1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu ứng xã hội của chương trình như chưa hề có cuộc chia ly trên vtv

123 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm hiểu về sự phát triển của THTT ở Việt Nam, thông qua việc phân tích một chương trình cụ thể có ảnh hưởng nhất định đến xã hội như NCHCCCL; làm thế nào để NCHCCCL ghi dấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

NĂM 2009

Tên công trình:

HIỆU ỨNG XÃ HỘI CỦA CHƯƠNG TRÌNH NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY TRÊN VTV

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

DẪN LUẬN 3

CHƯƠNG 1: 8

KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 8

VÀ CHƯƠNG TRÌNH “NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY” 8

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 8

1.2 KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH “NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY” TRÊN VTV 22

1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 33

CHƯƠNG 2 : HIỆU ỨNG XÃ HỘI CỦA CHƯƠNG TRÌNH NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY 35

2.1 SƠ NÉT VỀ HIỆU ỨNG TRUYỀN THÔNG 35

2.2 HIỆU ỨNG XÃ HỘI CỦA CHƯƠNG TRÌNH NCHCCCL 40

2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 73

CHƯƠNG 3 : ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH 75

3.1 THÀNH CÔNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH 75

3.2 HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH 99

3.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 114

Trang 3

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, đề tài nghiên cứu “Hiệu ứng xã hội của chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly trên VTV” gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về truyền hình thực tế và giới thiệu chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly

Chương này gồm hai phần Nội dung chương chủ yếu nêu tóm lược những nét lịch sử chính, đặc điểm của “cơn sốt” THTT trên thế giới và bước đầu phát triển

ở nước ta ở phần 1.1 Chương mở đầu cũng giới thiệu sơ nét về chương trình truyền hình sẽ được khảo sát kỹ lưỡng là “Như chưa hề có cuộc chia li” ở phần 1.2

Chương 2: Hiệu ứng xã hội của chương trình NCHCCCL

Với tầm vóc của một dự án xã hội và nội dung mang đậm tính nhân văn,

“Như chưa hề có cuộc chia ly” có sức tác động mạnh mẽ đến công chúng và cộng đồng Chương 2 đề cập đến khái niệm “hiệu ứng xã hội”, từ đó tập trung phân tích những hiệu ứng mà chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” đã tác động đến xã hội, cụ thể là những tác động đối với người tham gia chương trình, khán giả và nhà tài trợ theo trình tự thời gian trước, trong quá trình diễn ra chương trình và khi kết thúc

Chương 3: Đánh giá chất lượng chương trình

Từ những thực tế đã được phân tích, xử lí trong chương cuối tập trung đánh giá, nhận xét chủ yếu từ khán giả để đưa ra những phương thức nhằm nâng cao chất lượng các chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”, đặt trong tương quan so sánh với một số chương trình được yêu thích trên Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

2 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

- “THTT” hay “reality TV”: Truyền hình thực tế

- TV: ti vi

- VTV: Đài truyền hình Việt Nam

- HTV: Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

- NCHCCCL: viết tắt “Như chưa hề có cuộc chia ly”

- MC: Người dẫn chương trình truyền hình

- BTV: Biên tập viên

- TNV: Tình nguyện viên

- Đvt: Đơn vị tính

- TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

DẪN LUẬN

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Ngày nay, cùng với sự vận động và phát triển của toàn xã hội, truyền thông Việt Nam nói chung và truyền hình nói riêng đã có những bước tiến đáng kể về hình thức lẫn nội dung trong nỗ lực bắt kịp đà tiến bộ của thời đại, vươn lên khẳng định vị trí, thế đứng trong khu vực và thế giới Những nỗ lực ấy của các đơn vị truyền hình trên khắp cả nước đã mang lại nhiều kết quả rõ nét và những thành công bước đầu đã giúp cho uy tín, hình ảnh các đài truyền hình VTV, HTV… dần đi vào lòng khán giả khắp cả nước Trong số những thành công ấy, truyền hình thực tế (THTT) ở nước ta đã và đang đóng một vai trò hết sức thiết thực và quan trọng

Sau chương trình “Phụ nữ thế kỉ 21” – vốn là một chương trình THTT được mua bản quyền ở phương Tây, các chương trình THTT không ngừng phát triển và cải tiến cho phù hợp với thị hiếu và những đặc điểm của khán giả Việt Nam THTT cho thấy xu hướng mở về mặt tương tác giữa cuộc sống đời thường và các thể loại

cổ điển của truyền hình ngày một khăng khít hơn, do đó chất “hiện thực” của các show truyền hình cũng nâng cao rõ nét Vậy, con đường phát triển đó đã qua những giai đoạn nào? Những điều đã đạt được và những mặt còn khiếm khuyết của THTT

ở Việt Nam là gì? Tác động xã hội của THTT đến khán giả ra sao và mối tương quan, vị trí của THTT trong lòng khán giả Việt như thế nào?

Một tiêu biểu cho sự phát triển của THTT ở Việt Nam hiện nay là “Như chưa

hề có cuộc chia ly” với những cuộc sum họp vô cùng cảm động Chương trình lôi cuốn người xem cũng vì chủ đề có giá trị xã hội to lớn của nó Đề tài về chủ đề đoàn tụ vẫn là đề tài nhức nhối nhất với cuộc sống Trong số các chương trình truyền hình hiện nay thì chủ đề của chương trình NCHCCCL thật sự riêng biệt và độc đáo Chương trình chỉ mới phát sóng được một năm, tuổi thọ vẫn chưa bằng nhiều chương trình truyền hình khác nhưng đã nhận được sự quan tâm của nhiều lãnh đạo (Bộ trưởng Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội, Thứ trưởng Bộ Thông

Trang 6

tin&Truyền thông…), được giải vàng Liên hoan truyền hình toàn quốc 2007, đề cử giải Mai Vàng năm 2008… Nhưng quan trọng nhất là chương trình đã được đông đảo khán giả đón nhận sâu sắc vì những câu chuyện đoàn tụ xúc động đầy tính nhân văn trong chương trình

Với mong muốn tìm hiểu về sự phát triển của THTT ở Việt Nam, thông qua việc phân tích một chương trình cụ thể có ảnh hưởng nhất định đến xã hội như NCHCCCL; làm thế nào để NCHCCCL ghi dấn ấn trong lòng khán giả cũng như để tìm hiểu về hiệu ứng xã hội đối với THTT còn mới mẻ này, đó chính là lí do tôi lựa

chọn đề tài “Hiệu ứng xã hội của chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly trên VTV” cho công trình nghiên cứu khoa học sinh viên của mình

Theo tìm hiểu của tôi, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu tổng hợp về các chương trình THTT ở Việt Nam nói chung và chương trình NCHCCCL nói riêng, từ đó đi sâu vào phân tích hiệu ứng xã hội của chúng

Là một chương trình truyền hình khá phức tạp ra đời từ hơn nửa thế kỷ trước

ở Hoa Kì, đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về THTT trên thế giới Theo những tư liệu thu thập được, tác phẩm “Understanding reality” (tạm dịch:

“Tìm hiểu về truyền hình thực tế”) của Su Holmes và Deborah Jermyn tiêu biểu cho những nghiên cứu mới nhất về sự hình thành và phát triển của thể loại này trên thế giới Tác phẩm này có ưu điểm khái quát được nhiều luồng ý kiến, quan điểm về THTT của các nhà chuyên môn trên thế giới, nhưng có hạn chế là chưa đúc kết được những đặc tính rõ nét, nổi bật mang tính đặc trưng của truyền hình thực tế Ngoài những tác phẩm chính thống cũng còn rất nhiều các bài viết khác nói về reality show, nhưng chưa đi sâu vào đề tài và tính học thuật không cao Công trình

“Why People Watching Reality TV” (tạm dịch: “Tại sao chúng ta xem THTT”) do nhóm tác giả Steven Reiss và James Wiltz (ĐH bang Ohio – Mỹ) thực hiện, trích từ tác phẩm “Media Psychology” của Lawrence Elrbaum (tạm dịch: “Tâm lí truyền thông”), là công trình nghiên cứu về thị hiếu của khán giả đối với THTT dựa trên

Trang 7

tâm lí của từng cá nhân, qua việc khảo sát khán giả và người tham gia một số chương trình THTT tiêu biểu ở nước ngoài Công trình nghiên cứu này đưa ra bảng thống kê số liệu cụ thể về ảnh hưởng của 16 nguyên nhân tâm lí cơ bản khiến người

ta thích xem THTT, chứ không đưa ra lí giải về THTT ảnh hưởng đến tâm lí người xem thế nào

Theo TS Trần Hữu Quang viết trong cuốn “Chân dung công chúng truyền thông” thì lý luận xã hội học về báo chí-truyền thông ở nước ta nói chung là một ngành khoa học non trẻ và tuy đã gặt hái được không ít thành tựu, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được xử lí thấu đáo THTT chỉ vừa xuất hiện không lâu ở nước ta nên hiện vẫn chưa có một công trình nghiên cứu thực sự nào về lĩnh vực này Đây là một hướng đi hoàn toàn mới lạ và chưa xuất hiện những dấu chân khai phá tiên phong THTT và tính tương tác của nó chỉ được nhắc qua một cách sơ sài trong tác phẩm “Xã hội học báo chí” của tác giả Trần Hữu Quang (Nhà xuất bản Trẻ năm 2006), vì phạm vi nghiên cứu bao quát của tác phẩm trên nên phần viết về truyền hình thực tế của tác giả không tạo được những ấn tượng rõ nét về chuyên môn Trong cuốn “Chân dung công chúng truyền thông” (qua khảo sát xã hội học tại TP.HCM), tác giả Trần Hữu Quang cũng chỉ đề cập đến cách tiếp nhận của công chúng TP.HCM đối với truyền hình nói chung, chứ không đi vào từng thể loại truyền hình cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu, tôi được tiếp xúc với những nguồn tư liệu của các tác giả là Từ Lê Tâm và Nguyễn Thị Quỳnh Đông với những đề tài nghiên cứu hoàn toàn về thể loại talk show Trong đó đề cập đến những đặc trưng của thể loại

và cách xây dựng những chương trình “Người đương thời” và “Talk Vietnam”… Đối với NCHCCCL, tuy chương trình theo dòng THTT nhưng lại thể hiện trên sóng truyền hình dưới dạng một talk show nên những tư liệu này cũng là nguồn tham khảo chính của tôi Theo tìm hiểu, tôi được biết về quá trình nghiên cứu hiệu ứng xã hội của truyền thông đại chúng những năm gần đây có khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành Báo chí (tất cả đều thực hiện tại ĐH KHXH&NV TP.HCM) “Hiệu ứng xã hội qua thông tin số phận trên báo Phụ Nữ TP.HCM” - năm 2004 của tác

Trang 8

giả Trần Thị Quỳnh Hoa, “Hiệu ứng xã hội của các game show truyền hình đối với công chúng TP.HCM” - năm 2005 của tác giả Võ Huỳnh Tấn Tài và “Hiệu ứng xã hội của các chương trình talk show trên HTV” – năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị

Thảo Nhân

Bên cạnh đó, có những bài viết trên các báo Tuổi Trẻ, Công an Nhân dân…

về truyền hình thực tế, như bài viết “Xu hướng Truyền hình thực tế: "Thực tế" tại Việt Nam” của Hoàng Lê – Quỳnh Nguyễn trên Tuổi Trẻ số ra ngày Thứ Ba,

07/08/2007, nhưng vì là bài viết trên báo phổ thông nên không có nhiều giá trị về mặt khoa học, ngoài giá trị là những gợi ý bổ ích cho tôi khi chuẩn bị hướng nghiên cứu cho đề tài này Có thể khẳng định rằng, công trình của tôi là công trình nghiêm túc đầu tiên về đề tài này ở Việt Nam

3.1 Ý nghĩa khoa học:

Trong khả năng của mình, tôi thực hiện góp phần sáng tỏ vấn đề lý luận về THTT ở VN, một đề tài thiết thực vốn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng thông qua một chương trình gây được dấu ấn tốt trong lòng xã hội là NCHCCCL Đề tài nghiên cứu này hữu ích cho giới nghiên cứu báo chí và các ngành khoa học xã hội

có quan tâm đến truyền hình và các hiệu ứng xã hội của THTT

3.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài nghiên cứu của tôi sẽ có những đóng góp cho tình hình truyền thông Việt Nam hiện đại như sau: tôi đưa ra định nghĩa các khái niệm “reality show” theo cách hiểu phù hợp nhất với tình hình thực tế ở VN dựa trên những khái niệm về THTT trên thế giới trước đó Đề tài phân tích cụ thể chương trình THTT tiêu biểu là chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” (phát trên VTV1) để rút ra các đặc thù

về THTT cũng như hiệu quả xã hội của nó ở VN, tìm những ưu – nhược điểm trên

lý thuyết Nghiên cứu về hiệu ứng xã hội của chương trình nói riêng và và vị trí, vai trò của THTT nói chung đối với khán giả trong nước Trong khả năng của mình, tôi mong muốn chỉ ra vai trò của THTT trong hoàn cảnh thực tế ở VN, và những đóng

Trang 9

góp cho chương trình NCHCCCL ngày một tiến bộ hơn, hấp dẫn hơn Đề tài cũng

là tài liệu tham khảo tốt cho những doanh nghiệp có ý định tài trợ cho các chương trình THTT sau này

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp tổng hợp: tổng hợp tài liệu, thông tin từ nhiều nguồn

 Phương pháp phân tích: từ các tài liệu tổng hợp được, phân tích để tìm ra những điều mới trong các chương trình

 Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn sâu khán giả, đài truyền hình, nhà tài trợ để xác định rõ “hiệu ứng xã hội” của các chương trình truyền hình thực tế

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: điều tra bằng bảng hỏi trên địa bàn TP HCM

 Phương pháp phân tích bằng thống kê, đưa ra những kết luận phù hợp với thực tế khách quan

 Phương pháp so sánh: so sánh, đánh giá những ưu, khuyết của chương trình NCHCCCL, từ đó có những kết luận hợp lí

 Phương pháp mô tả: mô tả lại các quá trình hình thành, phát triển của truyền hình thực tế

Trang 10

CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ

VÀ CHƯƠNG TRÌNH “NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY”

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ

1.1.1 Định nghĩa

Nhà xã hội học Richard Sennett cho rằng trong xã hội phương Tây giai đoạn giữa thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX đã xuất hiện “xã hội riêng tư” mà nổi trội là xu hướng “narcissim” – xu hướng luôn qui chiếu mọi vấn đề về nhu cầu và nguyện vọng của từng cá nhân Một trong những đặc trưng xã hội Tây Âu hiện đại là đi vào quá trình cá nhân hoá (personalization), trong đó chú trọng đặc biệt đến đời sống cá nhân riêng tư 1 Không gian công cộng bị tràn ngập mọi kiểu phô bày tính chất riêng

tư đời thường và thường xuyên được trình chiếu trong các chương trình THTT Trong những năm 1980 và 1990, THTT đã tạo nên nhiều luồng ý kiến gay gắt ở

Mỹ THTT thường là sản phẩm tổng hợp từ kịch bản của các chương trình từ game show, những cuộc thi đố vui… hoặc những chương trình quay lén hay tập trung vào những người thích nhìn trộm cảnh sinh hoạt riêng tư (voyeurism) của người khác như “Big Brother”2 Do vậy, ở những buổi ban đầu mới xuất hiện, tuy những chương trình này thu hút được phần lớn lượng khán giả chủ yếu do tò mò, hiếu kì, nhưng lại không nhận được sự yêu thích của khán giả

Theo tài liệu từ Bách khoa toàn thư mở wikipedia, THTT được định nghĩa:

“THTT là những chương trình truyền hình thường không có kịch bản, được dựng trên những sự kiện có thực chứ không phải sự kiện hư cấu Trong đó các nhân vật tham gia phần lớn là những người bình thường chứ không phải những diễn viên chuyên nghiệp” Giáo trình “Understanding Reality TV” thì đưa ra định nghĩa về

1

Trần Hữu Quang, Xã hội học báo chí, Nxb Trẻ, TP.HCM, 2006 – trang 393

2 Xem giới thiệu về chương trình ở phụ lục – phần Các chương trình nước ngoài

Trang 11

THTT của tác giả Richard Kilborn là: “THTT có thể được hiểu là một chương trình truyền hình cố gắng để kích thích những tình huống mang tính chất đời thường trong cuộc sống của một cá nhân hay một nhóm người, thông qua việc xây dựng lại những tình huống kịch, người tham gia thường không để ý đến hoạt động quay hình đang diễn ra.” 3

Viết về những chương trình THTT tại Việt Nam, nhiều bài báo đã gọi THTT

là một “thể loại mới” so với các thể loại truyền hình như talk show hay game show… Trong khi đó, những người đang trực tiếp làm việc trong lĩnh truyền thông lại có những ý kiến khác Nói về THTT, Th.S Fulbright Nguyễn Phạm Thu Uyên –

chủ nhiệm chương trình NCHCCCL cho rằng: “Bản chất của cụm từ THTT chỉ là một tính từ cho chương trình truyền hình mà thôi, khác với talk show là 1 thể loại Có 1 số nước gọi Reality là 1 thể loại, nhưng chỉ gắn với các series dạng

“Survivors” hay “Datings” (tức là kịch tính dựa trên tình huống)” Còn theo Th.S

Phan Văn Tú – Phó chủ tịch thường trực Hội nhà báo Đồng Nai, nguyên Phó giám đốc Đài Phát thanh - truyền hình Đồng Nai, và hiện là Phó Tổng biên tập báo Đất

Việt thì: “Có một chi tiết mà rất nhiều người nhầm khi viết về THTT Đó là xem

THTT (reality TV) là một THỂ LOẠI truyền hình Thực ra, THTT là một PHƯƠNG THỨC sản xuất chương trình truyền hình chứ không phải là thể loại Trò chơi truyền hình, tọa đàm truyền hình, phỏng vấn truyền hình, phim tài liệu truyền hình, tin tức truyền hình, thậm chí phim truyện truyền hình… cũng có thể làm theo phương thức THTT.”

Từ nhiều ý kiến định nghĩa về THTT trong và ngoài nước như trên, chúng

tôi đưa ra một định nghĩa riêng trong đề tài này về THTT như sau: THTT là một phương thức xây dựng chương trình truyền hình ghi lại những khoảnh khắc

thay đổi hay bị tác động mạnh mẽ từ những khía cạnh thực tế của cuộc sống

3

Su Holmes & Deborah Jermyn, Understanding Reality TV, NXB Routledge, 2004, page

2 According to Kilborn, Reality TV could be conceived as: - recording “on the wing”, and frequently with the help of lightweight video equipment, of events in the lives of individuals and groups; - the attempt to stimulate such real-life events through various forms of

dramatized reconstruction

Trang 12

những con người bình thường Người tham gia bị đặt vào những nơi xa lạ hoặc những tình huống khác thường nhằm khuyến khích họ bộc lộ thái độ, quan

điểm của mình trước công chúng

Từ định nghĩa trên, có thể thấy những tính chất cơ bản nhất của một chương

trình THTT là “người thật – việc thật – hành động và phản ứng thật”

Mặc dù THTT đã xuất hiện trong một vài hình thức khác nhau từ lúc sơ khai của ngành truyền hình, khái niệm “THTT” mới được sử dụng rộng rãi từ những năm 2000 Những chương trình tài liệu hoặc không hư cấu (nonfictional) như tin tức hoặc thể thao không được xếp vào THTT

“Khủng hoảng đạo đức” (Moral panics) thường xảy ra khi chương trình truyền hình (đặc biệt là các chương trình THTT như “Big Brother”, “Loft Story” – một chương trình THTT ở Pháp mô phỏng theo “Big Brother” của Mỹ, tập trung vào các cảnh quay thực về tình dục, bạo lực trong cuộc sống) phớt lờ những chuẩn mực đạo đức, tinh thần và xoáy sâu vào các câu chuyện giật gân, kích động như tình dục, bạo lực hay các mối quan hệ xã hội Những chương trình kiểu này rất dễ tạo nên sự bùng phát các mâu thuẫn về quan niệm sống, đạo đức và không phải lúc nào cũng mang lại lợi nhuận cho các kênh truyền hình Tuy mỗi quốc gia

có cách nhìn nhận khác nhau, dựa trên những giá trị sống riêng, nhưng nhìn chung ở hầu hết các nước, các chương trình THTT có liên quan đến “khủng hoảng đạo đức” đều có tuổi thọ không cao

Đơn cử là trường hợp “Loft Story” nêu trên Khi một đài truyền hình nước này phát sóng “Loft Story” vào ngày 26.4.2001, làn sóng phẫn nộ dữ dội đã dâng lên trong lòng xã hội Pháp, tạo nên “cuộc chiến phê bình” (war of commentaries) và

“cuộc chiến truyền hình” (war of broadcasters), lôi cuốn gần như tất cả các phương tiện truyền thông, các tờ báo, đài truyền hình lớn như Le Monde, TF1 Tình trạng

Trang 13

hỗn loạn này chỉ kết thúc khi ngày 6.7.2002, “Loft Story” ngừng phát sóng trên toàn nước Pháp.4

Ở những quốc gia bảo thủ, một số yếu tố chân thật trong các chương trình THTT lại vi phạm những điều cấm kị của các quốc gia đó Ví dụ: Ở một số quốc gia tiểu vương quốc Ả Rập, chương trình “Star Academy”, “Star Academy Lebanon”

đã vi phạm điều cấm kị của những quốc gia này, khi trình chiếu những cảnh các thí sinh nam và nữ chung sống và thi thố trong cùng một địa điểm để tập luyện và thi tài Năm 2006, chính quyền Trung Quốc đã cấm trình chiếu tiếp chương trình

“Super Girls” (một phiên bản của Pop Idol của Anh tại Trung Quốc) vì có những quá mát mẻ, hở hang của các thí sinh trên sân khấu

“Miss America” được trình chiếu lần đầu vào năm 1954, là một cuộc thi mà người tham dự phải trải qua nhiều vòng thi phụ, toàn bộ quá trình thi đấu được ghi hình và trình chiếu lại trên truyền hình Hoa hậu của cuộc thi này đã trở thành biểu tượng như người nổi tiếng của quốc gia

4 Su Holmes & Deborah Jermyn, Understanding Reality TV, NXB Routledge, 2004, page

96

Trang 14

 Giai đoạn 1960-1970

Lần đầu tiên được phát sóng ở Anh vào năm 1964, series chương trình

“Seven up!” của hãng truyền hình Granada, phát đi những cuộc phỏng vấn với mười hai trẻ em bảy tuổi bình thường được chọn ngẫu nhiên từ mọi thành phần của xã hội, chủ yếu để tìm hiểu về phản ứng, cách xử sự của chúng trong cuộc sống hàng ngày Series này được xây dựng đơn giản như là một cuộc phỏng vấn nhiều kỳ mà không có cốt truyện, tình tiết Cứ cách 7 năm sẽ ghi hình một bộ phim tài liệu về cuộc sống của những cá nhân giống nhau (trong cách hành xử khi được phỏng vấn

ở giai đoạn đầu) với những tình huống xảy ra trong những năm đó Chương trình này cũng tạo được hiệu ứng nhất định là biến những con người bình thường trở thành người nổi tiếng

 Giai đoạn 1980-1990

“COPS”, chương trình giới thiệu về hoạt động truy bắt tội phạm của cảnh sát

và lần đầu tiên được trình chiếu vào mùa xuân năm 1989 Nó giới thiệu một cách trực quan với sự tích hợp cả âm thanh và hình ảnh với sự chân thật những hành động được ghi hình bởi máy quay

Series “Nummer 28”, được chiếu lần đầu tiên tại Hà Lan vào năm 1991, bắt nguồn từ ý tưởng cho những người lạ chung sống trong cùng một môi trường, hoàn cảnh, trong một giai đoạn dài, và ghi hình lại những tình huống xảy ra sau đó

“Nummer 28” cũng đã thiết lập khuôn mẫu đầu tiên và đã trở thành tiêu chuẩn cho những chương trình THTT, bao gồm việc sử dụng âm nhạc có chủ đích cho từng phân đoạn, sự dàn xếp những hoạt động lên hình với những hoạt động hậu trường được thu âm bởi những người đã qua tuyển chọn để phục vụ cho từng đoạn phim

Một năm sau đó, ý tưởng tương tự đã được MTV sử dụng trong series mới của họ là “The Real Word”

Trang 15

 Giai đoạn 1990 - 2000

Chương trình “Expendition Robinson” của Thuỵ Điển do Charlie Parsons sản xuất được chiếu lần đầu vào năm 1997 (và sau này đã phổ biến ở nhiều nước khác với tên “Survivor”) Chương trình này đã bổ sung vào ý tưởng về một chương trình có tính chất cạnh tranh và loại trừ của “ Nummer 28” và “The Real World” Trong đó, những người được tuyển chọn để trở thành người tham gia chương trình

sẽ đấu với nhau và bị loại dần trong suốt quá trình chương trình diễn ra cho đến khi chỉ còn lại duy nhất một người chiến thắng (Những chương trình này về sau được gọi là chương trình thi thố loại trừ - Elimination)

 Giai đoạn: 2000 đến nay

Với sự của ưa chuộng của khán giả toàn cầu từ những năm đầu của thế kỉ 21, THTT bắt đầu chứng kiến sự bùng nổ Hai series “Survivor” và “American Idol” liên tục dẫn đầu các bảng xếp hạng truyền hình Mĩ qua các mùa giải “Survivor” dẫn đầu bảng năm 01-02 và “American Idol” là quán quân 3 mùa giải liên tiếp: 04-

05, 05-06 và 06-07

Hiện tại có tối thiểu hai kênh truyền hình đã dành toàn bộ thời lượng chỉ cho THTT: Fox Reality tại Mĩ (bắt đầu lên sóng vào năm 2005) và Zone Reality tại Anh (vào năm 2002) Ngoài ra, một số kênh truyền hình cáp khác như Viacom’s MTV, NBC’s Bravo coi THTT là một phần chính của kênh mình Những DVD về các chương trình THTT được bán rất chạy; “The Amazing Race”, “Project Runaway”

và “American’s Next Top Model” đã đứng đầu tất cả các bảng xếp hạng DVD bán chạy nhất tại trang Amazon.com Những chương trình “Survivor”, “Idol”, “Top Model”, “Dancing with the Stars”, “Apprentice” và “Big Brother” đều mang dấu ấn toàn cầu, thành công ở nhiều quốc gia (Xem thêm “Bảng các chương trình truyền hình được yêu thích ở Mỹ năm 2007” - phần phụ lục)

THTT được thực hiện dựa bằng cách quay lại những khoảnh khắc thật về cách ứng xử và đối phó của một người hay một nhóm người đối với các tình huống trong thực tế Người xem cảm thấy gần gũi với chương trình bởi họ tìm thấy chính

Trang 16

mình trong những chương trình đó, thông qua các nhân vật trong chương trình… Ngoài ra, THTT được ưa chuộng khi “đánh” vào tâm lí tò mò của khán giả muốn biết cuộc sống của người mẫu trên sàn catwalk hoặc sau sân khấu là như thế nào (“American’s Next Top Model”, “The Simple Life”, “Celebrity Fit Club”)… Đối với những người có ước vọng trở thành người mẫu hay ca sĩ thì “American’s Next Top Model” hay “American Idol” thậm chí còn quan trọng hơn, bởi đó là con đường giúp biến ước mơ của họ thành hiện thực

1.1.2.2 Tại Việt Nam

Đầu năm 2005, VTV3 ra mắt chương trình “Khởi nghiệp” và ngay lập tức thu hút người xem mỗi tuần Đây có thể được coi là chương trình THTT tiên phong tại Việt Nam Cũng trong năm này, một chương trình THTT khác là “Ngôi nhà mơ ước” cũng bắt đầu được phát sóng trên HTV, theo thể loại tài liệu và mang ý nghĩa

từ thiện xã hội nhằm nâng đỡ tinh thần những người có hoàn cảnh khó khăn Đến năm 2006, “Phụ nữ thế kỷ 21” được phát trên VTV mới thật sự là chương trình THTT đúng nghĩa đầu tiên tại Việt Nam Ngay khi ra mắt bạn xem đài, chương trình đã tạo được sự chú ý bởi tính tươi mới, chân thật và thẳng thắn Tuy là một

cuộc thi truyền hình nhưng các thí sinh được tự do bộc lộ quan điểm, cá tính, những điểm mạnh và cả điểm yếu của mình để từ đó phác họa nên những nét độc

đáo của phụ nữ thế kỷ ngày nay

Trên sóng các đài truyền hình lớn hiện nay, có thể điểm sơ qua các chương trình được thực hiện theo cách thức thực hiện một chương trình THTT là “Ngôi nhà

mơ ước”, “Câu chuyện ước mơ”, “Nụ cười tuổi thơ”, Vietnam Idol, Chinh phục đỉnh Everest (HTV), “Nhịp cầu nhân ái”, “Một điều ước”, “Như chưa hề có cuộc chia ly” (VTV)… Các đài truyền hình này cũng khá ưu ái cho các chương trình này khi chúng đều được phát sóng vào những khoảng “giờ vàng”: 19g (Câu chuyện ước

mơ, Nụ cười tuổi thơ), 20g (Ngôi nhà mơ ước, Như chưa hề có cuộc chia ly)…

Trang 17

Sự phát triển của THTT tại Việt Nam, theo chúng tôi chủ yếu từ những nguyên nhân chính sau:

 Quá trình giao lưu, hội nhập với thế giới

 Hoạt động xã hội hoá truyền hình

 Sự giảm sút về chất lượng nội dung của một số chương trình

Những yếu tố này khó có thể phân định rạch ròi để giải thích về sự hình thành của THTT ở Việt Nam, mà tự bản thân mỗi yếu tố này đều là điều kiện để yếu

tố khác phát triển THTT đã hình thành cách đây hơn 60 năm trên thế giới và được hưởng ứng nhiệt liệt nhờ cách làm chương trình mới, sống động, luôn chứa đựng những yếu tố bất ngờ, sáng tạo đầy thú vị Việt Nam đang trong quá trình hội nhập thế giới, việc học hỏi và xây dựng THTT tại Việt Nam để làm phong phú hơn chất lượng chương trình truyền hình trong nước là điều tất yếu

Ngoài ra, nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, truyền hình Việt Nam tạo ra được sự đa dạng hóa sản phẩm truyền hình, đạt được cả về mặt nội dung lẫn kĩ thuật chương trình (thể hiện qua chất lượng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, sân khấu hiện đại…) Sự nở rộ của các công ty truyền thông cũng thể hiện yếu tố xã hội hoá truyền hình bằng việc cùng phối hợp với đài truyền hình để sản xuất những chương trình có nội dung tốt và phù hợp với thị hiếu khán giả Trong nhiều năm qua hoạt động quảng cáo và tài trợ đã nuôi sống nhiều chương trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình phim truyện, trò chơi, ca nhạc, các chương trình vận động từ thiện Nói cách khác, nguồn thu kinh phí cũng

là một động lực để những người làm truyền hình phải quan tâm nâng cao tay nghề

và không ngừng sáng tạo THTT trên thế giới là những chương trình đáp ứng được nhu cầu về doanh thu từ quảng cáo đối với nhà sản xuất, lại được khán giả yêu thích bởi những yếu tố kể trên Do vậy, trước thành công sẵn có của THTT trên thế giới, những chương trình mua bản quyền của các công ty truyền thông (“Phụ nữ thế kỉ 21”, “Vietnam Idol”) cho đến những chương trình THTT do chính Việt Nam sản

Trang 18

xuất (“Ngôi nhà mơ ước”, “Chinh phục đỉnh Everest”) đánh dấu sự hiệu quả của hoạt động xã hội hoá truyền hình tại Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới

Một yếu tố khác không thể không đề cập tới, đó là chất lượng của một số chương trình trên truyền hình hiện nay đang có chiều hướng đi vào lối mòn, không sáng tạo về cách thức sản xuất, về nội dung… Hiện tượng quá tải dẫn đến bội thực game show của khán giả, những chương trình talk show loay hoay với những chủ

đề cũ hay lấy đề tài từ báo in, tạp chí; phim Việt giờ vàng còn quá nhiều tình tiết vô

lí, nhân vật diễn gượng ép, không thoải mái… là một điều dễ nhận thấy trên sóng truyền hình hiện nay Đặc biệt là với tính chất luôn đổi mới của lĩnh vực truyền thông cũng như sự đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng chương trình của khán giả, nếu những người làm chương trình không có một sự “đột phá”, không có sự sáng tạo làm mới trong kịch bản, thì sự nhàm chán nơi khán giả là điều dễ hiểu Theo

Tổng giám đốc HTV Huỳnh Văn Nam: “Khi game show dần bị bão hòa thì những chương trình truyền hình tương tác, truyền hình thực tế đang được khán giả đón nhận” 5 Và, THTT xuất hiện như một “làn gió mới” trong các chương trình truyền

hình, một giải pháp để giải quyết tình trạng đi xuống của nhiều thể loại truyền hình

kể trên Trên thực tế, “Ngôi nhà mơ ước” đã đoạt giải Mai Vàng 2007 cho hạng mục “Chương trình truyền hình được yêu thích nhất” Năm 2008, cả “Ngôi nhà mơ ước” và “Như chưa hề có cuộc chia ly” đều nằm trong Top 5 chương trình được khán giả bình chọn của giải Mai Vàng 2008 Công lao của đoàn vận động viên trong chương trình “Chinh phục đỉnh Everest” sau này cũng được nhiều khán giả trong nước ghi nhận và phóng viên Hoài Nam của báo Tuổi trẻ, người đã theo chân

để đưa tin về chương trình đã được trao danh hiệu “Công dân trẻ xuất sắc 2008” do Thành đoàn TP.HCM trao tặng

5

Hoài Nam, Phim tài liệu truyền hình: “Mặc áo mới” để đến gần khán giả - Tuổi trẻ,

ngày 11.6.2007

Trang 19

1.1.3 Phân loại các chương trình được sản xuất theo kiểu THTT

 Tư liệu: Những hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày được các

nhà làm phim thu hình lại một cách chân thật, không thể đoán biết sự việc sẽ diễn ra theo chiều hướng nào, nhưng ít nhất nhà sản xuất có thể kiểm soát được chương trình qua công đoạn biên tập “Discovery” là kênh phim tài liệu nổi tiểng được thực hiện theo phương thức sản xuất THTT như vậy

Trong những chương trình tư liệu sản xuất theo kiểu “thực tế” có vài nhánh khác biệt sau đây:

- Môi trường sống đặc biệt: Một vài chương trình tài liệu tiến hành tuyển chọn

nhân vật, và hầu hết họ không quen biết nhau trước đó Sau đó nhà sản xuất sẽ đưa người tham gia đến một môi trường sống nhân tạo để tham gia những thử thách của chương trình “The Real World” hay “Big Brother”, “Survivor” là những chương trình tiêu biểu cho dòng THTT này

- Người nổi tiếng: Đây là một kiểu làm chương trình truyền hình

fly-on-the-wall6 Những chương trình thế này thường đưa lên cảnh sinh hoạt đời thường của những người nổi tiếng “Newlyweds”, “The Simple Life” là những chương trình tiêu biểu với các nhân vật được ghi hình là Jessica Simpsons – Nick Lachey (cặp đôi ca sĩ nhạc pop nổi tiếng của Mỹ) và Paris Hilton…

- Hoạt động nghề nghiệp: Một số chương trình thuộc nhóm này ghi hình lại

những hoạt động hàng ngày của một số người hoạt động trong những lĩnh vực chuyên biệt Chương trình sớm nhất (và cũng là chương trình dài hơi nhất của lĩnh vực này) là COPS, được phát sóng từ năm 1989, và so với những chương trình truyền hình vào cùng thời điểm của những năm trước đó thì chương trình này là một hiện tượng phi thường về lượng khán giả

6 Fly-on-the-wall (idiom), http://en.wikipedia.org/wiki/Fly_on_the_wall : film or TV program is one where the people involved forget or do not know that they’re being filmed - Kiểu làm phim hay chương trình truyền hình mà những nhân vật tham gia không biết hoặc không để ý rằng họ đang được ghi hình

Trang 20

 Thi tài-Loại trừ: Một loại chương trình khác cũng được sản xuất theo phương thức làm THTT là “cạnh tranh thực”, nơi mà người tham gia sẽ được ghi hình lại quá trình cạnh tranh, chiến đấu để thắng giải Thường là họ sẽ sống chung trong một môi trường cách biệt Trong nhiều trường hợp, người chơi sẽ bị loại dần cho tới khi còn lại người duy nhất trong đội chính là người thắng chung cuộc Hình thức bình chọn người chiến thằng thường thực hiện bởi khán giả, người chơi, hoặc ban giám khảo (đôi khi là sự kết hợp của cả ba thành phần trên)

 Vượt lên chính mình: Một vài chương trình THTT ghi hình quá trình cải thiện đời sống của một người hoặc một nhóm người trong suốt mùa giải (như

“Celebrity Fit Club”, “The Biggest Loser”) Mặc dù có sự khác biệt về nội dung, (mục đích của mỗi lần hoàn thiện bản thân ở mỗi mùa giải là khác nhau), nhưng mỗi chương trình đều bảo đảm đúng kết cấu: 1 Giới thiệu hiện tại không hoàn hảo,

2 Lắng nghe lời khuyên của các chuyên gia để thay đổi thực tại, 3 Hoàn thiện bản thân với sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè

 Gặp gỡ đối thoại: Trong chương trình talk show truyền thống, người dẫn chương trình sẽ phỏng vấn các nhân vật đặc biệt trong lĩnh vực nào đó, hay cùng thảo luận về một vấn đề định sẵn Trong những chương trình talk show này cũng có những chương trình thuộc loại “vớ vẩn” (trash TV) “The Jerry Springer Show” (một talk show của MC nổi tiếng Jerry Springer, một trong hai MC của cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Thế giới 2008 được tổ chức tại Nha Trang, Việt Nam vào tháng 7/2008), với chủ đề xuyên suốt khá “sốc” và khó chấp nhận Điểm thực tế của thể loại talk show này là người tham gia được khuyến khích bày tỏ thái độ của mình cũng như giải quyết nó, thông qua những mâu thuẫn và tranh cãi mà người dẫn chương trình tạo ra

 Trò chơi truyền hình: Một số trò chơi truyền hình hiện đại như “Who Wants

to Be a Milionaire?”, “Deal or No Deal” giống những game show truyền thống khi hoạt động được ghi hình tại 1 phim trường trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, những chương trình này được đầu tư quy mô hơn như: có âm nhạc, ánh sáng theo

Trang 21

diễn biến tâm trạng của người chơi, sân khấu hoành tráng hơn; giá trị của phần thưởng cao hơn (như đặt người chơi vào những hoàn cảnh khó khăn về thể chất, hoặc đưa ra một phần thưởng tiền mặt cao) Ngoài ra, những chương trình này thể hiện tính tương tác, trao đổi giữa người chơi và người dẫn nhiều hơn Trong một số trường hợp, họ cũng ghi lại những khoảnh khắc “thực” của việc cạnh tranh/loại trừ nhau của người tham gia Đó là lí do tại sao người ta xếp những game show này vào loại hình THTT thay vì là game show truyền thống

1.1.4 Đặc điểm

Trong nhiều chương trình THTT, người xem và máy quay quan sát một cách

bị động những hoạt động cá nhân hàng ngày của người tham gia Cách làm phim này thường được liên tưởng tới kiểu quay phim “fly on the wall”, hoặc kiểu “truyền hình thực”, khi mà người tham gia không hề biết, hoặc không để ý rằng những hoạt động của họ đang được thu hình lại Do vậy, yếu tố “thực”ở đây bảo đảm rằng sự kiện xảy ra trong cuộc sống của nhân vật sẽ được ghi hình chân thật 100%

Ở những chương trình THTT buổi đầu, các đoạn phim quay cảnh sinh hoạt của người khác không có sự dàn xếp, không có kịch bản Nhưng về sau, các chương trình được dàn dựng theo một kịch bản có sẵn, mọi tình huống đều được tiên liệu trước nhằm giúp cho diễn biến chương trình đi đúng theo ý đồ của đạo diễn và nhà sản xuất Có thể nói tính thực tế của một số chương trình thực tế sau này chỉ mang tính tương đối

Chính vì vậy, yếu tố “thực” từ tên gọi của các chương trình THTT trở thành một vấn đề gây tranh cãi đối với các nhà phê bình trên thế giới Trong 3 chương trình “Big Brother”, “Survivor”, “The Real Word”… nhà sản xuất tự thiết kế kịch bản, những hoạt động diễn ra, những tình huống buộc người tham gia phải bộc lộ cá tính nhiều hơn, cũng như tạo ra những mẫu thuẫn trong nội bộ người tham gia để thu hút sự quan tâm của người xem

Trang 22

THTT đòi hỏi tính nhẫn nại rất cao vì các máy quay phải luôn theo sát đối tượng trong khi chỉ lấy những tình huống bất chợt xảy ra, trong khoảng thời gian ngắn Lấy ví dụ trong “American’s Next Top Model”, khi quay 3000 giờ phim nhưng chỉ lấy 12 phân đoạn có thời lượng 30 phút để sản xuất chương trình

Những chương trình phiên bản của “Pop Idol” ở các quốc gia vẫn tuân theo nguyên tắc “cạnh tranh thực” khi loại trừ một hoặc nhiều hơn số lượng người tham gia ở mỗi tập và trao quyền loại trừ đó cho công chúng Những chương trình Idol này còn đòi hỏi người chơi phải sống tập thể trong suốt chương trình (một số hoạt động hàng ngày của họ sẽ được chọn lọc để lên hình) Và thực tế, đây là những chương trình thể hiện rõ tính tương tác giữa giám khảo và người tham gia Như vậy, những chương trình như vậy được xem là THTT bởi tính tương tác thực của nó giữa khán giả và người tham gia Đây cũng được xem là một yếu tố khiến cho THTT thành công ở các nước trên thế giới

 Có thể khái quát lại những đặc điểm xây dựng các chương trình THTT trên thế giới như sau:

 Những thử thách người tham gia phải vượt qua hoàn toàn bắt nguồn từ những tình huống trong thực tế

 Khung cảnh không dàn dựng mà sử dụng trực tiếp bối cảnh thiên nhiên Thí sinh tham gia được đặt trong một môi trường hoàn toàn xa lạ để thể hiện bản thân

 Cảnh quay sinh hoạt của các thí sinh sống động, thí sinh cũng như ban giám khảo thể hiện suy nghĩ, nhận xét cũng như cá tính của mình trực tiếp, chân thật

 Luôn xảy ra những tình huống bất ngờ không dự liệu được trước trong kịch bản

 Thí sinh tham gia hoàn toàn là những người bình thường và đang trên con đường thực hiện ước mơ trở thành “American Idol” hoặc “American’s Next Top Model”

Trang 23

 Ở Việt Nam hiện có những chương trình THTT “thuần Việt” có cách sản xuất dựa trên những hoàn cảnh, câu chuyện thực tế trong xã hội tương tự NCHCCCL (ở khâu chọn nhât vật, xây dựng tình huống…) mà tiêu biểu là “Vượt

lên chính mình” trên HTV7 (xin xem thêm phần giới thiệu về chương trình “Vượt lên chính mình” ở phụ lục), chỉ khác ở cách thể hiện trên sóng truyền hình Trong

khi NCHCCCL là talk show chú trọng đến yếu tố “thực” khi xây dựng chương trình, thì “Vượt lên chính mình” là một game show khai thác yếu tố “thực” để làm điểm nhấn của chương trình

Qua quá trình khảo sát một số chương trình THTT được yêu thích (bằng việc

đề cử và bình chọn của khán giả qua các giải Mai Vàng), chúng tôi đã rút ra được một số nhận xét về đặc điểm của THTT ở Việt Nam như sau:

 THTT được ưa chuộng vì đáp ứng được tâm lý của công chúng (thường ưu tiên cho bản thân, thích nghe nói về mình hoặc những gì gần gũi với mình)

 Người Việt Nam có truyền thống là nhân ái, thương người như thể thương thân nên những chương trình mang tính nhân văn rất được yêu thích và đề cao

 Tính cách người Việt vốn thích những gì nhẹ nhàng, giản dị, không cầu kì nên những chương trình mang tính bạo lực không được chấp nhận, hay những chương trình ở dạng “chơi khăm” như “Vui là chính” (HTV) thường bị phê phán và phải thay đổi, cải tiến nội dung lẫn hình thức

 Những đặc điểm, yếu tố mới lạ, thực, bất ngờ, đa dạng của THTT vẫn giữ nguyên sức hút khán đối với giả Việt Nam như với khán giả thế giới

 Yếu tố truyền thông vẫn là yếu tố chính giúp chương trình mở rộng phạm vi khán giả, tạo nên sự tương tác giữa chương trình với công chúng

 Bằng cách là cầu nối giữa người và người, và với tính thực tế của nó, THTT nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội, giúp con người có thể thay đổi và cải tạo bản thân (xã hội hóa cá nhân) Tuy nhiên nếu THTT có những nội dung không phù

Trang 24

hợp với nền văn hóa, phong tục, truyền thống của những người tiếp nhận thì sẽ gây phản tác dụng, bị phê phán và “tẩy chay”

1.2 KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH “NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY” TRÊN VTV

1.2.1 Giới thiệu về chương trình

1.2.1.1 Sự ra đời

Theo website của chương trình NCHCCCL, đây là “chương trình truyền hình

được phối hợp thực hiện giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Công ty Truyền Thông Sài Gòn Buổi Sáng Đồng thời, đây cũng là một dự án xã hội nhằm đoàn tụ thân nhân, được sự bảo trợ thông tin của báo Thanh Niên, và sự tài trợ của Tổng công ty Viễn thông Quân đội – Viettel, Công ty Cổ phần Dịch vụ Phần mềm Trò chơi Vina (VinaGame) Chương trình được phát sóng trực tiếp trên VTV1,

VTV4 và VTV9 vào lúc 20 giờ tối thứ bảy đầu tiên trong tháng và phát lại vào 14g ngày thứ bảy của tuần kế tiếp trên VTV1 Mọi trường hợp đăng ký tìm kiếm thân nhân với Chương trình đều không phải trả bất kỳ một khoản chi phí nào Trong trường hợp tìm ra, các cuộc đoàn tụ sẽ được tổ chức tại trường quay Đàì truyền hình Việt Nam, tại TP.HCM, hoặc tại một số thành phố lớn khác”7

Chương trình NCHCCCL lên sóng truyền hình lần đầu tiên vào ngày 1.12.2007 trên kênh VTV1 Trong số đầu tiên này, khán giả được chứng kiến cảnh đoàn tụ của ca sĩ Đình Bảo với cô giáo của mình sau 20 năm mất liên lạc, cuộc đoàn

tụ của nhà cách mạng lão thành với con trai đồng đội của mình đang ở Trung Quốc, đặc biệt điểm nhấn của chương trình là cuộc đoàn tụ giữa anh Nguyễn Văn Linh và người thân sau 22 năm ly tán Có thể nói, chương trình ngay từ số phát sóng đầu tiên đã lấy được nước mắt của nhiều khán giả tại trường quay, chiếm được cảm xúc

và thực sự ghi dấu ấn lớn trong lòng khán giả truyền hình cả nước

7

Phần giới thiệu về chương trình NCHCCCL tại website www.haylentieng.vn

Trang 25

Trong quá trình học ở Liên Xô (cũ) những năm 80, một chương trình đoàn tụ

người thân vô cùng nhân văn có tên là "Hãy đợi tôi" (Zdi Menhia) đã gây dấu ấn

trong nhà báo Thu Uyên – chủ nhiệm chương trình NCHCCCL Sau này, khi về

nước, nhà báo Thu Uyên ấp ủ ý tưởng xây dựng một chương trình truyền hình giúp

đoàn tụ người thân – đặc biệt là ở một đất nước trải qua nhiều cuộc chia ly do chiến

tranh như nước ta Đến năm 2006 khi đã có chủ trương xã hội hoá truyền hình, công

ty truyền thông Gòn Buổi Sáng, VinaGame, báo Thanh Niên, hãng phim Thanh

Niên và nhà tài trợ Viettel đã cùng phối hợp với VTV xây dựng chương trình

Bảng 1.1 – So sánh 2 chương trình NCHCCCL và Zdi Menhia

Về tên chương trình

Жди меня - Hãy đợi tôi, là tên

bài thơ nổi tiếng của K.Simonov,

đã được Tố Hữu dịch thành bài thơ "Đợi anh về"

Tên chương trình trích từ một câu trong bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ” của nhà thơ – liệt sĩ Nguyễn

Mỹ (Câu thơ gốc là “Như không

hề có cuộc chia ly”)

Thời gian bắt đầu

Thể loại Talk show được xây dựng theo phương thức làm THTT

Số lượng MC 2 người (1 nam chính và 1 nữ) 2 người (1 nữ chính và 1 nam) Tổng số trường hợp

đã tìm ra người thân

(đến hết tháng

7.2009)

Tính chất Là một dự án của quốc gia, có

Uỷ ban tìm kiếm quốc gia và có

Là một dự án truyền hình nhân đạo xã hội không mang tính chất

Trang 26

đội ngũ quản lí đội tình nguyện viên tìm kiếm rộng khắp cả nước

từ Nga đến Ukraine và Belarush

quốc gia, chưa có đội ngũ tình nguỵên viên tìm kiếm

Kênh chiếu và thời

lượng chương trình

Kênh 1 của đài quốc gia – 25 phút/kỳ phát sóng

VTV1, VTV4 và VTV9 – 55 phút/kỳ phát sóng

1.2.1.2 Nội dung, tiêu chí và kết cấu của chương trình

 Nội dung: Với chủ đề chung hướng đến sự đoàn tụ nhưng mỗi số của

chương trình đều mang một màu sắc riêng biệt vì cuộc sống con người luôn vốn

phong phú, hoàn cảnh của các nhân vật đều không giống nhau Một kỳ phát sóng

chủ yếu xoay quanh 3 vấn đề: hai MC Hồng Phúc và Thu Uyên trò chuyện với nhân

vật và khách mời để tìm hiểu thông tin; chương trình cung cấp thông tin về những

trường hợp thất lạc, những trường hợp đăng kí tìm kiếm để nhờ vào sự mách bảo

của khán giả; và điểm nhấn của chương trình là những cuộc đoàn tụ Mỗi số phát

sóng của chương trình được coi là mỗi lần ghi nhận sự thành công của đội tìm kiếm

khi đưa người xem đến với nhiều cuộc đoàn tụ đầy xúc động Thông qua cuộc trò

chuyện gần gũi và ấm cúng giữa nhân vật và nhà báo Thu Uyên, chương trình giới

thiệu với khán giả những cuộc đời lưu lạc éo le nhưng đầy quyết tâm tìm về với

người thân, với gia đình của nhân vật

 Tiêu chí: Như đã trình bày ở trên, trải qua hai cuộc chiến chống Pháp và

Mỹ, đất nước ta đã phải hứng chịu những hậu quả nặng nề Ngoài những nỗi đau thể

hiện trực tiếp như có người thân hi sinh, nhiễm chất độc da cam, tàn phế do chiến

tranh… thì vẫn còn đó những nỗi đau tinh thần luôn đeo đuổi dai dẳng: đó là nỗi

đau chia ly người thân Có nhiều lí do khiến con người ly tán: chia ly do nhiệm vụ

chiến tranh, chia ly vì bị địch bắt trong trận càn… nhưng cũng có những cuộc chia

ly chỉ vì mâu thuẫn trong gia đình hoặc gia cảnh quá nghèo nên bố mẹ phải đem cho

con đi Do vậy, chương trình xây dựng với 3 tiêu chí chính là “Tìm ra - Kết nối -

Trang 27

Đoàn tụ” nhằm trở thành chiếc cầu nối xoa dịu những nỗi đau, mất mát vì chia ly và

lưu lạc Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, mục tiêu của chương trình là: “Tác thành những cuộc đoàn tụ cho những người lương thiện khi cả hai bên đều có nguyện vọng”.8

Ngoài ra, chương trình còn tôn vinh nỗ lực phi thường của những con người bất hạnh nhưng không ngừng vượt lên nghịch cảnh, biểu dương tấm lòng nhân ái của những người đã cưu mang giúp đỡ nhân vật

Đối tượng nhân vật của chương trình là những người có nhu cầu tìm lại người thân Tuy nhiên, chương trình không thực hiện tìm kiếm cho những trường hợp tìm thân nhân vì những mục đích không tốt đẹp (đòi nợ, giải quyết hiềm khích

cá nhân ….), hoặc những trường hợp mang tính cá biệt quá cao, không thể hiện số phận của nhiều người, và tìm mộ

Đối tượng khán giả: chương trình hướng đến phục vụ tất cả mọi người, không phân biệt độ tuổi, giới tính, trình độ Có ý kiến cho rằng, phần lớn những khán giả quan tâm đến chương trình thường là những người đang có nhu cầu tìm kiếm người thân Họ xem chương trình để chia sẻ sự đồng cảm hoàn cảnh của mình với nhân vật, và cũng trông đợi trong một lần phát sóng nào đó, họ cũng sẽ là nhân vật trung tâm của chương trình với cuộc đoàn viên Thực chất, với đối tượng khán giả không bị bó hẹp như những talk show khác (như “Nhịp cầu vàng” trên HTV dành cho người cao tuổi, “Người xây tổ ấm” trên VTV dành cho những người phụ

nữ đã có gia đình) thì NCHCCCL dễ dàng thu hút thông tin mách bảo từ phía khán giả hơn Đối với một chương trình chủ trương tìm kiếm và đoàn tụ người thân như NCHCCCL thì bên cạnh những suy luận của đội tìm kiếm, những thông tin mách bảo này cực kì quan trọng và góp phần vào thành công tìm ra thân nhân cho nhân vật Trong cuộc trả lời phỏng vấn của chúng tôi, nhà báo Thu Uyên cho biết

“khoảng 10% các trường hợp tìm ra là nhờ vào sự mách bảo của khán giả”

8

Đỗ Duy, Như chưa hề có cuộc chia ly, Tuổi trẻ cuối tuần

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=238624&ChannelID=119

Trang 28

 Kết cấu chương trình: Chương trình được bắt đầu như một talkshow, MC

sẽ trò chuyện cùng với một hay nhiều nhân vật cần tìm người thân có mặt tại trường quay S8 (TP.HCM) để biết thêm thông tin cũng như xác nhận lại một lần nữa tính xác thực của những thông tin đó Sau đó chương trình sẽ phát các đoạn phóng sự theo chân ngắn quay cảnh sinh hoạt, chân dung của những người thân của nhân vật

và kết thúc sẽ màn đoàn tụ đầy bất ngờ và xúc động, tất cả đều được quay trực tiếp Ngoại trừ số đầu tiên (phát sóng vào ngày 1.12.2007), để bảo đảm yếu tố kĩ thuật nên đã được ghi hình từ trước tại trường quay và phát lại trên VTV1, các số về sau đều được truyền hình trực tiếp Thông thường, trong một số phát sóng sẽ có hai cuộc đoàn tụ cho 2 nhân vật, xen giữa hai cuộc đoàn tụ sẽ là những thông tin tìm kiếm Những thông tin này được những người đăng kí tìm người thân có mặt tại trường quay tự chia sẻ, hoặc là những hình ảnh và thông tin đã được chuẩn bị trước

và cho chạy trên màn hình

1.2.1.3 Danh mục các kỳ đã phát (đến cuối tháng 1.2009)

Bảng 1.2 – Danh mục các kì đã phát sóng

Thời điểm phát Tên chương trình

1.12.2007 Như chưa hề có cuộc chia ly số 1

5.1.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 2

2.2.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 3

1.3.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 4

5.4.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 5

3.5.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 6

Trang 29

7.6.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 7

5.7.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 8

2.8.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 9

6.9.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 10

4.10.2008 Như chưa hề có cuộc chia ly số 11

1.11.2008 Những đứa trẻ lạc nhà – phần 1

6.12.2008 Những đứa trẻ lạc nhà – phần 2

3.1.2009 Đêm Gala – Tổng kết một năm phát sóng

1.2.2 Quá trình tổ chức và thực hiện chương trình

Chương trình NCHCCCL là dự án xã hội có sự tham gia của nhiều đơn vị truyền thông: Truyền hình (VTV) – Báo chí (báo Thanh Niên bảo trợ thông tin) –Website (trang web chính thức của chương trình www.haylentieng.vn) – Đường dây nóng (số điện thoại 6824 7777 hoạt động liên tục 24/24 và ngay cả trong thời điểm chương trình đang phát trực tiếp với phần tương tác do Vina Game hỗ trợ) – Cộng đồng Nhà báo Thu Uyên chịu trách nhiệm chung trong việc điều phối hoạt động ở tất cả các khâu xử lí thông tin – tìm kiếm – truyền hình – website và tương tác Tuy tính chất công việc khác nhau, nhưng tất cả đều là công tác từ thiện mang tính chất tình nguyện, phục vụ một mục đích là “tìm ra - đoàn tụ trên truyền hình” nên mọi

bộ phận đều gắn kết với nhau chặt chẽ Trong mỗi khâu có những phần việc ủy quyền hoặc giao việc cụ thể Trong điều kiện từng ekip nhỏ, mô hình này hoạt động khá tốt

Trang 30

Như đã đề cập ở phần định nghĩa, THTT có thể hiểu là cách thức xây dựng nên chương trình qua nhiều công đoạn, trong một quá trình lâu dài của cả êkíp

Đi từ những đơn đăng kí tìm kiếm do khán giả gửi về, với những hoàn cảnh chia ly thật sự diễn ra trong cuộc sống, đội tìm kiếm đã phải làm việc trong thời gian dài để xác minh và kết nối thông tin, từ đó tìm ra người thân cho nhân vật Trải qua quá trình làm việc, phấn đấu lâu dài để đạt được một kết quả nhất định thật sự, rõ ràng

và cụ thể, đó có thể được xem là tiêu chí chung của các chương trình THTT trên thế

giới như “American Idol”, “Survivor”… Do vậy, những cuộc đoàn tụ của NCHCCCL được chiếu trực tiếp hàng tuần dưới dạng một talk show chỉ là một phần trong quá trình xây dựng nên chương trình

Có năm cách để đăng kí tìm kiếm người thân với chương trình 9:

 Điền trực tiếp vào đơn đăng kí tại website của chương trình Số lượng đăng

kí tìm người thân qua website của chương trình là 2051

 Đến đăng kí tại văn phòng công ty Sài Gòn Buổi sáng Đã có 618 trường hợp đăng kí tìm nhân thân trực tiếp tại văn phòng công ty

 Đăng kí qua số điện thoại 6824 7777 Có 3065 người đã đăng kí tìm người thân với chương trình thông qua đường dây nóng này

 Đăng kí qua email timnguoithan@haylentieng.vn, đã có 841 trường hợp

 Đăng kí qua thư tay : 4361 người đã gửi thư về chương trình để đăng kí tìm người thân

Khán giả cũng có thể gọi điện thoại về chương trình ngay tại thời điểm đang phát sóng trực tiếp thông qua số điện thoại 6824 7777 Quá trình tương tác qua đường dây nóng này do Vina Game phụ trách ghi nhận nhưng không xử lí Theo nhà báo Thu Uyên, mỗi số chương trình phát sóng trực tiếp có khoảng hơn 100 cuộc gọi về qua đường dây nóng, trong đó có những cuộc gọi có thông tin liên quan đến nhân vật trong chương trình Ngoài ra, website của chương trình luôn cung cấp đầy

9

Số liệu tính đến hết tháng 1.2009 – xem phụ lục

Trang 31

đủ hình ảnh và thông tin của những người đăng kí tìm người thân; nếu khán giả có bất kì thông tin liên quan đến nhân vật đều có thể phản hồi trực tiếp trên website này Những khán giả có nguyện vọng đăng kí làm TNV đội tìm kiếm của chương trình cũng có thể đăng kí trực tiếp trên website Đến cuối tháng 1.2009, đã có 1697 trường hợp đăng kí làm TNV cho chương trình Hình thức cuối cùng là gửi thư tay trực tiếp về cho văn phòng công ty Sài Gòn Buổi Sáng Thư tay gửi về công ty có thể chia thành ba loại chính: loại chia sẻ tình cảm với nhân vật, với chương trình10 ; loại đăng kí tìm người thân và loại phản hồi, cung cấp thông tin về cho chương trình Tính đến hết tháng 1.2009, có 1866 trường hợp phản hồi qua website và tổng đài của chương trình

Quá trình xử lí thông tin do đội tìm kiếm của công ty Sài Gòn Buổi Sáng thực hiện, chủ nhiệm chương trình hỗ trợ khi cần thiết Mỗi thành viên trong đội tìm kiếm phải tự phân tích tâm lí nhân vật và tình huống Khi cần xác minh những thông tin thì có để đi công tác tại các tỉnh và có thể đi lại liên tục nhiều lần 11 Bản thân những thành viên trong đội tìm kiếm đều là những người được đào tạo qua nghiệp vụ công an, về phán đoán và tư duy logic, tâm lí con người Đội ngũ TNV chưa đi vào hoạt động do chưa có thời gian và điều kiện tổ chức, nên mọi công việc tìm kiếm người thân hiện nay đều do những thành viên trong đội tìm kiếm trực tiếp phụ trách và thực hiện Có thể hình dung ra được khối lượng công việc và áp lực của những thành viên đội tìm kiếm nặng nề như thế nào, khi mà hầu hết những trường hợp đăng kí tìm kiếm với chương trình đều là những trường hợp thất lạc mà gia đình đã tìm mãi không ra gần vài chục năm, hoặc do nhân vật bị thất lạc từ rất nhỏ nên những kí ức về quá khứ của họ không nhiều… Không có con số trung bình

cụ thể cho thời gian tìm kiếm ra người thân cho nhân vật, vì có những trường hợp tìm đã lâu mà chưa ra Ví dụ: trong tháng 1.2008 đã tìm thấy 09 trường hợp, nhưng trong tháng 7.2008 chỉ tìm thấy 1 trường hợp Nhưng cũng có những trường hợp

Trang 32

ngẫu nhiên, khi cả hai lá thư đăng kí tìm kiếm (từ phía người bị thất lạc đang tìm lại gia đình của mình, và từ phía gia đình đang tìm người thân bị thất lạc) đều trùng khớp nên việc tìm kiếm diễn ra rất thuận lợi 12

Sau khi đã có những thông tin cần thiết và đầy đủ về nhân vật, chương trình

sẽ tiến hành công tác kiểm tra thông tin và thực hiện phóng sự theo chân Quá trình kiểm tra thông tin được thực hiện nhiều lần để khẳng định lại những thông tin mà cả nhân vật đưa ra và đội tìm kiếm thực hiện đều trùng khớp Trong trường hợp cần thiết, có thể dùng cả phương pháp xét nghiệm ADN13 để xác định huyết thống Phần thực hiện phóng sự theo chân, ghi nhận lại quá trình tìm kiếm của đội tìm kiếm cũng như cuộc sống của người thân nhân vật ở quê nhà do các phóng viên của VTV hoặc hãng phim Thanh Niên thực hiện Những phóng sự này được phát xen kẽ cuộc trò chuyện giữa MC Thu Uyên và nhân vật

Khâu kịch bản và tổ chức chương trình trực tiếp tại trường quay S8 do nhà báo Thu Uyên và VTV phụ trách Theo nhà báo Thu Uyên thì công tác xây dựng kịch bản là khâu quan trọng nhất để có thể phân tích và phán đoán các tình huống trong suốt chương trình sẽ diễn ra như thế nào Vì cuộc đoàn tụ trên truyền hình được phát sóng trực tiếp, nên tính tương tác và tính bất ngờ rất cao Trong suốt chương trình, nhiều yếu tố không lường trước được tuỳ vào diễn biến tâm trạng của nhân vật Do vậy, khâu kịch bản phải được xây dựng chu đáo Nếu đã phân tích kịch bản rồi mà vẫn chưa chắc chắn thì sẽ lập kịch bản dưới dạng “Nếu…thì” Trước khi chương trình bắt đầu, người thân của nhân vật sẽ được mời đến một phòng cách li với trường quay và theo dõi chương trình qua màn hình tivi Cả nhân vật lẫn người thân và khán giả khi được mời đến trường quay đều không hề được biết trước cuộc đoàn tụ của họ sẽ diễn ra trong chương trình Những người được

MC làm việc trước về kịch bản, chỉ là để khẳng định lại những thông tin trong kịch bản; do vậy, họ (nhân vật và người thân, khán giả) sẽ thực sự cảm thấy bất ngờ Số người đăng kí được xem trực tiếp tại trường quay rất nhiều Nhưng do số ghế trong

Trang 33

trường quay S8 tối đa chỉ có 60 ghế nên chương trình ưu tiên cho những người trong cuộc, là những người có đăng kí tìm người thân với chương trình, hang xóm hay bạn bè, người thân của nhân vật… Danh sách khách mời tại trường quay sẽ được thống nhất từ 10 ngày trước khi diễn ra chương trình truyền hình trực tiếp Ê-kíp thực hiện chương trình như sau:

 Kịch bản: Thu Uyên

 Đạo diễn: Thế Anh

 Dẫn chương trình: Thu Uyên – Hồng Phúc

 Xử lí thông tin: Hoàng Hồng Hà – Minh Luân – Thái Quỳnh – Văn Linh

 Đội tìm kiếm Sài Gòn Buổi Sáng: Cao Tâm – Xuân Cương – Minh Hoàng – Xuân Liêm – Phan Khoa

 Quay phóng sự: Khắc Tuấn – Thế Hiển – Anh Đức

 Giới thiệu chương trình tiêu biểu:

 Đêm Gala chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly số 14 diễn ra vào ngày

3.1.2009, kéo dài 2 tiếng và đón nhận sự hiện diện của nhiều vị lãnh đạo như: Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Phó bí thư tỉnh uỷ Nghệ An, nguyên Phó tổng giám đốc VTV, nhà báo Trần Bình Minh; Giám đốc trung tâm truyền hình Việt Nam tại TP.HCM Lâm Văn Tư; Phó tổng giám đốc Tổng công ty Viễn thông quân đội Viettel … Bên cạnh đó, trong đêm Gala đã có tới

4 cuộc đoàn tụ đã diễn ra đầy xúc động trong sự bất ngờ không chỉ của nhân vật mà

Trang 34

còn là đa số khách mời, vốn chỉ nghĩ đến một đêm tổng kết hoạt động, “chia vui”

của NCHCCCL như bất kì những buổi kỉ niệm của những chương trình khác

 Chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly số 8 và 13 lần lượt giới thiệu về 2

trường hợp bị thất lạc người thân là chị Tóc Rối và anh Đặng Văn Thắng Số phận của hai nhân vật này hoàn toàn đặc biệt so với các nhân vật khác: chị Tóc Rối thì bị tâm thần, mất trí nhớ nên không hề có kí ức gì về nơi mình đã bị lạc; trường hợp anh Đặng Văn Thắng thì bị lạc gia đình khi còn rất nhỏ, bản thân anh Thắng lại câm nên rất khó khăn để diễn đạt suy nghĩ của mình Ngoài ra, không chỉ đơn thuần giới thiệu về những sự chia ly, cuộc đoàn tụ, mà trong cuộc đoàn tụ của hai nhân vật này, chương trình còn giới thiệu đến khán giả những tấm lòng nhân ái đã cưu mang hai nhân vật này: đó là doanh nhân Việt kiều tại Campuchia là bà Trần Thị Tỏ - người cưu mang chị Tóc Rối 3 năm liền, và bà Châu – người cưu mang và đã dày công giúp đỡ anh Thắng đi tìm lại gốc gác của mình Có thể nói, nếu không có tấm lòng tốt bụng của bà Tỏ và bà Châu thì chị Tóc Rối và anh Thắng đã không thể nào tìm được về nguồn cội của mình Cùng chủ đề thất lạc với nhiều giá trị nhân văn để cảm nhận và suy ngẫm, vì vậy, hai chương trình này thực sự tiêu biểu cho NCHCCCL

 Tập hồ sơ đặc biệt: Hồ sơ “đường 7”

Ở chương trình NCHCCCL số 18 đến chương trình NCHCCCL số 21 vào tối ngày 2/8/2009, nhà báo Thu Uyên giới thiệu một một bộ hồ sơ dày mang tên

“Đường 7”, cho đến thời điểm hiện tại, đã có 86 trường hợp đăng ký, đó là 48 trường hợp cha mẹ, anh chị đăng ký tìm con, tìm em và 38 hồ sơ do những người làm chương trình lập nên từ việc đi tìm những người con bị lạc từ 34 năm trước đã trưởng thành, là con nuôi của bộ đội, của đồng bào các dân tộc, giờ họ đi tìm cha

mẹ

Trang 35

Và hồ sơ “Đường 7” là tập hồ sơ dày nhất, ghi dấu 1 sự kiện lịch sử chiến tranh Đường 7 (nay là đường 25) dài 250 km, với các địa danh Cheo Reo, Hậu Bổn, Phú Túc, sông Ba, đèo Tô-na, Sơn Hòa, Thành Hội nối từ Azunpa của Gia Lai đến Tuy Hòa, là tuyến hành lang vùng Bắc Tây Nguyên với Nam Trung Bộ

Nơi đây, từ ngày 16 đến cuối tháng 3.1975, đã diễn

ra cuộc tháo chạy hỗn loạn

“Mọi kế hoạch hành quân di tản gần như đảo lộn với sự có mặt của hàng vạn đồng bào chạy loạn bằng đủ mọi phương tiện từ xe gắn máy, xe thồ,

xe ngựa, xe kéo tới xe hơi các loại Cứ thế, dân theo lính nối đuôi nhau không làm sao đếm nổi số lượng kéo dài hàng cây số” (Trích lời “Người về từ cõi chết trên tỉnh

lộ 7 Phú Bổn - Tuy Hòa” của Ngô Trúc Khánh) chính là sự miêu tả rõ nét hoàn cảnh thất lạc của không chỉ 86 trường hợp trong bộ hồ sơ “Đường 7” mà những người

làm chương trình đang tích cực tìm kiếm

1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG

THTT chỉ mới manh nha lan rộng tại Việt Nam hơn hai năm trở lại đây, những bỡ ngỡ về nghiệp vụ ban đầu là không thể tránh khỏi THTT ở giai đoạn này chưa ghi nhận được những kết quả vốn có của nó như trên thế giới; bởi những đặc thù riêng của THTT trong việc sản xuất xây dựng các chương trình truyền hình ở Việt Nam với những lí do về yếu tố kĩ thuật, yếu tố văn hoá và đặc biệt là do yếu tố tâm lí khán giả người Việt còn rụt rè Các chương trình THTT ở Việt Nam hiện nay chỉ đang ở mức quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp tài trợ (Clear với “Vietnam Idol” hay Trà xanh Không độ với “Chinh phục đỉnh Everest”; một thương hiệu công

Trang 36

ty như thép Pomina trong “Ngôi nhà mơ ước”) Tuy chưa thể làm nên một cơn sốt THTT như ở các nước phương Tây nhưng THTT đã có mặt như một sự khám phá mới trong cách làm truyền hình, trong cách tiếp cận thông tin để truyền tải đến khán giả xem truyền hình bằng những đoạn phim ngắn đầy cảm xúc và chân thật về cuộc sống của những con người lao động nghèo, niềm tự hào dân tộc, hay sự đau khổ của những người bao năm lạc người thân… tạo rất nhiều xúc cảm đến khán giả Đó là lí

do để có thể tin tưởng rằng THTT sẽ còn nhiều cơ hội để phát triển mạnh mẽ hơn nữa ở Việt Nam

Đánh động được lòng trắc ẩn của người xem, sự bao dung và chia sẻ của xã hội, vừa theo đúng tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “tương thân tương ái” của dân tộc Việt Nam nên không khó khăn để “Như chưa hề có cuộc chia ly” chiếm được cảm tình của khán giả Chia ly luôn là một nỗi đau tinh thần luôn dai dẳng trong lòng mỗi cá nhân, mỗi gia đình và của toàn xã hội Rõ ràng, trong ý thức quần chúng đã có những sự kiện nào đó nhưng chưa có nhận thức, thái độ đánh giá, quan điểm chuẩn xác thì báo chí phải có vai trò định hướng công chúng thích hợp14 Chỉ riêng có NCHCCCL là chương trình duy nhất chủ trương hướng đến sự giúp đỡ tìm kiếm người thân bị thất lạc của mỗi gia đình Lối đi riêng biệt không thể lẫn lộn, cùng với ý nghĩa đậm chất nhân văn của NCHCCCL đã khiến cả khán giả tại trường quay và khán giả màn ảnh nhỏ đi từ xúc động của những câu hỏi – đáp chân tình không sáo rỗng, đến cảnh vỡ oà trong nước mắt của hình ảnh gia đình đoàn viên Hướng đến chủ đề nhân bản xã hội, cùng mục đích giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh, cơ nhỡ, nhưng nội dung của chương trình mang lại cho khán giả những cảm giác rất riêng, không thể nhầm với chương trình khác được

14

Nguyễn Văn Dững, Đối tượng tác động của báo chí, Tạp chí Xã hội học số 4.2004

Trang 37

CHƯƠNG 2 : HIỆU ỨNG XÃ HỘI CỦA CHƯƠNG TRÌNH NHƯ CHƯA

chúng “Hiệu ứng xã hội của truyền thông đại chúng là những biểu hiện xã hội của

cá nhân hình thành do sự tác động của những thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng” 15 Hiệu ứng xã hội của truyền thông đại chúng là những sự thay đổi chủ yếu về mặt tâm lí, cách ứng xử, hành vi cá nhân, xáo trộn sinh hoạt của cá nhân và cộng đồng trong quá trình tiếp nhận sự tác động của truyền thông đại chúng

Thông điệp truyền thông thường tạo nên ảnh hưởng tích cực đến công chúng

và xã hội, nhưng cũng có những hiệu ứng tiêu cực và không lường trước được Có những biểu hiện của hiệu ứng truyền thông xuất hiện tức thì như sự bộc lộ các trạng thái tình cảm như vui, buồn… Có những biểu hiện của hiệu ứng xã hội được thể hiện dưới dạng những phản ứng, hành vi xã hội rộng lớn Lấy ví dụ điển hình là hiệu ứng xã hội của chiến dịch Giờ Trái Đất: từ một phong trào chỉ xuất hiện ở phương Tây nhưng dưới sự tác động của giới truyền thông, phong trào này đã được hình thành và hưởng ứng tại Việt Nam Cũng có những thói quen, cách ứng xử của công chúng được hình thành dưới ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Một ví dụ khác về truyền thông đại chúng gây ảnh hưởng tích cực đến xã hội: Bằng kĩ thuật sử dụng âm thanh trong phát thanh, bằng tiếng bom gào rít kinh hoàng của Đức quốc xã trên bầu trời London, nhà báo Ed Murrow đã thức tỉnh cả

15 PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002,

trang 28

Trang 38

nước Mỹ, vốn không quan tâm đến tình hình chiến tranh đang diễn ra trên quốc tế lúc bấy giờ Đó là thời điểm Thế chiến thứ hai diễn ra ở chiến trường châu Âu 16 Tuy nhiên, hiệu ứng của truyền thông đối với công chúng không thực sự mạnh mẽ đến mức có thể thay đổi hoàn toàn mỗi cá nhân Theo tác giả Trần Hữu

Quang, “giới công chúng không phải là những đối tượng thụ động báo chí, họ luôn luôn lựa chọn và sử dụng những phương tiện cũng như những thông điệp truyền thông phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của mình” và “giới truyền thông không bao giờ có được quyền lực toàn năng đối với công chúng” 17 Những ảnh hưởng của truyền thông đối với cá nhân đó tuỳ thuộc vào tính cách cá nhân và tính cách xã hội của mỗi người Cũng theo quan điểm này, tác giả Deflur Dennis trong tác phẩm

“Understangding Mass Communication” cho rằng: “Tác động của truyền thông đến công chúng chỉ mang tính chọn lọc và khá hạn chế Truyền thông gần như chỉ mang tính chất cung cấp thông tin hơn là định hình ý kiến; chỉ thực sự tác động đến việc hình thành những ý kiến trái chiều về cùng một vấn đề của cá nhân, hơn là biến đổi hoàn toàn luồng tư tưởng của người đó, thay đổi hoàn toàn cuộc sống của họ.”18

Do giới hạn của đề tài và khả năng của người thực hiện, tôi chỉ nghiên cứu

về tác động và hiệu quả của NCHCCCL đối với công chúng, chứ không nghiên cứu

về cách tiếp nhận của công chúng Với chương trình này, hiệu quả này được thể hiện gián tiếp, vì nó được đánh giá trên những vận động của các tiến trình, lĩnh vực khác nhau trong xã hội và tác động của truyền thông đại chúng (cụ thể trong đề tài này là chương trình NCHCCCL)

opinions… but did not convert people to new polictical ideologies… or otherwise greatly influences their lives

Trang 39

2.1.2 Phân loại

Tác giả Defleur Dennis trong cùng tác phẩm “Understanding Mass Communication” cho rằng có thể phân loại các ảnh hưởng của truyền thông đại chúng dẫn đến sự thay đổi trong phạm vi xã hội ra hai loại; và quá trình này được tác giả trình bày dưới hai lý thuyết: lý thuyết “quá trình tích luỹ” và lý thuyết “quá trình mô phỏng”19

Lý thuyết Quá trình tích luỹ (Accumulation Theory) giải thích những thay

đổi quan trọng diễn ra trong thời gian dài khi các phương tiện truyền thông liên tục tác động đến công chúng về một vấn đề nhất định nào đó Đặc biệt, khi công chúng không hiểu biết nhiều hoặc không biết về vấn đề đang được đề cập thì sự tác động này của truyền thông càng hiệu quả ở mọi tình huống Theo đó, từ những hiệu ứng ban đầu, tuy không lớn, nhưng nếu được tích luỹ liên tục và đều đặn thì thông điệp truyền thông sẽ tạo nên một hiệu ứng lớn Cụ thể hơn, quá trình tác động của truyền thông đại chúng lần lượt trải qua các giai đoạn:

 Các phương tiện truyền thông đại chúng tập trung vào một tình huống/chủ đề

 Thông điệp truyền thông phải nhất quán và truyền tải một cách bền bỉ, liên tục

 Từng cá nhân trong xã hội nhận thức được vấn đề - đó là kết quả ban đầu của việc tuyên truyền thông tin của các phương tiện truyền thông

 Cá nhân hiểu rõ hơn về vấn đề qua những thông tin được cung cấp liên tục,

từ đó họ bắt đầu thay đổi niềm tin, thái độ hoặc cách ứng xử

 Dần dần từng người một thay đổi dẫn tới việc cả xã hội thay đổi, hình thành một cộng đồng có cùng sự chia sẻ quan điểm đối với tình huống ban đầu mà các phương tiện truyền thông hướng tới

19

Defleur Dennis, Understanding Mass Communication, NXB Houghton Mifflin, 1993,

trang 559

Trang 40

Lý thuyết Quá trình mô phỏng (Adoption Theory) cho rằng truyền thông

đóng vai trò là nhân tố dẫn đến sự thay đổi của xã hội trong cách mà công chúng tiếp nhận những đột phá mới (về kĩ thuật, tín ngưỡng, cách giải quyết vấn đề, cách hành xử…) Để dẫn đến sự thay đổi này, trước hết công chúng cần phải biết về sự tồn tại của các nhân tố “mới” đó, và sau đó họ cần được cung cấp thông tin về “cái giá” phải trả trong tương quan với những thuận lợi mà họ đạt được khi tiếp cận những đột phá đó Everett Rogers và F.Floyd Shoemaker đã chia quá trình mô phỏng này thành 4 giai đoạn:

 Giai đoạn nhận thức: cá nhân nhận biết sự tồn tại của nhân tố mới nhưng thiếu những thông tin cụ thể về nó

 Giai đoạn “mê mẩn”: cá nhân phát triển những sở thích về sự đột phá đó và tìm kiếm những thông tin về nó

 Giai đoạn đánh giá: cá nhân sử dụng những thông tin có được để đánh giá khả năng ứng dụng nhân tố mới này vào cuộc sống hiện tại và tương lai của họ

 Giai đoạn thử nghiệm: nếu có thể, từng người áp dụng ý tưởng mới này vào cuộc sống của họ trong một phạm vi nhỏ để đánh giá tính khả dụng của nó

 Giai đoạn làm theo: mỗi cá nhân nhân đạt được và tiếp tục ứng dụng những nhân tố mới đó một cách đầy đủ hơn

Trong “The Dynamics of Mass Communication”, tác giả Joseph R Dominick phân chia hiệu ứng truyền thông đại chúng làm 4 loại 20:

 Hiệu ứng về nhận thức (cognitive effects):

Hiệu ứng này liên quan đến những gì công chúng có thể học hoặc nhớ được

từ các phương tiện truyền thông, gồm các dạng sau: dạng hồi tưởng, dạng khái quát hóa, dạng phơi bày những bí mật, dạng thiết lập chương trình nghị sự và dạng

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w