Mục đích chọn đề tài
Dựa trên những lý do đã nêu và nội dung các chương tiếp theo, chúng tôi hy vọng sẽ làm rõ những vấn đề quan trọng sau đây:
Bài viết này hệ thống lại và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thành ngữ, bao gồm khái niệm và nguồn gốc của thành ngữ.
Làm sáng tỏ mối quan hệ thành ngữ giữa hai ngôn ngữ
Mong muốn làm rõ các giá trị phản ánh hiện thực về văn hóa qua các thành ngữ và ứng dụng trong việc dạy học thành ngữ.
Lịch sử nghiên cứu
Trong nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, nhiều nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ Nguyễn Văn Mệnh cho rằng thành ngữ mang tính hiện tượng và chỉ là cụm từ, trong khi tục ngữ là những câu hoàn chỉnh với nội dung quy luật Hoàng Văn Hành nhấn mạnh rằng việc tiếp cận bản chất của thành ngữ so sánh cần chỉ ra mối quan hệ biện chứng và định vị chúng trong hệ thống từ vựng-ngữ nghĩa Ngoài ra, các bài viết khác cũng đóng góp vào lĩnh vực này, như nghiên cứu về phương pháp trường trong nghiên cứu thành ngữ Anh – Việt và đặc trưng văn hóa dân tộc qua thành ngữ, tục ngữ.
Trong lĩnh vực thành ngữ có liên quan đến động vật trong tiếng Việt, Trịnh Cẩm Lan đã đề cập đến các thành ngữ này nhưng chưa mô tả chi tiết các nghĩa khác nhau của từng từ ngữ chỉ động vật Ngược lại, Nguyễn Thúy Khanh đã thực hiện một nghiên cứu sâu hơn về tên gọi các động vật trong tiếng Việt và đã đề cập đến “ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ so sánh có tên gọi động vật”.
Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành như:
Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt (Nguyễn Thúy Khanh, Ngôn ngữ số 3, 1994)
Các con vật và những đặc điểm của chúng được nhìn nhận qua lăng kính dân gian, từ đó được khai thác và đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt, như đã được nêu trong nghiên cứu của Phan Văn Quế (Ngôn ngữ, số 4, 1995).
Chú Chuột trong kho tàng tục ngữ, thành ngữ ca dao tiếng Việt (Phương Trang, Ngôn ngữ và Đời sống, số 1 và 2, 1996)
Ngựa trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt được nghiên cứu sâu sắc, tương tự như trong tiếng Hoa với bài viết “汉语成语新论” của Mạt Bành Linh Bài viết này đề cập đến những quan niệm mới về thành ngữ, văn hóa thành ngữ và nghiên cứu thành ngữ từ góc độ kết hợp ngôn ngữ và văn hóa Mạt Bành Linh khẳng định rằng thành ngữ là tinh hoa văn hóa của ngôn ngữ, được ví như “hóa thạch sống” và “hình nổi ba chiều” của văn hóa ngôn ngữ Ông cũng giới thiệu khái niệm “văn hóa thành ngữ” cùng với các đặc trưng cơ bản của nó Diêu Bằng Từ tiếp tục nghiên cứu từ hai phương diện, đó là sự phản ánh của văn hóa trong thành ngữ.
Sự thể hiện văn hóa thành ngữ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thành ngữ và văn hóa Dương Thúy Lan trong bài viết “汉语成语的语法功能研究” đã chỉ ra tác dụng của thành ngữ trong câu tương đương với thực từ, qua đó thống kê và phân tích rõ công năng của thành ngữ trong vai trò vị ngữ, định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ, chủ ngữ và tân ngữ Nhiều nhà ngôn ngữ khác như Hướng Quang Trung cũng đã có những nghiên cứu tương tự về chức năng của thành ngữ.
Lí Hành Kiện, Đinh Tú Cúc, Lư Trác Quần và Từ Thịnh Hằng đã không ngừng khám phá và phát triển khái niệm thành ngữ Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đi sâu vào việc phân tích ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ có liên quan đến động vật, đặc biệt là 12 con giáp.
Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về thành ngữ liên quan đến 12 con giáp trong hai ngôn ngữ Việt – Hoa Luận văn này kế thừa và phát triển các thành tựu nghiên cứu trước đó về từ chỉ động vật, trong đó bao gồm 12 con giáp, để làm cơ sở lý thuyết cho việc phân tích, giải thích và nhận định trong nghiên cứu.
Bài nghiên cứu này, mặc dù không phải là công trình đầu tiên, sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về các thành ngữ tiếng Việt có liên quan đến động vật.
12 con giáp trong sự đối chiếu với tiếng Hoa.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp cho từng phần của luận văn, bên cạnh các thủ pháp chung trong nghiên cứu khoa học để tổng hợp tài liệu hiệu quả.
Phương pháp tổng hợp tư liệu là bước quan trọng, trong đó học viên sẽ liệt kê và đánh giá các tài liệu có sẵn, từ đó rút ra nhận xét về tên gọi của 12 con giáp theo yêu cầu đề tài.
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa giúp khám phá các đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ, từ đó phát hiện những biểu trưng và biểu tượng mang tính dân tộc ẩn chứa trong các thành ngữ.
Phương pháp phân tích đối chiếu (contrastive analysis) là một công cụ quan trọng trong ngôn ngữ học đối chiếu, giúp xác định những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Hoa Đây là phương pháp cơ bản nhất để hiểu sâu về sự tương tác giữa hai ngôn ngữ này.
Chúng tôi chủ yếu sử dụng quyển “Từ điển thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Lực-Lương Văn Đang cùng với nhiều tài liệu liên quan khác về thành ngữ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo “Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông” của Nguyễn Như Ý, các nghiên cứu của Nguyễn Cung Thông về 12 con giáp, Khang Hy từ điển và Thuyết văn Giải tự của Hứa Thận.
Những nội dung dự định nghiên cứu trong luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và phần Kết luận, đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ những luận điểm trong ba chương mục như sau:
Chương I: Nguồn gốc của từ chỉ 12 con giáp trong thành ngữ Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Hoa)
Trong chương I, luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về tên gọi của 12 con giáp có nguồn gốc từ Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày cơ sở lý thuyết và nguồn gốc của các thành ngữ, đồng thời thu thập và phân loại các thành ngữ chứa từ chỉ 12 con giáp trong tiếng Việt và tiếng Hoa.
Chương II: Nghĩa biểu trưng của từ chỉ 12 con giáp trong thành ngữ Việt và tiếng Hoa
Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết và khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, đồng thời phân tích và so sánh tính biểu trưng của từ ngữ chỉ động vật trong tiếng Việt Ngoài ra, chương cũng khái quát ngữ nghĩa và văn hóa trong thành ngữ Việt – Hoa, giúp làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Đây là nền tảng quan trọng cho việc khảo sát ở chương tiếp theo.
Chương III: Một số vấn đề dịch thuật, sử dụng dạy và học trong thành ngữ
Chương III sẽ áp dụng những phân tích từ chương I và II vào thực tiễn, mặc dù không trực tiếp liên quan đến mục đích nghiên cứu chính Chương này nhằm bổ sung và phát triển nội dung của hai chương trước, nêu ra các luận điểm về dịch thuật và phương thức chuyển dịch thành ngữ có chứa từ chỉ động vật trong giao tiếp ngôn ngữ Chúng tôi cũng đưa ra yêu cầu và gợi ý cho việc dịch các thành ngữ Hoa – Việt phổ biến, cùng với các phương pháp dạy và học thành ngữ Việt - Hoa.
NGUỒN GỐC CỦA TỪ CHỈ 12 CON GIÁP TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TIẾNG HOA)
NGUỒN GỐC TÊN GỌI CỦA 12 CON GIÁP
12 con giáp là một trong những nét truyền thống văn hóa lâu đời của người
Việt Nam có một hệ thống cung hoàng đạo độc đáo, bắt đầu từ chuột, tiếp theo là trâu, rồi đến cọp, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, và cuối cùng là heo/lợn Mỗi con vật trong chu kỳ này mang ý nghĩa và đặc trưng riêng, phản ánh văn hóa và truyền thống của người Việt.
Việt, 12 con giáp dùng để ghi năm, thứ tự lần lượt là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ,
Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi là 12 con giáp gần gũi với đời sống người Việt Nam, được chia thành 3 loại Nhóm đầu tiên bao gồm gia súc gia cầm như trâu, mèo, ngựa, dê, gà, chó và heo, có vai trò quan trọng trong văn hóa nông nghiệp và được nuôi dưỡng vì mục đích kinh tế Nhóm thứ hai là động vật hoang dã như chuột, hổ, rắn và khỉ, có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống xã hội; trong đó, hổ và rắn gây sợ hãi, chuột khiến người ta ghét, còn khỉ được yêu thích vì sự hiếu động Đặc biệt, rồng là con vật duy nhất không thuộc hai nhóm trên, đại diện cho sự cao quý và may mắn, đóng vai trò quan trọng trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), vì vậy rồng không thể thiếu trong 12 con giáp.
Trung Quốc cũng có 12 con như Việt Nam, nhưng có điểm khác biệt là Việt
Nam có con mèo trong khi đó Trung Quốc lại là con thỏ
Về vấn đề nguồn gốc tên gọi 12 con giáp hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận
Nguyễn Cung Thông đã chứng minh rằng tên gọi của 12 con giáp xuất phát từ tiếng Việt thông qua nghiên cứu ngôn ngữ học Các tên gọi bao gồm Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, cho thấy sự liên kết văn hóa và ngôn ngữ trong việc xác định các biểu tượng này.
Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi Vì đứng trên góc độ là ngôn ngữ nên chúng tôi theo quan niệm của Nguyễn Cung Thông
Tý, là chi thứ nhất trong thập nhị chi, tương ứng với con chuột, được ghi nhận qua âm Hán Việt là Thử và âm Bắc Kinh là shǔ Nguyễn Cung Thông đã chỉ ra rằng từ "Tý" có nguồn gốc từ tiếng Việt Cổ, thể hiện qua các cách diễn đạt như “đưa chút tiền” hay “đưa tý tiền” Vào thời tiền Hán, với ít thanh điệu hơn, các câu này có thể được phát âm gần giống như Tý Sự biến âm t-ch ở phụ âm đầu cũng xuất hiện trong nhiều từ liên quan như tử 死 (chết), tôn 孙 (cháu), và thị市 (chợ), cho thấy mối liên hệ giữa Tý và chuột.
Chúng tôi theo quan niệm trên của ông vì nhìn nguồn gốc cách viết/ khắc cổ
[177] của 子Tý/ Tử ta thấy không có liên hệ gì đến chuột:
Thêm vào đó trong Thuyết Văn Giải Tự cách ghi 子Tý/Tử, cách giải thích là
“古文子从 巛,象髪也 cổ văn tự, tùng xuyên, tượng phát dã” cũng chẳng thấy hình ảnh loài chuột ở đâu hết [178]
Sửu, trong tiếng Hán Việt, được phát âm là 丑 (chŏu) trong giọng Bắc Kinh hiện tại Từ 牛 trong tiếng Hoa, được đọc là niú theo giọng Bắc Kinh, có âm Hán Việt là Ngưu.
Nguyễn Cung Thông cho rằng từ "Sửu" có liên quan đến dạng klu/tlu (trâu) trong tiếng Mường Theo chữ Nôm, các tổ hợp phụ âm như kl-, tl-, bl- đã xuất hiện trong tiếng Việt, ví dụ như (ba+lăng) là trăng, (cổ+lộng) là trống, (ba+lâu) là trầu, và (chu+luân) là son Hiện nay, giọng Bắc Việt có xu hướng ngạc hóa từ "trăng" thành "zăng" và "trời" thành "zời", với phụ âm đầu z hữu thanh ở cùng vị trí phát âm với s vô thanh Đây là dấu tích của quá trình ngạc hóa từ kl/tl/bl thành s Từ đó, ông thiết lập mối quan hệ giữa phụ âm đầu s-kl/tl–tr của "Sửu" và *klu/*tlu–trâu.
Chúng tôi theo quan điểm của ông, vì liên hệ l-s còn được thấy qua các cặp như: liên-sen, lôi-sấm, lục-số sáu, lực-sức,
Tóm lại, phân tích cho thấy không có sự tương quan ngữ âm giữa từ "ngưu" trong tiếng Hán và từ "trâu" trong tiếng Việt Điều này chứng tỏ rằng tiếng Hán đã vay mượn từ "trâu" (hay *klu) từ tiếng Mường.
Trong 12 con giáp của Việt Nam, con mèo đứng ở vị trí thứ 4, trong khi đó, Trung Quốc lại xếp thỏ ở vị trí này, thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa hai nền văn hóa.
HV - giọng BK bây giờ là卯mǎo theo Phiên âm phổ thông
Nguyễn Cung Thông cho rằng từ "Mẹo" và "mèo" là âm cổ hơn của "Mão", với các nguyên âm trước như "e" thường là dạng âm cổ hơn so với các nguyên âm sau như "a" Khi viết chữ Nôm từ "mẹo" (mưu mẹo), chữ "Mão" trong Hán Việt được mượn trực tiếp Từ "mưu" (謀) trong Hán Việt, phát âm ở giọng Bắc là "móu", cho thấy âm "mẹo" cũng là âm cổ của "mưu" trong tiếng Việt.
Mão, mẹo và mèo có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, vì chỉ người Việt mới sử dụng từ mèo để chỉ chi Mão Nguyên âm e trong từ mèo được xem là dạng cổ hơn của a, tương tự như các cặp từ vẽ/họa, chè/trà, hè/hạ.
Dần, là từ Hán Việt chỉ chi thứ ba trong thập nhị chi, được phát âm là 寅 (yín) trong giọng Bắc Kinh Âm Dần trong Hán Việt và yín trong tiếng Bắc Kinh có nguồn gốc từ tiếng Việt Cổ, được minh chứng qua các dữ kiện ngôn ngữ.
Dần (寅) đọc là yín trong tiếng Bắc Kinh, theo Nguyễn Cung Thông, Dần có liên hệ với kính và kễnh Ông giải thích rằng thời xưa, Dần và 夤 được sử dụng như nhau, với nghĩa là cung kính và kính trọng, do đó Dần có thể coi như tương đương với kính (敬 - jìng) Đặc biệt, chữ 獍 (jìng) trong tiếng Bắc Kinh chỉ một loài hổ dữ tợn, đến nỗi ăn thịt mẹ nó sau khi sinh ra Theo ông, kính còn có liên hệ với kễnh, vì kễnh là con cọp trong tiếng Việt, và chữ Nôm vẫn dùng kính (獍).
Thìn, trong tiếng Trung Quốc, được phát âm là "chén" và là chi thứ 5 trong mười hai chi Biểu tượng của Thìn là con rồng, hay còn gọi là long (龍 trong chữ phồn thể và 龙 trong chữ giản thể).
Tác giả Trần Ngọc Thêm liên hệ hình tượng rồng với sông thông qua âm cổ Đông Nam Á *krong/krung Ông dựa vào nghiên cứu của các học giả Nga, cho rằng rồng là biểu tượng chung của tất cả các dân tộc Việt và từ đó đã ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa.
“…hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của Âu Châu…”[113, tr.135]
Theo Lê Văn Siêu, tiếng tượng hình là hiện tượng ngôn ngữ khi âm thanh của từ gợi lên hình ảnh của đối tượng, cho phép người nghe hình dung mà không cần nhìn chữ Chẳng hạn, các từ có âm -ong/-ống thường biểu thị hình dạng cong như long, lồng, cồng, bong bóng, chong chóng, ròng rọc, lòng vòng, nòng, ống, họng Từ "cong" trong tiếng Mường, Nùng và tiếng Việt có liên quan đến từ "kong" trong tiếng Chàm, Khme.
TỪ CHỈ 12 CON GIÁP TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TIẾNG HOA) 15
1.2.1 Tổng quan về thành ngữ
1.2.1.1Khái ni ệ m v ề thành ng ữ ti ế ng Vi ệ t
Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về thành ngữ của các nhà Việt ngữ học như sau:
Theo Nguyễn Văn Mệnh, thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ có khả năng giới thiệu và miêu tả hình ảnh, hiện tượng, tính cách hoặc trạng thái Hầu hết thành ngữ đều được thể hiện dưới dạng cụm từ cố định.
Theo Hồ Lê, thành ngữ là những cụm từ có cấu trúc vững chắc và ý nghĩa sâu sắc, được sử dụng để miêu tả hình ảnh, hiện tượng, tính cách hoặc trạng thái.
Trương Đông San nhận định rằng thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ cao nhất, bao gồm từ hai thực từ trở lên, có cấu trúc và thành phần từ vị cố định, đồng thời bền vững về nghĩa Thành ngữ mang ý nghĩa bóng bẩy và biểu cảm.
Theo Nguyễn Đức Dân, thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, thể hiện lối nói và lối suy nghĩ đặc trưng của dân tộc, đồng thời phản ánh các khái niệm và hiện tượng.
Nguyễn Công Đức định nghĩa thành ngữ là những cụm từ cố định, có sẵn trong kho từ vựng, với chức năng định danh và phản ánh khái niệm một cách gợi tả, bóng bẩy Thành ngữ không chỉ có hiệu năng trong giao tiếp mà còn là đơn vị ngôn ngữ văn hóa quan trọng.
Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái và cấu trúc, mang ý nghĩa hoàn chỉnh và bóng bẩy Chúng được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ, theo định nghĩa của Hoàng Văn Hành.
Nguyễn Thiện Giáp nhận định rằng thành ngữ là những cụm từ cố định có nghĩa hoàn chỉnh và giá trị gợi tả cao Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ, giúp biểu thị các khái niệm thông qua hình ảnh và những biểu tượng cụ thể.
Thành ngữ là một cụm từ cố định, tham gia tạo câu như từ, với cấu trúc hình thái vững chắc và ổn định, tạo ra sự cố định cả về hình thức lẫn nội dung Nó mang chức năng định danh và có ý nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất Bên cạnh đó, thành ngữ còn có nghĩa bóng bẩy, gợi cảm và mang tính hình tượng cao.
1.2.1.2Khái ni ệ m v ề thành ng ữ ti ế ng Hoa
Về thành ngữ tiếng Hoa hiện nay cũng có rất nhiều định nghĩa:
Trong "成语概说," Hướng Quang Trung cho rằng thành ngữ là tinh hoa ngôn ngữ, phản ánh sự kết tinh của nhận thức và lịch sử Lý Hành Kiện định nghĩa thành ngữ là từ tổ cố định, có chức năng tương đương với từ trong ngôn ngữ, với ý nghĩa phức tạp không thể chỉ dựa vào mặt chữ Ví dụ, thành ngữ "胸有成竹" không chỉ đơn thuần là "trong lòng đã có cây trúc," mà mang ý nghĩa "trong lòng đã có dự tính." Dương Thúy Lan cho rằng tác dụng của thành ngữ trong câu tương đương với thực từ, thường có động từ, hình dung từ, phó từ và danh từ Từ góc độ văn hóa, Mạt Bành Linh xem thành ngữ là tinh hoa của ngôn ngữ văn hóa, đề xuất khái niệm "thành ngữ văn hóa."
Thành ngữ là những cụm từ cố định, được hình thành qua thời gian, mang ý nghĩa sâu sắc và dễ nhớ, thường có chức năng ngữ pháp tương đương với từ Chúng có thể chứa đựng cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực, và thường có độ dài từ 3 đến 4 chữ, mặc dù cũng có thành ngữ dài hơn hoặc chia thành hai phần với dấu phẩy.
1.2.2Nguồn gốc thành ngữ tiếng Việt so sánh với tiếng Hoa
1.2.2.1Ngu ồ n g ố c thành ng ữ ti ế ng Hoa
Thành ngữ tiếng Hoa đã được hình thành và sử dụng trong suốt quá trình phát triển lịch sử Trung Quốc Nguồn gốc của các thành ngữ này đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu.
Trong "Từ Hải 辞海", có một câu nói rằng ngôn ngữ có hai nguồn gốc: một là từ ngôn ngữ viết, tức là sách vở, và hai là từ ngôn ngữ truyền miệng, tức là các câu chuyện và câu đố được truyền lại qua lời nói.
Nghê Bảo Nguyên và Diệu Bằng Từ [148, tr52] nghiên cứu nguồn gốc thành ngữ tiếng Hoa từ 3 phương diện sau: a Nguồn gốc thành ngữ mang tính điển cố:
Nguồn gốc thành ngữ mang tính điển cố có ba mặt: truyện ngụ ngôn, truyền thuyết thần thoại, và sự kiện lịch sử
(a) Thành ngữ được hình thành từ những truyện ngụ ngôn:
Ngụ ngôn là thể loại văn học sử dụng phép nhân cách hóa để truyền đạt đạo lý hoặc nhằm mục đích châm biếm và giáo huấn Các tác phẩm nổi bật như “Chiến Quốc sách”, “Mạnh Tử” và “Trang Tử” từ thời kỳ Tiên Tần đều thể hiện rõ nét đặc trưng này.
“Hàn Phi Tử” và “Lã Thị Xuân Thu” chứa đựng nhiều ngụ ngôn quý giá, với ngôn ngữ tinh hoa được cô đọng thành các thành ngữ, trở thành di sản văn hóa lưu truyền đến ngày nay Ví dụ, thành ngữ “狐假虎威” (cáo mượn oai hùm) trong “Chiến Quốc sách” ám chỉ những người dựa vào quyền lực của người khác để áp chế người khác Thành ngữ “塞翁失马” (họa phúc khôn lường) từ triều Hán, thể hiện rằng trong cái xui xẻo có thể chứa đựng điều may mắn Còn “与虎谋皮” (bảo hổ lột da) xuất phát từ tác phẩm “Phù Tử” thời Nam Bắc Triều, mang ý nghĩa về sự mạo hiểm khi giao thiệp với kẻ mạnh.
(b) Thành ngữ hình thành từ thần thoại, truyền thuyết:
Thần thoại là những câu chuyện về thần tiên và các nhân vật anh hùng, phản ánh quan niệm ngây thơ của con người cổ đại về tự nhiên và khát vọng chinh phục thiên nhiên Các thành ngữ như "开天辟地" (khai thiên lập địa) kể rằng Bàn Cổ đã tạo ra thế giới, trong khi thành ngữ "补天浴日" (lấp biển vá trời) liên quan đến câu chuyện Nữ Oa vá trời trong thần thoại Trung Quốc cổ đại.
TIỂU KẾT
Trong chương 1, chúng tôi phân tích và so sánh nguồn gốc tên gọi 12 con giáp theo tác giả Nguyễn Cung Thông Ông đã phát hiện một số từ Việt cổ, cho thấy rằng người Việt đã sử dụng những từ này để chỉ 12 con giáp từ lâu trước khi chúng xuất hiện ở Trung Hoa.
Sự khác biệt rõ nét nhất giữa 12 con giáp của Việt Nam và Trung Quốc là việc Việt Nam sử dụng con mèo thay cho con thỏ Trong văn hóa Trung Quốc, thỏ là loài vật quan trọng, được ghi bằng chữ tượng hình 兔Thố, trong khi người Việt Nam lại chọn mèo cho chi Mão Nguyên âm e hay iê trong tiếng Việt là các dạng cổ hơn của a, cho thấy mèo là loài vật hiện diện thường xuyên hơn trong đời sống người Việt.
Thành ngữ Hoa – Việt có nguồn gốc từ ba phương diện chính Đối với tiếng Hoa, thành ngữ xuất phát từ nguồn điển cố như ngụ ngôn, truyền thuyết, và sự kiện lịch sử; nguồn phi điển cố từ các tác phẩm cổ điển và sự sáng tạo của quần chúng; và thành ngữ ngoại lai Trong khi đó, thành ngữ tiếng Việt hình thành qua ba con đường: định danh hóa các tổ hợp từ tự do, tạo thành ngữ mới dựa trên mẫu có sẵn, và liên kết các thành ngữ từ nguồn gốc khác nhau để tạo ra thành ngữ mới.
Chương 1 của bài viết tập trung vào việc phân tích các thành ngữ liên quan đến 12 con giáp trong tiếng Hoa và tiếng Việt Chúng tôi đã thu thập và sắp xếp thông tin về 13 động vật: chuột, trâu, cọp, mèo, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, và heo Phần này không chỉ cung cấp cơ sở cho việc khám phá ý nghĩa biểu trưng trong chương 2 mà còn hỗ trợ cho việc dịch thuật và giảng dạy các thành ngữ chứa từ chỉ 12 con giáp.