Quá trình triển khai và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian qua, bên cạnh những thành công đáng khích lệ, thể hiện trên nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PGS.TS NGUYỄN VĂN TIỆP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN VÀ CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào Stiêng xã Minh Lập – huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước” là công trình nghiên cứu riêng của tôi
Các dữ liệu trong luận văn được sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm và các thầy cô Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong suốt những năm học ở
trường
Tôi xin chân thành cám ơn Ủy ban Nhân dân xã Minh Lập đã tạo
điều kiện cho tôi khảo sát trong thời gian làm Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Văn Tiệp đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình, mái ấm thân yêu đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian làm luận văn
TP HCM, ngày 10 tháng 04 năm 2010 Tác giả luận văn
Hoàng Mạnh Tưởng
Trang 3
UBND : Ủy ban nhân dân
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
Trang 4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài. 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu. 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
3 1 Mục tiêu tổng quát 9
3.2 Mục tiêu cụ thể 9
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. 10
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1 Các khái niệm liên quan 14
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến dân tộc 14
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến chính sách 17
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến hiệu quả 20
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 22
1.2.1 Lý thuyết tộc người 22
1.2.2 Lý thuyết cơ cấu chức năng 25
1.2.3 Lý thuyết xung đột 26
1.2.4 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 28
1.2.5 Lý thuyết về nghèo và giảm nghèo 28
1.3 Khung phân tích 33
1.5 Khái quát về xã Minh Lập và đặc điểm mẫu nghiên cứu 34
1.5.1 Khái quát về xã Minh Lập 34
Trang 51.5.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 37
1.6 Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện tại xã Minh Lập 40
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO STIÊNG XÃ MINH LẬP 47
2.1 Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - hội đối với đồng bào Stiêng xã Minh Lập 47
2.1.1 Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng 47
2.1.2 Chính sách hỗ trợ đất và nhà ở 51
2.1.3 Chính sách hỗ trợ giải quyết nước sinh hoạt 56
2.1.4 Chính sách hỗ trợ cây, con giống 61
2.1.5 Chính sách trợ giá, trợ cước 67
2.1.6 Chính sách tín dụng và tạo việc làm 71
2.1.7 Chính sách về giáo dục, y tế 74
2.2 Vai trò chính quyền cấp xã trong việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào DTTS. 79
2.3 Tác động của chính sách phát triển kinh tế -xã hội đến đời sống của đồng bào Stiêng xã Minh Lập 83
2.4 Một số yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào DTTS. 90
Kết luận chương 2. 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
3.1 Kết luận 93
3.2 Khuyến nghị 96
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với dân số gần 12 triệu người, chiếm 14% dân số cả nước Các dân tộc thiểu số sống xen kẽ và có số dân không đồng đều, chủ yếu ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, điều kiện vật chất, tinh thần còn khó khăn, vì vậy Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm cho khu vực này bằng việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc của đời sống đồng bào dân tộc thiểu số Quá trình triển khai và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian qua, bên cạnh những thành công đáng khích lệ, thể hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa giáo dục Các hệ thống cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bước đầu được thực hiện và đi vào cuộc sống Nhiều mô hình phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả của hộ gia đình, thôn, buôn, xã, huyện được nhân rộng Người dân thiểu số trên địa bàn tỉnh đã bước đầu nhận thức được nhu cầu, quyền lợi
và trách nhiệm của mình trong phát triển kinh tế - xã hội và ngày càng chủ động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho chính mình
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình triển khai thực hiện các chính sách, chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội đối với người dân tộc thiểu số những năm qua còn bộc lộ nhiều bất cập như hiệu quả đạt được của các chính sách là không cao, tốc độ giảm nghèo chậm và bấp bênh, chưa có sự vận dụng sáng tạo các văn kiện, chính sách vào thực tiễn, ảnh hưởng của mô thức đồng bằng lên miền núi và vùng đồng bào dân tộc còn
rõ nét
Trang 8Để tăng cường tính hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Stiêng tỉnh Bình Phước nói riêng thì việc nghiên cứu tác động của các chính sách phát triển kinh tế -
xã hội đến đời sống của họ là việc việc làm cần thiết kể cả mặt lý luận và thực tiễn Hiện nay, các công trình nghiên cứu về vấn này ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Phước nói riêng đã được rất nhiều các tổ chức, cơ quan
và ban ngành quan tâm Tuy nhiên các công trình này thường chỉ dừng lại ở quan điểm lý luận, những báo cáo dưới dạng chuyên đề, chưa đi sâu vào nghiên cứu thực nghiệm
Trên cơ sở đó, tác giả chọn thực hiện đề tài “Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đời sống người Stiêng” để làm luận văn cao học cho khóa học của mình
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
đã và đang được nhiều cơ quan, tổ chức và nhà nghiên cứu quan tâm Phần lớn các công trình nghiên cứu về vấn đề này tập trung vào một số nội dung sau
Vấn đề chung về công tác dân tộc
Trong nghiên cứu “Một số vấn đề phát triển miền núi trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2002) của TS Trần Văn Thuật
Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác dân tộc để nêu lên những thành tựu và hạn chế của công tác dân tộc mà Đảng
và Nhà nước đã thực hiện Chẳng hạn, về thành tựu tác giả đã chỉ ra được những thành tựu mà công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước đã đạt được như kinh tế tăng trưởng khá, bình quân GDP chung của các tỉnh miền núi hàng năm tăng 8% Cơ cấu kinh tế miền núi chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng
Trang 9công nghiệp dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp Cơ sở hạ tầng miền núi được chú trọng đầu tư phát triển, phần lớn các xã miền núi đã có nhiều ô
tô Đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi không ngừng được cải thiện,
số hộ đói nghèo bình quân hàng năm giảm 3 – 4% Công tác giáo dục và chăm sóc y tế đã được chú trọng; Trật tự an ninh, quốc phòng không ngừng được củng cố và giữ vững Bên cạnh những thành tựu đó, tác giả cũng đã chỉ
ra những hạn chế như miền núi vẫn là vùng kinh tế lạc hậu, chậm phát triển so với cả nước, khoảng cách giàu nghèo giữa miền núi và miền xuôi có xu hướng ngày càng tăng Những khó khăn, thách thức hiện nay miền núi đang phải đối mặt, đó là đói nghèo, dân số tăng nhanh, suy thoái môi trường sinh thái và mất dần các giá trị văn hóa truyền thống
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số định hướng chính sách phát triển giảm nghèo miền núi trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đẩy nhanh nhịp độ phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc để mau chóng hòa nhập với dòng phát triển chung của quốc gia, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Hà Quế Lâm với đề tài “Chính sách dân tộc qua 15 năm đổi mới và thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2002) Trong bài viết
này, tác giả nêu ra một số các chương trình dự án của Đảng và Nhà nước đã thực hiện đối với vùng dân tộc trong 15 năm đổi mới như Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo theo quyết định số 133/1998/QĐ – TTg, Chương trình xây dựng trung tâm cụm xã theo quyết định số 35/QĐ – TTg, Chương trình phát triển giảm nghèo các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa theo quyết định số 135/1998/QĐ – TTg, Chương trình trợ cước, trợ giá theo nghị định số 20/1998/NĐ – CP… Qua đó tác giả đánh giá những thành tựu và hạn chế của các chương trình dự án đối với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như đối với các tỉnh miền núi ở nước ta Trên cơ sở
Trang 10đó, tác giả đưa ra một số định hướng về xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đặng Nghiêm Vạn với đề tài “Những biện pháp thích hợp với từng dân tộc trong việc định hướng chính sách dân tộc” (2002) Trên cơ sở
nghiên cứu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam và thực tiễn công tác dân tộc trong thời qua Tác giả đã chỉ ra những khiếm khuyết trong việc xây dựng chính sách dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc như chính sách, chủ trương chung chung, chỉ thích hợp với những dân tộc lớn, những vùng thuận lợi cho sự phát triển giảm nghèo, cán bộ làm công tác dân tộc không đi sâu, đi sát địa bàn mình phụ trách, thiếu những tri thức về đời sống các dân tộc, tức là những tri thức về dân tộc học…Tác giả đã đưa ra những biện pháp trong việc định hướng chính sách dân tộc Đó là cần phối hợp giữa cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý cũng như với các địa phương; cần phải có những nghị quyết riêng cho từng dân tộc, cũng như cho từng vùng dân tộc, cho mỗi nhóm dân tộc và nhóm địa phương cá biệt; các ngành, các cấp cần có sự hiểu biết đầy đủ về dân tộc học, về các dân tộc và văn hóa các dân tộc để có thể vận dụng đúng đắn và đầy đủ vào việc quy hoạch chương trình công tác của ngành mình
Công trình nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Nam “Về chính sách phát triển các dân tộc vùng Đông Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Trong bài viết này, tác giả sử dụng cách tiếp cận tổng thể
để đưa ra những góc nhìn khác nhau về vấn đề dân tộc Nội dung tác giả đề cập trong bài viết chủ yếu là phương pháp xây dựng chính sách phát triển các dân tộc vùng Đông Bắc như là phải xác định mục tiêu, định hướng phát triển, xác định thế mạnh của vùng….trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số chính sách
mà tác giả cho là phù hợp nhất dựa trên cách tiếp cận tổng thể để phát triển các dân tộc vùng Đông Bắc nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 11hóa Tuy nhiên đây chỉ là suy nghĩ và định hướng của tác giả về chính sách phát triển các dân tộc vùng Đông Bắc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vấn đề thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người dân tộc thiểu số
Lê Hải Đường với bài viết “Một số chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Trong bài viết, tác giả dựa trên tình hình chung của các
tỉnh miền núi phía Bắc để nêu lên những lợi thế và hạn chế trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp Về mặt lợi thế, là vùng có điều kiện sinh thái thích hợp (khí hậu, đất đai…), trong vùng có một số khu công nghiệp, đô thị như
Hạ Long, Việt Trì, Thái Nguyên, Hòa Bình, có nhiều tiềm năng du lịch và cửu khẩu quốc tế Về mặt hạn chế, là vùng địa hình bị chia cắt, đất dốc, nguồn nước thiếu, kết cấu hạ tầng thấp kém, tỷ lệ hộ đói nghèo cao (15,3%) Sau đó, tác giả đã nêu lên những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển kinh tế nông nghiệp, cải tiến miền núi phía Bắc như chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, chính sách về tài chính tín dụng, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chính sách hỗ trợ và chuyển giao công nghệ… Qua đó tác giả đã khái quát lên những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc Tác giả cho rằng, nhìn chung các chính sách được thực hiện khá tốt và
đã thu được những kết quả đáng khích lệ, cải thiện được đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, góp phần giữ vững trật tự an toàn
xã hội và an ninh quốc phòng, tạo cơ sở cho kinh tế phát triển Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số phương hướng và giải pháp để phát triển bền vững kinh
tế nông nghiệp các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 12Trong nghiên cứu “Chương trình 135 – Kết quả, bài học của giai đoạn I và những vấn đề đặt ra với giai đoạn tiếp theo” của TS Nguyễn
Văn Tiêm Trong nghiên cứu này, tác giả chủ yếu dựa trên phương pháp tổng kết thực tiễn của chương trình 135, giai đoạn I (1999 – 2000), để khái quát lên mục tiêu, kết quả và ý nghĩa của việc thực hiện chương trình 135 đối với đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc các xã đặc biệt khó khăn trong cả nước Qua đó, tác giả đã chỉ ra một số bài học mà chúng ta cần phải rút kinh nghiệm để bị cho những giai đoạn tiếp theo như tầm vóc của chương trình vượt quá khả năng của cán bộ địa phương, chương trình được triển khai trên một diện rộng nên chưa lấp hết được khoảng trống lớn về thiếu hụt cơ sở
hạ tầng… Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ to lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này
Trong bài viết “Phát triển kinh tế cộng đồng nông thôn và bảo vệ tài nguyên rừng: Nghiên cứu trường hợp từ người dân tộc thiểu số” của GS
TS Donovan Woollard trong Hội thảo Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn giảm nghèo với cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam và Canada diễn ra tại Thành phố Vũng Tàu từ ngày 10-11/12/2002 Trong bài viết này, tác giả dựa trên những số liệu báo cáo của các cơ quan trung ương và các công trình nghiên cứu của một số tác giả Việt Nam để nói về thực trạng và nguyên nhân nghèo đói của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số đề xuất nhằm phát triển kinh tế người dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Đỗ Thị Bình với nghiên cứu “Giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu sổ từ cách tiếp cận giới” Dựa trên số liệu báo cáo về tình hình nghèo đói của các
dân tộc thiểu số và thông qua nghiên cứu trường hợp về người Cờ Ho xã Lộc Nam, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tác giả đã nêu sự cần thiết phải có cách tiếp cận riêng để tìm ra phương thức giảm nghèo có hiệu quả ở vùng dân
Trang 13tộc thiểu số và tác giả đã đưa ra phương thức tiếp cận giới để xem xét sự tương đồng và khác biệt giữa phụ nữ và nam giới, cơ chế tác động của quan
hệ giới trong quá trình phân tích từng vấn đề trong việc xây dựng các giải pháp giảm nghèo Trong nghiên cứu này, tác giả nêu lên khoảng cách về giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, trong các cơ hội kinh tế, quyền lực và tiếng nói chính trị Từ đó, tác giả chỉ ra sự bất bình đẳng giới về các lĩnh vực trên như về lĩnh vực đất đai, 80% là đàn ông đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng các loại đất canh tác, đất rừng Về khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn nam giới trong việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức Về tiếp cận tiến bộ khoa học kĩ thuật, thông tin thị trường, phụ nữ ít có cơ hội hơn nam giới… Qua đó, tác giả chỉ ra sự cần thiết phải đưa vấn đề giới vào nghiên cứu giảm nghèo và thực hiện các chính sách giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Nhóm giảm nghèo dân tộc LPRV với nghiên cứu “Nghèo đói và một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” Trong nghiên cứu
này, nhóm tác giả chủ yếu dựa trên số liệu báo cáo về công tác xóa đói giảm nghèo của các ban ngành Trung ương và địa phương, và một số công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Qua đó, nhóm tác giả nêu lên thực trạng và nguyên nhân nghèo đói của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay Cùng với việc nêu lên những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian qua Từ đó, nhóm tác giả đã đưa ra một số quan điểm và giải pháp then chốt cho giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trong nghiên cứu giảm nghèo của TS Bùi Minh Đạo về “Giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam trong những năm đổi mới: chính sách, thực hiện chính sách và đánh giá” Về nội dung nghiên cứu, tác giả chủ yếu
Trang 14dựa trên những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong những năm đổi mới Thông qua số liệu báo cáo của các ban ngành Trung ương và địa phương tác giả nêu lên thực trạng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiếu số nước ta trong những năm đổi mới Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá về việc thực hiện chính sách giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong thời gian đổi mới như về thành tựu các chính sách này thể hiện được sự ưu đãi các dân tộc thiểu số hơn hẳn so với người Kinh và so với nhiều dân tộc thiểu số trong khu vực và thế giới, giảm nghèo toàn diện chứ không chỉ giảm nghèo về kinh tế… Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra những bất cập như thiếu sự tham gia của người dân và các bên hữu quan trong việc lập các chương trình, dự án giảm nghèo, chưa có sự coi trọng, kế thừa các tri thức bản địa trong các chương trình dự án giảm nghèo, các chính sách còn dừng ở mức vĩ mô, hiệu quả các chính sách không cao, tốc độ giảm nghèo chậm và bấp bênh
Các công trình nghiên cứu về người Stiêng và các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước
Phan An với nghiên cứu “Hệ thống xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam
từ giữa thế kỷ 19 đến năm 1975” Trong công trình này, tác giả chủ yếu sử
dụng cách phân tích hệ thống và phân tích biện chứng để tìm hiểu về hệ thống
xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam Đối tượng quan tâm của tác giả trong công trình nghiên cứu này là các yếu tố, các quan hệ cấu thành hệ thống xã hội tộc người Stiêng như hệ thống thân thuộc, các tập hợp người, hệ thống quản lý, cơ chế vận hành,…Qua đó tác giả xem xét các yếu tố và quan hệ cấu thành hệ thống đó trong mối quan hệ hữu cơ với cơ sở tồn tại như môi sinh tộc người, các hoạt động kinh tế, chế độ sở hữu đất rừng, vv
Trang 15Ngô Văn Lý với nghiên cứu “Xã hội tộc người Stiêng qua tập quán
pháp” Trong công trình này, tác giả sử dụng một số phương pháp như phân
tích, so sánh và nghiên cứu điền dã để tìm hiểu về một số nội dung cơ bản của tập quán pháp Stiêng trong một số lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và có so sánh với các xã hội tộc người láng giềng cùng cư trú ở Đông Nam Bộ - Tây Nguyên qua tập quán pháp Qua qua nghiên cứu này, tác giả muốn nhận diện đầy đủ hơn về xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam
Lê Khắc Cường với nghiên cứu “Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng” Với
phương pháp miêu tả cấu trúc, kết hợp với phương pháp đối chiếu và phương pháp ngữ âm học thực nghiệm, tác giả muốn tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến bình diện ngữ âm học – âm vị học của tiếng Stiêng Trên cơ sở đó, tác giả muốn đưa ra một cái nhìn tổng thể về ngữ âm tiếng Stiêng trong bối cảnh chung của các ngôn ngữ Nam Banar để làm cơ sở cho chương trình giáo dục song ngữ
3 Mục tiêu nghiên cứu
3 1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đời sống đồng bào Stiêng hiện nay Từ đó góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND và Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước nhằm xây dựng, hoạch định và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người Stiêng nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số nói chung
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu hiểu một số chính sách cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước và địa phương đối với đồng bào Stiêng
Trang 16- Tìm hiểu hiệu quả của việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đến đời sống người Stiêng trên một số lĩnh vực như: thu nhập, nhà ở, nước sinh hoạt, việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và sinh hoạt văn hóa
tinh thần
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường tính hiệu quả của việc
thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người Stiêng
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào Stiêng xã Minh Lập
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình người Stiêng tại xã
Minh Lập, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Trang 175 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng giúp tác giả nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người Stiêng nhằm giúp cho những nhà hoạch định và thực thi chính sách có cơ sở để tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và người Stiêng nói riêng
Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý
và thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như những người quan tâm đến vấn đề này
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp luận
để tìm hiểu các vấn đề cần nghiên cứu
Trang 186.2 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
6.2.1 Thu thập phân tích nguồn tư liệu sẵn có
Trong giai đoạn bắt đầu nghiên cứu, chúng tôi sẽ thu thập các tài liệu thống kê và các công trình nghiên cứu trước, các báo cáo tổng hợp về dân số, đất đai, giáo dục, y tế, văn hóa,…của người dân tộc thiểu số nói chung và người Stiêng nói riêng Các tài liệu này sẽ được phân tích, tổng hợp, xử lý và phân loại theo từng vấn đề nghiên cứu để phục vụ cho đề tài
6.2.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua công cụ phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu 27 trường hợp:
- 20 hộ gia đình người Stiêng sinh sống tại 2 buôn trong xã
- 7 người là cán bộ chính quyền, tổ chức cơ sở Đảng, MTTQ và các
tổ chức thành viên ở địa phương
6.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Để có được những thông tin khách quan và nhiều chiều, tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung Cụ thể, tác giả tiến hành hai thảo luận nhóm (mỗi nhóm từ 5 – 7 người): nhóm những hộ gia đình người Stiêng và nhóm những người là cán bộ chính quyền xã Minh Lập
Trang 19- Về thu nhập: chúng tôi chia thành 3 nhóm: khá giả (6 hộ), trung bình
(6 hộ), nghèo (8 hộ)
- Về loại hình kinh tế: chúng tôi chia làm 3 loại: đa canh (6 hộ), chuyên
canh (6 hộ), xen canh (8 hộ)
- Về độ tuổi: chúng tôi chia làm 3 loại: trên 45 tuổi (6 hộ), từ 44 – 30 tuổi
(6 hộ), dưới 30 tuổi (8 hộ)
Đối với cán bộ địa phương: chúng tôi chọn những người đứng đầu tổ chức chính quyền, tổ chức cơ sở đảng, MTTQ và các tổ chức thành viên ở địa phương
6.4 Phương pháp sử lý thông tin
Đối với số liệu thống kê tác giả xem xét, so sánh đối chiếu và trong một
số trường hợp xử lý và phân tích nội dung với các báo cáo tình hình
Đối với các thông tin thu thập được từ các cuộc phỏng vấn sâu và đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân, tác giả sẽ phân tích định tính liệt kê, phân loại và nhóm những thông tin thu được dùng để trích dẫn trong một số trường hợp cần thiết cho sự minh chứng trong báo cáo
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến dân tộc
Dân tộc
Khái niệm “dân tộc” là một khái niệm được các nhà khoa học rất quan tâm Bởi vì cho đến nay khái niệm này vẫn còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau Tuy nhiên, khái niệm này ở nước ta được dùng với hai nghĩa:
1 Khi nói đến dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày hay dân tộc Ba Na chúng
ta hiểu đó là một cộng đồng tộc người, gọi tắt là tộc người tương ứng với thuật ngữ ethnicity
2 Khi gọi là dân tộc Việt Nam ta lại hiểu đó là quốc gia Việt Nam với một chỉnh thể chính trị nhất định, có lãnh thổ, có tiếng nói giao tiếp chung giữa các tộc người trong một quốc gia, có một ý thức tự giác của mỗi người là thành viên của dân tộc đó bên cạnh về ý thức tộc người của mình Dân tộc hiểu theo ý nghĩa này dùng để chỉ thuật ngữ dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc [16; tr.67]
Như vậy khái niệm dân tộc cần được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là quốc gia dân tộc Tuy nhiên trong luận văn này, tác giả chỉ sử dụng khái niệm dân tộc tương ứng với thuật ngữ tộc người (ethnicity)
Dân tộc thiểu số
Khái niệm dân tộc thiểu số được phát sinh vào thế kỷ XIX ở phương Tây, sau đó lan rộng ra toàn thế giới cùng với quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân Cho đến nay, khái niệm dân tộc thiểu số được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau
Trang 21Theo từ điển tiếng Việt: Dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số dân ít so với số dân đông nhất trong một nước nhiều dân tộc (Viện Ngôn ngữ, 1998)
Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995 định nghĩa: Dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư trú trong một quốc gia thống nhất đa dân tộc, trong đó, có một dân tộc chiếm dân số đông Trong các quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về Tổ quốc mình sinh sống
và ý thức về dân tộc mình Các dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác, xen kẽ nhau, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn Vì vậy, Nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa bỏ những chênh lệch trong
sự phát triển kinh tế xã hội giữa các dân tộc đông người và các dân tộc thiểu
số
Giáo sư Louis Wirth, Trường Đại học Chicago (Mỹ) cho rằng: Dân tộc thiểu số là nhóm người có một số nét đặc thù về ngoại hình, thể chất, hay văn hóa, bị đối xử khác biệt, bất bình đẳng so với các thành viên khác của xã hội
và do đó tự coi mình là đối tượng của một sự kỳ thị tập thể
Từ điển Bách khoa các dân tộc Mỹ, xuất bản năm 1962 quan niệm: Dân tộc thiểu số là nhóm người có những đặc điểm riêng về nhân chủng, tôn giáo,
xã hội và kinh tế khác biệt với nhóm chủ yếu trong xã hội
Liên Hiệp Quốc (1982) định nghĩa: Dân tộc thiểu số là tập hợp những người có lịch sử và diện mạo văn hóa riêng, tồn tại và phát triển trên phần lãnh thổ thường là cách biệt với các vùng trung tâm cho đến trước khi bị xâm nhập bởi các xã hội từ bên ngoài Họ tồn tại như những bộ phận xã hội dễ bị tổn thương và dễ nằm ngoài lề của sự phát triển
Trang 22Ngân hàng Phát triển Châu Á (1999) cho rằng: Dân tộc thiểu số là nhóm người có đặc điểm xã hội, văn hóa khác biệt với các dân tộc đa số Các đặc điểm này làm cho họ bất lợi trong quá trình phát triển của mình
Ngân hàng Thế giới (2000) đưa ra định nghĩa rất chi tiết và cụ thể: Dân tộc thiểu số là các cộng đồng người có đặc điểm riêng biệt liên quan tới tính gắn bó với đất đai tổ tiên, với các thiết chế xã hội truyền thống, sản xuất tự cung tự cấp, có ngôn ngữ, nhân dạng, bản sắc xã hội và văn hóa khác hẳn với những người đa số Sản xuất tự cung, tự cấp là đặc điểm kinh tế nổi bật Do những hoàn cảnh riêng, họ thường có địa vị xã hội và kinh tế thấp Tất cả những điều đó làm hạn chế khả năng bảo vệ các lợi ích và chủ quyền về đất đai và nguồn lực sản xuất khác, hạn chế khả năng tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển cho chính họ, cũng như làm cho họ dễ bị thiệt thòi trong quá trình phát triển Về mặt đời sống và thu nhập, các dân tộc thiểu số là bộ phận dân cư nghèo nhất trong xã hội Văn hóa, đất đai và các nguồn lực được kết hợp với nhau một cách độc đáo và dễ bị tổn thương bởi các thay đổi do các dự án phát triển gây ra [21]
Theo các định nghĩa trên, ở Việt Nam, trừ người Kinh là dân tộc đa số, các dân tộc còn lại đều là dân tộc thiểu số
Tộc người
Tộc người là khái niệm nền tảng của Dân tộc học (Ethnology, Ethnography) cũng như Nhân học (Anthropology) Tuy nhiên hiện nay người
ta vẫn chưa hoàn toàn thống nhất được với nhau về khái niệm tộc người
Theo Từ điển nhân học (Thomas Barfiel 1998): Nhóm tộc người, tộc người là những thuật ngữ được dùng lần đầu tiên trong nhân học dùng để chỉ một dân tộc được xem cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc
Trang 23biệt, cùng một ngôn ngữ - một nền văn hóa và ngôn ngữ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không thay đổi
Theo giáo trình Dân tộc học đại cương (2002) do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) định nghĩa: Tộc người là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người
có ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình [11; tr.20]
Giáo trình Nhân học đại cương cho rằng “tộc người là một tập đoàn người ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thể hiện bằng một tộc danh chung” [16; tr.71]
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến chính sách
Chính sách
Hiện nay, trong các tài liệu khoa học cũng như thực tiễn, thuật ngữ
chính sách được dùng với nhiều nghĩa khác nhau
Theo James Anderson: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hay nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn
đề mà họ quan tâm [13: tr 5]
Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để quản lý một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình [7; tr.15]
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thể hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lãnh vực cụ thể
Trang 24nào đó Bản chất, nội dung và phương pháp của chính sách tùy thuộc vào tính chất, đường lối, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa,…[14]
Xét theo nghĩa hẹp:
Chính sách kinh tế - xã hội (chính sách công) là quyết sách của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chín muồi đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, thông qua hoạt động thực thi của các ngành các cấp có liên quan trong bộ máy Nhà nước [7; tr.4]
Chính sách là phương thức hành động của Nhà nước để tác động tới kết quả của các sự kiện kinh tế - xã hội, bao gồm một tập hợp mục tiêu của Nhà nước và các phương pháp được lựa chọn để theo đuổi các mục tiêu đó [30; tr.8]
Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp và các thủ thuật mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt đến các mục tiêu trong số những mục tiêu chiến lược chung của đất nước [20; tr 2]
Tóm lại: Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể
Trang 25kinh tế - xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước
Chính sách dân tộc
Chính sách dân tộc ở nước ta là toàn bộ những chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc và có thể đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm thay đổi tình trạng lạc hậu, biệt lập, phân biệt, bất bình đẳng giữa các dân tộc, hướng tới sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau cùng phát triển
Các chính sách chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và với các vùng dân tộc gồm:
- Chính sách về phát triển kinh tế: gồm nhóm các chính sách về sở hữu,
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học công nghệ và phát triển kinh tế hàng hóa,…
- Chính sách phát triển văn hóa ở vùng dân tộc nhằm giữ gìn, phát triển
những yếu tố về truyền thống, ngôn ngữ, chữ viết, những yếu tố cơ bản, đặc trưng của từng dân tộc
- Chính sách chính trị - xã hội: là những chính sách gắn liền với chính
sách về kinh tế, văn hóa như chính sách định canh định cư, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách ưu đãi, khuyến khích trong đào tạo sử dụng cán bộ là người dân tộc, chính sách xây dựng, củng cố an ninh trật tự vùng biên cương, hình thành các trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa (ở các tỉnh, huyện, xã), các chính sách phân cấp giữa chính quyền trung ương với các cấp hành chính
ở địa phương…
Trang 26- Chính sách tôn giáo: là mảng chính sách đặc trưng với đồng bào dân
tộc thiểu số, bởi đại đa số các tộc người trên đất nước ta đều có đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo phong phú [26; tr 53 – 54]
Tóm lại: chính sách dân tộc là một bộ phận của chính sách công (chính sách quốc gia) nhằm phát triển, khai thác tiềm năng, thế mạnh, truyền thống của các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc trong quan hệ hữu cơ với các vùng khác, hướng tới phát triển đất nước trong tổng thể Chính sách dân tộc mặc
dù hướng vào giải quyết vấn đề dân tộc, nhưng cũng có nội dung toàn diện,
đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống dân tộc từ kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, truyền thống của mỗi địa phương, mỗi dân tộc [26; tr 55]
Trong luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu các chính sách kinh tế - xã hội với nội dung như là một công cụ quản lý của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số Các chính sách này còn được gọi là chính sách dân tộc
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến hiệu quả
Hiệu quả
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian Trong xã hội học, hiệu quả xã hội, tức là
có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội, đối với sự phát triển của lĩnh vực đó [28 – tr239]
Trang 27Hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ giữa kết quả của nền sản xuất xã hội (xét trên cả hai mặt kinh tế và xã hội) và các nguồn phương tiện tạo ra nó; được đánh giá thông qua thước đo thực hiện mục tiêu của một phương thức sản xuất nhất định và những nhiệm vụ kinh tế và xã hội của từng thời kì, từng kế hoạch dài hạn và kế hoạch hằng năm Các tiêu chuẩn
và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của các phương thức sản xuất khác nhau thì không giống nhau Khi xét hiệu quả của nền sản xuất xã hội, cần phân biệt
và xét cả 2 mặt: kinh tế và xã hội - hai mặt gắn bó, tác động qua lại và thống nhất với nhau Cần phải xét các mối quan hệ xã hội trong sản xuất và phân phối, gắn với bản chất và mục đích của phương thức sản xuất; ở Việt Nam là gắn với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, nhằm mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh [28 – tr240]
Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích kinh tế và xã hội mà chính sách đem lại như: Việc làm, mức tăng về thu nhập, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái Trong đó, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa các lợi ích xã hội thu được và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất [7 – tr35] Như vậy, khái niệm hiệu quả và hiệu quả của chính sách phát triển kinh
tế - xã hội có nội hàm rất rộng, vì vậy nếu chúng ta chiếu theo khái niệm trên
để đo lường hiệu quả thì sẽ rất khó và sẽ tốn rất nhiều thời gian, công sức Do
Trang 28vậy, trong đề tài này khái niệm hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội được hiểu là những lợi ích mà các chính sách này mang lại cho cộng đồng như việc làm, thu nhập, điều kiện sống, tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và đời sống văn hóa tinh thần
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết tộc người
Tộc người là khái niệm nhập môn trong nghiên cứu nhân học và xã hội học nhưng nó mới chỉ bắt đầu được sử dụng từ sau chiến tranh thế giới II nhằm thay thế những từ cổ hơn như “bộ lạc” và “chủng tộc” theo cách dùng của người Anh Tuy nhiên hiện nay người ta vẫn chưa hoàn toàn thống nhất được với nhau về khái niệm tộc người và định nghĩa thế nào là tộc người cũng như tiêu chí đặc trưng của tộc người Nên việc xây dựng một lý thuyết để làm căn cứ xác định thành phần dân tộc ở mỗi quốc gia cũng có một vài khác biệt Hiện nay, tùy từng quốc gia, từng khu vực trên thế giới và tùy từng trường phái khoa học mà người ta vận dụng các trường phái khác nhau của các nhà khoa học để làm căn cứ xác định thành phần dân tộc cho quốc gia mình Tuy vậy, phổ biến nhất hiện nay vẫn là sự dụng quan điểm của ba trường phái: Trường phái của các nhà khoa học Pháp, đại diện là F Regnault, R Breton, V Bromlei,…cho rằng tộc người (ethnos) là một nhóm cá nhân liên kết lại với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung – về mặt nhân chủng, chính trị - lịch sử,… mà sự kết hợp các tính chất đó làm thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa là chủ yếu: một nền văn hóa riêng Như thế, tộc người được xem là một tập thể hay đúng hơn là một cộng đồng gắn
bó với nhau bởi nền văn hóa riêng biệt
Trường phái của các nhà khoa học Anh, đại diện tiêu biểu Malinowski ,
N Glager và D Monik cho rằng, nhóm tộc người, tộc người làm một dân tôc
Trang 29được xem cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc biệt, cùng một ngôn ngữ - một nền văn hóa và ngôn ngữ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không thay đổi
Còn theo quan điểm của các nhà khoa học Liên xô cũ và Nga ngày nay, đại diện là V.I Kozlov, N.N Tchebocxarov, G Selepov,… cho rằng, tộc người được hiểu là “một tổng hợp bền vững nhiều thế hệ của những con người được hình thành mang tính lịch sử trên một lãnh thổ nhất định có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa (trong đó có ngôn ngữ)
và tâm lý, có ý thức thống nhất chung cũng như sự khác nhau của họ đối với các tộc người khác (ý thức tự giác) được biểu hiện với một tên gọi (tộc danh) Các nhà khoa học Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào trường phái của các nhà khoa học Liên Xô Tuy vậy, quan điểm của họ về vấn đề này cũng còn nhiều khác biệt Chẳng hạn, Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng, tộc người là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có ý thức
về thành phần tộc người và tên gọi của mình [11; tr 20] Trong khi đó, Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng thì cho rằng, tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là kết quả của quá trình tự nhiên lịch sử [19; tr 8]
Do có nhiều quan điểm khác nhau về tộc người nên việc xác định tiêu chí cấu thành tộc người cũng có nhiều quan điểm khác nhau Chẳng han, R Breton đã đưa ra 10 yếu tố đặc trưng cấu thành tộc người gồm: ngôn ngữ, chủng tộc, dân số, lãnh thổ, kinh tế, giai cấp, văn hóa, mạng lưới đô thị, thủ
đô, thể chế chính trị Còn theo quan điểm của các nhà dân tộc tộc và Nhân học Xô viết trước đây cũng đưa ra một loạt các yếu tố đặc trưng khá toàn diện
Trang 30như lãnh thổ, ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người, tâm lý, kinh tế, tôn giáo, nhân chủng và thậm chí cả yếu tố nội tộc hôn Ngay ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng chưa thống nhất được vấn đề này Chẳng hạn, trong giáo trình “Dân tộc học đại cương” do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp xuất bản năm 1998 đã đưa ra bốn tiêu chí đặc trưng chủ yếu của tộc người nói chung là: ngôn ngữ, lãnh thổ tộc người, cơ sở kinh tế tộc người, những đặc điểm sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác tộc người Còn trong giáo trình “Dân tộc học đại cương” do Lê Sĩ Giáo chủ biên cũng chủ trương bốn tiêu chí tộc người như Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp gồm: tiêu chí ngôn ngữ, lãnh thổ tộc người, cơ sở kinh tế tộc người, các đặc trưng sinh hoạt – văn hóa và ý thức tự giác tộc người Trong khi đó, Hoàng Lương lại đưa ra năm tiêu chí gồm: tiêu chí ý thức tự giác tộc người, tiêu chí ngôn ngữ tộc người, tiêu chí đặc trưng sinh hoạt văn hóa truyền thống, tiêu chí lãnh thổ tộc người (chủ yếu là thời cổ đại), tiêu chí cơ sở kinh
tế nguyên thủy Nhưng trong công trình “Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam” do TS Bùi Minh Đạo chủ biên và giáo trình Nhân học đại cương của Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2008, lại đưa ra ba tiêu chí cơ bản để xác định sự tồn tại của một tộc người hiện nay là: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người [5; tr 17, 21]
Như vậy, cho đến nay hầu hết các học giả trong và ngoài nước vẫn chưa thống nhất được với nhau cả về khái niệm cũng như tiêu chí xác định tộc người Tuy vậy, trong luận văn này, tác giả chủ yếu kế thừa quan điểm về tộc người và tiêu chí xác định tộc người của giáo trình Nhân học đại cương của Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 31Vận dụng lý thuyết tộc người, nghiên cứu này xem xét người Stiêng là một tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam với đầy đủ các tiêu chí nêu trên Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người Stiêng xã Minh Lập kế thừa những tri thức tộc người như thế nào để đảm bảo tính khả thi của các chương trình, dự án Và khi thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội thì bản sắc văn hóa của người Stiêng sẽ thay đổi ra sao
1.2.2 Lý thuyết cơ cấu chức năng
Nửa đầu thế kỷ XX, ở Mỹ xuất hiện một lý thuyết mới của xã hội học –
Lý thuyết cấu trúc chức năng Sau đó, lý thuyết này nhanh chóng xuất hiện ở châu Âu và Mỹ Những người theo quan điểm này nhìn nhận các hoạt động xã hội như là một tổng thể Lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như: H Spencer, E Durkheim, Malinowski, Robert Merton và
T Parson, Kingsley David
- Lý thuyết chức năng cấu trúc cho rằng: Xã hội là một tổng thể bao gồm nhiều bộ phận, mỗi bộ phận giữ một vai trò bình thường nào đó trong xã hội
và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số yêu cầu nào đó trong
xã hội
Theo các nhà chức năng luận, bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định của hệ thống Chúng ta có thể hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng khác nhau đối với hệ thống Chức năng luận nhìn xã hội như là sự phụ thuộc lẫn nhau và sự thống nhất trong xã hội, tuy có xung đột nhưng xã
Trang 32hội kiểm soát nó để tiến tới điểm cân bằng ở đó mọi bộ phận phụ thuộc vào nhau và vận hành một cách chức năng với nhau [12]
Theo cách nhìn này, lý thuyết chức năng chỉ ra rằng: toàn bộ hệ thống xã hội vận hành như vậy là để đảm bảo nhu cầu chức năng của nó được thực hiện
và như thế sự thống nhất hệ thống và xã hội được giữ vững Rõ ràng khuynh hướng này nhấn mạnh vào trật tự, sự hài hòa, hợp nhất và ổn định xã hội, xem
xã hội như là một thể thống nhất Theo đó, các khuynh hướng được xây dựng nội tại hướng tới sự hài hòa và tự điều chỉnh, tương tự như những tổ chức và
cơ chế sinh học
Vận dụng lý thuyết chức năng, nghiên cứu này nhìn nhận chính quyền xã như một tổ chức có cơ cấu chức năng nhất định Đồng thời cũng xem xét chức năng của chính sách phát triển kinh tế - xã hội là gì? Chủ thể của chính sách phát triển kinh tế - xã hội có chức năng gì: Các định chế xã hội tại địa bàn nghiên cứu như: Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, .đóng chức năng gì trong việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước đối với người Stiêng? Nhà nước giữ vai trò như thế nào trong việc thực hiện chức năng ban hành và quản
lý các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số Như vậy, việc sử dụng lý thuyết chức năng có thể làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
1.2.3 Lý thuyết xung đột
Quan điểm xung đột cho rằng hiện thực là một trường ở đó các nhóm xung đột với nhau giành quyền lực, kiểm soát xung đột đơn giản chỉ là nhóm này có thể áp đặt sự thống trị của mình lên nhóm kia Đại diện cho trường phái này là Karl Marx, Weber, Dahrendorf…
Người ta cho rằng quan điểm xung đột có ba giả định cơ bản Thứ nhất,
Trang 33con người có những lợi ích cơ bản mà họ theo đuổi Thứ hai, quyền lực là cốt lõi của các quan hệ xã hội Quyền lực là hạn hẹp (khan hiếm) và được phân chia không công bằng, vì vậy là nguồn gốc của xung đột Thêm nữa, quyền lực về bản chất mang tính cưỡng bức Sự phân bố các nguồn lực là cơ sở cho quyền lực Thứ ba, các giá trị và tư tưởng chẳng qua là vũ khí mà các nhóm khác nhau sử dụng nhằm đạt mục tiêu của riêng mình chứ không phải là phương tiện để xác định mục tiêu chung của xã hội
Mác cho rằng các nhóm xã hội có những lợi ích đối lập nhau (nô lệ - chủ
nô, nông nô – lãnh chúa, vô sản – tư sản) Ông cho rằng, trong xã hội có giai cấp, quan hệ sản xuất luôn luôn là quan hệ bất bình đẳng, thậm chí mâu thuẫn đối kháng Giai cấp tư sản nắm giữ tư liệu sản xuất nên tìm mọi cách duy trì trật tự hiện có; giai cấp vô sản không có tư liệu sản xuất, bị áp bức bóc lột nên đấu tranh xóa bỏ chế độ tư hữu
Weber cũng đồng ý với quan điểm của Mác và cho rằng, lợi ích kinh tế chi phối hành vi con người, ngay cả khi họ không ý thức được điều đó [6] Vận dụng lý thuyết xung đột, nghiên cứu này xem việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với dân tộc Stiêng như là môi trường xung đột giữa cán bộ và người dân Sự xung đột này chủ yếu là sự xung đột về mặt lợi ích mà nguyên nhân của nó chính là sự lựa chọn đối tượng hỗ trợ và phân chia không công bằng Đối với người dân, khi thấy gia đình bên cạnh nhận được hỗ trợ từ chính sách mà gia đình mình thì không, thì họ cho rằng cán bộ địa phương làm như vậy là không công bằng, nên họ mới đấu tranh, khiếu kiện với cán bộ dẫn đến xung đột Đối với cán bộ, khi triển khai thực hiện chính sách mà bị người dân khiếu kiện, phản ánh thì uy tín của họ sẽ bị giảm sút nên cũng dẫn đến sự xung đột với người dân
Trang 341.2.4 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Ý tưởng cơ bản trong định hướng chọn lựa hợp lý của Coleman là hành động có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó (cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích Các cá nhân khi chọn lựa hành động sẽ tối đa hóa các lợi ích hay sự thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của họ Trong cuộc sống, cá nhân thường nhận nhiều kích thích bên ngoài và khi đã nhận được một loạt các kích thích từ bên ngoài ấy thì không phải cá nhân ngay lập tức sẽ phản ứng lại tất cả mà sẽ tiến hành lựa chọn những kích thích nào cảm thấy phù hợp với bản thân, còn những kích thích nào cảm thấy không phù hợp thì sẽ bị khước từ hay loại bỏ [30; tr 152] Vận dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, nghiên cứu này nhìn nhận việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với người Stiêng xã Minh Lập như là sự lựa chọn hợp lý Bởi vì đây là những chính sách do cấp trên giao xuống, nên chính quyền xã chỉ có nghĩa vụ thực hiện và hoàn thành những chính sách đó chứ họ không cần quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của người dân và những vấn đề liên quan đến chính sách đó
1.2.5 Lý thuyết về nghèo và giảm nghèo
Nghèo là một vấn đề khó có một khái niệm chung để đo lường và hiểu thấu đáo Do đó, tùy vào quan niệm mà người ta đưa ra những cách tiếp cận khác nhau Nhưng hiện nay vấn đề này chủ yếu được tiếp cận theo hai cách Theo cách tiếp cận hẹp
Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác
Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính
Trang 35chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giầu nhất Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình
Đó là nghèo đói tương đối Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là
họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn
Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy
ra Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh
tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống
Theo cách tiếp cận rộng
Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giầu nghèo Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất,
Trang 36xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá Xã hội
đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giầu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và trong hoàn cảnh nhất định Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giầu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo
Dựa vào hai cách tiếp cận trên, mỗi quốc gia và tổ chức đều đưa ra quan điểm riêng cho mình:
Quan điểm của Ngân hàng thế giới cho rằng: Nghèo là khái niệm đa
chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ
số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn
và không có quyền lực [21]
Quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cho rằng: Nghèo là tất
cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại [4]
Quan điểm của Ủy ban KT - XH khu vực châu Á – Thái Bình Dương
(ESCAP) năm 2003 cho rằng: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư
không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”[3]
Quan điểm của Bộ lao động thương binh và xã hội Việt Nam cho rằng
Trang 37“Nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực”
Tóm lại, các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh:
- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu cho con người
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
- Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng Tuy quan điểm có khác nhau, nhưng về tiêu chí đánh giá mức độ đói nghèo dường như là tương đối thống nhất Đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo Tuy nhiên khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian
Chẳng hạn, ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành trong từng giai đoạn Hiện nay, tiêu chí này chủ yếu dựa theo Quyết định số 143/2000/QĐ – BLĐTBXH ngày 1/11/2000 Theo quyết định này, thì việc xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam được chia làm hai giai đoạn
Trang 38xã hội dành cho họ
Trang 391.3 Khung phân tích
1.4 Giả thuyết nghiên cứu
- Mặc dù nhà nước đã có chính sách phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nhà
ở, nước sạch cho đồng bào dân tộc Stiêng nhưng số hộ gia đình đồng bào sống trong những căn nhà lụp xụp còn nhiều, người dân vẫn còn phải dùng nguồn nước kém vệ sinh
- Trong những năm qua, nhờ chính sách hỗ trợ đất sản xuất, cho vay vốn cũng như kỹ thuật canh tác nên đời sống người Stiêng đã thoát khỏi nghèo đói, đời sống ngày một phát triển
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO
STIÊNG XÃ MINH LẬP
ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỒNG BÀO STIÊNG XÃ MINH LẬP
Các lĩnh vực chính sách phát triển kinh tế - xã của nhà nước có liên
quan đến đồng bào dân tộc thiểu số
Hỗ trợ nhà ở
và nước sinh hoạt
Hỗ trợ đất sản xuất
Hỗ trợ
kỹ thuật
và cây con giống
Vay vốn phát triển sản xuất
Khám chữa bệnh
Trang 40- Thiếu sự tham gia của đồng bào Stiêng và các bên hữu quan trong việc xây dựng và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội nên hiệu quả mang lại không được như mong muốn
1.5 Khái quát về xã Minh Lập và đặc điểm mẫu nghiên cứu
1.5.1 Khái quát về xã Minh Lập
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Với diện tích 4.911,33 ha được chia thành 7 ấp, Minh Lập nằm trên tuyến đường Quốc lộ 14 giữa thị xã Đồng Xoài và huyện Chơn Thành, cách trung tâm huyện khoảng 16km về phía Đông Phía Đông giáp huyện Đồng Phú và thị xã Đồng Xoài, phía Nam giáp thị xã Đồng Xoài, phía Bắc giáp huyện Bình Long, phía Tây giáp xã Minh Quang và Tân Thắng
Về mặt địa hình và đất: Minh lập có địa hình tương đối bằng phẳng độ dốc nhỏ, không quá 150, thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Nơi đây
có 2 loại đất: đất xám và đất bazan Đất xám thường có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo chất dinh dưỡng, còn đất bazan là loại đất tốt nhất trong các loại đất đồi núi ở nước ta Tuy vậy cả 2 loại đất này đều rất phù hợp với các loại cây lâu năm như cao su, cây ăn trái, tiêu, điều và cả các loại cây ngắn ngày như lúa, mì, bắp, mía, đậu…Ngoài ra, cả 2 loại đất đất này đều có độ chịu lực cao, thoát nước tốt nên rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình
Về khí hậu: Minh Lập mang đặc điểm chung của khí hậu vùng Đông Nam bộ, nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh, thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, với các loại cây trồng nhiệt đới điển hình