàn sát, chém giết những người dân vô tội Đạn bom
và những năm tháng chiến tranh đã tàn phá di tích nặng nề Từ một di tích lịch sử có thắng cảnh đẹp, Văn miếu trở thành một nơi hoang phế Trận bão năm 1973 đã đánh sập 5 gian nhà Giải vũ – Tây vu
Năm 2002, nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của Văn miếu Mao Điền trong đời sống xã hội, chính quyền Hải Dương đã khởi công xây dựng,
Trang 40tu bổ lại Văn miếu Nền văn hiến ngàn đời của xứ Đông, trung tâm truyền thống văn hóa, giáo dục của cả vùng đã được khôi phục Hàng năm cứ đến tháng 2 âm lịch, tỉnh Hải Dương lại mở hội Văn miếu, dâng hương tưởng nhớ các bậc danh nhân, tiên hiền của đất nước như: Khổng Tử, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… nhằm giáo dục về truyền thống hiếu học và noi theo tấm gương của các danh nhân văn hóa
Văn thánh miếu Vĩnh Long, cùng với Văn thánh miếu Biên Hòa và Văn thánh miếu Gia Định là ba Văn thánh miếu của vùng đất Nam Bộ có từ thế kỷ XIX được xây dựng nhằm đề cao Nho giáo
Văn thánh miếu Vĩnh Long được xây dựng bên bờ sông Long Hồ thuộc làng Long Hồ, tổng Long An, huyện Vĩnh Bình, nay thuộc phường 4 thị xã Vĩnh Long Văn miếu này có quan hệ với văn miếu Trấn Biên là do: khi 3 tỉnh miền Đông (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường) rơi vào tay thực dân Pháp, các sĩ phu yêu nước không khuất phục và lui về Vĩnh Long và xây dựng nên văn miếu Vĩnh Long Việc xây dựng Văn miếu được mô tả như sau: “Năm Kỷ Mùi , Tự Đức thứ 12 (1859), Gia Định, Biên Hòa, Định Tường nối nhau thất thủ, sỹ phu ba tỉnh tỵ địa qua bản tỉnh (ý nói Vĩnh Long) và các hạt An Giang, Hà Tiên Lúc bấy giờ binh mã bận rộn, sĩ tử mang bút tòng quân, việc học bỏ bê Năm Tự Đức thứ 15 (1862) đốc học Nguyễn Thông họp các thân hào, nhân sĩ bàn việc ấy, chọn đất ở địa phận thôn Long Hồ, cách tỉnh thành hơn hai dặm về hướng Đông Nam, phía trước sông dài, phía sau là gò cao, hai bên vườn tược… Tháng 11 năm Tự Đức thứ
17 (1864) khởi công, tháng 9 năm nay hoàn thành (năm Bính Dần, 1866)…” {55}
Tuy trên danh nghĩa là đề cao Nho giáo, nhưng thực chất đây là một
tụ điểm hoạt động văn hóa đề cao các bậc tiền hiền và giáo dục lòng yêu nước Thế nhưng chỉ mấy tháng sau, quân Pháp lại đem chiến thuyền uy