Với mục đích muốn được thử sức với các công trình lớn, cũng như thử sức trong môi trường khắt khe và đầy tình cạnh tranh này, nên em quyết định chọn đề tài “ Thiết kế nội thất bảo tàng đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
VIỆN CÔNG NGHIỆP GỖ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Lớp : 60 - TKNT Khóa học : 2015-2019
HÀ NỘI, 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bắt đầu học tập và rèn luyện tại trường Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam từ
năm 2015 và đến nay chuẩn bị tốt nghiêp, với em 4 năm là một quá trình dài Quãng thời
gian đó đã tích lũy cho em những kiến thức về mỹ thuật cơ sở và thiết kế nội thất, giúp
em có thể theo đuổi sự nghiệp đưa ra các giải pháp thiết kế nội thất sáng tạo cho các
không gian sống nhằm hỗ trợ sức khỏe, tạo sự an toàn và nâng cao chất lượng cuộc
sống Để có được những kiến thức đó nhà trường và đặc biệt các quý thầy cô của Viện
kiến trúc cảnh quan & Nội thất đã truyền đạt cho em những kiến thức về lý thuyết và
thực hành thực tế trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên em xin
gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các khoa, phòng ban cùng toàn bộ cán bộ nhân viên và
bạn bè Đặc biệt là em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn Lý Tuấn
Trường, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn đóng góp những ý kiến quý báu cho em
trong suốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thiện được khóa luận này, các Thầy Cô giáo
thuộc Viện kiến trúc cảnh quan & Nội thất đã luôn nhiệt tình quan tâm, giúp đỡ vào tạo
điều kiện cho em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Quá trình làm đố án với nhiều hạng mục cần nghiên cứu và thể hiện không tránh
khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được những đánh giá và góp ý của các thầy cô
và các bạn để em có thể hoàn thiện đầy đủ các kỹ năm phát triển sự nghiệp sau này
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2019
Sinh viên Hoàng Phương Nhung
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
1 Hình1.1a Hình minh họa Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam 03
2 Hình 1.1b Hình minh họa Bảo tàng thiên nhiên Nam Bộ 03
3 Hình 1.2a Hình minh họa bảo tàng Bảo tàng Lịch Sử Tự Nhiên Lee
Kong Chian, Singapore
07
4 Hình 3.1.2a Tỉ lệ của tiêu bản và kệ trưng bày 11
5 Hình3.1.2b Cân bằng của các kệ trưng bày trong không gian trưng
bày
11
6 Hình 3.1.2c Sự hài hòa về bố cục, màu sắc và chất liệu 12
7 Hình 3.1.2d Nhịp điệu lặp đi lặp lại trong yếu tố màu sắc 12
8 Hình 3.1.2e Sự nhấn mạnh trong màu sắc của không gian nội thất 13
Hình 3.2a Bảng phối màu tỉ lệ vàng 13
9 Hình 3.2b Hình minh họa ứng dụng yếu tố màu sắc vào trong thiết
Trang 311 Hình3.2d Hình minh họa yếu tố chiếu sáng trực tiếp được áp dụng
vào bảo tàng
16
12 Bảng 3.3.1: Kích thước chiều cao đứng của người 16
13 Bảng 3.3.2: Kích thước chiều cao ngồi của người 18
14 Bảng 3.3.3 : Kích thước và chiều rộng của mông 19
15 Hình 4.3.3a Bản vẽ bố trí mặt bằng nội thất tầng 1 19
16 Hình 4.3.3b Hình phối cảnh khu lễ tân tiếp khách tầng 1 24
17 Hình 4.3.3c Hình phối cảnh khu lễ tân tiếp khách tầng 1 26
18 Hình 4.3.3d Hình phối cảnh khu trưng bày tháp tiếp hóa tầng 1 30
19 Hình 4.3.3e Hình phối cảnh khu trưng bày thực vật tầng 2 30
20 Hình 4.3.4a Bản vẽ bố trí mặt bằng nội thất tầng 1 31
21 Hình 4.3.4c Hình phối cảnh khu lễ tân, tháp tiến hóa tầng2 32
22 Hình 4.3.4d Hình phối cảnh khu tiếp khách tầng1 32
23 Hình 4.3.4e Hình phối cảnh khu trưng bày tranh ảnh giới thiệu bảo
26 Hình 5.1a Hình phối cảnh khu lễ tân, tháp tiến hóa tầng1 góc nhìn B 37
27 Hình 5.1b Hình phối cảnh khu lễ tân, tháp tiến hóa tầng1 góc nhìn B 37
28 Hình 5.1c Hình phối cảnh khu lễ tân, tháp tiến hóa tầng1 góc nhìn D 38
29 Hình 5.1d Hình phối cảnh khu trưng bày thực vật tầng 2 38
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 2
1.2.Tình hình nghiên cứu thế giới 6
CHƯƠNG II : MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Mục tiêu tổng quát 7
2.2 Mục tiêu cụ thể 7
2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
2.4 Nội dung nghiên cứu 8
2.5 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG III: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
3.1.Cơ sở lý luận 9
3.1.1 Khái quát chung về bảo tàng đa dạng sinh học 11
3.1.2 Nguyên lý thiết kế nội thất 11
3.2 Nguyên lý mỹ thuật trong thiết kế bảo tàng đa dạng sinh học 14
3.2.1 Màu sắc 14
3.2.3 Vật liệu và chất liệu 16
3.3.Cơ sở nhân trắc học trong thiết kế nội thất 17
3.3.1 Chiều cao đứng 18
3.3.2 Chiều cao ngồi 18
3.3.3 Chiều rộng vai 19
3.3.4 Chiều rộng mông 19
3.3.5 Chiều dài tay và chân 19
3.3.6 Chiều dài và chiều rộng, chiều cao đầu 19
3.3.7 Trọng lượng cơ thể 19
3.4.Nguyễn tắc sắp xếp bố trí và tổ chức không gian trong bảo tàng đa dạng sinh học 20
3.4.1 Tính đồng nhất trong thiết nội bảo tàng đa dạng sinh học 20
3.4.2 Cân bằng về màu sắc và ánh sáng 20
3.4.3 Bố trí mẫu vật theo tính khoa học và đặc điểm tự nhiên 21
3.4.4.Yêu cầu của bảo tàng đa dạng sinh học trong trưng bày 21
3.5.Yêu cầu chức năng và xu thế thiết kế của bảng tàng đa dạng sinh học theo phong cách hiện đại 22
3.5.1 Yêu cầu chức năng của bảo tàng đa dạng sinh học 22
3.5.2.Xu thế thiết kế bảo tàng đa dạng sinh học 22
CHƯƠNG IV: XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ 24
4.1 Nhiệm vụ thiết kế .24
4.2 Khảo sát hiện trạng công trình và yêu cầu thiết kế 24
4.2.2 Yêu cầu thiết kế 27
4.3 Xây dựng phương án thiết kế 27
4.3.1 Phương án thiết kế 27
4.3.2 Phân tích hoạt động của các không gian có trong bảo tàng .27
4.3.3 Phương án 1 29
4.3.4 Phương án 2 30
CHƯƠNG V: THUYẾT MINH VÀ ĐÁNH GIÁ THIẾT KẾ 33
5.1 Thuyết minh thiết kế 33
5.2 Đánh giá thiết kế 38
5.2.1 Kết quả đánh giá về mặt lý luận 38
5.2.2 Các giá trị thực tiễn mang lại 39
CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
6.1.Kết luận 40
6.2.Kiến nghị 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước sự phát triển của nền công nghiệp cơ khí, khoa học kỹ thuật, con người
càng hướng về thiên nhiên, thưởng thức thiên nhiên đã trở thành một trào lưu Công
nghiệp càng phát đạt, con người càng quý trọng di sản văn hóa, càng quý trọng di vật
mộc mạc nguyên thủy Thêm nữa môi trường vật chất của xã hội hiện đại do bị khai thác
quá nhanh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, việc bảo vệ di sản văn hóa và môi trường
thiên nhiên trở thành vấn đề cấp bách mang tính thế giới Việc bảo vệ môi trường là sự
nghiệp có tính quốc tế đã nổi lên từ sau những năm 70 Nó gắn bó chặt chẽ với khu bảo
vệ thiên nhiên của bảo tàng, với công viên quốc gia hay viện bảo tàng thiên nhiên
Qua quá trình tìm hiểu dựa vào vị trí địa lí thì nằm ở vùng Đông Nam châu Á với
diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học
cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lược quốc gia
quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010) Đặc điểm về vị trí địa lý, khí
hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật
Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn
Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo-Malaysia Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi
đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế
giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế
giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các khu bảo
tồn và Phát triển kinh tế)
Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự
nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người
và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Theo ước tính giá trị của tài nguyên đa dạng
sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et
al-1997) Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong các ngành Nông
nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế
hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam-1995)
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH
của Việt Nam đã và đang bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp
diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần
Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giũa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH v.v
Trong bối cảnh đó, Quảng Nam là một tỉnh nằm ở miền Trung của Việt Nam, là một nơi du lịch rất hấp dẫn Quảng Nam thích hợp cho du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng, du lịch miệt vườn Quảng Nam là một trong hai tỉnh của Việt Nam có hai thành phố và tỉnh có hai di sản văn hóa thế giới Hơn nữa tỉnh Quảng Nam được coi là khu dự trữ sinh quyển thế giới do hội tội đa dạng về hệ thống thực vật phong phú và đa dạng về sinh thái
Việc đầu tư xây dựng Bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam xuất phát từ hai yếu tố:
- Thứ nhất : Bảo tàng đa dạng sinh học Quảng Nam sẽ là địa điểm tham quan giải trí cho khách du lịch
- Thứ hai : Bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam sẽ góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức và ý thức sống tôn trọng thiên nhiên và bảo vệ môi trường đối với mỗi du khách
Như vậy, cuối cùng mục tiêu của bảo tàng này là phát triển kinh tế di lịch một cách bề vững Lợi ích kinh tế găn liền với bảo vệ thiên nhiên, môi trường Việc xây dựng một bảo tàng về đa dạng sinh học trong tổng quan cảnh quan thiên nhiên, lịch sử ở nơi đây là cần thiết và thiết thực cả về văn hóa, kinh tế và môi trường
Hơn nữa, đi kèm với việc đời sống của con người càng ngày càng phát triển thì nhu cầu thẩm mỹ của con người ngày càng cao thì ngoài việc làm đẹp cho bản thân, nhiều người đang làm đẹp cho cả ngôi nhà của mình, văn phòng làm việc…Điều đó
Trang 6chứng minh rằng nhu cầu thẩm mỹ của con người không chỉ dừng lại ở cá nhân mà nó
còn nâng tầng quan trọng đến những công trình công cộng
Với mục đích muốn được thử sức với các công trình lớn, cũng như thử sức trong
môi trường khắt khe và đầy tình cạnh tranh này, nên em quyết định chọn đề tài “ Thiết
kế nội thất bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Tình hình nghiên cứu trong nước
Với sự phát triển kinh tế ngày càng tăng, nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng lớn, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa nói chung và bảo tàng nói riêng càng được chú ý Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020 Quy hoạch này nhằm kiện toàn và phát triển hệ thống bảo tàng, phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học, giảng dạy, phổ biến tri thức về lịch sử văn hóa, khoa học và thưởng thức văn hóa của công chúng, góp phần phát triển kinh tế,
xã hội và du lịch Các bảo tàng Việt Nam được đặt trong yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động, thúc đẩy sự phát triển đa dạng về loại hình bảo tàng, đa dạng hóa hình thức
sở hữu, vươn lên theo xu hướng phát triển của thế giới, vận dụng thành tựu tiến bộ, hiện đại của bảo tàng quốc tế vào Việt Nam để các bảo tàng không lạc hậu so với khu vực thế giới, nâng cao năng lực phát triển tính nghề nghiệp cao trong hoạt động bảo tàng
Ở nước ta, một số cơ sở về bảo tàng thiên nhiên đã có từ thời thuộc Pháp trước Cách mạng Tháng Tám Hoạt động chủ yếu của các bảo tàng này là sưu tầm và lưu giữ các bộ sưu tập động, thực vật, khoáng vật, để phục vụ yêu cầu nghiên cứu khoa học ở Đại học Khoa học Hà Nội, khu Đấu xảo Hà Nội (Bảo tàng Maurice Long), Sở thú Sài Gòn (Bảo tàng Blanchard de la Bizosse), Viện Hải dương học Nha Trang, Sở Địa chất Đông Dương Trong những bộ sưu tập thực vật gồm tới 180.000 tiêu bản của 6.000 loài thực vật với những mẫu thu được từ 130 năm trước, các bộ sưu tập sinh vật biển với trên 10.000 loài được lưu giữ gần một thế kỷ, bộ sưu tập khoáng vật lớn được sưu tập từ đầu thế kỷ trước… Đây đều là những tư liệu khoa học đặc biệt có giá trị không chỉ với nước
ta mà còn cả trong khu vực và thế giới
Hơn nữa là đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đánh giá, phóng sự về các bảo tàng với các phong cách thiết kế khác nhau được các kiến trúc sư, các nhà nghiên cứu xã hội học thực hiện
Dưới đây là những bảo tàng về thiên nhiên, bảo tàng thiên nhiên khu vực, bảo tàng thiên nhiên chuyên ngành và các bảo tàng thiên nhiên cơ sở tại Việt Nam
Trang 7- Hà Nội: + Khu trưng bày ngoài trời Mê Linh
+ Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam
+ Bảo tàng Địa chất + Khu trưng bày ngoài trời Hòa Lạc + Bảo tàng Đại học Quốc gia
+ Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam + Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
- Điện Biên : +Bảo tàng Thiên nhiên Tây Bắc
- Hải Phòng : + Bảo tàng Hải dương học Đồ Sơn
- Thừa Thiên Huế : + Bảo tàng thiên nhiện Duyên hải Miền trung
- Khánh Hòa : + Bảo tàng Hải dương học Nha Trang
- Lâm Đồng : + Bảo tàng Thiên nhiên Tây Nguyên
- TP Hồ Chí Minh : + Bảo tàng thiên nhiên Nam Bộ
o
Hình1.1a Hình minh họa Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Hình 1.1b Hình minh họa Bảo tàng thiên nhiên Nam Bộ
Bảo tàng Thiên nhiên tại Việt Nam phát triển hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học công nghệ, đào tạo đồng thời đã đạt được những thành tựu đã đạt được là đáng tự hào
Ví dụ như ngày 9 tháng 2 năm 2018, tại Hội trường Tòa nhà trung tâm, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Bảo tàng Lịch sử
Tự nhiên Béc Lin Đức tổ chức hội thảo lần thứ 2 với chủ đề “Đa dạng sinh học là cơ sở cho nền kinh tế sinh học bền vững: những cách tiếp cận mới khám đa dạng sinh học” -
“Biodiversity as a basis for sustainable bioeconomy: new ways towards biodiscovery” (BIONOM)
Tuy nhiên cho đến nay dù đã có trên 100 bảo tàng nhưng ở nước ta rất ít bảo tàng
có chất lượng và lôi cuốn được công chúng Sức hấp dẫn của các bảo tàng đối với công chúng hiện nay không tăng lên bởi vì số bảo tàng mới ra đời nhưng lại không mới và không đáp ứng nhiều lắm sự mong đợi của xã hội Điều đó có nhiều nguyên nhân mà một trong những nguyên nhân chính là các cấp, các ngành có liên quan chưa nhận thức đầy đủ và chưa quan tâm đúng mức việc đầu tư cho xây dựng bảo tàng, nhất là đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học để tổ chức nội dung và trưng bày; thực tế đầu tư cho
Trang 8lĩnh vực này còn quá ít và không đúng tầm với một thiết chế văn hóa quan trọng như bảo
tàng
Trong khoảng mươi năm, nhất là 5 năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế của
đất nước, trước nhu cầu xã hội nhiều dự án bảo tàng đã được triển khai Có những bảo
tàng được đầu tư rất lớn ( Bảo tàng Hà Nội riêng phần tòa nhà đã trên 2000 tỷ, dự toán
ban đầu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia là 2961 tỷ (bao gồm cả công trình, nội thất và
trưng bày, theo đề án trình Chính phủ năm 2007), Bảo tàng Lịch sử quân sự sẽ có quỹ
đất gần 50ha Quy mô đầu tư cho các bảo tàng tỉnh và thành phố cũng khác trước nhiều
Các dự án được đầu tư tăng dần tới nhiều chục tỷ, trăm tỷ Một số bảo tàng đã xây dựng
xong và đi vào hoạt động như các bảo tàng Quảng Trị (45 tỷ), Hùng Vương, Phú Thọ
(chưa quyết toán dự tính 100 tỷ, Đà Nẵng (65 tỷ)…; Nhiều bảo tàng đang xây dựng như
Bảo tàng Phú Yên (97 tỷ), tòa nhà Đông Nam Á của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
(trên 80 tỷ)… Có bảo tàng đang chờ phê duyệt dự án như Bảo tàng Thiên nhiên Việt
Nam Điều đó nói lên bảo tàng ở nước ta đang có rất nhiều cơ hội để phát triển trong thế
kỷ XXI
Dù rằng đã nhận được đầu tư lớn, đôi khi quá lớn, song phần lớn các bảo tàng của
chúng ta vẫn không theo kịp với sự thay đổi của xã hội, không làm mới được chính mình
cho nên các dự án bảo tàng, hoạt động bảo tàng có một số vấn đề tồn tại dai dẳng: nội
dung bảo tàng không cập nhật được với cuộc sống, di sản nằm im trong kho, trưng bày
bảo tàng ít thay đổi, buồn tẻ, khô cứng, thiếu sức sống, kỹ thuật lạc hậu và luôn luôn
vắng khách thăm quan Cũng chính vì thế gần đây dư luận mới thảo luận về sự lãng phí
trong đầu tư xây dựng bảo tàng, trường hợp Bảo tàng Hà Nội
Từ thiết kế, xây dựng, đến trưng bày một bảo tàng đa dạng: một quá trình nghiên cứu và
thực hành nghề chuyên nghiệp
Bảo tàng là một thiết chế văn hóa và khoa học đặc thù Bảo tàng có chức năng
nghiên cứu khoa học, giáo dục và phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa, giải trí của
công chúng cũng như nhu cầu du lịch Bảo tàng có tiêu chuẩn rất rõ ràng, khoa học,
không phải tùy tiện làm thế nào cũng được, muốn bày gì cũng được
Nghiên cứu các bảo tàng mới xây hay đang xây dựng thì thấy có một bất cập, một trở ngại cơ bản, rất lớn Đó là cơ chế quản lý Với cơ chế hiện nay, hầu hết các dự án bảo tàng khác đều do cơ quan xây dựng hay cơ quan cấp trên như Bộ, Sở Văn hóa, Thể thao,
Du lịch tỉnh/thành phố làm chủ đầu tư mà không phải bảo tàng làm chủ; ngôi nhà bảo tàng được họ làm và bàn giao theo kiểu “chìa khóa trao tay” Cách làm này tách rời công việc chuyên môn của bảo tàng, những người làm bảo tàng –người sử dụng tương lai (Bảo tàng) với tòa nhà bảo tàng Tách nội dung sẽ được sử dụng (những yêu cầu cho việc trưng bày, cho công tác bảo quản hiện vật…) với công năng xây dựng Cho nên những lỗi lầm trong xây dựng tòa nhà của nhiều bảo tàng có vô vàn sai lầm như quá nhiều cửa sổ, cửa kính, cửa ra vào; chưa biết trưng bày nội thất sử dụng ánh sáng thế nào
mà nhà thầu đã lắp hệ thống đèn chiếu sáng như kiểu hội trường, đã lát nền sàn theo thiết
kế được duyệt; hệ thống kho thì trần quá thấp, ẩm thấp, ống kỹ thuật chạy giữa nhà; lộ trình trưng bày không rõ nên có cầu thang mà lại không thể sử dụng được nên gọi là
“cầu thang chết”…
Bảo tàng học và những người làm bảo tàng: một chuyên ngành nghiên cứu & thực
hành cần được thừa nhận
Công tác tổ chức trưng bày trong bảo tàng đa dạng sinh học càng bất cập hơn về
cơ chế Hiện nay ở hầu hết các bảo tàng người làm nội dung trưng bày phải ký hợp đồng
để nhận lại một phần việc của chính mình với các công ty tư vấn thiết kế trưng bày Bảo tàng lại không phải là chủ thể tạo ra trưng bày, suy nghĩ, trăn trở và sáng tạo trưng bày
để rồi không có chuyên môn về nội dung trưng bày Giám đốc bảo tàng không được ký hợp đồng với nhân viên của mình để hoàn thành các công việc chuyên môn/khoa học của bảo tàng trong khi ở các cơ quan nghiên cứu các đề tài khoa học lại được xử lý theo
cơ chế chi tiêu khoa học Điều đó thực sự đã làm cản trở sự phát triển ngành bảo tàng, không có trưng bày tốt và tổ chức trưng bày không theo kịp, không đáp ứng tiến độ của công trình xây dựng tòa nhà Riêng ngành bảo tàng cho đến nay vẫn không có cơ chế chi trả cho các hoạt động khoa học của mình như làm trưng bày (từ xây dựng ý tưởng, nội dung, tổ chức hiện vật trưng bày, …) cho đến các hoạt động khác (nghiên cứu kiểm kê,
Trang 9tư liệu hóa, giáo dục, đào tạo…) Trong khi đó công việc chuyên môn của bảo tàng đa
dạng sinh học là một công việc khoa học vừa nghiên cứu vừa thực hành
Về thiết kế bảo tàng sinh học, do không xuất phát từ nhiệm vụ chuyên môn của bảo
tàng, không có nhiệm vụ thiết kế của bảo tàng nên công trình cứ vừa khánh thành là đã
bị phê phán với những căn bệnh phổ biến, ấu trĩ: không có lối đi cho người tàn tật,
không có lối thoát hiểm riêng; nhà vệ sinh nằm ngay trong không gian trưng bày; không
gian trưng bày manh mún; bình cứu hỏa và các ổ điện cản trở trưng bày; không tách
bạch với lối đi độc lập giữa khu vực làm việc, văn phòng bảo tàng với không gian trưng
bày, một khiếm khuyết đặc biệt vi phạm quy chế bảo tàng… Ngoài vấn đề cơ chế còn có
vấn đề năng lực của các kiến trúc sư khi thiết kế bảo tàng Hầu hết họ thiếu sự hiểu biết,
kinh nghiệm thiết kế bảo tàng và điều cơ bản là thiếu sự tham vấn đóng góp của người
có chuyên môn bảo tàng
Bảo tàng trước hết không phải là một phòng tuyên truyền hay một cuốn sách giáo
khoa
Nói đi thì cũng phải nói lại, về phía chủ quan bảo tàng cũng có nhiều bất cập như:
chủ đầu tư-những người quản lý bảo tàng- không đủ năng lực để phát hiện các vấn đề,
đặt đầu bài/nhiệm vụ thiết kế sai hay không rõ ràng cho các công năng của bảo tàng
tương lai, không biết đọc thiết kế để góp ý kiến Quan trọng hơn là các bảo tàng
mới/đang xây dựng không chuẩn bị đội ngũ nhân viên bảo tàng (về mọi khía cạnh) để
đáp ứng kịp với yêu cầu đổi mới/để đưa ra những yêu cầu về đổi mới và hiện đại hóa
bảo tàng Tư duy làm bảo tàng cứng nhắc, chậm đổi mới Đó là tư duy “toàn diện”,
“hoành tráng”, duy ý chí cái gì cũng theo tiến trình lịch sử một cách đơn giản, máy móc,
muốn đầy đủ mà lực thì không đủ Làm bảo tàng mà như viết sách giáo khoa hay triển
lãm kiểu tuyên truyền Chỗ nào thiếu hiện vật thì copy, phục chế, tái tạo, trích dẫn sách
vở, lập bảng biểu thống kê hay thay thế bằng sáng tác các loại phù điêu Chỗ nào sẵn
hiện vật thì bày la liệt, thiếu trọng tâm trọng điểm, thiếu bố cục, tổ chức, thiếu thông tin
dẫn dắt và cách kể chuyện Tư duy làm bảo tàng theo kiểu một chiều, áp đặt, hầu như
không nghiên cứu khách tham quan, không đánh giá điều tra nhu cầu công chúng và rất
ít các chương trình giáo dục liên kết với trường học, với cộng đồng
Để chuẩn bị xây một bảo tàng mới, trước hết cần xác lập hệ thống quan điểm và tư duy đổi mới về nội dung trưng bày và các hoạt động của bảo tàng tương lai cùng với phương pháp triển khai Bảo tàng phải dựa vào hiện vật Bám sát hiện vật là tiêu chuẩn đầu tiên của trưng bày bảo tàng Phải trực tiếp kiểm kê và đánh giá từng hiện vật đang
có, và thiết kế định hướng trưng bày (còn gọi là đề cương chính trị hay đề cương tổng quát) cũng như nội dung trưng bày cần dựa trên những hiện vật đó, chứ không phải tư duy trưng bày chỉ căn cứ vào kiến thức lịch sử nhằm mục tiêu tuyên truyền mà không căn cứ vào hiện vật Lập luận rằng cứ xây dựng đề cương trưng bày, rồi đi bổ sung hiện vật, hoặc xây dựng đề cương chính trị một cách trừu tượng mà không dựa vào hiện vật là quy trình hoàn toàn không phù hợp Cách làm này đang tồn tại ở hầu hết các bảo tàng đang xây dựng hay chuẩn bị xây dựng hiện nay ở nước ta Có thể bổ sung hiện vật, nhưng hãn hữu thôi, còn trước hết và quan trọng nhất là phải tổ chức trưng bày trên những hiện vật đang có ở bảo tàng, không thể khác được
Cần có quan điểm tiếp cận cả những vấn đề đương đại Chẳng hạn, trưng bày ở bảo tàng mỹ thuật không phải chỉ có trưng bày về lịch sử mỹ thuật mà còn cả trưng bày về
mỹ thuật đương đại, về tác giả hay nhóm tác giả đại diện cho một trường phái hay xu thế nào đó Hoặc đối với Bảo tàng Lịch sử Quân sự trong tương lai cần đổi mới quan điểm trưng bày với những tiếp cận mới, hiện đại phù hợp với xu thế các bảo tàng trên thế giới
ở thế kỷ 21 để tạo một bảo tàng sâu sắc, ấn tượng như một bản anh hùng ca về các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc song phải đẹp, sinh động, luôn mới, hấp dẫn cả khách trong
và ngoài nước; lịch sử chiến tranh có thể phản ánh nhiều cách nhìn khác nhau, nhiều giọng nói khác nhau tức là cần có một cái nhìn đa tuyến về sự kiện mà mình muốn trình bày; phản ánh cuộc chiến đấu và cả cuộc sống đời thường của người chiến sĩ nữa Trưng bày không theo tiến trình lịch sử một cách máy móc mà chủ yếu phải linh hoạt, sử dụng
cả cách kể chuyện theo những vấn đề, chủ đề trên cơ sở hiện vật và nhóm hiện vật Nội dung sâu sắc, vừa có ý nghĩa giáo dục lịch sử truyền thống vừa gắn kết với cuộc sống, nhất là cuộc sống hiện tại Các câu chuyện, các gương mặt được giới thiệu đa dạng, trải đều các thời kỳ, phản ánh đa chiều, đa tuyến, đời thường Các bảo tàng tỉnh, thành phố trong tương lai muốn hấp dẫn cũng phải chú ý nhiều hơn đến khía cạnh đưong đại của
Trang 10cuộc sống ở địa phương mình Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đang xây dựng cũng vậy,
vừa chú ý đến lịch sử tự nhiên vừa cần chú trọng đến những vấn đề môi trường, thiên
nhiên hiện tại và mối quan hệ với con người như quá trình đô thị hóa, nạn phá rừng, phá
các khu sinh quyển ven biển, các con sông bị ô nhiễm hay thảm trạng động đất, lở núi,
bão lụt…Trưng bày phải đặt Con người vào trọng tâm của sự phát triển lịch sử thiên
nhiên quốc gia Có tiếp cận mới như vậy các bảo tàng mới có sức sống, mới lôi cuốn
được công chúng đến xem vì nó thiết thực với họ
Vì vậy, khi xây dựng mới, các bảo tàng phải chủ động đòi quyền cho mình: quyền
tham gia góp ý thiết kế nhà bảo tàng, thiết kế trưng bày; quyền nghiên cứu và tổ chức
nội dung trưng bày Mặt khác, bảo tàng cũng phải tự mình mạnh mới đủ sức đảm đương
công việc Từ quan điểm, đề cương chuẩn bị trưng bày, tới hiện vật, kỹ thuật tổ chức
trưng bày tới sản phẩm trưng bày Từ nhiệm vụ thiết kế bảo tàng đến kiểm tra giám sát
công trình và vận hành bảo tàng
1.2.Tình hình nghiên cứu thế giới
Bảo tàng lịch sử tự nhiên, bảo tàng khoa học tự nhiên hay bảo tàng thiên nhiên là
một loại hình bảo tàng phổ biến trên thế giới Các bảo tàng này đã được xây dựng ở các
nước phát triển từ rất sớm, khoảng giữa thế kỷ XVIII, đã và đang đóng vai trò quan
trọng trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học và du lịch ở trong nước và quốc tế Đó là
Museum National d’Historie Naturelle (Paris, Pháp), The Natural History Museum
(Tokyo, Nhật), Transvaal Museum (Johannesburg, Nam Phi), Leyden Museum (Hà
Lan), American Museum of Natural History (New York, Hoa Kỳ)… Một số nước trong
khu vực cũng đã có những bảo tàng thiên nhiên được thế giới biết đến như Bảo tàng
Thực vật và Vườn thực vật Bogor (Indonesia), Raftles Museum(Singapore) Hoạt động
của các bảo tàng thiên nhiên có tác dụng to lớn trong việc phổ biến kiến thức, tuyên
truyền, đặc biệt là việc lưu giữ, bảo quản những bộ sưu tập tư liệu, mẫu vật về thiên
nhiên như những tài sản vô giá của quốc gia và của nhân loại
Chẳng hạn như Bảo tàng Anh, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và bảo tàng nổi tiếng
khác của Mỹ, bộ sưu tập rất phong phú, nhưng vẫn thường được tổ chức quy mô lớn
điều tra tài nguyên thiên nhiên và mẫu hoạt động thu thập, và hấp thụ một số các bảo
tàng khuyến khích khán giả (sinh viên đặc biệt là trẻ) tham gia vào bộ sưu tập mẫu và
mô hình sản xuất Bảo tàng phải có một số nhà nghiên cứu tham gia vào công tác nghiên cứu Một số bảo tàng nổi tiếng có xu hướng tập trung rất nhiều học giả nổi tiếng của các nước hiện đại, do đó những trở thành Bảo tàng Trung tâm nghiên cứu lịch sử tự nhiên trong sinh học và khoa học trái đất, và nhiều chi nhánh của một cơ sở quan trọng cho việc đào tạo chuyên ngành nhân sự Trong triển lãm, triển lãm đầu chỉ lác đác với một nhãn hoặc hướng dẫn sưu tầm, sau đó yêu cầu để hiển thị nội dung của một hệ thống và hiển thị một loạt các chủ đề (chẳng hạn như "Nguồn gốc của cuộc sống", "nguồn gốc con người", "Ocean Wonders", " Thế giới khủng long ") Chế độ hiển thị cũng tận dụng các thành tựu công nghệ hiện đại (như âm thanh, giống như, ánh sáng, điện và các thiết
bị khác), nội dung hiển thị rất sinh động để thu hút người xem Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ngoài các màn hình hiển thị cơ bản tương đối cố định, nhưng cũng tổ chức triển lãm tạm thời để phổ biến thông tin khoa học mới nhất
Một số bảo tàng thường được tổ chức chuyên gia trong độ tuổi khác nhau, trình độ học vấn và quyền lợi của khán giả, là có ý nghĩa, chẳng hạn như các bài giảng và các cuộc biểu tình cũng như tư vấn và giáo dục Ngoài ra, nhiều bảo tàng cũng tổ chức một cuộc triển lãm du lịch, và đã dành riêng để phổ biến kiến thức khoa học trong các tổ chức của người khuyết tật Sinh học và khoa học trái đất trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của nhiều ngành mới nổi, phân loại cổ điển, các cuộc điều tra thực vật và nghiên cứu cơ bản khác, có một xu hướng dần chuyển từ Bảo tàng Lịch sử
Tự nhiên Đại học
Bảo tàng đã trở thành lớp học ngoài trường của trường học và các phòng thí nghiệm Nhiều lớn, trường tiểu học đến bảo tàng, tận dụng lợi thế của các điều kiện bảo tàng, nâng cao chất lượng giảng dạy, trong khi các bảo tàng là một nơi lý tưởng cho đào tạo giáo viên Vai trò của bảo tàng trong giáo dục cũng đang gia tăng
Trang 11Hình 1.2a Hình minh họa bảo tàng Bảo tàng Lịch Sử Tự Nhiên Lee Kong Chian,
Singapore
Ví dụ như Bảo tàng lịch sử tự nhiên Lee Kong Chian, Singapore đầy ấn tượng bởi
bảo tàng này không hề có cửa sổ Kiến trúc sư Mok Wei Wei cho rằng đây là điều cần
thiết trong việc bảo vệ những mẫu vật bên trong bảo tàng Ông đã thiết kế bảo tàng lấy
cảm hứng từ một khối đá nguyên khối, không có cửa sổ, và gọi thiết kế của mình là “sự
tượng trưng của một tảng đá tự nhiên” Bên trong bảo tàng có hơn 560.000 mục lục
trong bộ sưu tập của mình và hơn một triệu mẫu vật từ khắp khu vực Khoảng 2.000
trong số này sẽ được triển lãm công cộng
Bảo tàng có một bộ sưu tập đa dạng sinh học bao gồm 15 khu trưng bày lịch sử
phát triển của các sinh vật trên trái đất, bao gồm thực vật, động vật thân mềm, bò sát,
động vật có vú và cá Nơi đây cũng giải đáp tất cả những câu hỏi trong suốt quá trình
tiến hóa lịch sử, như tại sao loài chim lại sống sót sau thời kỳ khủng long, và tại sao
động vật có xương sống lại tiến hóa lên từ cá
CHƯƠNG II : MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Thiết kế và bố trí không gian nội thất phù hợp với hiệu quả, công năng và thẩm
mỹ đối với bảo tàng
- Tạo ra một không gian trưng bày độc đáo và sáng tạo
Bảo tàng thông minh có nhiều ích lợi như: Không cần diện tích trưng bày lớn, không giới hạn thời gian tham quan, không phải bảo quản hiện vật và thậm chí không cần hướng dẫn viên, không cần phiên dịch
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu và phân tích được đặc điểm, yêu cầu chung của nội thất công trình công cộng nói chung, bảo tàng đa dạng sinh học nói riêng
- Tìm hiểu được đặc trưng phong cách hiện đại;
- Xây dựng và lựa chọn được phương án thiết kế tối ưu cho các không gian nội thất bảo tàng đa dạng sinh học đã chọn ;
- Xây dựng được hệ thống bản vẽ kỹ thuật không gian nội thất bảo tàng đa dạng sinh học dựa theo phong cách hiện đại;
- Thiết kế sơ bộ bộ sản phẩm nội thất của bảo tàng đa dạng sinh học;
2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các phương án bố trí không gian nội thất bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phong cách thiết kế hiện đại
- Không gian thiết kế :
Tầng 1: bao gồm Sảnh, Phòng lễ tân, Phòng tiếp khách, Phòng trưng bày tháp tiến hóa
Tầng 2: bao gồm Phòng trưng bày thực vật,
Trang 12Phòng làm việc của các chuyên gia ELIS, kho dụng cụ hóa chất
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm, yêu cầu của nội thất bảo tàng đa dạng sinh học và đặc điểm
của phong cách hiện đại;
- Xây dựng và lựa chọn phương án thiết kế nội thất bảo tàng đa dạng sinh học
phong cách hiện đại;
- Xây dựng hệ thống bản vẽ kỹ thuật không gian nội thất bảo tàng đa dạng sinh
học phong cách hiện đại;
- Thiết kế sơ bộ bộ sản phẩm nội thất của bảo tàng đa dạng sinh học;
2.5 Phương pháp nghiên cứu
TT Nội dung nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu
1
Tìm hiểu đặc điểm, yêu cầu
của nội thất công trình công
cộng nói chung, bảo tàng đa
dạng sinh học nói riêng
Phương pháp lý thuyết
1.1
Tìm hiểu đặc điểm, yêu cầu
của nội thất công trình công
cộng
Tìm hiểu tài liệu có sẵn qua sách, báo, website về đặc điểm, trình tự thiết kế, nguyên lý thiết kế và các yếu tố ảnh hưởng trong kiến trúc nội thất công trình công cộng
1.2
Tìm hiểu đặc điểm, yêu cầu
của nội thất bảo tàng đa
đạng sinh học
1.3
Tìm hiểu đặc điểm, yêu cầu
trong phong cách thiết kế
hiện đại
Tìm hiểu tài liệu có sẵn qua sách, báo, website về đặc điểm phong cách hiện đại được ứng dụng trong thiết kế nội thất
2
Xây dựng và lựa chọn
phương án thiết kế nội thất
bảo tàng đa dạng sinh học
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp đồ họa vi tính
theo phong cách hiện đại
- Phương pháp phân tích, đánh giá
2.1
Xây dựng phương án thiết
kế nội thất bảo tàng đa dạng sinh học theo phong cách hiện đại
- Điều tra khảo sát hiện trạng công trình, tìm hiểu nhu cầu của chủ đầu tư để xây dựng các phương
án thiết kế
- Sử dụng phần mềm đồ họa vẽ phối cảnh các phương án thiết kế
2.2 Lựa chọn phương án thiết
kế bảo tàng đa dạng sinh học theo phong hiện đại
Phân tích ưu, nhược điểm của từng phương án, căn
cứ vào yêu cầu thiết kế của chủ đầu tư, từ đó đánh giá và đưa ra lựa chọn phương án thiết kế cuối cùng
3
Xây dựng hệ thống các bản
vẽ kỹ thuật không gian nội thất nhà bảo tàng đa dạng sinh học phong cách hiện đại
Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phần mềm đồ họa để thiết kế các bản vẽ kỹ thuật các không gian nội thất bảo tàng đa dạng sinh học Theo phong cách hiện đại đã được lựa chọn
4
Thiết kế sơ bộ bộ sản phẩm nội thất của bảo tàng đa dạng sinh học
Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phần mềm đồ họa để thiết kế sơ bộ sản phẩm nội thất sử dụng trong không gian nội thất bảo tàng đa dạng sinh học phong cách hiện đại
Trang 13CHƯƠNG III: CƠ SỞ LÝ LUẬN
3.1.Cơ sở lý luận
Từ những xuất xứ xa xưa, từ buổi ban sơ khi sống trong hang động, con người ta
đã biết “làm nghệ thuật”, đó chính là các hình vẽ, các nét chạm khắc tồn tại trong các
hang dộng miêu tả đời sống văn hóa săn bắn, hái lượm và sự thờ phượng của xã hội
nguyên thủy Tuy còn rất thô sơ, nhưng nghệ thuật của người nguyên thủy đã góp phần
tô điểm cho đời sống của họ Thông qua các hình tượng đó, họ muốn truyền tải những
kinh nghiệm về cuộc sống như săn bắn, hái lượm cũng như sự hiểu biết về tự nhiên,
quan niệm về vũ trụ và tôn giáo của mình cho hậu thế Điều này minh chứng “ ý thức
sưu tầm” là một thuộc tính tự nhiên của con người Nó chính là điều kiện sơ khai cho
việc hình thành một loại văn hóa mà ngày nay ta gọi là bảo tàng
Ngoài ra mỗi loại hình bảo tàng hay từng bảo tàng riêng biệt đều có những
phương pháp trưng bày khác nhau, nhằm truyền đạt, giới thiệu thông tin hiệu quả nhất
về ý nghĩa, nội dung trưng bày đến khách tham quan Mỗi loại hình bảo tàng riêng biệt
thường phải tuân theo biện pháp và phong cách trưng bày nhất định Do đó, cần nghiên
cứu, xây dựng các phương án khác nhau về nghệ thuật cho từng loại hình bảo tàng để có
được phong cách trưng bày riêng biệt, đa dạng phong phú về nội dung, hình thức Từ
nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của con người và yêu cầu của sự phát triển khoa
học, kinh tế, văn hóa xã hội đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều loại bảo tàng khác nhau, có
nhiều chức năng phục vụ khác nhau Để đạt được mục đích, người ta thường xây dựng
những tiêu chí, đề ra chuẩn mực để phân chia các loại hình bảo tàng, dựa trên những dấu
hiệu, đặc tính, thể loại, nhằm thống nhất bảo tàng lại thành nhóm và loại, phân biệt
nhóm này với nhóm khác Tuy nhiên phân loại luôn mang tính quy ước, trên thực tế,
việc phân loại bảo tàng tốt sẽ chuẩn mực hóa phương hướng nghệ thuật trưng bày sau
này
Bảo tàng hiện nay với nhiều nội dung phong phú, đa dạng, trước những yêu cầu
khắt khe của xã hội, đã bộc lộ điểm yếu: vấn đề trưng bày nội thất vẫn còn nhiều bất cập,
chưa thực sự sinh động và cuốn hút được nhiều khách tham quan Vì vậy việc thiết kế
trưng bày bảo tàng cần được quan tâm đúng mức và phải được xây dựng trên cơ sở lý luận về nghệ thuật trưng bày bảo tàng Bên cạnh đó, tình trạng nhiều bảo tàng đã bị xuống cấp, hư hỏng nặng, cấu trúc nội dung trưng bày có nhiều sự bổ sung… vì vậy việc chú trọng thiết kế nội thất trưng bày cho bảo tàng nói chung và bảo tàng đa dạng sinh học nói riêng là điều vô cùng cần thiết
Trưng bày hiện vật trong bảo tàng là công việc đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của bảo tàng Nó không chỉ thể hiện tính khoa học, mà còn
là nghệ thuật trưng bày Việc trưng bày hiện vật không chỉ phản ánh nội dung khoa học, thuận tiện cho việc khai thác sử dụng, mà còn phải có tính thẩm mỹ, tính giáo dục, tính hấp dẫn Vậy trưng bày bảo tàng là việc trình bày các hiện vật một cách có tổ chức, có giải thích, có sự phân bổ chung phù hợp với ý đồ tư tưởng và các nội dung được xác định Trưng bày có thể xem như là ngôn ngữ hay hình thức thông tin cơ bản của bảo tàng, là cầu nối giữa hiện vật bảo tàng và đông đảo quần chúng nhân dân Trưng bày bảo tàng còn phản ánh trình độ dân trí, óc thẩm mỹ, tâm lý của mỗi dân tộc
Bảo tàng hiện nay có hai cách phân loại chính là cách phân chia theo chức năng
xã hội của bảo tàng và theo mối quan hệ của bảo tàng với các ngành nghề khác
Phân loại bảo tàng theo chức năng xã hội: là cách phân loại theo chức năng xã hội của bảo tàng, nói cách khác là để nói rõ mục đích và hình thức sử dụng bảo tàng đó đem lại những điều bổ ích, lý thú, phục vụ nhu cầu của con người Mục đích của bảo tàng đó
là gì, hình thức trưng bày phục vụ cho ai và vị trí của nó trong xã hội như thế nào… Theo cách này, bảo tàng được chia thành 3 nhóm chính: bảo tàng công cộng, bảo tàng nghiên cứu khoa học, bảo tàng học đường
Phân loại bảo tàng theo mối quan hệ với các ngành nghề khác: là cách phân loại nhằm xác định xem bảo tàng đó có quan hệ với một ngành khoa học hoặc một nhóm ngành sản xuất hay nghệ thuật nào đó… Bảo tàng đó có tiến kịp trình độ hiện đại của các môn khoa học, nghệ thuật, ngành sản xuất, văn hóa thuộc loại hình của mình hay không Phân loại theo loại hình này là bước đầu gom các loại hình bảo tàng có chung loại hình cơ bản giống nhau, như lịch sử chung, trường phái chung… sau đó phân chia sâu hơn, tương ứng với một ngành khoa học cụ thể nào đó Theo cách này, bảo tàng
Trang 14được chia thành hai nhóm Nhóm thứ nhất, bảo tàng khoa học xã hội gồm lịch sử, lịch sử
cách mạng, lịch sử khoa học kỹ thuật, lịch sử tôn giáo, nhân chủng học, dân tộc học…,
bảo tàng nghệ thuật Nhóm thứ hai, bảo tàng khoa học tự nhiên: gồm bảo tàng động vật,
thực vật, cổ sinh vật ; bảo tàng địa chất, địa tầng, thổ nhưỡng…; bảo tàng lịch sử hình
thành phát triển tự nhiên, môi trường sống…
Nhìn chung, việc phân loại các bảo tàng đều nhằm mục đích xác định rõ nhóm,
loại hình bảo tàng để hình thành cơ cấu quản lý, hệ thống phân loại, phân cấp, mức độ
đầu tư xây dựng và đặc biệt là hệ thống trưng bày của mỗi bảo tàng để có thêm những
hình thức trưng bày mới lạ, đa dạng, phong phú, hấp dẫn khách tham quan và truyền đạt
nhanh, hiệu quả các ý đồ, ý tưởng, giải pháp trưng bày, giá trị hiện vật bảo tàng tới
người xem
Từ các loại hình bảo tàng trên, người họa sĩ thiết kế cần phân tích đánh giá và đưa
ra các loại hình nghệ thuật trưng bày cho phù hợp từng loại bảo tàng Sau đây là một số
hình thức nghệ thuật trưng bày bảo tàng phổ biến tại Việt nam hiện nay:
+Hình thức nghệ thuật trưng bày theo trình tự sắp xếp khoa học
+Hình thức nghệ thuật trưng bày theo ước lệ sân khấu hóa
+Hình thức nghệ thuật trưng bày mô phỏng
+ Hình thức nghệ thuật trưng bày khoa học kỹ thuật
Ở nước ta, hệ thống bảo tàng khá phong phú, gồm hơn 120 bảo tàng trên khắp cả
nước, với khoảng sáu bảo tàng có quy mô quốc gia như Bảo tàng Lịch sử quân đội, Bảo
tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam… Theo chúng tôi, cơ
sở lịch sử - văn hóa Việt Nam là nền tảng vững chắc để hệ thống bảo tàng được bảo đảm
về nội dung trưng bày, từ hiện vật đến sử liệu Trên thực tế, trong những năm qua, một
số bảo tàng ở Việt Nam đã có nhiều hoạt động hấp dẫn, có ý nghĩa và được đánh giá cao,
điển hình là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Đây được coi là bảo tàng duy nhất còn
“sống” thật sự với các hoạt động diễn ra có tính thường xuyên, có giá trị Bảo tàng này
được trang TripAdvisor (website du lịch lớn nhất thế giới) bình chọn là một trong các
bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á năm 2014 với vị trí xếp hạng 4 trong số 25 bảo tàng Năm
2003, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng được vinh danh trên trang TripAdvisor với
vị trí 6 trong số 25 bảo tàng, năm 2012 được nhận Chứng chỉ xuất sắc Một vài bảo tàng khác cũng đang tích cực có các hoạt động phụ trợ song song với việc duy trì hoạt động chính là trưng bày hiện vật, như: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh…
Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia có sự đa dạng sinh học lớn nhất thế giới, với khoảng 10% số loài trong khi diện tích đất chỉ chiếm chưa tới 1% trên thế giới
Vì vậy, nhu cầu quản lý một cách bền vững các khu vực được ưu tiên bảo tồn, tăng cường tài chính để bảo vệ đa dạng sinh học là rất cần thiết cho tương lai của nền kinh tế Bởi đa dạng sinh học là vốn tự nhiên quan trọng để phát triển nhiều ngành kinh
tế, đặc biệt là ngành du lịch của Việt Nam
Từ những cơ sở lý luận trên bảo tàng đa dạng sinh học ra đời và được biết là một không gian công cộng phục vụ nhu cầu tìm hiểu và tiếp cận thêm nhiều kiến thức khoa học, đồng thời sự đa dạng sinh học trong bảo tàng đem lại một thông điệp tuyên truyền lớn cho việc bảo vệ động vật, thực vật… trong đó có bảo vệ môi trường
Với những lý do trên, theo đề nghị của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Chính phủ đã phê duyệt chủ trương thành lập hệ thống bảo tàng thiên nhiên Việt Nam tại Quyết định số 86/2006?QĐ-TTg ngày 20/04/2006 của Thủ tướng chính phủ về “Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng thiên nhiên ở Việt Nam đến năm 2020” Với quan điểm chủ đạo “đảm bảo được tính thống nhất trong đa dạng của thiên nhiên, tính xã hội, tính khoa học – kỹ thuật, tính thực tiễn và tính khả thi cao khi thực hiện” quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng thiên nhiên ở Việt Nam đến năm 2020 đặt ra mục tiêu ”Xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thống bảo tàng thiên nhiên hoàn chỉnh về cơ cấu, hiện đại về nội dung hoạt động, phục vụ tốt nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, tham quan, học tập, phổ biến kiến thức về quá trình phát triển lịch sử tự nhiên ở Việt Nam”
Theo quyết định 86/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, thì hệ thống bảo tàng thiên nhiên của Việt Nam bao gồm bảo tàng thiên nhiên cấp quốc gia, các bảo tàng thiên nhiên khu vực và các bảo tàng chuyên ngành Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đặt tại Hà Nội là bảo tàng cấp 1 hay bảo tàng cấp quốc gia, bốn bảo tàng cấp 2: Bảo tàng
Trang 15Thiên nhiên Khu vực Tây Bắc đặt tại thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Bào tàng
Thiên nhiên Khu vực Duyên hải miền Trung đặt tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên
Huế, Bảo tàng Thiên nhiên Khu vực Tây Nguyên đặt tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng và Bảo tàng Thiên nhiên Khu vực Nam Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh
3.1.1 Khái quát chung về bảo tàng đa dạng sinh học
Ngày nay bảo vệ đa dạng sinh học đang được quan tâm không chỉ ở phạm vi riêng
lẽ của từng quốc gia mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại Bởi vì bảo tồn tài
nguyên đa dạng sinh học gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia cũng như hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu
Các hệ sinh thái trong bảo tàng đa dạng sinh học của Việt Nam có ý nghĩa to lớn
trong đời sống tự nhiên và con người không chỉ ở phạm vi của quốc gia mà còn ở phạm
vi khu vực toàn cầu Các giá trị dịch vụ hệ sinh thái này là nền tàng cho du lịch bền
vững, góp phần giữa gìn, bảo tồn các giá trị của sự đa dạng sinh học
Bảo tàng đa dạng sinh học nhắm đến đồng thời ba mục tiêu hay nói cách khác là
đặt ra mục tiêu “ba trong một” Trước hết bảo tàng là một thiết chế văn hóa hoàn toàn
mới nhằm đến mục tiêu thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân Bảo tàng
thiên nhiên còn là một phòng thí nghiệm lớn về tự nhiên, nơi các nhà khoa học và sinh
viên các ngành khoa học tự nhiên và môi trường các trường đại học và cao đẳng có thể
nghiên cứu, học tập, giáo viên và học sinh các trường tiểu học và trung học có thể tham
quan, sinh hoạt ngoại khóa Trên thế giới các bảo tàng thiên nhiên luôn là nơi gắn liền
với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về khoa học tự nhiên Và cuối cùng, bảo tàng
đa dạng sinh học sẽ là một điểm đến, một sản phẩm du lịch hoàn toàn mới và độc đáo
dành cho du khách cả trong nước và quốc tế
Lớn hơn thế nữa, bảo tàng đa dạng sinh học ra đời, mang trong mình một sứ mệnh
sẽ tạo nên một “làn Sóng Xanh” về nhận thức và hoạt động bảo vệ sự đa dạng sinh học
hưởng bởi kích thước tương đương đối của vật khác đặt trong môi trường của nó Ví dụ
như tỉ lệ của tiêu bản và kệ trưng bày Các phần của một thành phần thiết kế, giữa một
vài thành phần, hình thức và sự khép kín không gian, như vật sẽ làm cho không gian nội thất trở nên cân đối khi bạn thiết kế đúng tỉ lệ, hợp lí nâng cao giá trị thẩm mỹ cho căn phòng…
Nguyên lý thuyết kệ của tỷ xích là sự liên quan tỷ lệ giữa các bộ phận cho cân đối
Tỷ xích cũng như tỷ lệ đều có quan hệ với kích thước của vật
Hình 3.1.2a Hình minh họa ứng dụng nguyên lí tỉ lệ của tiêu bản và kệ trưng bày
Tỷ xích: Nguyên lý thiết kế của tỷ xích là sự quan hệ giữa các bộ phận cho cân đối Tỷ xích cũng như tỉ lệ đều có quan hệ với kích thước của mọi vật Tỷ xích thị giác nói tới độ lớn của vật nào đó xuất hiện khi có sự so sánh với các vật khác xung quanh
nó Tỷ xích không chỉ xuất hiện giữa các đồ vật mà còn xuất hiện trong mối quan hệ
Trang 16giữa người và đồ vật Sự xác định tỷ xích của một không gian nội thất không bị hạn chế
vởi mối quan hệ của ai cả Các thiết bị nội thất có thể liên quan đồng thời tới toàn bộ
không gian và tới các thiết bị khác tới những người sử dụng không gian đó Một vật có
tỷ xích bình thường với vật này nhưng lại có tỷ xích khác thường nếu đem so sánh vật
khác Những yếu tố tỷ xích có thể thu hút sự chú ý, tạo nên điểm nhấn của căn phòng
3.1.2.2 Nguyên lý cân bằng
Hình 3.1.2b Hình minh họa ứng dụng nguyên lí cân bằng của các kệ trưng bày trong
không gian trưng bày
Không gian của một vật và các yếu tốt quanh nó như: đồ đạc, đèn sáng và các yếu
tố trang trí khác thường một tổng thể hình thể, kích thước, màu sắc và chất liệu Những
yếu tố này được nhận biết như thế nào là do sự đáp ứng, sự thích dụng của đồ đạt để đạt
được nhu cầu thẩm mỹ Lúc này những yếu tố sẽ thu xếp để đạt được sự cân bằng thị
giác, một sự cân bằng giữa thị giác được tạo bởi các thành phần, giữa các thành phần
trong tổng thể trong không gian nội thất đều có những nét đặc trưng riêng về hình khối,
kích thước, màu sắc và chất liệu
3.1.2.3 Sự hài hòa
Sự hài hòa có thể được hiểu là sự phù hợp hay hài lòng về các thành phần trong một bố cục Nguyên tắc hài hòa đòi hỏi sự chọn lọc kỹ lưỡng các yếu tố, chia những nét riêng hay những đặc tính chung như hình dạng, màu sắc, chất liệu Nó lặp lại ở một điểm chung đó là tạo ra một sự thống nhất và hài hòa về thị giác giữa các yếu tố trong nội thất
Sự hài hòa khi sử dụng quá nhiều yếu tố có đặc điểm giống nhau có thể dẫn đến bố cục không linh hoạt Sự đa dạng trong trường hợp khác khi lạm dụng nó để làm cơ sở cho sự phong phú có thể dẫn đến sự hỗn loạn thị giác
Hình 3.1.2c Hình minh họa ứng dụng nguyên lí hài hòa về bố cục, màu
sắc và chất liệu
Trang 173.1.2.4 Nguyên lý nhịp điệu
Hình3.1.2d Hình minh họa ứng dung nguyên lý nhịp điệu lặp đi lặp lại trong yếu tố
màu sắc
Nguyên lý thiết kế nhịp điệu là sự lặp đi lặp lại của các yếu tố trong sản phẩm
Hình dáng đơn giản nhất là sự nhắc lại các thành phần đều đặn của các yếu tố giống
nhau theo một đường kẻ Khi kiểu mâu trở nên quá đơn điệu thì nó có thể dùng để thiết
lập một nhịp điệu cho những phần chính hoặc để xác định một tuyến chất cho đường
viền hay để trang trí
3.1.2.5.Nguyên lí nhấn mạnh
Hình 3.1.2e Hình minh họa ứng dụng nguyên lí nhấn mạnh trong màu sắc của
không gian nội thất
Nguyên lý nổi bật của sự nhấn mạnh luôn tồn tại cùng điểm nhấn và phụ thuộc vài các yếu tố trong việc sắp đặt của người thiết kế nội thất Một không gian nội thất không
có điểm nhấn sẽ gây sự buồn tẻ, tuy nhiên nếu nhiều điểm nhấn quá sẽ gây ra sự xáo trộn, hỗ loạn Một yếu tố đặc biệt nổi bật có thể cho ta cái nổi bật đó bởi kích thước, màu sắc, kết cấu…Nó tùy thuộc vào không gian cụ thể
Một yếu tố hay nét đặc biệt có thể nổi bật bởi vị trí đặc biệt và hướng của nó trong không gian Để làm tăng sự nổi bật một yếu tố có thể đặt hướng tương phản với các bình diện bình thường trong không gian cà các yếu tố khác của nó, nó có thể được
Trang 18chiếu sáng đặc biệt, những đường phụ, yếu tố phụ có thể sắp xếp hướng tới điểm chú ý,
điểm đặc biệt mà ta cần nhấn mạnh
3.1.2.6.Nguyên lý cân xứng
Luật cân xứng là mối quan hệ giữa hình dạng và kích thước Nó giúp cho chúng ta
đạt được sự cân bằng, đồng nhất cho 1 layout Để có được một sự cân xứng tốt thì các
yếu tố phải được điều chỉnh Sự điều chỉnh kích thước của các yếu tố với một sự cân
xứng hoàn toàn tạo nên một mẫu design tốt Đó chính là sự liên quan giữa kích thước
của các yếu tối với nhau, và với sự cân xứng tổng thể Sự cân xứng bao gồm nững mối
liên quan đó là về chiều cao, chiều rộng, chiều sâu và không gian chung quanh Khoảng
không gian mở chung quanh một chủ đề tạo nên một yếu tố gọi là tỉ lệ Do đó có thể nói
rằng tỉ lệ là một yếu tố quan trong nhất trong thiết kế, mặc dù nó được xếp ở vị trí thứ 6
trong những yếu tố của thiết kế(các yếu tố kia là đường nét, phương hướng, hình dạng,
màu sắc, chất liệu và độ sáng tối) Tóm lại, những nguyên lý của thiết kế là những
nguyên tắc cơ bản được ghi nhớ và áp dụng đi kèm với suy nghĩ và cảm xúc của ngược
nghệ sĩ hay họa sĩ thiết kế Đây là những luật lệ thiết kế được tổn hợp và đúc kế cho
phương pháp làm việc của các nghệ sĩ sau những trải nghiệm thực tế
3.2 Nguyên lý mỹ thuật trong thiết kế bảo tàng đa dạng sinh học
3.2.1 Màu sắc
Màu sắc rất quan trọng, nhiều khi nó là điểm nhấn của cả một không gian, vì thế
điều cần chú ý là bất kỳ đồ vật nào cũng phải có màu sắc phù hợp với tổng thể Không
nên sử dụng màu quá đối nghịch, gây rối mắt, khó chịu
Màu sắc trong không gian nội thất trực tiếp tác dụng lên giác quan của con người
Các màu sắc có ảnh hưởng và thanh đổi tính chất các vật khác nhau Ngoài ra một đặc
tính cũng rất quan trọng đó là các màu có thể tác động đến nhận thức về hình dạng kích
thước, chất lượng không gian, tạo ra các trạng thái tâm lí khác nhau cho người sử dụng
Màu sắc không làm tăng giảm nhiệt độ căn phòng, kích thước phòng, tất cả các cảm nhận về nóng lạnh hay kích thước đều do sự đánh lừa thị giác của màu sắc Nếu phối hợp hài hòa giữa các màu sắc về sự bão hào, độ sáng,… chúng ta có thể tạp ra những gam màu như ý muốn Tuy nhiên, khi thể hiện màu sắc cho tường, trần, sàn, ta nên chú ý các sử dụng cũng như mức độ sử dụng cần có sự hợp lí nhất định bởi đây là các mảng màu lớn có ảnh hưởng tới màu sắc của cả căn phòng
Màu sắc có thể gây nên hiệu ứng tâm lý, tri giác của con người Dưới đây là một
ý nghĩa và khi kết hợp với nhau tạo ra sự đa dạng
Hình 3.2a Bảng phối màu tỉ lệ vàng
Trang 19Hình 3.2b Hình minh họa ứng dụng yếu tố màu sắc vào trong thiết kế nội thất bảo
tàng
Màu sắc chủ đạo
Trong một bố cục không gian nội thất, nên có 60% có màu thuộc màu sắc chủ đạo Khi
áp dụng thực tế, trong thiết kế nội thất các căn phòng (nội thất phòng khách, nội thất
phòng ngủ) thì các mảng lớn (như mảng tường, trần, vách ) được dành cho màu sắc
chủ đạo
Màu cấp 2
Khoảng 30% không gian còn lại (kể cả đồ nội thất) được sơn màu này
Màu nhấn mạnh
Khoảng 10% không gian và đồ nội thất được trang hoàng bằng loại màu sống động
mang tính nhấn mạnh : màu cam, vàng
- Màu chủ đạo: sử dụng màu tint (màu thuần khiết pha thêm trắng)
- Màu cấp 2: sử dụng màu tone (màu thuần khiết pha thêm xám)
- Màu nhấn: sử dụng màu thuần khiết
Như vậy yếu tố màu sắc rất quan trọng trong thiết kế không gian nội thất, nó quyết định việc phối màu cho không gian có phù hợp với phong cách thiết kế hay yêu cầu của chủ đầu tư hay không Màu sắc là một công cụ đầy quyền lực Chúng có thể kích động, nâng cao, hay phá vỡ hay làm nhiễu loại mức độ năng lượng của một không gian, từ đó làm ảnh hưởng tới tâm lý, tình cảm, mức năng lượng và tinh thần một cách toàn diện của con người, Y học hiện nay cho rằng màu sắc làm cho cuộc sống con người đẹp hơn Mỗi màu khác nhau và một ý nghĩa khác nhau Đây là một thứ do chính thiên nhiên ban tặng cho con người
3.2.2 Ánh sáng
Trong thiết kế nội thất, bên cạnh yếu tố công năng, ánh sáng đóng vai trò đặc biệt quan trọng – là thành tố chính tạo nên chất lượng thẩm mỹ và cảm xúc cho không gian nội thất Ngày nay, các công trình kiến trúc – nội thất càng được quan tâm, đầu tư cho ánh sáng Cũng như trong kiến trúc nói chung, ánh sáng trong nội thất bao gồm ánh sáng
tự nhiên và ánh sáng nhân tạo Ánh sáng tự nhiên là yếu tố chính tạo ra tương tác giữa nội thất và môi trường bên ngoài Nguồn sáng tự nhiên từ các phương, hướng khác nhau
có tác động rất đa dạng tới không gian nội thất Một không gian nhận được nhiều ánh sáng tự nhiên sẽ luôn sinh động và tràn đầy sức sống Trong đó, ánh sáng vào các thời điểm khác nhau trong ngày có những đặc điểm, tác động hoàn toàn khác nhau về mặt tâm – sinh lý với người sử dụng
Do đó, việc nghiên cứu hướng nhận sáng tự nhiên của một không gian nội thất rất quan trọng trong bố cục – sắp đặt nội thất, lựa chọn vật liệu cho nội thất…
Trước kia, hệ thống chiếu sáng nhân tạo thường đơn giản, chỉ giải quyết một phần của yếu tố công năng là để nhìn thấy Với yêu cầu ngày càng cao, chiếu sáng nhân tạo ngày càng được nghiên cứu và thiết kế kỹ lưỡng trong không gian nội thất để đáp ứng thêm những tiêu chí: Chiếu sáng thẩm mỹ, ánh sáng kiến tạo không gian, hay ánh sáng thông minh – chơi cùng không gian… Trong nội thất, màu – sắc của ánh sáng, sự phân
bố ánh sáng, cường độ chiếu sáng là một trong những yếu tố chủ đạo tạo nên chất lượng thẩm mỹ Rõ ràng chúng ta đều biết sẽ không có màu sắc nếu không có ánh sáng Do đó,
Trang 20sự tương tác giữa vật liệu và ánh sáng là điều kiện tiên quyết cần được quan tâm trong
thiết kế nội thất
Hình 3.2c Hình minh họa yếu tố chiếu sáng chung được áp dụng vào bảo tàng
Vào những thời điểm không có ánh sáng tự nhiên, màu của ánh sáng nhân tạo chi
phối toàn bộ màu sắc mọi cấu kiện sàn – tường – trần và đồ vật nội thất Sự phân bố ánh
sáng trải đều hay nhấn, buông theo vùng tạo nên tính phân chia và độ sâu không gian nội
thất khác nhau Trong khi đó, cường độ ánh sáng có tác động lớn đến yếu tố sinh lý của
mắt, cảm nhận của con người trong nội thất Cùng với những yếu tố trên, thiết kế nội
thất cần phân loại chiếu sáng theo tính chất và theo mục đích chiếu sáng
Theo tính chất, chiếu sáng thường được phân loại theo chiếu sáng trực tiếp và
chiếu sáng gián tiếp Chiếu sáng trực tiếp thường phổ biến bởi hiệu quả về công năng
“để nhìn thấy”, tuy nhiên, nếu không sắp đặt kỹ lưỡng, dễ gây cảm giác nhàm chán,
thiếu cảm xúc Chiếu sáng gián tiếp thường được lựa chọn trong thiết kế nội thất để tạo
ra sự êm dịu và cảm xúc cho không gian Chính các khe sáng, ô sáng gián tiếp đồng thời
là các yếu tố trang trí của không gian
Theo mục đích, chiếu sáng được phân loại thành chiếu sáng chung, chiếu sáng tập
trung và chiếu sáng trang trí Chiếu sáng chung không chỉ được hiểu là chiếu sáng đều
khắp mà cả là chiếu sáng theo vùng, theo điểm mà vẫn đủ đảm bảo cho sự nhận diện và
những những hoạt động cần thiết Chiếu sáng tập trung tạo ra những điểm nhấn, qua đó làm nổi bật những đặc điểm cá tính riêng cho không gian nội thất Những điểm nhấn nội thất được làm nổi bật, trong khi những thứ ít quan trọng hơn được làm mờ đi trong không gian Mặt khác, chiếu sáng tập trung còn giúp “kiến tạo”, phân vùng không gian cho những không gian nội thất mở Tương phản sáng – tối là tính chất tiêu biểu của chiếu sáng tập trung Không có giá trị công năng nhiều, chiếu sáng trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của nội thất, tạo ra những hiệu quả thị giác gây chú ý
Hình 3.2d Hình minh họa yếu tố chiếu sáng trực tiếp được áp dụng vào bảo tàng
Với những tính chất và mục đích đó, việc lựa chọn thiết bị trong chiếu sáng nội thất là vô cùng quan trọng, cần được cân nhắc song song với quá trình lựa chọn vật liệu nội thất Thiết kế nội thất cần được bắt đầu hình thành ngay trong quá trình phác thảo kiến trúc Cũng như vậy, thiết kế ánh sáng với hai yếu tố tự nhiên và nhân tạo cũng cần được thiết kế kỹ lưỡng để tạo những không gian ấn tượng nhưng thân thiện, tiện nghi và tạo ra những cảm xúc tích cực cho người sử dụng
3.2.3 Vật liệu và chất liệu
Chất liệu và vật liệu hay còn được gọi là ngôn ngữ của nội thất Trong trang trí nội thất chất liệu và vật liệu là những yếu tốt rất quan trọng Nó làm phong phú, sinh động
Trang 21hơn cho không gian, phân định rõ khu vực đồ đạc trong căn nhà, đồng thời tăng giá trị
thẩm mỹ cho công trình
Cách kết hợp và phân định từng loại vật liệu hay chất liệu cũng rất quan trọng
không kém việc lựa chọn màu sắc cho không gian màu sắc Chất liệu và vật liệu liên
quan đến tính chất bề mặt và đem lại cảm giác khác nhau Nó tác động đến con người về
cả phương diên vật chất, tâm lý cũng như thẩm mỹ
Chât liệu và vật liệu sử dụng trong thiết kế và trang trí rất đa dạng đồng thời xu
hướng sử dụng kết hợp nhiều loại vật liệu trong một không gian đang khá đươc ưa
chuộng
Mỗi loại vật liệu ở xung quanh chúng ta đều chứa đựng một năng lượng riêng
Thuật phong thủy quan niệm mọi vật chất đều mang tính ngũ hành Chúng có một sự
ảnh hưởng nhất định tới khí trong khu vực sống của chúng ta
3.3.Cơ sở nhân trắc học trong thiết kế nội thất
Bất kể công trình lớn nhỏ, được thiết kế theo kiểu nào cũng phải căn cứ vào nhân
trắc, đặc biệt trong kiến trúc và nội thất Kích thước của đồ nội thất gắn với một khái
niệm “ tỷ xích” ( mối tương quan giữa kiến trúc và người) Con người và kích thước con
người là hạt nhân chi phối kiến trúc Bảo tàng là một công trình công cộng, đối tượng sử
dụng rộng rãi và đa dạng chính vì vậy mà việc nghiên cứu nhân trắc học để áp dụng
trong thiết kế càng phải nghiên cứu và sàng lọc kỹ lưỡng hơn về nhân trắc học
Nhân trắc học môn khoa học về con người, bản thể của con người, những gì tuyệt
diệu nhất về con người mà ngày nay vẫn chưa có câu trả lời xác đáng Việc áp dụng
nhân trắc học trong thiết kế nội thất ngày nay đã trở nên phổ biến và được nhiều người
áp dụng và nhận trắc học có ý nghĩa như thế nào trong nội thất
Đối với các nhà thiết kế nội thất chuyên nghiệp thì khái niệm nhân trắc học không
còn quá xa lạ khi mà ứng dụng của môn khoa học này ngày một phổ biến trong ngành
thiết kế nội thất, đặc biệt đó là cơ sở để xác định tiêu chuẩn kích thước không gian
Chính vì thế mà khi Học thiết kế nội thất ngoài kiến thức về phong thủy hay vật liệu thì
những lý thuyết liên quan đến nhân trắc học luôn được nhiều người quan tâm
Trước khi khám phá kỹ hơn về nhân trắc học và những yếu tố con người trong thiết kế nội thất, chúng ta nên tìm hiểu xem nhân trắc học là gì? Nhân trắc học được định nghĩa là môn khoa học nghiên cứu về phương pháp đo trên cơ thể người và sử dụng toán học để phân tích những kết quả đo được nhằm tìm hiểu các quy luật về phát triển hình thái người từ đó vận dụng các quy luật đó vào việc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học và đời sống Trong thiết kế nội thất, nghiên cứu nhân trắc học giúp cho việc tính toán kích thước trong thiết kế phù hợp với yêu cầu sử dụng, tạo sự “gần người” hơn
Cho đến những năm giữa thế kỷ XX, dường như hầu hết các ngành trong lĩnh vực thiết công nghiệp liên quan đến con người đều sử dụng những dữ liệu nhân trắc học Đặc biệt, với việc xác định kích thước trong thiết kế nội thất, nhân trắc học có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Dựa trên những nghiên cứu về cơ thể người, nhân trắc học cung cấp những thông số chính xác về chiều cao, chiều dài, chiều sải tay hay bước chân của con người theo từng độ tuổi, giới tính, từ đó nhà thiết kế nội thất có những tính toán để lựa chọn chiều cao, chiều rộng đồ đạc nội thất cũng như kích thước không gian nội thất phù hợp
Chiều cao đứng Bắc Trung Nam Nam giới (cm) 160,8 161,3 161,9
Nữ giới (cm) 150,9 151,91 152,1
Trang 22Nhân trắc học được chia thành nhân trắc tĩnh và nhân trắc động
Nếu như nhân trắc động được ứng dụng nhiều trong các thiết kế không gian hoạt
động của từng bộ phận hay toàn bộ cơ thể con người, thiết bị hay công cụ sản xuất thì
thiết kế nội thất vận dụng nhiều hơn kết quả nghiên cứu của nhân trắc tĩnh, đó là dữ liệu
về mối quan hệ giữa cơ thể người và kích thước đồ nội thất, khoảng cách và tọa độ trong
không gian nội thất
Phần sau đây trình bày một số nhận xét tổng quát về tầm vóc cơ thể người Việt
Nam (trong lứa tuổi lao động) căn cứ vào tập “Atlat nhân trắc học Việt nam trong lứa
tuổi lao động” Dưới đây chỉ giới thiệu một số dấu hiệu cơ bản về nhân trắc tĩnh:
3.3.1 Chiều cao đứng
Chiều cao đứng là một trong những kích thước được nhà thiết kế nội thất sử dụng
nhiều trong thiết kế bởi vì đây là thông số phổ biến nhất trong hầu hết các thiết kế không
gian sinh hoạt của gia đình Theo nghiên cứu của nhân trắc học thì biểu hiện tầm vóc con người, thường thay đổi theo chủng tộc, giới tính và cũng chịu ảnh hưởng một phần của môi trường, hoàn cảnh sống, xã hội
Chiều cao trung bình cả nước thì nam giới cao 161,2 cm, nữ giới cao 151,6cm; khoảng chênh lệch giữa hai giới là 9,6 cm Tuy nhiên, nếu tính trung bình cho từng miền địa lý thì số chiều cao trung bình có một sự chênh lệch nhỏ như sau:
Bảng 3.3.1: Kích thước chiều cao đứng của người
3.3.2 Chiều cao ngồi
Chiều cao ngồi là thông số phổ biến thứ hai sau chiều cao đứng Nó có ý nghĩa trong việc thiết kế chỗ làm việc trong tư thế ngồi Chiều cao ngồi còn dược dùng để thay thế cho bề dài phần thân trên khi cần so sánh với bề dài phần thân dưới
Chiều cao ngồi của nam giới là 84,4 cm, của nữ giới là 79,5 cm và chênh lệch giữa hai giới là 4,9 cm Chiều cao ngồi trung bình giữa các miền cũng có độ chênh lệch nhất định
Chiều cao ngồi Bắc Trung Nam Nam giới
(cm) 84,4 84 84,9
Nữ giới (cm) 79,5 79,1 79,6
Bảng 3.3.2: Kích thước chiều cao ngồi của người