Vì thế việc lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình phước” chính là nhằm hướng đến việc xem xét
Trang 1NGUYỄN THỊ KIM LOAN
NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI MƠI TRƯỜNG NHÂN VĂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC CƠNG TRÌNH
THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ MƠI TRƯỜNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 03/2010
Trang 2NGUYỄN THỊ KIM LOAN
NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI MƠI TRƯỜNG NHÂN VĂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC CƠNG TRÌNH
THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC
CHUYÊN NGÀNH: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MƠI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 62 85 1501
LUẬN ÁN TIẾN SĨ MƠI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS.HỊANG HƯNG
2 PGS.TS LÊ MẠNH HÙNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 03/2010
Trang 3hướng dẫn trực tiếp là PGS.TS Hòang Hưng và PGS.TS Lê Mạnh Hùng
Xin chân thành cám ơn cố PGS.TS Nguyễn Văn Tài đã giúp đỡ trong quá trình chọn
đề tài và chuẩn bị đề cương nghiên cứu
Xin chân thành cám ơn cố TS Basil van Horen- trường đại học Queensland-Úc đã góp ý và tạo điều kiện cho tôi trong việc tham khảo tài liệu liên quan đến đề tài
Xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc nhà máy thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Srokphumiêng đã tạo điều kiện cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện luận án
Xin chân thành cám ơn TS Phạm Thị Bích Ngân, TS Ngô Thanh Loan, TS.Trần Nam Dũng, PGS.TS Võ Hưng, PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến, PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, TS Lê Hải Thanh, TS Đinh Công Sản đã tận tình hỗ trợ và góp ý cho tôi rất nhiều trong thời gian hoàn thành luận án
Xin chân thành cám ơn các bạn đồng nghiệp: ThS Trần Anh Tiến, Phạm Thị Quỳnh Trang, ThS.Nguyễn Anh Quân, Nguyễn Thanh Nga, Hòang Công Thảo, Đặng Viên Ngọc Trai, Trần Chí Quốc- Khoa xã hội học trường Đại học KHXH và Nhân văn, các sinh viên Khoa Xã hội học đã tham gia điều tra, phỏng vấn mẫu khảo sát trong quá trình tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cám ơn Ủy ban nhân dân xã Đa Kia, xã Bình Thắng, xã Long Bình đã tạo điều kiện khảo sát, điều tra, phỏng vấn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện việc nghiên cứu
Xin cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học KHXH-NV và tập thể cán bộ Phòng CTCT-QLSV đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện đề tài phục vụ luận án
Trang 4Xin chân thành cám ơn tất cả
Trang 5Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Tp.HCM, là tác giả luận án “Nghiên cứu sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình phát triển các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình phước” xin cam đoan như sau:
Luận án tiến sỹ này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hòang Hưng và PGS.TS Lê Mạnh Hùng cùng sự giúp đỡ của các thầy cô, lãnh đạo cơ quan, bạn bè đồng nghiệp và các đơn vị có liên quan… Các số liệu tổng hợp, tham khảo tài liệu là hòan tòan trung thực và được trích dẫn từ các nguồn tài liệu đáng tin cậy đã được công bố rộng rãi Trừ các bảng, sơ đồ có chú thích nguồn bên dưới, các
số liệu khảo sát, phân tích và các bảng, biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh minh họa… được thu thập trong phần kết quả nghiên cứu, cùng các đề xuất giải pháp thực hiện và các ý tưởng đề nghị nghiên cứu tiếp theo được trình bày trong luận án là hòan tòan trung thực và của riêng cá nhân tôi
Tôi xin cam đoan những nội dung ghi trên là đúng sự thật và hòan tòan chịu trách nhiệm về những nội dung này
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Loan
Trang 6
1 Hình2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước 35
2 Hình 2.2 Sơ đồ khai thác bậc thang trên sông Bé- tỉnh Bình
Phước
44
5 Hình 2.5 Tòan cảnh thủy điện Thác Mơ 47
7 Hình 2.7 Lễ chặn dòng thủy điện Cần Đơn 49
8 Hình 2.8 Một góc nhà máy thủy điện Srokphumiêng 50
11 Hình 3.3 Đường phố Đồng Xòai ngày nay 64
12 Hình 3.4 Phương pháp giản đơn dùng để tính tuổi thọ công trình
và độ dài nước dâng
75
13 Hình 3.5 Quá trình bồi lắng trong hồ chứa 77
14 Hình 3.6 Xác định đường mặt nước trong hồ chứa 78
Trang 71 Bảng 1.1 Các yếu tố chính được quan tâm khi nghiên cứu sự
thay đổi môi trường nhân văn
15
2 Bảng 1.2 Thống kê một số trạm thủy điện ở Việt Nam 20
3 Bảng 1.3 Hạng mục công trình thủy lợi-thủy điện và lọai tác
động tái định cư
31
4 Bảng 1.4 Những kiểu thiệt hại do chiếm dụng đất 32
5 Bảng 2.1 Dân số trung bình tỉnh Bình Phước năm 2007 38
6 Bảng 2.2 Dân số trung bình tỉnh Bình Phước năm 2007 phân
chia theo dân tộc
39
7 Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu dân cư, đất đai tỉnh Bình Phước bị
ảnh hưởng bởi các công trình thủy lợi, thủy điện
13 Bảng 2.9 Thiệt hại sản phẩm nông nghiệp lòng hồ Cần đơn 56
14 Bảng 2.10 Thiệt hại khi xây dựng hồ Cần Đơn 56
15 Bảng 2.11 Thống kê diện tích đất các lọai bị ngập chìm trong
khu vực lòng hồ
57
16 Bảng 2.12 Thống kê các hộ gia đình nằm trong vùng chịu ảnh
hưởng và thiệt hại về tài sản
57
17 Bảng 3.1 Bảng ma trận tác động môi trường nhân văn của công 60
Trang 8năm 2000 đến 2007
19 Bảng 3.3 Thành phần người được phỏng vấn trong gia đình 67
20 Bảng 3.4 Giới tính người trả lời bảng hỏi 67
21 Bảng 3.5 Trình độ học vấn của người trả lời bảng hỏi 68
22 Bảng 3.6 Thành phần dân tộc của người trả lời bảng hỏi 69
23 Bảng 3.7 Thành phần tôn giáo của người trả lời bảng hỏi 69
25 Bảng 3.9 Kết quả khảo sát tình hình thu hồi đất 71
26 Bảng 3.10 Thống kê số đợt đền bù đã thực hiện và tổng diện
tích đất đã đền bù khi xây dựng công trình thủy điện Cần Đơn
73
27 Bảng 3.11 Thống kê số đợt đền bù đã thực hiện và tổng diện
tích đất đã đền bù khi xây dựng công trình thủy điện
30 Bảng 3.14 Nguồn thu nhập chính trước khi bị thu hồi đất 83
31 Bảng 3.15 Nguồn thu nhập chính sau khi bị thu hồi đất 84
32 Bảng 3.16 So sánh mức thu nhập trước và sau khi thu hồi đất 85
34 Bảng 3.18 So sánh tài sản mà người dân có trước đây và hiện
nay
91
35 Bảng 3.19 Phân lọai nhà ở trước đây 91
36 Bảng 3.20 So sánh phương tiện hỗ trợ đời sống văn hóa tinh 95
Trang 939 Bảng 3.23 Ý kiến so sánh về mối quan hệ hàng xóm hiện nay
sovới trước đây
44 Bảng 3.28 Ý kiến về thủ tục giấy tờ để nhận tiền đền bù 110
45 Bảng 3.29 Ý kiến về cách làm việc của nhân viên kiểm kê, đền
bù
112
46 Bảng 3.30 Ý kiến về thời gian nhận đền bù 114
47 Bảng 3.31 Ý kiến về nơi bố trí tái định cư 115
48 Bảng 3.32 Những hỗ trợ mà các hộ bị thu hồi đất được nhận 118
49 Bảng 4.1 các văn bản quy định về đất đai và đền bù tái định cư
áp dụng trong các dự án thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước
121
Trang 101 Biểu đồ 3.1 Trình độ văn hóa 68
2 Biểu đồ 3.2 Thành phần tôn giáo 70
3 Biểu đồ 3.3 Công việc của chủ hộ bị thu hồi đất được
phỏng vấn
81
4 Biểu đồ 3.4 Mức thu nhập trước và sau khi thu hồi đất 85
5 Biểu đồ 3.5 Nguồn điện sử dụng 89
6 Biểu đồ 3.6 Phương tiện hỗ trợ văn hóa tinh thần so với
trước
95
9 Biểu đồ 3.7 Nơi khám chữa bệnh 98
7 Biểu đồ 3.8 Sự thay đổi nơi cư trú 99
8 Biểu đồ 3.9 Mối quan hệ hàng xóm 101
9 Biểu đồ 3.10 Hình thức nhận đền bù 106
10 Biểu đồ 3.11 Ý kiến đánh giá về thủ tục khi nhận đền bù 111
11 Biểu đồ 3.12 Mức độ đánh giá về cách làm việc của nhân
viên
112
12 Biểu đồ 3.13 Mức độ hài lòng về thời gian nhận đền bù 114
Trang 11MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG 11
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG NHÂN VĂN 11
1.1.1 Khái niệm về môi trường 11
1.1.2 Một số quan điểm về môi trường nhân văn 12
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN 15
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về tác động của việc xây dựng đập chắn nước và hồ chứa 16
1.2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về vấn đề đền bù, di dời, tái định cư trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện 21
1.3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỀN BÙ, DI DỜI VÀ TÁI ĐỊNH CƯ 28
1.3.1 Các khái niệm 28
1.3.2 Những hạng mục công trình thuộc dự án thủy lợi, thủy điện gây nên việc di dời, tái định cư và những kiểu thiệt hại do chiếm dụng đất 30
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CÁC DỰ ÁN THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA CHÚNG 33
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH BÌNH PHƯỚC 33
2.1.1 Vị trí địa lý 33
2.1.2 Đặc điểm địa hình 34
2.1.3 Đặc điểm khí hậu: 35
2.1.4 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên 35
2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BÌNH PHƯỚC 36
2.2.1 Dân số 36
2.2.2 Cơ sở hạ tầng: 38
2.2.3 Đặc điểm kinh tế 40
2.3 CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC 40
2 4 TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC 42
2.4.1 Một số đặc trưng cơ bản của các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước 43 2.4.2 Tác động môi trường của các công trình Thác Mơ, Cần Đơn và Srokphumiêng 49
Trang 12LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC 58
3.2 NHỮNG THAY ĐỔI TÍCH CỰC ĐỐI VỚI TỈNH BÌNH PHƯỚC 59
3.2.1 Tăng dân số cơ học, cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển các khu công nghiệp trong tỉnh 59
3.2.2 Tạo thêm cảnh quan, làm tiền đề cho du lịch phát triển 60
3.2.3 Góp phần cải tạo hệ thống giao thông trong vùng 61
3.2.4 Góp phần cải tạo hệ thống điện, nước trong vùng 63
3.2.5 Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 63
3.2.6 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, đạt được mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh 64
3 3 NHỮNG THAY ĐỔI ĐỐI VỚI NHÓM NGƯỜI BỊ THU HỒI ĐẤT PHỤC VỤ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN 65
3.3.1 Những thay đổi về đời sống vật chất 70
3.3.2 Những thay đổi về đời sống tinh thần 92
3.3.3 Mối quan hệ cộng đồng 97
CHƯƠNG 4 CÁC CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ, TÁI ĐỊNH CƯ ÁP DỤNG TRONG CÁC DỰ ÁN THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ CÁC ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢM THIỂU NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN MÔI TRƯỜNG .120
4.1 CÁC CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ, TÁI ĐỊNH CƯ ÁP DỤNG TRONG CÁC DỰ ÁN THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC 121
4.1.1 Chính sách đền bù, di dời và tái định cư bắt buộc trước năm 1993 121
4.1.2 Chính sách đền bù, di dời và tái định cư bắt buộc từ năm 1993 đến nay 121
4.1.3 Những bất cập về chính sách trong quá trình thực hiện đền bù, tái định cư 127
4.2 GIẢM THIỂU NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN MÔI TRƯỜNG NHÂN VĂN: CÁC ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 137
4.2.1 Các giải pháp về cơ chế chính sách 137
4.2.2 Các giải pháp về tổ chức và quản lý 142
4.2.3 Công tác chỉ đạo và thực hiện 146
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng ngày càng nhiều trên khắp cả nước mang lại nguồn lợi lớn góp phần cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Một công trình thủy lợi, thủy điện bao gồm hệ thống các hạng mục: đập, hồ chứa, kênh dẫn, nhà máy, hệ thống truyền tải… Trong các hạng mục này, hồ chứa là hạng mục quan trọng, giữ vai trò chủ đạo của hệ thống Hồ chứa mang lại nhiều lợi ích kinh tế bằng các hình thức khai thác khác nhau như: sản xuất điện năng, cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông thủy, tạo cảnh quan du lịch, giảm nhẹ thiên tai do lũ lụt, hạn hán gây ra…
Tuy nhiên, việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện cho đến nay đã làm thay đổi môi trường nhân văn trong vùng dự án Thành phần và tính chất của môi trường nhân văn có nhiều thay đổi với sự xuất hiện của hệ thống tự nhiên (có dấu ấn của con người) và các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật do con người tạo ra Cuộc sống của con người (chủ thể của môi trường nhân văn) cũng vì thế mà không thể như cũ Việc xây dựng các hạng mục của công trình thủy lợi, thủy điện đã buộc một bộ phận dân cư phải rời bỏ nơi đang sinh sống để đến nơi ở mới Những người bị thu hồi đất
có khả năng phải thay đổi việc làm, nghề nghiệp, nếp sống, sinh họat bình thường, phải đối mặt với những khó khăn về vật chất cũng như tinh thần để từng bước thích nghi với cuộc sống mới
Trên thế giới, các công trình thủy lợi, thủy điện xuất hiện khắp nơi, vì vậy việc nghiên cứu những thay đổi về môi trường nhân văn cũng diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau với nhiều mức độ quan tâm khác nhau Tại các nước phát triển, vấn đề di dân, tái định cư bắt buộc do sự xuất hiện của hồ chứa được nghiên cứu kỹ lưỡng
Trang 14Chính vì vậy, những thiệt hại do tái định cư, kế họach tái định cư, chương trình khôi phục thu nhập… được ghi nhận hết sức cụ thể trong nhiều tài liệu
Ở Việt Nam, các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng ngày càng nhiều
và trải dài từ Bắc đến Nam, nhưng việc đánh giá những ảnh hưởng của các công trình chưa đầy đủ Đặc biệt những thay đổi về đời sống vật chất, tinh thần… của những người bị thu hồi đất được quan tâm khảo sát song vẫn chưa lường hết hậu quả của nó trong quá trình triển khai thực hiện Các chính sách về đền bù, tái định cư của các dự
án thủy lợi, thủy điện chưa đầy đủ, rõ ràng, dẫn đến những bất cập khi thực hiện, ảnh hưởng đến đời sống của người dân sau tái định cư
So với nhiều tỉnh thành khác, Bình Phước là tỉnh có nhiều công trình thủy lợi, thủy điện nhất trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Từ năm 1990 đến nay, tại tỉnh này, hàng loạt các công trình như Thác Mơ, Cần Đơn, Srokphumiêng, Phước Hòa
đã được xây dựng Các công trình này đã đem lại những lợi ích kinh tế xã hội to lớn, nhưng bên cạnh đó cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực Vì thế việc lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình phước” chính là nhằm hướng đến việc xem xét
những thay đổi môi trường nhân văn một cách hệ thống tại ba công trình : Thác Mơ, Cần Đơn, Srokphumiêng trên cùng một dòng sông trong một hệ thống chính sách của nhà nước luôn được sửa đổi bổ sung Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao lợi ích kinh tế và xã hội của dự án, đồng thời giúp những người bị ảnh hưởng mau chóng ổn định cuộc sống
Trong phạm vi luận án, những nghiên cứu của đề tài đứng trên quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét những thay đổi môi trường nhân văn thông qua họat động thực tiễn của con người
Hy vọng kết quả đề tài sẽ chuyển tải được những vấn đề về lý luận và thực tiễn, vận dụng được những kiến thức về mặt lý thuyết và kinh nghiệm của các dự án
Trang 15trên thế giới vào hoàn cảnh nghiên cứu cụ thể ở Việt Nam Từ đó đưa ra các giải pháp khả thi nhằm tăng cường các ảnh hưởng tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực do việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện đem đến
2 Mục tiêu của luận án
- Xác định được những thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tại tỉnh Bình Phước
- Đề xuất được các nhóm giải pháp về kinh tế, kỹ thuật và chính sách tạo điều kiện cho những người sống trong vùng dự án, bị ảnh hưởng bởi các công trình thủy lợi, thủy điện nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo đảm sự công bằng về lợi ích và điều kiện sống giữa cá nhân và cộng đồng theo quan điểm phát triển bền vững…
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1.Ý nghĩa lý luận
- Luận án làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các yếu tố khác nhau trong môi trường nhân văn thông qua họat động của con người đồng thời khẳng định rằng sự thay đổi môi trường nhân văn chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
- Là tài liệu tham khảo cho môn học: “Hành vi con người và môi trường xã hội” trong các trường Đại học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Thông qua việc phân tích các chính sách tái định cư và ảnh hưởng của nó đến đời sống của cộng đồng sau tái định cư, luận án cung cấp một góc nhìn xã hội học về chính sách tái định cư đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số
- Đề xuất một số đóng góp cho các nhà quản lý, các nhà họach định chính sách xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, ban hành các chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của các công trình
Trang 16- Ứng dụng vào quá trình thực hiện việc đền bù, di dời và tái định cư, nhằm đem đến
sự ổn định nhanh chóng và cần thiết cho người bị thu hồi đất
4 Những điểm mới của luận án
- Lần đầu tiên những thay đổi về môi trường nhân văn khi xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện được nghiên cứu sâu hơn và có hệ thống hơn theo hướng tiếp cận
đa ngành (Khoa học môi trường, Xã hội học, Địa lý học)
- Luận án đã phát hiện sự chênh lệch quá lớn giữa diện tích đất ngập thực tế với diện tích đất ngập theo tính tóan trong nghiên cứu tiền khả thi khi hồ chứa được hình thành Tác giả cũng chỉ ra những lý do dẫn đến sự chênh lệch, trong đó có sự bất hợp
lý khi áp dụng công thức cơ bản tính tóan điều tiết lũ
- Đề xuất và trình bày những giải pháp có tính định hướng trong việc nhận thức và
xử lý đúng đắn, công bằng lợi ích của cá nhân và cộng đồng, bảo đảm cuộc sống của người dân bị thu hồi đất sau khi có dự án ít nhất là bằng hoặc hơn so với trước khi có
5 Khung phân tích
Trang 17-Hệ thống đường giao thông, điện, nước…
của con người)
Quá trình phát triển các công trình thủy lợi,
thủy điện tỉnh Bình phước
Sự thay đổi môi trường nhân văn tại khu vực xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện
tỉnh Bình phước
Con người
Đời sống vật chất
Đời sống tinh thần
- Các mối quan hệ -Tính công bằng, bình đẳng…
nhà nước về việc xây dựng các
công trình thủy lợi, thủy điện
Trang 186 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước
- Sự tái định cư của những người bị thu hồi đất trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước
- Sự tác động của các chính sách kinh tế xã hội đến đời sống người dân tại khu vực có công trình thủy lợi, thủy điện ở Bình Phước
Phạm vi nghiên cứu
Môi trường nhân văn tỉnh Bình Phước tại khu vực xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện gồm Thác Mơ, Cần Đơn và Srokphumiêng
Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu trực tiếp là 3 năm, từ 2004 đến 2007
Giả thuyết nghiên cứu:
Việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện sẽ tác động đến môi trường nhân văn tại vùng dự án theo 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực Tác động này khác nhau đối với hai nhóm người kinh và người dân tộc thiểu số Chính sách tác động mạnh mẽ đến những thay đổi về môi trường nhân văn trong vùng dự án
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
Nghiên cứu sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội chung của đất nước từ năm 1990 đến nay Đây là thời kỳ đổi mới, thời kỳ mà cả nước
Trang 19nói chung và tỉnh Bình Phước nói riêng chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện cũng có nghĩa là thu hẹp một phần diện tích đất nông nghiệp để làm hồ chứa và những hạng mục khác của nhà máy Điều này dẫn đến đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của người dân bị thu hồi đất có nhiều thay đổi Vấn đề cần giải quyết là phải làm sao để những chuyển biến, thay đổi này, mang tính tích cực bền vững, bảo đảm xã hội ổn định và phát triển
Vì vậy, phương pháp luận chủ yếu của đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét sự thay đổi môi trường nhân văn thông qua họat động thực tiễn của con người
7.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Nghiên cứu, xử lý lại và phân tích các tài
liệu có sẵn liên quan đến đề tài Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính sau:
* Một số báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu thực nghiệm trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước của các Ban quản lý
dự án và của các Sở tài nguyên môi trường tỉnh Bình Phước, Bình Dương
*Báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh Bình Phước
*Số liệu thống kê 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Bình Phước
*Niên giám thống kê tỉnh Bình Phước qua các năm
* Sách báo và các phương tiện truyền thông khác
* Phương pháp điều tra xã hội học chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng bằng
bảng hỏi kết hợp với một số công cụ thu thập thông tin định tính (quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm)
Trang 20Đây là phần tự nghiên cứu của nghiên cứu sinh Phiếu điều tra, phỏng vấn được thu thập tại xã Đa Kia, xã Long Bình, xã Bình Thắng trong 2 cuộc điều tra khảo sát năm
2004 và 2007
Phiếu phỏng vấn:
Bảng hỏi sử dụng để khảo sát các hộ bị ảnh hưởng được thiết kế gồm 31 câu (đính kèm trong phần phụ lục) Trong bảng hỏi, các biến số định tính và định lượng chủ yếu sau đã được sử dụng để khảo sát và phân tích:
- Công việc trước và sau khi nhận đền bù
- Nguồn và mức thu nhập trước và sau khi bị ảnh hưởng, nhận đền bù
- Cơ hội tiếp cận với các dịch vu xã hội: điện, nước, y tế, giáo dục, tín dụng trước và sau khi bị ảnh hưởng, nhận đền bù
- Phương thức kiếm sống, kế sinh nhai trước và sau khi bị ảnh hưởng, nhận đền bù
- Những thay đổi về các mối quan hệ: hàng xóm, tổ chức xã hội tại địa phương, phương tiện giải trí, sự hiểu biết về pháp luật
- Sự thay đổi về các chính sách liên quan đến vấn đề đất đai, đền bù… của nhà nước
và tác động của chúng đến người dân bị ảnh hưởng
Trang 21Thường người ta cộng thêm vào dung lượng mẫu chính một mẫu phụ bằng 10-30% mẫu chính để trừ tỷ lệ từ chối hoặc tỷ lệ rủi ro khi gặp đối tượng khảo sát
( Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2002), Phương pháp nghiên cứu xã hội
học, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trong đề tài nghiên cứu, N=2830, t=3, Є=0.1, tỷ lệ mẫu phụ bằng 15% Từ đó tính được n=240
Tiêu chí chọn hộ:
-Chỉ chọn những hộ bị ảnh hưởng bởi công trình thủy lợi, thủy điện gồm nhóm bị ảnh hưởng phải di dời toàn bộ nhà ở, đất canh tác và nhóm bị ảnh hưởng một phần nhà ở, đất canh tác Vì những người thuộc nhóm bị ảnh hưởng gồm đồng bào dân tộc ít
người và người kinh nên tác giả đã xác lập các nhóm nghiên cứu có cả người kinh và người dân tộc
Trên cơ sở xác định tiêu chí chọn hộ như vậy, tác giả thảo luận với cán bộ của huyện, của xã, của nhà máy và của tổ đền bù thuộc dự án để lấy danh sách tất cả các hộ trong diện được đền bù rồi chọn 240 hộ dân tiến hành khảo sát
Các hộ tham gia khảo sát chịu ảnh hưởng của công trình Cần Đơn là 100 và chịu ảnh hưởng của công trình Srokphumiêng là 140
Phỏng vấn sâu : Thực hiện đối với những cán bộ có trách nhiệm công tác tại Ủy ban nhân dân xã Đa Kia, Thanh Hòa, Long Bình, Hưng Phước, Thiện Hưng…, huyện Phước Long, Bình Long, Bù Đốp, Lộc Ninh, Ban quản lý dự án và Ban Giám đốc nhà máy thủy điện Cần Đơn và Srokphumiêng
Thảo luận nhóm:
Những người tham gia nhóm thảo luận gồm: Một số trưởng thôn, đại diện cho dân cư trong vùng bị ảnh hưởng, một số người trong diện được cấp đất tái định cư, một số người dân tộc cư trú tại thôn 4
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS
Trang 22- Phương pháp logic-lịch sử: Nghiên cứu tư liệu lịch sử của địa phương
- Phương pháp so sánh: So sánh sự khác biệt về không gian và thời gian
- Phương pháp ma trận môi trường (matrix method): Đây là sự phối hợp liệt kê
các hành động của công trình thủy điện với những yếu tố của môi trường bị tác động Phương pháp này cho phép thấy được quan hệ nhân quả của những tác động khác nhau một cách đồng thời
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG NHÂN VĂN
1.1.1 Khái niệm về môi trường
Các tác giả Trung Quốc, Lương Tử Dung, Vũ Trung Giang cho rằng:“môi trường là hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con người, mà sinh vật và con người đó không thể tách ra khỏi điều kiện sống của nó” [4]
Nhà bác học Anhstanh cho rằng: “ môi trường là tất cả những gì ngoài tôi ra” [4] Chương trình môi trường của UNEP định nghĩa:“Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cộng đồng” [4] Theo luật môi trường của Việt Nam : “Môi trường là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và những yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất và sự phát triển của con người và sinh vật” [73]
Người ta có thể chia môi trường thành ba lọai:
Môi trường tự nhiên : Là tất cả những môi trường mang tính tự nhiên: sông, suối,
đất, nước, không khí, rừng, biển…[4]
Môi trường xã hội: Bao gồm những hoạt động xã hội của một vùng dân cư, quan hệ
nghề nghiệp, quan hệ giữa người với người, giữa các tổ chức chính trị, giai cấp chính trị của một quốc gia hay nhiều quốc gia [4]
Theo từ điển Trung Quốc thì :
Môi trường xã hội được cấu thành bởi các yếu tố
- Chính trị
- Kinh tế
- Văn hóa
Trang 24Trong đó : + Kinh tế là cơ sở
+ Chính trị là biểu hiện của kinh tế + Văn hóa phản ánh trước hết là tư tưởng, đạo đức, lối sống, sau đó là kinh tế và chính trị
Môi trường xã hội là sản phẩm của họat động nhân loại, nhưng ngược lại nó cũng là điều kiện ràng buộc họat động của xã hội đồng thời nó cũng là nhân tố quyết định mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và nhân lọai
Môi trường nhân văn
1.1.2 Một số quan điểm về môi trường nhân văn
Dù hội thảo về môi trường nhân văn đã được tổ chức tại Tam Đảo năm 1999, với
sự tham gia của rất nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một khái niệm chung và thống nhất về môi trường nhân văn
Một số khái niệm mà tác giả quan tâm gồm:
* “Môi trường nhân văn bao gồm những kiến trúc xung quanh, tình hình cư trú
và họat động của con người nơi đó” [70]
* “Môi trường nhân văn gồm các vấn đề liên quan đến con người như giáo dục,
văn hóa, tín ngưỡng…” [6]
* Nguyễn Văn Thủ cho rằng: “Nói đến môi trường xã hội nhân văn là nói đến mối quan hệ giữa con người với con người Môi trường nhân văn là một môi trường
mà cái chung và cái riêng hòa nhập với nhau, quyền lợi của tập thể và quyền lợi cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và làm tiền đề cho nhau phát triển”[72]
Trang 25Nhận xét: Các khái niệm trên đều lấy con người làm trung tâm Các vấn đề liên
quan đến con người như giáo dục, văn hóa, tín ngưỡng, không gian sống, mối quan hệ giữa con người với con người… đều được chú ý Tuy nhiên mối quan hệ giữa con người và môi trường chưa được quan tâm
* “Môi trường nhân văn là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống kỹ thuật do
con người tạo ra ở xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động
đã khai thác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, để phát triển và hòan thiện nhân cách, giữ gìn
và phát triển bản sắc văn hóa của dân tộc” [48]
Nhận xét: Khái niệm này quá rộng, tác giả chú trọng đến cả hệ thống tự nhiên và
hệ thống kỹ thuật do con người tạo ra Tuy nhiên tác giả lại chỉ quan tâm đến tác động của con người đến tài nguyên tự nhiên và nhân tạo mà chưa quan tâm đến mối quan
hệ giữa con người với con người (thành phần chủ yếu của môi trường nhân văn)
* “Môi trường nhân văn lấy con người làm trung tâm, các thành phần vật chất và
môi trường khác liên quan chặt chẽ với sự sinh tồn và phát triển của lòai người” [6]
* “Môi trường nhân văn là môi trường do con người tạo ra và phục vụ cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn Trong quá trình tác động vào tự nhiên, con người đã sáng tạo ra môi trường sống bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội Tính nhân văn của môi trường được thể hiện ở đây trước hết là dấu ấn con người lên thế giới tự nhiên, là “nhân hóa tự nhiên”, “tự nhiên thứ hai” tính người Môi
trường nhân văn thực chất là mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên” [5]
Nhận xét: Hai khái niệm trên khá đầy đủ, hợp lý
Qua tham khảo, nghiên cứu phân tích tài liệu, công trình nghiên cứu từ những tác giả
đi trước trong lĩnh vực môi trường và môi trường nhân văn tác giả đưa ra quan điểm
về môi trường nhân văn như sau:
Trang 26Môi trường nhân văn là môi trường do con người tạo ra và phục vụ cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn
Thành phần của môi trường nhân văn bao gồm con người (giữ vai trò đặc biệt quan trọng), hệ thống tự nhiên (có dấu ấn của con người) và hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật do con người tạo ra
Tính chất của môi trường nhân văn gắn liền với họat động sống của con người Con người là chủ thể của môi trường nhân văn
Các mối quan hệ chủ yếu trong môi trường nhân văn:
+ Quan hệ con người đối với môi trường: Đây là một quan hệ mang tính văn hóa, đạo đức
+ Quan hệ giữa con người với con người (giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, tính công bằng và bình đẳng
xã hội trong nhóm và trong mối quan hệ với cộng đồng lớn hơn…)
+ Quan hệ với chính bản thân
Những thay đổi về môi trường nhân văn là những thay đổi liên quan đến đời sống vật chất, đời sống tinh thần của con người, thể chế, pháp luật, các qui ước xã hội, tính công bằng và bình đẳng xã hội trong nhóm và trong mối quan hệ với cộng đồng lớn hơn
Các yếu tố chính được quan tâm khi nghiên cứu sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Bình Phước gồm:
Bảng1.1 : Các yếu tố chính được quan tâm khi nghiên cứu sự thay đổi môi trường
nhân văn
Trang 27y tế, giáo dục…
-Các mối quan hệ -Tính công bằng
- Các mối quan hệ cộng đồng
- Công bằng xã hội (chính sách di dời, đền bù và tái định cư)
Hệ thống cơ sở kỹ thuật hạ
tầng do con người tạo ra
- Nhà máy thủy điện
- Hệ thống đường giao thông, điện, nước
- Cơ sở hạ tầng khác
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả)
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN
Theo Nghị định của Chính phủ số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 về quản lý chất lượng công trình xây dựng thì :
Công trình thủy lợi gồm: hồ chứa nước; đập; cống; trạm bơm; giếng; đường ống dẫn
nước; kênh; công trình trên kênh và bờ bao các loại
Nhiệm vụ chính của công trình thủy lợi: TƯỚI, TIÊU
Nhiệm vụ thứ yếu: Phát điện, thủy sản, môi trường ( Ví dụ hồ dầu tiếng xả nước để đẩy mặn…)
Công trình thủy điện: Gồm hệ thống các hạng mục: đập, hồ chứa, kênh dẫn, nhà máy,
hệ thống truyền tải…
Trang 28Nhiệm vụ chính của công trình thủy điện là: Phát điện
Nhiệm vụ thứ yếu: cắt lũ ( Ví dụ thủy điện Hòa Bình, Sơn La…), tưới, nuôi trồng thủy sản, môi trường, du lịch
Các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng ngày càng nhiều trên khắp thế giới nên ảnh hưởng của chúng đến môi trường nhân văn và môi trường tự nhiên đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà lý luận trong và ngòai nước
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về tác động của việc xây dựng đập chắn nước và hồ chứa
Đối với việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện thì đập chắn nước và hồ chứa là những hạng mục chính, vì vậy các nghiên cứu đều tập trung xoay quanh vấn
* Steven A Brandt và Fehri Hassan với nghiên cứu “ Đập chắn nước và vấn đề quản lý di sản văn hóa” (Dams and cultural Heritage management), tháng 8-2000 đề
cập đến ảnh hưởng của việc xây dựng các đập chắn nước đối với di sản văn hóa trong vùng dự án [68]
Trang 29* Những hậu quả về môi trường, xã hội và sức khỏe của những dự án hồ chứa lớn ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trên tòan thế giới [54] (Baviska and Singh 1994; McCully 1996; IUCN and World Bank 1997)
* Công trình thủy lợi, thủy điện rất quan trọng cho việc cung cấp nước, điện, quản
lý lũ lụt… nhưng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực về mặt xã hội, sức khỏe con người đã được ghi nhận [60] (Godsmith and Hildyard 1984; Hunter et al 1982; Scudder 1997)
*Tác phẩm “Ảnh hưởng đến sức khỏe của những đập chắn nước lớn” (Health impacts of large dams) của Leonard B Lerer và Thayer Scudder đã trình bày những
ảnh hưởng về mặt sức khỏe của người dân sống trong vùng dự án khi những hồ chứa được xây dựng Tác giả cũng nêu rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và vấn đề sức khỏe khi xây dựng các hồ chứa ở các nước đang phát triển [65]
* Các hồ chứa lớn không những ảnh hưởng đến sức khoẻ dân cư ở vùng hồ chứa,
mà còn đến dân cư vùng thượng nguồn, hạ nguồn, trên phương diện vùng miền và quốc gia Sự gia tăng các loại bệnh, phổ biến là sán máng, sốt rét, viêm não, sốt xuất huyết, viêm dạ dày ruột, ký sinh đường ruột, giun chỉ … được ghi nhận sau khi các công trình đập chắn nước và hồ chứa được khánh thành Các đập chắn và hồ chứa cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ của thú vật thông qua việc gia tăng các loại bệnh như sán lá và bệnh trùng mũi khoan (Stanley và Alpers 1975) [67]
* Sự thay đổi dòng chảy, sinh thái dòng sông, thay đổi ranh giới mặn, giao thông thuận tiện nhờ các đập điều khiển, mối quan hệ của con người, sự ô nhiễm, hệ thống kênh đào và nông nghiệp làm cho các loại bệnh truyền nhiễm phát triển trong môi trường nhiệt đới và cận nhiệt đới ở các nước chậm phát triển, nơi mà các hồ chứa mới nhất được xây dựng (Brantly and Ramsey 1998; Hunter 1992; Hunter et al 1982).[55]
* Fuggle,R.; Smith,WT.; Hydrosult Canada Inc.; and Agrodev Canada Inc.2000 với bài: “Đập chắn nước lớn và sự phát triển tài nguyên năng lượng ở Trung Quốc”(Large Dams in water and Energy Resource Development in The People /s Republic of China
Trang 30(PRC)” đề cập đến vai trò to lớn của các công trình thủy lợi, thủy điện cũng như những tác động tiêu cực của chúng với nhiều vấn đề về mặt xã hội như: Sự công bằng giữa nhà đầu tư và người dân sống trong vùng dự án (người bản ngữ, nhóm dân tộc thiểu số, nhóm dễ bị tổn thương) trong việc chia sẻ lợi ích; trách nhiệm của nhà đầu
tư, của chính quyền trong việc đền bù thiệt hại và khôi phục thu nhập cho người bị thu hồi đất nhằm đảm bảo cuộc sống của họ sau khi có dự án không tệ hơn trước khi có
dự án Từ đó tác giả cũng cho thấy những sự thay đổi, tiến triển trong các chính sách môi trường, khuôn khổ thể chế của nhà nước Trung Quốc trong việc khai thác và quản lý nguồn tài nguyên nước cũng như những giải pháp đem đến sự ổn định đời sống của người dân sau khi có dự án [58]
- Quĩ Hoang dã Thế giới WWF cho rằng mặc dù có nhiều tiến bộ về mặt công nghệ xây dựng, các đập thủy điện vẫn hủy hoại nghiêm trọng môi trường và gây ra các hậu
quả về mặt xã hội Vì vậy báo cáo của WWF nhấn mạnh “Cùng với nguy cơ hiện hữu
về khủng hoảng nước và năng lượng, chúng ta phải lựa chọn những giải pháp phù hợp nhất để ít làm hại môi trường và không gây xáo trộn cho xã hội”
Trong nước
Ở nước ta, việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện được thực hiện từ rất lâu Tuy nhiên trước năm 1984, thuật ngữ “Đánh giá tác động môi trường” là thuật ngữ ít người quan tâm Mãi đến năm 1985, những kiến thức cơ bản về đánh giá tác động môi trường bước đầu mới được áp dụng để góp phần vào nội dung: “Luận chứng kinh tế kỹ thuật của công trình thủy điện Trị An”
Trong những năm gần đây hầu hết những dự án thủy lợi, thủy điện vừa và lớn thường đi sâu phân tích đánh giá tác động môi trường tự nhiên do dự án mang đến nhưng phần đánh giá tác động môi trường nhân văn thì chưa thật sự đi sâu Bước đầu chỉ quan tâm đến diện tích vùng bị ngập hoặc những phần đất cần di dời, giải tỏa… để
Trang 31triển khai công trình Còn tác động của những công trình đó khi triển khai sẽ tác động như thế nào đến môi trường nhân văn thì chưa thật sự đi sâu phân tích
Bảng1.2: Thống kê một số trạm thủy điện ở Việt Nam
Đa Nhim Đa Nhim 1961-1964 160 165
Hòa Bình Đà 1979-1989 1920 945
Trị An Đồng Nai 1985-1990 400 2800
Thác Mơ Bé 1990-1994 102 1470
Yali Sê San 1992-2000 720 -
Sông Hinh Hinh 1994-2000 70 399
Trang 32Sê San 3 Sê San 2002-1010 259 -
Thượng
Kontum
Đồng Nai 4 Đồng Nai - 288 1345,9 Đồng Nai 8 Đồng Nai - 200 1327,2 Đại Ninh Đồng Nai - 254 200,7
Liên quan đến việc đánh giá ảnh hưởng của các công trình thủy lợi, thủy điện có các công trình nghiên cứu của tác giả Hòang Hưng gồm:
* Tác động công trình thủy lợi Dầu Tiếng đến các điều kiện tài nguyên môi trường sau 10 năm khai thác, Đề tài cấp Bộ, 8/1995
* Ảnh hưởng của công trình thủy điện Trị An đến chế độ thủy văn hạ lưu Đề tài nghiên cứu, Trường Đại học Tổng hợp Tp.HCM, 9/1995
* Đánh giá tác động môi trường, NXB Đại học quốc gia, 2007
* Những vấn đề cần quan tâm trong việc bảo vệ môi trường sau khi hòan thành quy họach thủy lợi, thủy điện trên hệ thống sông Đồng Nai; Báo cáo Hội nghị các khoa học tự nhiên, Đại học Tổng hợp Tp.HCM, 1995
* Tác động của việc xây dựng tòan bộ hệ thống thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai đến môi trường tự nhiên và xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học quốc gia năm 2007
Trang 33Ngòai ra còn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Thạc Cán và của các
cơ quan chuyên môn như: Trung tâm công nghệ xử lý môi trường- Bộ quốc phòng, Liên đoàn địa chất miền Nam, Công ty xây dựng thủy điện sông Đà, Yaly, Hòa Bình-Sơn La, Tuyên Quang, Thác Bà, Trị An, Đa Mi-Hàm Thuận, Đại Ninh, Thác Mơ, Công ty khảo sát thiết kế điện 2…
Kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên và các cơ quan chuyên môn cho thấy những ảnh hưởng của công trình thủy lợi, thủy điện đến môi trường tự nhiên tại khu vực khi các công trình thủy lợi, thủy điện xuất hiện gồm: Mực nước ngầm nâng cao; tăng độ ẩm cho đất; tăng độ ẩm không khí trong vùng; thu hẹp diện tích rừng tự nhiên; gia tăng mức độ xói lở ở hạ lưu; tạo ra những đọan sông chết…
1.2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về vấn đề đền bù, di dời, tái định cư trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện
Liên quan đến những ảnh hưởng của công trình thủy lợi, thủy điện đến môi trường nhân văn khu vực triển khai dự án có các nghiên cứu sau:
* Nghiên cứu của Ahmad và Sammy, 1981, Bartelmus, 1986- “Đánh giá tác động môi trường ở Ghana, vấn đề tái định cư- trường hợp dự án thủy điện Kpong”
(Environmental impact assessment in Ghana-an ex post evalution of the Volta Resettlement Scheme: the case of the Kpong Hydro-electric Project): Dự án thủy điện
ở Ghana cho thấy việc xây dựng các hồ chứa gây ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế xã hội của người tái định cư thì lớn hơn rất nhiều so với ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng đời sống của người tái định cư không tốt hơn, thậm chí còn tệ hơn so với nơi ở cũ Điều đó thật cần thiết cho những người làm chính sách và lập kế hoạch rút kinh nghiệm [53]
* Vấn đề di dời, giải tỏa bắt buộc được thừa nhận là ảnh hưởng tiêu cực nhất của các dự án phát triển tài nguyên nước (hồ chứa của các nhà máy thủy điện) Khoảng 60 triệu người trên thế giới phải di dời do việc xây dựng các hồ chứa (Mc Cully,
Trang 34O.1996) Ngân hàng thế giới (World Bank) đã nhìn lại 192 dự án trên toàn thế giới từ năm 1986 đến 1993 và ghi nhận rằng có khoảng 4 triệu người phải di dời mỗi năm với khoảng 300 hồ chứa được xây dựng [69]
Các dự án phát triển tài nguyên nước, đặc biệt là các dự án hồ chứa, vấn đề đền
bù, di dân và tái định cư là một vấn đề phức tạp hay gây ra những rắc rối và có thể ảnh hưởng đến tâm lý dân cư và ổn định xã hội Diện tích mặt hồ chứa lớn nên số dân phải di dời nhiều, từ đó gây những ảnh hưởng đời sống người dân trong vùng, ảnh hưởng đến tình hình xã hội
* Quan điểm cho rằng di dời một bộ phận dân số là việc “hy sinh” một số ít người
để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều người hơn đang dần được thay đổi Chính sách của ngân hàng thế giới là hạn chế tối đa sự di dời Những người bị di dời cần phải được trợ giúp một cách tốt nhất
Hai ngân hàng có vai trò lớn trong việc xây dựng khung lý thuyết cho việc tái định
cư là Ngân hàng thế giới (World Bank) và Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank)
* Ngân hàng thế giới là một trong những cơ quan viện trợ phát triển quốc tế đầu tiên đã đề ra chính sách về vấn đề tái định cư cho người dân bị giải tỏa Chính sách này được đưa ra như là một hướng dẫn nội bộ đến các thành viên vào tháng 2 năm
1980 Từ năm 1986-1993, Ngân hàng thế giới đã hỗ trợ cho các nước ở Đông Nam Á
và Nam Á tiến hành di dời và ổn định chỗ ở cho khỏang 2 triệu người Trong những năm gần đây, khỏang 100 dự án được Ngân hàng thế giới tài trợ với khỏang 600.000
hộ di dời ở Bangladesh, Indonesia, Pakistan và Việt Nam đã mang lại nhiều kết quả khả quan
* Từ năm 1994, Ngân hàng thế giới không ngừng hòan thiện lý thuyết về tái định
cư Các dự án lớn trên thế giới đều lấy lý thuyết của Ngân hàng thế giới làm cơ sở cho
Trang 35Chính sách tái định cư của ngân hàng thế giới nêu rõ:
- Tránh di dân bắt buộc ở bất kỳ nơi nào cho phép
- Giảm thiểu tái định cư nếu không thể tránh được di dân, đảm bảo những người phải
di chuyển được hỗ trợ, tốt nhất là theo chính sách của dự án, để họ có thể duy trì được mức sống tối thiểu bằng mức họ đã đạt được trước khi có dự án
Ba yêu cầu quan trọng của tái định cư bắt buộc là:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có cấp nơi ở mới với các dịch vụ và phương tiện phù hợp
- Trợ cấp khôi phục để ít nhất đạt tới mức sống họ có được nếu không có dự án
* Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á năm 1992 về Quá trình tái định cư cho Thượng Hải: Dự án giao thông quốc tế khẳng định: Việc tái định cư được điều hành bởi một hệ thống pháp luật rõ ràng làm giảm rất nhiều sự bất ổn và trì trệ trong khi thi hành Ví dụ ở Thượng Hải, người ta hiểu là khi một vài dân cư phải đương đầu với chi phí di chuyển cao hơn vì tái định cư, họ ít chịu ảnh hưởng nhờ có
sự đền bù mà họ được hưởng Các doanh nghiệp được đền bù cho doanh thu bị mất trong quá trình di chuyển
* Một số báo cáo và tài liệu có liên quan nhiều đến luận án này:
+ Tác phẩm Chỉ nam môi trường cho dự án tái định cư ở vùng nhiệt đới ẩm, NXB
Nông nghiệp, Hà Nội, 1991 của tác giả Peter R Burbridge, Richard B Norgaard, Gary S Hartshorn cung cấp những gợi ý thực tiễn, những hướng dẫn cho các chuyên gia lập mô hình tái định cư và các dự án phát triển khác nhằm sử dụng hiệu quả nhất tiềm năng con người, tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại đến môi trường Quyển sách này rất bổ ích đối với công tác tổ chức định canh, định cư ở miền núi Trong phần một của quyển sách, tác giả đã trình bày mối quan hệ qua lại giữa các họat động sản xuất, các nhân tố sinh học tự nhiên và kinh tế xã hội Trong phần hai
Trang 36tác giả đã đề cập đến những nguyên tắc đối với tái định cư phù hợp với môi trường trong đó tính công bằng, tính bền vững và những lựa chọn phát triển được tác giả đặc biệt quan tâm [64]
+ Bản hướng dẫn về phân tích xã hội của các dự án phát triển do ngân hàng Phát
triển châu Á xuất bản tháng 6/1991 đề cập đến những tác động xã hội của việc tái định cư bắt buộc trong các dự án phát triển [52]
+ Cẩm nang về tái định cư, hướng dẫn thực hành do Ngân hàng phát triển Châu Á
biên sọan tháng 11năm 1995 đã tổng kết các tác động tái định cư có thể xảy ra trong các lọai dự án khác nhau Cũng trong quyển cẩm nang này các tác giả cố gắng đưa ra những ý tưởng và cách tiếp cận mới về khung chính sách, quyền lợi, các chuẩn bị về mặt xã hội, chiến lược khôi phục điều kiện sống và sinh kế cho những nhóm chịu tác động của dự án Mục tiêu của cẩm nang là đáp ứng được yêu cầu bảo đảm sau dự án đời sống của những người bị ảnh hưởng ít nhất cũng được ngang bằng như trước dự án.[36]
+ Báo cáo tháng 3/1996 của Ngân hàng thế giới về Tái định cư và phát triển nêu rõ
các nhà lập kế họach cần tính đến mối quan hệ giữa việc di chuyển và các họat động tạo thu nhập
+ Trong tác phẩm Nguy cơ và mô hình tái thiết cho việc tái định cư Những người phải di chuyển Chương trình Nghiên cứu Tị nạn Oxford, Liên hiệp Vương quốc Anh
và Bắc Ai Len, 1996, tác giả Michael Cernea cho biết: Khôi phục thu nhập là một
yếu tố quan trọng của tái định cư khi những người bị ảnh hưởng bị mất cơ sở sản xuất, công việc kinh doanh, việc làm hay những nguồn thu nhập khác, bất kể họ có bị mất nơi ở hay không Tuy nhiên những người bị mất cả nhà cửa và thu nhập thì bị đe dọa nhiều hơn cả Khi những người phải di chuyển bị nghèo đi, họ bị đe dọa trước nguy cơ bần cùng hóa và bị xa lánh, và có thể trở thành người không có đất đai, thất nghiệp, vô gia cư, nằm ngòai lề xã hội, bệnh tật hoành hành, không an tòan về lương
Trang 37thực, mất khả năng tiếp cận tới các tài sản chung, trở nên vô tổ chức về xã hội, kể cả việc phạm tội và lạm dụng tài sản [63]
+ Quyển “Hướng dẫn phân tích các yếu tố xã hội trong các dự án phát triển”
(Guidelines for social Analysis of development Project Manila, Philippines); do
Ngân hàng Phát triển châu Á biên soạn năm 1991 cho biết: Người ta càng ngày càng nhận thức được rằng, chính con người mới là trung tâm của sự phát triển Tuy nhiên,
có những trường hợp người ta phải can thiệp vào sự phát triển vì lợi ích to lớn hơn của xã hội, mặc dù điều này có thể bất lợi với một số người Ví dụ như trong các dự
án đường hay điện Tái định cư bắt buộc là một lĩnh vực nhạy cảm, hàm chứa những lợi ích kinh tế, xã hội và chính trị trái ngược nhau mà hầu hết các trường hợp khó có thể dung hòa được Bất kỳ một dự án phát triển nào đem lại những thay đổi đáng kể
về cách thức sử dụng đất đai, nguồn nước, hay các lọai tài nguyên thiên nhiên khác đều có thể tác động bất lợi đến những người đang sử dụng các nguồn tài nguyên đó về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo liên quan Trong số này, có nhiều
dự án có thể mang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực và quốc gia Tuy nhiên chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát triển quốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân- những người chịu bất lợi trước tiên [52]
+ Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng bắt đầu quan tâm đến vấn đề đền bù, di dời và tái định cư khi xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện
Các nghiên cứu liên quan đời sống người dân bị thu hồi đất gồm có:
* Tác giả GS.TSKH Lê Du Phong cùng 35 cộng sự khác với tác phẩm: “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia” (2007), NXB Chính trị Quốc gia, đã nêu lên một số vấn đề lý luận,
thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi Qua đó tác
Trang 38giả đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian sắp tới [38]
* Đề tài độc lập cấp nhà nước do chính phủ trực tiếp giao cho Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội: “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” đặt ra nhiều vấn đề bức xúc nhất là trong
lĩnh vực giải quyết việc làm, thu hút lao động nông nghiệp mất việc khi bị thu hồi đất
Đề tài cũng cho rằng về phía quản lý nhà nước cũng có những bất cập trong việc thu hồi đất Dường như việc thu hồi đất không gắn với kế họach đào tạo nghề cho những người mất đất Nhà nước chỉ có chính sách hỗ trợ tiền cho chuyển đổi nghề nghiệp, trong khi đó học nghề gì, học ở đâu, thời gian học, học rồi có tìm được việc làm không thì không được chính quyền các cấp quan tâm [23]
* Tác phẩm “Tái định cư trong các công trình thủy điện An toàn đập theo hướng bền vững” của tác giả Cao Thu Yến do Viện nghiên cứu kỹ thuật Hoàng Gia
Thụy Điển Stockhom xuất bản năm 2003 cho biết công tác quy hoạch và lập kế hoạch tái định cư chưa được coi trọng, thường chỉ được xem như là một phần hoặc chương nhỏ trong các bước chuẩn bị dự án Thực trạng công tác di dân tái định cư của các công trình thủy điện hiện nay cho thấy còn quá nhiều bất cập trong tất cả các khâu như chính sách tái định cư: từ tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch đến khâu triển khai thực hiện và cấp phát vốn cho việc thực hiện [49]
* Trần Đình Hạnh với bài: “Những khó khăn về nguồn lực tài chính dành cho tái định cư- thực trạng và hướng tháo gỡ” trình bày trong Hội thảo khoa học tài chính
đối với vấn đề tái định cư- thực trạng và giải pháp do Viện Khoa học tài chính- Bộ tài chính tổ chức tại Hà Nội ngày 31/8/2006 khẳng định: Cho đến thời điểm hiện nay vẫn không có các quy định về phục hồi sinh kế cho người dân tái định cư Các chính sách
Trang 39tái định cư có những quy định về hỗ trợ và ổn định cuộc sống cho người dân nhưng các hỗ trợ này được quy định với mức giá thấp, thời gian ngắn, trong khi đó việc thực hiện những hoạt động khôi phục sinh kế cho người dân đòi hỏi một thời gian lâu dài
Các cơ chế tài chính không có quy định rõ ràng cho các hoạt động này.[26]
* Theo tài liệu quy hoạch của Viện quy hoạch thủy lợi, Sơn La có 55 điểm tái định
cư thiếu nước mặt cho biết: Công trình thủy điện Sơn La được đầu tư cao cho công
tác tái định cư nhưng tình trạng phổ biến tại các khu tái định cư của thủy điện là cơ sở
hạ tầng chưa được chuẩn bị đầy đủ Thực tế cho thấy hầu hết các khu, điểm tái định
cư có diện tích đất canh tác nhưng rất thiếu nguồn nước
* Bài tham luận “Xem xét chính sách tái định cư các công trình thủy điện ở Việt Nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” trình bày tại Hội thảo về cơ chế quản lý và chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các công trình thủy lợi, thủy điện, Hà Nội, ngày 15/11/2006 của tác giả Đặng Nguyên Anh cho biết: Công tác điều tra cơ bản cho
di dân còn nhiều sai sót ở công trình thủy điện Na Hang ở Tuyên Quang Chương trình quy hoạch tái định cư bỏ sót đến 21 bản với 1252 hộ (trên 4550 người) khiến Chính phủ và Quốc hội phải tham gia tháo gỡ, giải quyết để bổ sung ngân sách Công trình thủy điện A Vương-Quảng Nam, tình hình cũng không khá hơn Khoảng 300 hộ dân tộc Cơ Tu của khu tái định cư thủy điện A Vương trong gần 2 năm phải dựa vào nguồn trợ cấp do quỹ đất sản xuất không đủ, chất lượng đất xấu, trồng trọt không có năng suất thu hoạch và các hoạt động nhằm hỗ trợ phục hồi thu nhập chưa được triển khai [1]
* Bài “Tái định cư cho các công trình thủy điện ở Việt Nam” cũng của tác giả
Đặng Nguyên Anh khẳng định: Đặc thù của các dự án thủy điện là được triển khai xây dựng chủ yếu ở các tỉnh miền núi Việc di dời, tái định cư trong các công trình thủy điện miền núi tạo nên nhiều biến động đến đời sống của người dân vùng chịu ảnh hưởng [3]
Trang 40* Luận văn thạc sỹ năm 2007 của Khúc Thị Thanh Vân: “Ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến đời sống người dân sau tái định cư: nghiên cứu trường hợp thủy điện Bản Vẽ” có đề cập đến việc nhiều người dân tại một số khu tái định cư khi xây
dựng thủy điện không có được mức sống bằng với nơi ở cũ sau khi di chuyển Hầu hết đang gặp khó khăn trong cuộc sống sau tái định cư [46]
Tóm lại, tổng hợp các vấn đề phân tích nêu trên cho thấy các công trình nghiên cứu và các bài viết đi trước đã góp phần vào việc họach định các chính sách kinh tế xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân chịu tác động của việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện
Các nghiên cứu trước đây sẽ là những dẫn liệu ban đầu để định hướng tiến hành nghiên cứu sự thay đổi môi trường nhân văn trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện tại tỉnh Bình Phước
1.3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỀN BÙ, DI DỜI VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
1.3.1 Các khái niệm
Đền bù:
Trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc sự vất vả [39]
Theo khái niệm của Ngân hàng thế giới đưa ra thì “Đền bù là :Tiền hoặc hiện vật trả cho những người bị ảnh hưởng để thay thế tài sản, điều kiện sinh sống bị mất nhằm sớm khôi phục lại cuộc sống của họ”
Giải tỏa:
Theo khái niệm của Ngân hàng thế giới đưa ra thì “giải tỏa là hành động của chính quyền trong việc lấy hoặc thay đổi quyền sở hữu khi thực hiện quyền lực tối cao của mình”
Di dời: