1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng đề tài khoa học cấp đhqg hcm

291 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng
Tác giả TS. Đỗ Hạnh Nga, ThS. Lê Thị Minh Tâm, CN. Võ Minh Trung
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Đề tài khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 291
Dung lượng 4,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thực tiễn, hậu quả của xung đột trong quan hệ cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng tuy chưa được các nhà tâm lý học chính thức thống kê trên phạm vi cả nước, nhưng thườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐHQG - HCM

(ĐÃ SỬA THEO ĐÓNG GÓP CỦA HỘI ĐỒNG)

NGHIÊN CỨU XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI

THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG

(MÃ SỐ: B 2008-18b-04)

Chủ nhiệm đề tài: TS Đỗ Hạnh Nga

TP HỒ CHÍ MINH - 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐHQG - HCM

NGHIÊN CỨU XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI

THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG

(MÃ SỐ: B 2008-18b-04)

Cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài

TS Đỗ Hạnh Nga Trường ĐH KHXH&NV

Thành viên tham gia 1) ThS Lê Thị Minh Tâm 2) CN Võ Minh Trung

TP HỒ CHÍ MINH - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG 7

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN 20

1.3 CÁC GIAI ĐOẠN XĐTL GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG 51

1.4 BIỂU HIỆN HÀNH VI XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG 55

1.5 KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT XĐTL GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG 57

1.6 LIỆU PHÁP TRỊ LIỆU HÀNH VI NHẬN THỨC 59

CHƯƠNG 2 66

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG 66

2.1 THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG 66

2.2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA XĐTL GIỮA CM VÀ CON TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG VÀ SO SÁNH CÁC BIẾN 124

CHƯƠNG 3 133

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG 133

3.1 Một số phương pháp được sử dụng trong liệu pháp TLHVNT 133

3.2 Quy trình thực nghiệm tác động 137

3.3 Kết quả thực nghiệm tác động 139

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 164

TÀI LIỆU THAM KHẢO 170

PHỤ LỤC 177

Trang 5

1.1 Về mặt lý luận, lứa tuổi thiếu niên, đặc biệt giai đoạn 13 – 15 tuổi (lớp 8, 9), là lứa tuổi được đánh dấu bằng bước ngoặt lớn trong cuộc đời, giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ thơ sang tuổi trưởng thành Sự thay đổi mạnh mẽ về sinh lý và tâm lý khiến cho thiếu niên có nhu cầu muốn làm người lớn, muốn thoát khỏi sự kiểm tra của cha mẹ và tự quyết định những vấn đề của bản thân Bên cạnh đó, tâm lý muốn được làm người lớn và muốn được đối xử như người lớn khiến cho thiếu niên dễ lý tưởng hóa một hình tượng nào đó và muốn định hướng tính cách của mình theo tính cách của thần tượng Khi có biểu hiện say mê thần tượng, thiếu niên thường thay đổi hoàn toàn cách sống ở gia đình, ít quan tâm đến người thân, ngang bướng không nghe lời cha mẹ, học hành giảm sút,… Trong khi đó cha mẹ

là những người luôn muốn con mình phải ngoan ngoãn, dễ bảo và chăm lo học hành Những quan niệm trái ngược nhau giữa cha mẹ và con đã dẫn đến mối quan

hệ xung đột giữa họ trong gia đình

1.2 Về mặt thực tiễn, hậu quả của xung đột trong quan hệ cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng tuy chưa được các nhà tâm lý học chính thức thống kê trên phạm vi cả nước, nhưng thường xuyên được ghi nhận và đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo Tuổi trẻ, Thanh niên, Người lao động, Phụ nữ, và nhất là các báo mạng (vietnamnet.vn, vnexpress.net, tuoitre.vn,…) trong

Trang 6

những năm gần đây Thậm chí năm 2007 sau khi xảy ra sự kiện cha của một người hâm mộ thần tượng đã tự tử để dùng cái chết khiến thần tượng phải đồng ý gặp con gái của mình1 khiến cho nhiều người bất bình [81] Báo Tuổi trẻ đã mở hẳn một diễn đàn trên mạng internet với chủ để: “Thần tượng – nên hay không?” [82] để thu hút sự tham gia đóng góp ý kiến của mọi thành phần trong xã hội Các ý kiến đều xoay quanh vấn đề về việc xác định thần tượng hiện nay của giới trẻ là ai? Giới trẻ

có nên có thần tượng hay không? Giá trị văn hóa của thần tượng là gì? Bên cạnh đó, không ít phụ huynh có ý kiến về việc con họ có thần tượng đã ảnh hưởng đến việc học hành và thay đổi quan hệ của con cái với những người thân trong gia đình vì thần tượng [82] và ý kiến của những nhà nghiên cứu, các chuyên gia tâm lý học, giáo dục học và xã hội học nói về vấn đề thần tượng và những mặt tích cực và tiêu cực của việc có thần tượng [81]

Chỉ cần sử dụng công cụ tìm kiếm Google bằng tiếng Việt với từ khóa “thần tượng tuổi teen” cũng có thể cho thấy một con số khổng lồ (10.600.000) những tài liệu, bài báo có liên quan đến chủ đề này [83] Trong danh sách những tài liệu / trang web được google liệt kê có cả những diễn đàn và blog đề cập đến chủ đề:

“Thần tượng của bạn là ai?”

Khi tìm từ khóa “xung đột cha mẹ và con về thần tượng” thì số tài liệu có liên quan ít hơn với 2.900.000 [83] Tuy nhiên phần lớn các tài liệu được Google tìm ra chỉ liên quan đến khái niệm “xung đột cha mẹ và con” và “thần tượng”, chứ rất ít có tài liệu nào đề cập đến cả từ khóa “xung đột giữa cha mẹ và con về thần tượng” Điều này cho thấy chủ đề về “thần tượng tuổi teen”, “xung đột cha mẹ và con” là chủ đề nóng hiện nay Việt Nam Nhưng cũng có ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề xung đột giữa cha mẹ và con về thần tượng, trong khi thực tế đã chứng minh những xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con ở tuổi thiếu niên vì lý do con có thần tượng và xao lãng việc học hành chiếm tỷ lệ không nhỏ

1

Loạt bài báo về cha của người hâm mộ ngôi sao điện ảnh Hồng Kông (Lưu Đức Hoa) tự tử vì con (30/03/2007) http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2007/03/

Trang 7

Những phân tích như trên cho thấy tình trạng xung đột tâm lý về thần tượng của con lứa tuổi thiếu niên trong quan hệ với cha mẹ đang là vấn đề nóng bỏng và cần có sự quan tâm của toàn xã hội, của các nhà tâm lý học, giáo dục học và các tổ chức xã hội Vì vậy đề tài: “Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng” vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản vừa mang tính thời sự

cấp thiết

Khi thực hiện đề tài nhóm nghiên cứu mong muốn kết quả của đề tài sẽ là

cơ sở giúp cho các cha mẹ có con ở tuổi thiếu niên có được những hiểu biết về tâm

lý và cách ứng xử khi con họ có tâm lý say mê thần tượng Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các chuyên gia tư vấn tâm lý, các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục trong hoạt động giáo dục lứa tuổi thiếu niên

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng Trên cơ sở đó, tiến hành thực nghiệm tác động bằng liệu pháp trị liệu hành

vi nhận thức để giải toả xung đột tâm lý giữa CM và con

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiện tượng và bản chất của xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng, những nguyên nhân chính của xung đột, tham vấn giải tỏa xung đột tâm lý

3.2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh lớp 8, 9 và cha mẹ của các em ở các trường THCS tại TP HCM

4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

4.1 Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do CM không hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi của con, CM không thay đổi cách giao tiếp với con

Trang 8

4.2 Phần lớn những xung đột ở mức độ cao giữa CM và con tuổi thiếu niên

về thần tượng có liên quan đến thần tượng của con là những người nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

4.3 Khi xung đột tâm lý giữa CM và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng xảy ra ở những trường hợp cá biệt thì tham vấn tâm lý bằng liệu pháp trị liệu hành

vi nhận thức sẽ giúp giải tỏa xung đột giữa CM và con

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về: Thần tượng, người hâm mộ, đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên, xung đột tâm lý, xung đột tâm lý giữa CM và con

5.2 Nghiên cứu thực trạng xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng tại TP HCM Phân tích những nguyên nhân của thực trạng

5.3 Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, tiến hành tham vấn tâm lý bằng liệu pháp trị liệu hành vi nhận thức để giải quyết xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng

6 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

6.1 Về nội dung: Đề tài chỉ giới hạn ở xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng trong gia đình với cặp cha mẹ, chứ không tách rời cha và mẹ ra

Việc tham vấn tâm lý nhằm giải tỏa xung đột giữa CM và con chỉ giới hạn

ở một số trường hợp xung đột ở mức độ trung bình và cao Do thời gian hạn chế nên đề tài chỉ tiến hành tham vấn tâm lý để chứng minh tính khả thi của liệu pháp trị liệu hành vi nhận thức trong giải quyết xung đột tâm lý giữa CM và con

Trang 9

6.2 Về khách thể nghiên cứu: Đề tài chỉ chọn học sinh 13 – 15 tuổi (lớp 8, 9 – thuộc lứa tuổi thiếu niên) đang sống trong gia đình có đầy đủ cả cha và mẹ thuộc

8 trường THCS ở TP Hồ Chí Minh và cha mẹ của những học sinh trên

6.3 Về địa bàn nghiên cứu: Tại một số quận ở TP Hồ Chí Minh

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài sử dụng phối hợp một số phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Nghiên cứu tài liệu xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, đặc biệt là các khái niệm thần tượng, xung đột tâm lý, xung đột tâm lý về thần tượng Lý luận tham vần tâm lý bằng liệu pháp trị liệu nhận thức

7.2 Phương pháp khảo sát:

Xây dựng phiếu thăm dò ý kiến của các bậc cha mẹ và con cái họ về thực trạng và nguyên nhân của những xung đột tâm lý về thần tượng xảy ra trong gia đình

7.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Xin ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để hoàn chỉnh phần đề cương (lý luận và phương pháp) của đề tài nghiên cứu

Thu thập kinh nghiệm tư vấn của những chuyên gia về những vấn đề xung đột trong gia đình như:

Trang 10

+ Dấu hiệu của những xung đột tâm lý trong gia đình

+ Kinh nghiệm tư vấn để giải quyết những ca mâu thuẫn trầm trọng

7.6 Phương pháp thực nghiệm tác động:

Tham vấn tâm lý bằng liệu pháp trị liệu hành vi nhận thức được thực hiện trên một số trường hợp xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con về thần tượng

7.7 Phương pháp thống kê toán học:

Xử lý các số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu trên bằng các công thức tính giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan thứ hạng

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VÀ CON LỨA TUỔI THIẾU NIÊN VỀ THẦN TƯỢNG

Giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang tuổi trưởng thành được các nhà nghiên

cứu gọi theo nhiều tên khác nhau Các nhà TLH hoạt động gọi tuổi thiếu niên ứng

với 11 – 15 tuổi [2], [16] Trong khi các nhà TLH phương Tây gọi tuổi vị thành

niên (adolescence) ứng với 11 - 21 tuổi và chia thành 3 giai đoạn nhỏ: Tuổi đầu vị

thành niên (11 đến 15 tuổi), tuổi giữa vị thành niên (từ 15 đến 18 tuổi) và tuổi cuối

vị thành niên (từ 18 đến 21 tuổi) [35, tr.15], [58] Ta thấy, tuy cách gọi giai đoạn

11 – 15 tuổi có khác nhau nhưng đều tương đương với khái niệm lứa tuổi thiếu niên của Việt Nam hiện nay [5], [8], [23] và [26, tr.75]

1.1.1 Ở nước ngoài

1.1.1.1 Giai đoạn 1- từ đầu thế kỷ XX đến thập niên 1980

- Ngay từ năm 1904, G S Hall (1846-1924), người đầu tiên đưa ra khái

niệm về tuổi vị thành niên, đã cho rằng đây là thời kỳ “bão táp và giông tố” với ý

nghĩa coi lứa tuổi này có sự phát triển tâm lý đầy bất trắc, xung đột và khủng hoảng tiêu cực [dẫn theo 2, tr.26-30], [dẫn theo 76, tr.295] Sau đó đã có hàng loạt nghiên cứu về lứa tuổi này với nhiều cách tiếp cận khác nhau

- Cách tiếp cận phân tâm học:

S.Freud [dẫn theo 52], [dẫn theo 76, tr.348] cho rằng lứa tuổi đầu vị thành niên là giai đoạn xảy ra “mặc cảm Ơ-đíp thứ hai”, sự mê đắm tình dục đồng giới

và sự tấn công của tình dục khác giới S Freud qui những đặc điểm nhân cách lứa tuổi này về “những nhu cầu và dục vọng vô thức” Ông coi động lực cơ bản của sự phát triển nhân cách là ý hướng tính dục do sinh học quy định (libido) Nói một cách khác đó là những xung đột tâm lý – tình dục do ý hướng tính dục làm nảy

Trang 12

sinh Ông cho rằng vô thức đối với nhu cầu độc lập vốn có ngay từ đầu và điều này sẽ dẫn đến tính ích kỷ, làm nảy sinh sự coi thường người khác, xung đột với những người xung quanh và đồng thời thích sống cô độc

Anna Freud (1895 – 1982) [dẫn theo 52] chú ý đến mối liên hệ trong gia

đình của tuổi đầu vị thành niên khi tìm hiểu quá trình các em tách ra khỏi cha mẹ

A Freud cho rằng quá trình tách ra này được hình thành do những thay đổi sinh lý

tuổi dậy thì và sự phát triển tính dục của con Điều này được xác định bằng hiện

tượng bão tố và căng thẳng bên trong gia đình, bằng sự nổi loạn của con A

Freud, cho rằng đây là những phản ứng bình thường và không thể tránh được đối với “mặc cảm Ơ-đíp thứ hai” Theo cách phân tích này, xung đột của con tuổi đầu

vị thành niên với cha mẹ được các nhà phân tâm học nhìn nhận là biểu hiện bình thường của một quá trình tách ra và là một kích thích cần thiết cho quá trình phát triển; còn sự hòa hợp của cha mẹ với con lại được nhìn nhận như là dấu hiệu của

sự chưa trưởng thành về mặt tâm lý bên trong

- Cách tiếp cận phân tâm học mới:

Thuyết động thái – tâm lí của E Erikson (1902 – 1994) [dẫn theo 2], [38]:

Theo E Erikson, bước quá độ sang một giai đoạn phát triển mới diễn ra dưới hình thức “khủng hoảng bản sắc”, bên ngoài trông giống như những hiện tượng bệnh lí, nhưng trong thực tế lại biểu hiện những khó khăn bình thường của

sự trưởng thành Bước quá độ sang một giai đoạn phát triển mới chỉ có thể diễn ra trên cơ sở giải quyết xung đột cơ bản đặc trưng cho giai đoạn phát triển trước đó Nếu xung đột ấy không được giải quyết thì sớm hay muộn nhất định nó sẽ xảy ra

E Erikson coi tuổi đầu vị thành niên được đặc trưng bằng sự xuất hiện tình cảm về tính đồng nhất, về cá tính và không giống người khác, “cái Tôi” không rõ ràng, tính không xác định của vai trò và của nhân cách Nét điển hình của giai đoạn phát triển này là “sự trì hoãn vai trò” - phạm vi các vai trò được thực hiện và mở rộng, nhưng lứa tuổi này không lĩnh hội chúng một cách nghiêm chỉnh và nhất quán đến cùng mà dường như là chỉ để thử, để đo lường bản thân mình Và khủng hoảng

Trang 13

xảy ra là do hình thành nhu cầu độc lập về xúc cảm với cha mẹ, nhưng đồng thời vẫn phụ thuộc vào cha mẹ

Nghiên cứu của E Erikson chứa đựng nhiều quan sát có giá trị về sự phát triển của xúc cảm và tự ý thức của tuổi đầu vị thành niên, về tâm lí điển hình đối với lứa tuổi này (khủng hoảng tính đồng nhất…) Điểm hạn chế là E Erikson trong khi phân tích sự phát triển xúc cảm và tự ý thức, ít chú ý tới trí tuệ vốn là một phẩm chất tâm lí ảnh hưởng quan trọng đến nội dung của tất cả các quá trình tâm lí còn lại Đồng thời những khủng hoảng trong phát triển chỉ được E Erikson xem là hậu quả của các xung đột giữa những thuộc tính bên trong đang lớn lên ở trẻ và môi trường bên ngoài

- Cách tiếp cận tâm lý học cấu trúc:

Cách tiếp cận này coi hoạt động nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình J Piaget (1896 – 1980) [18] cho rằng tuổi đầu vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp sang thao tác hình thức, nên có nét đặc trưng là phát triển năng lực trừu tượng hóa các thao tác tư duy vượt ra khỏi những đối tượng của các thao tác

đó và có khuynh hướng lý luận hóa theo một ý nghĩa nhất định - cái chung chiếm

ưu thế hơn cái riêng Lứa tuổi này xử sự như thể là thế giới phải phụ thuộc vào các

hệ thống chứ không phải các hệ thống phụ thuộc vào thực tại khách quan Do đó,

đã xuất hiện nhiều xung đột giữa các em với những người xung quanh vì tính hay

lý luận và không chịu lắng nghe người khác

- Cách tiếp cận tâm lý học nhân văn:

A Maslow (1908 – 1970) [dẫn theo 76] đã phê phán TLH hành vi vì chỉ nhìn con người đơn thuần ở khía cạnh hành vi và cho rằng điều quan trọng nhất trong tâm lý là tính độc lập và mong muốn độc lập phát triển, vì vậy nó phải bao gồm cả tâm lý, ý thức và nhu cầu độc lập của nhân cách Chính vì vậy A Maslow

đã nghiên cứu nhu cầu độc lập và nhu cầu tự khẳng định và coi là những khái niệm quan trọng trong lý thuyết TLH nhân văn của ông

Trang 14

- Cách tiếp cận tâm lý học hoạt động:

+ L.X.Vưgotxki (1896 – 1934) là người đã đề ra những nguyên tắc phương

pháp luận và lý luận nghiên cứu tâm lý lứa tuổi thiếu niên trong thuyết văn hóa – lịch sử Đó là quan niệm về “lứa tuổi chuyển tiếp”, khủng hoảng lứa tuổi, tình huống xã hội của sự phát triển, về cấu tạo tâm lý mới của lứa tuổi và mối quan hệ cha mẹ - con tuổi thiếu niên [70]

Trên cơ sở phân tích tính biện chứng của lứa tuổi và vị trí của khủng hoảng trong quá trình phát triển nói chung, L.X.Vưgotxki cho rằng sự phát triển của một

cá nhân là quá trình đều đặn của sự thay đổi giữa giai đoạn ổn định và khủng hoảng lứa tuổi Sự khác biệt giữa hai giai đoạn này được L.X.Vưgotxki phân tích

trên cơ sở tình huống xã hội của sự phát triển: giai đoạn ổn định được xác định

bằng sự hài hòa giữa môi trường và thái độ của đứa trẻ với môi trường; còn khủng

hoảng là giai đoạn có sự chống đối, XĐTL, phủ nhận chính cơ sở phát triển của lứa tuổi Sự phát triển trong giai đoạn ổn định dần dần dẫn đến sự xuất hiện cấu trúc mới của nhân cách – cấu tạo mới Cấu tạo mới này phát triển dẫn đến chỗ vượt quá giới hạn hài hòa giữa hoạt động của đứa trẻ và những người xung quanh

và làm xuất hiện mâu thuẫn giữa những nhu cầu mới nảy sinh do hoạt động và khả năng thỏa mãn chúng Sự khắc phục những mâu thuẫn này là điều kiện cho

một cuộc cách mạng để thay đổi đặc điểm phát triển của giai đoạn khủng hoảng Theo L.X.Vưgotxki, giai đoạn khủng hoảng diễn ra trong thời gian ngắn (vài tháng, một năm hoặc nhiều là hai năm) và tập trung vào những thay đổi chủ yếu nhất, dữ dội nhất trong nhân cách đứa trẻ Đứa trẻ trong một thời gian ngắn đã thay đổi hầu như toàn bộ những đặc điểm cơ bản của nhân cách Đứa trẻ dường

như tách rời khỏi những hệ thống tác động giáo dục, bộc lộ sự sút giảm kết quả

học tập ở trường và mối quan tâm với việc học tập Đặc biệt có thể xảy ra xung đột mạnh mẽ với những người xung quanh; đứng từ khía cạnh cuộc sống nội tâm – đứa trẻ trải qua những xung đột nội tâm và sự dằn vặt bản thân

Trang 15

Theo L.X.Vưgotxki, dấu hiệu của khủng hoảng lứa tuổi là triệu chứng khó giáo dục và đó chính là những dấu hiệu của sự chuyển đổi lứa tuổi Thái độ mới của trẻ với hiện thực xung quanh, trước hết là với xã hội, là sự phủ nhận những

mối quan hệ cũ và do đó nó kéo theo hiện tượng của “sự phá hủy”, “sự thu hẹp”,

“sự biến mất” Theo L.X.Vưgotxki, trong quá trình khủng hoảng, tình huống xã hội cũ bị “mất” và bị “loại bỏ” Khủng hoảng thường đi kèm với tính khó bảo, cứng đầu cứng cổ, không nghe lời, đôi khi là sự kỳ quặc của các kiểu hành vi L.X.Vưgotxki đã coi tuổi thiếu niên là “lứa tuổi chuyển tiếp” và 13 tuổi là “giai đoạn khủng hoảng” Ở giai đoạn khủng hoảng, lứa tuổi này không còn muốn duy trì những mối quan hệ phụ thuộc, tuân thủ cứng nhắc theo mọi yêu cầu của cha

mẹ, không muốn bị cha mẹ “điều khiển” và “kiểm soát” mọi hành vi và nếu cha

mẹ không thay đổi cách đối xử với con, tạo điều kiện cho con được độc lập hơn thì xung đột có thể sẽ xảy ra giữa cha mẹ và con

+ A.N.Lêônchiev (1903-1979) [75] cho rằng lứa tuổi được xác định thông qua hoạt động chủ đạo của giai đoạn lứa tuổi nhất định và vị trí của đứa trẻ trong

hệ thống các mối quan hệ xã hội Theo A.N.Lêônchiev, giai đoạn khủng hoảng là thời điểm chuyển tiếp của hoạt động chủ đạo và sự chuyển đổi sang hệ thống mới của các mối quan hệ xã hội Do đó, khủng hoảng là giai đoạn phát triển mạnh mẽ, nhưng không có nghĩa là dấu hiệu cần thiết của sự chuyển đổi từ giai đoạn ổn định sang giai đoạn khác, từ hoạt động chủ đạo này sang hoạt động chủ đạo khác, nghĩa

là “khủng hoảng” chỉ là sự chuyển tiếp rủi ro và nếu ở đâu có khả năng xây dựng lại hệ thống giáo dục, tổ chức lại chiều hướng phát triển thì ở đó sự chuyển tiếp sẽ

xảy ra mà không có khủng hoảng

+ Quan niệm của các nhà TLH hoạt động khác về khủng hoảng lứa tuổi và

xung đột tâm lý về thần tượng:

L.I.Bazôvich [1], [69] cho rằng khủng hoảng là sự phát triển lệch chuẩn và không bình thường, là hậu quả của việc giáo dục sai lầm T.B Đragunôva [4], [72]

đã đặc biệt chú ý phân tích hành vi XĐTL của tuổi thiếu niên Theo tác giả, nếu

Trang 16

cha mẹ có thái độ giáo dục phù hợp với “cảm giác người lớn” của con (đặc biệt là

sự trải nghiệm tính độc lập người lớn) thì những dấu hiệu khó giáo dục sẽ không

xuất hiện ở lứa tuổi này Nghiên cứu của T.B Đragunôva cũng phù hợp với kết luận của L.I Bazôvich rằng khủng hoảng là phản ứng của đứa trẻ với thái độ không tương thích trong giáo dục từ phía cha mẹ Đ.B Encônhin cho rằng việc con

ở tuổi thiếu niên độc lập và giải phóng khỏi cha mẹ là nền móng của bất kỳ khủng hoảng lứa tuổi nào Đó là cơ sở căn bản để các em thiết lập nên những mối liên hệ mới với cha mẹ và vì vậy khủng hoảng lứa tuổi là cần thiết và mang tính quy luật

(bao gồm cả những đặc điểm hành vi có tính tiêu cực) Đ.B Encônhin viết: “Có thể

là khủng hoảng 3 tuổi và khủng hoảng 11-12 tuổi được gọi là khủng hoảng nhu cầu

độc lập hay sự giải phóng khỏi người lớn” [80, tr 498] Từ đó Đ.B Encônhin kết luận rằng khuynh hướng được độc lập, giải phóng khỏi cha mẹ là điều kiện cần thiết

để xây dựng nên hệ thống các mối quan hệ mới giữa đứa trẻ và cha mẹ [80, tr 403] Trong bài báo “Về vấn đề tính giai đoạn của sự phát triển tâm lý ở tuổi thơ”,

402-Đ.B Encônhin (1971) đã cho rằng tuổi thiếu niên là giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời kỳ lứa tuổi (thời thơ ấu sang thời thiếu niên) và được đánh dấu bằng “khủng

hoảng tuổi dậy thì” Trong đó, cấu tạo tâm lý mới của tuổi thiếu niên là: (1) Khuynh hướng được làm người lớn và độc lập; (2) Khả năng phục tùng các chuẩn mực của đời sống xã hội [79, tr.39-51]

Nghiên cứu tư tưởng khoa học của các nhà TLH hoạt động cho thấy rõ quan điểm chỉ đạo, sự kế thừa và mở rộng lý luận về khủng hoảng lứa tuổi Với lý thuyết văn hóa – lịch sử của L.X Vưgotxki, khủng hoảng lứa tuổi là khái niệm chung chỉ sự thay đổi tổng thể của nhân cách đứa trẻ, là sự chuyển đổi luân phiên với những giai đoạn ổn định trong quá trình phát triển Trong mối quan hệ giữa đứa trẻ và cha mẹ của chúng, khủng hoảng được thể hiện bằng xung đột (biểu hiện

ở tính khó bảo, không nghe lời, đôi khi là sự kỳ quặc của các kiểu hành vi) Do đó giải quyết XĐTL giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng cần hướng

đến thay đổi tình huống xã hội của sự phát triển, cụ thể hơn là thay đổi thái độ và

Trang 17

mối quan hệ của con đối với cha mẹ, đồng thời cha mẹ cũng phải điều chỉnh thái

độ và cách ứng xử đối với con Với thuyết hoạt động chủ đạo, A.N.Lêônchiev đã

khẳng định rằng đứa trẻ cần phải tái cấu trúc mối quan hệ với cha mẹ ở thời điểm chuyển giao hoạt động chủ đạo Ông cho rằng nếu coi khủng hoảng diễn ra là do

có sự không tương thích của mối quan hệ mới với môi trường thì bản chất của giai

đoạn khủng hoảng cần nhằm khắc phục sự không tương thích này Khủng hoảng

cần được coi là một phần, nhưng không nhất thiết phải là điểm đặc trưng của sự phát triển ở đứa trẻ và xung đột là dấu hiệu của sự chuyển tiếp lứa tuổi Vì vậy,

nghiên cứu về lứa tuổi khủng hoảng cần phải được tiến hành từ góc độ của phương diện giáo dục tức là tìm kiếm và tạo nên những hệ thống giáo dục cho phép điều khiển được quá trình phát triển, tránh những biểu hiện không hay của giai đoạn chuyển tiếp

Có thể xem đây là hai quan điểm cơ sở, chủ đạo của các nhà TLH hoạt động tiền bối, những người đã đặt nền móng lý thuyết cho lý luận về sự phát triển tâm lý lứa tuổi Dựa trên những quan điểm định hướng về “khủng hoảng”, “xung đột”,

“giai đoạn chuyển tiếp lứa tuổi” của tuổi thiếu niên mà thế hệ các nhà TLH kế tiếp như Đ.B.Encônhin, T.B.Đragunôva, L.I Bazôvich đã đi sâu nghiên cứu hiện tượng xung đột tâm lý của lứa tuổi thiếu niên với những người xung quanh

1.1.1.2 Giai đoạn 2 – từ thập niên 1980 đến nay

Giai đoạn này được đánh dấu bằng một thời kì thay đổi trong TLH phát triển, TLH xã hội và có những khác biệt đáng kể so với giai đoạn trước Ở giai đoạn này

“không có quan điểm lý thuyết nào là quan điểm trung tâm” [32] và những lý thuyết

đã từng chiếm vai trò thống trị ở giai đoạn trước được xem xét lại Bên cạnh đó, các nhà TLH phương Tây đặc biệt đề cao lý thuyết văn hóa– lịch sử của L.X.Vưgotxki Quan điểm nhìn sự phát triển tâm lý gắn liền với văn hóa xã hội này đã và đang là những mối quan tâm chính của các nhà TLH của thế kỷ XXI [32], [65] Đặc biệt, giai đoạn này còn được đánh dấu bằng nhiều nghiên cứu thực nghiệm một cách có hệ

thống về gia đình có con ở tuổi đầu vị thành niên [dẫn theo 62]

Trang 18

Có thể thấy, nghiên cứu của các nhà TLH hiện đại đã bác bỏ quan niệm về một lứa tuổi vị thành niên đầy bão táp và giông tố, đầy bi quan và chán nản, luôn muốn tách ra để được độc lập với CM Vì vậy, thay đổi nổi bật trong nghiên cứu lý luận hiện nay là vấn đề xây dựng khái niệm thay thế cho khái niệm “bão táp và giông tố” của G.S.Hall và “tách ra” của các nhà phân tâm học Con có mối quan hệ gần gũi với CM thì có điểm số đo lường tâm lý về tính tự tin, tự khẳng định, tính có trách nhiệm cao Ngược lại, con không được gần gũi với CM thì có điểm số đo lường tâm

lý thấp hơn và có liên quan nhiều với những vấn đề xã hội, kể cả sử dụng ma túy, chán nản và những hành vi phạm pháp [57] Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng mức

độ trung bình của sự gần gũi cha mẹ – con là tốt hơn so với sự gần gũi quá mức hoặc quá ít Nghĩa là CM nào kiểm soát quá mức về mặt tâm lý hoặc quá nuông

chiều con đều làm cho quá trình phát triển của chúng có vấn đề Hầu như tất cả các nhà nghiên cứu về QHCMC ở tuổi vị thành niên đều đồng ý rằng sự thay đổi mối QHCMC được hình thành trong suốt giai đoạn bắt đầu từ tuổi đầu vị thành niên, có tính đa dạng ở những gia đình khác nhau và có khuynh hướng ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần và hành vi của con nếu xảy ra xung đột trong gia đình Khuynh hướng

nghiên cứu của các nhà TLH hiện nay là hình thành những lý thuyết mới về sự

chuyển tiếp bình thường trong QHCMC [37, tr.899-932] và mối quan hệ phụ thuộc

lẫn nhau giữa CM và con cùng với mong muốn của CM vẫn duy trì những ràng buộc gần gũi với con, tuy vẫn có những va chạm, xung đột không tránh khỏi khi con ở vào tuổi vị thành niên [66]

Có thể liệt kê một số thành tựu nghiên cứu của các nhà TLH về XĐTL giữa cha mẹ và con lứa tuổi vị thành niên về thần tượng ở giai đoạn này như sau:

- Nghiên cứu những biểu hiện của XĐTL: được thể hiện trong những nghiên

cứu về tỷ lệ con ở tuổi đầu vị thành niên gặp khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp

và đỉnh điểm XĐTL của con với cha mẹ Theo kết quả nghiên cứu của D Offer và M.Sabshin (1984) [55], 21% con gặp phải những kinh nghiệm đau buồn do XĐTL với cha mẹ; khoảng 21 % gặp rất ít trở ngại và khoảng 58% gặp phải một số vấn

Trang 19

đề về cảm xúc và tinh thần Nghiên cứu của J G Smetana (1989) [60] đã chứng minh rằng thậm chí những em được coi là ngoan ngoãn thì trong quan hệ với cha

mẹ mỗi tuần cũng có ít nhất hai lần xảy ra XĐTL với nhau Sự hài lòng về gia đình, niềm tự hào của các gia đình có con ở tuổi đầu vị thành niên đã thấp hơn những gia đình có con ở các nhóm lứa tuổi khác và sự căng thẳng trong gia đình cũng cao hơn những giai đoạn lứa tuổi khác

- Nghiên cứu bản chất XĐTL: Các nhà nghiên cứu [53], [63] cho rằng mặc

dù phần lớn xung đột xảy ra trong gia đình dường như không có gì nặng nề (con đi chơi về khuya, ngủ không đúng giờ giấc, ăn mặc không phù hợp với lứa tuổi…), nhưng chính những xung đột ở mức độ thấp đó lại có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển tâm lý của con lứa tuổi đầu vị thành niên

Theo A.V Pêtrovxki [16, tr.118], R.Forehand và đồng nghiệp (1986) [40], lứa tuổi đầu vị thành niên đã hình thành được mối quan hệ mới với CM, nghĩa là chúng bắt đầu chống đối lại những yêu cầu trước đây vẫn được thực hiện một cách

tự nguyện, dễ chạm tự ái và phản kháng lại khi bị CM hạn chế nhu cầu độc lập của chúng Thậm chí có thể sẽ phản ứng bằng cách bỏ nhà ra đi để tìm kiếm mối quan

hệ thân tình với những người bạn bên ngoài gia đình

- Nghiên cứu nguyên nhân xung đột tâm lý

+ Sự vi phạm những quy định trong gia đình:

Vô số nghiên cứu của các tác giả V.C.Zaclugenhuc và V.A.Xemichencô (1996) [73], L.D Steinberg (1990) [62], R Montemayor (1983) [49], [50],

R.Montemayor & E.Hanson (1985) [51], J.G Smetana (1988) [59] cho thấy giai đoạn chuyển tiếp từ thời thơ ấu sang tuổi đầu vị thành niên và giữa vị thành niên đánh dấu bằng những xung đột dai dẳng của con với CM về những chi tiết hàng ngày trong đời sống gia đình như: bài tập về nhà, việc nhà, không nghe lời, việc con có thần tượng, cuộc sống xã hội, bạn bè, đánh và cãi nhau với anh/chị em, học

bị điểm kém, vệ sinh cá nhân… Nói khái quát hơn là con lứa tuổi đầu vị thành

Trang 20

niên và giữa vị thành niên đã phá vỡ các quy tắc, chuẩn mực của gia đình, không chấp hành những yêu cầu của cha mẹ

+ Nguyên nhân từ phía cha mẹ:

V.C.Zaclugenhuc và V.A.Xemichencô (1996) [73] cho rằng cha mẹ thường quan niệm rằng con có nhiệm vụ thực hiện những ước mơ và kỳ vọng của họ (chẳng hạn: học giỏi, hát hay…) và nếu con hành động ngược lại sẽ tạo nên sự bế tắc về tâm lý và khoảng cách với cha mẹ

- Nghiên cứu giải pháp can thiệp và giải quyết XĐTL: N.L Galambos &

D.M Almeida (1992) [43] cho rằng sự hợp tác và bàn bạc giữa CM và con tuổi đầu vị thành niên là những thành tố cần thiết giúp cho một xung đột mang lại hiệu quả tích cực Iu.V Backina và A.X Xpivakovxcaia (1989) [68] đề xuất những phương pháp giải quyết XĐTL giữa CM và con Họ nhấn mạnh rằng việc giải quyết xung đột đòi hỏi cả CM và con không chỉ có tri thức về các biện pháp giải quyết mà còn là sự chuẩn bị tâm thế chủ động để giải quyết xung đột

- Nghiên cứu về người nổi tiếng: Sự nổi tiếng như là một hiện tượng truyền thông đại chúng

Vào thập niên 1970, khoa học xã hội bắt đầu phân tích hiện tượng nổi tiếng

ở cương vị ngôi sao (stardom) Theo Johansson S (2008) trong bài báo “Những bài học kinh điển về cương vị ngôi sao” [41] và Boorstin D (1961, 1971) trong

“Hình tượng: Một hướng dẫn đến những sự kiện ở Mỹ” [31], Alberoni (1972) và Dyer (1979) đã xem xét về “những đại biểu các các ngôi sao và các khía cạnh của

hệ thống ngôi sao Hollywood” Johansson chú ý rằng “ngày càng có nhiều phân tích gần đây trong lĩnh vực truyền thông và nghiên cứu văn hóa (ví dụ Gamson (1994); Marshall (1997); Giles (2000); Turner, Marshall va Bonner (2000); Rojek (2001) và Turner (2004)) đã có những ý tưởng về tính lan tỏa của ảnh hưởng, tính hiện đại, và văn hóa nổi tiếng”

- Nghiên cứu về thần tượng tuổi thiếu niên (Early teen idols)

Trang 21

Thần tượng tuổi thiếu niên (teen) là một hiện tượng xuất hiện vào thế kỷ

20, thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng Người đầu tiên được coi là thần tượng tuổi teen là Rudolph Valentino, người có ngoại hình bắt mắt, được thể hiện trong những bộ phim câm như The Sheik Valentino là người đã thu hút rất nhiều sự chú ý của nữ giới, rất nhiều người đã mắc căn bệnh hysteria sau khi nghe tin Valentino chết năm 31 tuổi (1926) Frank Sinatra là một

ca sĩ nhạc pop được coi là thần tượng tuổi teen nổi tiếng nhất thời đó, nhờ ngoại hình và giọng hát của mình

Thập niên 1950 – 1970 Thần tượng tuổi teen nổi tiếng thế giới là ca sĩ nhạc rock Elvis Presley, ngôi sao điện ảnh James Dean, và những nghệ sĩ được coi là giải phóng hình tượng thần tượng tuổi teen như Frankie Avalon, Fabian và Paul Anka Những thần tượng này được coi là những người làm thay đổi hình tượng của người đàn ông từ chỗ hoang dã sang người dịu dàng, nhẹ nhàng, ít cơ bắp và không nổi loạn như kỷ nguyên trước

Sau chiến tranh, tuổi teen có khả năng mua được những máy hát khá rẻ và

có loại có thể mang được đến nhà bạn bè, tính năng vượt trội và có thể nghe nhạc

có chất lượng giống như nghe qua radio

Vào thập niên 1950 phần lớn thiếu niên thích loại âm nhạc được viết dành riêng cho người lớn Nhưng vào thập niên 1960 thiếu niên thích nhạc viết riêng cho lứa tuổi, thời trang và tính trữ tình của mình Phụ huynh lo lắng thiếu niên sẽ

bị ảnh hưởng bởi những thần tượng có vẻ ngoài khó gần và nổi loạn

- Nghiên cứu xây dựng thang đo lường sự suy tôn thần tượng:

Các nhà tâm lý học Mỹ, Anh đã xây dựng thang đo sự suy tôn thần tượng

để đo lường những vấn đề về cảm xúc và hành vi của người hâm mộ Trong năm

2002, các nhà tâm lý học Mỹ Lynn McCutcheon, Rense Lange và James Houran

đã giới thiệu thang có 34 câu được thực hiện trên 262 người sống ở Florida Thang suy tôn thần tượng được so sánh một khía cạnh từ điểm thấp nhất trên thang, gồm

Trang 22

những cá nhân có những hành vi như: xem, nghe, đọc và tìm hiểu về người nổi tiếng và mức độ cao hơn của sự suy tôn là có cảm tình, gắn bó trên mức bình thường và suy tôn thần tương Sau đó các nhà tâm lý học Anh đã đề nghị có 3 khía cạnh suy tôn thần tượng khác nhau là: giải trí xã hội, nhân cách nồng nhiệt và ranh giới bệnh lý

Tóm lại: Ở nước ngoài, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu rất nhiều

về lứa tuổi đầu vị thành niên cùng những xung đột tâm lý xảy ra giữa các thành viên lứa tuổi này với cha mẹ Giai đoạn 1 (từ đầu thế kỷ XX đến thập niên 1980)

là quá trình hình thành các lý luận có tính chất định hướng cho nghiên cứu về

XĐTL giữa cha mẹ và con của các trường phái TLH khác nhau, tạo tiền đề lý luận

cho việc nghiên cứu chuyên sâu ở giai đoạn sau

Giai đoạn 2 (từ thập niên 1980 đến nay) các nhà TLH có những thay đổi

trong định hướng nghiên cứu về gia đình có con ở lứa tuổi đầu vị thành niên cho thấy vấn đề nghiên cứu XĐTL giữa cha mẹ và con ở lứa tuổi này về thần tượng đã được quan tâm nhiều Giới nghiên cứu nước ngoài đã chú trọng nhiều mặt của vấn

đề, đi sâu nghiên cứu từ biểu hiện của XĐTL, bản chất của XĐTL đến nguyên nhân, giải pháp và kết quả của XĐTL Mặc dầu chưa thống nhất một số quan điểm nhưng những thành tựu nghiên cứu thực nghiệm đó đã phần nào cho chúng ta hiểu biết những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ giữa cha mẹ và con ở lứa tuổi đầu vị thành niên Đồng thời chứng tỏ đây là vấn đề bức thiết mang tính thời sự trong xã hội hiện đại Các nhà TLH cũng chỉ rõ rằng nghiên cứu về lứa tuổi khủng hoảng cần phải được tiến hành từ góc độ của phương diện giáo dục tức là tìm kiếm và tạo

nên những hệ thống giáo dục cho phép điều khiển được quá trình phát triển, tránh

những biểu hiện không hay của giai đoạn chuyển tiếp Đó chính là lý do mà chúng tôi chọn khách thể nghiên cứu là học sinh THCS (tuổi thiếu niên), bởi bước đầu nghiên cứu, thử nghiệm trước hết chỉ trong môi trường giáo dục, sau đó mới dần dần mở rộng hệ thống giáo dục ra toàn xã hội

1.1.2 Ở Việt Nam

Trang 23

Thập niên 1990 đánh dấu một giai đoạn có nhiều nghiên cứu mang tính chất chiến lược và phương pháp luận của các nhà khoa học về XĐTL nhìn từ góc độ TLH xã hội và TLH gia đình, như Trần Trọng Thủy, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng, Nguyễn Khắc Viện, Lê Thị Bừng … Các nhà khoa học đã bước đầu đưa ra lý luận về xung đột, các giai đoạn của xung đột trong các mối quan hệ gia đình vợ – chồng, cha mẹ – con, xung đột trong quản lý

Ngô Công Hoàn (1993) đã đề cập đến vấn đề xung đột giữa các thành viên

trong gia đình: “đó là xung đột về nhận thức, quan điểm, thái độ và những thói quen hành vi ứng xử trong tổ chức đời sống sinh hoạt của các thành viên ở gia đình”

Những xung đột này nếu chỉ dừng lại ở nhận thức thì chưa dẫn đến xung đột, mà bao giờ xung đột nhận thức, quan điểm cũng bộc lộ qua thái độ và hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình Do vậy, thực chất xung đột giữa các thành viên trong gia

đình là “sự đối lập về quan điểm, thái độ, hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình trong quá trình tổ chức đời sống sinh hoạt của họ” [7, tr.78]

Thập niên 1990 còn đánh dấu một giai đoạn có nhiều nghiên cứu lớn về đề tài gia đình từ góc độ xã hội học và thông qua đó các nhà nghiên cứu đã đưa ra kiến nghị xây dựng chính sách đối với gia đình [13], [20], [24] Những kết quả nghiên cứu cho ta hiểu thực trạng giáo dục gia đình Việt Nam và những khác biệt trong QHCMC giữa gia đình Việt Nam truyền thống và gia đình hiện đại Các nhà nghiên cứu cũng xác nhận thực trạng đáng lo ngại về mối quan hệ ít gần gũi gắn

bó giữa CM và con, đưa ra nguyên nhân quan trọng gây nên xung đột trong

QHCMC là do CM thiếu kiến thức về tâm lý của con và không biết cách cư xử với con cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển tâm lý của chúng

Bước vào thập niên đầu những năm 2000, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến các đề tài nghiên cứu tâm lý trong lĩnh vực gia đình

Về mặt nghiên cứu lý luận, nghiên cứu của tác giả Lê Đức Phúc (2003) [17]

“Xung đột trong gia đình”, đã đưa ra 5 cấp độ xung đột thường thấy trong cuộc

Trang 24

sống hàng ngày: cấp độ cá nhân, cấp độ cha mẹ, cấp độ cha mẹ – con, cấp độ anh chị em trong gia đình và cấp độ nhiều thế hệ

Công trình nghiên cứu của Lê Văn Hảo (2001) [6, tr.28-35]: “Quan hệ cha

mẹ – con là thanh niên: bất đồng và ứng xử” ở học sinh lớp 11, 12, tuổi từ 17-25 tại các trường PTTH thuộc 5 tỉnh và thành phố vào năm 1998 đã đưa ra một số kết quả về mối QHCMC như: thiếu niên ở khu vực đô thị có bất đồng với CM nhiều hơn so với ở nông thôn; Nguyên nhân gây bất đồng chủ yếu giữa cha mẹ và con là: việc học hành, việc nhà và các vấn đề hàng ngày

Thập niên những năm 2000 này còn phải kể đến những đề tài nghiên cứu về XĐTL trong tập thể và trong các mối quan hệ liên nhân cách của luận án tiến sĩ Các

đề tài luận án tiến sĩ này đã hệ thống được những quan điểm lý luận khác nhau về xung đột, tìm ra nguyên nhân xung đột và phương pháp giải quyết xung đột trong quan hệ vợ chồng [15], trong tập thể quan nhân ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam [25] và trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo [21]

Như vậy, trải qua gần hai thập niên của những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, vấn đề XĐTL trong quan hệ liên nhân cách, về gia đình và TLH gia đình, đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên bắt đầu được các nhà khoa học nước nhà quan tâm nghiên cứu và đã phần nào giải quyết được những vấn đề lý luận về gia đình, tâm lý gia đình, về vai trò của gia đình truyền thống và gia đình hiện đại… Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến lứa tuổi thiếu niên, những nhu cầu nảy sinh trong quá trình phát triển và XĐTL giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên hầu như vẫn bị bỏ ngỏ Vì vậy nghiên cứu XĐTL giữa cha mẹ và con lứa tuổi thiếu niên về thần tượng là rất cần thiết

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN

1.2.1 Nhu cầu về thần tượng ở lứa tuổi thiếu niên

1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu

Trang 25

Thông thường nhu cầu được hiểu là những đòi hỏi tất yếu, khách quan được con người phản ánh trong những điều kiện cụ thể và con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển [5], [26] Chỉ có nhu cầu mới thúc đẩy được tính tích

cực của cá nhân trong quá trình hoạt động để duy trì sự tồn tại của mình và các thế

hệ kế tiếp Nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản như:

- Nhu cầu của con người chịu sự quy định của hoàn cảnh bên ngoài và trạng thái riêng của từng chủ thể

- Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội

- Nhu cầu có tính đa dạng, phức tạp nhờ hoạt động phong phú của con người

- Bất cứ nhu cầu nào cũng có đối tượng thỏa mãn nhu cầu Đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần Khi đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu, được chủ thể nhận thức, phản ánh và trở thành động cơ Cùng một nhu cầu nhưng mỗi người lại có cách tiếp cận đối tượng và đạt được mục đích bằng các phương tiện khác nhau

- Các nhu cầu của cá nhân không bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn, nhưng khi đã thỏa mãn các mục tiêu thấp hơn, con người lại tiếp tục phấn đấu ở mức cao hơn

1.2.1.2 Khái niệm người nổi tiếng và thần tượng

Người nổi tiểng (tiếng Anh là: celebrity) là từ thường được dùng trong ngôn ngữ văn hóa đại chúng với ý nghĩa là người được thừa nhận và nhiều người biết đến trong xã hội hay nền văn hóa Hoặc theo định nghĩa của Wikipedia [1] thì người nổi tiếng là người có được sự chú ý của phương tiện truyền thông và thường

là nhân cách nổi bật

Thần tượng (tiếng Anh là Idol) là (1) người được sùng bái, ngưỡng mộ;(2) Đối tượng nào đó được tôn thờ, sùng kính (Theo từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên) [4]

Trang 26

Từ diễn giải ở trên cho thấy khái niệm “thần tượng” là kết quả của khái niệm “người nổi tiếng” Một khi con người được nổi tiếng và được nhiều người trong xã hội biết đến thì họ sẽ trở thành thần tượng trong xã hội Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại ngày nay, hai khái niệm này có đặc điểm chung là đều liên quan đến hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng Có nhiều cách khiến con người có thể nổi tiếng, từ nghề nghiệp (ca sĩ, diễn viên điện ảnh, kịch nói,…) đến thể thao, ngoại hình ăn ảnh, vẻ đẹp hay thậm chí là do xì căng đan Thế kỷ 21 còn xuất hiện những người nổi tiếng từ những chuyện do nhà bình luận đưa ra, các báo khổ nhỏ, những nhà nhiếp ảnh tự do chuyên săn ảnh (paparazzi) và từ những người chuyên viết nhật ký trên mạng (blogger) Nhờ sự lớn mạnh của ngành công nghiệp truyền thông khiến cho những người nổi tiếng được nhìn thường xuyên hơn, ở nhiều địa điểm khác nhau hơn Và do đó người ta cũng nhanh chóng nổi tiếng hơn Những người nhanh chóng nổi tiếng và nhanh chóng bị quên lãng được gọi là người nổi tiếng hạng B (kiểu mì ăn liền) [47] Có người đạt được sự nổi tiếng trong thời gian rất ngắn thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hay quảng cáo nhưng họ vẫn tiếp tục nổi tiếng nhờ biết cách khai thác hình ảnh

Có thể có nhiều dạng người nổi tiếng khác nhau [48]:

- Người nổi tiếng trong giới hạn một vùng miền, hay một nền văn hóa nào đó Mỗi nền văn hóa và vùng địa lý có những người nổi tiếng nhờ phim ảnh, truyền hình và thể thao Đôi khi có người rất nổi tiếng trong nước nhưng không nổi tiếng ở nước ngoài

- Những người nổi tiếng quốc tế là những người được cả thế giới biết đến Chẳng hạn, Celine Dion là ca sĩ nổi tiếng trên thế giới

- Những người nổi tiếng trong một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp và chỉ được những người cùng ngành nghề biết đến

Không phải tất cả những người nổi tiếng đều chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực hoạt động của mình, một vài lĩnh vực hoạt động trở nên lớn hơn những lĩnh vực

Trang 27

hoạt động khác và nhiều người nổi tiếng có được sự nổi tiếng của mình trong lĩnh vực hoạt động đó Chẳng hạn, vận động viên điền kinh nổi tiếng cả đối với những người không thích thể thao Có những người nổi tiếng đối với những người thậm chí không biết lĩnh vực hoạt động của người nổi tiếng đó là gì Chẳng hạn, tên Pablo Picasso nổi tiếng cả với những người không quan tâm đến hội họa Người không sử dụng máy tính cũng có thể biết Bill Gates là ai

Khó đo lường mức độ nổi tiếng của ai đó đến từ vùng miền xa xôi mà không thể có các phương tiện truyền thông đại chúng có tầm cỡ quốc tế hoặc những con người không muốn trở thành nổi tiếng Những nhà bình luận và nhà báo trên phương tiện truyền thông ở các nước nói tiếng Anh đôi khi xếp loại

những người nổi tiếng theo danh sách A, B, C, D Sự xếp loại thông tin này cho thấy việc xếp đặt vị trí theo thứ bậc Tuy nhiên, vì có những mức độ nổi tiếng khác nhau từ những vùng miền khác nhau, nên rất khó xếp con người trong một thang

đo Một ca sĩ ở nước Nga được xếp hạng A nhưng chỉ được xếp hạng B ở nước khác Có một cách xếp hạng khách quan người nổi tiếng của các nước thành các danh sách A, B, H… là sử dụng hệ thống đếm của Google Nhưng vì phương pháp này là định lượng nên nó chỉ có tác dụng cho những cá nhân có tên dễ phân biệt

Sự nổi tiếng cũng đến với những nhân vật tưởng tượng Chú chuột Mikey là nhân vật nổi tiếng nhất từ các nhân vật phim hoạt hình Con quỷ trên màn ảnh nổi tiếng nhất là King Kong và Godzilla; nhà thám tử tài ba Sherlock Holmes và nhân vật 007 James Bond Trong nhiều trường hợp, các nhân vật nổi tiếng hơn cả những người đã sáng tạo ra nhân vật đó Những nhân vật nổi tiếng như Superman,

Spider-Man và Batman là những siêu anh hùng nhưng những nghệ sĩ đóng vai và nhà viết kịch, những người đã tạo ra những nhân vật đó lại chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực nghề nghiệp họ hoạt động mà thôi

Nghề nghiệp tạo ra người nổi tiếng: Một số hoạt động nghề nghiệp, theo

bản chất của nó, được nâng lên cao, và được coi là có khả năng được nổi tiếng

Trang 28

Chẳng hạn, những ngôi sao phim ảnh và truyền hình có khuynh hướng trở thành người nổi tiếng Những nhà chính trị gia, doanh nghiệp, những nhà bình luận truyền hình, những nhà vận động viên điền kinh, những nhà soạn nhạc … cũng có khuynh hướng trở thành người nổi tiếng Một vài thủ lĩnh làm những công việc nhân đạo như Mẹ Teresa cũng có được sự nổi tiếng vì hoạt động từ thiện của họ Một số ngưởi có được sự nổi tiếng từ hệ thống mạng nên gọi là người nổi tiếng

trên Internet

Sự nổi tiếng như là một hiện tượng truyền thông đại chúng

Trong nghiên cứu của Greene R (2000) [44] “Những ngôi sao điện ảnh, ngôi sao sân khấu không đòi hỏi dành cho bất cứ một quyền lợi nào … những người tài giỏi muốn sáng tạo ra điều gì đó, điều gì đó được viết ra, được vẽ nên, được nặn ra, được thể hiện nhân vật… và nó cần được truyền tải đến công chúng” Với sự phát triển của các chương trình truyền hình, Greene chỉ ra rằng công chúng trở thành những người sáng tạo, những ngôi sao được cho là xuất hiện từ những chương trình truyền hình thực tế, như: “người sống sót”, “Tình anh em” đã trở nên nổi tiếng không phải vì diễn xuất mà bởi vì sự tồn tại của nó

Greene cho rằng: “Bạn chỉ đơn giản tồn tại ở đúng nơi, đúng chỗ thì sẽ trở nên nổi tiếng một khi những kỹ năng có ấn tượng của bạn có thể mang đến cho đám động sự chú ý” Do đó truyền hình thực tế là “một chương trình khi một người nào đó trở thành người của công chúng dù chỉ là một con người trong công chúng”

Theo Frydman M “Những người nổi tiếng có tiếng tăm có thể so sánh với địa vị của hoàng gia” Do đó có một sự hiếu kỳ rất lớn của quần chúng về những chuyện riêng tư cá nhân Người nổi tiếng có thể bực bội vì những nụ hôn, ly dị… của họ được phương tiện truyền thông sử dụng và quần chúng có thể thích hay ghét mối quan hệ với những người nổi tiếng Vì vậy việc quan sát đời tư, những thành công hay thất bại của những người nổi tiếng thường được đăng công khai và

có tính đại chúng Những người nổi tiếng lần lượt đóng vai như những tấm gương

Trang 29

sáng về sự hoàn hảo khi họ được nhận những giải thưởng hay trở thành những người bê bối, vô đạo đức nếu họ có liên quan đến những vụ scandal Khi nhìn người nổi tiếng từ một khía cạnh tích cực, họ thường là những chân dung có

những kỹ năng và khả năng vượt xa người bình thường Ví dụ, diễn viên kịch nổi tiếng thông thường do sự nổi tiếng của việc có những kỹ năng đóng kịch cần thiết cho một vai kịch trong một khoảng thời gian nhất định, và ở mức độ cao của nghề nghiệp Tương tự, người nổi tiếng có trình độ học vấn khiêm tốn có thể xây dựng hình ảnh của một chuyên gia hoàn thành tốt nhất những yêu cầu nghề nghiệp nào

đó

Những tạp chí khổ nhỏ và những chương trình nói chuyện trên truyền hình

đã dành cho những người nổi tiếng sự chú ý đặc biệt Để tiếp tục tồn tại trong sự chú ý của công chúng và có tiền, nhiều người nổi tiếng còn tham gia vào những hoạt động quảng bá hình ảnh cho các loại sản phẩm thời trang, nước hoa, nhà ở,…

Chris Hedge (2009) trong cuốn sách “Đế chế của ảo ảnh: Kết cục của sự nổi tiếng và hào quang chiến thắng” đã nói đến “văn hoá nổi tiếng” (celebrity

culture) Ông cho rằng văn hóa nổi tiếng là cách đề cao/ tạo dựng ngôi sao của ngành truyền thông Các chương trình truyền hình như: Thần tượng âm nhạc, hát với ngôi sao, … Ông chỉ trích tính “hư vô về đạo đức” trong văn hóa thần tượng, ở

đó con người trở thành hàng hóa, trong khi có những người sở hữu quyền lực đích thực – là những nghiệp đoàn/ hiệp hội và những nhà chính trị - lại giấu mặt

15 phút nổi tiếng (15 minutes of fame)

Andrew Warhola dùng cụm từ “15 phút nổi tiếng” Những bình thường trong thế kỷ 21 có thể trở thành nổi tiếng một cách đơn giản nếu đúng thời điểm

và thời gian Những người “nổi tiếng” lúc đầu là “không ai cả” nhưng sau đó trở thành người nổi tiếng dựa trên những điều kỳ cục Chẳng hạn Tiffany Pollard là người bình thường nhưng nổi tiếng nhờ tham gia vào chương trình truyền hình thực tế Những ngôi sao nổi tiếng trong 15 phút này sẽ nổi tiếng trong thời gian

Trang 30

cũng giải thích vì sao có người nổi tiếng thế giới trong một thập kỷ, thập niên… nhưng sau đó không còn ai nhắc đến nữa Chẳng hạn, MC Hammer là người nổi tiếng trong thập niên 1990 nhưng những thế hệ sau này không còn biết tên và âm nhạc của ông Nhưng ngược lại có những người nổi tiếng trong thời gian họ còn sống, sau khi mất đi họ không còn nổi tiếng nhưng danh tiếng của họ lại nổi lại vào những thập kỷ sau đó Chẳng hạn, họa sĩ Rembrandt van Rijn, nhà soạn nhạc

vĩ đại W.A Mozart Một số người, họa sĩ tài danh Vincent van Gogh hoàn toàn không nổi tiếng trong thời đại ông sống, ông chỉ bán được một bức tranh duy nhất trong đời Chỉ một vài năm sau khi ông mất đi thì ông lại được coi là một họa sĩ thiên tài, người khai phá trong hội họa và nổi tiếng toàn thế giới

Có những người không chỉ được nổi tiếng trong thời đại của mình nhờ có phim ảnh, những câu chuyện hay những huyền thoại bao quanh cuộc đời của họ Chẳng hạn, Cleopatra sống trong trí nhớ của nhiều người vì vẻ đẹp của người phụ

nữ theo cách đánh giá của người hiện đại Ronald Reagan nổi tiếng với vai trò nhà chính trị hơn là vai trò của một diễn viên điện ảnh

Người nổi tiếng và mạng xã hội

Khi người nổi tiếng đi đến đâu thì người hâm mộ đi theo tới đó Những người nổi tiếng đã chiếm đầy khắp các mạng xã hội như Twitter, Facebook và MySpace Những mạng xã hội cho phép người nổi tiếng giao tiếp trực tiếp với người hâm mộ của mình Hiện nay còn có mạng xã hội cho phép một người bình thường nổi tiếng trong 15 phút như Bigshot Hotshot (người quan trọng – người khéo ứng xử) Đó là mạng cho phép người sử dụng đăng ký vào trang thống kê nổi tiếng Mỗi ngày một người mới được lựa chọng và hồ sơ của họ được đăng trên trang nhất của Bigshot Hotshot trong một ngày

1.2.1.3 Nhu cầu thần tượng ở tuổi thiếu niên (teen idol)

Thần tượng ở tuổi thiếu niên là một người nổi tiếng được thiếu niên thần tượng Đó là những người trẻ nhưng không nhất thiết phải đang ở tuổi thiếu niên

Trang 31

Thường thần tượng tuổi teen là những diễn viên điện ảnh, kịch nói hay ca sĩ nhạc pop, và một vài vận động viên thể thao nổi tiếng Một vài thần tượng tuổi thiếu niên là những diễn viên nhí Sự nổi tiếng của thần tượng có thể hạn chế trong tuổi thiếu niên hoặc có thể mở rộng ra ở những nhóm lứa tuổi khác

Có thần tượng tuổi thiếu niên trước khi có những tạp chí cho tuổi thiếu niên, nhưng những thần tượng thường là những hình mẫu không đổi trong những tạp chí như Mực tím, Hoa học trò Những chương trình quảng cáo trên truyền hình cũng có tác dụng hình thành thần tượng tuổi thiếu niên Chẳng hạn, ca sĩ Britney Spears, Christine Aguilera, Miley Cyrus hoặc ca sĩ Minh Hằng, Bảo Thy… là những thần tượng tuổi thiếu niên như vậy

Bản chất của thần tượng tuổi thiếu niên là khơi dậy bản năng giới tính của thiếu niên mà không làm tổn hại các em Vào những thập niên 1970 một vài ngôi sao được yêu cầu làm sạch lông ở ngực vì lông ngực được coi sẽ làm tổn thương các em thiếu niên nữ Ở những thập niên trước, thần tượng tuổi thiếu niên được coi là có thể tiếp cận được nên thần tượng thường có mối quan hệ lãng mạn, kết hợp với bí mật lo sợ bị giảm mất sự nổi tiếng Thời gian gần đây, thần tượng tuổi thiếu niên là khái niệm đã có sự thay đổi Thần tượng ngày nay là những ngôi sao điện ảnh, truyền hình, ca sĩ nhạc pop và cả những siêu mẫu Cuộc sống riêng tư của những người nổi tiếng này không còn là điều cấm kỵ Ngược lại đã có hẳn một công nghệ của các tạp chí lá cải, những chương trình truyền hình và rất nhiều kênh truyền hình khác nhau khai thác và lăng xê họ

Trên thị trường dành cho tuổi teen, các nhà kinh doanh thường được tập trung vào việc tạo hình ảnh Thần tượng tuổi teen được nuôi dưỡng, chuẩn bị từ trước khi trở thành thiếu niên đề khơi gợi được những trẻ em trước tuổi teen và những khán giả nữ tuổi teen Những thần tượng tuổi teen được chuẩn bị về hình thức và hình ảnh tươi sáng, không nguy hiểm cho khán giả trẻ và làm hài lòng phụ huynh khó tính Thần tượng tuổi teen không bao giờ là người độc lập và gây ra nỗi

lo sợ cho phụ huynh Vì vậy thần tượng không bao giờ xuất hiện thiếu phụ huynh

Trang 32

đi cùng Đó là những thần tượng nổi tiếng, tính tình trẻ con và phụ thuộc Các phương tiện truyền thông đã lăng xê các thần tượng có hình ảnh hấp dẫn, “an toàn” như Tommy Sand, Ricky Nelson,…

Có sự phân biệt giữa khái niệm “tự nhiên” và “công nghiệp hóa” Elvis Presley lúc đầu là ca sĩ nhạc blues và nhạc đồng quê cho đến khi anh trở thành thần tượng tuổi teen từ sớm, khi được người quản lý áp dụng các biện pháp lăng

Các nhóm nhạc The Beatles và The Rolling Stones đã trở thành thần tượng tuổi teen từ rất sớm trong nghề nghiệp của họ The Rolling Stones là những hình tượng hơi nổi loạn, còn The Beatles trở thành thần tượng trong quá trình trưởng thành của nhóm

Một trong những đặc điểm của thần tượng tuổi teen là người hâm mộ cũng trưởng thành cùng với âm nhạc của họ, và đó không phải là loại âm nhạc mà người lớn muốn nghe, trừ khi đó là những người luyến tiếc quá khứ

Từ thập niên 1980 đến nay, công nghệ lăng xê thần tượng tuổi teen đã trở nên phát triển mạnh mẽ hơn Sự lớn mạnh của kênh truyền hình MTV và sự thành công của các nhóm nhạc nam thập niên 1990 và 2000 đã tiếp tục tạo nên nguồn lực cho hiện tượng này Bên cạnh những sự kết hợp rõ ràng của những gì chúng ta nhận thức là tốt, hình ảnh đẹp và đều khắp thì hầu hết những chiến dịch quảng bá thị trường lớn đều thể hiện cách tiếp cận “nhóm nhạc công nghiệp hóa” với chiến lược “mọi điều cho một người” Chiến lược này bị chỉ trích là không hoàn toàn hướng về âm nhạc Mỗi thành viên trong nhóm hát có thể được lăng xê riêng biệt thành một nhân cách riêng, như “người thông minh”, “người nhút nhát”, “người nổi loạn” Chẳng hạn, các nhóm nhạc Backstreet Boys, ‘N Sync và Jonas Brothers

Hội chứng suy tôn thần tượng

Hội chứng suy tôn thần tượng (celebrity worship syndrom – CWS) là một hiện tượng rối nhiễu ám ảnh – nghiện, trong đó con người trở nên quá quan tâm

Trang 33

những chi tiết về đời tư của thần tượng Các thần tượng trở thành đối tượng cảm xúc của các fan hâm mộ và có những hội chứng bất bình thường khi họ thể hiện thái độ và hành vi không mong muốn

Hội chứng suy tôn thần tượng lần đầu tiên được John Maltby (ĐH

Leicester) đề cập vào năm 2003 (Maltby et al 2003) trong quá trình xây dựng thang đo lường sự tôn sùng thần tượng (Celebrity Worship Scale) John Maltby đã tìm ra 3 loại suy tôn thần tượng:

(1) Giải trí xã hội (entertanment - social): đó là những thái độ mà người

hâm mộ bị cuốn hút với thần tượng vì họ nhận thức được khả năng giúp họ giải trí

và có tính xã hội như “Tôi thích nói với những người khác rằng ai là người nổi tiếng mà tôi thích” và “Tôi thích nhìn và nghe thần tượng ưa thích của tôi khi tôi đang ngồi với nhóm bạn”

(2) Nhân cách nồng nhiệt (intense – personal): Là khía cạnh mà người

hâm mộ cảm nhận được sự nồng nhiệt và hấp dẫn về sự nổi tiếng, gần giống như

là người thân thuộc Chẳng hạn, “Tôi thấy thần tượng ưa thích của tôi giống như một sự cam kết mà không thể nói lên thành lời” và “Khi một điều gì đó không hay

xảy ra cho thần tượng của tôi, tôi muốn nó xảy ra với tôi”

(3) Ranh giới bệnh lý (Borderline-pathological): Hành vi của con người

trở nên không thể kiểm soát được và người hâm mộ coi mọi việc xảy ra đều có thần tượng, như “Tôi thường nghĩ về thần tượng của mình thậm chí cả khi tôi

không muốn”, “Thần tượng thường xuất hiện cứu tôi mỗi khi tôi cần giúp đỡ”

Vai trò của những nhân vật truyền thông trong phát triển nhân cách thiếu niên: những mối liên hệ giữa tính độc lập, sự gắn bó và hứng thú với thần tượng [48]

Ảnh hưởng của những nhân vật từ các phương tiện truyền thông lên sự phát triển của thiếu niên đã được nghiên cứu trong những năm gần đây Một ảnh hưởng

thường đề cập đến là mối quan hệ xã hội mà thiếu niên hình thành với những

Trang 34

người nổi tiếng được mô tả là sự gắn bó thứ cấp Các nghiên cứu cho thấy sự gắn

bó của thiếu niên với thần tượng sẽ phản ánh sự dịch chuyển từ sự gắn bó với cha

mẹ đến bạn bè và có liên quan đến tính độc lập cảm xúc đang tăng lên ở tuổi thiếu niên Thiếu niên, sau khi hình thành tính độc lập cảm xúc thì thể hiện sự gắn bó cao với bạn bè và giảm dần sự gắn bó với cha mẹ, đồng thời dần hình thành hứng thú với thần tượng (về mặt cường độ, sự an toàn và mức độ gần gũi) Những kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những thần tượng đã cung cấp cho thiếu niên một nhóm thứ cấp của những người bạn giả (pseudo-friends) trong suốt thời kỳ lớn lên của tính độc lập khỏi cha mẹ Nhưng cường độ tập trung vào thần tượng riêng biệt nào đó có thể là kết quả từ những khó khăn trong việc hình thành giai đoạn chuyển tiếp này

‘Các minh tinh được coi như thần thánh’

Những người như Paris Hilton, Michael Jackson… đang dần thay thế các đấng tối cao trong tâm thức của nhiều người phương tây - nhà xã hội học Chris Rojek tuyên bố

Rojek Ch là giảng viên Đại học Brunel (Anh), trưởng khoa Xã hội học và Văn hóa Ông cho rằng: “Đã đến lúc phải ngừng coi giải trí là trò vớ vẩn, vì ngành này đã ăn sâu bén rễ vào nền văn hóa Sự sụp đổ của tôn giáo có tổ chức, thiếu vắng thần thánh để thờ phụng khiến nhiều người trong xã hội phương Tây tìm đến với các nhân vật của giới giải trí, biến họ thành các vị thánh mới” Rojek Ch giải thích, chính trị gia bị bêu xấu trên báo chí hàng ngày và thay đổi theo nhiệm kỳ, các doanh nhân góp phần không nhỏ vào việc làm sụp đổ hệ thống ngân hàng phương Tây Còn các ca sĩ, diễn viên đem lại cho khán giả hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn Ông nói: “Khi chúng ta bi quan, họ khuyên ta không nên như vậy, không nên nghiện rượu, ma túy hay chơi gái Đó là điều các ngôi sao lặp đi lặp lại hàng ngày Xã hội bay giờ cần những người như thế, để mọi người cảm thấy dễ chịu hơn, được an ủi hơn” Rojek Ch phân tích, nếu nhìn vào cuộc đời “Vua nhạc pop” Michael Jackson, khán giả sẽ nhận thấy có những điều họ muốn học tập, và

Trang 35

nhiều thứ không hay ho gì nếu làm theo Đó chính là vai trò của các minh tinh Họ

là thần tượng để nhìn vào và cho người ta biết cư xử thế nào cho phải Một ví dụ cho thấy các ngôi sao được trân trọng tới mức nào: Trong một cuộc bán đấu giá chữ ký và đồ dùng của nhiều nghệ sĩ, một doanh nhân đã mua thẻ lên máy bay của Paris Hilton với giá 710 USD Ông này tuyên bố đây chỉ là một vụ đầu tư làm ăn Ông mang về nhà, đóng khung treo lên tường và chờ đến thời điểm thuận lợi để mang ra bán

1.2.1.4 Người hâm mộ

Theo từ điển Oxford Người hâm mộ (fan) là người có tính thích sự cuồng nhiệt, hăng hái, thể hiện cảm xúc cao với một con người (thông thường là nổi tiếng), một câu lạc bộ, với một nhóm người, một công ty, một sản phẩm, một hoạt động, một ý tưởng hay một khuynh hướng nào đó Những người hâm mộ đối với

con người hay thế giới đối tượng xung quanh được coi là người sành điệu Họ thường thể hiện sự nhiệt tình của mình bằng cách thành lập câu lạc bộ người hâm

mộ, tổ chức các hội nghị người hâm mộ, lập website, viết email liên hệ với nhau

Từ điển Oxford và những từ điển khác đều cho rằng Fan là từ rút gọn của

Fanatic (người cuồng tín) và từ này trở thành thông dụng khi được sử dụng để đề

cập đến sự say mê của những người thích đội bóng chày Bản thân từ fanatic được

sử dụng ở Anh vào khoảng năm 1550 có nghĩa là “sự say mê quá đáng và thường

nồng nhiệt, sùng kính vô điều kiện” Theo nghĩa tiếng Latin là fanaticus, nghĩa là

“điền cuồng nhưng đầy cảm hứng tuyệt trần”

Supporter (người ủng hộ) đồng nghĩa với từ “fan” được sử dụng sau này và hiện nay vẫn còn thông dụng ở Anh, đặc biệt khi nói về những người hâm mộ các đội trong thể thao Tuy nhiên, từ “fan” trở nên thông dụng trong những nước nói tiếng Anh và hiện nay ở cả Việt Nam

Trang 36

Người hâm mộ có đặc điểm thường dồn hết tâm trí, bị lôi cuốn vào những hoạt động liên quan đến thần tượng Người hâm mộ dành phần lớn thời gian và nguồn lực vào để thoả mãn sự hứng thú Người hâm mộ thường không quan tâm đến thái độ không hài lòng của người không hâm mộ (non-fan) với những hứng thú của mình Hứng thú của người hâm mộ có thể mạnh đến nỗi khiến cho họ có thể thay đổi lối sống trước kia của mình Người hâm mộ thường có mong muốn tham gia vào những hoạt động ở bên ngoài – là động lực để họ thể hiện sự tham gia của mình đối với lĩnh vực mà họ quan tâm thông qua những hành vi cụ thể (tham gia câu lạc bộ, trao đổi thư từ, tham dự hội nghị…) Người hâm mộ thường

có “mong muốn sở hữu” những đồ vật có liên quan đến lĩnh vực mà họ quan tâm Chẳng hạn, quả bóng của thần tượng bóng đá, đĩa nhạc của thần tượng âm nhạc,… Nhiều người hâm mộ còn có mong muốn có những mối liên hệ xã hội với những người hâm mộ khác Hình thức liên hệ xã hội này rất đa dạng, từ những cuộc gặp mặt thông thường, email, chat qua mạng, và những danh sách tên người trên mạng

để tổ chức những cuộc gặp mặt offline, tổ chức các cuộc họp của câu lạc bộ người hâm mộ, tổ chức các sự kiện Có nhiều nhóm người hâm mộ có thể phân biệt thông qua các cường độ tham gia của họ hay sự hứng thú với sở thích của họ Đôi khi chủ thể của sự quan tâm được nâng lên mức độ sùng bái và có thể sai khiến người hâm mộ

Người hâm mộ thường thể hiện sự say mê với những ngôi sao phim ảnh, ca

sĩ, vận động viên điền kinh, nhà chính trị,… Sự say mê này có thể hình thành ở

người hâm mộ niềm tin bị đánh lừa rằng họ có “mối liên hệ” nào đó với thần

tượng Trong những trường hợp đặc biệt, điều này có thể dẫn đến những hành vi quá khích hay thậm chí là những cuộc tấn công bạo lực vào thần tượng

Người hâm mộ thể thao là những người say mê một loại điền kinh, một đội, hay một loại thể thao cụ thể nào đó Những người hâm mộ thể thao thường xem hoặc dõi theo những sự kiện thể thao trên TV, báo chí và các website trên Internet Tác dụng tinh thần cho những người hâm mộ thể thao là họ trải nghiệm được trò

Trang 37

chơi, sự kiện trực tiếp thông qua nhóm chơi hay những người đang được hâm mộ Hành vi này được chứng tỏ bằng nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào địa điểm gặp gỡ Tại sân vận động, những người hâm mộ hét to sự thỏa mãn của họ với trò chơi nào đó, với người chơi, với đội chơi bằng cách cổ vũ họ (vỗ tay, đánh trống,

la hét về phía sân chơi) Tương tự, thể hiện sự không hài lòng với người chơi, đội chơi bằng những lời hay thái độ chế giễu (huýt sao, nói tục, và đôi khi có thể ném chai lọ, rác xuống sân vận động hay người chơi với hy vọng làm bị thương người chơi nào đó) Hình thức bạo lực này của người hâm mộ được gọi là hooligan, một hoạt động thường gắn liền với bóng đá

1.2.2 Xung đột tâm lý và xung đột tâm lý giữa CM và con lứa tuổi thiếu niên

về thần tượng

1.2.2.1 Xung đột tâm lý

a) Khái niệm xung đột tâm lý

Ở góc độ chung của tâm lý học, xung đột luôn gắn liền với hiện tượng con

người nên luôn mang màu sắc tâm lý và diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau

Xung đột từ tiếng Latinh: conflictus – sự va chạm Hầu hết định nghĩa “xung đột” trong các từ điển Anh -Việt [29], từ điển tiếng Anh [46], từ điển tiếng Nga [71], từ điển tiếng Việt phổ thông [22] đều chỉ ra khái niệm tương tự về xung đột

là sự “sự va chạm nhau, mâu thuẫn, đụng độ, chống đối nhau”

Riêng các nhà TLH coi xung đột là hiện tượng tâm lý nên đã đưa ra nhiều định nghĩa xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau:

(1) Một số tác giả tiếp cận từ nguyên nhân gây ra hiện tượng XĐTL nên cho

rằng xung đột là sự tranh chấp giữa những xu hướng, những lợi ích [28]; B G Meseriacôva và V P Zinchencô [77] cho rằng: “XĐTL là sự mâu thuẫn tích cực, sự

va chạm có tính đối kháng những quyền lợi, mục tiêu, quan điểm, ý kiến của một cá nhân hay của các chủ thể có mối quan hệ với nhau” A.V Pêtrovxki định nghĩa: XĐTL là sự va chạm của những quan điểm, hoài bão, lợi ích đối lập nhau [16, T.2,

Trang 38

tr.164] Mai Hữu Khuê [11], Bùi Văn Huệ [9]… cho rằng XĐTL là mâu thuẫn giữa các chủ thể về vị thế xã hội, quyền lợi, uy tín của cá nhân Đặc biệt có tác giả nhấn mạnh rằng khi mâu thuẫn đạt đến mức độ cao thì mới trở thành xung đột [7];

(2) Do muốn nhấn mạnh quá trình và cách giải quyết XĐTL nên có tác giả cho rằng XĐTL xảy ra là do các cá nhân có những hành vi không tương hợp nhau [35]; (3) Do muốn nhận diện mặt tiêu cực của kết quả giải quyết XĐTL nên có tác giả

coi: “XĐTL là sự va chạm, đấu tranh TL, ít có sự tham gia của ý thức và kết quả của mâu thuẫn này là sự loại trừ những mong muốn hay khuynh hướng của nhau” [64];

(4) Do muốn khẳng định cả hai khía cạnh: nguyên nhân của xung đột và mặt biểu cảm của xung đột, tác giả L.A Karpencô cho rằng: “XĐTL là sự va chạm có tính đối kháng của các định hướng, khuynh hướng không tương hợp nhau về nhận thức ở trong một cá nhân, trong mối quan hệ liên nhân cách của các cá nhân hay nhóm người có mối liên hệ với những trải nghiệm cảm xúc cực kỳ tiêu cực” [74]; tác

giả Vũ Dũng [4] nhấn mạnh những chấn động về mặt tình cảm: “XĐTL là sự va

chạm của các xu hướng đối lập nhau, mâu thuẫn nảy sinh trong bản thân cá nhân, trong quan hệ liên nhân cách hay liên nhóm, kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảm xúc âm tính: bực bội, khó chịu, căm giận,…)”

Qua nghiên cứu các định nghĩa về xung đột tâm lý đã nêu ở trên, chúng tôi

có một số nhận xét sau:

- XĐTL có thể xảy ra ở bên trong một chủ thể (XĐTL bên trong cá nhân), XĐTL có thể xảy ra giữa hai hay nhiều chủ thể (XĐTL liên nhân cách) và XĐTL giữa hai hay nhiều nhóm chủ thể (XĐTL liên nhóm) [19], [77]

- XĐTL được các nhà nghiên cứu xác định qua nhiều khái niệm khác nhau:

va chạm, mâu thuẫn, không tương hợp, đối lập,…

- XĐTL có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy theo chủ ý của tác giả muốn nhấn mạnh khía cạnh nào của hiện tượng: nguyên nhân xung đột, quá trình xung đột, kết quả xung đột, mặt biểu cảm của xung đột

Trang 39

Phân tích trên cho thấy XĐTL là một khái niệm rộng vì vậy khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh để thỏa mãn yêu cầu nghiên cứu xét từ nhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa tư tưởng của các nhà khoa học nghiên cứu về XĐTL và qua thực tiễn, chúng tôi cho rằng khái niệm XĐTL có thể hiểu như sau:

Xung đột tâm lý là sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lý – ý thức của mỗi cá nhân, trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân hay các nhóm người, nó biểu hiện trong các trải nghiệm cảm xúc kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảm xúc âm tính: bực bội, khó chịu, căm giận…)

Từ định nghĩa, ta thấy có những hình thức XĐTL khác nhau:

+ XĐTL bên trong cá nhân: theo phân tâm học, là sự giằng xé giữa ham muốn và cấm đoán; theo tâm lý học hoạt động, là mâu thuẫn về động cơ, nhu cầu, hứng thú, đam mê… ở bên trong cá nhân [19], [77]

+ XĐTL liên nhân cách: bản chất của các bên tham gia xung đột là những nhân cách có ảnh hưởng qua lại nhau nên đã hoặc là kìm hãm mục tiêu chung hoặc

đi theo những giá trị và chuẩn mực không thống nhất với nhau, cố gắng thực hiện chúng trong mối quan hệ lẫn nhau, hoặc cùng một lúc trong cuộc cạnh tranh, đối kháng để đạt đến mục tiêu của từng người

+ XĐTL liên nhóm: bản chất của các bên tham gia xung đột là các nhóm xã hội không theo đuổi mục tiêu như nhau và bằng những hành động thực tế của mình họ cản trở lẫn nhau [19], [34], [77]

Xung đột có thể được xác định bằng các thuật ngữ khác nhau, nhưng “sự va chạm” thường được các nhà TLH sử dụng nhiều hơn cả “Sự va chạm” có ý nghĩa

rất rộng, từ những biểu hiện ở mức độ thấp như “sự tranh chấp” “sự đấu tranh” … đến mức độ cao và có cường độ mạnh hơn như “sự đối lập” “sự đối kháng”, nhưng

những biểu hiện này có đặc điểm giống nhau là đều thể hiện một sự tương tác, đối đầu công khai trong mối quan hệ mâu thuẫn giữa hai bên bằng hành vi có thể quan

Trang 40

sát được Vì vậy, thay vì nói xung đột tâm lý thì ta có thể nói sự va chạm, có nghĩa

là mức độ mâu thuẫn giữa hai bên xung đột không còn ở dạng tiềm ẩn mà đã được bộc lộ công khai, được nhận biết một cách dễ dàng thông qua quan sát hành vi của hai bên xung đột [78]

Theo quan điểm triết học, xung đột là đỉnh điểm của mâu thuẫn Từ góc độ

TLH, quy luật nảy sinh mâu thuẫn tâm lý bên trong cá nhân hay trong mối quan hệ

liên nhân cách, liên nhóm cũng được hiểu tương tự - XĐTL là mâu thuẫn ở mức độ

cao Mâu thuẫn lúc đầu biểu hiện ở sự khác nhau giữa hai mặt, hai xu hướng đối

lập nhau trong tâm lý – ý thức của mỗi cá nhân, trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân hay các nhóm người Trong quá trình phát triển, sự khác nhau này sẽ biến

thành sự đối lập Khi hai mặt đối lập đạt đến mâu thuẫn ở mức độ cao và va chạm

nhau thì gọi là xung đột, và khi xung đột được giải quyết thì mâu thuẫn được giải quyết Nghĩa là sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ bị phá hủy, sự thống nhất của hai mặt đối lập mới được hình thành cùng với mâu thuẫn mới

Trong thực tế, ta có thể thấy xung đột là “mâu thuẫn ở mức độ cao” khi những điều khó chịu, những biểu hiện “bằng mặt mà không bằng lòng” không còn tác dụng và khi những khác biệt, bất đồng, không tương hợp, mâu thuẫn không còn được cả hai bên giữ gìn một cách ý tứ cho riêng mình nữa thì sẽ xảy ra sự va chạm, đối kháng nhau bằng hành vi

A.V Pêtrovxki và M G Iarosepxki (1990) đã phân biệt khái niệm “mâu thuẫn” bằng cách gọi là “tình huống xung đột” [78], còn “mâu thuẫn ở mức độ cao” là “xung đột”:

+ Ở “tình huống xung đột”, hai bên xung đột đã nhận thức được sự không tương hợp, sự bất đồng và đều ý thức được những những vấn đề mâu thuẫn, những

xu hướng đối lập nhau giữa họ là gì Đồng thời họ cũng ý thức được những bất

đồng, không tương hợp này giữa họ không còn có thể dung hòa cho nhau được nữa Tuy nhiên cả hai bên vẫn còn giữ ý tứ với nhau, cố gắng không để cho sự việc mâu thuẫn trở thành công khai và trầm trọng một cách quá đáng

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Cao Thị Huyền Nga (2001), Nghiên cứu xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng, Luận án Tiến sĩ tâm lý học, trường ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng
Tác giả: Cao Thị Huyền Nga
Năm: 2001
18. Piaget J. (1997), Tâm lí học và giáo dục học, NXB Giáo dục, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học và giáo dục học
Tác giả: Piaget J
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
19. Tâm lý học lãnh đạo trong cơ quan nội vụ (1986), Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, Tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lãnh đạo trong cơ quan nội vụ
Tác giả: Tâm lý học lãnh đạo trong cơ quan nội vụ
Năm: 1986
20. Lê Thi (1997), Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam, NXB Phụ nữ, Hà Nội, tr. 133 – 217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1997
21. Đinh Thị Kim Thoa (2002), Xung đột tâm lý của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột tâm lý của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi
Tác giả: Đinh Thị Kim Thoa
Năm: 2002
22. Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông , NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 2002
23. Trần Trọng Thủy (2002), “Vấn đề xác định tuổi của trẻ em”, Tạp chí giáo dục, số 24 (chuyên đề), quý 1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xác định tuổi của trẻ em”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Trần Trọng Thủy
Năm: 2002
24. Trung tâm NCKH về gia đình và phụ nữ (1994), “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, đề tài KX-07-09, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, "đề tài KX-07-09
Tác giả: Trung tâm NCKH về gia đình và phụ nữ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1994
25. Nguyễn Văn Tuân (2002), Vấn đề xung đột tâm lý liên nhân cách trong tập thể quân nhân ở đơn vị cơ sở, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, HV Chính trị Quân sự, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xung đột tâm lý liên nhân cách trong tập thể quân nhân ở đơn vị cơ sở
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Năm: 2002
26. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2003), Tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
27. Udơnátde, Đ.N. (1978), “Các hình thái hành vi người”, trong Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến Bộ, Mát-xcơ-va. (Bản dịch tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái hành vi người”, trong "Tâm lý học Liên Xô
Tác giả: Udơnátde, Đ.N
Nhà XB: NXB Tiến Bộ
Năm: 1978
28. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên)(2001), Từ điển tâm lý, NXB VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện (chủ biên)
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2001
29. Viện Ngôn ngữ học (1995), Từ điển Anh – Việt, NXB TP. Hồ Chí Minh. B- TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Anh – Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh. B- TIẾNG ANH
Năm: 1995
30. Alvin N. D., Alice J. H. (1973), New tools for changing behavior, Research Press 31. Boorstin, D. J. (1992). The Image: A Guide to Pseudo-events in America. New York: Vintage books: A division of Random House, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: New tools for changing behavior", Research Press 31. Boorstin, D. J. (1992)." The Image: A Guide to Pseudo-events in America
Tác giả: Alvin N. D., Alice J. H. (1973), New tools for changing behavior, Research Press 31. Boorstin, D. J
Năm: 1992
32.Bronfenbrenner U., & Morris, P. A. (1998), The ecology of developmental processes, In R. M. Lerner (Ed.), Handbook of child psychology Vol. 1, 5 th ed., Wiley, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of child psychology Vol. 1
Tác giả: Bronfenbrenner U., & Morris, P. A
Năm: 1998
33. Byng-Hall, J. & Campbell, D.(1981), Resolving conflicts in family distance regulation: An integrative approach, Journal of marital and family therapy, 7 (3), 321- 330 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of marital and family therapy
Tác giả: Byng-Hall, J. & Campbell, D
Năm: 1981
34. Colman, A. M. (2001), Dictionary of Psychology, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionary of Psychology
Tác giả: Colman, A. M
Năm: 2001
35. Corsini, R.J. & Auerbach, A.J. (1998), Concise Encyclopedia of Psychology, John Wiley & Sons, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concise Encyclopedia of Psychology
Tác giả: Corsini, R.J. & Auerbach, A.J
Năm: 1998
37. Dubois, D.L. (1999), “Profiles of Self-Esteem in Early Adolescence: Identification and Investigstion of Adaptive Correlates”, American Journal of Community Psychology, Vol. 27, No. 6, pp. 899-932 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Profiles of Self-Esteem in Early Adolescence: Identification and Investigstion of Adaptive Correlates”, "American Journal of Community Psychology
Tác giả: Dubois, D.L
Năm: 1999
38. Erikson, E. (1968), Identity: Youth and crisis, New York: W.W. Norton Sách, tạp chí
Tiêu đề: Identity: Youth and crisis
Tác giả: Erikson, E
Năm: 1968

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w