Tuy nhiên, cho đến nay, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về ngôi đình ở khu vực phía Nam nhưng hầu như chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu về văn hóa đình ở Tây Nam Bộ trên ha
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả nhận được nhiều
sự giúp đỡ từ các đơn vị, cá nhân Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo và bạn bè trong khoa Văn hóa học, cảm ơn sự ủng hộ của các đồng nghiệp tại đơn vị công tác, cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của Ban Quản trị, Ban Tế lễ các đình Long Trung (Cai Lậy – Tiền Giang), đình Điều Hòa (Tiền Giang), đình Tiên Thủy (Châu Thành – Bến Tre), đình Phú Tự (Bến Tre), đình Phong Mỹ (Cao Lãnh – Đồng Tháp)… Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng tới TS Trần Long – người đã hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn
Do những điều kiện chủ quan và khách quan, mức độ hoàn thành của đề tài luận văn chắc hẳn chưa thực sự khiến cho Thầy Cô và Quí vị hài lòng Tác giả luận văn hy vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp chân thành để
đề tài có những kết quả hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả
Trang 3BẢNG CHỈ DẪN KÝ HIỆU
Ký hiệu Nội dung
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử vấn đề 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
6 Phương pháp nghiên cứu 13
7 Bố cục của luận văn 15
Chương 1 16
Lịch sử đình Tây Nam Bộ 16
1.1 Quá trình hình thành ngôi đình Tây Nam Bộ 16
1.1.1 Bối cảnh Tây Nam Bộ thời kỳ khai phá khẩn hoang: 16
1.1.2 Quá trình lập làng, dựng đình ở Tây Nam Bộ 19
1.2 Mục đích dựng đình của cư dân Tây Nam Bộ 25
1.3 Vị trí của đình trong không gian của làng Tây Nam Bộ 31
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 37
Văn hóa đình Tây Nam Bộ 37
2.1 Văn hoá kiến trúc đình Tây Nam Bộ 37
2.1.1 Cơ sở triết lý trong xây dựng đình 37
2.1.2 Đặc điểm văn hóa kiến trúc đình Tây Nam Bộ 42
2.2 Văn hoá tổ chức đình Tây Nam Bộ 82
2.2.1 Tổ chức quản lý, duy tôn cơ sở vật chất 82
2.2.2 Tổ chức sinh hoạt 90
Trang 5Tiểu kết chương 2 105
Chương 3 107
Đình Tây Nam Bộ trong mối quan hệ với đời sống văn hóa xã hội 107
3.1 Vị trí, vai trò của ngôi đình đối với đời sống tinh thần của cư dân Tây Nam Bộ 107
3.2 Chức năng của đình Tây Nam Bộ 111
3.3 Vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị của đình Tây Nam Bộ 121
Tiểu kết chương 3 125
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
PHỤ LỤC 139
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đình là thiết chế văn hóa của làng xã cổ truyền người Việt, nơi dành để thờ vị thần bảo hộ của làng và là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Khi vào Nam, khẩn hoang lập ấp, dựng làng, cư dân người Việt đã mang theo truyền thống văn hóa của vùng đất quê hương Họ dựng đình làng và tổ chức các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian quanh ngôi đình Đình trở thành chỗ dựa tinh thần của người Việt, là nơi tập trung những lễ nghi văn hóa, nơi lưu truyền và gìn giữ cội nguồn của dân tộc Đình còn là nơi tổ chức hội hè đình đám của dân làng Có thể nói đình là thiết chế văn hóa xã hội cao quí nhất của lưu dân Việt trong quá trình khai phá, định cư ở miền Nam Nó tượng trưng cho cội nguồn, văn hóa, lễ nghi và tập quán dân tộc của người dân Việt Do đó, nghiên cứu về Ngôi đình ở Tây Nam Bộ nhằm góp phần tìm hiểu bản sắc văn hóa của người Việt ở vùng đất Tây Nam Bộ
Tây Nam Bộ thuộc đồng bằng Nam Bộ, bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, An Giang, và Kiên Giang Trong quá trình khẩn hoang lập ấp, cùng với việc hình thành các thôn xã là việc xây dựng các thiết chế văn hóa đình chùa, miếu mạo, đình Tây Nam Bộ trở thành thiết chế văn hóa tín ngưỡng của làng xã, là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của thôn xã Đình Tây Nam Bộ thật sự đã có những ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa của cư dân vùng
đất này
Trang 7Nghiên cứu Ngôi đình ở miền Tây Nam Bộ nhằm góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa truyền thống của cư dân Việt ở miền Tây Nam Bộ Tuy nhiên, cho đến nay, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về ngôi đình ở khu vực phía Nam nhưng hầu như chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu
về văn hóa đình ở Tây Nam Bộ trên hai bình diện văn hóa kiến trúc và văn hóa tổ chức cũng như xác định rõ vai trò, chức năng của nó trong đời sống văn hóa – xã hội Tây Nam Bộ
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Ngôi đình ở miền
Tây Nam Bộ” làm luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học với mong muốn góp
phần nghiên cứu văn hóa truyền thống nhằm bảo lưu, trao truyền các giá trị văn hóa cổ truyền của cư dân Việt ở miền Tây Nam Bộ
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu ngôi đình ở miền Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học, cụ thể trên các bình diện: văn hóa kiến trúc, văn hóa tổ chức ở đình Tây Nam Bộ trong mối quan hệ với đời sống văn hóa – xã hội của địa phương
quan kiến trúc của ngôi đình Nam Bộ, cách bài trí bàn thờ và các nghi thức
tế lễ trong những ngày cúng lễ ở đình Nguyễn Bá Lăng với “Đình làng” in trong Tạp chí Phương Đông, số 5/1971, Tạ Chí Đại Trường “Tập án cái
Trang 8đình”, Nguyễn Đăng Thục với “Văn hóa đình làng” in trong Tạp chí Tư
tưởng, số 5/1973; Lương Kim Định với cuốn sách “Triết lý cái đình”; Đây
là những tài liệu quí giúp cho tác giả có những hiểu biết nhiều mặt về đình
và lễ hội đình Nam Bộ, nhưng mặt hạn chế của những tài liệu này là tính hệ thống chưa cao, một số tác giả chỉ mô tả tư liệu, số khác thì mượn đình để nói lên những suy nghiệm triết lý cá nhân về văn hóa dân tộc
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Long Thao với đề tài “Nghiên
cứu một ngôi đình làng miền Nam – Phú Nhuận đình” được công bố năm
1974, đã đề cập những nét tổng quát về kiến trúc đình miền Nam, về tín ngưỡng của dân làng qua các sự thờ cúng tại đình Phú Nhuận, các tổ chức đặc trách thờ cúng tại đình, lịch lễ và nghi thức cúng tế, những tục lệ trong ngày đại lễ Kỳ Yên
Sau năm 1975, ở Nam Bộ đã có những công trình nghiên cứu của nhóm
tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường với “Đình Nam
Bộ – Tín ngưỡng và nghi lễ”, xuất bản năm 1993 đã giới thiệu về đặc điểm
lịch sử của đình làng Nam Bộ, đặc điểm kiến trúc đình làng Nam Bộ và đặc biệt chú trọng đến tín ngưỡng và nghi thức cúng tế của đình làng Nam Bộ
Luận án Tiến sĩ ngành Dân tộc học của tác giả Lê Sơn với đề tài “Hội
đình Thông Tây Hội Gò Vấp trong bối cảnh hội đình làng tại Nam Bộ”
được công bố năm 1996 đã khảo sát chi tiết một ngôi đình tương đối tiêu biểu của đình làng tại Nam Bộ, từ lịch sử hình thành làng thôn, sự ra đời của ngôi đình đến cách chọn đất dựng đình, bố trí mặt bằng xây dựng đình, kiến trúc, tín ngưỡng và lễ hội đình làng hàng năm Luận án này dùng ngôi đình Thông Tây Hội Gò Vấp làm điểm tựa, nhằm trình bày những đặc trưng cơ bản của đình làng và văn hóa làng Việt tại Nam Bộ
Trang 9Luận án Tiến sĩ ngành Dân tộc học của tác giả Quách Thu Nguyệt với
đề tài “ Hội đình của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh” được công bố
năm 1996 đã nghiên cứu các đình làng với các nghi thức, lễ nghi cùng các sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Việt trên vùng đất Nam Bộ và thành phố
Hồ Chí Minh
Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường với cuốn sách “Đình Nam Bộ
xưa và nay” được xuất bản năm 1999 đã cung cấp đầy đủ chi tiết hơn về
lịch sử của đình làng Nam Bộ, đặc điểm kiến trúc đình làng Nam Bộ và tín ngưỡng, các nghi thức cúng tế của đình Nam Bộ
Phân viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật TP HCM với “Sổ tay hành
hương Đất Phương Nam” xuất bản năm 2002, cung cấp tổng quát về bố cục
kiến trúc và thờ tự ở đình, mỹ thuật và trang trí kiến trúc đình Nam Bộ đồng thời cũng đề cập tới nghi thức cúng tế và đại lễ Kỳ Yên ở đình
“Lễ hội thờ cúng thần Thành Hoàng và các nhân vật lịch sử” của tác
giả Huỳnh Quốc Thắng trong cuốn sách Lễ hội dân gian ở Nam Bộ, xuất bản năm 2003 đã đề cập tới đặc điểm kiến trúc và tín ngưỡng gắn với ngôi đình Nam Bộ, về thần Thành Hoàng và các đối tượng thờ cúng trong ngôi đình Nam Bộ, nội dung lễ thức và hội đình Nam Bộ Tác giả đã tập trung khảo sát
về ngôi đình và lễ hội đình (chủ yếu là lễ Kỳ Yên) để tìm ra nét chung và riêng của giao tiếp văn hóa dân tộc trong các lễ hội gắn với tục thờ cúng Thành Hoàng và các nhân vật lịch sử của người Việt tại vùng đất mới Nam
Bộ
Nhà văn – nhà nghiên cứu Sơn Nam với “ Đình miếu và lễ hội dân
gian miền Nam” xuất bản năm 2004, đã đề cập tới việc cất đình, lập miễu và
những lễ hội truyền thống miền Nam
Trang 10Nguyễn Quốc Chính với “Đình làng trong một phần tín ngưỡng của
người dân Nam Bộ” trong cuốn sách Nam Bộ Đất và Người Tập II/năm
2004 đề cập tới các đối tượng thờ tự thuộc nhiều dạng tín ngưỡng khác nhau trong đình của người dân Nam Bộ
Hồ Tường (chủ biên) với cuốn sách “ Đình ở thành phố Hồ Chí
Minh”, xuất bản năm 2005 là quyển sách tập hợp những kiến thức thực tế
của tác giả cũng như từ thư tịch nhằm giới thiệu tổng quan về các ngôi đình
ở thành phố Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực như kiến trúc đình, tín ngưỡng trong đình, lễ hội đình và đình trong đời sống văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2006, tác giả Lư Hội giới thiệu cuốn sách “Đình làng Bến Tre:
các giá trị văn hóa” đã trình bày khái quát nguồn gốc tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng làng ở Bến Tre, giới thiệu các giá trị văn hóa của đình làng Bến Tre,
lễ hội Kỳ Yên ở đình và các giá trị nhân văn
Nghiên cứu về lịch sử ngôi đình Nam Bộ dưới dạng các bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành thì trước tiên có thể kể đến là
bài viết “Đình làng ở Bến Tre” của tác giả Văn Đình Hy đưa ra số liệu về
đình ở Bến Tre, đề cập tới vị trí xây dựng và quy mô kiến trúc của một số đình lớn ở Bến Tre; đề cập tới mặt sinh hoạt tinh thần của người dân Bến Tre
ở đình
Cũng là tác giả Văn Đình Hy với “Đình làng ở Long An” in trong Tạp
chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, số 5/1991 thì giới thiệu những nét phác họa chính của đình làng Long An như là một tổng thể bao gồm các mặt kiến trúc, bài trí, tín ngưỡng, diễn xướng nghệ thuật…
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Châu với “Lễ Kỳ Yên trong các đình làng
xưa ở Bến Tre” in trong tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 5/1991 đã
Trang 11giới thiệu về chương trình lễ hội, các nghi lễ trong lễ Kỳ Yên ở các đình làng xưa của Bến Tre
“Đình làng Nam Bộ và các giải pháp tồn sinh trong quá trình đô thị hóa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Ngọc Khánh đăng trên
diễn đàn văn hóa học đã nêu lên thực trạng của đình làng Nam Bộ trong quá trình đô thị hóa và đưa ra các giải pháp trong đó tác giả đặc biệt chú trọng tới giải pháp văn hóa
Nghiên cứu đình dưới góc độ khác, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Khánh
với “ Đình thần – một thiết chế văn hóa cổ truyền” đã cho rằng đình là một
“thiết chế văn hoá” điển hình, giàu sức sống, có tính bao trùm trong sinh hoạt văn hoá của làng xã ở Nam bộ
Ngoài ra, các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian xung quanh ngôi đình như tục thờ cúng thành hoàng ở đình của người Nam Bộ, lễ hội Kỳ Yên ở đình
Nam Bộ có khá nhiều công trình đề cập đến Viện Văn hóa với “ Mấy đặc
điểm của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long”, Nguyễn Công Bình, Lê
Xuân Diệm, Mạc Đường với “Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu
Long”, Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh với “Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ”, Nguyễn Phương Thảo với “Văn hóa dân gian Nam Bộ – những phác thảo”, Huỳnh Lứa “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX”
Các công trình nghiên cứu trên cung cấp khá nhiều tư liệu quý giá liên quan đến đình và lễ hội đình ở Nam Bộ nói chung Đây là những cơ sở tài liệu quan trọng giúp tác giả thực hiện đề tài Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về ngôi đình ở miền Tây Nam Bộ dưới
góc nhìn văn hoá học
Trang 12Đề tài “Ngôi đình ở miền Tây Nam Bộ” kế thừa những kết quả nghiên
cứu của các tác giả đi trước, đồng thời thu thập trên thực tế, khảo sát điền dã
để nghiên cứu một cách tổng hợp về lịch sử ngôi đình Tây Nam Bộ, về văn hóa kiến trúc, văn hóa tổ chức ở đình, làm cơ sở cho việc bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống, cố kết cộng đồng trong lịch sử và hiện nay của cư dân miền Tây Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các bình diện văn hóa kiến trúc đình, văn hóa tổ chức ở đình và các mối quan hệ của ngôi đình ở Tây Nam Bộ với đời sống văn hóa – xã hội địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về chủ thể: Khi đến Tây Nam Bộ, khai hoang lập làng, người Việt coi
đình là một thiết chế văn hóa Vì vậy, nghiên cứu về đình ở đây là những ngôi đình của cư dân người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Về không gian: Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới
hạn phạm vi nghiên cứu về ngôi đình trong 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Đồng Tháp Sở dĩ như vậy vì các lí do sau:
- Theo định hướng nghiên cứu chung của Khoa là sẽ nghiên cứu theo mảng vùng để từ đó tổng hợp, cho ra diện mạo chung của văn hoá Tây Nam Bộ nói riêng và văn hóa Nam Bộ nói chung,
- Ba tỉnh có tính liền kề của mảng vùng văn hóa nghiên cứu
- Ba tỉnh có quá trình thành lập khá lâu, vì vậy có nhiều ngôi đình cổ
- Có tư liệu đã tích luỹ
Trang 13Về đối tượng cụ thể, chúng tôi chọn những ngôi đình cổ (ngôi đình trên 100 năm) để nghiên cứu
Về thời gian: Do ngôi đình gắn với cư dân Tây Nam Bộ từ thời khai
hoang lập ấp, vì vậy về thời gian chúng tôi nghiên cứu đối tượng từ khi cư dân Việt đến 3 tỉnh trên khai hoang, lập làng đến nay
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, trên cơ sở so sánh với những đặc điểm văn hóa truyền thống của đình làng Bắc và Trung Bộ luận văn nêu ra đặc điểm văn hóa của đình Tây Nam Bộ về kiến trúc, bài trí, về tổ chức quản lý và tổ chức sinh hoạt ở đình …để chỉ ra nét chung và nét riêng của đặc điểm văn hóa của ngôi đình miền Tây Nam Bộ
Về mặt thực tiễn, luận văn này sẽ đóng góp nhận thức vai trò, vị trí, chức năng của đình Tây Nam Bộ và đồng thời giữ gìn bảo vệ kế thừa và phát huy vốn văn hóa dân tộc truyền thống qua văn hóa đình làng Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp chính quyền địa phương định hướng phát triển văn hóa đình làng trong sự nghiệp đổi mới kinh tế văn hóa xã hội hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, nhu cầu sáng tạo và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân Tây Nam Bộ
Luận văn cũng giúp cho việc quản lý văn hóa (cấp cơ sở) có cách nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn trong quá trình sưu tầm, bảo tồn, phát triển di sản văn hóa và áp dụng vào việc giữ gìn di sản văn hóa ở miền Tây Nam Bộ
6 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ nội dung đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 14Phương pháp chuyên ngành
Phương pháp chuyên ngành văn hóa học được tác giả sử dụng nhằm nghiên cứu ngôi đình Tây Nam Bộ theo cấu trúc hệ thống văn hóa để xem xét ngôi đình theo các khía cạnh: văn hóa kiến trúc ở đình, văn hóa tổ chức quản lý và sinh hoạt ở đình Theo cấu trúc hệ thống văn hóa đó, ngôi đình Tây Nam Bộ được so sánh với các ngôi đình ở miền Trung, miền Bắc để xác định nét chung và nét riêng về đặc điểm văn hóa ở ngôi đình Tây Nam Bộ
Phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu sự hình thành và phát triển của ngôi đình Tây Nam Bộ, ảnh hưởng của ngôi đình Tây Nam Bộ đối với đời sống văn hóa địa phương trong những điều kiện lịch sử,
xã hội cụ thể
Phương pháp khảo sát – điền dã
Phương pháp khảo sát điền dã được tác giả vận dụng để thu thập tư liệu, miêu tả các ngôi đình ở Tây Nam Bộ Phương pháp này cho phép tác giả tiếp cận sát đối tượng để có những nhận định chính xác về văn hóa đình Tây Nam Bộ ở các bình diện văn hóa kiến trúc, văn hóa tổ chức Chúng tôi đã thực hiện nhiều cuộc điền dã trong suốt quá trình thực hiện đề tài này về các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, đến một số đình như đình Điều Hòa, đình Phú Hội, đình Mỹ Chánh (Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang), đình Long Trung (Cai Lậy, Tiền Giang), đình Tiên Thủy (Châu Thành, Bến Tre), đình Phú Khương, đình An Hội, Phú Tự, Phú Hưng (Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), đình Bình Hòa (Giồng Trôm, Bến Tre), đình Phong Mỹ (huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp)…
Trang 15Phương pháp liên ngành
Phương pháp liên ngành được vận dụng trong luận văn thông qua việc
sử dụng các thuật ngữ, các kết quả và các phương pháp chung của các chuyên ngành kiến trúc, lịch sử… Phương pháp liên ngành nhằm góp phần tìm ra đặc điểm văn hóa của đình Tây Nam Bộ phù hợp mục đích nghiên cứu
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Lịch sử đình Tây Nam Bộ
Nội dung của chương này đề cập tới quá trình hình thành ngôi đình Tây Nam Bộ Cụ thể là vị trí đặt ngôi đình, thời gian xuất hiện ngôi đình, mục đích dựng đình và tâm thức của cư dân Tây Nam Bộ gửi gắm vào ngôi đình
Chương 2 Văn hóa đình Tây Nam Bộ
Chương 2 đề cập tới văn hóa kiến trúc và văn hóa tổ chức của đình Tây Nam Bộ Các hoạt động chính liên quan đến tổ chức quản lý và tổ chức sinh hoạt ở đình Tây Nam Bộ
Chương 3 Đình Tây Nam Bộ với đời sống văn hoá địa phương
Nội dung chương 3 là vị trí, vai trò, chức năng của đình Tây Nam Bộ Qua đó, luận văn đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tại địa phương
Trang 16Chương 1
Lịch sử đình Tây Nam Bộ
1.1 Quá trình hình thành ngôi đình Tây Nam Bộ
1.1.1 Bối cảnh Tây Nam Bộ thời kỳ khai phá khẩn hoang:
Vào thế kỷ XVI, XVII, khi những lưu dân Việt đầu tiên vào khẩn hoang, sinh sống trên vùng đất phía Nam này, thì Tây Nam Bộ lúc bấy giờ hãy còn là vùng đất sình lầy, hoang vu rừng rậm và đầy thú dữ Vùng đất mà trước đó vào thế kỷ XIII khi đi sứ đến Chân Lạp, Châu Đạt Quan - một sứ thần nhà Nguyên (Trung Quốc) ghi nhận: “ Bắt đầu vào Chân Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay), gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum suê Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong sông (sông Cửu Long) thấy những cánh đồng hoang không một gốc cây Xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cổ cây đầy rẫy Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm” [Nguyễn Công Bình và nnk 1990: 26]
Và tình trạng hoang vu nói trên vẫn tiếp tục tồn tại trong các thế kỷ sau Cho nên trong cuốn Phủ biên tạp lục viết vào nửa cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn vẫn ghi rằng: “ Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [Thạch Phương và nnk 1992: 26]
Khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, do chiến tranh tranh giành ảnh hưởng của các tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn, một số người Việt ở
Trang 17Đàng Trong đã từ bỏ quê hương vào Nam lập nghiệp Giống như cha ông họ ngày xưa đã vượt cửa Càn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) từ miền Bắc vào miền Trung những lưu dân này đã dùng đường biển, vượt bao sóng gió để xây dựng cuộc sống mới [Huỳnh Lứa 1987: 44]
Sang đầu thế kỷ XVII, một số cụm dân cư nhỏ dần dà hình thành ở dọc hai nhánh sông Cửu Long và vùng đất giồng ven biển Họ chưa khai khẩn đất đai để canh tác mà chủ yếu sống bằng săn bắn, hái lượm, đánh bắt Từ giữa thế kỷ XVII, đông đảo lưu dân, chủ yếu là người Việt từ miền Bắc và miền Trung vào đã bắt đầu công cuộc khai khẩn đất hoang, trồng lúa nước với quy mô càng ngày rộng lớn, lập nên những xóm, ấp, làng xã đầu tiên Trên các tiểu vùng phía tây sông Hậu, phía bắc sông Tiền, giữa sông Tiền và sông Hậu đều đã có những khu vực được khẩn hoang, một số xóm ấp bắt đầu
mở rộng thành xã, một số đơn vị hành chính đã được xác lập, thuộc xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn [Nguyễn Công Bình và nnk 1995: 33 - 34] Dưới đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1686), sau hai cuộc hành binh giúp đỡ Quốc vương Chân Lạp giải quyết những tranh chấp nội bộ vào năm
1647 và 1658, chúa Nguyễn đã sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng rộng rãi tức là chỗ chợ Điều Khiển, xây cất đồn dinh làm chỗ cho quan Tham mưu cư trú Lại đặt dinh Tân Thuận, tức nay là lân Tân Thuận Có cất nha thự cho các quan Giám quân, Cai bạ, Ký lục ở Lại có trại
hộ vệ ngăn ra từ khu rào, ngoài thì chia cho dân trưng chiếm, chia lập làng xóm phố chợ [Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường 1999: 34,35]
Giữa năm 1679, một số di thần nhà Minh không thần phục nhà Thanh
bỏ xứ sang nước ta tị nạn Nhóm này khoảng 3000 người, được chúa Nguyễn cho định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho Như vậy, cho đến năm 1679, thực
tế trên vùng đất Sài Gòn – Gia Định, Đồng Nai và Mỹ Tho đã có làng xã và
Trang 18các cơ sở kinh tế, quân sự của người Việt, rồi dân dần lan rộng lên miền Đông, xuống miền Tây Và đến năm 1698, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vânh lệnh chúa Nguyễn vào Nam tổ chức các đơn vị hành chính, chính thức sát nhập vùng đất này vào bản đồ nước Đại Nam, tạo cơ sở cho phong trào di dân khai hoang lập ấp sau này
Lưu dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung vào Nam khẩn hoang lập nghiệp vốn có những nguồn gốc xã hội khác nhau Một số người là quan lại, binh lính được đưa vào đây để chỉ đạo việc khai phá vùng đất mới; một số là những người có quyền thế, giàu có đã chiêu mộ dân nghèo ở địa phương của mình đi vào Nam khai khẩn vùng đất mới theo chính sách khuyến nông của chúa Nguyễn Nhưng có thể nói phần lớn lưu dân người Việt vào Nam khai phá lúc bấy giờ là những nông dân, thợ thủ công cùng khổ, những binh lính lao dịch lưu đày dưới sự bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, của chiến tranh địch họa, thiên tai đã buộc phải rời bỏ xóm làng vào Nam khai hoang lập nghiệp [Trần Văn Giàu 1982: 198 - 206]
Theo Trịnh Hoài Đức, những lưu dân người Việt trong buổi đầu tiên đến khai phá vùng đất Tây Nam Bộ đã chung sống với các dân tộc khác như: người Hoa, người Khmer, người Chăm, người Tây Phương, người Phú Lang
Sa (Pháp), người Đồ Bà (Giava)…[Thạch Phương và nnk 1992: 28 - 29] trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt:
“Đến đây xứ sở lạ lùng
Chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”
Hoặc:
“Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,
Xuống sông sợ đĩa, lên rừng sợ ma”
Trang 19Nhưng vốn là dân thập phương, tứ xứ, những lưu dân người Việt mang trong mình tính phiêu lưu, mạo hiểm, dám đương đầu với thử thách, khó khăn cùng với tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau…đã giúp họ vượt lên trên tất cả gian khó, xây dựng nên những xóm làng trên vùng đất mới
1.1.2 Quá trình lập làng, dựng đình ở Tây Nam Bộ
Từ khi chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ về phía Nam thì việc khai phá Tây Nam Bộ đã đem lại một khuôn mặt mới cho bức tranh làng xã Việt Nam thêm đa dạng Ở đồng bằng Bắc Bộ, làng xã là một điểm tụ cư, thực chất nó
là một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc Ở khu vực miền Tây Nam Bộ cũng hình thành nên những làng xã Làng xã ở đồng bằng Bắc
Bộ mang tính chất cổ truyền, khép kín sau lũy tre làng, trong một phạm vi không gian cố định, với hình ảnh đặc trưng là “cây đa, bến nước, con đò”, trong khi đó, làng xã ở Tây Nam Bộ lại mang tính chất mở rộng, làng không
có lũy tre bao quanh với các cổng làng “sáng mở tối đóng” như làng xã ở Bắc Bộ
Làng xã ở Tây Nam Bộ thường định vị ở vùng đất cao (gọi là miệt giồng) hoặc trải dài theo hai bờ kênh rạch (miệt sông) hoặc các trục lộ giao thông Chính những đặc điểm địa lý tự nhiên ở trên đã giải thích được một phần nào lý do mà thưở ban sơ người Việt ở vùng này thường không thể tụ
cư thành làng lớn như ở miền Bắc hay miền Trung Việt Nam Cư dân Tây Nam Bộ có cách ứng xử với thiên nhiên hoàn toàn khác với cư dân làng Việt
ở Bắc Bộ Họ dựa vào chế độ thủy triều, hệ thống thủy lợi đưa nước ngọt từ sông lớn vào sông nhỏ, vào kênh rạch rồi lên mương, vào vườn nên dân làng không cần liên kết lo thủy lợi Chính hệ thống kênh rạch chằng chịt ở Tây Nam Bộ đã tạo thành hệ thống giao thông thủy và căn cứ vào hệ thống này
Trang 20mà các điểm tụ cư cứ chảy dài ven kênh, người dân sinh sống rải rác, theo lộ, theo kênh, theo ruộng lúa, không có những điểm tụ cư chen chúc sau lũy tre làng như ở Bắc Bộ Chính sự lựa chọn này của các cư dân mới đã hình thành nên một cấu trúc làng xóm theo kiểu tỏa tia, kéo dài theo sông, rạch hoặc biệt lập do bị ngăn cách bởi sông nước, phương tiện đi lại chủ lực và quen thuộc nhất của họ là ghe, xuồng “Làng Nam Bộ không có lũy tre dày đặc bao quanh với cái cổng làng sớm mở tối đóng như làng Bắc Bộ Họ ở tản ra dọc theo những con kênh, con lộ để tiện làm ăn” [Trần Ngọc Thêm 2004: 198]
Quan hệ sở hữu ruộng đất trong làng của người Việt ở Tây Nam Bộ có
sự phân cực rất cao Tỷ lệ giữa một số người có trong tay nhiều đất với đa số người có trong tay ít đất hoặc không có đất khá chênh lệch, dẫn đến những lớp người nghèo phải đi làm thuê, nay đây mai đó, không có chỗ ở ổn định Chính vì thế, dân số trong các thôn ấp ở Tây Nam Bộ thường có sự biến động, người dân không bị ràng buộc bởi quê hương, gốc gác hay bó hẹp trong thôn ấp của mình, tính cách của họ theo đó mà trở nên phóng khoáng hơn, tự do hơn Điều này khác hẳn với cư dân phía Bắc là có ruộng công, được chia theo đầu người và chịu sự cai quản của làng xã, hàng năm phải đóng tiền thuế số lượng ruộng đất được giao Bởi thế, làng của người Việt ở Tây Nam Bộ mang tính cộng đồng không cao, chủ yếu là quan hệ theo cá nhân
Một đặc điểm khác nữa, đa phần những người khai hoang là dân tứ xứ, mỗi gia đình lại mang theo truyền thống văn hóa mà họ đã tích hợp được Nếu như các tổ chức xã hội như phe, giáp đã được hình thành khá bền vững
ở các làng xã Bắc Bộ thì làng xã vùng Tây Nam Bộ lại không có các hình thức tổ chức xã hội này “Làng xã Nam Bộ không có những thiết chế quá chặt chẽ (nhiều làng không có hương ước, thần tích, thần phả; thần thành
Trang 21hoàng chỉ là một khái niệm “thần hoàng bổn cảnh” chung chung)” [Trần Ngọc Thêm 2004: 198] Vì thế, mối quan hệ mật thiết nhất trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây không phải là cộng đồng làng xã như ở Bắc Bộ mà là nhóm gia đình và chòm xóm Để thiết lập nên một xã thôn, theo quy chế của nhà Nguyễn thì làng nhỏ (tiểu thôn) gọi là lân, ấp, trại, trang…nếu ở đô thị thì gọi là phố phường Làng trung bình (trung thôn) thì gọi là thôn Làng lớn (đại thôn) thì gọi là xã Làng lớn có ba bốn thôn, mỗi thôn có ba bốn ấp Làng nhỏ chỉ có vài ba ấp, có nơi làng chỉ có một ấp duy nhất Lúc đầu khi mới lập làng thường các thành viên đều có quan hệ huyết thống thân thuộc [Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường 1993: 15] Đến thời các chúa Nguyễn và sau này là nhà Nguyễn, việc khai phá đồng bằng Tây Nam Bộ đã làm cho làng xã ở vùng này khác hẳn so với làng
xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Sự khác biệt cơ bản nhất là tính mở của các làng Tây Nam Bộ Tính mở được thể hiện ở những điều sau đây:
Làng ở Tây Nam Bộ không còn lũy tre như là một công cụ phân cách làng này với làng khác
Làng ở Tây Nam Bộ không nhất thiết phải tồn tại mãi mãi, có làng được lập một cách nhanh chóng, nhưng cũng có làng tan rã nhanh chóng “Tại Nam Kỳ, một làng có thể tan rã trong tay anh với tốc độ nhanh như lúc nó hội tụ lại…Một gia đình ra đi với đàn trâu ở phía trước, mang theo những đồ dùng ít ỏi của mình trên một chiếc xe hoặc một chiếc thuyền Và vì đi khắp nơi đều có đất để trồng trọt và cây cối để dựng nhà, ít khi họ bị lúng túng bởi các vấn đề ăn ở”[Trần Ngọc Thêm 2004: 199]
Giao thông buôn bán phát triển, không bị gò bó ở tình trạng tự cung tự cấp
Trang 22Kết cấu làng xã thường thông thoáng, do đó tính cách người dân Tây Nam Bộ cũng phóng khoáng hơn, dễ chấp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài Chính vì những đặc điểm đó mà trong thời kỳ kinh tế thị trường, người dân ở các tỉnh Tây Nam Bộ nhanh chóng thích nghi và phát triển kinh
tế nhanh hơn các tỉnh Bắc Bộ
Tuy nhiên, dù có những biến động thế nào đi nữa thì người dân Tây Nam Bộ vẫn sống quy tụ thành từng làng, mỗi làng đều có một ngôi đình với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Hàng năm, người dân nơi đây đều tụ hội ở những lễ hội của làng Dù tính cách có tự do, phóng khoáng, người nông dân Tây Nam Bộ vẫn giữ nếp cần cù, chịu thương chịu khó Dù kinh tế hàng hóa
có phát triển, người nông dân Tây Nam Bộ vẫn rất coi trọng tính cộng đồng, yếu tố hàng xóm được xếp vào hàng thứ hai trong thang bậc ưu tiên khi chọn nơi cư trú Người dân Tây Nam Bộ quan niệm: “Nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền” (thứ nhất là gần chợ, thứ hai gần xóm, thứ ba gần sông, thứ tư gần đường, thứ năm gần ruộng)
Giống như làng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, ở Tây Nam Bộ, làng xã là chỗ dựa của các thành viên trong cộng đồng trong quá trình khai hoang lập ấp Làng xã nào cũng có tập tục riêng, lối sống riêng, lễ hội riêng, cách thức ứng
xử riêng, đó là những chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên trong làng Ở làng nào cũng có một ngôi đình thờ Thành hoàng bổn cảnh – người bảo hộ cho làng theo niềm tin của người dân và thờ các tiền hiền, hậu hiền, những người có công lao trong việc tạo lập và phát triển cơ nghiệp của địa phương, cũng là nơi bàn bạc công việc chung của làng và là điểm sinh hoạt văn hóa, tổ chức lễ hội, hát xướng “Đình Nam Bộ …là sức mạnh tinh thần
cố kết cộng đồng, làng xã, là thứ uy quyền siêu việt, một mối liên hệ vô hình, khiến cho làng xã, cộng đồng dân cư thành một tổ chức có hệ thống chặt chẽ” [Nguyễn Quốc Chính 2004: 444]
Trang 23Song song với quá trình lập làng, những lưu dân người Việt Tây Nam
Bộ tiến hành dựng đình, chùa, miếu để hương khói, để nhớ về cội nguồn Mặt khác là khẳng định thành quả lao động và sự tồn tại của cộng đồng cũng như khẳng định sức mạnh, ý chí và vai trò làm chủ của nhân dân trong thôn
xã “Quê cha đất tổ đã hằn sâu trong tâm thức những người ra đi đó biết bao
ấn tượng sâu sắc, đậm đà Mái đình uy nghiêm, ngôi chùa làng thân thương của quê hương là hình ảnh biểu trưng của thứ tôn giáo – tín ngưỡng cội nguồn đã luôn luôn trăn trở trong tâm thức của những người đi khai phá” [Hồ Tường 2005: 10]
Còn theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Khánh thì “đối với lưu dân Nam
Bộ, điều khủng khiếp với họ ở vùng đất mới không hẳn là rừng thiêng nước độc hay cọp beo thú dữ, mà có thể là vì họ canh cánh tâm trạng “vong quốc”,
sợ đứt đoạn với giềng mối của tổ tiên ông bà để lại Cho nên, họ lập làng ở đâu dựng đình ở đó” [Trần Ngọc Khánh 2001: 02]
Cho đến nay, những ngôi đình làng đầu tiên ở Tây Nam Bộ và Nam Bộ được thành lập cụ thể vào thời gian nào vẫn chưa có cứ liệu nào ghi chép Tuy nhiên có thể dựa vào các nguồn tài liệu sau đây để suy luận ra niên đại lập đình ở Tây Nam Bộ và Nam Bộ Nguồn tài liệu thứ nhất là tác phẩm Gia Định thành thông chí được viết trong thời gian Trịnh Hoài Đức giữ chức vụ Hiệp Trấn (1805 - 1812), Hiệp Tổng Trấn (1816 - 1819) và quyền Tổng trấn (1819 - 1820) ở Gia Định thành: “Tế xã: mỗi làng có dựng một ngôi đình, kỳ
tế phải trước lựa ngày tốt, đến buổi chiều ngày ấy lớn nhỏ đều nhóm tại đình, suốt đêm ấy gọi là túc yết, sáng sớm ngày mai áo mão trống chiêng làm lễ chính tế, ngày sau nữa làm lễ dịch tế, gọi là đại đoàn, lễ xong lui về” [Trịnh Hoài Đức 1972: 10] Nguồn tài liệu thứ hai là các vật hiện còn lưu lại trong một số ngôi đình ở Tây Nam Bộ đã khắc rõ các niên đại hiến cúng như tấm biển “Long Trung Đình” (Cai Lậy - Tiền Giang) ghi năm 1846, biển hiệu
Trang 24“Bình Phú Đình” (Cai Lậy – Tiền Giang) ghi năm 1837, tấm biển “Tiên Thủy Đình” (Châu Thành – Bến Tre) ghi năm 1846 cùng bộ giàn trò (khung) của đình này ghi năm 1848, tấm biển “Phong Mỹ Đình” (Cao Lãnh – Đồng Tháp) ghi năm 1864… [Tư liệu điền dã của tác giả]
Qua hai nguồn tài liệu trên, chúng ta có thể phỏng đoán rằng những ngôi đình ở Tây Nam Bộ (trong 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp) đã được xây dựng muộn lắm là vào cuối thế kỷ XVIII Điều này có thể chấp nhận được bởi lưu dân người Việt chỉ mới đến khai phá vùng đất Tây Nam
Bộ từ những năm đầu thế kỷ XVII
Ngôi đình ở thôn làng Tây Nam Bộ cũng như các ngôi đình khác ở Nam
Bộ vẫn tiếp nối truyền thống tín ngưỡng ở miền Trung và miền Bắc: là nơi thờ thần Thành Hoàng làng và là công sở của bộ máy hành chính thôn xã Chức năng công sở này của đình làng đã được nhắc đến với sự kiện vua Minh Mạng ban hành Mười điều giáo hóa dân chúng vào năm 1834: “ Dân các xã thôn thì đều đặt một hương án ở gian chính giữa đình làng để đặt bản huấn điều vua ban Các trưởng mục, thân hào xã thôn ấy phải khăn áo chỉnh
tề đến sân đình làm lễ năm lạy, rồi chỉ bảo nhân dân theo thứ tự ngồi yên mà nghe, giảng đọc khắp một lượt, xong rồi ra sân làm lễ năm lạy” [Phan Huy Chú 1992: 133]
Tóm lại, với thành phần dân cư là người tứ xứ nhưng cư xử với nhau rất tình nghĩa, thiên nhiên dù không ít hiểm nguy nhưng khí hậu không khắc nghiệt, đất đai rất hoang vu nhưng màu mỡ, bao la, chẳng bao lâu vùng đất Tây Nam Bộ đã được khai phá để tạo dựng nên thôn xã với ngôi đình tọa lạc
ở giữa nhằm nối kết cái tâm của những người đi khai phá vùng đất mới mà hồn vẫn cứ nhớ về cội nguồn, quê cha đất tổ
Trang 251.2 Mục đích dựng đình của cư dân Tây Nam Bộ
Trước khi tìm hiểu mục đích dựng đình của cư dân Tây Nam Bộ, chúng
ta cần phải tìm hiểu sơ lược về lịch sử của đình
Khó có thể xác định một cách chính xác khoảng thời gian hình thành những ngôi đình đầu tiên ở Bắc Bộ vì gần như không có nguồn tư liệu nào nói rõ về thời gian hình thành những ngôi đình này Theo tác giả Hà Văn Tấn
đã dẫn từ “đình” xuất hiện vào khoảng thế kỷ II – III Ông đã dẫn từ Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội đoạn văn sau: “… Đêm đến ông lặng lẽ trốn
đi Đi hơn trăm dặm, vào nghỉ ở một ngôi đình trống Người giữ đình hỏi :
“Ông là người nào?” Trả lời: “Tôi là người xin ngủ nhờ Người giữ đình đem vào cho nghỉ lại qua đêm” [Hà Văn Tấn 1998: 18] Như vậy, ta có thể hiểu rằng, từ “đình” được nhắc đến trong tác phẩm của Khương Tăng Hội chính là trạm dừng chân dọc đường
Từ chức năng là những trạm dừng chân dọc đường, đến chức năng là hành cung của vua khi nhà vua đi kinh lý Sau này, đình dần dần trở thành nơi thờ cúng, tế tự trong một ngôi làng
Tuy nhiên, quan niệm về cái đình giữa các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau Có ý kiến cho rằng nguồn gốc của ngôi đình bắt nguồn từ sự sùng bái thần đất và thần nước mà ra Tác giả Nguyễn Văn Cương trong Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ đã viết về vấn đề này như sau: “Cư dân Việt cổ, trong tín ngưỡng bản địa, sùng bái thần đất và thần nước che chở và nuôi sống họ Các ngôi đình cổ xưa đều sùng bái thần đất, thần nước làm Thành Hoàng làng Chẳng hạn, đình Tây Đằng, Quang Húc thờ thần Tản Viên, Sơn Tinh Đình Lỗ Hạnh thờ Cao Sơn Đại Vương, Thủy Bá Đại Vương, Bách Lệ Đại Vương (núi – nước – đất )…Đáng lưu ý là
ở Tuyên Quang, vùng núi phía Bấc có đình Tân Trào và đình Hồng Thái
Trang 26được dựng vào đầu thế kỷ XX Thành Hoàng được thờ là thần Sông và thần Núi của làng”[Nguyễn Văn Cương 2006: 56 - 57]
Ngoài ra, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng đình có nguồn gốc
từ Trung Quốc và Việt Nam không phải là nơi sáng tạo ra đình mà chỉ bắt chước Tuy nhiên, vẫn có quan điểm ngược lại với những ý kiến trên, tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra nhận định của mình về nguồn gốc ngôi đình như sau: “ Có người cho rằng đình có nguồn gốc Trung Quốc Thực ra, “đình” chỉ là một tên gọi mới, phổ biến trong khu vực người Việt Nam miền xuôi để chỉ một khái niệm cũ, một kiến trúc truyền thống đã có từ lâu đời mà cho đến tận ngày nay vẫn còn tồn tại độc lập ở Tây Nguyên với tên gọi Nhà Rông Nhà Rông và đình chỉ những tên gọi khác của cùng một khái niệm, chúng có cùng chức năng và kiểu kiến trúc, là hậu thân của những ngôi nhà làng thời Hùng Vương với sàn cao và mái cong hình thuyền mà ta vẫn thấy khắc trên các trống đồng Một số đình như đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, đình Đình Bảng…vẫn giữ nguyên lối kiến trúc nhà sàn chẳng khác gì nhà rông” [Trần Ngọc Thêm 2004: 193]
Như vậy, theo quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm thì đình không phải có nguồn gốc từ Trung Quốc rồi được truyền vào Việt Nam như nhiều người vẫn nghĩ mà đình là sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam, là kết quả tất yếu của cư dân nông nghiệp phương Nam
Nếu đình có nguồn gốc từ phương Nam thì chắc chắn đình phải là sản phẩm của làng xã, gắn liền với văn hóa làng xã Là sản phẩm của làng xã, nên có lẽ đình chỉ xuất hiện khi làng xã đã phát triển và định hình như một đơn vị hành chính độc lập Đình là sản phẩm của làng xã, nên kiến trúc của cái đình cũng mang đậm tính tổng hợp của văn hóa nông nghiệp làng xã, theo tác giả Trần Ngọc Thêm thì “ Đình là biểu tượng truyền thống cho tính
Trang 27tổng hợp của văn hóa Việt Nam ở phạm vi làng xã” [Trần Ngọc Thêm 2004: 194]
Trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam, đình không chỉ là nơi thờ thần Thành Hoàng, thờ các vị thần có công với làng xã mà còn là nơi sinh hoạt chung của cả làng trong các dịp lễ hội Chính vì vậy, đình trở thành dấu ấn
ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam Yêu đình là yêu bà con họ hàng, yêu đất nước Chính vì vậy, “Người Việt Nam thấy bức xức khi đình làng bị xúc phạm, cây to bị đốn, sân đình bị cỏ dại mọc lan tràn, mái đình sụp đổ, hoặc kẻ gian dám đánh cắp những vật tư cần thiết để cúng tế như trống, chiêng, lư, chân đèn Người nào vô tình hoặc cố ý phóng uế bừa bãi trong khuôn viên đình làng luôn luôn bị dư luận lên án Người giữ đình (ông từ) không chăm sóc quét tước đình, quên thắp nhang, nhậu nhẹt say sưa thì dân làng có quyền trực tiếp rầy la” [Sơn Nam 2004: 242]
Đình có một vị trí đặc biệt đối với đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán của người Việt Nam Tất cả sinh hoạt tinh thần và vật chất của cộng đồng làng đều tập trung chung quanh đình Đình trong tâm hồn nông dân Việt Nam mang một hình ảnh thân mật, một ý nghĩa linh động được phản chiếu qua những câu ca dao sau đây:
Đêm qua tát nứơc đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà…
Lại như:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
Trang 28Theo bước chân những người đi khai hoang mở đất lập làng, cư dân Việt
ở miền Tây Nam Bộ dựng đình để cúng tế, hội họp Hệ thống đình làng còn lại của Tây Nam Bộ ngày nay là dấu tích của cha ông từ ngày mở cõi và hiện tại vẫn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt của cư dân
xa xứ nơi này
“Đi xa quê, làm ăn thành công hay thất bại, ai nấy vẫn nhớ đến “đình làng tôi”, tuy thua kém làng khác ở điểm này nhưng trội hơn về điểm khác hoặc làng tôi nghèo mà năm đó, dám xây đình” [Sơn Nam 2004: 68] Hay như “Việc tham dự lễ hội đình làng đã ăn sâu trong tiềm thức người Việt Ông nội đi đình làng, dắt theo con cháu, ông nội mất, con cháu đi dự, vì ông nội mình đã đi” [Sơn Nam 2004: 241]
Thửa ban đầu, khi cha ông khăn gói, gồng gánh nhau đến vùng đất Tây Nam Bộ để khai hoang lập làng thì làng quê ấy không trù phú như bây giờ Thuở ấy, nơi này còn rừng thiêng nước độc, đất rộng, người thưa, nhiều thú
dữ Trước thiên nhiên hoang dã bao la, hùng vĩ, con người cảm thấy bé nhỏ, cần sự che chở, phù hộ của thần linh, của đất trời, của tổ tiên… Việc lập đình
là một dạng thức tín ngưỡng bản địa được các lưu dân Việt xác lập trên vùng đất mới Tây Nam Bộ Dù có một số khác biệt so với tín ngưỡng truyền thống, nhưng cơ bản nó đã đáp ứng được nhu cầu về tâm linh của con người,
đó là cầu mong được bình an vô sự giữa chốn rừng xanh này
Dựng đình đồng thời với quá trình lập làng vừa là nhu cầu tinh thần có thật của lưu dân Tây Nam Bộ, vừa nói lên thành công về mặt văn hoá chính trị xã hội của chế độ phong kiến nước ta Đúng như nhà văn hoá Sơn Nam đã khái quát: “Xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ, bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, viên gạch rời rạc, một dạng “lưu dân tập thể”, mặc dầu làng lắm gạo nhiều tiền” [Sơn Nam 2004: 28]
Trang 29Với truyền thống và đạo lý “uống nuớc nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, ông cha ta đi đến đâu con dân quần tụ, cộng cư nơi ấy, tạo lập xóm ấp và xây dựng đình làng để thờ cúng Thành Hoàng là người có công khai lập làng ấp, thờ thần linh để độ trì cho con dân an lành, thờ Tiền hiền, Hậu hiền…Có thể ví ngôi đình như là ngôi nhà chung của tất cả con dân trong làng, là chỗ dựa tinh thần của dân làng qua tín ngưỡng thờ thành hoàng làng “ Người dân Bến Tre, cũng như nhân dân Nam Bộ, xây dựng đình làng
là nhằm để đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt tinh thần” [Văn Đình Hy 1991: 10] Cuộc sống của dân làng có yên ổn hay không, thịnh hay suy đều phụ thuộc vào sự bảo trợ của thần Thành Hoàng Mỗi làng có một vị thần Thành Hoàng riêng đại diện cho quyền lợi chung của cộng đồng Đình là nơi sinh hoạt vui chơi giải trí cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng làng xã … và cũng là nơi điều hành, cai quản và giải quyết những vấn đề phát sinh trong cộng đồng làng
Vì vậy, ngôi đình ở Tây Nam Bộ được dựng nên bằng chính tiền của, công sức của dân làng, trở thành tài sản chung của làng, niềm tự hào của làng, biểu tượng nhắc nhở cho các thế hệ về lòng nhân nghĩa, đạo lý ở đời Mỗi làng đều có một ngôi đình để thờ thành hoàng, phúc thần, đồng thời đây cũng là nơi hội họp việc làng về hành chính, xã hội, tôn giáo
Tuy nhiên, nếu như ở đồng bằng sông Hồng, đất tự ngàn xưa của tổ tiên, việc xây dựng đình miếu trong mỗi làng là điều hiển nhiên, thì đối với vùng đất mới phương Nam, việc xây đình lập miếu không phải dễ dàng mà cần phải có “tư thế pháp nhân ” Trước hết phải được nhà nước phong kiến công nhận làng mới, sau đó mới xin phép xây đình miếu, nhận sắc thần vua ban
Từ luật lệ ấy đã nảy sinh những tiêu cực về thủ tục giấy tờ, phải qua nhiều cửa nhiều con dấu con triện, bọn quan lại cường hào có cơ hội hành dân Khi nghiên cứu đến vấn đề này, nhà Nam Bộ học Sơn Nam đã phải thốt lên: “Lập
Trang 30làng để đóng thuế cho nhà nước đã là tốn thời giờ, huống gì xin lập đình Xin một sắc thần, đòi hỏi thủ tục, đút lót Lúc hưng thịnh, vua quan nhà Nguyễn thận trọng: đợi ba năm mới ban sắc một loạt, lựa ngày lành, vận hội tốt Ta nghe trường hợp dân làng nôn nóng, cử vài bô lão ra tận ngoài Huế để khiếu nại nhắc nhở, chẳng nệ tốn kém, nhưng vô hiệu quả Thế là ngày Tết, đầu năm, xong vụ mùa, tuy đủ ăn mà dân làng ấy thấy mình như mồ côi Đem tiền bạc, phí thời giờ đến đình làng kế cận để vui chơi thì quả là buồn tủi Năm Tự Đức thứ 5 (1852), có lẽ đoán trước thời nguy khốn của đất nước, vua và các quan hấp tấp ban bố đồng loạt nhiều sắc thần cho các làng Nam
Bộ Vài làng có sắc thần từ trước, nhưng đã mất hoặc muốn chắc ăn, cũng xin thêm một sắc nữa”[Sơn Nam 2004: 29] Thế mới biết cái đình quan trọng như thế nào trong xã hội người Việt xưa ở Nam Bộ Loại bỏ những yếu tố tiêu cực thì việc dựng đình của cư dân Tây Nam Bộ là khẳng định sự liền mạch với truyền thống văn hóa cội nguồn nơi quê cha đất tổ, dù sống tha phương vẫn nhớ về nòi giống dân tộc Việt
Đình gắn bó với đời sống tín ngưỡng của cư dân Tây Nam Bộ, được xây dựng xuất phát từ nhu cầu giải toả những uẩn khúc trong đời sống, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng Cư dân Tây Nam Bộ xây dựng đình không chỉ phản ánh nhu cầu tự nhiên của cư dân để có nơi thờ cúng, sinh hoạt mà còn là sự bày tỏ lòng thành kính, ngưỡng vọng thiêng liêng, tôn thờ, nhắc nhở tổ tiên, anh hùng có công và thần linh
Đình ở Tây Nam Bộ, cùng với việc thờ thần Thành Hoàng, còn là nơi thờ cúng tín ngưỡng dân gian của dân làng Ở đây có rất nhiều đối tượng thờ cúng, mỗi một nhu cầu tín ngưỡng đều được dân gian đưa một thần linh vào đình để thờ cúng Do đó đình Tây Nam Bộ có rất nhiều thần, từ Tiền Hiền, Hậu Hiền đến Thiên Hậu, Thánh Mẫu, Tiên Sư, Nam Hải Tôn thần đến anh hùng liệt sĩ…đều được thờ cúng ở trong đình Nói chung, ở Tây Nam Bộ,
Trang 31đình là trụ sở của các thần linh đại diện cho mọi mặt tín ngưỡng trong đời sống xã thôn
Như vậy, ngoài những điểm giống với đình Bắc Bộ, cái mới mà chúng
tôi phát hiện trong mục đích dựng đình của cư dân Tây Nam Bộ là nhằm lưu giữ các giá trị truyền thống của ngôi đình làng cổ truyền nhằm kết nối liền mạch với văn hoá truyền thống, với văn hóa cội nguồn ở nơi quê cha đất tổ
Do đó, sự hiện diện của các ngôi đình sẽ nhắc nhở cho các thế hệ về lòng nhân nghĩa, đạo lý ở đời Mặt khác, đình còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng bản địa của lưu dân Việt khi đến sinh sống trên vùng đất mới Tây Nam Bộ
1.3 Vị trí của đình trong không gian của làng Tây Nam Bộ
Từ lâu trong truyền thống văn hóa người Việt, làng nào cũng có một ngôi đình Đó là biểu tượng điển hình nhất, tập trung nhất của làng về mọi phương diện Ngôi đình luôn gắn liền với nếp sinh hoạt văn hóa của dân làng Ngôi đình làng vừa thể hiện được sự uy nghiêm của chốn tâm linh nhưng cũng là nơi diễn ra rất nhiều hoạt động của đời sống thường nhật của cộng đồng thôn, làng Đình làng vừa là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống, vừa là nơi tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng…
Đình là biểu tượng truyền thống cho tính tổng hợp của văn hóa truyền thống Việt Nam ở phạm vi làng xã Đó là sân đình, bến nước, cây đa Tính cộng đồng tạo sự liên kết các thành viên trong làng với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác, tạo nên những tập thể làng xã khép kín mang tính tự trị (được thể hiện qua hình ảnh lũy tre làng) Rặng tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy bất khả xâm phạm, làng nào biết làng ấy, mỗi làng là một vương quốc khép kín
Trang 32Như vậy, làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ mang tính chất cổ truyền, khép kín sau lũy tre làng, trong một phạm vi không gian cố định, trong khi đó, làng xã ở Tây Nam Bộ lại mang tính chất mở rộng, làng không có lũy tre bao quanh với các cổng làng “sáng mở tối đóng” như làng xã ở Bắc Bộ
Vị trí đặt ngôi đình Tây Nam Bộ ít bị chi phối với thuật phong thủy, tiền
án hậu chẩm, tả phù hữu bật Đình thường đặt ở địa điểm cao ráo, tiện đường
bộ làng ấp lui tới, hoặc nơi gần sông rạch nơi tiện cho ghe thuyền nhiều ngả dân làng đậu bến Theo nhà văn Sơn Nam thì đình có vị trí “không gần chợ nhưng không ở nơi quá hẻo lánh như chùa” [Sơn Nam 2004: 31] Còn tác giả Huỳnh Quốc Thắng cho rằng “đình thường được xây trên những gò đất cao ráo, có phong cảnh đẹp, đặc biệt là thường nằm ở vị trí ngã ba sông để thuận tiện cho việc tới lui bằng đường thủy của dân làng” [Huỳnh Quốc Thắng 2003: 57]
Sơ đồ 1.1 Vị trí đình trong không gian làng xã Bắc Bộ
(Nguồn: Internet)
Trang 33Tại các làng Tây Nam Bộ, không gian thiêng liêng thần thờ của người Việt Tây Nam Bộ diễn ra hầu như không có khái niệm đền, nghè mà chỉ có
võ, miếu, đình Võ là một kiến trúc vuông nhỏ, đặt ở nơi công cộng mỗi ấp,
trong làng Chức năng của võ là nơi đặt hương án thờ Tiên sư, vị thầy của nghề làm hương chức Võ cũng là nơi họp hương chức, dân ấp Đến miếu đình, thì có thể khi mới tụ cư khai hoang lập ấp, dân số còn ít, mỗi ấp dựng
một ngôi miếu thờ thần Dần về sau dân đông, người ta mới dựng đình Đến
nay, nhiều nơi, ngôi đình quy mô đồ sộ nhưng vẫn gọi là miếu chẳng hạn như đình Điều Hòa (Tiền Giang) vẫn còn giữ được bảng hiệu miếu Điều Hòa Hoặc như, nhiều ngôi đình vẫn dựng miếu nhỏ ở sân để thờ thần Như vậy có thể thấy ở các làng ấp người Việt Tây Nam Bộ, địa chỉ thờ thần có giảm đi, không có đền, nghè, miếu được dựng trước khi dân số còn ít, đình dựng tiếp sau khi dân số đông trên cùng một địa điểm, hoặc có miếu nhỏ ở trong khu vực đình
Người Việt Tây Nam Bộ lập làng thường đi đôi với việc dựng đình Đình hồi đó có thể chỉ là căn nhà mái lá đơn sơ, không có tượng (thường chỉ
có một chữ “thần” viết bằng chữ Hán), không có thần tích, không có hoặc chưa có sắc thần Việc lập đình trong cộng đồng dân cư ở Tây Nam Bộ chính
là sự liền mạch với truyền thống văn hoá cội nguồn ở nơi quê cha đất tổ, là nhu cầu tâm thức của lưu dân Tây Nam Bộ khi đến sinh sống tại vùng đất mới
Những ngôi đình Tây Nam Bộ không có ruộng công, kinh phí cho hoạt động thờ thần, lễ hội ở đình làng do các nhà giàu hương chức, các mạnh thường quân quyên góp Mâm ăn, chỗ ngồi ở chốn đình không cột chặt, nặng
nề như ở ngoài Bắc Nếu như thành phần tham gia vào các ngôi đình ở miền Bắc có qui định cụ thể về giới tính (chỉ có nam giới), độ tuổi, thành phần bản
xứ thì đình ở miền Nam “phụ nữ cũng có thể đến đình dâng lễ cầu cúng”
Trang 34[Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường 1993: 200], khách nhiều làng có thể đến đình Ở Nam Bộ không hề phân biệt dân bản xứ và dân ngụ cư Dân mới cư ngụ đôi ba năm, trong trường hợp khuyết chân hương chức thì cũng có thể bổ sung Không hề có trường hợp bắt họ phải làm
“thằng mõ” như ở nơi khác [Sơn Nam 2004: 112]
Đình ở miền Tây Nam Bộ không phải là mô hình thiết chế áp đặt từ bên trên đối với làng xã, mà sức sống của nó phát xuất từ bên trong, được biểu hiện ở các mặt văn hoá tín ngưỡng dân gian gắn bó với đời sống sinh hoạt của cư dân nông nghiệp Tây Nam Bộ Đình là nơi để họ thể hiện hoặc gởi gắm những tâm tư, tình cảm về diễn cảnh đời sống phàm thực được linh khí hoá Từ các hình thức lễ tế “xuân thu nhị kỳ” theo chu kỳ sản xuất nông nghiệp đến lễ xây chầu – đại bội hàng năm trong dịp lễ Kỳ Yên (cầu mong
sự yên ổn, bày tỏ ước nguyện quốc thái dân an) là dạng thức văn hoá nhân bản thể hiện quan niệm mang màu sắc tín ngưỡng về sự lý sinh thành của muôn loài vạn vật (lễ khai thiên tịch địa, lễ sang nhật nguyệt, lễ tam tài, lễ tứ thiên vương, lễ đứng cái…) đã được lễ thức hoá, diễn xướng hoá
Một dạng hình khác thường mang tính chất “hội” của tuồng tích giải trí, như hát bội của các đình ở Tây Nam Bộ lại nặng về yếu tố lễ (sân khấu võ ca quay về chánh điện, diễn cho thần xem), nội dung các vở diễn hát bội thường
là các vở tuồng quen thuộc như Trần Bồ, Trương Ngáo hoặc dựa vào các truyện nôm như Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, hoặc các đề tài lấy từ sự tích anh hùng nông dân như Chàng Lía, Bà Vành Hoặc nhiều vở tuồng lấy từ tích truyện Trung Quốc như vở San Hậu trở thành lễ thức Tôn vương Vì trong
đó có cảnh vua băng hà, Tạ Thiên Lăng thua trận, nhà tề phục hưng, quốc ấn được trao lại cho hoàng tử Vở tuồng nhằm ca ngợi chữ trung, phê phán chữ nịnh, ca tụng quá trình lịch sử từ các Chúa Nguyễn đến vua đầu Nguyễn Ánh lên ngôi Vở tuồng diễn đến đoạn hoàng tử lên ngôi, các đào kép hát bội
Trang 35đang đóng vai, làm lễ tế tôn miếu, đào kép rời khỏi sân khấu nhà võ ca, theo vai hoàng tử vào chính tẩm, làm lễ dâng ấn kiếm trước hương án thờ thần Sau đó các diễn viên quay trở lại nhà võ ca diễn tiếp vở tuồng cảnh hoàng tử tức vị, tung hô “ tôn vương tức vị nối dõi thiên hoàng”, dân làng đứng im hướng nhìn lên ban thờ thần trong chính điện, vở tuồng kết thúc Như vậy, lễ Xây Chầu và hát Bội là quá trình diễn tấu văn nghệ, do những nghệ sĩ dân gian trình diễn, trong những không gian thiêng liêng dân dã, phục vụ cho quần chúng dân gian thưởng thức, tán thưởng Nó đáp ứng, giải tỏa những nhu cầu tâm linh của dân làng trong thiêng liêng thần thờ qua mỗi chu kỳ lễ tiết
Những câu chuyện đời thường, nhờ “THẦN” chứng giám, một mặt thể hiện sự tôn kính đối với linh khí thiêng liêng của đất trời, mặt khác còn là hình thức diễn xướng thu hút, quảng đại, hiệu quả để giáo dục truyền thống trung hiếu, nhân nghĩa ở đời Cho đến nay trong dân gian còn lưu truyền việc thề nguyền trước đình lời thề độc, bất khả tư nghị Điều này nói lên ảnh hưởng, tác động một thời của đình trong đời sống cư dân Tây Nam Bộ
Trang 36Tiểu kết chương 1
Ở chương 1 đã đề cập tới quá trình hình thành ngôi đình ở vùng đất Tây Nam Bộ dù đi đâu, ở bất cứ nơi nào người dân Việt khi lập làng cũng đều dựng đình ở nơi vị trí trung tâm, trang trọng nhất của làng “Lập làng ở đâu, dựng đình ở đó” Đình luôn gắn bó với làng và là trung tâm của mọi sinh hoạt cộng đồng của lưu dân người Việt trên vùng đất mới Ngôi đình luôn biến đổi, phát triển và hưng thịnh theo sự phát triển hưng thịnh của làng xã Tây Nam Bộ
Đình ở Tây Nam Bộ được dựng nên bằng chính tiền của, công sức của dân làng Ở vùng đất mới, cư dân Việt Tây Nam Bộ dựng đình với mục đích
là lưu giữ các giá trị truyền thống của ngôi đình làng cổ truyền Là sự liền mạch với truyền thống văn hóa cội nguồn nơi quê cha đất tổ dù sống tha phương lưu đày vẫn nhớ về nòi giống dân tộc Việt Do đó, nhắc nhở cho các thế hệ về lòng nhân nghĩa, đạo lý ở đời Vì vậy, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng bản địa của lưu dân Việt được xác lập trên vùng đất mới Tây Nam Bộ
Trong không gian làng Tây Nam Bộ, đình có vị trí thường đặt ở địa điểm cao ráo, tiện đường bộ làng ấp lui tới, hoặc nơi gần sông rạch nơi tiện cho ghe thuyền nhiều ngả dân làng đậu bến Khi người Việt mới tụ cụ khai hoang lập ấp ở vùng Tây Nam Bộ, dân số còn ít, mỗi ấp dựng một ngôi miếu thờ thần Dần về sau dân đông, người ta mới dựng đình Đình Tây Nam Bộ phản ánh một không gian đình Bắc Bộ trong ký ức của lưu dân xa xứ Vì vậy, ngoài những yếu tố cơ bản, đình Nam bộ có nhiều nét mới Đó là do trong quá trình thành lập, đình Tây Nam Bộ được tạo dựng thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đất mới Chính vì những đặc điểm đó, mà văn hóa đình Tây Nam Bộ có những đặc điểm riêng, sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2 của luận văn
Trang 37Chương 2 Văn hóa đình Tây Nam Bộ
2.1 Văn hoá kiến trúc đình Tây Nam Bộ
2.1.1 Cơ sở triết lý trong xây dựng đình
Triết lý âm dương đã được người Việt vận dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống từ nhận thức về vũ trụ và con người, từ tổ chức đời sống đến ứng
xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Có thể nói, triết lý âm dương đã đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống người Việt Triết lý âm dương được người xưa tìm hiểu, vận dụng vào các lĩnh vực của đời sống trong đó kiến trúc đình làng đã coi quy luật âm dương là cơ sở triết lý trong cách xây dựng đình
* Nguyên lý âm dương trong phong thủy:
- Chọn đất dựng đình
Người Việt Tây Nam Bộ từ thưở xa xưa khi dựng làng, lập ấp đã biết lựa chọn địa thế đất, vừa thuận lợi cho làm ăn và sinh hoạt, vừa tận dụng những lợi thế của thiên nhiên “Thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần” Người
ta tin rằng ở thế đất tốt sẽ ăn nên, làm ra, đón điềm lành, lánh điều dữ
Khi dựng đình, ngôi kiến trúc quan trọng bậc nhất của cả làng, người ta rất thận trọng trong việc chọn đất, thế đất vì tin rằng thế đất liên quan đến sinh mệnh, họa phúc của cả làng
Làm đình theo phép phong thủy đòi hỏi người ta phải quan sát hình thế các mạch đất, hướng di chuyển của gió và mạch nước để tìm ra nơi có chứa
tụ khí của mảnh đất ấy Chỗ đó gọi là đất “kết dương cơ” và sẽ được chọn để dựng đình Thế đất đẹp phải là “minh đường thủy tụ” tức là trước đình có nước tụ trong sáng như gương để nuôi dưỡng khí mạch của đất Phong và
Trang 38thủy là hai yếu tố quan trọng nhất, tạo thành vi khí hậu cho một ngôi đình Phong là gió, động hơn, thuộc dương, thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm Theo quan niệm phong thủy, làm đình trong khu vực có gió và nước bị ngưng trệ,
tù đọng (âm thịnh) hay chuyển động quá mạnh (dương thịnh) đều không tốt Dựng đình có đặc điểm phong thủy như vậy, người xưa quan niệm cuộc sống của dân làng khó yên ổn Ngoài ra còn cần đến thế đất hai bên tả, hữu Thế đất bên trái được gọi là “thanh long” khi có địa mạo dài và sâu (âm), bên phải là “bạch hổ” khi có địa mạo ngắn và cao (dương) Nếu đình có thế đất hai bên là thanh long và bạch hổ, như vậy là cân xứng “tả phù hữu bật” cuộc sống của dân làng yên ổn, làm ăn sẽ phát tài, phát lộc Người Việt ở Nam Bộ
có câu:
Không “long” như người không chân
Không “hổ” như đứa ở trận không tay
Như vậy, là bên trái phải có sông nước (thanh long: âm), bên phải có đất cao (bạch hổ: dương) mới là tốt Tất nhiên không phải chỗ nào cũng có cảnh quan địa lý phù hợp như thế Do đó, người ta đôi khi phải làm biến đổi cảnh quan ở mức độ có thể
Ngoài việc chọn đất như trên, người Việt Tây Nam Bộ còn có những kiêng kỵ trong chọn đất xây đình Làm đình tối kỵ nơi có con đường, dòng nước chạy thẳng vào trước đình, nhằm tránh những điều không hay (gió độc…) Nếu không tránh được vị trí có đặc điểm bất lợi như vậy, thì người ta hóa giải bằng cách tạo tấm bình phong ở trước cửa đình để giảm bớt ảnh hưởng của luồng khi trực diện Công dụng của bình phong là để thay đổi hướng đi của dòng khí, không cho khí xung chiếu trực tiếp vào, và như vậy cũng có nghĩa tạo ra cân bằng âm dương Tấm bình phong bằng gạch, đá, trên có vẽ hay đắp nổi hình hổ với sức mạng chúa sơn lâm để canh giữ bảo
Trang 39vệ đình miếu Hoặc cảnh rồng cọp vờn nhau tượng trưng cho âm dương hòa hợp, mưa thuận gió hòa…
Như vậy, phép phong thủy là giúp con người hòa hợp với môi trường tự nhiên và xã hội để có cuộc sống bình an Sự hòa hợp ấy cũng dựa trên hài hòa âm dương
- Hướng đình
Theo quan niệm cổ truyền của ông cha ta, hướng đình là một vấn đề rất quan trọng và được đặc biệt quan tâm như việc chọn vị trí mặt bằng xây dựng đình Thậm chí, hướng đình còn trở thành hướng quy hoạch chung của một làng Ca dao miền Bắc có câu:
Toét mắt là tại hướng đình
Cả làng toét cả, một mình em đâu
Trong quá trình chọn thế đất, người xưa luôn kết hợp việc chọn hướng đình để tránh được mọi điều kiêng kỵ, phát huy hết quyền lực thiêng liêng của ngôi đình Với quan niệm như thế nên khi xây dựng các ngôi đình ở Bắc
Bộ, hướng Nam được chọn nhiều hơn cả và trở thành hướng truyền thống
Vì theo quan niệm của người xưa, hướng Nam là hướng gió mát mẻ vào mùa
hè, tránh gió rét vào mùa đông “lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng Nam” Còn theo đạo Phật thì hướng Nam trong sáng, đồng nhất với trí tuệ (hướng của Bát Nhã) mà đạo Phật lấy trí tuệ để diệt trừ sự ngu tối Theo quan niệm âm dương thì hướng Nam là hướng dương – hướng của sự sống
Khác với vùng Bắc Bộ, ở Tây Nam Bộ, người xưa khi xây dựng các ngôi đình, hướng Nam cũng được chú ý nhưng không nhất thiết phải tuân thủ: một số ngôi đình quay về hướng Nam và số khác thì lại chọn hướng
Đông hay Đông Nam Việc quay ngôi đình về hướng nào ở đây lại tùy thuộc vào sự tiện hay bất tiện với ý nghĩa thực dụng là chính vì thực chất của vấn
đề chọn hướng là sự hòa hợp thích ứng của kiến trúc với môi trường tự
Trang 40nhiên “Hướng các đình ở Bến Tre không tuân theo quy định nào về phong thủy mà chỉ nhằm việc tiện lợi để liên lạc và tránh hướng gió cát hắt vào nhà” [Văn Đình Hy 1991: 10]
Do hình thức quần cư làng xã ở đây phân tán theo kênh rạch cho nên nếu phía trước là dòng sông hay con lộ thì ngôi đình phải quay ra sông hay lộ
dù đó không phải là hướng Nam Điều mà dân làng quan tâm ở đây là ngôi đình nên bố trí theo hướng gió mùa Đông Nam – Tây Bắc để tránh gió mùa
và mưa nắng hắt tạt vào bên trong
* Nguyên lý âm dương trong kỹ thuật:
- Đình có số gian lẻ
Với quan niệm của người
Việt, ngôi đình làng là một thực
thể sống động và linh thiêng Do
vậy, ở đình làng chứa đựng sự hài
hòa giữa các yếu tố âm dương
Đó là số gian của đình bao giờ
cũng lẻ: 3, 5, 7…(dương), số
hàng cột của vì kèo bao giờ cũng
chẵn: 4 hoặc 6 (âm) H2.1 Hàng cột tại đình Long Trung – Tiền Giang