Xuất phát từ yêu cầu trên với mong muốn làm đa dạng mẫu mã và có tính sáng tạo cho sản phẩm tre, được sự nhất trí của thầy cô trong Viện Kiến trúc cảnh quan và Nội thất, Viện Công nghiệp
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành đến các thầy, cô giáo, các phòng ban trong Viện Kiến trúc cảnh quan và Nội thất
và Viện Công Nghiệp Gỗ- Trường Đại học Lâm Nghiệp, những người đã tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện khoá luận này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thị Vĩnh Khánh người đã
tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khoá luận tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp của mình Lần đầu
nghiên cứu khoa học không tránh khỏi nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của
thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội,ngày 15 tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trần Hồng Quân
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 1
DANH MỤC HÌNH 2
DANH MỤC BẢNG 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1
1.1.1 Tình hình thiết kế, phát triển sản phẩm trên thế giới 1
1.1.2Tình hình sử dụng vật liệu tre và sản phẩm từ tre trên thế giới 2
1.2 Tình hình nghiên cứ trong nước 4
1.2.1 Tình hình thiết kế và phát trển sản phẩm ở trong nước 4
1.2.2 Tình hình sử dụng vật liệu tre và sản phẩm từ tre trong nước 4
Chương II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
2.2 Đối tượng , phạm vi nghiên cứu 6
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 6
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 6
2.3 Nội dung nghiên cứu 6
2.4.Phương pháp nghiên cứu 6
Chương III 7
CƠ SỞ THIẾT KẾ 7
3.1 Cơ sở lý luận về thiết kế sản phẩm nội thất 7
3.2 Nguyên tắc trong thiết kế 9
3.3.Đặc điểm tạo hình của đồ mộc nhà Minh 10
3.4.Ergonomics trong thiết kế 13
3.5 Đặc điểm vật liệu 14
Chương IV 16
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN VÀ HỒ SƠ THIẾT KẾ 16
4.1.Yêu cầu thiết kế 16
4.2.Ý tưởng thiết kế, tạo hình sản phẩm 16
4.3.Các phương án thiết kế 16
Trang 24.4.Thuyết minh thiết kế 18
4.5.Hồ sơ thiết kế bộ sản phẩm 19
Chương V ĐÁNH GIÁ THIẾT KẾ 36
5.1 Bảng đánh giá thiết kế sản phẩm 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Văn phòng làm việc Công ty Thiết kế Inventionland 1
Hình 1.2 Nhà tre lấy cảm hứng từ nghệ thuật gấp giấy Nhật bản 2
Hình 1.3 Ngôi trường làm hoàn toàn từ tre ở Thái Lan 2
Hình 1.4 Cơ sở nông trang Mason Lan tại Bắc Carolina 3
Hình 1.5 Bộ bàn ghế phòng khách bằng vật liệu tre ghép thanh 3
Hình 1.6 Bộ bàn ghế phòng khách bằng vật liệu tre 3
Hình 1.7 Giường tre 3
Hình 1.9 Bộ bàn ghế bằng tre 5
Hình 1.10 Bộ bàn ghế bằng tre 5
Hình 1.11 Bộ bàn ghế bằng tre trong phòng khách 5
Hình 1.12 Bộ bàn ghế phòng trà bằng tre 5
Hình 3.1 Đặc điểm tạo hình và kích thước một số sản phẩm nhà Minh 11
Hình 3.2 Đặc điểm tạo hình và kích thước một số sản phẩm nhà Minh 11
Hình 3.3 Đặc điểm tạo hình và kích thước một số sản phẩm nhà Thanh 12
Hình 3.1: Egronomis trong thiết kế bàn ghế, tủ sách, kệ 13
Hình 4.1 Bộ bàn ghế sofa tre phòng khách 17
Hình 4.2 Bộ bàn ghế sofa tre phòng khách 18
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Kích thước cơ thể người ở tư thế ngồi 13
Bảng 5.1: Bảng đánh giá và điểm trung bình 36
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây tre gắn bó với người nông dân Việt Nam từ hàng nghìn năm rồi Hình ảnh làng
quê Việt Nam từ xưa gắn liền với luỹ tre làng - những bụi tre gai ken dày chắn gió bão
thiên tai và che chắn cho mỗi làng Việt trước trộm đạo, giặc cướp và kẻ xâm lược - nhân
tai Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo
dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm Thế nhưng những năm gần đây, có
một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị
coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá bởi nhiều nguyên nhân khác nhau
Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các
loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi
thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh”
thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi,
cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước,
cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào
đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm tất cả đều làm từ tre Vật dụng ngày càng có vẻ thuận
tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế
Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành
những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích,
như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng : đèn chụp bằng tre, đĩa
đan bằng tre Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những
nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt Sự sáng tạo và kế thừa để
thổi hồn vào cây tre sẽ làm nên những sản phẩm được mọi người ưa chuộng Qua nghiên
cứu ở thị trường ngày nay mọi người đang ngày càng hướng về những sản phẩm mang
hơi hướng cổ xưa và đặc biệt ưa chuộng những thiết kế có độ kì công, chi tiết Tuy nhiên
đồ nội thất bàn ghế về Tre còn hạn chế trong mẫu mã và thiết kế, nhiều mẫu mã đã trở
nên phổ biến, do vậy chưa đáp ứng được thị yếu của khách hàng về tính mới và sáng tạo
Xuất phát từ yêu cầu trên với mong muốn làm đa dạng mẫu mã và có tính sáng tạo
cho sản phẩm tre, được sự nhất trí của thầy cô trong Viện Kiến trúc cảnh quan và Nội
thất, Viện Công nghiệp gỗ, em xin thực hiện nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
“THIẾT KẾ BỘ BÀN GHẾ PHÒNG KHÁCH BẰNG VẬT LIỆU MÂY, TRE”
Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tình hình thiết kế, phát triển sản phẩm trên thế giới
Sự thành công kinh tế của hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới phụ thuộc vào khả năng xác định nhu cầu khách hàng của họ và khả năng nhanh chóng tạo ra sản phẩm đáp ứng những nhu cầu này với chi phí sản xuất thấp Để đạt được những mục tiêu này không chỉ là một vấn đề marketing, cũng không phải chỉ là vấn đề sản xuất, mà nó là một vấn đề phát triển sản phẩm liên quan đến tất cả các bộ phận chức năng này trong doanh nghiệp Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm là những nhiệm vụ quan trọng của các nhà sản xuất kinh doanh trong thời kỳ cạnh tranh và hội nhập quốc tế Trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải thường xuyên duy trì sức sống của sản phẩm đang có và không ngừng làm mới, đưa ra thi trường các sản phẩm mới, độc đáo để đáp ứng những nhu cầu ngày một đa dạng, phức tạp của khách hàng Sự thành công và tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc vào sản phẩm của họ có được khách hàng chấp nhận hay không
Inventionland, trụ sở tại Pittsburgh, bang Pennysylvania, Mỹ Đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới bởi thiết kế văn phòng làm việc không giống với bất kỳ công ty nào khác Đúng như tên gọi (tạm dịch là “Vùng đất phát minh”), mỗi năm, Inventionland phát
minh ra hơn 2000 vật dụng Và cứ 3 ngày lại có một sản phẩm mới được cấp giấy
phép
Hình 1.1 Văn phòng làm việc Công ty Thiết kế Inventionland
Trang 4Trên thế giới các công ty không chỉ quan tâm đến thiết kế sản phẩm mà họ còn
chú ý đến không gian thiết kế của các nhà thiết kế sản phẩm, các chủ công ty muốn có
được các sản phẩm tốt nhất thì họ phải tạo ra những không gian thiết kế thoải mái và
tốt nhất cho các nhà thiết kế Như vậy có thể thấy trên thế giới những thiết kế được
đưa ra thị trường là cả một quá trình cố gắng và nỗ lực của cả một đội ngũ công ty và
những thiết kế tốt chỉ khi những thiết kế được quan tâm ngay từ khi bắt đầu
Đặc điểm của thết kế phát triển sản phẩm thành công Ba yếu tố đầu vào quan
trọng cho quá trình phát triển sản phẩm mới thành công là: - Các sản phẩm đúng chất
lượng - Đúng thời điểm - Với chi phí hợp lý
Chất lượng sản phẩm Sản phẩm tốt của doanh nghiệp thu được từ các nỗ lực phát triển
phải đáp ứng các câu hỏi sau đây: - Sản phẩm có đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay
không? - Liệu sản phẩm có đủ bền và đáng tin cậy? Chất lượng sản phẩm cuối cùng được
phản ánh trên thị phần của thị trường sản phẩm và mức giá mà khách hàng sẵn sàng trả khi
mua
Như vậy trên thế giới đang rất phát triển về vấn đề thiết kế và phát triển sản phẩm
mới để nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, những thiết
kế đang dần được chú ý để những sản phẩm đến tay khách hàng sử dụng luôn là những
sản phẩm tốt nhất và phù hợp nhất Để trả lời những câu hỏi trên thì các công ty và
doanh nghiệp rất chú trọng vào thiết kế và phát triển sản phẩm để công ty có thể phát
triển và tồn tại
1.1.2Tình hình sử dụng vật liệu tre và sản phẩm từ tre trên thế giới
Vật liệu tre trở nên tương đối thông dụng ở các nước Châu Á, đặc biệt nó rất thân
thiện với môi trường
- Trên thế giới tre được dùng để làm: nhà, các công trình kiến trúc như:
Hình 1.2 Nhà tre lấy cảm hứng từ nghệ thuật gấp giấy Nhật bản
Ngôi trường Quốc tế Panyaden tọa lạc tại thành phố Chiang Mai, miền Bắc Thái Lan, được xây dựng hoàn toàn bằng đất và tre
Hình 1.3 Ngôi trường làm hoàn toàn từ tre ở Thái Lan
Ở các nước phát triển ngày nay thì việc bảo vệ môi trường là điều cấp thiết vì vậy
mà các vật liệu xanh ngày càng được sử dụng rộng rãi, tre là vật liệu đáp ứng được nhu cầu đó
Trang 6Tình hình nghiên cứ trong nước
1.2.1 Tình hình thiết kế và phát trển sản phẩm ở trong nước
Đối với lĩnh vực thiết kế sản phẩm nội thất trong nươc hiện nay có 1 vài nghiên cứu:
- Nghiên cứu về đồ mộc truyền thống Việt Nam của thầy Võ Thành Minh – trường
Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam Thầy đưa ra ứng dụng công nghệ vào nâng cao chất
lượng đồ mộc mỹ nghệ (CNC)
- Nghiên cứu về đặc điểm tạo hình, hoa văn, kết cấu và sự ảnh hưởng các yếu tố văn
hóa, lịch sử đến đồ mộc truyền thống của TS Nguyễn Thị Vĩnh Khánh – trường Đại
Học Lâm Nghiệp Việt Nam
- Các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ chủ yếu gia công theo mẫu mã nước ngoài,
chiếm 95% chỉ có 5% mẫu mã sản phẩm là được thiết kế trong nước
Vấn đề thiết kế và phát triển sản phẩm ở Việt Nam đang còn thiếu và yếu:
- Thiếu về môi trường đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ, nguồn nhân lực, kiến thức và
kinh nghiệm…
- Yếu về kỹ năng thiết kế, ý tưởng thiết kế, khả năng sáng tạo…
Nguyên nhân có thể thấy tại sao vấn đề thiết kế trong nước đang kém phát triển so
với thế giới:
- Nhà thiết kế không thể truyền tải giá trị thực sự của họ đến với khách hàng
- Công chúng không hiểu rõ cái mà ngành công nghiệp thiết kế làm một cách chính xác
- Nổi lên một hội chứng được gọi là tương-tự-nhau
- Rạch ròi quá trong việc chỉ ra thiết kế ảnh hưởng lên từng khía cạnh của kinh
doanh như thế nào
- Tính hai mặt trong bản chất của nhà thiết kế Con người chúng ta vừa yêu vừa ghét
bản thân – và những nhà thiết kế là bậc thầy của sự tự ti nhưng ngạo mạn
- Hệ thống trường học giảng dạy về thiết kế bị chậm lại hơn rất nhiều so với tốc độ
phát triển công nghệ
- Những người trong chúng ta mà họ tự coi mình như là một phần của cái thế giới
thiết kế thường có xu hướng nhìn nhận nó một cách nông cạn
- Thiếu sự đa dạng trong các trường dạy về thiết kế
- Hành động quá nhanh Đôi khi bản chất của chúng ta là bắt đầu với tính thẩm mỹ
trước khi hoàn toàn hiểu rõ vấn đề
- Định nghĩa một cách rạch ròi thiết kế nghĩa là gì
Tất cả các nguyên nhân đều có giải pháp nếu chúng ta thực sự quan tâm đến vấn đề thiết kế trong nước Hiện tại ở tronng nước đã dần quan tâm đế những cơ sở giáo dục các trường dạy nghề chuyên về thiết kế tuy nhiên chưa thực sự sâu sát với thị trường, thực tế Mọi kiến thức đang ở mức lý thuyết cao vì vậy khi nguồn nhân lực ra ngoài thị trường, thực tế vẫn chưa hiểu rõ vấn đề để rồi đi lệch hướng hay không còn giữ được tầm quan trọng trong việc thiết kế và phát triển sản phẩm
Vấn đề rất nhức nhối hiện nay là các thiết kế không còn là sự sáng tạo, không còn là
tư duy mới mẻ mà gần như hoàn toàn là sao chép và cắt ghép từ những thiết kế truyền thống hay ở những thiết kế nước ngoài Tất cả có thể tóm gọn là “ vi phạm bản quyền” thiết kế
Tuy nhiên hiện nay các công ty doanh nghiệp đã nhìn nhận rõ hơn về vấn đề thiết kế
và phát triển sản phẩm, vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của công ty hay doanh nghiệp thế nên thiết kế và phát triển sản phẩm đã được quan tâm và ngày càng được đào tạo chuyên sau và ủng hộ
Tình hình sử dụng vật liệu tre và sản phẩm từ tre trong nước
Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay không còn được coi trọng và sử dụng phổ biến trong nội thất như ngày xưa, tuy nhiên những sản phẩm văn hóa có giá trị mỹ thuật cao và giàu tính sáng tạo được nhiều người ưa thích và xem như những sản phẩm mang nhiều giá trị tinh thần hơn là vật chất Bởi lẽ về giá trị kinh
tế thì tre không phải là vật liệu khó tìm hay quý giá nhưng tre lại là vật liệu mang tính hoài niệm, chất “xưa” mà ngày càng nhiều người trong xã hội có tốc độ hiện đại hóa rất nhanh ngày nay muốn lưu giữ Chính vì vậy ngày nay vẫn còn nhiều làng nghề về mây, tre tạo ra các sản phẩm từ mây, tre phục vụ việc trang trí và sử dụng trong nội thất Tre trong nước sử dụng dưới dạng vật liệu nghuyên cây và ván nhân tạo tre Tuy nhiên mẫu mã sản phẩm từ tre còn nghèo nàn, khách hàng không có nhiều sự lựa chọn kiểu dáng sản phẩm để sử dụng Ví dự như các sản phẩm:
- Những bộ ghế tre tiện dùng và đặc biệt là bền theo thời gian:
Trang 8Chương II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế bộ bàn ghế phòng khách bằng vật liệu mây, tre, đáp ứng yêu cầu công
năng, thẩm mỹ, tính mới, kinh tế, phù hợp với các không gian phòng khách
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bộ bàn ghế phòng khách bằng vật liệu mây, tre bao gồm:
1 bàn; 1 ghế đôi; 2 ghế đơn
Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế bộ bàn ghế phòng khách bằng vật liệu mây, tre:
- Phong cách thiết kế: phong cách đơn giản, trang nhã dựa trên vẻ đẹp tự
nhiên của vật liệu
- Vật liệu: sử dụng vật liệu mây, tre
- Sản phẩm: 01 bộ bàn ghế
- Công năng sử dụng: bàn ghế dùng uống trà cho phòng khách
- Phạm vi nội dung thiết kế: thiết kế phối cảnh, bóc tách sản phẩm, hồ sơ chi
tiết sản phẩm, đánh giá sản phẩm
- Không đi sâu vào tính toán giá thành sản phẩm
2.3 Nội dung nghiên cứu
Thiết kế bộ bàn ghế phòng khách bằng vật liệu mây, tre :
- Khảo sát thực trạng sản phẩm tre trên thị trường
- Xây dựng và lựa chọn, thuyết minh phương án thiết kế
- Đánh giá thiết kế sản phẩm
2.4.Phương pháp nghiên cứu
-Khảo sát thực trạng sản phẩm tre trên thị trường
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra khảo sát chủng loại, đặc điểm, tạo hình sản phẩm tre hiện nay
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu về mẫu mã sản phẩm trên các tài liệu có sẵn, internet, sách báo…
-Xây dựng và lựa chọn, thuyết minh phương án thiết kế
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu về thiết kế sản phẩm nội thất, các yếu tố mỹ thuật,
về tỷ lệ, yếu tố nhân trắc học, tư duy logic để đưa ra phương án thiết kế
- Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng phần mềm đồ họa vẽ phối cảnh các phương án thiết
kế, và các bản vẽ kỹ thuật bóc tách chi tiết sản phẩm
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Phân tích ưu, nhược điểm của từng phương án, căn cứ vào yêu cầu thiết kế của chủ đầu tư, từ đó đánh giá và đưa ra lựa chọn phương án thiết kế cuối cùng
- Phương pháp chuyên gia: Phân tích lựa chọn
phương án thiết kế
-Đánh giá thiết kế sản phẩm
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Phân tích ưu, nhược điểm của từng phương án, căn cứ vào yêu cầu thiết kế của chủ đầu tư, từ đó đánh giá và đưa ra lựa chọn phương án thiết kế cuối cùng
- Phương pháp chuyên gia: Phân tích giá trị sản
phẩm đạt được
Trang 9Chương III
CƠ SỞ THIẾT KẾ
Cơ sở lý luận về thiết kế sản phẩm nội thất
a) Khái niệm về thiết kế sản phẩm nội thất
Thiết kế sản phẩm là tiến hành thiết kế ý tưởng, kết cấu, hoạch định cho ý tưởng và
vẽ thể hiện quy hoạch của ý tưởng để làm ra sản phẩm nội thất
b) Những yêu cầu chung của sản phẩm nội thất
Mỗi sản phẩm đều có chức năng sử dụng nhất định được thiết lập theo ý đồ của
người thiết kế, một sản phẩm có thể có nhiều chức năng khác nhau, hoặc đôi khi chức
năng đó có thể chỉ là trang trí Yêu cầu đầu tiên của sản phẩm nội thất là phải đáp ứng
được chức năng chính của chúng
Trong lĩnh vực thiết kế, sản phẩm nội thất không chỉ đáp ứng yêu cầu về công
năng sử dụng mà nó cần phải đáp ứng về yêu cầu thẩm mỹ Nếu không có yêu cầu thẩm
mỹ, công việc thiết kế sản phẩm nội thất dường như trở thành thiếu ý nghĩa Thẩm mỹ
của sản phẩm có thể coi là phần hồn của sản phẩm đó Một chiếc ghế để ngồi bình
thường thì không nói nên điều gì nhưng khi nó được thiết kế tạo dáng theo ý đồ thẩm
mỹ, nó lại tạo ra một cảm giác thoải mái hơn cho người ngồi cũng như những người
xung quanh khi nhìn vào nó Thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm kết tinh
nên giá trị sản phẩm
Yêu cầu về kinh tế
Một trong những yêu cầu khá quan trọng đối với một sản phẩm mộc là yêu cầu về
kinh tế Một sản phẩm làm ra với 1 chi phí cao cũng không phải là vấn đề tốt Yêu cầu
đối với một sản phẩm có thể hướng theo mục tiêu: “ Đáp ứng chức năng tốt, có thẩm
mỹ đẹp nhất nhưng lại có chi phí thấp nhất” để làm được điều đó, trong mỗi sản phẩm
ta cần có kế hoặc sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, thuận tiện cho gia công chế tạo, hạ giá
thành sản phẩm, tạo ra những sản phẩm tốt, có cấu tạo chắc chắn, đáp ứng được công
năng sử dụng
Yêu cầu về công nghệ
Một sản phẩm nội thất được thiết kế ra để thi công, sản xuất được lại là cả một
vấn đề lớn cần quan tâm Một sản phẩm được thiết kế có giá trị thẩm mỹ cao, đảm bảo
tốt công năng tuy vậy với trình độ kỹ thuật, công nghệ hiện tại lại không thể thi công,
chế tạo, sản xuất được thì sản phẩm đó cũng chỉ là thiết kế trên giấy tờ và hoàn toàn không khả thi Vì vậy khi thiết kế sản phẩm nội thất một vấn đề hết sức quan trọng cần lưu ý tới đó chính là yêu cầu về công nghệ, vật tư kỹ thuật
c) Các chỉ tiêu đánh giá thiết kế sản phẩm
Tương ứng với những yêu cầu đối với sản phẩm nội thất như trên, ta cũng có các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm như sau:
- Mức độ đáp ứng chức năng sử dụng của sản phẩm
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm
- Tính hợp lý của việc sử dụng vật liệu
- Khả năng thực hiện chế tạo gia công của sản phẩm ở mức nào
=> Sản phẩm nội thất có thể dựa trên các tiêu trí đó để đánh giá là sản phẩm tốt hay chưa tốt
d) Các nguyên tắc cơ bản của thiết kế sản phẩm nội thất
Có 9 nguyên tắc cơ bản trong thiết kế sản phẩm nội thất:
+ Tính nghệ thuật của đồ gia dụng được biểu hiện chủ yếu ở các mặt như tạo hình, trang sức, màu sắc,…
+ Nguyên tắc này chủ yếu vận dụng trong quá trình tạo dáng sản phẩm Nhưng trong quá trình thi công cũng không thể xem nhẹ bởi độ tinh xảo của các mối liên kết,
Trang 10chất lượng bề mặt sản phẩm ảnh hưởng không ít tới chất lượng thẩm mỹ của sản phẩm
Tính kinh tế
+ Tính kinh tế tức là lợi ích kinh tế, 1 trong những mục tiêu mà tất cả các sản
phẩm công nghiệp theo đuổi
Khi thiết kế cần nhấn mạnh được tính thương phẩm và tính kinh tế đối với đồ nội
thất, thiết kế được những sản phẩm có giá thành thấp, thiết kế ra được những sản phẩm
đồ gia dụng thích hợp cho việc bán hàng, đạt được yêu cầu về chất lượng tốt, ngoại hình
đẹp, tiêu hao nguyên liệu ít, cũng như những yêu cầu về môi trường
+ Để đảm bảo được tính kinh tế cần:
Giảm tiêu hao nguyên vật liệu
Nâng cao năng suất
Nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ
Giảm giá thành sản phẩm
+ Như vậy, khi thiết kế cần phải lựa chọn nguyên vật liệu hợp lý, xem xét khả năng
gia công, điều kiện công nghệ hiện có
- Tính khoa học
+ SPNT có tính khoa học tức là SP phát huy được hết công năng của nó, tính tiện
lợi và tính dễ chịu cao đồng thời có khả năng tăng hiệu suất làm việc
+ Thiết kế SPNT cần dựa trên các nguyên lý cơ bản của các môn khoa học có liên quan:
Sinh lý học
Tâm lý học
Nhân trắc học (Ergonomic)
Tính công nghệ
Thể hiện qua đường nét và vật liệu sử dụng trên cơ sở đáp ứng được những yêu cầu sau:
+ Đa dạng hóa vật liệu (gồm nguyên vật liệu và vật liệu trang trí)
+ Linh kiện lắp ráp hóa (có thể tháo lắp hoặc gấp xếp)
+ Tiêu chuẩn hóa sản phẩm (quy cách hóa, hệ thống hóa và thông dụng hóa linh kiện)
+ Tiên tiếp hóa gia công (thực hiện cơ giới hóa và tự động hóa, giảm bớt tiêu hao
sức lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu suất lao động sản xuất)
Tính an toàn
+ Tức là vừa yêu cầu các sản phẩm có đủ cường độ lực học và tính ổn định, vừa yêu cầu sản phẩm có tính môi trường Đa dạng hóa vật liệu (gồm nguyên vật liệu và vật liệu trang trí)
+ Không ô nhiễm môi trường và không có hại cho sức khỏe của con người Tiêu chuẩn hóa sản phẩm (quy cách hóa, hệ thống hóa và thông dụng hóa linh kiện)
Tính hệ thống Thể hiện ở 3 phương diện + Tính đồng bộ : Đồng bộ với sản phẩm nội thất khác và đồng bộ với môi trường nội thất
+ Tính tổng hợp: công việc thiết kế không chỉ là vẽ bản vẽ kết cấu sản phẩm và bản
vẽ phối cảnh, mà tiến hành thiết kế toàn hệ thống từ công năng sản phẩm, tạo hình, kết cấu, vật liệu, công nghệ, lắp ráp đóng gói
+ Tiểu chuẩn hóa
- Tính sáng tạo + Tính sáng tạo trong thiết kế là điểm nhấn tạo nên tính thẩm mỹ + Các sản phẩm nội thất không chỉ cần đẹp mà còn phải thể hiện được phong cách
cá tính đặc biệt
+ Tuy nhiên cần sáng tạo trong khuôn khổ phải đồng bộ với các SP khác và đồng
bộ với không gian nội thất
+ Tính sáng tạo thể hiện qua:
Tính năng mới của sản phẩm
Hình thức mới của sản phẩm
Vật liệu mới của sản phẩm
Kết cấu mới của sản phẩm
Các kỹ thuật gia công, chế tạo mới…
• Tính lâu dài
Đồ nội thất sử dụng nguồn nguyên liệu chính là gỗ tự nhiên – là nguồn nguyên liệu đanh ngày càng khan hiếm hiện nay Do vậy, khi thiết kế đồ gia dụng bắt buộc phải xem xét đến nguyên tắc lợi dụng liên tục đối với nguồn tài nguyên gỗ Điều này được thể hiện thông qua quá trình sử dụng hợp lý nguyên vật liệu
Trang 11e) Các liên kết cơ bản của sản phẩm mộc
Trong sản phẩm mộc có nhiều loại liên kết, các dạng liên kết này có thể chia
Sắp xếp những đối tượng sao cho chúng cân bằng qua 1 trục chính giữa Có 2 loại
cân bằng là cân bằng đối xứng và cân bằng bất đối xứng:
- Hình khối: to-nhỏ
Là yếu tố nào tập trung người xem nhất Nếu tất cả các yếu tố bằng nhau thì không
có sự nhấn mạnh
Trang 12Là sự sắp xếp lặp đi lặp lại một hoặc cài đối tượng một cách có nhịp điệu (giống như chơi nhạc, lúc nhanh lúc chậm, lúc nhiều lúc ít) – Thường thấy trong các thiết kế sử dụng hoa văn họa tiết lặp đi lặp lại
3.3.Đặc điểm tạo hình của đồ mộc nhà Minh
a) Phong cách đồ mộc thời nhà Minh (1368-1644)
Trong lịch sử phát triển đồ mộc Trung Quốc, đồ mộc thời kỳ Nhà Minh 1644) được đánh giá đạt đến giá trị đỉnh cao của nghệ thuật đồ mộc thế giới Cho đến nay
(1368-là cảm hứng thiết kế cho rất nhiều sản phẩm sau này có giá trị cao
- Về tạo hình, đồ mộc nhà Minh thiết kế dựa trên đường làm chính, kết hợp hài hòa giữa đường cong mềm mại và đường thẳng ngay ngắn Chi tiết đường nét tinh xảo, mượt
mà, uyển chuyển Tạo hình tổng thể sản phẩm cân đối, nhẹ nhàng, thanh mảnh vừa mang
vẻ đẹp đơn giản, ổn định nhưng tinh tế.Trong tạo hình sản phẩm, giữa phần mặt với phần chân thường có thiết kế thắt eo Để tạo chi tiết có diện tích rộng thường là ván lồng trong khung Đồ mộc Nhà Minh nổi tiếng với đường cong chữ S tại phần lưng tựa ghế, đường cong phần lưng tựa ghế ôm vào thân người hay lưng tựa ghế tạo hình theo mũ chuồn Đường tạo hình trong đồ mộc có tiết diện tròn hoặc bo tròn tạo sự mềm mại tinh tế cho sản phẩm Chân thường chân thẳng có thanh giằng chân kéo dài sát đất
- Về trang sức: Đồ mộc Nhà Minh dựa vào vẻ đẹp tự nhiên của gỗ làm chính, tổng thể sản phẩm toát lên vẻ đẹp nguyên bản của gỗ Các chi tiết trang trí, chủ yếu là đục chạm chỉ được sử dụng trên một phần nhỏ của sản phẩm Chất liệu có thể bằng gỗ, ngà voi, đá hoặc kim cương, hoặc được trang trí thêm các chi tiết bằng đồng và bạc Những chi tiết trang trí tinh tế tạo nên sự tương phản sắc nét trong một tổng thể đồ gỗ đơn giản
và sạch sẽ Nói chung, chạm khắc chỉ được thực hiện trên một phần nhỏ của sản phẩm nhằm tạo thêm sự thu hút và tôn thêm nét tinh tế của sản phẩm Phương pháp trang sức
Trang 13chủ yếu là chạm, khảm, nạm Trong phần trang trí, giữa vai và chân, thanh giảng và chân
có trang trí diềm, lèo
Hình 3.1 Đặc điểm tạo hình và kích thước một số sản phẩm nhà Minh
- Về công năng sử dụng: Đồ mộc Nhà Minh thiết kế phù hợp với công năng sử dụng
và nhân trắc học con người Kích thước và tỷ lệ của các bộ phận khác nhau tuân theo
nguyên tắc thẩm mỹ, nhưng phù hợp với nhân trắc học, đảm bảo cho sự thuận tiện trong
sử dụng thực tế Nó là sự kết hợp của thẩm mỹ, cơ khí và sử dụng thực tế trong một sản
phẩm Kích thước ghế, chiều cao đến mặt ngồi 450-550cm Chiều cao từ đất đến tựa đầu
thông thường 950- 1060cm Chiều rộng ghế 540-570 cm Chiều sâu ghế 435-450cm Đối
với bàn chủ yếu là bàn viết chữ nho, thường cao 850 – 880 cm, rộng 400- 420 cm, dài
1380- 1930 cm, Tủ đựng đồ, thường cao 1780-2150c, rộng 1060-1100cm, sâu 560- 620
cm Đồ mộc Nhà Minh sử dụng rất thuận lợi, ví dụ nét cong chữ S phía sau những chiếc
ghế là nét đặc trưng duy nhất chỉ có ở đồ Minh, thiết kế phù hợp với cấu tạo xươngsống
của người Mặt ghế thuwongf đan bàng mây tạo sự êm ái đàn hồi khi sử dụng, điều đó
cho thấy thiết kế rất phù hợp với tâm sinh lý của con người
Hình 3.2 Đặc điểm tạo hình và kích thước một số sản phẩm nhà Minh
- Về kỹ thuật gia công: Đồ nội thất thời Minh được làm với những kỹ năng tay nghề cao Là sự kết hợp giữa những đường nét tròn, vuông, độ rộng hẹp, chiều dày và các đường soi tương phản sắc nét do đó hình thành nên cấu trúc độc đáo của đồ nội thất thời Minh Tất cả các bộ phận được ráp lại với nhau bằng mộng khéo léo, tinh tế Mộng mẹo sử dụng liên kết phức tạp, đòi hỏi sự khéo léo tỉ mỉ, kỹ thuật tay nghề cao của người thợ, tạo nên tạo sự bền bỉ vững chắc cho sản phẩm nhưng cũng tạo vẻ đẹp tinh tế cho sản phẩm Trong quá trình chọn lựa gỗ cho từng chi tiết được người thợ cân nhắc rất kỹ về kích thước, chiều hướng, hoa văn để tận dụng vẻ đẹp của gỗ, khi sử dụng gỗ ít co rút giãn nở nhất Bề mặt được đánh bóng bằng sáp (ngày nay sử dụng vecni và xi) để làm cho sản phẩm trông tươi sáng, mịn màng, sạch sẽ và để lộ được vẻ đẹp tự nhiên của gỗ
- Vật liệu: Đồ mộc Nhà minh sử dụng nhiều loại gỗ quý trong nhóm gỗ hồng sắc :
gỗ sưa, gỗ Nán mù, trắc, cẩm Chất lượng gỗ vừa cứng chắc, vừa dẻo giai khi gia công, ít cong vênh mối mọt, và đặc biệt có màu sắc, hoa văn rất đẹp
b) Phong cách đồ mộc thời nhà Thanh: (1654- 1912)
Nhìn chung đồ mộc Nhà Thanh cũng có sự kế thừa phát triển của đồ mộc nhà Minh, tuy nhiên giai đoạn sau đồ mộc Nhà Thanh có sự khác biệt sơ với đồ mộc Nhà
Minh Đăc biệt đồ mộc Nhà Thanh phát triển thịnh vượng thế kỷ 17-18 thời Vua
Khang Hy, Ung Chính, Càn long
Đặc điểm tạo hình đồ mộc Nhà Thanh: Đồ mộc tạo hình tỷ lệ cân đối, thể thái nặng nề, kích thước to hùng vĩ Dựa trên nguyên liệu gỗ lớn, đường thô to thiết kế.Giữa phần mặt và phần chân vẫn có thiết kế eo thắt Chân dựa trên chi tiết gỗ thô to tạo cảm giác bền vững, ổn định, thường thấy chân cong 3 đoạn chữ S, chân cong hình trống, chân thẳng vuông hình móng ngựa, chân tròn thẳng đốt trúc Phía dưới thường có bệ đặt sản phẩm
Trang 14- Về trang trí: Đồ mộc Nhà Thanh nổi tiếng với vấn đề trang sức phong phú, cầu
kỳ đến mức rườm rà, phức tạp Vẻ đẹp của sản phẩm mất dần vẻ đẹp tự nhiên của gỗ,
dựa trên vẻ đẹp của hoa văn trang trí Điểm nhấn trang trí tập trung lưng tựa, thành tay
vịn của ghế; phần lèo và đường diềm trang trí giữa mặt bàn, vai bàn và chân bàn; phần
diềm trang trí của chân bàn và hệ thống thanh giằng chân bàn
- Hình thức trang trí chủ yếu là điêu khắc với điêu khắc, khảm nạm, sơn thếp
Chạm khắc có hình thức chạm đường, chạm mặt, chạm lộng và phù điêu Phương
pháp khảm nạm thường có khạm chai, khảm ốc, nạm ngọc, nạm sừng, nạm đá Hoa
văn trang trí lan tỏa trên cả phần diện tích rộng, có khi tận dụng mọi diện tích trống để
trang trí hoa văn
- Về kỹ thuật gia công chế tác: Tương tự như đồ mộc nhà Minh, đồ mộc nhà
Thanh chủ yếu dựa trên liên kết mộng mẹo, không sử dụng vật liệu khác trong liên
kết Mộng liên kết phức tạp chắc chắn bền vững dài lâu trong quá trình sử dụng
Hình 3.3 Đặc điểm tạo hình và kích thước một số sản phẩm nhà Thanh
Đặc biệt để tạo nên phong cách ấn tượng, giá trị trường tồn của đồ mộc Nhà Thanh
đó hoa văn trang trí với kỹ thuật rất tinh xảo, khéo léo, cầu kỳ do những nghệ nhân có tay nghề cao chế tác tạo nên bức hoa văn sinh động có hồn
c) Phong cách đồ mộc thời kỳ Dân quốc
Cuộc chiến tranh Nha phiến lần 1, năm 1838, Anh Quốc đã tuyên chiến với Trung Quốc Năm 1842 Trung Quốc thất bại trong cuộc chiến tranh này Bắt đầu từ đây, xã hội chính trị, văn hóa Trung quốc có sự thay đổi và bị ảnh hưởng phương Tây Cùng với đó, kiến trúc, đồ mộc Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi phong cách Phương Tây, cụ thể là phong cách cổ điển Anh quốc
Phong cách đồ mộc thời Dân quốc Trung quốc là sự kết hợp giữa phong cách truyền thống Trung quốc, đặc biệt phong cách nhà Thanh với phong cách Châu Âu cổ điển, đặc biệt phong cách Anh quốc Bàn ghế công năng và tạo hình gần với công năng
Trang 15và tạo hình của sofa hơn Xuất hiện nhiều tạo hình tiện tròn xoay, tạo hình chân hình
móng vuốt Vật liệu sử dụng sử dụng vải, da bọc đệm thay thế dần vật liệu gỗ, mây
truyền thống Hoa văn trang trí xuất hiện nhiều motip hoa văn châu Âu như hoa văn
xoáy nước, sò huyết, hoa lá tây, dây leo,
3.4.Ergonomics trong thiết kế
- Nhân tố Ergonomics đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết kế sản
phẩm nội thất Ergonomic – Công thái học chính là bí mật đằng sau sự thoải mái của
mỗi sản phẩm nội thất, là nhân tố quyết định đến sự thành công của một nhà thiết kế
Các nhà thiết kế luôn phải tìm kiếm và loại trừ tất cả những yếu tố gây bất lợi cho con
người khi sử dụng sản phẩm cùng công nghệ sản xuất mới Đó cũng là quá trình tất
yếu của sự nâng cấp, tiến hóa của sản phẩm
Bảng 3.1: Kích thước cơ thể người ở tư thế ngồi
Độ chính xác Nam (16 – 60 ) Nữ (16-55 )
1 5 10 50 90 95 99 1 5 10 50 90 95 99
Chiều cao ngồi 836 858 870 908 947 958 979 789 890 819 855 891 901 920
Chiều cao vai 539 557 566 598 631 641 659 504 518 526 556 585 594 609
Chiều cao thắt lưng 214 228 235 263 291 298 312 201 215 223 251 277 284 299
Chiều cao
cẳng chân và bàn chân 372 383 389 413 439 448 463 431 342 359 382 399 405 417
Chiều sâu ngồi 407 421 429 457 486 494 510 388 401 408 433 461 469 485
Chiều dài chân 892 921 937 992 1046 1063 1096 826 851 865 912 960 975 1005
Chiều cao đầu gối 441 456 456 493 525 532 549 410 424 431 458 485 493 507
Chiều cao điểm gáy 599 615 624 657 691 701 719 563 579 587 617 648 657 675
Chiều cao mắt 729 749 761 798 836 847 868 678 695 704 769 773 783 803
Chiều dày đùi 103 112 116 139 146 151 160 107 113 117 130 146 151 160
Chiều sâu ngồi và
chiều dày
cổ chân
499 551 524 554 585 595 613 418 495 502 529 561 560 587
Hình 3.1: Egronomis trong thiết kế bàn ghế, tủ sách, kệ
Trong nhân trắc học đưa chia thành 2 bộ phận là nhân trắc tĩnh và nhân trắc động Nếu như nhân trắc động được ứng dụng trong thiết kế hoạt động của từng bộ phận hay toàn bộ cơ thể thì nhân trắc tĩnh được ứng dụng trong thiết kế nội thất dựa theo mỗi quan hệ giữa cơ thể con người và kích thước đồ nội thất
Đây là kích thước được áp dụng phổ biến trong thiết kế nội thất vì hầu như các thiết kế không gian sinh hoạt của gia đình đều phải sử dụng thông số này Theo các nhà nhân trắc học, vì kích thước con người thường thay đổi theo chủng tộc, giới tính hoặc
do môi trường, xã hội nên thiết kế nội thất cũng linh hoạt thay đổi theo sao cho phù hợp Thông thường, chiều cao trung bình của nam giới là 161,2cm, nữ giới là 151,6cm,
độ chênh lệch giữa hai giới là 9,6cm Tuy nhiên, tính theo từng vùng địa lý, mức độ chênh lệch sẽ khác nhau như sau:
Kích thước này có ý nghĩa đặc biệt trong việc thiết kế chỗ làm việc tư thế ngồi, và
là thông số phổ biến thứ hai sau chiều cao đứng Theo đó, chiều cao ngồi trung bình của nam giới là 84.45cm, nữ giới là 79.5cm, chênh lệch giữa hai giới là 4.9cm Tùy theo từng vùng miền, các kích thước này thay đổi như sau:
Trang 16Khi thiết kế nội thất, đặc biệt là ghế ngồi, kiến trúc sư cần đặc biệt quan tâm đến
thông số chiều rộng mông Theo đó, kích thước trung bình của chiều rộng vùng chậu và
mông của nam giới và nữ giới được thống kê như sau:
Kích thước tay và chân ảnh hưởng rất lớn đến thiết kế nội thất, căn cứ vào tỷ lệ độ
dài giữa tay và chân các kiến trúc sư có thể tính toán được kích thước của: Bàn, ghế
sofa… để mang lại sự thoải mái, tiện nghi cho người sử dụng Theo đó, chiều rộng và
dài của tay, chân phát triển tương ứng với chiều cao đứng, sự chênh lệch kích thước
chiều dài tay theo giới tính là 4.7cm, chiều dài chân là 7.2cm
Đặc điểm vật liệu
a) Sơ lược các loài tre
Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích tre nứa với 914 loài và 26 chi
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nên rất phù hợp để tre sinh trưởng và
phát triển Tre được phân bố rộng rãi trên diện rộng, từ đồi núi đến đồng bằng
1 Tre rừng Bambusa aff sinospinosa McClure
3 Lồ ô Trung Bộ Bambusa balcoa Roxb
4 Là ngà Nam Bộ Bambusa bambos (L.) Voss
7 Tre sọc trắng Bambusa cf heterostachya (Munro) Holttum
8 Hóp Phù Yên Bambusa cf tultoides Munro
Hóp nước Cầu Hai Bambusa sp
Hóp đá Cầu Hai Bambusa sp
Hóp Miếu Trắng Bambusa sp
9 Dùng phấn Bambusa (Lingnania) chungii McClure
10 Tre ven Long Thành Bambusa flexuosa Schultes
12 Vầu leo Bambusa guangxiensis Chia et Fung
13 Tre lạt Bambusa intermedia Hsueh et Yi
15 Hóp sào Bambusa multiplex (Lour.) Raeuschel ex Schult
Tre sọc vàng Bambusa multiplex cv Alphons-Kazz
Tre hàng rào Bambusa multiplex cv Fernleaf
16 Hóp Củ Chi Bambusa mutabilis McClure
18 Hóp Sơn Động Bambusa papillata Q.H.Dai
19 Hóp Cẩm Xuyên Bambusa piscatorum McClure
20 Lồ ô Bình Long Bambusa procera A.Chev & A.Cam
21 Lồ ô Trường Sơn Bambusa polymorpha Munro
23 Tre là ngà Bambusa sinospinosa McClure
26 Tre đùi gà Bambusa ventricosa McClure
Tre vàng sọc Bambusa vulgaris Schre ex Wend cv Vittata
Tre bụng phật Bambusa vulgaris Schre cv Wamin McClure
30 Lùng Thanh Hoá Bambusa (Lingnania) sp.3
Dùng Cầu Hai Bambusa (Lingnania) sp.3
Tre Đông Khê Bambusa (Lingnania) sp.3
Trang 1737 Mạy khô, hon trúc Bambusa sp.10
40 Hóp cần câu (trúc đá) Bambusa sp.13
41 Tre không gai Tân An Bambusa sp.14
42 Tre trãi Long An Bambusa sp.15
48 Lồ ô đèo Prenn1 Bambusa sp.21
49 Tre dẻo Hà Giang Bambusa sp.22
50 Tre leo Tân Phú Bambusa sp.23
52 Tre cần câu (Hao biảng) Bambusa sp.25
53 Tre mốc Quản Bạ Bambusa sp.26
b) Ưu điểm của vật liệu tre
• Nguyên vật liệu bằng tre trúc có chi phí thấp
Vì tre bền, rẻ, sẵn có và nguồn cung ứng dồi dào, được trồng khắp các vùng miền
Trong khi các vật liệu gỗ, bê tông, sắt, thép,… vượt xa khả năng chi trả của người dân,
thì các công trình bằng tre lại có chi phí khá hợp lý
• Cây Tre được trồng phổ biến ở Việt Nam
Tre được trồng rất phổ biến trên hầu hết mọi loại đất Diện tích rừng tre trên thế
giới khoảng 37 triệu ha, ở Việt Nam diện tích trồng tre cũng khá lớn từ Bắc chí Nam và
chi phí trồng tre nứa, cây lồ ô, cây luồng cũng không quá tốn kém
• Cây Tre phát triển nhanh, thích hợp nhiều loại đất
Tre có ưu điểm nổi bật hơn các loại gỗ khác vì khả năng phát triển nhanh với năng
suất cao Trong khi cây lấy gỗ cần ít nhất 15 năm mới có thể khai thác, thì tre chỉ cần
3-5 năm là có thể thu hoạch được Mỗi năm, rừng gỗ có tỷ lệ phát triển từ 2% đến 3%
Tuy nhiên, theo David Farelly, tác giả công trình nghiên cứu The book of bamboo thì rừng tre phát triển với tỷ lệ 10% – 30%/ năm
• Độ bền cao cây tre khá cao Một trong những lý do tre được dùng làm vật liệu xây dựng là độ bền kéo cao và
sức bền rất tốt Nếu tre được xử lý tốt, tuổi thọ của các công trình bằng tre có thể kéo dài cả trăm năm
• Nguyên vật liệu An toàn
So với các vật liệu xây dựng khác, nguyên vật liệu bằng cây tre có trọng lượng nhẹ Vì thế, tre trúc dễ dàng di chuyển đến các vùng cao, vùng xa hoặc những nơi vừa
bị thiệt hại do thiên tai Cây Tre có tính đàn hồi rất tốt nên tre thường được sử dụng xây nhà, xây chòi lá, chòi tre, trang trí bằng tre, bàn ghế tre, v.v
• Công trình bằng tre đem lại sự mát mẻ
Nguyên vật liệu tre giúp giảm nhiệt cho các công trình Đối với khí hậu nóng quanh năm như Việt Nam, sống trong những ngôi nhà làm bằng tre sẽ tạo cảm giác thoải mái và mát mẻ hơn
• Sử dựng tre trúc giúp bảo vệ môi trường
Tre Trúc là vật liệu thân thiện với môi trường và tiết kiệm nguyên liệu Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình xử lý tre chỉ cần ⅓ năng lượng của chế biến gỗ, ⅛ năng lượng của việc chế biến bê tông, và 1/50 năng lượng của việc chế biến thép Bên cạnh đó, sử dụng tre còn giúp hạn chế nạn phá rừng Vì sau khi thu hoạch, tre
sẽ tự tái tạo mà không cần trồng mới như các loại cây gỗ
Cấu tạo của cây tre, cây trúc, cây lồ ô nói chung đạt được độ bền vi diệu nhờ cấu trúc rỗng, hình ống, có đốt liên kết đó là sự tiến hóa qua hàng thiên niên kỉ để chống lại sức gió, sự khắc nghiệt của môi trường tự nhiên Với tính chất nhỏ gọn, có đốt liên kết, hình ống, vật liệu tre nứa được sử dụng rất linh hoạt
Một đặc điểm nổi bật khác là cây tre nhìn chung có tính chất cơ học của tre nói chung cao gấp 2-3 lần so với gỗ thông thường Tre có độ bền kéo lớn hơn so với thép
và chịu lực nén tốt hơn cả bê-tông Tỉ lệ chịu lực kéo theo trọng lượng cụ thể của tre trúc gấp 6 lần so với thép
Tuổi thọ của cây tre sẽ kéo dài 3-4 năm nếu đã qua xử lý đúng cách Nếu đặt trong mái che không bị tác động trực tiếp từ mưa, nắng thì tuổi thọ của kết cấu tre sẽ lên đến trên 30-50 năm
Trang 18Chương IV XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN VÀ HỒ SƠ THIẾT KẾ 4.1.Yêu cầu thiết kế
- Thiết kế bộ bàn ghế uống trà phòng khách: 1 bàn trà; 2 ghế đơn; 1 ghế đôi
- Sử dụng vật liệu mây, tre thân thiện với môi trường
- Thiết kế đảm bảo: độ an toàn, tiện nghi khi sử dụng
- Thiết kế có vẻ đẹp đơn giản, tinh tế, trang nhã, hoài cổ và độc đáo dựa trên
vẻ đẹp tự nhiên của vật liệu
- Thiết kế có tính gia công cao
- Thiết kế có khả năng thương mại cao
4.2.Ý tưởng thiết kế, tạo hình sản phẩm
- Ý tưởng lấy cảm hứng thiết kế theo phong cách đồ mộc truyền thống Trung
Quốc, đặc biệt là đồ mộc nhà Minh
- Cụ thể là:
+ Tạo hình thiết kế chủ yếu dựa trên đường thiết kế Chi tiết diện tròn thiết kế
(theo phong cách nhà Minh)
+ Dựa trên vẻ đẹp tự nhiên của vật liêu: mây, tre (phong cách nhà Minh)
+ Thiết kế lưng tựa, tay vịn ghế tạo hình từ loại ghế nổi tiếng nhà Minh
+ Thiết kế giằng chân sát đất (phong cách đồ mộc Minh, Thanh) + Thiết kế điểm trang trí ở vai và chân ghế (phong cách đồ mộc Minh, Thanh)
Trang 191 ghế đôi
- Ghế đôi có các kích thước cao từ chân đến mặt ngồi 440mm, cao từ mặt ngồi đến
tựa lưng 300mm, cao từ mặt ngồi đến tựa đầu 450mm; rộng 2000mm và sâu 600mm
- Đường kính chân ghế trước sau 100mm
- Các chi tiết giằng có đường kính 50mm; 30mm
- Chiều cao tay vịn 250mm
- Các chi tiết hình móc câu trang trí hai bên và phía sau ghế
2 ghế đơn
- Ghế đơn có các kích thước cao từ chân đến mặt ngồi 440mm, cao từ mặt ngồi đến tựa
lưng 300mm, cao từ mặt ngồi đến tựa đầu 450mm; rộng 600mm và sâu 600mm
- Đường kính chân ghế trước sau 100mm
- Các chi tiết giằng có đường kính 50mm; 30mm
- Chiều cao tay vịn 250mm
- Các chi tiết hình móc câu trang trí hai bên và phía sau ghế
Hình 4.1 Bộ bàn ghế sofa tre phòng khách
Đánh giá qua tiêu chí : Công năng sử dụng, hình thức ngoại quan, tính mới, tính
độc đáo, khả năng gia công, tính thân thiện với môi trường Dùng phương pháp chuyên gia người đánh giá bộ sản phẩm gồm 3 người là những người có khinh nghiệm về sản xuất, gia công sản phẩm nội thất, có kiến thức về kết cấu, hình thái sản phẩm và 1 người
sử dụng thì nhận thấy:
• Ưu điểm
- Có công năng sử dụng cao
- Phù hợp với nhân trắc con người
- Tạo hình đẹp, độc đáo và mới lạ
- Vật liệu thân thiện với môi trường
• Nhược điểm
- Tạo hình chưa thống nhất
- Các liên kết chưa chắc chắn
- Chưa đảm bảo về chịu lực
- Khó có khả năng thi công
- Các chi tiết giằng có đường kính 70mm; 50mm và liên kết so le
- Chi tiết mây liên kết giữa vai bàn và chân bàn lấy cảm hứng theo phong cách thiết kế Minh-Thanh
1 ghế đôi
- Ghế đôi có các kích thước cao từ chân đến mặt ngồi 440mm, cao từ mặt ngồi đến tựa lưng 460mm, cao từ mặt ngồi đến tựa đầu 600mm; rộng 2200mm và sâu 700mm
- Đường kính chân ghế trước sau 100mm
- Các chi tiết giằng có đường kính 70mm; 60mm; 50mm; 30mm
- Chiều cao tay vịn 250mm
- Chi tiết mây liên kết giữa vai bàn và chân bàn lấy cảm hứng theo phong cách thiết kế Minh-Thanh
Trang 20 2 ghế đơn
- Ghế đơn có các kích thước cao từ chân đến mặt ngồi 440mm, cao từ mặt ngồi
đến tựa lưng 460mm, cao từ mặt ngồi đến tựa đầu 600mm; rộng 800mm và sâu 700mm
- Đường kính chân ghế trước sau 100mm
- Các chi tiết giằng có đường kính 70mm; 60mm; 50mm; 30mm
- Chiều cao tay vịn 250mm
- Chi tiết mây liên kết giữa vai bàn và chân bàn lấy cảm hứng theo phong cách
thiết kế Minh-Thanh
Hình 4.2 Bộ bàn ghế sofa tre phòng khách
Đánh giá qua tiêu chí : Công năng sử dụng, hình thức ngoại quan, tính mới, tính
độc đáo, khả năng gia công, tính thân thiện với môi trường Dùng phương pháp chuyên
gia người đánh giá bộ sản phẩm gồm 3 người là những người có khinh nghiệm về sản
xuất, gia công sản phẩm nội thất, có kiến thức về kết cấu, hình thái sản phẩm và 1 người
sử dụng thì nhận thấy:
• Ưu điểm
- Công năng sử dụng cao
- Phù hợp với nhân trắc con người
- Tạo hình đẹp, độc đáo mới lạ, phong cách thiết kế có ý tưởng rõ ràng
- Thân thiện với môi trường
- Tính thống nhất bộ sản phẩm cao
- Có tính gia công cao
- Liên kết và chịu lực chắc chắn
• Nhược điểm
- Sự thoải mái của người sử dụng chưa hoàn toàn do thiết kế lưng tựa thẳng, góc
giữa mặt ngồi và lưng tựa 90 độ chưa thật phù hợp với sự thoải mái cho người sử dụng
Từ phân tích và đánh giá ưu nhược điểm của bộ sản phẩm qua hai phương án trên nhận thấy phương án 2 đã khắc phục được hoàn toàn những nhược điểm của
phương án 1 do đó lựa chọn phương án 2 là phương án thiết kế chính thức của tác giả
4.4.Thuyết minh thiết kế
Bộ sản phẩm gồm có: 1 bàn trà; 1 ghế sofa tre đôi; 2 ghế sofa tre đơn
Trong đó cụ thể như sau:
- Bàn trà có các kích thước cao 600mm; rộng 600mm và dài 1400mm
- Đường kính chân bàn 100mm
- Các chi tiết giằng có đường kính 70mm; 50mm và liên kết so le
- Chi tiết mây liên kết giữa vai bàn và chân bàn lấy cảm hứng theo phong cách thiết
kế Minh-Thanh
- Ghế đôi có các kích thước cao từ chân đến mặt ngồi 440mm, cao từ mặt ngồi đến tựa lưng 460mm, cao từ mặt ngồi đến tựa đầu 600mm; rộng 2200mm và sâu 700mm