Thực ra, trong đời sống văn học nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác: cấu trúc của chủ thể và khách thể mỹ học, đặc điểm của cấu trúc h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỚI VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
Chủ nhiệm đề tài: TS VÕ VĂN NHƠN
TP HỒ CHÍ MINH 2010
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VĂN HỌC 4
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 4
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU MỚI VỀ VĂN HỌC 28
GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 28
2.1 Thơ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp 28
2.2 Văn xuôi cách mạng thời kỳ 1945 – 1954 32
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU MỚI VỀ VĂN HỌC 35
GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 35
3.1 Vụ án Nhân văn – Giai phẩm 35
3.2 Văn xuôi cách mạng giai đoạn 1955 - 1975 36
CHƯƠNG 4 VĂN HỌC Ở CÁC ĐÔ THỊ BỊ TẠM CHIẾM 39
GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 39
4.1 Văn học ở các đô thị bị tạm chiếm giai đoạn 1945 – 1954 39
4.2 Văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1955 – 1975 41
CHƯƠNG 5 NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HỌC CỤ THỂ 50
5.1 Nhận thức mới về các tác giả 50
5.2 Nghiên cứu mới về văn bản 54
KẾT LUẬN 61
THƯ MỤC THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 76
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Khoa Văn học và Ngôn ngữ là một khoa lớn, có một bề dầy trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Nhưng cho đến nay, Khoa vẫn chưa có một bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam mang dấu ấn của riêng mình, một bộ giáo trình tương đối tốt, tổng kết được những thành tựu nghiên cứu khoa học của các cán bộ giảng dạy trong khoa, để làm tài liệu học tập chính thức cho sinh viên đại học, cho học viên sau đại học và là tài liệu cho những ai quan tâm Điều đó đã khiến nhiều thế hệ lãnh đạo và cán bộ giảng dạy của khoa phải trăn trở suy nghĩ
Để bước đầu xây dựng một bộ giáo trình như mong muốn đó, bộ môn Văn học Việt Nam đã đăng ký thực hiện một loạt đề tài có tính chất tổng thuật về
những nghiên cứu mới trong từng giai đoạn văn học cụ thể Đồng thời qua đó sẽ
hệ thống lại, nhận xét và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp về những giai đoạn này
Đề tài Nghiên cứu mới về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 của
chúng tôi là một trong những đề tài đó Với nhiều tư liệu mới đã được công bố từ thời đổi mới đến nay, với rất nhiều công trình, giáo trình đã được công bố sau năm
1975, chúng tôi cố gắng hệ thống lại các luận điểm, các nhận định mới mẻ của các nhà nghiên cứu, các nhà văn về một giai đoạn văn học nhiều phức tạp và nhiều tranh cãi này
- Từ việc tổng thuật, chúng tôi sẽ hệ thống lại, nhận xét và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
Trang 4- Nhiệm vụ của công trình này chỉ là thống kê, tổng thuật những công trình, ý kiến sau 1975 về văn học Việt Nam 1945 – 1975 của các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà văn đi trước Một giáo trình mới công phu hơn, mới mẻ hơn về văn học giai đoạn này sẽ được triển khai sau
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
4 Đóng góp mới của đề tài
Tổng thuật một cách có hệ thống các công trình, giáo trình có tinh thần nghiên cứu mới về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 Nêu lên những vấn
đề cần trao đổi lâu nay của văn học giai đoạn này: các vụ án văn học, các tác phẩm
có “vấn đề”, những phát hiện mới về tác giả, tác phẩm…, từ đó nhận xét và đề xuất một hướng nghiên cứu để tiến tới xây dựng một bộ giáo trình về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 mới mẻ, phong phú và khoa học hơn
5 Cấu trúc của đề tài
Ngồi phần dẫn nhập và kết luận, công trình gồm có 5 CHƯƠNG:
CHƯƠNG 1 Đánh giá chung về văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975
CHƯƠNG này sẽ tổng thuật các công trình, các ý kiến có tính chất khái quát được viết từ sau 1975 của các nhà văn, nhà nghiên cứu, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới, để đánh giá, nhận định lại văn học Việt Nam thời kỳ 1945 – 1975
CHƯƠNG 2 Nghiên cứu mới về văn học cách mạng giai đoạn 1945 – 1954 Những nhận thức mới về thơ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, về văn xuôi kháng chiến chống Pháp
Trang 5Những nhận thức về vụ án Nhân văn – Giai phẩm và một số vấn đề của văn xuôi giai đoạn 1954 – 1975, như văn xuôi viết về đề tài chiến tranh, đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội
CHƯƠNG 4 Văn học ở các đô thị bị tạm chiếm giai đoạn 1945 – 1975 Những nhận thức mới về văn học ở các đô thị bị tạm chiếm giai đoạn 1945 – 1954 và đặc biệt là về văn học ở các đô thị miền Nam giai đoạn 1945 – 1975
CHƯƠNG 5 Một số vấn đề văn học cụ thể
Chương này sẽ giới thiệu các nhận thức mới, nghiên cứu mới về một số vấn
đề cụ thể trong văn học giai đoạn này, như việc nhận thức mới về một số tác giả,
về một số văn bản còn chưa rõ tác giả, những tác phẩm từng bị coi là có “vấn đề”
Phần Phụ lục sẽ gồm một số tác phẩm có “vấn đề”, một số các bài viết đáng chú ý từ sau 1975 và từ thời kỳ đổi mới đến nay
Trang 6CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VĂN HỌC
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
Nhiều nhà nghiên cứu thường lấy năm 1986 – năm tổ chức Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, làm điểm mốc của thời kỳ Đổi mới Thật ra trước đó khá lâu, trong cả sáng tác và lý luận, phê bình, đã có những trăn trở trong việc nhận thức lại nền văn học viết trong thời kỳ chiến tranh và việc cần thiết phải đối mới văn học Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và một số tiểu luận của Hoàng Ngọc Hiến xuất hiện vào những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80 là những dấu hiệu cho thấy điều đó
Năm 1978 với bài Viết về chiến tranh (Tạp chí Văn nghệ quân đội, số
11-1978.), Nguyễn Minh Châu là người đầu tiên đã mạnh dạn “khuấy động” không khí tĩnh lặng của văn học viết về chiến tranh trong suốt nhiều thập kỷ Nhìn lại văn học viết về chiến tranh ông không khỏi băn khoăn và đặt câu hỏi: phải viết về chiến tranh như thế nào khi mà “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn, những số phận và tính cách nhân vật cũng đã phơi bày trọn vẹn” và câu trả lời của ông là: “phải viết về con người”, viết về con người với tất
cả những mặt tính cách đa dạng bấy lâu vẫn phải “tạm thời giấu mình trên trang sách” Thật tâm huyết ông đặt câu hỏi: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước… Những người cầm bút chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ?”1
Từ ý tưởng sâu sắc trong bài viết này của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến từ góc độ mỹ học đã phát triển thành luận điểm về một “chủ nghĩa hiện thực
phải đạo” trong bài báo Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua đăng trên Văn Nghệ số 23, tháng 9 năm 1979 từng làm xôn xao dư
1
Nguyễn Minh Chu (1978), “Viết về chiến tranh”, Văn nghệ quân đôi, (11), tr.114
Trang 7luận một thời, đồng thời cũng mở đầu và kích thích những suy nghĩ tìm tòi cho những người cầm bút tìm cách đổi mới tư duy văn học: “Sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại trong sự phản ánh nghệ thuật là một đặc trưng của cái cao cả như là một phạm trù mỹ học Với ý nghĩa này, có thể nói rằng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả Nguyễn Minh Châu mới chỉ nêu lên những biểu hiện của cái cao cả trong phương thức miêu tả nghệ thuật Thực ra, trong đời sống văn học nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác: cấu trúc của chủ thể và khách thể mỹ học, đặc điểm của cấu trúc hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, đặc điểm của cấu trúc hình tượng con người mới và cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm…”2
Sớm “xét lại” văn học thời kỳ chiến tranh còn có Nguyên Ngọc Đề cương
đề dẫn thảo luận ở Hội nghị Đảng viên bàn về sáng tác văn học 1979 do ông khởi
thảo với tư cách là Bí thư Đảng đoàn đã dành một phần quan trọng để “Nhìn lại một thời kỳ văn học vừa qua”:
“Tự hào về những thành tựu quan trọng đó, phấn khởi trước sự đánh giá
cao của Đảng, chúng ta lại càng muốn nghiêm túc nhận rõ những hạn chế, những chỗ còn thiếu sót, non yếu của văn học ta trong thời kỳ lịch sử lớn này; đặc biệt chúng ta muốn nhận rõ thực chất của tình hình văn học ta hiện nay Nhìn chung,
dễ thấy ngay một sự hạn chế rõ rệt: Những thành tựu văn học của ta còn chưa tương xứng với tầm cỡ cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc mấy chục năm qua Sự nghiệp của Đảng, của nhân dân thì to lớn, hùng vĩ, sâu sắc, mà sự nghiệp văn học
ta đã đạt được thì quá nhỏ bé, mờ nhạt, nông cạn Khoảng cách giữa đời sống văn học còn khá xa”
“Nhìn lại những tác phẩm văn học được viết ra trong thời kỳ này, chúng ta thấy mặt đấu tranh xã hội - tức là mặt chuyển động trong chiều sâu của hiện thực -
2
Hoàng Ngọc Hiến (1979), “Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua”, Văn
nghệ, (23), tr.2
Trang 8được phản ánh còn mờ nhạt Dường như lịch sử được tái tạo trong văn học mới còn chủ yếu ở những đường nét lớn chung nhất, trên các sơ đồ chung nhất của nó; còn ở những tần số rung động sâu xa, tinh vi của nó chưa rõ rệt Trong văn học, lồ
lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội ngũ lớn đó thì còn khá sơ lược, giản đơn Mặt yêu nước nổi bật lên - và đây là một chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên - những mặt đấu tranh xã hội thì không rõ bằng Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh, nhưng còn tính phức tạp của đời sống thì yếu hơn Cho nên tính hiện thực của văn học có bị hạn chế
Điều này cũng biểu hiện cả trong sự mạnh yếu khác nhau của các thể loại Thơ, ký, truyện ngắn, những thể hiện chiến đấu trực tiếp, khá mạnh Tiểu thuyết - vốn là thể loại phản ánh gần và sâu hơn cuộc đấu tranh xã hội, có sức mô tả tính biện chứng tinh vi uyển chuyển hơn trong sự vận động của tâm hồn, trong số phận con người, thì ít đạt bằng Một số tiểu thuyết có thể nói chủ yếu gần như là những bài thơ hay tùy bút dài, nói chung còn quá trơn tru, dễ dãi
Nếu tính theo khu vực đề tài thì phần viết về chiến tranh cách mạng khá hơn phần viết về xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong phần viết về chủ nghĩa xã hội, cũng chỉ mới còn chủ yếu là phản ánh một bước cải tạo quan hệ sản xuất
Nếu tính theo thời gian thì sự phát triển trong khoảng những năm 60 tốt hơn, thuận hơn trong khoảng những năm 70”3
Nhưng đó chỉ là một vài tiếng nói tâm huyết lẻ tẻ, phải đến sau Đại hội Đảng lần thứ VI , khi đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam gặp gỡ hơn 100 văn nghệ sĩ đại diện cho các ngành sáng tạo tại Hà Nội,
sự phát biểu tranh luận sôi nổi về văn học 1945 – 1975 mới được bắt đầu Những ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Linh về vấn đề “cởi trói” cho văn nghệ sĩ (“trước hết Đảng phải cởi trói cho văn nghệ sĩ trong các lĩnh vực tổ chức, chính sách, các quy chế, chế độ”) đã mang đến cho đời sống văn học lúc đó một bầu không khí cởi
mở Các văn nghệ sĩ như muốn mở lòng nói thẳng, nói thật, nêu hết những ràng
Trang 9buộc, vướng mắc lâu nay để để bước vào một thời kỳ mới Báo Văn nghệ số ra ngày 17/10/1987 có bài Hai ngày đáng ghi nhớ mi tường thuật cuộc gặp gỡ, đã ghi
lại hàng loạt ý kiến nêu lên thực chất của 30 năm văn nghệ cách mạng, chỉ ra những nhược điểm trong cơ chế lãnh đạo, quản lý hoạt động văn hóa văn nghệ, những trói buộc hữu hình lẫn vô hình đã hạn chế năng lực sáng tạo của người nghệ
ở báo Văn nghệ, ở trụ sở tạp chí Cộng sản, ở thành phố Hồ Chí Minh, thu hút hàng trăm nhà văn, nhà khoa học, nhà quản lý văn nghệ
Đến ngày 29/11/1987 Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CSVN ra nghị quyết
số 05 “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”, thổi một luồng sinh khí mới vào nền văn học
Trong số các ấn phẩm về văn học nghệ thuật lúc đó, nổi bật lên là tuần báo
Văn nghệ, tờ báo mà nhà Việt Nam học người Nga Anatoli A Sokolov gọi là “thủ
lĩnh đổi mới về tinh thần ở Việt Nam”, đặc biệt là vào thời kỳ 1987 - 1988, với người đứng đầu là nhà văn Nguyên Ngọc Tờ báo đã tập hợp xung quanh mình nhiều nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động văn hóa tích cực nhất với mong muốn đổi
mạnh mẽ xã hội và văn học nghệ thuật Văn nghệ cũng công bố nhiều tư liệu lý thú
liên quan đến lịch sử và hiện trạng văn học đất nước, khơi lên những thảo luận rộng rãi về vai trò, nhiệm vụ của văn học trong tình hình hiện tại
Như trong bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Văn nghệ số 49 - 50 năm 1987) từng được coi như một hiện tượng chấn động
đời sống văn học chẳng hạn, Nguyễn Minh Châu đã nói về bi kịch đánh mất mình
Trang 10của những nhà văn trung thực, tài năng, tâm huyết và đau nỗi đau của cả thế hệ, nỗi đau về sự thất thiệt to lớn của cả nền văn nghệ minh họa “nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng”
Cũng trên Văn nghệ, Phạm Thị Hồi cho rằng mình đã “rút ra được mấy kết
luận sau đây:
Gần một thế kỷ văn xuôi, chưa có thời kỳ nào tự thỏa mãn, và dễ thỏa mãn như mấy chục năm qua… Sự tự thỏa mãn khiến chúng ta tự cô lập với thế giới, phải chăng, đây là điểm chết của nghệ thuật
Gần một thế kỷ văn xuôi, không có giai đoạn nào lạc quan, đầy thiện chí với đời sống như mấy chục năm qua Ghi nhận công lao của nó cũng không có gì sai Nhưng một nền văn học chỉ có lạc quan và đầy thiện chí, điều đó cũng nói lên một đời sống tinh thần nghèo nàn, ít biến động, dường như chỉ có kẻ thù hành chính mà không có kẻ thù tư tưởng Phải chăng đây cũng là điểm chết của nghệ thuật?
Và cuối cùng, không một giai đoạn nào văn chương giàu tính tập thể như thời kỳ vừa qua Chúng ta cùng nhau tiến lên, cùng nhau lùi xuống một cách đoàn kết; và dường như phi cá tính Sự phi cá tính này, phải chăng cũng là điểm chết của nghệ thuật?”4
Một sự kiện đáng kể trong đời sống văn học thời kỳ đầu đổi mới mới là sự
xuất hiện của công trình Một thời đại văn học mới (Hà Nội, Nxb Văn học, 1987) trong đó bao gồm bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh (Một cuộc cách mạng sâu sắc trong lịch sử văn học dân tộc; Điểm qua bốn mươi năm phê bình văn học Việt Nam hiện đại); Trần Đình Sử (Con người trong văn học Việt Nam hiện đại); Lại Nguyên Ân (Sự phát triển các thể loại trong văn học Việt Nam mới), Vương Trí Nhàn (Bốn mươi năm phát triển ngôn ngữ văn học), Ngô Thảo (Sự hình thành nhà văn kiểu mới) Công trình này nổi bật trước hết ở tinh thần sáng tạo, từ lập trường
nguyên tắc của nghệ thuật chủ nghĩa hiện thực mà phân tích và lý giải các phương
Trang 11
diện khác nhau của sự phát triển nền văn học dân tộc qua lát cắt thời gian lịch sử 1945-1985
Nhìn chung, các bài báo thời kỳ đầu đổi mới được viết trong trạng thái có phần quá xúc động của người viết, như Nguyễn Khải có lần đã tự chế diễu để từ biệt “cái thời lãng mạn”, Nguyễn Minh Châu chân thành nhưng gay gắt “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Viễn Phương đòi hỏi phải biết tự hào, quý giữ những tác phẩm văn học vô giá từng được gây dựng bằng máu xương mình
Quyển Về một số vấn đề lý luận văn nghệ cơ bản (1994) do Lê Bá Hán chủ
biên cho rằng có nhiều khuynh hướng đánh giá khác nhau về văn học cách mạng
1945 – 1975 và đã phân chia việc đánh giá này thành ba khuynh hướng chính như sau:
- Khuynh hướng thiên về lên án gay gắt nền văn học cách mạng, coi đó là thứ văn học minh họa, “quen nói một chiều”
- Khuynh hướng ra sức bảo vệ thành tựu văn học cách mạng với thái độ ít nhiều bảo thủ, có thừa nhận khuyết điểm nhược điểm của nó nhưng cắt nghĩa hoàn toàn bằng những lý do khách quan, lịch sử
- Khuynh hướng khẳng định mạnh mẽ thành tựu nền văn học cách mạng, đồng thời dũng cảm chỉ ra sự thực với tinh thần trách nhiệm, cố gắng tìm tòi để khái quát bản chất nền văn học dân tộc trong một thời kỳ lịch sử đặc biệt
Khuynh hướng thứ nhất:
Những người thiên về lên án khá gay gắt nền văn học cách mạng đã chỉ ra các Nguyên nhân khác nhau về nhận thức lý luận về lãnh đạo quản lý… Khiến cho nền văn học ấy phiến diện “suy tư tưởng”, chỉ mang tính chất minh họa, tuyên truyền
Nhiều ý kiến đã phê phán nền văn học cách mạng thông qua sự bàn bạc về mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị Không khó hiểu điều này bởi mối quan
hệ giữa văn nghệ với chính trị là vấn đề có tính lý luận – thực tiễn hết sức quan trọng, quyết định trực tiếp bản chất nền văn học cách mạng Hồ Ngọc cho rằng
Trang 12vấn đề mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị ở ta chưa bao giờ được đề cập một cách công khai và được giải quyết một cách đầy đủ, đến nơi đến chốn Theo Hồ Ngọc “văn nghệ và chính trị là hai hình thi ý thức nằm chung trong một thượng tầng kiến trúc” có mối quan hệ biện chứng và phức tạp Đó là mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất “Vậy mà – Hồ Ngọc viết: “chúng ta đã đồng nhất thậm chí đồng hóa văn nghệ với chính trị, coi văn nghệ là công cụ của chính trị, phục vụ chính trị một cách thô thiển, đơn giản… biến văn nghệ thành vũ khí tuyên truyền…”5 Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Trước đây ở ta chính trị gò bó văn nghệ… Chính trị cần tuyên truyền thì đẻ ra văn nghệ minh họa, văn nghệ do làm cái việc tình cảm hóa những nội dung chính trị nên không có văn nghệ lớn… Ở ta lâu nay chủ nghĩa anh hùng là nhân danh cộng đồng, còn khi nhân danh cá nhân người ta lại hèn Thế mà văn học lại là tiếng nói nhân danh cá nhân”6
Trong một cách nói khác, Lưu Quang Vũ phê phán “sự bao cấp về tư
tưởng” từng phổ biến một thời kỳ Lại Nguyên Ân nêu lên sự mất dân chủ, mất tự
do của văn nghệ trước chính trị qua việc phê phán chính sách bao cấp trong văn nghệ thời gian qua: “Ở ta, hậu quả bao cấp trong văn nghệ biểu hiện rõ nhất ở chỗ
đã biến văn nghệ sĩ thành cán bộ nhà nước, thành viên chức ăn lương để làm văn nghệ - một tình trạng na ná “tao đàn” của văn nghệ quan phương”7
Mạnh bạo hơn, ở một bài viết trên tạp chí Sông Hương, Nguyễn Ngọc Thiện kết luận: “Văn học nghệ thuật trở thành một công cụ tuyên truyền, một sự
hỗ trợ cho thói sính rao giảng đạo đức sống sượng Người quản lý và công chúng hình như có lẽ bằng lòng với loại tác phẩm văn nghệ nghèo nàn, đơn điệu, rập khuôn, giả tạo, cốt để kiếm tiền và làm hài lòng một số người nào đó… Công khai hay ngấm ngầm đã có một sự coi thường rẻ rúng văn nghệ 8
Lý giải tình trạng nghèo nàn của văn học cách mạng mấy chục năm qua, một số nhà nghiên cứu khác tập trung chú ý vào thực tiễn nhận thức vấn đề văn
Trang 13học phản ánh hiện thực, nhận thức về chức năng của văn học Tiêu biểu cho luồng
ý kiến này trước tiên cần kể tới tiểu luận “Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực” của Lê Ngọc Trà trên báo Văn nghệ số 20, ra ngày 14 – 5 – 1988 Mở đầu Lê Ngọc Trà nêu vấn đề: “Thế là rốt cuộc sau nhiều năm do dự, thì thầm, lần đầu tiên chúng ta đã có can đảm nói to lên, nói công khai một sự thật: văn học cách mạng của chúng ta còn nghèo nàn… Tình trạng nghèo nàn của văn học cách mạng vừa rồi có nhiều nguyên nhân: sự lãnh đạo đối với văn nghệ, mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, trình độ tư tưởng và nghề nghiệp của người sáng tác, v.v… Song theo chúng tôi, còn một mặt quan trọng nữa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn cần
“tháo gỡ” trong nhận thức của giới lãnh đạo, sáng tác và cả lý luận phê bình, đó là vấn đề văn học và hiện thực Từ đó, trong bài viết này, Lê Ngọc Trà chỉ ra chỗ sai lệch trong quan niệm của chúng ta lâu nay về nhiệm vụ, chức năng của văn học Điểm sai lệch lớn nhất – dần biến thành thói quen – là đã nhấn mạnh quá mức bản chất phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn học”, “đã khuếch đại nhiệm vụ
mô tả hiện thực và coi nhẹ nguyên lý tìm tòi – thể hiện tư tưởng trong nghệ thuật” Văn học ngày một nghèo đi chính vì “lâu nay nhiệm vụ đặt ra đối với người sáng tác chủ yếu là người phản ánh đời sống cho chân thực và phù hợp với quan điểm của Đảng” Tác giả đặc biệt chú ý phân tích hai hạn chế cơ bản của nền văn học cách mạng mấy chục năm qua do sự phiến diện trong nhận thức lý luận, trong chỉ đạo, trong thói quen sáng tác như vậy Một mặt, văn học thiếu chất triết học, chưa đạt tới “chiều sâu của sự khái quát, khả năng vươn tới những tư tưởng có tầm nhân loại cũng như cách lý giải hiện thực độc đáo, bộc lộ bản lĩnh và cách nhìn riêng của nhà văn về thế giới” (tình trạng “suy tư tưởng”); mặt khác, gắn liền cùng sự
“không chú ý đến mặt chủ quan của nội dung nghệ thuật” ấy là việc lãng quên, tránh né phần chủ quan, cá nhân riêng tư của đối tượng phản ánh Theo Lê Ngọc Trà, “một trong những yêu cầu đối với các tác phẩm về chiến tranh và cách mạng
là nhà văn phải miêu tả được số phận con người trong cơn lốc của lịch sử Văn học không nên phản ánh con người chỉ thông qua mô tả lịch sử mà phản ánh lịch sử thông qua mô tả số phận con người” Vậy mà, “nhiều năm qua, văn học ta có công
Trang 14xây đắp hình tượng lịch sử, Tổ quốc, nhân dân, quần chúng Nhưng chúng ta quá say sưa với những cái có tính chất “sử thi”, với các hình tượng tập hợp về con người mà ít chú ý đến việc miêu tả các số phận, xây dựng những hình tượng độc đáo về cá nhân con người, về đời thường con người thường chỉ được mô tả qua vài nét chấm phá trong bức tranh chung vẽ cả khối quần chúng nhân dân vĩ đại
Gần gũi với các suy nghĩ trên của Lê Ngọc Trà, song đứng từ phía những người sáng tác từng lăn lộn nhiều trong thực tiễn đấu tranh cách mạng và đã từng đạt được một bề dày đáng chú ý trong thành tựu sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu trang trọng và thiết tha “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”9 Qua những lời tự kiểm điểm sâu sắc, chân thành, qua những ước mong nóng bỏng của một nhà văn nhiều kinh nghiệm và giàu tâm huyết, chúng ta thấy toát lên hai vấn đề lý luận lớn: quan hệ giữa quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ với sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn hóa văn nghệ, quan hệ giữa văn học với “tất cả đời sống hiện thực đa dạng và rộng lớn” Nguyễn Minh Châu
đã đặt vấn đề một cách thật nghiêm túc, đúng đắn rằng: “chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hành trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện
và thực sự cầu thị để, một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán thấy cho được rằng: có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi đó lại đòi hỏi có nhiều tác phẩm lớn Thật là mâu thuẫn Chẳng khác nào trói lại rồi bảo đố mày bay lên!! Với sự day dứt chân thành, một động cơ đáng quý, nhà văn đã bày tỏ được những suy nghĩ, những ước muốn chính đáng Nhưng
có lẽ cũng do quá nồng nhiệt, quá xúc động – cái trạng thái nồng nhiệt, xúc động thường tình, đáng cảm thông ở một nghệ sĩ đang có nhiều trăn trở trong không khí đổi mới cởi mở – phải chăng Nguyễn Minh Châu có lúc đã quá đà, thiếu công bằng khi nhìn nhận lại thành tựu mấy chục năm văn nghệ cách mạng Ngay cái tên
đề bài viết, theo chúng tôi cũng đã thể hiện tính chất ấy Vì thế, không ít người
9
Nguyễn Minh Chu, “Hy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, VN, số 49 – 50, ngày
Trang 15cảm thông với tấm lòng của Nguyễn Minh Châu, đồng thời muốn bàn bạc lại với nhà văn về một số suy nghĩ, về cách diễn đạt trong bài viết này
Ngoài các vấn đề mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, tính dân chủ trong cơ chế lãnh đạo, quản lý, quyền tự do tìm tòi, sáng tạo của văn nghệ sĩ, văn học phản ánh hiện thực… một số ý kiến nữa thiên về phê phán nền văn học cách mạng còn liên quan đến một vấn đề lý luận khác cũng không kém phần quan trọng – đó là phương pháp sáng tác của nền văn học mới Nguyễn Khải tâm sự: “Nhiều khi tôi cảm thấy cái hiện thực xã hội chủ nghĩa cứ làm hại mình, vì hiện thực xã hội chủ nghĩa là không được phê phán, là cuối cùng phải tốt đẹp, cứ đến đoạn kết thì mình phải lãng mạn Cả một mảng viết nông nghiệp của tôi coi như bỏ đi…”10 Nhà văn xem chặng đường mấy mươi năm qua lắm khi mình đã sống và viết trong
“cái thời lãng mạn” mà bây giờ cần phải tự phê bình Hồng Ngọc Hiến nêu suy nghĩ: “Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng cần được xem lại Tôi thấy đây là một khái niệm giả đã gây đau khổ kéo dài cho cả nghệ sĩ, cả nghiên cứu lẫn lãnh đạo Nó lúc đầu được nêu lên như một ngọn cờ, và đã có sức tập hợp vẫy gọi Nhưng tai hại là ở chỗ từ một ngọn cờ, người ta lại định biến nó thành một khái niệm học thuật để làm sang cho nó, chứng minh nó là phương pháp sáng tác, biến
nó thành vạn năng Sự luận chứng này là vô bổ, không cần thiết Đảng cần gì ở nhà văn, cứ nói thẳng, không cần vòng qua khái niệm này.11
Khuynh hướng thứ hai:
Tinh thần cơ bản của những ý kiến thuộc khuynh hướng này là khẳng định mạnh mẽ thành tựu nền văn học cách mạng, có thừa nhận một vài nhược điểm, khuyết điểm của nó nhưng quy nguyên nhân chủ yếu do điều kiện lịch sử khách quan, do hoàn cảnh chiến tranh Hầu hết các ý kiến này cũng được phát biểu trong không khí trao đổi, thảo luận
Đỗ Văn Khang đã phê phán khá gay gắt các luận điểm, các khái niệm, thuật ngữ mà Hoàng Ngọc Hiến đưa ra để đánh giá bản chất nền văn học cách mạng, đã
Trang 16khẳng định sự tồn tại đích thực và tính ưu việt của phương pháp sáng tác hiện thực
xã hội chủ nghĩa12 Uyển chuyển hơn, Phương Lựu cho rằng “chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa với tư cách là một phương pháp sáng tác là một vấn đề học thuật, cần phải được tiếp tục tìm tòi” và “chỉ có những quan niệm lỗi thời về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mới bị tiêu vong, còn bản thân nó vẫn tồn tại bằng cách không ngừng đổi mới theo sự phát triển của thực tiễn cách mạng và ý thức hệ Mác – Lênin”13 Gần với suy nghĩ ấy, Nguyễn Minh Tấn khẳng định: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã lôi cuốn nhiều nhà văn, nhà thơ thuộc nhiều trường phái hòa nhập vào dòng văn học cách mạng, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị trong suốt một chặng đường dài qua Cách mạng tháng Tám thành công đến kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày nay: “Chúng ta đã có một nền văn học độc đáo sản sinh ra nhiều tác phẩm hay thực sự đi vào lòng người của một đội ngũ văn nghệ sĩ tài năng và tâm huyết… Những thành tựu đó là độc đáo mang giá trị trường tồn” Đồng thời với việc khẳng định này, Nguyễn Minh Tấn cũng đã chỉ
ra hạn chế của công tác nghiên cứu lý luận ảnh hưởng tới thành tựu của sáng tác:
“một thời gian dài, chúng ta đã không quan tâm đầy đủ tới quy luật sinh thành và phát triển của chính văn học nói chung, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa nói riêng” cho nên “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã bị bó cứng trong những nguyên tắc” rồi biến thành những “bộ luật trói buộc người nghệ sĩ vào những điều càng trở nên xơ cứng”14
Nhìn lại các bài viết đánh giá bản chất nền văn học cách mạng, Phan Cự Đệ cho rằng có những nhận định về quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ, về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị có màu sắc cực đoan và phản khoa học Ông không tán thành nhận xét về “xu hướng chủ đạo của văn nghệ”, trong 30 năm chiến tranh (tuyệt đối hóa chính trị, đồng nhất chính trị với văn nghệ, đồng nhất phê bình văn học với phê bình tuyên huấn), nhận xét về “sự độc đoán và chế áp
Trang 17của lãnh đạo văn nghệ” (do sự chuyên quyền độc đoán nên mấy chục năm qua tự
so sáng tác chỉ có đối với thứ văn học minh họa) Thao Phan Cự Đệ cần trân trọng thành tựu to lớn của nền văn học cách mạng, cần phải khẳng định tính hoàn toàn đúng đắn, khoa học của đường lối văn nghệ của Đảng ta, có sai sót gì chăng thì
“đó là việc làm của một vài tổ chức, một số cơ quan, một vài tạp chí… Không thể quy vào sự lãnh đạo của Đảng hay chủ trương của đội ngũ lý luận phê bình”15 Cùng hướng suy nghĩ này, khá đông nhà văn nhà thơ đã bày tỏ thái độ trân trọng, ngợi ca thành tựu của mấy mươi năm văn học cách mạng Hồ Phương đòi hỏi phải
có thái độ trân trọng trong công việc đổi mới văn học và đánh giá lại văn học cách mạng – “dân chủ không có nghĩa là thỏa sức ăn bừa nói ẩu…”16 Viễn Phương yêu cầu “không nên nâng súng nhằm vào quá khứ” Theo nhà thơ, những năm gần đây
có những tác phẩm làm xôn xao dư luận, “các anh đã mổ xẻ những chân thần kinh nhỏ nhất của xã hội, của con người Thật là đáng mừng hết sức Nhưng tôi nghĩ rằng những tác phẩm rất đáng quý ấy vẫn chưa vượt được những nhà văn học của thời kháng chiến”17 Bùi Hiển quan niệm rằng chính sự nghiệp chiến đấu và xây dựng vĩ đại của dân tộc suốt 30 năm qua đã tạo nên cho văn học cách mạng những sinh khí mạnh mẽ, hào hùng: “Cảm hứng lịch sử, cảm hứng nhân dân quả là xuất phát điểm lớn và niềm thúc giục đẹp đẽ đối với anh chị em cầm bút Nếu chưa thật dồi dào chất khái quát, suy tưởng, các tác phẩm thơ văn ít ra đã làm được công việc phản ánh, miêu tả, tái hiện bức tranh xã hội, đất nước qua bao thử thách ngặt nghèo, có màu sắc, hình dáng, tâm hồn có hơi thở thời đại mạnh mẽ và nóng hổi” Cũng trong mạch suy nghĩ này Bùi Hiển cắt nghĩa tại sao trong thời kỳ ấy anh chị
em nghệ sĩ chưa phát huy được nhiều những cá tính độc đáo, những bản sắc riêng, phong cách riêng Theo nhà văn, bên cạnh “một quan niệm lãnh đạo, chỉ đạo nào
đó trong từng lúc, từng nơi đã tỏ ra thô thiển, thiên về thực dụng, có khi biến thành
sự kiểm soát gò bó, khắt khe” thì Nguyên nhân chủ yếu là từ hoàn cảnh khách quan: “trong cuộc chiến đấu ác liệt chống hai đế quốc Pháp, Mỹ… bản lĩnh ngòi
Trang 18bút nhà văn trùng hợp, hòa quyện làm một với bản lĩnh kiên cường của toàn dân tộc”, hay: “Cần phải tính đến 30 năm chiến tranh ác liệt (phần nào có cả hình thức nội chiến) v đất nước chia cắt kéo dài Có nhiều điều không thể nói đủ, nói hết, nói cặn kẽ”18
Phản ứng trước thái độ xem thường vai trò, tác dụng của văn học trong đời sống cách mạng hào hùng mấy chục năm qua, không đồng tình với sự tiếc nuối, hối hận quá mức ở một số người thuộc khuynh hướng thứ nhất, còn nhiều người viết nữa cũng bảo vệ khá dứt khoát vẻ đẹp rực rỡ, công lao to lớn của nền văn học dân tộc thời kỳ chiến tranh Nhân bàn về “vấn đề hôm nay của phê bình văn học”, Lâm Vinh viết: “Văn học bao giờ cũng là văn học của một thời Hiếm có văn học của vĩnh cửu Văn học thời chống Pháp, chống Mỹ của ta đã làm được nhiệm vụ
vẻ vang của nó, không ít tác phẩm hay, dù là minh họa Nó đã góp phần quan trọng cổ vũ nhiệt tình yêu nước, tinh thần lạc quan chiến đấu vì độc lập tự do của
Tổ quốc trong thời kỳ đó Nếu đứng trên tình thế bây giờ để phán xét và phủ định
nó là bất công và phi lịch sử”19 Nguyễn Thị Như Trang chân thành và mạnh mẽ bày tỏ suy nghĩ của mình: “Cái khuynh hướng phủ nhận giai đoạn văn học vừa qua trong đó kể cả những tác phẩm về chiến tranh mà có không ít người hưởng ứng đã thật sự làm cho tôi ngạc nhiên Tôi tự hỏi có sức ép khách quan nào đủ mạnh đã cưỡng chế chúng ta viết nên những “Chiến sĩ quân bưu”, “Tiểu đội xe không kính”, “Mảnh trăng cuối rừng”, “Gió Lào cát trắng”, “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi”… Liệu có sức ép nào có thể khiến chúng ta viết nên những trang sách xúc động, đầy tâm huyết, bằng tất cả sự rung động của trái tim như thế này chăng? Quyết rằng không! Văn học chỉ có thể đi vào lòng người khi những tình cảm tốt đẹp trong lòng mỗi người cầm bút gặp gỡ hòa đồng với lý tưởng chung của thời đại và mục đích cách mạng cũng chính là những thôi thúc nội tâm của nhà văn Vì thế, mặc dù rất quý trọng nhà văn Nguyễn Minh Châu, tôi vẫn cho lời ai điếu của anh là sự nhạy cảm thái quá của người cầm bút, là sự bốc
18
Thảo luận bn trịn Văn nghệ ta đổi mới trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, tạp chí Cộng sản, số 4-1988
Trang 19đồng thường gặp trong tính cách nghệ sĩ mà thôi Cần phải công bằng trong việc đánh giá những công việc chúng ta đã làm trong mấy chục năm qua”20 Còn dứt khoát hơn các tác giả trên, Lê Quang Trang khẳng định: “Những ai nghiêm khắc
và thành tâm đều có thể thấy những khuyết điểm, sai lầm của nó, nhưng cái công lớn của văn học 40 năm qua là điều không thể chối cãi, không thể phủ nhận Dù với bất cứ động cơ nào, cách đánh giá bất công đều là không đúng đắn, thậm chí là tội lỗi, biểu hiện thái độ bạc bẽo vô ơn đối với máu xương và tâm sức của cả dân tộc”21
Khẳng định thành tựu lớn lao của nền văn học cách mạng là cần thiết và đúng đắn Nhưng khẳng định đến mức độ nào và tìm các Nguyên nhân cắt nghĩa những khuyết điểm, nhược điểm của nó ở đâu thì lại là vấn đề không dễ Các ý kiến nêu trên dường như đã hơi thiên lệch khi ngợi ca, đã chưa đầy đủ khi cắt nghĩa Hơn nữa, có nhà nghiên cứu còn cứng nhắc, bảo thủ khá rõ khi đề cập tới các vấn đề lý luận văn nghệ đang cần khơi sâu, hiểu rộng, khi đánh giá nền văn nghệ sưới sự lãnh đạo của Đảng Chẳng hạn, Vũ Đức Phúc viết: “xung quanh vấn
đề văn nghệ và chính trị là các vấn đề tính Đảng, lý tưởng xã hội chủ nghĩa của nhà văn, là nguyên tắc Đảng lãnh đạo văn nghệ” và “cảm thấy mừng là trong nghị quyết của Bộ chính trị vẫn giữ lại các nguyên lý ấy” Từ cái “mừng” này, ông đã
tỏ ra bảo thủ khi vội khẳng định, khái quát: “đấy là những điều không thể và
không nên đặt lại, bàn lại, nếu không sẽ rơi vào quan điểm tư sản Chính trị chi phối văn nghệ, là một quy luật không thể cưỡng được Chính trị tốt thì văn nghệ tốt, chính trị xấu thì văn nghệ xấu”22 Thực ra trong nghị quyết của Bộ chính trị, việc giữ lại tinh thần cốt lõi của nguyên lý, nguyên tắc không hề ngăn cản sự hết sức cần thiết phải kịp thời “đổi mới và ngâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn hóa văn nghệ” bởi đó là “yếu tố có ý nghĩa quyết định để khai thác mọi tiềm năng
Trang 20sáng tạo, phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ một cách thuận lợi.”23 Giữ
nguyên lý không có nghĩa là xem nguyên lý là một tín điều bất di bất dịch không thể đặt lại, bàn bạc nhằm nhận thức nó sâu sắc hơn, vận dụng nó có hiệu quả hơn Cần phát triển nguyên lý đó như thế nào, điều chỉnh những phương diện khiếm khuyết của nó, thực hiện ra sao cho phù hợp với quy luật sáng tạo của văn nghệ, với tình hình lịch sử mới vẫn đang là đòi hỏi chính đáng của lý luận và thực tiễn sáng tác của chúng ta Nếu như ở khuynh hướng thứ nhất, có người đã dè bỉu thứ văn nghệ quan phương, đã nêu ra hai thứ bá quyền: “bá quyền chính trị” và “bá quyền văn nghệ” thì Vũ Đức Phúc lại đi sang cực đối lập khi lớn tiếng: “Trong một thời gian dài ở ta văn nghệ và chính trị là thống nhất… Đảng đã chỉ đường, đã cứu cả một nền văn nghệ, đã đánh giá cao di sản Phải nhớ điều đó, không được vô
ơn Các anh nói đổi mới, cải tổ Tôi thấy cứ phải chờ xem, đừng vội ngưỡng mộ những thần tượng cải tổ, đừng vội xét lại các nguyên tắc Các văn nghệ sĩ không thể góp ý kiến cho Đảng vì Đảng đúng, đánh Pháp, đánh Mỹ đều đúng, xây dựng chủ nghĩa xã hội lúc đầu rất tốt, chỉ sau 1975 mới phát sinh tiêu cực…”24 Những suy nghĩ cùng cách phát biểu như thế rõ ràng thể hiện một kiểu tư duy cứng nhắc, một thái độ bảo thủ trái với yêu cầu đổi mới tư duy, khó lòng được đông đảo bạn đọc chấp nhận
Khuynh hướng thứ ba:
Khuynh hướng của những nhà lý luận nghiên cứu hoặc sáng tác, một mặt khẳng định những thành tựu to lớn của nền văn học cách mạng, mặt khác, thẳng thắn chỉ ra hạn chế, nhược điểm của nó Họ có cái nhìn toàn diện hơn khi nêu ra các nguyên nhân Họ có cố gắng tìm tòi, khái quát diện mạo, bản chất của nền văn học dân tộc thời kỳ chiến tranh mặc dầu các khái niệm mà họ đưa ra có những chỗ đang cần phải bàn bạc lại
Trang 21Phong Lê cho rằng cần phải bàn lại xem văn học của chúng ta mấy chục năm qua phải chăng chỉ là văn học minh họa: “Quả có bệnh đó trong văn học ta, nhưng cho đó là căn bệnh cố hữu, bao trùm tất cả thì oan cho văn học ta quá” Theo Phong Lê, “ngay trong hoàn cảnh chiến tranh, văn học ta cũng tạo được những giá trị xứng đáng”, những tác phẩm có giá trị ấy có tác dụng cổ vũ, động viên lớn lao quần chúng nhân dân chiến đấu và vẫn đứng vững với thời gian25 Mặt khác,“cái phần yếu, phần bất cập, phần phiến diện, chỉ tô đậm một phía của sáng tác, so với hiện thực, với yêu cầu của công chúng hôm nay, và ngay cả hôm qua nữa, cũng phải chỉ ra cho cặn kẽ, có thế mới có hướng tích cực cho sự đổi mới” Phong Lê đã “chỉ ra cho hết” Nguyên nhân của tình trạng đó: “do hoàn cảnh chiến tranh, do bộ phận lãnh đạo, chỉ đạo có mặt thiển cận, thiếu tầm nhìn xa; do
sự non yếu của giới lý luận phê bình; và cũng có Nguyên nhân ở chính bản lĩnh và tài năng của người sáng tác nữa chứ”26
Trong cố gắng nhận diện một cách sâu sắc hơn đặc điểm của văn học dân tộc thời kỳ chiến tranh, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét, những khái niệm đáng chú ý Ở đây cần kể đến khái niệm văn học sử thi từng được không
ít người đề xướng và khái niệm văn học âm tính dương tính của Hoàng Ngọc Hiến cũng từng gây nên sự hứng thú hoặc băn khoăn cho nhiều người
Ở bài viết Văn học Việt Nam trong bước ngoặt chuyển mình Lã Nguyên
nhận xét: “Trước 1975, văn học ta căn bản là nền văn học sử thi So với văn học tiền chiến, nhân tố cách tân nghệ thuật quan trọng bậc nhất của nó là sự phát hiện
ra nội dung cộng đồng trong đời sống xã hội và phương diện cộng đồng trong ý thức cá nhân Chưa bao giờ những hình tượng tập thể, hình tượng Tổ quốc, nhân dân… hiện lên trong văn học rực rỡ và đẹp đẽ đến như thế! Cũng chưa bao giờ cái tình của con người đối với Tổ quốc, nhân dân, tình đồng chí, đồng đội… được văn học thể hiện sâu sắc và cảm động đến như thế!” Nguyên Ngọc cũng cho rằng văn học cách mạng 1945-1975 “là một nền văn học sử thi Nền văn học ấy như một đài
Trang 22kỷ niệm trang nghiêm của một thời hùng vĩ, những phần ưu tú nhất của nó còn đứng bên cạnh chúng ta hôm nay, cũng sống như một giá trị vĩnh hằng trong cuộc kiếm tìm của chúng ta hôm nay”27 Xác định mối quan hệ giữa sử thi với các yêu cầu cụ thể của thực tiễn lịch sử, Vũ Văn Sĩ cho rằng sự có mặt của nền văn học sử thi trong giai đoạn lịch sử dân tộc 1945-1980 cùng với những hạn chế của nó là tất yếu “Với quan niệm sử thi như một hiện tượng thẩm mỹ mang tính chất xã hội, sử thi trước hết là hoạt động thực tiễn và hoạt động tinh thần của cộng đồng dân tộc
ta trong giai đoạn lịch sử 1945-1980 Nó như một sản phẩm ý thức đặc thù và chỉ vốn có ở một giai đoạn lịch sử bởi sự tác động của nó đới với cuộc sống tinh thần của con người, bởi sự tác động trở lại của nó đối với ý thức xã hội một thời Đó là một thực thế không thể phủ nhận và không dễ gì phủ nhận”28
Tổng hợp lại, những người nêu lên khái niệm văn học sử thi muốn xác định diện mạo nền văn học cách mạng 1945-1980 như sau: hướng tới những sự kiện và biến cố khách quan, trọng đại, có liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của dân tộc, của cộng đồng, những xung đột gay gắt về ý thức hệ, thiên về mặt cao cả, họ hàng, với thái độ nhiệt thành ca ngợi; gạt bỏ cái phần riêng tư cá nhân ở đối tượng phản ánh, đồng thời chủ thể sáng tạo cũng bỏ quên, cũng tự đánh mất sự tìm tòi, suy tưởng, sự kiến giải có tính chất cá nhân độc đáo của mình
Quan niệm như trên đã thể hiện một sự cố gắng tìm tòi để đánh giá ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn đặc điểm nền văn học cách mạng Nhìn chung, những ý kiến này đã xác định được một cách tương đối hợp lý mặt cơ bản, tiêu biểu nhất của nền văn học dân tộc trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt Song mặt khác, phải chăng khái niệm sử thi như một chiếc áo không ôm chứa nổi cơ thể văn học cách mạng nên các ý kiến này buộc phải nới mở nó Mở nới có chỗ quá nhiều đến nỗi khái niệm có khi không còn là nó nữa Dường như ở đây, các tác giả này vẫn chưa vượt qua nổi sự thử thách sau: dùng khái niệm cũ tất phải sửa đổi Sửa đổi ít thì vẫn so le, trật khớp giữa khái niệm với đối tượng thực tế, sửa đổi cho phù
27
Nguyên Ngọc, Đôi nét về một tư duy văn học mới đang hình thnh, Văn học, số 4-1990
Trang 23hợp, mở rộng quá ngoại diên thì khái niệm khó còn nó nữa Lã Nguyên biện giải
“sử thi hiện đại Việt Nam có những đặc điểm khác so với sử thi hiện đại thế giới”
Vũ Văn Sĩ phải so sánh sử thi hiện đại với sử thi truyền thống để nói cho được rằng sử thi (hiện đại) “vẫn dành một khoảng trống đáng kể cho sự sáng tạo của nhà văn”, “ở sử thi hiện đại, vai trò lý trí của nhà văn vẫn chiếm vị trí hết sức quan trọng” Còn Nguyên Ngọc lại tự mâu thuẫn trong cách lý giải tư duy sử thi Một mặt, Nguyên Ngọc cho rằng “tư duy sử thi giả định một khoảng cách giữa nhà văn
và đối tượng… nhà văn đứng cách đối tượng một khoảng cách tuyệt đối, không thể vượt qua được, nhìn ngắm và chiêm ngưỡng đối tượng” Mặt khác, nhà văn lại khẳng định: “Trong tư duy sử thi, nhà văn đồng nhất mình với đối tượng Ở đây tiếng nói văn học là độc thoại và đồng nhất”29 Mâu thuẫn này phản ánh sự “cưỡng lại” của thực tiễn văn học cách mạng Việt Nam với khái niệm sử thi truyền thống
Với mục đích tiếp cận và lý giải tiến trình văn học hiện đại trong đó có nền văn học cách mạng, chỉ ra xu thế phát triển của nó, Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết “Thời kỳ văn học vừa qua và xu thế phát triển”30 đã vận dụng cặp phạm trù
âm dương của triết học Trung Quốc cổ đại Vận dụng thuật ngữ âm dương một cách ước lệ, tác giả đã thiết lập một hệ thống các cặp phạm trù gồm các mặt đối lập âm - dương như duy tâm – duy vật, phi lý – duy lý, trực giác – suy lý, hòa bình – chiến tranh, “tính nước” – “chất thép”, cái vĩnh cửu – cái thời sự, xu hướng siêu thăng – xu hướng thế tục hóa, “văn hóa” – “chính trị”… Trên cơ sở hệ thống này, Hoàng Ngọc Hiến đã đề ra yêu cầu hài hòa âm dương đối với một nền văn học:
“Sự hài hòa âm tính dương tính là nguồn gốc phong phú của văn học Không có sự hài hòa ở gốc nguồn này, sự phong phú và đa dạng có thể là giả” Hoàng Ngọc Hiến đã nêu lên lược đồ về tiến trình vận động của văn học hiện đại Việt Nam như sau: giai đoạn 1930-1945: dòng văn học âm tính; từ 1945-1975: dòng văn học dương tính; từ sau 1975: sự bừng tỉnh của kinh nghiệm hài hòa âm dương Lã Nguyên, Nguyên Ngọc, Vũ Văn Sĩ đánh giá bản chất nền văn học cách mạng từ
Trang 24góc độ thi pháp học lịch sử Hồng Ngọc Hiến tìm cách khái quát diện mạo nền văn học đó từ việc vận dụng các phạm trù triết học có tính bao quát Cách làm sau này quả đang mới lạ, ít ra là đối với tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam ta Cũng bởi thế, ý kiến, cách làm của Hồng Ngọc Hiến khiến không ít người băn khoăn nghi ngờ Đỗ Văn Khang cho đấy là quan niệm văn học âm dương theo kiểu thầy lang Nguyễn Văn Lưu phê phán cách thiết lập các cặp phạm trù đối lập của
Hoàng Ngọc Hiến và không tán thành việc đặt yêu cầu cân bằng âm dương cho sự phát triển văn học31 Đỗ Lai Thúy đánh giá việc làm này là một số cố gắng ý nghĩa
để nhận diện thời kỳ văn học vừa qua song nhiều chỗ Hoàng Ngọc Hiến chưa phân tích, biện giải tới mức cần thiết, và còn hoặc máy móc, hoặc chiết trung32 Theo chúng tôi, dẫu tiếp cận từ một góc độ khác, song trên cơ bản, quan niệm về văn học dương tính của Hoàng Ngọc Hiến cũng không xa quan niệm về sử thi của các tác giả đã nói ở trước Có điều là Hoàng Ngọc Hiến đã sử dụng một cách ước lệ các phạm trù triết học có nội hàm rộng nên “rộng đất” hơn Tuy vậy, để có thể thuyết phục, ý kiến của ông rất cần các bước tiếp tục triển khai, rất cần sự phân giải kỹ từng phạm trù lẫn các cặp phạm trù trong việc sử dụng chúng một cách ước
lệ Còn giờ đây, những ý kiến đề xuất của Hoàng Ngọc Hiến đang dừng lại ở mức như là những ý tưởng, cái khái niệm văn học dương tính của Hoàng Ngọc Hiến chưa đưa lại được những căn cứ lý thuyết xác đáng, thực sự bổ ích cho sự nhận diện những đặc điểm, phẩm chất đích thực của nền văn học cách mạng 1945-1975
Vấn đề phân tích đặc điểm, đánh giá thành tựu nền văn học cách mạng 1945-1975, như vậy, được nêu ra và trao đi đổi lại khá sôi nổi, đặc biệt từ cuối
1986 Trong hơn ba năm từ đó đến trước Đại hội nhà văn lần thứ IV, không phải không có một số điểm cơ bản được số đông tương đối nhất trí, song xung quanh vấn đề lớn này vẫn còn không ít ý kiến khác biệt và nảy sinh các khía cạnh lý luận mới Thực tế ấy đòi hỏi (v mọi người cũng đợi chờ một cách chính đáng) một quan điểm nhìn nhận hợp lý, khoa học ở kỳ Đại hội nhà văn này Có thể nói rằng
31
Nguyễn Văn Lưu, “Có âm dương trong văn học không?”, Văn nghệ, số chuyên san tháng 5-1990
Trang 25bản báo cáo của Ban chấp hành Hội nhà văn đã phần nào đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng trên Ở đây, vấn đề đánh giá thành tựu văn học cách mạng bước đầu được xem xét trong nhiều mối quan hệ với một hệ thống quan điểm nhất quán và toàn diện Bản báo cáo đã nhìn nhận đóng góp của nền văn học cách mạng từ việc hồi sinh nền văn học dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, đến việc hình thành, phát triển đội ngũ nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình với nhiều thế hệ nối tiếp, từ
sự phong phú, khỏe khoắn về nội dung đến việc phát triển ngôn ngữ dân tộc Đặc biệt, bản báo cáo đã nhấn mạnh giá trị giáo dục, cổ vũ lớn lao của nền văn học chân chính này đối với lẽ sống, niềm tin của nhiều thế hệ người Việt Nam trong khói lửa ác liệt của các cuộc chiến tranh yêu nước: “Trong hành trang tinh thần của hàng triệu chiến sĩ thuộc mấy thế hệ nối tiếp nhau” có “dấu vết không phai nhòa của những lời thơ, tiếng ca… Những cảnh, những người trong tác phẩm văn học chân chính không dám nói hơn ai nhưng cũng không đến nỗi thẹn thùng so với văn học các nước khác” Sự đánh giá này, tuy được diễn đạt “nhẹ nhàng”, uyển chuyển, nhưng thể hiện tinh thần tiếp tục khẳng định thành tựu to lớn của nền văn học cách mạng ở nghị quyết 5 về văn hóa văn nghệ của Bộ chính trị và xa về trước nữa, ở bản báo cáo của Ban chấp hành Trung Ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV33
Nêu lên các thành tựu văn học cách mạng, đồng thời bản báo cáo của Ban chấp hành hội nhà văn cũng đặt ra mặt thứ hai của vấn đề: “Khẳng định những thành tựu đã qua không phải chúng ta coi nhẹ và xóa nhòa đi những sai sót, những
sự vướng mắc và gò bó trong đời sống văn học trước đây” Sai sót chủ yếu đã hạn chế bớt thành tựu nền văn học cách mạng được bản báo cáo chỉ ra là “khuynh hướng giáo điều”, “những quan điểm hẹp hòi, cứng nhắc”, “những quan niệm về nghệ thuật còn đơn giản thô sơ thậm chí còn mang tính chất ấu trĩ”
Có cái nhìn tương đối toàn diện, bám chắc vào không khí, yêu cầu đặc biệt của lịch sử dân tộc trong một bối cảnh cụ thể, biết tự phê phán để cầu tiến bộ - đó
33
Văn học, nghệ thuật nước ta “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn hóa, nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”
Trang 26là các điểm nổi rõ trong quan điểm đánh giá thời kỳ văn học vừa qua của Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Song bản báo cáo này, với tính chất của nó, chưa đi sâu vào những đặc điểm của văn học đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, chưa
có điều kiện dừng lại phân tích từng mức độ thành công cũng như hạn chế của nền văn học dân tộc, đặc biệt trên từng loại hình, thể loại
Bước sang đầu thế kỷ XXI, các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn bình tĩnh, khách quan hơn Phong Lêtrong một bài viết gần đây có viết:
“Sự hình thành cái cá nhân và nhu cầu giải phóng cá nhân này vừa mới cất lên được tiếng nói của nó trong văn chương lãng mạn từ 1925 đến 1945, thì sau
1945 - do yêu cầu cách mạng và do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, và tiếp đó, do một định hướng phát triển xã hội không thuận theo quy luật nên bị phê phán và vùi dập trong hơn 40 năm Một áp lực ghê gớm của thời cuộc - của các thiết chế và ý thức hệ chính thống khiến cho bất cứ cá nhân nào, dẫu có ngông nghênh, kiêu bạc, tài năng, cốt cách hơn người đến đâu cũng đều thúc thủ, chịu nép một bề, trong những phê bình, sám hối Cố nhìn trong buổi đầu tiếp xúc với cách mạng, từ trong bóng tối của xã hội cũ bước ra, cái cá nhân vừa mới hình thành đã bị choáng ngợp trước sức mạnh và vẻ đẹp của cộng đồng, mà theo cách nói quen thuộc của một thời, đó là Đoàn thể: “Đoàn thể đã tái tạo chúng tôi, và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi, những nạn nhân của thời đại chữ “tôi”, hay muốn gọi là tội nhân cũng được, chúng tôi thấy rằng đời sống riêng của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của Đoàn thể” (Hoài Thanh) “Đoàn thể, đó là một cái gì rất thiêng liêng Nước nhà đang cần đến những bàn tay, những hy sinh” (Nam Cao) Nhưng rồi, cùng với thời gian, theo sự xiết chặt của hệ tư tưởng chính thống, trong bối cảnh một cuộc chiến khốc liệt giải phóng dân tộc và trong kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cái cá nhân dần dần bị dồn ép và mất hết đất đai cho sự tồn tại, rồi trở thành đối tượng của sự chuyên chính của Đoàn thể qua rất nhiều vụ, việc lớn nhỏ, trong đời sống chính trị cũng như trong văn chương,
học thuật Gần đây, trong tùy bút Đi tìm cái tôi đã mất (được đưa lên mạng, nên
Trang 27mà diễn giải khá sâu về hiện tượng này Đó là bài viết gợi được nhiều ý, nhiều chuyện cần bàn, trong nhiều chiều, và có thể là trái ngược nhau; khoanh vùng trong phạm vi văn chương, tôi chỉ muốn lưu ý một điều: Việc đánh mất ấy, - nếu thật sự có đánh mất, là có nhiều lý do, trong đó có lý do ở chính các nhà văn, trong những băn khoăn thành tâm về những gì gọi bằng “lột xác”, “lột vỏ”, “nhận
đường”, kể cả những sám hối Nhưng giá nhà văn có vì các lý do khách quan, hoặc chủ quan nào đó mà tự đánh mất hoặc bị tước mất cái cá nhân một cách buồn thảm như Nguyễn Khải kể, thì những gì đã được họ tạo ra vào thời ấy, cũng không phải tất cả đều là của giả hoặc đáng bỏ đi - Ngay cả đối với Nguyễn Khải Và đây
là câu chuyện còn cần phải nghĩ ngẫm và bàn luận nhiều ”34
Trần Đình Sử trong Tinh tuyển văn học Việt Nam cho rằng: “Văn học Việt
Nam 1945 – 1985 là một giai đoạn đặc biệt, văn học của thời kỳ chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc Chiến tranh chẳng những hạn chế rất nhiều hoạt động sáng tạo của nhà văn mà còn đem lại bao nhiêu ràng buộc, cấm kỵ của thời chiến mà ai cũng biết”35
Tóm lại, nếu đánh giá văn học 1945 – 1975 theo nhiệm vụ lịch sử của nó là tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu, thì văn học giai đoạn này đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của mình Sức mạnh cổ vũ to lớn của thơ Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Giang Nam, Chính Hữu, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật…, của
những trang truyện ký sôi nổi khí thế anh hùng của Nguyên Ngọc như Đất nước đứng lên, Đường chúng ta đi, Rừng xà nu; của Nguyễn Thi như Người mẹ cầm súng; của Anh Đức với Hòn Đất… đã cho chúng ta thấy rõ điều đó
Lê Đình Kỵ đã thử lý giải những hạn chế của văn học giai đoạn này: “Từ sau Cách mạng Tháng Tám, văn học ta đã có những thành tựu đánh dấu một bước phát triển quan trọng mà lịch sử đã ghi nhận Nhưng trong hoàn cảnh chung, nó
34
Phong Lê, (2009), “Từ ba chuyển đổi làm nên gương mặt của cái thời chúng ta đang sống”, Sông Hương,
(250, 251)
35
Trần Đình Sử (chủ bin) (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 8) - Văn học giai đoạn 1945-2000,
Khoa học X hội, Hà Nội, tr.14).
Trang 28không tránh khỏi những hạn chế, mức độ sâu rộng, nghiêm trọng như thế nào khó
mà lường hết được, cũng như không thể lường hết được những gì mà lẽ ra nó có thể đạt tới nếu không bị những vướng mắc, ràng buộc đã xảy ra trong đời sống kinh tế, xã hội chung trước đây
Văn học ta chưa làm được nhiều hơn, tốt hơn, không phải do các nhà văn không thể làm, không có khát vọng làm Thế thì tại sao? Nguyên nhân có thể nhiều, nhưng chung quy vẫn là do thiếu dân chủ, thể hiện ở tâm lý sợ bị coi là sai Đúng sai ở đây thường là xuất phát từ một quan niệm thực dụng về chức năng của văn nghệ, về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị”36
Nền văn học đó như Nguyên Ngọc nói, đã hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh không bình thường, nên nó không có điều kiện để thể hiện cuộc sống và con người một cách sâu sắc và toàn diện Lấy việc tuyên truyền chính trị,
cổ vũ chiến đấu làm nhiệm vụ hàng đầu, văn học giai đoạn này tất nhiên phải nói nhiều đến thuận lợi hơn là khó khăn, về chiến thắng hơn là thất bại, về thành tích hơn là tổn thất, về niềm vui, lạc quan hơn là bi kịch, nỗi buồn, về hy sinh hơn là hưởng thụ
Con người trong văn học được nhìn nhận và đánh giá ở thái độ chính trị, ở
tư cách công dân Nhân vật văn học chủ yếu được đặt trong quan hệ cộng đồng hơn là đời tư, quan hệ lịch sử hơn là quan hệ đời thường Và nói chung con người hướng ngoại hơn là hướng nội, đời sống tâm linh ít được khai thác, chuyện tình yêu có lúc là đề tài cấm kỵ, chuyện tình dục lại càng không Thêm vào đó, nhận thức ấu trĩ về quan điểm giai cấp khiến sự thể hiện các nhân vật có phần giản đơn
sơ lược Người anh hùng không thể có tâm lý phức tạp, con người chỉ có tính giai cấp, không thể có tính nhân loại phổ biến
Yêu cầu tuyên truyền, cổ vũ kịp thời các nhiệm vụ chính trị khiến nhà văn nhiều khi không có điều kiện chọn lựa đề tài phù hợp với sở trường riêng, vốn sống riêng của mình Sáng tác kịp thời và hướng về đại chúng, yêu cầu đó buộc văn học, nhiều khi phải “nhân nhượng’ về tiêu chuẩn nghệ thuật, nghĩa là phải đặt
Trang 29yêu cầu phổ cập lên trên yêu cầu nâng cao Do vậy cá tính, phong cách riêng của nhà rất khó phát huy
Ngoài ra quan niệm hời hợt, giản đơn và sự vận dụng máy móc những nguyên tắc của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, biến nó thành một hệ thống ước lệ công thức và phi ngã, cũng hạn chế cá tính sáng tạo của nhà văn
Những hạn chế trên đây do hoàn cảnh chiến tranh, và cũng do nhận thứ ấu trĩ của lãnh đạo văn nghệ, của giới sáng tác và lý luận phê bình văn học Ngoài ra cũng phải kể đến những luồng ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng văn nghệ lệch lạch
du nhập từ bên ngoài vào
Trang 30CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU MỚI VỀ VĂN HỌC
GIAI ĐOẠN 1945 – 1954
2.1 Thơ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
Thơ ca kháng chiến chống Pháp có nhiều thành công trong việc miêu tả hình ảnh người chiến sĩ Trong những năm đầu, hình ảnh người chiến sĩ có phần
nào được thi vị, lãng mạn hóa kiểu "Rách tả tôi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa" trong Ngày về của Chính Hữu hay "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm" trong Tây Tiến của Quang
Dũng, hoặc là "yêng hùng" kiểu:
Áo phanh trên bãi biển Quỳ hai chân trên sóng mài đại đao
(H Khang - Có một mùa chim) Người đập mảnh chai
Vểnh cằm
cạo râu
(Hữu Loan -Đèo Cả)
Đây là những căn bệnh mà Hoài Thanh đã phê bình trong Nói chuyện thơ kháng chiến như bệnh "yêng hùng", "mộng rớt, buồn rớt"; là kết quả của cảm hứng lãng mạn - anh hùng trong giai đoạn có tính chất quá độ, chuyển tiếp này
Đó cũng lý do khiến Nguyễn Đình Thi bị Thế Lữ, Xuân Diệu, Hà Xuân
Trường, Tố Hữu phê phán nặng nề trong cuộc tranh luận về thơ ở Hội nghị Tranh luận văn nghệ Việt Bắc được tổ chức năm 1949 Viết làm sao cho giản dị, dễ hiểu,
viết để phục vụ cho công nông binh Vì thế viết đơn giản kiểu “con cá sặt mà rượt
cá rô, ăn nói xô bồ chẳng biết trước sau” rất được khen ngợi hơn là “cỏ mềm thơm
mãi dấu chân em” (Nguyễn Đình Thi) Lưu Trọng Lư sau khi đọc Không nói đã
đòi đuổi thơ Nguyễn Đình Thi ra khỏi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Câu
Trang 31phê bình là không lạc quan, tin tưởng khiến nhà thơ phải sửa lại là “Ới anh đã về đây”…
Cũng vì thế nên thể thơ lục bát được khuyến khích hơn là thể tự do, mặc dù thời kỳ đầu kháng chiến đã có thơ tự do, đã có những tìm tòi, thể nghiệm mới như
Trần Mai Ninh đã làm thơ không vần với Nhớ máu và Tình sông núi; Nguyễn
Đình Thi cố gắng thể hiện trung thực những cảm xúc của mình qua thơ tự do, qua
những bài phá thể; Hữu Loan qua Đèo Cả thể nghiệm kiểu thơ bậc thang, Chế Lan Viên mở rộng câu thơ trong bài Cho mừng, ) Thậm chí Nam Bộ còn khai tử thơ
tự do và khuyến khích chỉ sử dụng lục bát, bởi vì cho đó là thể loại “khoa học, dân tộc, đại chúng nhất” Đó là do xu hướng ấu trĩ, tả khuynh trong quan điểm lãnh đạo đối với văn nghệ, như chủ trương của Lưu Quí Kỳ (lúc đó là phó ban tuyên huấn của Xứ ủy Nam Bộ, kiêm Chi hội trưởng Chi hội văn nghệ kháng chiến Nam
Bộ, Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ) về thể loại sáng tác, về biện pháp phản ánh,
về ngôn ngữ văn học Lưu Quí Kỳ cho rằng về thơ chủ yếu phải làm thơ lục bát, còn thơ tự do phải hoàn toàn loại bỏ, bởi vì lục bát "là một hình thức khoa học đặc biệt dân tộc, khoa học, đại chúng" Lưu Quí Kỳ còn chủ trương cấm cải lương, vọng cổ vì cho nó làm ủy mị, làm nhụt tinh thần, ý chí chiến đấu của nhân dân 37
Ngày về của Chính Hữu lúc mới xuất hiện đã được Xuân Diệu ca ngợi:
“Mấy câu thơ Hà Nội phơi phới như một tấm lòng trai!” (Văn nghệ, số 7 năm
1948, trang 59) Ông khen Chính Hữu dùng từ “a ha!” : “Chính Hữu trong bài Ngày về đã dùng đúng chỗ, nghe rất mạnh, đọc rất khoái”( Văn nghệ số 13 năm 1949) Xuân Diệu cũng khen Nhớ Tây Tiến của Quang Dũng “ Bài thơ hơi buồn,
có đoạn buồn lắm; tứ thơ không mới, có những câu văn hoa Nhưng toàn bài rung
rung như những giây đồng Đọc lên, trong miệng còn ngân âm nhạc” (mục Tiếng thơ trên báo Văn nghệ số 11, 12 năm 1949)
Nhưng sau đó Xuân Diệu đã phải tự phê bình như sau: “Trường hợp điển
hình, là tôi đề cao bài Nhớ Tây Tiến, một bài thơ phiêu lưu tài tử, anh hùng cá
nhân; con người ở trong này khiếp sợ trước thiên nhiên, giao động trước gian khổ,
37
Cch mạng, kháng chiến và đời sống văn học (tập I), NXB Tc phẩm mới, H 1985, tr 347
Trang 32sợ cây rừng, sợ hổ, sợ thác núi, sợ ốm đâu, sợ chết Tôi thích bài đó, vì bản chất nó hợp với bản chất cầu an, giao động của tôi, và đem ngâm ngợi truyền bá nó vào
nhiều hội nghị, gieo cái sai vào bao nhiêu người” (Dứt khoát , Văn nghệ, số 41
năm 1953, trang 27)
Nhiều bài thơ khác của thời kỳ này như Nhà tôi của Yên Thao, Màu tím hoa sim của Hữu Loan… cũng chịu cùng một số phận như thế
Đến thời kỳ đổi mới, cách nhìn nhận về thơ thời kỳ đầu kháng chiến chống
Pháp đã phần nào thỏa đáng hơn Hà Minh Đức trong một bài viết trên Văn nghệ quân đội đã nhìn nhận lại thơ thời kỳ này như sau: “Thực ra để có một cách đáng
giá công bằng cần thấy tính chất đặc thù của những người lính lớn lên trong khói lửa chiến đấu của đô thành Họ sẵn sàng từ bỏ tất cả và ra đi kháng chiến với lý tưởng đẹp và bao mơ ước.Họ để lại sau mình những kỷ niệm khó quên của một thời…
Ngày về có chất gì đó bốc lên của tuổi trẻ đầy không khí lãng mạn và lối
diễn tả còn cầu kỳ hình thức, nhưng thực chất là lòng yêu nước, yêu thủ đô Chất lính của họ không thuộc dạng những người lính ra đi từ đồng ruộng Bài thơ ghi nhận những nổ lực, hy sinh của những người coi “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Họ có dáng vẻ và màu sắc riêng, điều đó không làm ảnh hưởng gì đến chất
lý tưởng cao quý mà họ phụng sự tôn thờ”38
Trần Lê Văn cho rằng: “Có người cho Tây Tiến không có tác dụng tích cực
vì nó buồn, nó nói đậm đến cái gian khổ, cái tổn thất, nó “làm nhụt nhuệ khí
“Nhưng ngợi ca chiến thắng mà lại không nói hoặc nói một cách giảm nhẹ những gian khổ hy sinh tức là giảm nhẹ cái giá của chiến thắng Tây Tiến có những nét buồn, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, bi hùng chứ không phải cái buồn đau bi lụy”
38
Hà Minh Đức , Cần xem xét lại giá trị của một số tác phẩm văn học, Văn nghệ quân đội số 11/1988
Trang 33Đúng là phải thấy rằng cái dáng dấp hào hoa kiểu tráng sĩ Kinh Kha ra đi không hẹn ngày về, cái hào hùng "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" trong
những bài thơ Ngày về của Chính Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng và nhiều bài thơ
khác nữa không phải không có cơ sở tâm lý thực tế trong một thế hệ tiểu tư sản học sinh, sinh viên rời bỏ đô thành ra đi kháng chiến với lý tưởng đẹp đẽ và bao nhiêu mơ ước Những bài thơ ấy đã nói được - dù chỉ là một phần - cái khí thế hào hùng pha chút lãng mạn của những ngày đầu kháng chiến
Lại Nguyên Ân đã giải thích về sự xuất hiện của những “kỳ hoa dị thảo này: “Ngay từ đầu, tư duy nghệ thuật của họ đã hướng vào chất anh hùng ca của cuộc chiến đấu toàn dân, giành độc lập Nếu có điều gì hạn chế họ trong việc sáng tạo những tiếng thơ thích hợp với nội dung cách mạng của dân tộc và thời đại, thì cái đó chủ yếu không phải ở đề tài hay cảm hứng, mà chính là ở quan niệm về con người Ở một số trường hợp ban đầu, cảm hứng anh hùng đã bị gắn với kiểu người trượng phu (kiểu nhân vật chính của sử thi hiệp sĩ trung cổ) Và tuy những bài thơ gắn với quan niệm con người đó có toát lên được một hưng phấn lãng mạn anh
hùng khá mạnh mẽ (Ngày về, Tây Tiến), nó vẫn là một thứ “kỳ hoa dị thảo” nở ra
ở một thời điểm nhất định, nhưng rồi về lâu về dài sẽ tỏ ra không thích hợp với tính chất của nền sử thi kiểu mới, một nền sử thi dù không gạt bỏ hẳn lối ước lệ khái quát, nhưng đã chú trọng nhiều đến màu sắc lịch sử - cụ thể trong miêu tả, và đặc biệt chú trọng đến việc đưa nội dung tư tưởng của ý thức hệ mới vào nghệ thuật” 39
Hà Minh Đức nói về Không nói: “Không tránh khỏi ngậm ngùi, tiếc nuối,
tủi buồn nhưng không ai lùi bước trước nhiệm vụ Tình cảm chân thực và ý thức trách nhiệm cao quý”, “Rất vừa phải và mức độ trong quan hệ riêng chung” Về
Màu tím hoa sim ông cho rằng: “Vào cái thời có tâm lý luôn dấu cái riêng tư, thì
sự bộc lộ tình cảm của Hữu Loan đã là một lối viết bạo dạn”, “Tình cảm có thật
39
Nhiều tc giả (1987), Một thời đại văn học mới, Văn học, Hà Nội, tr 132
Trang 34của bất cứ người nào ở vào hoàn cảnh ấy Có một người yêu như thế mất đi, đau xót cũng là chuyện thường tình”
Lưu Trọng Lư trong hồi ký của mình sau này đã phải công nhận Không nói
là một bài thơ hay
Do lý do chính trị nên diện mạo của thơ chống Pháp trước thời kỳ đổi mới cũng không được giới thiệu một cách trọn vẹn Như trường hợp của Hoàng Cầm,
do tham gia vụ án Nhân văn – Giai phẩm nên thơ của ông đã không được giới
thiệu một thời gian dài Bài Bên kia sông Đuống phải đến thời kỳ đổi mới mới được đưa vào sách giáo khoa Một số bài thơ như Đèo Cả của Hữu Loan, Nhà tôi
của Yên Thao,… cũng phải sau đổi mới mới xuất hiện trở lại
Nghiên cứu mới về thơ chống Pháp, còn phải kể đến công trình Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005, do Lại Nguyên
Ân sưu tầm và biên soạn; Thơ Việt Nam 1945 – 1954, Nxb Giáo dục của Mã Giang Lân (1995); Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945-1975, Nxb Giáo dục của Vũ Duy Thông (1998;, Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 -1995, Nxb Giáo dục của Vũ Tuấn Anh (1997); giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập III của Đại
học Sư phạm do Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2002), …
2.2 Văn xuôi cách mạng thời kỳ 1945 – 1954
So với thơ, văn xuôi thời kỳ này ít có nhiều thành tựu, dù trong đội ngũ có đầy đủ các nhà văn tài năng của thế hệ sáng tác trước Cách mạng tháng Tám Bước vào thời kỳ đầu kháng chiến, họ vẫn ở trong giai đoạn "nhận đường" Họ giàu kinh nghiệm sống, giàu kinh nghiệm nghề nghiệp, nhưng chưa viết tốt được bởi vì chưa thanh toán được những tư tưởng và quan điểm sáng tác cũ, còn lúng túng với phương pháp sáng tác mới, đặc biệt là còn chưa kịp trau dồi vốn sống mới Họ còn chưa hiểu người nông dân Người nông dân cũ họ còn chưa hiểu hết, huống gì nay lại là người nông dân kháng chiến Đối tượng độc giả cũng khác, trước là giới tiểu tư sản thành thị, nay lại là quần chúng công nông binh Cho nên
Trang 35điểm cốt yếu đối với các nhà văn lúc này là "thâm nhập quần chúng nhân dân, là biết sống, sống cho ra sống, sống đầy đủ cuộc chiến đấu của dân tộc"
Nhận xét về nhân vật trong văn xuôi giai đoạn này, Trần Đình Sử cho rằng:
“Nét tiêu biểu vẫn là nén tình riêng vì sự nghiệp chung, là tính chất thuần khiết, không mâu thuẫn, giằng xé, xung đột bên trong Xem xét nhiều tác phẩm tiêu biểu của văn học kháng chiến hầu như không thấy có nhân vật chính diện nào có dằn vặt, cô đơn đau đớn trong tính toán hoặc mất mát riêng tư…
Nhìn chung, con người kháng chiến ít được thể hiện về mặt thế giới nội tâm Tâm hồn chủ yếu thể hiện qua chân dung, lời nói, hành động, nhất là ở tác phẩm viết về chiến đấu Một nỗi day dứt của ông Hai (Kim Ln), mơ ước ngày về của đứa con (Từ Lang), nỗi đợi chờ của Liễu (Nam Cao), không nhiều Nội tâm
nhân vật trong các Truyện Tây Bắc của Tô Hoài rất đột xuất, Lượng (Hồ Phương)
có một tình huống nội tâm nhưng luôn bị nén lại” (Nhiều tác giả (1987), Một thời đại văn học mới, Văn học, Hà Nội, tr 55-56)
Trước thời kỳ đổi mới, chân dung của văn học kháng chiến chống Pháp
cũng chưa hoàn chỉnh do một số tác phẩm đã được đề cập đến, như tiểu thuyết Người người lớp lớp của Trần Dần, Vượt Côn Đảo của Phùng Quán Các tác
phẩm, tác giả của Nam Bộ cũng chưa được giới thiệu một cách đầy đủ
Do hoàn cảnh của kháng chiến, do đặc điểm của thể loại, văn xuôi chưa phát triển mạnh mẽ lắm so với các thể loại khác trong thời kỳ kháng chiến Vì vậy chúng ta chưa có tác phẩm nào có tầm cỡ tương xứng với cuộc chiến đấu thần kỳ của dân tộc trong thời kỳ này Nguyễn Khải đã nói về điều này như sau: “Nói đến
sự nghèo nàn của sáng tác văn học, còn phải nói thêm một sự thật này nữa mới thật trọn vẹn Cho đến nay nền văn học ta vẫn chưa một cuốn tiểu thuyết nào thật hay về Hà Nội và người Hà Nội đáng Pháp – Đốt cháy một kinh thành để ra đi và hẹn ngày trở lại – Và đã trở lại với chiến thắng Điện Biên Phủ - Lãng mạn và hào hùng như một trường thiên tiểu thuyết đã được lịch sử viết sâu đến từng chương mục Trận đánh ở Điện Biên Phủ là một kỳ công có thể sánh ngang với những kỳ công của các anh hùng trong huyền thoại Nhưng trong văn học cũng mới chỉ có
Trang 36một cuốn tiểu thuyết với dăm truyện ngắn và vài chục bài thơ bài ký được viết vội
vã ngay trong chiến dịch” (Nghề văn, nhà văn và Hội Nhà văn, Văn nghệ số 18
(30.4.1988)
Nhưng xét trong hoàn cảnh sáng tác lúc đó, chúng ta hết sức trân trọng những nỗ lực trong sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn Đây chính là thời kỳ thử lửa, là thời kỳ chuẩn bị của họ cho những tác phẩm có giá trị sau này
Trang 37CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU MỚI VỀ VĂN HỌC
GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
3.1 Vụ án Nhân văn – Giai phẩm
Trước thời kỳ đổi mới, đây vẫn được xem là một vấn đề chính trị đặc biệt nhạy cảm, một đề tài cấm kỵ, một vụ án chính trị hơn là văn chương Sau đổi mới,
vụ án đã được đề cập đến nhiều hơn, đầu tiên có lẽ là trên Tuổi trẻ Chủ nhật ngày
24 / 5 / 1987 với phần trả lời của nhà thơ Chế Lan Viên Để đáp lại câu hỏi của một bạn đọc: “Chắc chắn bác là người đã được tận mắt chứng kiến số phận của những người cùng thời với bác ở trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm Vậy theo bác… nên chăng chúng ta cần có cách định công luận tội đối với họ công bằng hơn, trung thực hơn, nhân đạo hơn giống như trường hợp Hàn Mặc Tử?”, nhà thơ Chế Lan Viên có nói như sau: “Về vấn đề Nhân văn, hồi ấy nhiều anh em đã có ý định xin Đảng cho mình làm một tờ báo để đánh Nhân văn sắp ra Anh Xuân Diệu thì là kiện tướng có bài liên tục đánh Nhân văn Thế là rõ Về số phận anh em Nhân văn thì … năm 73, đồng chí Lê Đức Thọ đã thay mặt Bộ Chính trị gặp anh
em xóa cái án ấy… Thế nhưng thành kiến với anh em còn rất nặng”
Ngày 1.2.1988 tại Hà Nội có phiên họp Ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam, tại đó đã thông qua quyết định khôi phục hội tịch (khôi phục quy chế hội viên hội sáng tác này) cho các nhà văn Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh Những tác phẩm một thời bị phê phán của họ đã được liệt kê trong danh mục tác phẩm của Hội viên hội Nhà văn và được đưa vào những công trình
có ý nghĩa “từ điển”, dần dần được xuất bản trở lại, như tiểu thuyết Người người lớp lớp của Trần Dần, Vượt Côn Đảo của Phùng Quán (từng được giải thưởng văn học 1954 – 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam), Bóng chữ của Lê Đạt… Một số tác
phẩm của họ cũng được đưa vào giảng dạy trong nhà trường sau một thời gian dài
vắng bóng, như Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm,…
Năm 2007, nhà nước Việt Nam đã trao tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho bốn nhà văn từng chịu liên lụy vì vụ Nhân văn, gồm Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt và Phùng Quán Các nhà thơ Lê Đạt, Trần Dần, Phùng
Trang 38Quán, Hoàng Cầm được tặng giải vì các tác phẩm “có giá trị cao về văn học nghệ thuật, ca ngợi đất nước, nhân dân, góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc”
Từ thời kỳ Đổi mới, các nghiên cứu mới của Lại Nguyên Ân, Đặng Tiến, Thụy Khuê, Ngô Minh,… cũng cung cấp nhiều tư liệu mới về vụ án Nhân văn – Giai phẩm và cho ta những nhận thức mới về văn học giai đoạn này
Nhìn chung, ý kiến về Nhân văn – Giai phẩm hiện còn khá khác nhau Có ý kiến cho rằng nếu không có vụ án thì thơ miền Bắc đã phát triển khác với những ảnh hưởng từ những cách tân thơ của Trần Dần, Lê Đạt… Nguyễn Khải trong một
bài viết trên báo Văn nghệ lại cho rằng: “Cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết
thúc, đất nước đã lập tức bị chia đôi Miền Nam chịu mất trắng để miền Bắc được độc lập hoàn toàn Lòng hy sinh đó thật cao cả, thật vĩ đại Khốn nỗi ở vào cái năm ấy, tầm nhìn tầm nghĩ của anh em ta còn thấp, còn cạn, nên lại chỉ xúc động trước những thiếu sót, những sai lầm của Đảng đang diễn ra xung quanh mình, nổi bật nhất là những sai lầm trong chính sách cải cách ruộng đất Và chúng ta đòi được viết, càng viết đầy đủ càng tốt, bất chấp những bài thơ, bài văn ấy có thể làm tổn hại tới lòng tin của hàng chục triệu con người đang chỉ còn biết sống với niềm tin Hỡi ai! Cái quyền tự do của một nghề, dẫu là nghề văn, nào có đáng kể so với cái quyền tự do buộc phải hy sinh của một nửa nước! Đó là lỗi lầm lớn nhất, không có cách gì bào chữa được của mấy anh nhà văn nhà thơ tham gia viết bài
cho nhóm Nhân văn – Giai phẩm (Văn nghệ số 18 ngy 30.4.1988)
Gần đây, việc trục trặc khi phát hành quyển Thơ Trần Dần do nhà xuất bản
Đà Nẵng in và việc tác phẩm này được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội đã cho chúng ta thấy sự phức tạp đó
3.2 Văn xuôi cách mạng giai đoạn 1955 - 1975
So với văn xuôi giai đoạn 1945 - 1954, văn xuôi giai đoạn 1955 - 1975 có những bước trưởng thành đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng, nhất là ở phương diện khám phá chiều rộng và chiều sâu hiện thực đời sống, dựng lại một cách
Trang 39dung những con người mới tiêu biểu cho sức sống, ý chí, phẩm chất và năng lực của dân tộc Việt Nam, có tác dụng giáo dục tích cực cho nhiều thế hệ độc giả
Nhưng thành tựu của văn xuôi giai đoạn này chưa thật sự có được những đỉnh cao Nhìn lại văn xuôi giai đoạn này, Nguyễn Khải cho rằng: “Lại một trận đánh kết thức 30 năm chiến tranh giải phóng, chiến dịch Hồ Chí Minh, cưỡng lại thời thế mà đánh và đánh thắng, thắng hoàn toàn, thắng nhanh và thắng đẹp hơn cả những ước mơ táo bạo nhất Nhưng đã mười ba năm trôi qua Vẫn chưa thấy xuất
hiện một pho tiểu thuyết nào cho xứng với lòng mong đợi” (Nghề văn, nhà văn và Hội Nhà văn, Văn nghệ số 18 (30.4.1988)
Một số ý kiến cho rằng không ít tác phẩm được viết trong giai đoạn này do
có tính thời sự nên được đánh giá cao hơn là giá trị nghệ thuật của chúng, như
Sống như Anh của Trần Đình Vân chẳng hạn Ngay cả Hòn Đất của Anh Đức cũng
có những chi tiết khiên cưỡng, không thuyết phục Nhưng đây là quyển tiểu thuyết đầu tiên của văn học giải phóng miền Nam nên đã được chú ý, nâng niu nhiều
Viết về những nhân vật chính diện, anh hùng, các nhà văn của chúng ta khá thành công, nhưng các nhân vật phản diện còn được miêu tả chưa thật sâu sắc Nguyễn Quang Sáng đã có suy nghĩ về điều này: “Ngược lại những con người, những nhân vật đầy kính yêu ấy, thằng Mỹ, thằng ngụy – nhân vật phản diện trong tác phẩm thì hãy còn mờ nhạt Nó tàn bạo đó, nó giết người đó, nó ăn cả thịt người nữa – nó lố lăng, nó lưu manh, nhưng đọc rồi ta cứ thấy nó méo mó Bởi vì ta chỉ thấy cái bên ngoài hơn là cuộc sống bên trong của nó”
Phạm Văn Sĩ cũng có cũng nhận xét: “Phần lớn nhân vật phản diện trong tiểu thuyết miền Nam hoặc chưa đạt được trình độ tính cách văn học hoặc còn là những nét phác châm biếm”
Đó là những tác phẩm viết về đề tài chiến đấu Các tác phẩm viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội còn bị đánh giá thấp hơn nữa Giáo sư Hoàng Như Mai cho đó là những báong bóng xà phòng, rất sặc sỡ ban đầu nhưng rồi sẽ mau chóng
vỡ tan Nguyễn Khải trên một bài viết trên Văn nghệ có nói về điều này: “Nhưng
số phận những tác phẩm viết về các cuộc cách mạng xã hội thì gian nan hơn nhiều
Trang 40Viết về người nông dân như ta đã từng viết là chưa được Trong cải cách ruộng đất cũng chưa được, mà trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp cũng chưa được
Ta chê trách họ nhiều quá, chê trách cách suy nghĩ, chê trách cách tính toán, chê trách cách làm văn, chê trách cả những mối quan hệ bền vững, tốt đẹp vốn là cơ sở đạo đức để họ gắn bó với nhau giữa bao nhiêu là thiên tai địch họa Mà việc gì
cũng đều đến tay họ cả” (Văn nghệ số 18 30.4.1988) Và ông đã tự phê bình truyện Tầm nhìn xa nổi tiếng một thời của mình bằng bài viết Cái thời lãng mạn: “Cả một mảng về nông nghiệp của tôi coi như bỏ đi, tôi đã viết Cái thời lãng mạn để tự phê bình rồi” (Văn nghệ số 9 ngy 27.02.1988)
Nói về chất lượng kém cỏi của mảng đề tài này, Trần Bạch Đằng chú ý đến một chi tiết: “Thậm chí có nhà văn còn viết cả truyện ngắn ca ngợi thức ăn cho lợn
– phân trâu nấu với rau muống”
Nguyễn Khải là một tác giả được xem là thành công khi viết về tôn giáo
Nhưng đến thời kỳ đổi mới, tác giả của Xung đột đã phải tâm sự: “Trước cứ nghĩ
“tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, chỉ thấy cái tiêu cực của nó Sau 1975, những suy nghĩ của ông về tôn giáo cũng có khác, nhất là sau khi tiếp xúc với những giáo sĩ yêu nước, tiến bộ và nhiều gia đình giáo dân đã dám hy sinh tất cả cho sự nghiệp chống Mỹ ở miền Nam Ông đã nghĩ thêm về mặt tích cực của tôn giáo, một khi nó trở về cội nguồn, thoát khỏi những ham muốn vô vọng về quyền lực “Con người khác con vật là vì nó không chỉ sống cho cái bây giờ, cái tức thì, cái trước mặt, mà còn dám sống cho một niềm tin cao đẹp, thiêng liêng hơn chính
là bản thân nó Hoặc đó là một niềm tin vào một lý tưởng xã hội, hoặc đó là một niềm tin vào một lý tưởng tôn giáo”
Báo Công giáo và dân tộc, trong một bài viết, cũng cho rằng các nhà văn
viết về Công giáo còn nông cạn, chưa thật sâu sắc