1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt (nghiên cứu tại huyện dĩ an, tỉnh bình dương)

212 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với nội dung: nhận thức, thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt, được thực hiện tại huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.. Nội dung cả ha

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***************

KHOA XÃ HỘI HỌC

NGUYỄN THỊ QUỲNH NGUYÊN

NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ

RÁC THẢI SINH HOẠT (Nghiên cứu trường hợp huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương)

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***************

NGUYỄN THỊ QUỲNH NGUYÊN

NHẬN THỨC - THÁI ĐỘ - HÀNH VI CỦA NGỪƠI DÂN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ

RÁC THẢI SINH HOẠT (Nghiên cứu tại huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương)

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

MÃ SỐ: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS VŨ QUANG HÀ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các dữ liệu trình bày trong luận văn là dữ liệu do chính tôi nghiên cứu và thu thập từ tháng 8 năm

2007 đến tháng 9 năm 2009 Các kết quả của luận văn chưa từng được ai công

bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác

TP Hồ Chí Minh, năm 2011 Tác giả luận văn

Trang 4

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô khoa Xã hội học, trường ĐHKHXH & NV Tp.HCM Quý Thầy Cô đã quan tâm, giúp đỡ và chỉ dẫn em một cách tận tình trong suốt quá trình em học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình

Em xin chân thành cảm ơn Thầy Vũ Quang Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn Thầy đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và luôn động viên em những lúc em gặp khó khăn trong khi thực hiện luận văn, để em có thể hoàn thành tốt cuốn luận văn của mình

Xin cảm ơn các anh chị cùng lớp, bạn bè đồng nghiệp bằng nhiều cách khác nhau đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn, nhưng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót cách này cách khác Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các anh chị và các bạn bè, để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Bình Dương, tháng 2 năm 2011 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Quỳnh Nguyên

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

1 CHXHCN: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

2 Phòng TN-MT: Phòng Tài nguyên Môi trường

3 PTTH: Phổ thông Trung học

4 Sở GT-CC: Sở Giao thông công chính

5 Sở NN&PTNN: Sờ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

6 Sở TN-MT: Sở Tài nguyên Môi trường

7 Tp HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

8 UBND: Ủy Ban Nhân Dân

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3 3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8 4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8 5 Phương pháp và kỹ thuật xử lý thông tin 9 6 Ý nghĩa của đề tài 13

7 Kết cấu của luận văn

15 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 1.1.1 Thao tác hoá các khái niệm 17

1.1.2 Lý thuyết và cách tiếp cận 21

1.1.3 Khung phân tích 26

1.1.4 Giả thuyết nghiên cứu 26

1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI Ở HUYỆN DĨ AN 1.2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Dĩ An 27

Trang 7

1.2.2 Tình hình môi trường chung và việc quản lý, thu gom, xử lý rác thải

sinh hoạt tại huyện Dĩ An

30 CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC - THÁI ĐỘ - HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ RÁC THẢI SINH HOẠT 2.1 Nhận thức của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt 42

2.2 Thái độ của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt 55

2.3 Hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt 61

PHẦN KẾT LUẬN 75

Tài liệu tham khảo 82

Phụ lục 86

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước của Đảng và Nhà nước ta đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam, nhiều vùng kinh tế trọng điểm với hàng loạt khu công nghiệp tập trung ra đời, mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần tích cực nâng cao đời sống nhân dân phát triển kinh tế Bên cạnh những mặt tích cực của nó không tránh khỏi những tác động tiêu cực xét trên phương diện bảo vệ môi trường Về tự nhiên, đất nước

ta vốn được coi là có "rừng vàng biển bạc", có tài nguyên thiên nhiên phong phú với ¾ diện tích đất đai là đồi, núi được che phủ bởi rừng, thì đến nay do nhiều nguyên nhân nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống của Việt Nam đang bị cạn kiệt và suy thoái nghiêm trọng Tại các đô thị, khu công nghiệp việc xử lý chất thải rắn, nước thải từ các hộ gia đình cũng như các nhà máy chưa được quan tâm đúng mức (rác đem chôn không đúng quy cách, nước thải thì đổ thẳng ra sông ngòi…) gây ô nhiễm một cách nghiêm trọng trực tiếp đến sức khoẻ, chất lượng sống, môi trường sống của người dân

Tuy vậy, một thực tế chúng ta thấy rằng, để tiết kiệm chi phí cho sản xuất các nhà máy không ngừng đổ chất thải thẳng ra sông ngòi bằng nhiều hình thức khác nhau, một sự kiện gây xôn xao dư luận đó là việc "Veđan giết chết sông Thị Vải", đây thực sự là một vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân và cũng từ sự việc này mà chúng ta được biết đến rất nhiều con sông khác cũng đang phải gánh chịu một lượng chất thải khổng lồ

đổ xuống hằng ngày mà chưa qua xử lý Còn người dân, một cách tự nhiên vẫn vứt rác, xác động vât, thực vật, nước thải sinh hoạt hằng ngày ra kênh rạch sông ngòi làm cho môi trường bị suy thoái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của chính người dân như: bệnh tật, nạn ruồi, muỗi,v.v Trong khi

Trang 9

đó công tác tuyên truyền, giáo dục và truyền thông môi trường chưa được đẩy mạnh: thông tin còn hạn chế, lực lượng làm công tác truyền thông môi trường còn mỏng… nên phần nhiều người dân chưa hiểu biết đầy đủ và nhận thức đúng đắn về các vấn đề bảo vệ môi trường, do vậy dẫn đến hành vi gây suy thoái môi trường một cách có ý thức hoặc vô ý thức

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà nước ta đã quan tâm thích đáng đến vấn đề môi trường trong chiến lược phát triển đất nước bằng việc ban hành Bộ luật bảo vệ môi trường, đựơc Quốc hội khoá 9, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27-12-1993 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10-01-1994 Trong Bộ luật có nêu rõ: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân" Vấn

đề này cũng đựơc thể hiện rõ hơn trong chỉ thị 36/CT-TW (ngày 25-06-1998)

của Bộ Chính trị: "Công tác bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Do đó việc giáo dục ý

thức cho người dân bảo vệ môi trường đã được tất cả các cấp, các ngành quan tâm chú ý Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng một chương trình giảng dạy

về môi trường và giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông cũng như đang

cố gắng đưa chương trình này vào giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng….Bên cạnh đó các tổ chức như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ cũng như các đoàn thể khác tại địa phương cũng tham gia tích cực vào công tác giáo dục môi trường

Tuy vậy, vấn đề nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức, các hiện tượng huỷ hoại môi trường, gây mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường tại cộng đồng vẫn còn rất phổ biến Thái độ của người dân đối với vần đề này cũng

Trang 10

đang là câu hỏi khiến chúng ta phải quan tâm Tại huyện Dĩ An, địa bàn chúng tôi thực hiện cuộc nghiên cứu cũng đang phải đối mặt hằng ngày với vấn đề này, là huyện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tỉnh Bình Dương, tiếp giáp hai thành phố công nghiệp là Biên Hoà và Tp Hồ Chí Minh, trên địa bàn huyện hiện có 06 khu và 02 cụm công nghiệp đang hoạt động sản xuất với diện tích 871,46 ha, thu hút hơn 1000 dự án đầu tư trong và ngoài nước, đan xen trong các khu dân cư có hơn 1000 cơ sở, doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh Đây chính là một áp lực lớn cho huyện

Dĩ An trong việc bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức cho người dân bảo vệ môi trường Thực tế quan sát chúng tôi thấy rằng: hằng ngày người dân vẫn phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm như bụi bặm, tiếng ồn, mùi hôi thối từ rác thải, nước thải…, ảnh hưởng trực tiếp đến mỹ quan đô thị, môi trường xung quanh cũng như sức khoẻ của cộng đồng

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình môi trường ở nước ta hiện nay nói chung và tình hình môi trường ở huyện Dĩ An nói riêng Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với nội dung: nhận thức, thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt, được thực hiện tại huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng vấn đề rác thải sinh hoạt ở huyện Dĩ An và những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành

vi của người dân Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt, nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trang 11

Vấn đề môi trường ngày nay đang là một vấn đế nóng bỏng được rất nhiều ngành khoa học, các lĩnh vực khác nhau quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu

ở mọi góc độ và khía cạnh khác nhau của môi trường Vì cuộc sống của mỗi người chúng ta nói riêng và toàn nhân loại nói chung đều không thể sống mà thiếu môi trường Tuy nhiên, điều này chỉ thật sự trở thành vấn đề sống còn khi con người gia tăng sự tác động mạnh mẽ vào giới tự nhiên, chinh phục tự nhiên gây ảnh hưởng và làm suy thoái môi trường

Trước sự suy thoái môi trường ngày càng chở nên gay gắt, con người không thể làm ngơ và đã bắt đầu những tính toán, những công trình nghiên cứu đề cập đến sự suy thoái của môi trường và sự cần thiết của việc phải bảo

vệ môi trường, bảo vệ cái nôi của sự sống nhân loại Hội nghị môi trường thế giới lần đầu tiên được tổ chức năm 1972 tại Stôckhôlm (Thụy Điển) và sự ra đời của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) là những mốc quan trọng của sự quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn cầu Cùng với những tài liệu của tổ chức quốc tế về môi trường, nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, cũng như của các nhà quản lý từ nhiều nước khác nhau đã liên tiếp được công bố Trong số các văn kiện quốc tế liên quan đến vấn đề môi trường cần kể đến: "Tuyến bố Male về sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao"; "Tuyên bố của các bộ trưởng về sự phát triển bền vững về mọi mặt môi trường Châu Á và Thái Bình Dương"; "Những nguyên tắc về quyền lợi và nghĩa vụ chung - Tuyên ngôn Rio - 92"; "Nghị định thư Ki-ô-tô - 97"

Ở Việt nam các hoạt động nghiên cứu về từng lĩnh vực của tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã có một quá trình lịch sử lâu dài Những công trình nghiên cứu của Chu Văn An, Tuệ Tĩnh từ thế kỷ XIV, Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông từ thế kỷ XVIII, Những công trình điều tra khảo sát về địa

lý, địa chất, sinh học, y dược, kinh tế, xã hội ở nước ta do những nhà nghiên

Trang 12

cứu Việt Nam và nước ngoài thực hiện trong các thập kỷ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có thể xem là những hoạt động riêng lẻ về môi trường

Nghiên cứu một cách tổng hợp về môi trường, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và các nhân tố môi trường sống của con người có thể nhắc đến một số tác giả như: Lê Quý An, Lê Thạc Cán, Nguyễn Trọng Chuẩn,… đã bàn tới các vấn đề: Môi trường sống và khai thác tài nguyên thiên nhiên, một số vấn đề về sinh thái nhân văn; ảnh hưởng của các công trình xây dựng tới các vùng đất xung quanh; các phương án bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, quan hệ giữa môi trường và phát triển

Trên phương diện quản lý nhà nước, các vấn đề môi trường đã được quan tâm và trở thành chiến lược cơ bản trong phát triển kinh tế - xã hội Các

kế hoạch 5 năm: 1981 -1985, 1986-1990, 1991-1995, 1996-2000 đã đặt ra các vấn đề môi trường, các chính sách bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên đã được tổ chức Năm 1991, Việt nam công bố kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền (1991-2000), năm 1992, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường được thành lập Năm 1993, "Luật bảo vệ môi trường" được Quốc hội thông qua Năm 1998, Hội nghị môi trường lần thứ nhất được tổ chức… đánh dấu sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề môi trường chung

Cùng với những chính sách, luật, thông tư, chỉ thị thì lĩnh vực nghiên cứu thực tế về môi trường cũng được quan tâm đúng mực Dự án "Đánh giá việc thực hiện chiến lược nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010" ThS Lê Văn Khoa - Chi cục bảo vệ môi trường, Sở TN - MT Tp.HCM, TS Nguyễn Phước Dân - Khoa Môi trường, ĐH Bách Khoa Tp HCM, đây là đề tài cấp Thành phố, các tác giả đã tập trung nghiên cứu để đưa ra những chiến lược nhằm nâng cao nhận

Trang 13

thức của người dân về các vấn đề môi trường Thông qua các chương trình cụ thể như tuyên truyền trên phương tiện truyền thông đại chúng, thành lập Ban Giáo dục Môi trường của Tp.HCM và đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình học; tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường trong các đoàn thể (Đoàn TN, hội PN, LĐ Lao động) quận, huyện, phường, xã, trường học…; Phối hợp phát động các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường (Ngày Chủ nhật Xanh, Clean up the World, Môi trường thế giới,…); phối hợp tổ chức các cuộc thi vẽ, viết, tìm hiểu về môi trường; phát tờ bướm về bảo vệ nguồn nước ngầm và các nội dung BVMT khác… Ngoài ra, dự án còn thực hiện rất nhiều các chương trình cụ thể khác trong giáo dục đào tạo, trong Sở NN&PTNT cũng như Sở GT-CC, Sở Y tế… nhằm nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề của môi trường

Tháng 9 năm 1999, tác giả Thái Thị Ngọc Dư xuất bản cuốn sách

“Nước là nguồn sống”, nội dung của cuốn sách cho chúng ta thấy được tầm

quan trọng, sự cần thiết không thể thiếu của nước đối với cuộc sống của chúng ta Những nguy cơ làm ô nhiễm nước do chính chúng ta gây ra, cũng như cách thức bảo vệ nguồn nước

Cùng tác giả này, tháng 10 năm 2003 tác giả xuất bản cuốn sách “Cùng nhau làm sạch hành tinh” nhắm vào đối tượng là các em học sinh, đây là một

cuốn sách rất có ý nghĩa và bổ ích, nó cung cấp cho không những các em học sinh mà mọi người khi đọc cuốn sách này đều hiểu được nguồn gốc của rác, những ảnh hưởng của nó đến môi trường cũng như những cách thức mà chúng ta có thể xả rác không gây ô nhiễm môi trường cũng như giữ được vẻ đẹp của thành phố

Năm 2005, một nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị cùng các tác giả , và một nghiên cứu của tác giả Trần Tâm Đan cùng các tác giả về lĩnh

Trang 14

vực nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng vì mục tiêu phát triển bền vững Nội dung cả hai cuộc nghiên cứu đều đề cập đến vấn đề vai trò và ý thức của người dân đối với vấn đề bảo vệ môi trường, những nguyên nhân tác động đến vấn đề này, vì quy mô của hai cuộc nghiên cứu tương đối lớn nên nội dung của hai cuộc nghiên cứu được thể hiện ở nhiều mặt, nhiều góc độ khác nhau của việc bảo vệ môi trường chung; môi trường nước, môi trường không khí… đánh giá nhận thức của người dân ở nhiều mặt khác nhau, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế dựa trên sự phát triển môi trường bền vững và giáo dục đạo đức sinh thái về môi trường Hai cuộc nghiên cứu này có nội dung rất gần với nội dung của đề tài luận văn nghiên cứu Tuy nhiên với quy mô lớn và nghiên cứu ở nhiều mặt khác nhau của môi trường chứ không chuyên sâu vào một lĩnh vực rác thải sinh hoạt như tác giả luận văn muốn hướng đến Do vậy, kết quả không thể hiện một cách cụ thể chuyên sâu về lĩnh vực rác thải sinh hoạt tại một khu vực xác định như nội dung của

đề tài mà tác giả luận văn nghiên cứu

Ngoài những nghiên cứu một cách có hệ thống thì những nghiên cứu mang tính chất gợi mở, phát hiện vấn đề cũng được đề cập nhiều qua các dự

án nhỏ như: dự án phân loại rác thải tại nguồn, nạo vét kênh rạch sông ngòi, các dự án tuyên truyền giáo dục người dân ý thức về việc bảo vệ môi trường qua các phương tiện truyền thông đại chúng, tuyên truyền giáo dục tại địa phương cũng được thực hiện một cách rất thường xuyên Những nghiên cứu này thường trực tiếp tác động đến người dân nên thu được những kết quả có thể nhìn thấy, qua việc nâng cao ý thức và làm cho người dân ngày một hiểu hơn về cách thức bảo vệ môi trường thông qua những việc làm cụ thể

Nhìn chung, các cuộc nghiên cứu về môi trường còn rất nhiều, nhưng ở đây tác giả chỉ liệt kê một số cột mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm của con người đến môi trường, cũng như một vài nghiên cứu mà tác gỉa thấy có

Trang 15

thể bổ sung, cung cấp thông tin cũng như những dẫn luận gần với nội dung luận văn mà tác giả có thể tham khảo phục vụ cho đề tài

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của đề tài là tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức của người dân đối với vấn đề rác thải Góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng môi trường sống

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: nhận thức, thái độ, hành vi của người

dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt

4.2 Khách thể nghiên cứu: người dân đang sinh sống ở huyện Dĩ An

nằm trong mẫu nghiên cứu của đề tài

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về mặt nội dung: đối với đề tài nghiên cứu về vấn đề môi

trường có rất nhiều ngành khoa học khác nhau quan tâm nghiên cứu và họ quan tâm nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của môi trường như chất thải công nghiệp, cách phân huỷ chất thải hữu cơ và vô cơ, cách xử lý nước thải công nghiệp, sự ô nhiễm không khí v.v Tuy nhiên, với thời gian cũng như khả năng cho phép, trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu một khía

Trang 16

cạnh của vấn đề môi trường đó là khía cạnh rác thải sinh hoạt và tìm hiểu dưới ba mặt của vấn đề đó là nhận thức - thái độ - hành vi của người dân đối với vấn đề này Chúng tôi không đi sâu phân tích các lĩnh vực khác của vấn

đề môi trường như là các lĩnh vực rác thải công nghiệp, rác thải y tế, hay rác thải công nghệ thông tin…mà cố gắng tập trung để làm rõ vấn đề rác thải sinh hoạt hằng ngày của người dân ở khu vực tác giả thực hiện đề tài

Phạm vi không gian địa lý: Đề tài được thực hiện tại huyện Dĩ An, tỉnh

Phạm Vi về thời gian: Tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2009

5 Phương pháp và kỹ thuật xử lý thông tin

5.1 Phương pháp thu thập thông tin

Để hoàn thành cuộc nghiên cứu này tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sau:

5.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Đây là phương pháp thu thập thông tin qua các tài liệu có sẵn như các bài báo, luận văn, báo cáo, thống kê từ các cơ quan truyền thông, internet, cũng như các cơ quan chức năng như UBND tỉnh, huyện, xã, khu phố, hội phụ nữ cũng như các văn bản pháp luật, nghị định có liên quan

Trang 17

5.1.2 Phương pháp quan sát

Tác giả sử dụng phương pháp quan sát, với mục đính nhìn nhận thực tế những thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải, từ đó đối chiếu với những quan điểm của họ khi được phỏng vấn để có những thông tín chính xác mang tính khách quan

5.1.3 Phương pháp thu thập thông tin định tính

Với đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính, vì nội dung cần tìm hiểu mang tính chất nhạy cảm, do vậy sử dụng phương pháp định tính có thể mạng lại những thông tin một cách chính xác hơn, bao quát hơn ở nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tác giả quan tâm

Và để có thể thu thập được một cái nhìn khái quát vấn đề này tác giả thực hiện phỏng vấn sâu từ cấp cộng đồng đến cá nhân

Phỏng vấn sâu cấp cộng đồng

Trên nền tảng thừa kế của những bài báo cáo, bài thi tìm hiểu về môi trường ở huyện Dĩ An phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình, luận văn chọn mẫu nghiên cứu cấp cộng đồng như sau:

Bảng 1.1 Danh mục phỏng vấn sâu cấp cộng đồng

01 Cán bộ phòng quản lý môi trường H Dĩ An

01

Trang 18

02 Cán bộ Công ty Môi trường

Phỏng vấn sâu cá nhân Phỏng vấn sâu cấp cá nhân là những cuộc phỏng vấn của tác giả đối với những người dân trong địa bàn nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn như sau:

Từ sáu xã và một thị trấn, tác giả chọn ra ba xã và một thị trấn, ba xã này được chọn một cách ngẫu nhiên, đó là xã An Bình, xã Tân Đông Hiệp, và

xã Đông Hoà Riêng khu vực Thị trấn Dĩ An, tác giả chọn có chủ đích, vì đây

là khu vực trung tâm của huyện và có mật độ dân số bản địa cũng như dân số nhập cư tương đối đông, đồng thời đây cũng là khu vực thực hiện việc thu gom rác theo đánh giá chung của cơ quan chức năng là tương đối tốt, và trong thị trấn cũng đồng thời đang diễn ra mô hình tự quản lý rác thải Do vậy, tác giả đã chủ ý chọn khu vực này trong mẫu nghiên cứu của mình nhằm khai thác những thông tin phục vụ cho luận văn

Trang 19

Tiêu chí của mẫu nghiên cứu

- 01 cuộc phỏng vấn nhóm các học sinh cấp 2 và cấp 3 (04 học sinh)

- 01 cuộc phỏng vấn nhóm các anh chị công nhân (06 công nhân)

- 01 cuộc phỏng vấn nhóm các chị em phụ nữ (08 người)

Chúng tôi thực hiện phỏng vấn nhóm các anh chị công nhân vì trong quá trình phỏng vấn nhóm cấp cộng đồng cũng như cá nhân, có một số quan điểm cho rằng chính sự gia tăng số anh chị em công nhân là nguyên nhân gây

Trang 20

áp lực cho việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cũng như bảo vệ mội trường Vì vậy, tác giả quyết định thực hiện phỏng vấn nhóm các anh chị em công nhân để tìm hiểu quan điểm của họ như thế nào và cũng để tìm hiểu nhận thức của họ về vấn đề này

5.2 Phương pháp xử lý thông tin

5.2.1 Phương pháp xử lý thông tin thứ cấp

Tác giả dùng phương pháp này để xử lý những thông tin có sẵn bằng cách tổng thuật, phân tích, thống kê, từ đó rút ra những nội dung cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp xử lý thông tin các cuộc phỏng vấn sâu

Với những thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu, tác giả tiến hành gỡ băng từng cuộc, lập danh mục các vấn đề cho tất cả các đối tượng được phỏng vấn và nhóm các vấn đề để xử lý thông tin định tính theo phương pháp nghiên cứu xã hội học Tất cả các nội dung nghiên cứu này sẽ được tác giả phân tích, trình bày, thể hiện trong phần kết quả nghiên cứu luận văn

6 Ý nghĩa của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Việc nghiên cứu các nhân tố: nhận thức - thái độ - hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt có ý nghĩa lý luận khoa học để tìm ra những quy luật chung chi phối hành vi của người dân Việc vận dụng lý thuyết và nghiên cứu xã hội học để phân tích và lý giải các vấn đề này là cần thiết để tìm ra các nguyên nhân sâu xa, góp phần làm phong phú thêm các cở

sở lý luận cho việc tìm hiểu các nguyên nhân chủ yếu của vấn đề, được thể hiện qua đời sống hằng ngày của người dân

Trang 21

Tìm hiểu vấn đề này giúp chúng ta hiểu và lý giải được một cách khoa học những yếu tố như văn hóa, truyền thống, lối sống, thói quen có ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân khi họ tiếp xúc với một điều kiện sống mới Nếu có sự thay đổi, thì xu hướng thay đổi thường theo chiều hướng nào Yếu tố cơ sở vật chất, kinh tế xã hội ở môi trường mới

có ảnh hưởng như thế nào đến văn hoá, lối sống đã được hình thành trong mỗi

cá nhân trước đó

Trên cơ sở đó, hoạch định những chương trình vận động tuyên truyền, giáo dục và đào tạo, hay những biện pháp chế tài phù hợp với những hoàn cảnh thực tế của địa phương, nhằm giảm tải áp lực đối với việc quản lý, vận chuyển, thu gom rác tại địa phương

6.2 Ý nghĩa thực tế

Luận văn chỉ ra các nhân tố xã hội tác động đến nhận thức - thái độ - hành vi của người dân đối với môi trường, thông qua cách họ xử lý rác thải sinh hoạt hằng ngày

Nắm bắt kịp thời các diễn biến về tình hình rác thải đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày của người dân, để thực hiện mục tiêu nâng cao nhận thức người dân về vấn đề rác thải sinh hoạt

Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo chung cho các đối tượng quan tâm về lĩnh vực này và cách riêng là đối với huyện Dĩ An, địa bàn chúng tôi thực hiện cuộc nghiên cứu, có thể tham khảo kết quả của cuộc nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tình hình rác thải sinh hoạt tại huyện, cũng như đưa ra các chính sách phù hợp nhằm giải quyết các vấn đề đang tồn tại và các cách thức nâng cao ý thức của người dân trong lĩnh vực rác thải sinh hoạt và bảo vệ môi trường

7 Kết cấu của luận văn

Trang 22

1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Gồm 04 tiểu mục: Các khái niệm, lý thuyết và cách tiếp cận, khung phân tích, các giả thuyết

1.2 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội huyện Dĩ An

Tác giả đề cập khái quát lịch sử hình thành và phát triển huyện Dĩ An,

đề cập đến thực trạng và hệ qủa tất yếu của sự phát triển đó là môi trường Từ

đó, tác giả đề cập đến thực trạng tình hình rác thải sinh hoạt, cách quản lý và thu gom, những cái đựơc và chưa được của tình hình quản lý và thu gom rác thải sinh hoạt tại huyện Dĩ An

Chương 2: Nhận thức, thái độ và hành vi của người dân đối với vấn đề

rác thải sinh hoạt

2.1 Nhận thức của người dân đối với vấn đề rác thải

2.2 Thái độ của người dân đối với vấn đề rác thải

2.3 Hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 23

Trong phần này tác giả sẽ nêu lên những phát hiện của cuộc nghiên cứu, chứng minh các giả thuyết tác giả đưa ra Trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến mang tính kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của người dân đối với vấn

đề rác thải sinh hoạt cũng như một số kiến nghị trong cách quản lý thu gom

và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Dĩ An

Ngoài những phần chính, luận văn còn có thêm các phụ phần sau: Tài liệu tham khảo

Phần phụ lục

Một số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG

Trang 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1.1 Thao tác hoá các khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm ý thức

Để hiểu và phân tích một cách khách quan đầy đủ về nhận thức, thái độ

và hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt, trước tiên chúng ta cần làm rõ khái niệm về ý thức

Khái niệm ý thức là một khái niệm có nhiều tuyến nghĩa khác nhau, nội hàm rộng và biên độ linh hoạt Xét ở cấp độ xã hội chúng ta đã có khái niệm ý thức xã hội với chủ thể là toàn bộ xã hội trong một giai đoạn lịch sử Xét ở cấp độ cá nhân chúng ta có khái niệm ý thức cá nhân với chủ thể là cá thể người Ở đây chúng ta cần đề cập đến là ý thức cộng đồng, nhưng chủ thể của

ý thức cộng đồng là gì thì theo sự hiểu biết của chúng tôi vẫn chưa có được một câu trả lời thoả đáng Tuy nhiên, trong đề tài này chúng ta có thể tiếp xúc với khái niệm ý thức cộng đồng ở khái cạnh: cộng đồng được hiểu như một xã hội thu nhỏ và ý thức cộng đồng là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng

Ý thức cộng đồng là những tư tưởng, quan điểm, lý luận cũng như tình cảm, tâm trạng, truyền thống của cộng đồng phản ánh tồn tại cộng đồng trong những giai đoạn phát triển nhất định

Nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân hay cộng đồng chính là ba mặt để nhận biết ý thức của cá nhân hay cộng đồng Như vậy ta có thể khái quát khái niệm nhận thức, thái độ, hành vi ở khía cạnh sau

1.1.1.2 Khái niệm nhận thức

Với đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm nhận thức theo quan điểm của ngành tâm lý học, xã hội học ở hai cấp độ như sau:

Trang 25

Nhận thức là một quá trình hoạt động nhằm mục đích phản ánh hiện thực khách quan với những mức độ và kết quả khác nhau

Nhận thức (quan điểm, kiến thức) của cộng đồng về những thành tố tạo nên hệ sinh thái bao quanh với tư cách là môi trường sống tự nhiên của con người, mối quan hệ tương tác giữa các thành tố với nhau và với con người Hoặc nhận thức được xem như hoạt động tâm lý nhằm mục đích hiểu biết những sự vật, hiện tượng chung quanh cũng như trong bản thân mình từ những thuộc tính bề ngoài cho đến bản chất và quy luật của những sự vật và hiện tượng đó

1.1.1.3 Khái niệm thái độ

Thái độ chính là sự phản ứng, cách thức, trách nhiệm, tình cảm của cộng đồng đối với sự tồn tại, biến đổi của hệ sinh thái dưới tác động của con người và cả cộng đồng Thái độ của cá nhân hay cộng đồng còn là sự bày tỏ đồng tình hay không đồng tình với một vấn đề nào đó, được thể hiện bằng phản ứng tốt hay xấu, hay như thế nào đó và thường được biểu hiện bằng những cách thức khác nhau với những đối tượng khác nhau

1.1.1.4 Khái niệm hành vi

Xuất phát từ nhận thức và thái độ của cá nhân, cộng đồng đối với việc duy trì sự cân bằng sinh thái, môi trường xung quanh trong sạch, sẽ có những hành vi thể hiện tương ứng

Chúng ta cũng có thể hiểu hành vi chính là cách cư xử của đối tượng trước một sự việc có đúng với các quy chuẩn của xã hội hay không Do vậy, trong cuộc sống người ta thường đánh giá hành vi của một người dựa vào những chuẩn mực có sẵn trong xã hội, dẫn đến có hành vi được xem là đúng chuẩn, nhưng cũng có hành vi bị xem là lệch chuẩn

Trang 26

1.1.1.5 Khái niệm rác thải sinh hoạt

Rác là một khái niệm chung chỉ tất cả những chất lỏng, rắn, khí… mà khi thải ra hoặc vất đi nếu chưa qua xử lý nó có ảnh hưởng đến môi trường khí hoặc nước của chúng ta

Rác thải sinh hoạt là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế,… mà con người không dùng nữa, bỏ đi Ta có thể phân loại như sau:

- Rác thô hay còn gọi là rác vô cơ: gồm các loại phế thải thuỷ tinh, sành

sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây dựng, đồ gỗ,…

- Rác ướt hay còn gọi là rác hữu cơ: gồm cây cỏ, rơm rác các loại đã bị loại bỏ như lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác từ nhà bếp, xác xúc vật, phân chăn nuôi,…

- Rác độc hại: là những phế thải rất độc hại cho môi trường và con người như pin, bình ắc quy, hoá chất, thuốc trừ sâu, bom đạn,…

Ngoài ra chúng ta còn nhiều loại rác thải khác như rác thải y tế, rác thải công nghiêp, rác thải công nghệ thông tin v.v Như vậy, rác có thể là những thứ không độc hại, không dơ bẩn và có thể dùng lại được, nhưng rác cũng có thể là các loại vật chất gây hôi thối, dơ bẩn và ô nhiễm môi trường, độc hại cho sinh vật, con người và khí quyển

1.1.1.6 Khái niệm môi trường

Trang 27

Có nhiều cách hiểu khác nhau về môi trường, tuỳ theo mục đích và nội dung nghiên cứu mà khái niệm "môi trường" được phân tích thành các khái niệm hẹp như: "môi trường tự nhiên", "môi trường xã hội", "môi trường nhân tạo", v.v Khái niệm môi trường còn được mở rộng dần tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, văn hoá và xã hội của mỗi dân tộc Với nghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh đến môi trường tự nhiên và xã hội, song vẫn nằm trong môi trường chung và cách hiểu chung đó là môi trường tự nhiên, xã hội và nhân tạo

Tác giả Hoàng Phê trong quyển "từ điển tiếng việt" cho rằng: môi trường là "toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy" Theo Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN

Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 định

nghĩa: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất, nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"

- Môi trường tự nhiên: trong quyển môi trường và tài nguyên Việt Nam

các tác giả quan niệm môi trường tự nhiên bao gồm: các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên tồn tại vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một cơ thể thống nhất, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến con người;

và chính con người cũng là một yếu tố môi trường quan trọng tác động tới quá trình vận động và phát triển của chủ thể của nó"

- Môi trường xã hội: tổng thể các quan hệ giữa người với người; định

hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng con người

Trang 28

- Môi trường nhân tạo: hệ thống môi trường do con người lợi dụng tự

nhiên, cải tạo tự nhiên mà ra "Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người "

1.1.2 Lý thuyết và cách tiếp cận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên tắc phương pháp luận của xã hội học, các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như nguyên tắc đảm bảo tính khách quan và quan điểm lịch sử cụ thể Ngoài những nguyên tắc trên, luận văn còn sử dụng một

số lý thuyết và cách tiếp cận sau:

1.1.2.1 Lý thuyết chức năng

Thuyết chức năng hay còn được gọi là thuyết cấu trúc - chức năng hay chức năng - cấu trúc gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học như: Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkeim, Talcott Parsons, Robert Merton và nhiều tác giả khác

Lý thuyết này được khởi xướng từ Châu Âu nhưng phát triển rất mạnh

ở Mỹ Các luận điểm gốc của thuyết cấu trúc chức năng đều nhấn mạnh tính cân bằng ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một xã hội tồn tại phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất

kỳ một sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo thay đổi ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó, vừa đề cao vai trò quan trọng

Trang 29

của hệ giá trị, hệ chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất,

ổn định và trật tự trong xã hội

Để luận giải một vấn đề, một sự kiện hay một hiện tượng xã hội nào thuyết cấu trúc chức năng đều hướng vào việc phân tích các thành phần tạo nên cấu trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tại, phát triển sự kiện, hiện tượng đó

Đối với đề tài nhận thức - thái độ - hành vi của người dân đối với vấn

đề rác thải sinh hoạt Có thể áp dụng lý thuyết chức năng để xem xét các hoạt động bình thường trong xã hội, đó là các hoạt động giữa các cá nhân riêng lẻ đối với các quy luật chung của xã hội, của cộng đồng nơi cá nhân sinh sống, các quy luật đó được định hình một cách ổn định - bền vững tức là ta có thể nhận thấy ở đây một tập hợp các thành phần, bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ, tạo thành một chỉnh thể tồn tại ổn định trong mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh Cụ thể ở đây là qúa trình hình thành nhận thức, thái độ, hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt được xây dựng từ nhiều yếu tố khác nhau, quá trình đó bị ảnh hưởng và chịu sự tác động từ tất cả các thành phần trong cấu trúc xã hội

Để duy trì sự ổn định này theo hướng tích cực, tức nhận thức, thái độ

và hành vi của người dân luôn đúng với những quy định chung của xã hội, cộng đồng thì cần đến những cấu trúc xã hội khác nhau tác động đến các cá nhân như: gia đình, nhà trường, tổ chức văn hoá, tôn giáo, các hội đoàn, đoàn thể ở địa phương,… luôn nhắc nhở, tác động, động viên các cá nhân, đồng thời đảm nhiệm luôn chức năng quản lý để duy trì các khuôn mẫu hành vi, các cách ứng xử của cá nhân theo một khuôn mẫu nhất định Và điều này cần được lập đi lập lại thì sẽ hình thành nên một nhận thức, một thái độ một hành

Trang 30

vi đúng Như vậy, khi các cá nhân tự nhận thức được vấn đề một cách đúng đắn sẽ dẫn đến những thái độ và hành vi đúng đắn Ngược lại, với những nhận thức, thái độ và hành vi không phù hợp với những quy chuẩn, khuôn mẫu chung của xã hội thì nhất thiết phải có những biện pháp xử lý theo văn bản, quy định chung của Nhà nước, đó là hình thức góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi người trong xã hội

1.1.2.2 Lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans

George Homans (1910-1989), nhà xã hội học người Mỹ Trọng tâm lý thuyết của ông nằm trong một tập hợp các định đề chủ yếu Khác với các nhà chức năng luận, Homans cho rằng cách lý giải hợp lý nhất đối với hiện tượng

xã hội là cách giải thích tâm lý học và các nguyên lý tâm lý học phải là những nguyên lý gốc của các khoa học xã hội trong đó có xã hội học

Theo Homans, hành vi sơ đẳng của con người được lặp đi lặp lại không phụ thuộc vào việc nó có được hoạch định hay không Hành vi xã hội sơ đẳng diễn ra dưới nhiều hình thức từ phản xạ có điều kiện đến kỹ năng, kỹ xảo rồi đến thói quen Hành vi xã hội sơ đẳng là cơ sở của sự trao đổi xã hội giữa hai hay nhiều người Ông chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội

Một là hiện thực hoá - tức hành vi phải được thực hiện trên thực tế chứ không phải trong ý niệm

Hai là hành vi đó được khen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác

Ba là người khác ở đây phải là người củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải là nhân vật trung gian của một cấu trúc xã hội nào khác

Với luận điểm này của Homans ta có thể lý giải các hành vi của cá nhân cũng như cộng đồng đối với vấn đề rác thải sinh hoạt dưới góc độ đó là

Trang 31

những hành vi được lập đi lập lại nhiều lần, trở thành thói quen và người ta làm điều này với một phản xạ tự nhiên Như vậy là họ không bị ràng buộc bởi một khuôn mẫu nào, hành vi của họ trở thành thói quen mà không có một quy luật hay chế tài nào kiểm soát Từ thói quen đó sẽ dẫn đến nhận thức của cá nhân hay cộng đồng về vấn đề rác thải sinh hoạt Nhận thức có thể là tích cực hay tiêu cực Ngoài ra, với luận điểm này chúng ta có thể áp dụng để tìm ra các biện pháp thích hợp cho việc chọn các phương pháp, cách thức tuyên truyền giáo dục người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt Cần phải làm như thế nào cho đúng đắn đó là vấn đề của các nhà quản lý Nhưng chúng ta có thể thấy rằng: sự trao đổi xã hội và mối quan hệ giữa các cá nhân thực chất là

sự trao đổi lập đi, lập lại với nhau, trên cơ sở đó Homams đưa ra một số định

Định đề giá trị: kết quả của hành động càng có giá trị cao đối với chủ thể bao nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện lại hành động đó bấy nhiêu

Định đề duy lý: cá nhân sẽ lựa chọn hành động mà giá trị của hành động đó mang lại kết quả cao và khả năng đạt được kết quả đó cao nhất

Định đề giá trị suy giảm (nhàm chán): khi chủ thể thường xuyên nhận được những phần thưởng cho một hành động nào đó, thì giá trị của nó sẽ giảm đi đối với chủ thể của hành động

Trang 32

Định đề mong đợi: khi cá nhân mong đợi một điều gì đó, điều đó được đáp ứng thì cá nhân cảm thấy hài lòng, ngược lại nếu không thực hiện được

cá nhân sẽ cảm thấy bực tức, không hài lòng.[18, tr 365]

Những định đề này sẽ cần thiết khi xây dựng các chương trình quản lý, tuyên truyền, vận động người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý rác thải sinh hoạt hằng ngày, cũng như các lĩnh vực khác có liên quan cần phải tuyên truyền giáo dục qua các phương tiện truyền thông đại chúng Thông qua các định đề này, Homans chỉ ra quá trình hình thành nên các hành vi cũng như giá trị của cá nhân thông qua sự kích thích từ bên ngoài, cũng như những phần thưởng và giá trị tinh thần khác mà cá nhân nhận được phù hợp với yêu cầu, mong đợi của cá nhân, thì cá nhân sẽ có những hành động tích cực tương ứng

1.1.2.3 Cách tiếp cận lối sống

Đây là cách tiếp cận người dân từ những hoạt động bình thường như sinh hoạt trong cộng động, cách thức họ thu gom xử lý rác thải sinh hoạt hằng ngày, thái độ cũng như hành vi của họ đối với vấn đề này, được thể hiện trong các sinh hoạt hằng ngày như thế nào Các hoạt động hằng ngày của cá nhân hay cộng đồng không thể tách rời hai yếu tố là chủ quan và khách quan vì đó

là những nhân tố cơ bản tác động đến nhận thức, thái độ cũng như hành vi của

cá nhân và cộng đồng

1.1.2.4 Cách tiếp cận văn hoá

Đây là một yếu tố quan trọng khi nghiên cứu về cá nhân hay cộng đồng, vì yếu tố văn hoá là một cái gì đó luôn tiền ẩn trong mỗi con người, nó định hướng và chi phối hành động của con người Ở những vùng miền khác nhau sẽ có những cách ứng xử khác nhau trên cùng một vấn đề Do vậy, khi nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi của người dân đối với vấn đề rác

Trang 33

thải sinh hoạt hằng ngày, cần phải đặt người dân trong mối tương quan với văn hố bản địa để cĩ được một cái nhìn, một cách đánh giá về các hành động cũng như sự kiện một cách khách quan

1.1.3 Khung phân tích

1.1.4 Giả thuyết nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đưa ra một số giả thuyết sau:

Giả thuyết 1: Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân,

cũng như chưa cĩ những chế tài hợp lý dẫn đến nhận thức, thái độ của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt chưa cao

Giả thuyết 2: Hiện nay, cơng tác tuyên truyền, giáo dục, vận động

người dân bảo vệ mơi trường chưa thường xuyên, chưa tác động trực tiếp đến người dân, dẫn đến nhận thức của người dân chưa đầy đủ về vấn đề rác thải sinh hoạt hằng ngày

Văn hoá, phong tục tập quán, trình độ học vấn,…

Luật, chính sách

bảo vệ môi trường

Nhận thức - thái độ - hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải

Trang 34

Giả thuyết 3: Yếu tố văn hoá, truyền thống ảnh hưởng đến nhận thức,

thái độ và hành vi của người dân đối với vấn đề rác thải sinh hoạt

1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG QUẢN

LÝ, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở HUYỆN DĨ AN

1.2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Dĩ An

Lịch sử hình thành của huyện Dĩ An theo sách "Gia Định thành công chí" của Trịnh Hoài Đức thì vào thời kỳ mở mang vùng đất Nam Bộ, cụ thể là năm 1698, Dĩ An thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hoà, huyện Phước Long nâng lên thành phủ Phước Long, tổng Bình An nâng thành huyện Bình An Năm

1832, nhà Nguyễn đổi tên vùng đất "Ngũ trấn" thành "Nam Kỳ lục tỉnh", trấn Biên Hoà thành tỉnh Biên Hoà có bốn huyện là Phước Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An Vùng đất Dĩ An thuộc huyện Bình An Năm 1880, thực dân Pháp sắp xếp lại cơ cấu hành chính củng cố chính trị, vùng đất lúc này một phần thuộc tỉnh Biên Hoà, một phần thuộc quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định

Từ năm 1945 đến 1975, chính quyền Ngụy thành lập quận Dĩ An trực thuộc tỉnh Biên Hoà Tháng 9-1960, khu uỷ Sài Gòn - Gia Định chia huyện Thủ Đức thành hai huyện là Dĩ An và Thủ Đức Năm 1961, sáp nhập lại như cũ Năm 1962, chia tiếp một lần nữa thành Nam Thủ Đức và Bắc Thủ Đức (gồm địa bàn Dĩ An) Tháng 7-1967, Dĩ An thành một quận của quân khu 5 Tháng 8-1971, Trung ương cục sáp nhập quận Dĩ An với quận Bắc Thủ Đức thành quận An Đức Tháng 10-1972, quận Dĩ An giao về tỉnh Biên Hoà và đến đầu năm 1974 Dĩ An giao về Thủ Dầu Một Tháng 10-1976, huyện Lái Thiêu và

Dĩ An của Sông Bé sáp nhập thành Thuận An Ngày 20-08-1999 tách làm hai

là huyện Thuận An và huyện Dĩ An Chính thức từ ngày 01-09-1999 Dĩ an đi vào hoạt động

Trang 35

Về mặt địa lý, huyện Dĩ An nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với hai thành phố là Biên Hoà và Thành phố Hồ Chí Minh, là cửa ngõ quan trọng để đi đến các tỉnh miền Trung, Tây nguyên và các tỉnh phía Bắc Với ưu thế về vị trí địa lý, thế mạnh về công nghiệp, thương mại và dịch vụ, Dĩ An trở thành huyện đi đầu, đột phá về xây dựng khu công nghiệp phát triển mạnh nhất tỉnh Bình Dương

1.1 Bản đồ địa lý huyện Dĩ An

Về công nghiệp và dịch vụ phát triển, từ năm 1995-2000, lãnh đạo huyện đã có chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Năm 2000-2005, nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khoá VIII đề ra: sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn giữ tốc độ phát triển nhanh và tương đối bền vững; tỷ trọng công nghiệp tăng bình quân 40,1%, thương mại dịch vụ tăng 30,15% và nông nghiệp tăng 2,11% Năm

2008, Dĩ An tiếp tục có sự chuyển biến về tốc độ tăng trưởng đối với từng ngành, từng lĩnh vực theo hướng duy trì mức tăng trưởng năm sau cao hơn

Trang 36

năm trước Cụ thể, giá trị sản xuất công nghiệp của huyện thực hiện đạt 26.396 tỷ đồng, tăng 21.39% so với năm 2007; còn các khu công nghiệp đã thu hút thêm 13 dự án đăng ký mới và 17 dự án bổ sung của doanh nghiệp nước ngoài với tổng vốn gần 88,5 triệu USD, cùng 6 dự án trong nước với vốn đầu tư gần 586 tỷ đồng Kết quả này đã nâng số lượng dự án đầu tư nước ngoài vào khác khu công nghiệp ở huyện lên 189 dự án với vốn đầu tư 1 tỷ

115 triệu USD và 189 dự án đầu tư trong nước với vốn 4.612,5 tỷ đồng [27]

Về thương mại - dịch vụ, dù gặp khó khăn chung về kinh tế với cả nước nhưng tình hình thương mại trên đại bàn huyện Dĩ An vẫn diễn ra mạnh mẽ Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ của huyện đạt 4.219 tỷ đồng, tăng 39,14% so với năm trước Trong năm, huyện đã cấp mới 1.657 giấy phép kinh doanh với tổng vốn 130.7 tỷ đồng, nâng số lượng cơ sở được cấp phép đăng

ký kinh doanh trên địa bàn huyện lên 9.292 cơ sở.[27]

Hạ tầng cơ sở, cùng với việc nhanh chóng vươn lên trở thành huyện có tốc độ phát triển công nghiệp và thương mại dịch vụ mạnh mẽ, huyện Dĩ An còn có tốc độ phát triển nhanh chóng trong việc hoàn thiện xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng qua việc đầu tư lớn để vừa phục vụ quá trình phát triển kinh tế vừa chỉnh trang bộ mặt đô thị Nhờ vậy hệ thống giao thông, trường trạm của huyện nhanh chóng khang trang và có thể phục vụ đời sống nhân dân trước áp lực gia tăng dân số của huyện

Riêng trong năm 2008, huyện Dĩ An đã thực hiện nhiều công trình xây dựng cơ bản với tổng giá trị thanh toán đạt hơn 151 tỷ đồng Trong đó có những công trình quan trọng như đường Dĩ An - Truồng Tre nối liền trung tâm hành chánh huyện với phường Linh Xuân, quận Thủ Đức Nổi bất nhất là trụ sở Trung tâm hành chánh huyện Dĩ An được đưa vào hoạt động tháng 12 năm 2008 Đây là trung tâm kiểu mẫu của tỉnh Bình Dương và cả nước Hiện

Trang 37

nay toà nhà đang phát huy cao nhất hiểu qua của cơ chế một cửa liên thông, đơn giản hoá thủ tục hành chánh

Song song đó, các dự án chỉnh trang đô thị cũng được huyện quan tâm thực hiện, nhiều tuyến đường trọng điểm của huyện được trú trọng đầu tư, xây dựng; các xã, thị trấn thực hiện nhiều công trình giao thông nông thôn theo hướng nhựa hoá, bê tông hoá Về hạ tầng thương mại, huyện Dĩ An đã huy động nhiều nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực này Kết quả hiện tại huyện có 17 chợ, 3 siêu thị và 2 trung tâm thương mại đi vào hoạt động ổn định góp phần tạo dựng bộ mặt cho huyện Dĩ An

Sau 10 năm tái lập, niềm vui lớn cho huyện Dĩ An là lên thị xã vào quý II-năm 2009 Đây là niềm tự hào cho Đảng bộ và nhân dân trong huyện; đồng thời cũng là luồng sinh khí mới tác động đến quá trình phát triển, tạo nên diện mạo mới để Dĩ An thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong những năm tiếp theo

1.2.2 Tình hình môi trường chung và việc quản lý, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Dĩ An

1.2.2.1 Tình hình môi trường chung ở Huyện Dĩ An

Theo báo cáo của phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Dĩ An Huyện Dĩ An với với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, hiện huyện đang có

6 khu và 2 cụm công nghiệp hoạt động trên diện tích 871,46 ha, thu hút hơn 1.000 dự án đầu tư trong và ngoài nước; đan xem trong các khu dân cư còn có hơn 1.000 doanh nghiệp, cơ sở đang hoạt động

Tuy nhiên, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở huyện chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề có khả năng gây ô nhiễm môi trường rất cao như: chế biến gỗ, sắt, thực phẩm, giấy, nhuộm, hoá chất… nhưng một số doanh nghiệp lại chưa có phương án đầu tư cho việc xử lý ô nhiễm môi

Trang 38

trường, hoặc đầu tư chưa có hiệu quả, chưa phù hợp với tình hình thực tế; một

số doanh nghiệp chưa kết hợp tốt giữa lợi ích kinh tế của doanh nghiệp với vấn đề bảo vệ môi trường; cơ sở vật chất trang thiết bị sản xuất của một số doanh nghiệp còn lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với điều kiện sản xuất đã gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, do trước đây chưa có quy hoạch sử dụng đất đai và quy định hướng phát triển các ngành sản xuất nên dẫn đến tình hình các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nằm đan xen trong các khu dân cư, trong khi

đó cơ sở hạ tầng không đáp ứng yêu cầu phát triển nên mức độ ô nhiễm môi trường là rất lớn, rất phức tạp

Thực tế chúng ta thấy rằng, việc phát triển công nghiệp sẽ kéo theo sự phát triển về dịch vụ thương mại và đặc biệt là sự hình thành các khu dân cư, khu đô thị, đã dẫn đến tình trạng phát triển cơ học về mặt dân số, làm phát sinh các khu dân cư tự phát đặc biệt là các dịch vụ nhà trọ cho người nhập cư Các khu dân cư tự phát, khu nhà trọ được xây dựng không theo quy hoạch nhất định, từ đó đẫn đến việc không đảm bảo các yêu cầu về môi trường trong các khu vực này, từ cấp thoát nước, thu gom rác, tiếng ồn, mùi hôi, an ninh trật tự, đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh hoạt cũng như sức khoẻ và cuộc sống người dân, gây bức xúc rất lớn trong cộng đồng

Trong 9 tháng đầu năm 2009, Phòng Tài Nguyên - Môi Trường huyện

Dĩ An đã tiếp nhận 93 đơn thư khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực môi trường chủ yếu phản ánh về mùi hôi, bụi, khí thải, nước thải và tiếng ồn Tăng 2.5 lần so với cùng kỳ năm 2008 (báo cáo phòng TN-MT ngày 23/09/2009) Các ngành nghề bị phản ánh chủ yếu là gia công gỗ, kinh doanh than đá, cơ khí và chăn nuôi heo Tuy nhiên, việc giải quyết của các cơ quan chức năng chưa thoả đáng, còn chậm chạp gây bức xúc cho người dân

Trang 39

Đây là khu dân cư mà nuôi heo, nước thải chảy ra ngoài ngay cạnh nhà người khác, mùi thối của phân không thể chịu được, trời mưa thì chảy ra đường, trời nắng thì hôi, ruồi muỗi đầy, người dân phản ứng rất mạnh thì chính quyền khu phố mới giải quyết, nhưng kết quả chẳng thấy đâu Phân heo bây giờ đổ ra bãi đất đó, rồi trồng rau muống ở trên Cả mấy năm rồi chẳng thấy kết quả gì [PVS, số 7, nam, 46 tuổi, kinh doanh]

Theo phòng TN - MT huyện, việc giải quyết các đơn thư tố cáo của người dân chậm là do công tác thanh, kiểm tra còn khó khăn, lúng túng trong quá trình xử lý do các văn bản luật còn chồng chéo, quy đinh chưa chặt chẽ Cộng thêm số lượng cán bộ quản lý môi trường ít, do đó phần nào đã ảnh hưởng đến kết quả và thời gian giải quyết công việc

Đối với cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, hiện trên địa bàn huyện có 21 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng Trong đó 01 doanh nghiệp đã có quyết định di dời của tỉnh là Công ty TNHH Hữu Cơ Humix ở xã Đông Hoà, 01 doanh nghiệp bị buộc ngưng hoạt động là Công ty Thuận Thành ở xã An Bình Còn lại 19 doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, hiện tại UBND huyện Dĩ An đã có phương

án xử phạt, tạm ngưng hoạt động hoặc buộc di dời Tuy nhiên, vẫn còn một số công ty chưa chấp hành quyết định xử phạt cũng như di dời của UBND huyện

Điển hình như công ty TNHH thép Việt Tiến, dù đã có báo cáo của phòng TN-MT cũng như UBND huyện Dĩ An, nhưng công ty vẫn chưa đầu tư

hệ thống xử lý khí thải cũng như chưa chịu ngưng hoạt động theo yêu cầu của UBND huyện Dĩ An Theo ý kiến của người dân xung quanh, công ty này hằng ngày vẫn xả khói với mùi rất khó chịu

Trang 40

Trung tâm chăn nuôi Bình Thắng, tuy đã nộp phạt nhưng trung tâm không thuộc thẩm quyền giải quyết của huyện Do vậy, phòng TN-MT đã có công văn gửi Sở TN - MT tiếp tục xử lý, tuy nhiên vẫn chưa có kết quả thụ lý

DNTN Sáng Du xã Tân Đông Hiệp, tuy đã đựơc cơ quan chức năng nhiều lần nhắc nhở và đã đóng phạt, nhưng đến nay công ty vẫn chưa đầu tư

hệ thống xử lý khí thải theo yêu cầu của cơ quan chức năng

Ngoài ra, huyện Dĩ An vẫn có 07 doanh nghiệp kinh doanh than đá trên địa bàn xã Bình Thắng, 01 lò thiêu Thuận An nằm trên địa bàn xã Bình An đang hoạt động Mức độ ô nhiễm do 07 doanh nghiệp và lò thiêu Thuận An gây ra là rất cao UBND huyện đã kiểm tra xử lý để làm dịu sự bức xúc của người dân trong khu vực Tuy nhiên, theo báo cáo của phòng TN - MT huyện việc xử lý còn gặp nhiều khó khăn do cơ chế xử lý Do vậy, đến nay vẫn chưa

đi đến một kết quả như mong muốn

Nhìn chung, tình hình ô nhiễm môi trường do các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đóng trên địa bàn huyện vẫn đang diễn ra một cách phức tạp, thể hiện ở nhiều mặt khác nhau, trong khi cơ quan chức năng vẫn chưa kiểm soát một cách chặt chẽ Kết qủa là đến nay vẫn còn những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn hoạt động mà chưa bị xử phạt hay di dời theo quy định

Đối với tình hình thoát nước ở các khu dân cư, đây cũng là vấn đề gây

ô nhiễm môi trường nặng nề cũng như gây bức xúc đối với người dân Trên địa bàn huyện hiện có 64 khu dân cư, (có 22 khu mới được phê duyệt trong năm 2007, 2008) đã được UBND tỉnh phê duyệt, tuy nhiên hầu hết các khu dân cư đều trong giai đoạn đầu tư cơ sở hạ tầng; Một số nằm xen lẫn trong khu vực nông thôn hoặc các tuyến đường chính; Các khu dân cư tự phát, khu nhà trọ được xây dựng không theo quy hoạch nên không đảm bảo các yêu cầu

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w