Tuy nhiên, cũng như nhiều trường đại học khác ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, Viện đại học Cần Thơ đã có những đóng góp nhất định cho giáo dục cách mạng, đồng thời, thông
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Trang DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 01
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 04
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 08
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 09
5 Đóng góp khoa học của Luận văn 10
6 Kết cấu của Luận văn 11
CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1954 – 1975) 1.1 Bối cảnh lịch sử ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975) 12
1.2 Chính sách giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn 14
1.2.1 Giáo dục phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam, nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới 14
1.2.2 Giáo dục phục vụ chiến tranh chống cách mạng Việt Nam 18
1.3 Quá trình phát triển của giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam 19
1.3.1 Khái quát hệ thống giáo dục của thực dân Pháp (1858 – 1954) 19
1.3.2 Những giai đoạn phát triển của giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam (1954 – 1975) 21
1.4 Hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam 23
1.4.1 Quy mô, mạng lưới các trường đại học 24
1.4.2 Chế độ tuyển sinh bậc đại học 28
1.4.3 Chế độ học tập bậc đại học 28
1.4.4 Chế độ học tập bậc cao học 30
Trang 4(1966 – 1975)
2.1 Vùng đất Cần Thơ trong lịch sử 32
2.2 Giáo dục ở Cần Thơ trước 1966 36
2.3 Những nhân tố tác động đến sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ 40
2.3.1 Nhu cầu giáo dục của nhân dân miền Tây 40
2.3.2 Tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam 41
2.3.3 Cuộc vận động thành lập Viện Đại học Cần Thơ 43
2.4 Khái quát quá trình phát triển của Viện Đại học Cần Thơ 53
2.4.1 Giai đoạn 1966 – 1968 54
2.4.2 Giai đoạn 1968 – 1975 63
CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ (1966 – 1975) 3.1 Tổng quan về Viện Đại học Cần Thơ 70
3.1.1 Tổ chức hành chính 70
3.1.2 Những vấn đề về học vụ 81
3.2 Các Trường và Trung tâm thuộc Viện Đại học Cần Thơ 87
3.2.1 Trường Đại học Sư phạm 87
3.2.2 Trường Đại học Luật khoa và Khoa học Xã hội 91
3.2.3 Trường Đại học Văn khoa 93
3.2.4 Trường Đại học Khoa học 96
3.2.5 Trường Cao đẳng Nông nghiệp 101
3.2.6 Trung tâm Sinh ngữ 105
3.3 Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ cộng đồng 109
3.4 Hoạt động hợp tác quốc tế 112
3.5 Hoạt động xã hội và đoàn thể 114
3.5.1 Hoạt động ngoại học trình 114
3.5.2 Hoạt động đấu tranh cách mạng 116
Trang 51 Viện Đại học Cần Thơ ra đời là một tất yếu lịch sử và đã đáp ứng đúng nhu cầu giáo dục ở miền Tây Nam bộ 132
2 Viện Đại học Cần Thơ ra đời và hoạt động đã trở thành trung tâm văn hoá – xã hội, khoa học – kỹ thuật trong vùng, góp phần xứng đáng vào quá trình phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội và thắng lợi của cách mạng ở miền Tây Nam bộ 135
3 Viện Đại học Cần Thơ tạo những tiền đề căn bản ban đầu và truyền thống quý báu cho sự phát triển của Đại học Cần Thơ sau này 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144 PHỤ LỤC
Trang 6DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Năm 1954, Hiệp định Genève về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc Nhân cơ hội này, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, loại bỏ sự ảnh hưởng của người Pháp, xây dựng một chính phủ mới thân Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, phát triển theo quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới và tiến hành các cuộc chiến tranh chống cách mạng Việt Nam Giai đoạn 1954 – 1975, công cuộc xây dựng và phát triển miền Nam Việt Nam được Mỹ tiến hành trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị
- xã hội cho đến văn hóa – giáo dục và được thực hiện thông qua chính quyền người Việt ở Sài Gòn
Hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam theo đó cũng được hình thành với sự mở đầu của cuộc di dời ba phần tư các trường đại học thời Pháp thuộc ở miền Bắc vào miền Nam, hình thành nên Viện Đại học Sài Gòn năm 1955 Tiếp sau đó, do nhu cầu giáo dục ngày càng tăng cùng với sự tác động ít nhiều của vấn đề chính trị, cụ thể là vấn đề tôn giáo (Công giáo, Phật giáo), ở nhiều vùng của miền Nam Việt Nam bấy giờ đã sớm hình thành các trường đại học: Viện Đại học Huế (1957), Viện Đại học Đà Lạt (1957), Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn (1964) Nếu so sánh về dân số và nhu cầu giáo dục, miền Tây Nam bộ bấy giờ không thua kém các vùng này, mặt khác có phần trội hơn Tuy nhiên, thời điểm trước 1966, ở miền Tây Nam bộ chưa thể thành lập được trường đại học, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu những khả năng về đội ngũ giảng dạy và phương tiện học tập cần thiết cho sự ra đời của một viện đại học quốc gia cùng một số điều kiện lịch sử khác
Phải đợi đến thời điểm cuối năm 1965 – đầu năm 1966, nội bộ chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng hoảng do những xáo động chính trị
từ sau sự kiện chế độ “gia đình trị” Ngô Đình Diệm sụy đổ (1963) Lúc này,
Trang 7chính quyền Sài Gòn đương nhiệm rất muốn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của người dân miền Tây Trong khi đó, nhu cầu giáo dục của người dân miền Tây ngày một tăng cao Nhận thức rõ điều này, các nhân sĩ, trí thức miền Tây
đã đứng ra vận động cho việc thành lập Viện Đại học Cần Thơ nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết của người dân miền Tây, đồng thời nhận được sự đồng tình, ủng hộ của giới báo chí, của dư luận xã hội và đặc biệt là sự đồng tình, ủng hộ của chính quyền Sài Gòn Tháng 03/1966, Viện Đại học Cần Thơ đã chính thức được thành lập Có thể nói, sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ ở thời điểm đầu năm 1966 là một tất yếu lịch sử, không thể sớm hơn cũng không thể muộn hơn, bởi lẽ, thời điểm ấy chính là thời điểm thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Viện đại học Cần Thơ ra đời và phát triển trong điều kiện chiến tranh (1966 - 1975) nên chắc chắn không thể tránh khỏi bị tác động bởi chiến tranh thực dân mới cùng những chính sách giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Tuy nhiên, cũng như nhiều trường đại học khác ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, Viện đại học Cần Thơ đã có những đóng góp nhất định cho giáo dục cách mạng, đồng thời, thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội, đấu tranh cách mạng, Viện đã góp phần tạo ra những tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển của Đại học Cần Thơ sau này – một trong những trường đại học lớn nhất nước ta và lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Trên cơ sở phát huy những tiền đề căn bản ấy của Viện Đại học Cần Thơ, Đại học Cần Thơ hiện nay đã trở thành cơ sở đào tạo đại học và sau đại học của Nhà nước có quy mô lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, tiếp tục giữ vai trò là trung tâm văn hoá – xã hội, khoa học - kỹ thuật của miền Tây Nam bộ Với nhiệm vụ chính là đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học công nghệ, Đại học Cần Thơ ngày nay đã góp phần quan trọng vào việc phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống và dân trí của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long Cùng với công tác đào tạo đa ngành, đa lĩnh
Trang 8vực, Đại học Cần Thơ còn tích cực tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học các cấp, đồng thời ứng dụng thành công những thành tựu khoa học
kỹ thuật vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghệ, kinh tế, văn hoá và
xã hội cho vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung Trên cơ sở đó, Trường cũng nhanh chóng thiết lập được mối quan hệ hợp tác khoa học - kỹ thuật rộng rãi với các trường đại học, các viện nghiên cứu, các
tổ chức quốc tế trong và ngoài nước
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả nghiên cứu đề tài “Lịch sử hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975)” nhằm:
+ Tái hiện lại một cách sinh động các mặt hoạt động của Viện Đại học Cần Thơ từ khi ra đời và phát triển; từ cách thức tổ chức hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế cho đến các hoạt động xã hội, đấu tranh cách mạng của Viện trong giai đoạn lịch sử 1966 – 1975 Qua đó thấy được tính tất yếu lịch sử của sự ra đời Viện Đại học Cần Thơ, thấy được vị trí, vai trò cũng như những đóng góp của Viện trong hoạt động giáo dục đại học ở miền Tây Nam bộ nói riêng và nền giáo đại học ở miền Nam Việt Nam nói chung trước năm 1975
+ Trên cơ sở tái hiện lịch sử hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ, đề tài khẳng định những tiền đề căn bản ban đầu và truyền thống quý báu mà Viện Đại học Cần Thơ đã tạo ra, góp phần quan trọng vào sự phát triển của Đại học Cần Thơ hiện nay
+ Đồng thời, thông qua đề tài này, tác giả Luận văn cũng mong muốn cung cấp thêm nguồn tư liệu giúp các thế hệ sinh viên của Đại học Cần Thơ
có thể hiểu nhiều hơn nữa về lịch sử Trường mình, hiểu nhiều hơn nữa về những truyền thống tốt đẹp và những thành tựu mà Trường đã đạt được không chỉ hiện nay mà cả trong những giai đoạn lịch sử thăng trầm của đất nước Từ
đó, sinh viên Đại học Cần Thơ ngày nay sẽ thấy tự hào hơn về ngôi trường
mà họ đã và đang theo học, tạo ra động lực mạnh mẽ hơn nữa để tích cực học
Trang 9tập và nghiên cứu khoa học, phát huy những truyền thống tốt đẹp của Trường, góp phần vào sự phát triển chung của Trường hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Năm 1966, Viện Đại học Cần Thơ được thành lập, bổ sung vào hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam Cộng hòa Ở miền Nam Việt Nam giai đoạn này, các trường đại học và các nhà xuất bản thường cho xuất bản những cuốn chỉ nam nhằm hướng dẫn cho sinh viên kiến thức chọn ngành, chọn trường cũng như hướng dẫn cho sinh viên những hiểu biết ban đầu về ngôi trường mà họ dự định theo học đại học Về các cuốn chỉ nam liên quan đến
Viện Đại học Cần Thơ, tác giả Luận văn tiếp cận được ba cuốn: (1) “Đây Đại
Học” xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, (2) “Chỉ Nam Giáo Dục Cao Đẳng Việt Nam” do Phòng Tâm Lý và Hướng Nghiệp Đắc Lộ xuất bản năm 1974 tại Sài
Gòn và cuốn (3) “Chỉ Nam” do chính Viện Đại học Cần Thơ xuất bản năm
1972 Hai cuốn đầu giới thiệu chung các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa, trong đó có Viện Đại học Cần Thơ Cuốn thứ ba giới thiệu riêng biệt về Viện Đại học Cần Thơ Cả ba cuốn chỉ nam này đều giới thiệu một cách tổng quan về lịch sử hình thành, tổ chức hành chính, cơ sở vật chất, các thủ tục hành chính cũng như các trường thành viên của Viện Đại học Cần Thơ cùng một số hình ảnh minh họa các hoạt động đào tạo, sinh hoạt khoa học nhằm cung cấp cho sinh viên những thông tin ban đầu cần thiết về Viện
Sau ngày miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (30/04/1975) đến nay, việc nghiên cứu và tìm hiểu về hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục và trên thực tế đã có những công trình nghiên cứu
ra đời Tuy nhiên, việc tìm hiểu và nghiên cứu sâu về quá trình hình thành và phát triển của từng viện, từng trường đại học, trong đó có Viện Đại học Cần Thơ, vẫn còn rất hiếm
+ Trong số các công trình nghiên cứu sau giải phóng nói trên, tác giả
tiếp cận được một số tác phẩm như: (1) “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền
Trang 10giáo dục Việt Nam” của tác giả Lê Văn Giạng, do nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 2003; (2) “Chủ nghĩa thực dân mới kiểu
Mỹ ở miền Nam Việt Nam: khía cạnh tư tưởng và văn hóa (1954 - 1975)” của
tác giả Phong Hiền, do nhà xuất bản Thông tin Lý luận xuất bản tại Hà Nội
năm 1984; (3) “Sơ thảo 30 năm giáo dục miền Nam (1945 - 1975)” của tác
giả Trần Thanh Nam, do nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản tại Hà Nội năm
1995; (4) “50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo: 1945 – 1995” của
tác giả Trần Hồng Quân, do nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản tại Hà Nội năm
1995 Nội dung của các tác phẩm này có đề cập đến tổ chức, hoạt động và các trường thành viên của Viện Đại học Cần Thơ nhưng còn ở mức độ hết sức khái quát và sơ lược, chủ yếu là một phần rất nhỏ trong hệ thống giáo dục đại học của chế độ Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975)
+ Năm 2000, Tỉnh ủy - Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ đã cho xuất bản
tại Cần Thơ tác phẩm “Địa chí Cần Thơ” Tác phẩm này bao gồm bốn phần
với nội dung nghiên cứu bao quát nhiều lĩnh vực của vùng đất Cần Thơ từ lịch sử hình thành, địa lý, dân cư; lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng cho đến các lĩnh vực kinh tế cũng như văn hóa – xã hội Ở phần thứ tư nói về lĩnh vực văn hóa – xã hội, tại chương XIX, tác phẩm đề cập đến vấn đề giáo dục của vùng đất Cần Thơ Tại chương này, tác phẩm đã nghiên cứu khá sâu
về lịch sử giáo dục của vùng đất Cần Thơ từ thời khởi thủy cho đến thời điểm
tác phẩm “Địa chí Cần Thơ” được xuất bản (2000) Trong phần tìm hiểu về
giáo dục Cần Thơ thời kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), tác phẩm đã đi sâu nghiên cứu các phong trào đấu tranh cách mạng trên lĩnh vực giáo dục của các nhân sĩ, trí thức miền Tây thời này Trong đó, tác phẩm đặc biệt lưu tâm đến cuộc vận động thành lập Viện Đại học Cần Thơ của các nhân sĩ, trí
thức trong vùng và nhấn mạnh sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ là “một
sự kiện đánh dấu bước phát triển về nhu cầu giáo dục của miền Tây” [111,
tr.672]
Trang 11+ Năm 2008, đề tài “Giáo dục đại học miền Nam giai đoạn 1954 –
1975” – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia trọng điểm của
thành phố Hồ Chí Minh do PGS – TS Võ Văn Sen làm chủ nhiệm đề tài đã được nghiệm thu Đề tài gồm có ba chương Chương 1 của đề tài tìm hiểu về đặc điểm, tình hình nền giáo dục miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 Chương 2 của đề tài đi sâu tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 Chương 3 của đề tài tập trung tìm hiểu hoạt động của hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam cũng như phương hướng, chức năng, nhiệm vụ của đại học ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 Ở chương 3, tại mục 3.3.2 nói về hoạt động của các trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam, đề tài đã đề cập đến Viện Đại học Cần Thơ với những nét khái quát về sự ra đời, chế độ học tập tín chỉ cùng các trường thành viên thuộc Viện Trong đó, đề tài đã đưa ra nhận định rằng sự ra
đời của Viện Đại học Cần Thơ là “theo nhu cầu phát triển của dân cư vùng
châu thổ sông Cửu Long” và khẳng định việc áp dụng chế độ tín chỉ của Viện
Đại học Cần Thơ trong công tác đào tạo là “một công cuộc cải tổ mới mẻ”
1966 đến năm 1996 Công trình nghiên cứu này dự kiến gồm bảy chương:
* Chương 1: Xóa đói trí thức – Một nhiệm vụ chiến lược ở đồng bằng sông Cửu Long
* Chương 2: Cao trào vận động thành lập Viện Đại học Cần Thơ ở miền Tây Nam bộ
* Chương 3: Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975)
Trang 12* Chương 4: Trường Đại học Cần Thơ (Từ 30/04/1975 đến hết năm học
1976 - 1977)
* Chương 5: Trường Đại học Cần Thơ (Từ năm 1977 đến giữa 1986)
* Chương 6: Trường Đại học Cần Thơ (Từ 1986 đến 1996)
* Chương 7: Chưa có tiêu đề cụ thể Nội dung chủ yếu đề cập đến các
đề án xây dựng của Đại học Cần Thơ
Nếu được hoàn thành thì đây có thể xem là một công trình nghiên cứu khoa học khá đồ sộ và chi tiết về lịch sử hình thành và phát triển của Đại học Cần Thơ, trong đó có ba chương đầu liên quan trực tiếp đến giai đoạn lịch sử
1966 – 1975, tức là giai đoạn Trường mang tên Viện Đại học Cần Thơ Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, công trình nghiên cứu này đến nay vẫn chưa hoàn thành nên đã không được công bố Mặc dù vậy, ở một số phần đã hoàn chỉnh, công trình cũng rút ra được những nhận định khá xác đáng về tầm quan trọng của sự ra đời Viện Đại học Cần Thơ đối với vùng đất miền Tây Nam
bộ Ví dụ ở chương 1, công trình nghiên cứu này đã phân tích nhu cầu to lớn được giáo dục, được học hỏi của người dân miền Tây Nam bộ và khẳng định xóa đói trí thức là một nhiệm vụ chiến lược của vùng đất này Nói về sự ra đời
của Viện Đại học Cần Thơ, công trình này nhấn mạnh “Viện Đại học Cần
Thơ chỉ tồn tại được từ tháng 09/1966 đến tháng 04/1975, nhưng Viện đã có công mở ra một hướng đi mới trong lịch sử giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long: đào tạo chính quy những trí thức khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học công nghiệp có trình độ kỹ sư, bác sĩ, cử nhân trở lên Với sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ, sự nghiệp "xóa đói tri thức" ở miền Tây Nam bộ
có một bước tiến mới Đáp ứng được ước mơ từ nhiều đời của người dân vùng đất phì nhiêu, có nhiều tiềm năng to lớn song vẫn "lim dim" ngủ này”
[119]
Ngoài các tác phẩm, công trình khoa học chính thống kể trên, trong quá trình thu thập tài liệu, tác giả đã tìm hiểu thêm nguồn tư liệu trên một số website của người Việt Nam ở nước ngoài Trên các website này cũng có một
Trang 13số bài viết liên quan đến Viện Đại học Cần Thơ, tuy nhiên, nguồn tư liệu trong các bài viết này còn rất tản mạn, chưa có cơ sở khoa học để xác minh độ chính xác
Như vậy, kể từ khi Viện Đại học Cần Thơ được thành lập cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học chính thống hoặc không chính thống nào tìm hiểu, nghiên cứu một cách xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của Viện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Lịch sử hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975)” là toàn bộ quá trình hình thành và phát triển cũng như toàn bộ các mặt hoạt động từ tổ chức hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế cho đến các hoạt động xã hội, đấu tranh cách mạng của Viện Đại học Cần Thơ trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Viện Quá trình hình thành và phát triển ấy gắn liền với giai đoạn lịch sử đấu tranh cách mạng chống chủ nghĩa thực dân mới của dân tộc Việt Nam (1954 - 1975)
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Viện Đại học Cần Thơ được thành lập năm 1966 tại tỉnh Phong Dinh (nay là thành phố Cần Thơ) thuộc hệ thống các Viện Đại học Quốc gia của Việt Nam Cộng hòa Hoạt động trong bối cảnh chiến tranh, Viện Đại học Cần Thơ cũng như các trường học khác giai đoạn này, đều bị chi phối bởi các điều kiện chính trị - xã hội bấy giờ Do đó, đề tài nghiên cứu các mặt hoạt động của Viện Đại học Cần Thơ diễn ra tại tỉnh Phong Dinh đặt trong bối cảnh hoạt động chung của nền giáo dục ở miền Tây Nam bộ nói riêng và của cả hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam nói chung diễn ra trong điều kiện chiến tranh
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu khoảng thời gian từ năm
1966 đến năm 1975, tức là từ khi Viện Đại học Cần Thơ ra đời cho đến khi
Trang 14chế độ Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn sụp đổ, miền Nam Việt Nam hoàn toàn được giải phóng Thời gian chín năm hoạt động ngắn ngủi, song, Viện Đại học Cần Thơ đã góp phần làm phong phú thêm đặc điểm của hệ thống giáo dục đại học và đặc điểm phong trào đấu tranh cách mạng của trí thức – học sinh – sinh viên ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 cũng như tạo những tiền đề căn bản ban đầu và truyền thống quý báu cho sự phát triển mạnh mẽ của Đại học Cần Thơ sau này
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tuân thủ phương pháp luận mác - xít trong nghiên cứu lịch sử nhằm tái hiện lịch sử một cách khách quan, khoa học
Bên cạnh đó, đề tài còn kết hợp sử dụng những phương pháp cụ thể sau: Phương pháp nghiên cứu hệ thống cho việc xử lý tư liệu; Phương pháp so sánh, đối chiếu để xác minh tư liệu; Phương pháp phục hồi lịch sử; Phương pháp biên soạn lịch sử ngành và lịch sử truyền thống
* Nguồn tài liệu:
Đề tài “Lịch sử hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975)” được tác giả thực hiện chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu sau:
Trang 15- Tài liệu lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và Trung tâm Lưu trữ thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ: Đây là nguồn tư liệu quý và rất có giá trị Nguồn tư liệu này chủ yếu là các văn bản liên quan đến sự ra đời
và hoạt động của Viện Đại học Cần Thơ, một vài văn bản liên quan đến hoạt động đấu tranh cách mạng của sinh viên Cần Thơ Tuy nhiên, nguồn tư liệu trên hiện còn lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ này không nhiều (19 hồ sơ)
- Tư liệu hiện còn lưu trữ tại Đại học Cần Thơ: Số tài liệu này hiện lưu trữ tại Kho lưu trữ của Phòng Tổ chức Cán bộ Đại học Cần Thơ Đây cũng là một nguồn tư liệu quý và rất có giá trị Tuy nhiên, hiện nguồn tư liệu này chưa được phân loại để bảo quản, điều này gây rất nhiều khó khăn cho tác giả Luận văn khi tiếp cận và trong quá trình chú thích khi trích dẫn tư liệu
- Các cuốn chỉ nam giáo dục liên quan đến Viện Đại học Cần Thơ được xuất bản trước năm 1975 cùng một số cuốn sách và công trình nghiên cứu liên quan được xuất bản sau năm 1975
- Các website chính thống với nguồn thông tin đáng tin cậy: website của Đại học Cần Thơ, của tỉnh Cần Thơ, của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Cần Thơ và website Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt
- Ngoài ra, còn có một số tư liệu do Phòng Kế hoạch Tổng hợp của trường Đại học Cần Thơ cung cấp Những tư liệu này đã được đánh máy lại
từ những văn bản gốc trước 1975, tuy nhiên, bản gốc hiện nay không còn Song, khi xem xét và đối chiếu với các tư liệu khác, tác giả nhận thấy đây vẫn
là nguồn tư liệu có giá trị, có thể sử dụng để tham khảo cho Luận văn
5 Đóng góp khoa học của Luận văn
Nghiên cứu đề tài “Lịch sử hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975)”, Luận văn có những đóng góp khoa học sau:
Thứ nhất, Luận văn tái hiện lại một cách sinh động các mặt hoạt động của một viện đại học ra đời và phát triển trong điều kiện chiến tranh, góp
Trang 16phần quan trọng vào việc nghiên cứu hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975)
Thứ hai, việc tìm hiểu về hoạt động của Viện Đại học Cần Thơ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về giáo dục đại học ở chế độ cũ, bởi lẽ, bên cạnh việc phục vụ cho mục đích chiến tranh, cách thức tổ chức hoạt động, đào tạo, nghiến cứu khoa học thời ấy vẫn có những mảng chúng ta cần quan tâm, học hỏi
Thứ ba, mặc dù gặp khó khăn trong quá trình thu thập tài liệu, song, tác giả đã cố gắng tập hợp một số lượng tương đối đầy đủ các tư liệu liên quan đến nội dung của Luận văn hiện còn được lưu trữ để có thể hoàn chỉnh nội dung trình bày một cách tốt nhất Do vậy, chắc chắn Luận văn sẽ có giá trị tham khảo ở mức độ nhất định đối với những ai muốn tìm hiểu về Viện Đại học Cần Thơ nói riêng và hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 nói chung
Thứ tư, đề tài còn có ý nghĩa thiết thực đối với một học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Dẫn luận, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Chính sách giáo dục và hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam (1954 – 1975)
Chương 2: Viện Đại học Cần Thơ ra đời và phát triển (1966 - 1975) Chương 3: Hoạt động của Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975)
Trang 17CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1954 – 1975)
1.1 Bối cảnh lịch sử ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975)
Sau khi cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, hàng loạt các nước dân chủ chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô là một hình mẫu lớn Bên cạnh đó, phong trào giải phóng dân tộc ở Á – Phi – Mĩ La Tinh phát triển thành cơn bão táp cách mạng phá vỡ từng mảng thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Chiến tranh thế giới qua đi, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt nhưng đế quốc Mỹ lại trở nên giàu có hơn bao giờ hết, đã giương cao ngọn cờ sen đầm quốc tế và muốn áp đặt tự do kiểu Mỹ ở khắp nơi trên thế giới Việt Nam cũng nằm trong mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ lúc này Không những nằm trong khu vực có tiềm năng lớn về kinh tế, Việt Nam còn có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự cho cả vùng Đông Nam Á Đặc biệt, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
đã làm thay đổi cục diện chính trị trên bán đảo Đông Dương, gây bất lợi cho chủ nghĩa đế quốc Do đó, một trong ba mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ lúc này là dập tắt phong trào giải phóng dân tộc ở Á – Phi – Mỹ La Tinh mà trọng tâm là Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và Cu Ba trong khu vực
Mỹ La Tinh (cùng hai mục tiêu khác là tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, trọng tâm
là Liên Xô và các nước Đông Âu đồng thời lôi kéo, khống chế các nước đồng minh, trọng tâm là Tây Âu và Nhật Bản)
Ở Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ của nhân dân, ưu thế cách mạng đang lên mạnh mẽ, chủ nghĩa xã hội trở thành xu thế tất yếu Tuy nhiên, với Hiệp định Genève 1954, đất nước bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc Cuộc chuyển quân tập kết đã làm thay đổi tình hình so sánh lực lượng, từ thế “cài răng lược” ở phạm vi toàn quốc thành thế “đối đầu” ở hai miền đất nước Lực
Trang 18lượng đang phát triển thuận lợi trên phạm vi toàn cục, nay tập trung ra miền Bắc, thế và lực cách mạng mạnh nhất ở miền Bắc nhưng vô cùng bất lợi ở miền Nam Trong khi đó, lực lượng Pháp và các phe phái chính trị phản động trên toàn quốc dồn cả về miền Nam mang theo tâm trạng thua cuộc, hận thù muốn tìm chỗ dựa mới, đó là cơ hội để Mỹ nhảy vào miền Nam hất cẳng Pháp, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, xây dựng ở miền Nam Việt Nam chế
độ bù nhìn do Ngô Đình Diệm làm tổng thống, hòng thực hiện mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ
Trong quá trình tiến hành chiến tranh thực dân ở Việt Nam, Mỹ sử dụng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau Trên lĩnh vực quân sự, Mỹ đã triển khai bốn chiến lược chiến tranh, ứng dụng từ ba lần thay đổi chiến lược toàn cầu với sức mạnh chủ yếu từ vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại Đồng thời, Mỹ còn sử dụng nhiều biện pháp và công cụ khác trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật nhằm hỗ trợ và phục vụ hiệu quả cho chiến tranh thực dân mới, cho công cuộc phát triển chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam, nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới
Có thể nói, Mỹ đã huy động được sức mạnh rất lớn từ nước Mỹ và các nước phe Mỹ trên tất cả các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam Điều đó thể hiện ý chí và quyết tâm của Mỹ trong việc tiến hành chiến tranh ở Việt Nam nhằm khuất phục dân tộc Việt Nam, dập tắt một ngọn lửa đấu tranh vì độc lập tự do, mặt khác nhằm đe dọa nhiều nước khác, qua đó thể nghiệm sức mạnh của Mỹ trong nửa cuối thế kỷ XX Nước Việt Nam vừa trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ (1945 - 1954), nay tiếp tục phải đương đầu với đế quốc
Mỹ trong một cuộc chiến không cân sức Giai đoạn 1954 – 1975, Việt Nam bị chia cách thành hai miền với hai bối cảnh, hai cuộc cách mạng khác nhau nhưng đều do một Đảng lãnh đạo và chung một nhiệm vụ lịch sử là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là hậu phương lớn, là chỗ dựa căn bản nhất cho toàn dân tộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là
Trang 19tiền tuyến lớn, là chính trường chính của cuộc kháng chiến
Chiến tranh và chia cắt ở Việt Nam tồn tại trong điều kiện khu vực và quốc tế có nhiều chuyển biến, trong đó, xu thế hòa bình và cách mạng ngày càng mạnh mẽ, có sức lôi cuốn lớn Đó là thời kỳ khoa học – kỹ thuật phát triển, văn hóa – giáo dục trở thành nhu cầu phát triển tất yếu của tất cả các quốc gia không gì cản nổi, trong đó có Việt Nam Nhằm đạt được mục đích của chiến tranh thực dân mới trong bối cảnh phát triển tất yếu ấy, buộc Mỹ phải chú trọng đầu tư phát triển trong cuộc xâm lăng về văn hóa – giáo dục, đặc biệt là đầu tư phát triển đội ngũ chất xám, cơ sở vật chất và kinh tế cùng các điều kiện đảm bảo khác ở miền Nam Việt Nam Cùng với những chính sách về chính trị, kinh tế, quân sự, Mỹ đã từng bước thay thế Pháp trong việc xây dựng hệ thống giáo dục ở miền Nam Việt Nam
1.2 Chính sách giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Bằng chính sách viện trợ kinh tế và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã ra sức xây dựng ở miền Nam Việt Nam một hệ thống giáo dục mới nhằm đạt được những mục đích cơ bản sau:
1.2.1 Giáo dục phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam, nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới
Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đang diễn ra gay gắt trên thế giới, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực Đông Nam Á, tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam, thực hiện chiến lược toàn cầu, Mỹ đã
ra sức xây dựng miền Nam Việt Nam thành một quốc gia thân Mỹ và độc lập với miền Bắc Để thực hiện được các mục tiêu chiến lược này, Mỹ đã sử dụng nhiều biện pháp
Trên lĩnh vực quân sự: Mỹ hậu thuẫn cho chính quyền Sài Gòn, từng bước loại bỏ ảnh hưởng của người Pháp ở đây, viện trợ quân sự và đưa chuyên gia cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam, tiến hành các chiến lược chiến tranh chống cách mạng Việt Nam
Trang 20Trên lĩnh vực kinh tế: khác với người Pháp, Mỹ chủ trương phát triển quan hệ tư bản chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam nhằm đưa miền Nam Việt Nam vào quỹ đạo kinh tế tư bản chủ nghĩa bằng các chính sách kinh tế – xã hội như viện trợ kinh tế, đầu tư, phát triển công nghiệp, cải cách điền địa, hiện đại hóa nông nghiệp và xuất nhập khẩu
Trên lĩnh vực giáo dục: để có nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở miền Nam, Mỹ xác định mục tiêu của giáo dục miền Nam
là phải hình thành cho được đội ngũ trí thức khoa học - kỹ thuật đa dạng
Để có thể đạt được mục đích về giáo dục, Mỹ đã điều khiển nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam thông qua một loạt các tổ chức có tính chất cố vấn Trong đó, USAID được coi là cơ quan nắm toàn bộ hoạt động giáo dục ở miền Nam Việt Nam Ngay từ cuối năm 1950, để can thiệp sâu vào Đông Dương, Mỹ đã thiết lập tại miền Nam Việt Nam đoàn cố vấn quân sự mang tên phái bộ MAAG (Military Assistance Advisory Group) Bên cạnh phái bộ này, Mỹ còn lập ra ở miền Nam Việt Nam cơ quan viện trợ kinh tế USOM (US Operations Mission), đến năm 1961 đổi thành cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ USAID (US Agency for International Development) [92, tr.74]
Cơ quan USAID gồm sáu khối: khối quản trị tài chính, khối phát triển địa phương, khối chính sách kinh tế và chương trình, khối hành chính và khối phương tiện hậu cần Đứng đầu cơ quan USAID là một giám đốc, có một phó giám đốc trợ lý và sáu phụ tá giám đốc trực tiếp điều khiển sáu khối
Khối phát triển địa phương gồm sáu phân bộ: phân bộ giáo dục, phân
bộ lao động, phân bộ phát triển làng xã, phân bộ tổ chức hành chính, phân bộ
y tế cộng đồng, phân bộ sinh hoạt tuổi trẻ Mỗi phân bộ có nhiệm vụ cố vấn một bộ hoặc một cơ quan tương đương trong tổ chức của chính quyền Sài Gòn ở cấp Trung ương Phân bộ giáo dục làm việc thẳng với bộ giáo dục ở Sài Gòn để đưa ra những chương trình giáo dục nhằm đến ba mục tiêu [92, tr.75]:
+ Duy trì một nền kinh tế khả sinh: Người ta thường công nhận rằng
Trang 21khi trình độ giáo dục của một quốc gia tăng tiến thì mức độ kinh tế của quốc gia ấy cũng tăng tiến theo
+ Bình định: Cơ quan giáo dục đóng góp trực tiếp vào công cuộc bình định qua các chương trình giáo dục tiểu học và giáo dục tráng niên
+ Xây dựng quốc gia: Cơ quan giáo dục đóng góp vào mục tiêu xây dựng quốc gia bằng cách giúp trong việc phác họa kế hoạch và đem ra thực hiện một hệ thống giáo dục bền vững và có thể tồn tại một mình được
Để thực hiện kế hoạch do Mỹ vạch ra, USAID dựa vào các tổ chức chuyên môn về giáo dục, khoa học và văn hóa, trong đó có hai tổ chức “gắn
bó chặt chẽ” nhất với nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đó là SEAMEO (Southeast Asian Ministers of Education Organnization) và INNOTECH (Innovation et Technologie)
+ SEAMEO: do Mỹ lập ra vào năm 1965 để nắm lấy bộ trưởng giáo dục Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam và bộ trưởng giáo dục các nước Đông Nam Á nhằm điều khiển họ trong các hoạt động phục vụ âm mưu của Mỹ
+ INNOTECH: là trung tâm “canh tân và kỹ thuật giáo dục” Lúc đầu, thông qua trung tâm này, Mỹ điều khiển một số mặt hoạt động giáo dục của chính quyền Sài Gòn như in sách giáo khoa, nghiên cứu kỹ thuật truyền thanh
và truyền hình giáo dục Về sau, Mỹ lợi dụng trung tâm này để đi sâu hơn vào những hoạt động cụ thể của nền giáo dục miền Nam, nắm lấy kế hoạch nghiên cứu cũng như chuyên viên giáo dục của Việt Nam Cộng hòa
Thông qua cơ quan USAID ở Sài Gòn, hàng loạt các phái đoàn đại học
Mỹ đã sang hoạt động ở miền Nam Việt Nam để hỗ trợ việc xây dựng và phát triển các trường đại học và cơ quan nghiên cứu cũng như chỉ đạo mọi hoạt động giáo dục của chính quyền Sài Gòn Trong đó, có thể kể ra tám phái đoàn đại học chủ yếu [92, tr.76]:
1 Phái đoàn Đại học Michigan tại Trường Quốc gia Hành chánh
2 Phái đoàn Đại học Nam Illinois SIU (Southern Illinois University)
Trang 22tại Nha sư phạm và các trường sư phạm
3 Phái đoàn Đại học Ohio tại các trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp
4 Phái đoàn Đại học Wisconsin nghiên cứu cải tổ hệ thống giáo dục trung học và đại học
5 Phái đoàn Đại học Florida tại Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp
6 Phái đoàn Đại học Missouri Rolla tại Trung tâm kỹ thuật Phú Thọ
7 Hội y sỹ Hoa Kỳ (AMA) tại trường Y khoa và Nha khoa Sài Gòn
8 Phái đoàn của Viện ngôn ngữ mùa hè (SIL) chuyên về việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc ít người ở miền Nam nhưng thực chất là hoạt động tình báo nhằm gây chia rẽ người Kinh với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên Cũng thông qua cơ quan USAID, Mỹ viện trợ trực tiếp cho giáo dục miền Nam Ngoài ra, Mỹ còn huy động nhiều nguồn viện trợ tư nhân hay viện trợ đa phương cho những đơn vị khác nhau của hệ thống giáo dục ở miền Nam Không chỉ viện trợ về tài chính, Mỹ còn tăng cường viện trợ nhân lực Theo số liệu thống kê, năm 1954 có 50 cố vấn kỹ thuật thuộc đoàn Đại học tiểu ban Michigan sang miền Nam chỉ đạo mọi hoạt động; năm 1956 số cố vấn Mỹ tăng lên 182; năm 1965 là 1.700 Năm 1973, trước khi giải thể cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), số cố vấn Mỹ là 2.400 Từ năm
1962 đến năm 1972, có 37 cố vấn của trường Đại học Ohio chịu trách nhiệm nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện mô hình giáo dục tổng hợp ở miền Nam [100, tr.88] Nhiệm vụ của các cố vấn giáo dục là điều tra nghiên cứu tình hình, đề ra đường lối, chính sách, kế hoạch giáo dục và đúc kết dưới dạng các
dự án cải tổ giáo dục, chương trình giáo dục … được quản lý trực tiếp bởi Phòng Giáo dục của USAID Các dự án này được công khai hóa và hợp thức hóa qua các hội nghị giáo dục hoặc công bố trước Thượng - Hạ viện của chính quyền Sài Gòn
Ngoài các hình thức viện trợ trên, Mỹ còn chú ý đến việc huấn luyện đào tạo nhân sự trong ngành giáo dục cho miền Nam, tổ chức đào tạo dài hạn
Trang 23và tu nghiệp ngắn hạn trong và ngoài nước cho giáo viên Các khóa tu nghiệp đều đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các cố vấn Mỹ Từ tháng 11/1967 đến tháng 05/1969, ngành giáo dục Sài Gòn tổ chức được 34 khóa tu nghiệp với 3.638 giáo viên tiểu học Còn giáo viên trung học, theo thống kê của Bộ Giáo dục Sài Gòn đến năm 1975 có 32.131 người [95, tr.218] Đi đôi với việc đào tạo và tu nghiệp trong nước, Mỹ còn đưa một số giáo viên đi đào tạo và tu nghiệp ở nước ngoài Theo tài liệu của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) ở Washington, từ năm 1954 đến năm 1961, trong số 1.857 người đi học và tu nghiệp ở nước ngoài đã có 1.065 người đi Mỹ Năm 1968 số sinh viên đi du học ở Mỹ là 4.809 người [108, tr.53]
Như vậy, Mỹ đã tổ chức ra cả một hệ thống cố vấn hoạt động trong guồng máy giáo dục của chính quyền Sài Gòn, từ đó viện trợ, chỉ đạo, áp đặt nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam nhằm đào tạo nhân lực phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa tư bản
1.2.2 Giáo dục phục vụ chiến tranh chống cách mạng Việt Nam
Đây có thể coi là mục đích có tầm quan trọng chiến lược trong chính sách giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến
sự tồn vong của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam Điều này được thể hiện rất rõ qua mục tiêu mà cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ USAID đã nêu ra: “… Bình định cơ quan giáo dục, đóng góp trực tiếp vào công cuộc bình định qua các chương trình giáo dục tiểu học và giáo dục tráng niên ở Việt Nam Cộng hòa” [100, tr.87]
Với mục tiêu đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức giành dân, giữ dân trong chương trình bình định nông thôn Họ giam nông dân vào các ấp chiến lược, ấp tân sinh đồng thời mở ra ở những nơi này rất nhiều các trường học Với việc giáo dục hoạt động tâm lý chiến và tổ chức huấn luyện quân sự học đường, Mỹ và chính quyền Sài Gòn muốn tạo ra tâm lý coi việc đi lính như một “nghĩa vụ”
Trang 24Ngoài ra, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn đầu độc tuổi trẻ miền Nam thông qua nội dung chương trình sách giáo khoa và bộ máy tâm lý chiến ngoài xã hội Họ sử dụng hệ thống giáo dục như một công cụ truyền bá công khai các đường lối chính sách chống cách mạng Việt Nam như: “thuyết duy linh nhân vị”, “nghĩa vụ quân dịch” … [100, tr.88] Bởi lẽ, họ xác định rất rõ:
“Đối tượng đấu tranh của chúng ta là cộng sản độc tài, thì việc võ trang cho thanh thiếu niên một tinh thần quốc gia mãnh liệt, một ý chí bền bỉ tranh đấu cho tự do, dân chủ thiết tưởng rất cần thiết để đảm bảo hữu hiệu sự sinh tồn của dân tộc và sự phát triển của quốc gia” [95, tr.210]
1.3 Quá trình phát triển của giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam
1.3.1 Khái quát hệ thống giáo dục của thực dân Pháp (1858 – 1954)
Ngày 01/09/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, mở đầu cho quá trình khai thác thuộc địa của Pháp trên toàn cõi Đông Dương Để biến nhân dân Việt Nam thành nô lệ và đào tạo ra một đội ngũ tay sai phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác thuộc địa của mình, Pháp đã tận dụng triệt để công cụ giáo dục Đến năm 1917, chính quyền thuộc địa đã có một hệ thống
và chương trình giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc
Hệ thống giáo dục mới này – được gọi là Giáo dục thời Pháp thuộc – gồm có ba bậc: Tiểu học, Trung học và Đại học
1.3.1.1 Bậc Tiểu học: chia làm hai cấp
1 Cấp Sơ học gồm các lớp: Đồng Ấu hay lớp Năm hoặc lớp Chót (Lớp Một); Lớp Dự Bị hay lớp Tư (Lớp Hai); Lớp Sơ Đẳng hay lớp Ba (Lớp Ba)
2 Cấp Tiểu học gồm có các lớp: Lớp Nhì Một Năm (Lớp Bốn); Lớp Nhì Hai Năm (Lớp Bốn); Lớp Nhất (Lớp Năm)
Mỗi làng có một trường sơ cấp Ở tổng lớn hay ở quận (đông dân) có thể có trường tiểu học nếu có đông học sinh Tại mỗi tỉnh lỵ có một trường tiểu học lớn (có nhiều lớp cho mỗi cấp lớp)
Trang 25Học xong lớp Ba, tức là hết Sơ cấp, học sinh phải thi tuyển vào lớp Nhì Một Năm để học tiếp bậc Tiểu học Khi xong lớp Nhất (hết bậc Tiểu học), học sinh phải thi lấy bằng Sơ Tiểu tiếng Pháp viết tắt là bằng CEPCI Đậu xong bằng này, học sinh mới được dự kỳ thi tuyển vào năm Thứ Nhất trường Trung học
1.3.1.2 Bậc Trung học: cũng chia làm hai cấp
1 Cấp thứ nhất gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (tương đương với Trung học Đệ nhất cấp) gồm có bốn lớp: Năm Thứ Nhất, Năm Thứ Nhì, Năm Thứ
Ba và Năm Thứ Tư
Học xong Năm Thứ Tư, học sinh thi lấy bằng Thành Chung hay DEPSI Những ai muốn thi lấy bằng cấp Pháp thì có thể thi bằng Brevet Premier Cycle hay Brevet Elementaire
2 Cấp thứ hai là ban Tú Tài gồm các lớp: Second (tương đương Đệ Tam hay lớp 10), Première (tương đương Đệ Nhị hay lớp 11) và lớp Terminale (tương đương Đệ Nhất hay lớp 12)
Xong lớp Première, học sinh phải thi Tú Tài I Đậu được Tú Tài I mới được vào học lớp Đệ Nhất hay lớp 12 Học hết lớp 12, học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II Khi lên lớp Terminale (lớp 12), học sinh phải chọn một trong
ba ban chính sau đây: (1) ban Triết, (2) ban Khoa Học Thực Nghiệm và (3) ban Toán Học hết lớp 12, học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II về một trong các ban nói trên Bằng Tú Tài II thường được gọi tắt là Bac Philo (Tú Tài II ban Triết), Bac Math (Tú Tài II ban Toán)
1.3.1.3 Bậc Đại học:
Xong Tú Tài, học sinh mới được vào Đại học Dưới thời Pháp thuộc chỉ có một đại học duy nhất ở Hà Nội cho toàn cõi Đông Dương Một số không nhỏ học sinh Việt Nam, nhất là ở miền Nam, sau khi xong Tú Tài thường qua Pháp học tiếp bậc đại học thay vì ra Hà Nội học
Chương trình học thời này chịu ảnh hưởng nặng nề của chương trình Pháp, có chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các trường ở Việt Nam Tiếng Pháp
Trang 26được dùng làm chuyển ngữ, tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ Chương trình này kéo dài đến hết Chiến tranh Thế giới II trên toàn cõi Việt Nam Năm 1945, Việt Nam tuyên bố độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và chương trình Việt cũng được ban hành, được đem ra áp dụng trước ở miền Bắc và miền Trung Riêng ở miền Nam, do có sự trở lại xâm lược của thực dân Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục được áp dụng
ở những vùng địch tạm chiếm trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
Tuy nhiên, cho đến trước năm 1954, ở miền Nam Việt Nam vẫn chưa
có trường đại học Quá trình hình thành và phát triển của giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam được bắt đầu từ sau Hiệp định Genève 1954, khi các trường đại học của Pháp ở Hà Nội di chuyển vào Nam, từ đó hình thành nên một hệ thống giáo dục đại học dưới quyền kiểm soát của Mỹ và chính quyền Sài Gòn (1954 – 1975)
1.3.2 Những giai đoạn phát triển của giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam (1954 – 1975)
1.3.2.1 Giai đoạn 1954 – 1969
Ở giai đoạn này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cố gắng đưa nền giáo dục miền Nam Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng của nền giáo dục thực dân Pháp với những biện pháp như: chuyển nền giáo dục phát triển theo kiểu Mỹ, tăng cường các giáo sư Việt Nam tốt nghiệp từ ngoại quốc trở về và dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở bậc đại học [113, tr.13] Về học chế, các trường đại học ở miền Nam vẫn theo hai cách thức học tập: niên chế và chứng chỉ
Sau khi Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam, từ năm 1954, Mỹ đã đề ra
ba chương trình cho đại học ở miền Nam [113, tr.61]:
- Gởi sinh viên Việt Nam sang du học tại Mỹ
- Gởi nhân viên giáo dục Việt Nam đi tu nghiệp và quan sát tại Mỹ
- Hỗ trợ các cơ sở giáo dục ở miền Nam Việt Nam
Trang 27Từ năm 1960, có sự gia tăng số lượng sinh viên bậc đại học, trong khi
đó, cơ sở vật chất của đại học không được cải thiện
Từ năm 1965, khi Mỹ đổ quân viễn chinh và chư hầu ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam đã xuất hiện những nhân tố mới Trước hết, số sinh viên du học từ Mỹ trở về đem theo những quan điểm mới đã tác động vào sự phát triển nền đại học Sự xuất hiện các trường đại học trẻ mới thành lập tại Sài Gòn và một số tại các địa phương khác, không bị ảnh hưởng của nền giáo dục tuyền thống trước đây, làm cho đại học mới này dễ thích nghi với các điều kiện mới và hoàn cảnh mới hơn
Từ năm 1967 trở đi, giáo dục đại học miền Nam theo khuynh hướng thực dụng kiểu Mỹ bắt đầu chính thức thay thế cho nền giáo dục từ chương và thiên về lý thuyết của Pháp để lại
Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của nền giáo dục Mỹ thể hiện rõ ràng hơn từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX Lúc này, người ta đã bắt đầu nhận thấy ở
xã hội miền Nam có sự ảnh hưởng rất rõ cách tổ chức và học chế đại học theo
mô thức của Mỹ
1.3.2.2 Giai đoạn 1970 – 1975
Từ năm 1970, giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam phát triển và
chuyển mạnh theo Mỹ nhiều hơn Pháp, vì số người đi du học ở Mỹ về nước ngày càng nhiều
Chương trình đại học của Mỹ ra đời từ năm 1938, mang tính thực tế, có mục đích ứng dụng vào cuộc sống ngay và thay đổi thích hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia Nền đại học theo mô thức Mỹ chú trọng: phát triển cá nhân; giao thiệp giữa cá nhân với cá nhân với nhau; phát triển hiệu quả kinh tế; phát huy trách nhiệm của công dân Nền giáo dục đại học ở Mỹ tỏ ra dân chủ, chú trọng đến những sinh viên, học sinh xuất sắc, nhưng cũng không bỏ rơi các học sinh kém thông minh Các sinh viên, học sinh giỏi được đem sang một lớp riêng để giáo sư dạy riêng Những học sinh kém được học một lớp riêng,
Trang 28theo một chương trình dễ, hợp với khả năng Do đó, các văn bằng đại học cấp cho sinh viên không có giá trị đồng đều [113, tr.60-61]
Trong thời gian này, giáo dục miền Nam thiết lập nhiều ngành học mới như khoa học ứng dụng, kinh tế thương mại và mở nhiều các trường cao đẳng chuyên nghiệp Đồng thời, học chế tín chỉ cũng được áp dụng từ niên khóa
1970 – 1971 ở hầu hết các trường đại học
Tuy nhiên, từ năm 1973, việc phát triển giáo dục đại học ở miền Nam
bị chi phối bởi 2 yếu tố: chính trị và văn hóa Đại học bị áp lực chính trị, buộc làm theo chính quyền phục vụ cho nền văn hóa du nhập và xa cách với xã hội
và văn hoá dân tộc nên vẫn chưa thể hiện vai trò đáng kể trong việc phát triển
xứ sở và chưa xứng đáng là một trung tâm vận động văn hóa - xã hội Chính
vì vậy, lúc này, giáo dục đại học chịu ảnh hưởng Pháp giảm sút chậm, trong khi giáo dục đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ nhưng chương trình cải tổ giáo dục đại học ở miền Nam theo mô thức của Mỹ cũng bị “cầm chân”
Nhìn chung, sự chuyển đổi từ nền giáo dục chịu ảnh hưởng của Pháp sang một nền giáo dục chịu ảnh hưởng của Mỹ đã trở thành đặc điểm và chính sách phát triển của nền giáo dục đại học miền Nam Việt Nam (1954 – 1975)
1.4 Hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam
Trên cơ sở mục đích đã đề ra, Mỹ thông qua chính quyền Sài Gòn và các tổ chức cố vấn giáo dục để xây dựng nên một hệ thống giáo dục thực dân mới ở miền Nam Việt Nam bao gồm:
+ Giáo dục phổ thông
+ Giáo dục đại học và cao học
+ Giáo dục trung học chuyên nghiệp
Giáo dục đại học là một bộ phận của hệ thống giáo dục thực dân mới, nằm trong mưu đồ xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Mỹ muốn thông qua nền giáo dục đại học đào tạo một số người bản xứ có trình độ khoa học và chuyên môn nhất định, trung thành với Mỹ, phục vụ chính sách xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ
Trang 291.4.1 Quy mô, mạng lưới các trường đại học
Hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa được tổ chức thành những đơn vị tự trị gọi là viện đại học Mỗi viện đại học gồm một số khoa (tức faculté hoặc faculty), còn gọi là phân khoa, cũng có khi gọi là trường [94, tr.196] Ngoài ra, còn có các trường đại học cộng đồng do địa phương lập ra và đài thọ
Viện Đại học Sài Gòn vốn là một chi nhánh của Viện Đại học Hỗn hợp
Hà Nội (thành lập năm 1949) [94, tr.196] Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, năm 1955, Viện Đại học Hỗn hợp Hà Nội chuyển vào Sài Gòn sáp nhập với chi nhánh này thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam, sau đó đổi thành Viện Đại học Sài Gòn vào năm 1957
Tính đến năm 1975, hệ thống giáo dục đại học của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam gồm các viện và trường sau:
1.4.1.1 Các viện đại học công gồm có: Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại
học Bách khoa Thủ Đức, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Cộng đồng Tiền Giang, Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải Nha Trang, Viện Đại đọc Cộng đồng Quảng Đà Các trường đại học cộng đồng là đại học ngắn hạn (hai năm) tổ chức theo kiểu Mỹ (community college)
Viện Đại học Sài Gòn (thành lập năm 1957) gồm có tám phân khoa:
1 Trường Đại học Luật khoa (1941)
2 Trường Đại học Khoa học (1949)
3 Trường Đại học Văn khoa (1950)
4 Trường Đại học Sư phạm (1958)
5 Trường Đại học Dược khoa (1961)
6 Trường Đại học Y khoa (1961)
7 Trường Đại học Nha khoa (1964)
8 Trường Đại học Kiến Trúc (1967)
Viện Đại Học Huế (thành lập năm 1957), có năm phân khoa:
Trang 301 Trường Đại học Khoa học (1957)
2 Trường Đại học Luật khoa (1957)
3 Trường Đại Học Sư Phạm (1958)
4 Trường Đại Học Văn Khoa (1959)
5 Trường Đại Học Y Khoa (1959)
Viện Đại Học Cần Thơ (1966) có năm phân khoa và một trung tâm
ngoại ngữ:
1 Trường Đại học Sư phạm (1966)
2 Trường Đại học Luật khoa và Khoa học Xã hội (1966)
3 Trường Đại học Văn Khoa (1966)
4 Trường Đại học Khoa học (1966)
5 Trường Cao đẳng Nông nghiệp (1966) - Đây là trường đầu tiên thí nghiệm tổ chức theo đại học Mỹ
Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (1973), có bảy trường:
1 Trường Đại học Kỹ thuật (1974) là hậu thân của Học viện Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ cũ (1957) gồm các trường: Trường Cao đẳng Công chánh (1944); Trường Cao đẳng Hàng hải (1951); Trường Cao đẳng Công nghệ (1957); Trường Cao đẳng Điện học (1957); Trường Cao đẳng Hoá học (1962)
2 Trường Đại học Nông nghiệp (1974) (Học viện Quốc gia Nông nghiệp cũ (1959)
3 Trường Đại học Giáo dục (Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật cũ) (1962) còn được gọi là Ban Giáo dục Chuyên nghiệp (1974)
4 Đại học Khoa học Cơ bản (1974) (Trường Kỹ thuật và Khoa học
cơ bản cũ, lập năm 1972)
5 Đại Học Thiết kế thị thôn
6 Đại Học Kinh Tế và Thương Mại
Trang 31Các trường trên đào tạo kỹ sư
7 Trường Đại học Cao cấp (1973)
Trong bảy trường trên, chỉ có Trường Đại học Kỹ thuật bao gồm những trường được thành lập thời Pháp và Trường Đại học Cao cấp là chuyên cấp bằng và chứng chỉ sau đại học (bậc cao học I, II, tiến sĩ chuyên khoa và tiến sĩ quốc gia)
Ngoài bảy trường chuyên khoa, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức có Văn phòng Trung ương Viện và năm trung tâm cơ hữu gồm:
1 Trung tâm Điện toán
2 Trung tâm Ngoại ngữ
3 Trung tâm Tài nguyên Giáo dục và Thư viện Đại học
4 Trung tâm Quảng bá Giáo dục Đại học và An quán Đại học
5 Trung tâm Sinh viên vụ
Viện Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang (1971) có Ban Sư phạm (1972)
và Ban Nông nghiệp (1973)
Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải Nha Trang (1971)
Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (1974)
Trường Đại học Chuyên nghiệp Trung cấp (1973)
1.4.1.2 Các đại học tư gồm có:
Viện Đại học Đà Lạt (1957) có bốn phân khoa:
1 Trường Đại học Khoa học (1959)
2 Trường Đại học Chính trị Kinh doanh (1965)
3 Trường Đại học Sư phạm (1965)
4 Trường Đại học Văn khoa (1966)
Viện Đại học Vạn Hạnh (1964) có bốn phân khoa:
1 Phân khoa Văn học và Khoa học và Nhân văn (1964)
2 Phân khoa Phật học (1964)
Trang 323 Phân khoa Giáo dục (1970)
4 Phân khoa Khoa học Xã hội (1971)
Viện Đại học Minh Đức (1970) có năm phân khoa:
1 Phân khoa Y khoa (1970)
2 Phân khoa Nhân văn và Nghệ thuật (1970)
3 Phân khoa Kinh thương (1973)
4 Phân khoa Kỹ thuật Canh nông
5 Phân khoa Khoa học Kỹ thuật (1970)
Viện Đại Học Hoà Hảo (1971) có bốn phân khoa:
1 Phân khoa Khoa học Quản trị (1970)
2 Phân khoa Văn khoa và Sư phạm (1971)
3 Phân khoa Thương mại Ngân hàng (1973)
4 Phân khoa Bách khoa Nông nghiệp (1973)
Viện Đại học Cửu Long (1973)
Viện Đại học Cao Đài (1971)
Viện Đại học Tri Hành (1973)
Viện Đại học Phương Nam (1974 - 1975) - do tổ chức Phật giáo Thế
giới Phụng sự Xã hội thành lập
Viện Đại học Lasan (1975)
Nữ Học viện Bách khoa Regina Pacis (1972)
Trường Đại học Thương mại Minh Trí (1974)
Ở bậc đại học, dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, có đủ các ngành nghề lớn Trong đó, số sinh viên học các ngành khoa học xã hội chiếm 2/3 [94, tr.199], chủ yếu là luật khoa và văn khoa
Lĩnh vực khoa học xã hội có đủ các ngành Trong các viện đại học công, ngành kinh tế học chung với ngành luật Ngành kinh tế này thực chất là ngành kinh tế - chính trị học tư sản, chưa có những ngành kinh tế cụ thể Một
Trang 33số viện đại học tư có ngành kinh tế cụ thể (quản trị xí nghiệp hoặc quản trị kinh doanh) Những viện đại học tư do các tổ chức tôn giáo mở có dạy thần học (Vạn Hạnh dạy Phật học, Đà Lạt dạy thần học)
Về khoa học tự nhiên, cơ cấu ngành học đại thể giống Pháp, về khoa học - kỹ thuật thì giống Mỹ (đào tạo ngành rộng)
1.4.2 Chế độ tuyển sinh bậc đại học
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, tất cả các trường đại học không có một chế độ tuyển sinh thống nhất với nhau mà mỗi trường có cách làm riêng Nhìn chung, có ba cách [94, tr.199]:
+ Cách thứ nhất: Học sinh có bằng Tú Tài (học 12 năm) được tự do ghi tên vào học (các trường Luật khoa, Văn khoa và chừng mực nào đó đối với trường Khoa học) Điều này giải thích vì sao sinh viên hai ngành Luật và Văn lại rất đông Tuy nhiên, các kỳ thi lên lớp ở các trường này lại rất chặt, cho nên, càng lên các năm trên, số sinh viên càng giảm đi nhiều Các trường đại học tư cũng đều tuyển sinh theo cách này
+ Cách thứ hai: Học sinh cũng ghi tên, không qua kỳ thi tuyển, nhưng nhà trường lựa chọn dựa trên kết quả thi Tú Tài Học sinh nào có điểm thi cao
sẽ được chọn
Ví dụ ban Toán trường Khoa học ưu tiên chọn những học sinh có bằng
Tú Tài B và trong số đó những người có điểm Toán cao sẽ được chọn trước + Cách thứ ba: Có tổ chức thi tuyển Một số trường có quy định tiêu chuẩn được dự thi và tổ chức thi tuyển khá chặt chẽ
Ví dụ trường Kỹ thuật quy định chỉ nhận cho dự thi đối với những học sinh đã tốt nghiệp Tú Tài B vào loại ưu và bình; các trường Y khoa, Nha khoa chỉ nhận cho dự thi vào đối với những học sinh đã tốt nghiệp về Sinh, Lý, Hóa năm thứ nhất ở các trường đại học (theo cách làm của các trường Y khoa
ở Pháp)
1.4.3 Chế độ học tập bậc đại học
Trang 34Nhìn chung, có ba chế độ học tập sau [94, tr.200-201]:
+ Thứ nhất, học theo chế độ chứng chỉ (certificate): đây là chế độ học
áp dụng cách làm của đại học Pháp Theo đó, việc học được chia ra nhiều chuyên đề Học và thi đỗ một chuyên đề thì được cấp một chứng chỉ như Chứng chỉ Vật lý Đại cương hoặc Vật lý Điện tử, Toán giải tích … (Đại học Khoa học), Chứng chỉ Văn chương, Chứng chỉ Ngữ học, Chứng chỉ Hán học
… (Đại học Văn Khoa) Chương trình đào tạo của trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn bao gồm từ 10 đến 50 chứng chỉ Sinh viên có thể chọn những chứng chỉ mình thích Tuy nhiên, sinh viên chỉ được công nhận tốt nghiệp cử nhân sau khi đã thi đỗ đủ 05 hoặc 06 chứng chỉ; nếu nội dung các chứng chỉ đó phù hợp với những loại đã quy định thì được cấp bằng
cử nhân giáo khoa, nếu không chỉ được cấp bằng cử nhân tự do (như ở Pháp) + Thứ hai, học theo chế độ năm học: các môn học được bố trí cho từng năm học Sau mỗi năm học, thi hết năm rồi lên lớp Năm cuối cùng thi tốt nghiệp Đây là chế độ học được áp dụng ở trường Luật khoa (giống như trường Luật khoa ở Pháp)
+ Thứ ba, học theo chế độ tín chỉ (credit): theo chế độ này thì các môn học được chia thành số giờ nhất định Thường là 16 giờ (có trường quy định
30 giờ) Sinh viên hoàn thành 16 giờ lý thuyết hoặc 32 giờ thực hành đối với một vấn đề nào đó (chẳng hạn như về quang học, vi phân, tích phân) thì được công nhận xong một tín chỉ Nhà trường đề ra mấy trăm tín chỉ và quy định muốn tốt nghiệp, sinh viên phải qua bao nhiêu tín chỉ, thường là từ 100 đến
200 tín chỉ Trong đó, ví dụ có 80 tín chỉ là bắt buộc phải học, còn 20 tín chỉ kia sinh viên tự do chọn, muốn học tín chỉ nào thì học, nhưng phải đậu đủ số tín chỉ đã quy định thì mới được công nhận tốt nghiệp Đây là chế độ học theo kiểu các trường đại học Mỹ Từ năm 1970, các trường mới mở, các trường cộng đồng và các trường tư ở miền Nam có xu hướng theo chế độ học này Như vậy, theo chế độ tín chỉ, việc tổ chức thi cử gọn nhẹ hơn, sinh viên học đến đâu thi đến đó, không phải học dồn, thi dồn vào cuối năm học Mỗi
Trang 35năm phải hoàn thành bao nhiêu tín chỉ, nhà trường đều có quy định Thiếu ít thì cho “nợ”, nhưng nếu thiếu nhiều thì không được lên lớp Dù “nợ” bao nhiêu, nhưng cuối cùng đều phải thi trả hết mới được công nhận tốt nghiệp
1.4.4 Chế độ học tập bậc cao học
Ở các Viện Đại học Huế, Sài Gòn, Thủ Đức, Cần Thơ và một số viện đại học tư đều tổ chức chế độ cao học (trên đại học) [94, tr.202] Sau khi tốt nghiệp đại học, sinh viên học thêm về các kiến thức chung theo chương trình cao học (còn gọi là thâm cứu), thời gian học là một năm Sau đó làm luận văn Tùy theo đề tài nghiên cứu, một hoặc hai năm sau, sinh viên có thể bảo vệ luận văn để lấy bằng cao học
Sau văn bằng cao học là văn bằng Tiến sĩ Đệ Tam cấp Cao hơn nữa là Tiến sĩ Quốc gia Một số viện đại học đã nhận sinh viên làm luận án Tiến sĩ
Đệ Tam cấp Thời gian làm luận án Tiến sĩ Đệ Tam cấp thường là hai năm Còn Tiến sĩ Quốc gia, vì yêu cầu cao hơn nên thời gian làm phải lâu hơn Viện Đại học Sài Gòn đã tổ chức đệ trình (bảo vệ) nhiều luận án Tiến sĩ Đệ Tam cấp, còn Tiến sĩ Quốc gia chủ yếu đệ trình ở các nước ngoài
***
Tóm lại, sau Hiệp định Genève 1954, Mỹ thay thế Pháp ở miền Nam Việt Nam nhằm phát triển chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam, nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới Trong lĩnh vực giáo dục, Mỹ cùng với chính quyền Sài Gòn đã tổ chức ra một mạng lưới các tổ chức cố vấn và thông qua các chính sách viện trợ từng bước áp đặt nền giáo dục thực dân mới
ở miền Nam Việt Nam, đồng thời thực hiện mục đích chống phá cách mạng Việt Nam Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã phát triển khá mạnh, song, sự phát triển ấy không nằm ngoài mục đích phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa tư bản
ở miền Nam Việt Nam của Mỹ Mặc dù vậy, không phải tất cả những người
đi học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa do Mỹ và chính quyền Sài Gòn đào tạo ra đều cam tâm phục vụ cho họ Không ít người đã trưởng thành từ nền
Trang 36giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, nhưng lại đứng về phía cách mạng, đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc (chẳng hạn như Nguyễn Thái Bình và rất nhiều học sinh, sinh viên, giáo chức khác) Tuy nhiên, về khách quan, phải thừa nhận rằng hệ thống giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đào tạo nhiều nhà trí thức và đông đảo công nhân có tay nghề, có những người đã bỏ
ra nước ngoài, song, cũng có nhiều người đã ở lại và tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hệ thống các trường đại học cũng đã được tiếp quản và xây dựng, cải tạo lại cho phù hợp với chế độ mới
Trên đây là bức tranh toàn cảnh về chính sách giáo dục cũng như hệ thống giáo dục đại học, cao học dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 Cũng chính trong bối cảnh lịch sử của nền giáo dục ấy, Viện Đại học Cần Thơ đã hình thành và phát triển
Trang 37CHƯƠNG 2 VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN
(1966 - 1975)
2.1 Vùng đất Cần Thơ trong lịch sử
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, vùng đất Cần Thơ đã xuất hiện và tồn tại trong quá trình khẩn hoang và hình thành vùng châu thổ sông Cửu Long từ trước Công nguyên Tuy nhiên, thời điểm lịch sử vùng đất Cần Thơ được hình thành và có mặt trên bản đồ Việt Nam là từ năm 1739 với tên gọi Trấn Giang
Vào cuối thế kỷ XVIII, Mạc Cửu vốn là người Trung Quốc không thần phục nhà Thanh, cùng tùy tùng và dân cư theo đường biển đến đất Hà Tiên khai khẩn, lập nghiệp dưới sự bảo hộ của chúa Nguyễn, ông được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, từ đó số lượng cư dân ở đây ngày càng phát triển Năm 1732, toàn bộ đất phương Nam được Chúa Nguyễn chia làm ba dinh và một trấn gồm [117]:
- Trấn Biên Dinh (vùng Biên Hòa ngày nay)
- Phiên Trấn Dinh (Gia Định)
- Long Hồ Dinh (Vĩnh Long)
- Trấn Hà Tiên
Sau khi Mạc Cửu mất, Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, đẩy mạnh công cuộc khai khẩn ra vùng hữu ngạn sông Hậu, đến năm 1739 thì hoàn tất với bốn vùng đất mới [97, tr.8]:
- Long Xuyên (Cà Mau)
- Kiên Giang (Rạch Giá)
- Trấn Giang (Cần Thơ)
- Trấn Di (Bạc Liêu) được sáp nhập vào đất Hà Tiên
Trang 38Như vậy, ta có thể xem năm 1739 là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện của vùng đất Cần Thơ trên bản đồ Việt Nam
Sau hai lần điều chỉnh lại bản đồ hành chính (năm 1803 và 1808) dưới triều vua Gia Long (1802 – 1819), Trấn Giang thuộc địa giới của trấn Vĩnh Thanh – là một trong năm trấn của thành Gia Định lúc bấy giờ (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên) [117] Năm 1813, vua Gia Long cắt một vùng đất phì nhiêu ở bờ phải sông Hậu (bao gồm vùng đất Trấn Giang) lập thành huyện Vĩnh Định, thuộc phủ Đình Viễn, trấn Vĩnh Thanh [117]
Dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840), năm 1832 nhà vua ban chiếu đổi “Trấn” thành “Tỉnh” và chuyển huyện Vĩnh Định sang phủ Tân Thành, tỉnh An Giang Năm 1839, đổi tên huyện Vĩnh Định thành huyện Phong Phú, trực thuộc phủ Tịnh Biên, tỉnh An Giang và lấy làng Tân An làm huyện lỵ của huyện Phong Phú [116] Theo nhận định của tác giả Huỳnh Minh trong cuốn
“Cần Thơ xưa”, huyện Phong Phú bấy giờ “là vùng đất có tiếng thịnh trị, an
ninh hơn khắp mọi vùng ở miền Tây” [97, tr.20]
Năm 1858, thực dân Pháp nổ sung xâm lược Việt Nam Sau khi chiếm trọn lục tỉnh Nam kỳ, ngày 23/02/1876, thực dân Pháp ra nghị định lấy huyện Phong Phú (Trấn Giang xưa) và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành thuộc tỉnh An Giang (thời vua Minh Mạng) để thành lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ [116]
Từ đây cho đến hết thời Pháp thuộc (1945) và trải dài qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954), địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ vẫn không thay đổi Tỉnh Cần Thơ gồm có thị xã Cần Thơ và các huyện Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Trà Ôn, Cầu Kè [116]
Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào hai năm
1948 - 1949 chính quyền kháng chiến có điều chỉnh một phần địa giới hành chính của các tỉnh Cần Thơ nhận thêm huyện Thốt Nốt (Long Xuyên), các huyện Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá (Rạch Giá) và huyện
Trang 39Kế Sách (tỉnh Sóc Trăng) Tỉnh Cần Thơ giao hai huyện Trà Ôn và Cầu Kè về tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long - Trà Vinh) [116]
Sau khi thực dân Pháp thất bại trên chiến trường Điện Biên Phủ và buộc phải ký Hiệp định Genève 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương,
Mỹ đã nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam thay thế Pháp, đồng thời dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm Địa giới hành chính cũ ở miền Nam nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng thời điểm này có nhiều thay đổi
Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm quyết định đổi tên tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh [116] và giữ nguyên cho đến năm 1975
Về phía chính quyền cách mạng, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), tên tỉnh Cần Thơ vẫn được duy trì [116]:
- Tháng 11/1954, địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ trở lại như trước khi được điều chỉnh năm 1948 – 1949
- Năm 1956, hai huyện Trà Ôn và Cầu Kè được đưa về Vĩnh Long Năm 1957 huyện Long Mỹ trở về tỉnh Cần Thơ Năm 1958, huyện Kế Sách (thuộc tỉnh Sóc Trăng) Năm 1963, huyện Thốt Nốt (Long Xuyên) cũng nhập vào Cần Thơ
- Năm 1966, thị xã Vị Thanh hình thành trực thuộc tỉnh Cần Thơ
- Năm 1969, thị xã Cần Thơ tách ra khỏi tỉnh Cần Thơ trực thuộc khu Tây Nam bộ, đến 1971 thì trở lại thuộc tỉnh Cần Thơ
- Năm 1972, thị xã Cần Thơ trở thành thành phố Cần Thơ, trực thuộc khu Tây Nam bộ
Như vậy, từ 1956 đến 1975, trong quá trình hình thành và phát triển của Viện Đại học Cần Thơ (1966 – 1975) dưới quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, tỉnh Cần Thơ mang tên tỉnh Phong Dinh
Với vị trí địa lý thuận lợi: nằm bên bờ sông Hậu, vị trí trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long, giữa một mạng lưới sông ngòi chằng chịt, lại là vùng đất phù sa, màu mỡ, quanh năm mưa thuận gió hòa đã tạo điều kiện
Trang 40thuận lợi cho Cần Thơ phát triển giao thông, trao đổi, buôn bán với các tỉnh trong vùng Thời Pháp thuộc, từ năm 1901 đến 1903, dân cư khắp nơi tụ về Cần Thơ lập nghiệp ngày càng đông, nông nghiệp phát triển nhanh, thương mại phồn thịnh Vào đầu thế kỷ XIX, nơi đây đã đứng đầu về sản xuất và phân phối lúa gạo cho cả Đông Dương, phần lớn lúa gạo miền Hậu Giang đều được chở về Cái Răng trước khi lên Sài Gòn xuất cảng Cần Thơ đã sớm trở thành thủ đô của cả miền Tây Nam bộ (Tây Đô) Tác giả Phạm Quỳnh – một nhà văn, nhà báo đầu tiên ở miền Bắc vào thăm miền Nam (đầu thế kỷ XX)
đã dành cho đất Cần Thơ những lời ca ngợi mỹ miều, qua đó ta hình dung
được hình ảnh của vùng đất Cần Thơ bấy giờ: “ … Con đường từ Long Xuyên
đến Cần Thơ tốt lắm, giữa đổ đá, hai bên trồng cây, cái xe bon bon chạy giữa, coi phong cảch rất là ngoạn mục … Cần Thơ có cái vẻ mỹ miều xinh xắn, sạch sẽ phong quan, thật xứng tên làm tỉnh đầu ở miền Tây Đường phố thênh thang, cửa nhà san sát, các nhà buôn Tây cũng nhiều hơn tỉnh khác, có chỗ coi xinh đẹp hơn ở Sài Gòn” [117] Thời kháng chiến chiến chống Mỹ, ở
vùng tạm chiếm, Phong Dinh (Cần Thơ) - trung tâm vùng IV chiến thuật cũng được Mỹ và chính quyền Sài Gòn dồn sức tập trung phát triển, điều này được chứng minh bằng sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ, Trung tâm Kỹ nghệ Tây Đô rộng 151 mẫu tây, nhà máy điện 33 MW, Nhà máy nước, đài phát thanh, đài truyền hình trên vùng đất này Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, thành phố Cần Thơ vẫn được Nhà nước xác định vị trí là trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long (Thành phố Cần Thơ ngày nay có đầy đủ điều kiện để phát triển mạnh
về mọi mặt: thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, có hệ thống giao thông trọng điểm đường hàng không, đường thủy, đường bộ của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có các khu công nghiệp lớn hoạt động hiệu quả nhất trong khu vực, có trường Đại học Cần Thơ, có đầy đủ hệ thống ngân hàng, bưu chính viễn thông và dịch vụ lớn mạnh nhất so với các tỉnh lân cận) Như vậy, chính hoàn cảnh địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Cần Thơ đã