Tuy nhiên, đứng ở góc độ bằng những thông số kinh tế chỉ là hữu hình, vấn đề ở đây chính là hiệu quả xã hội mà các mô hình đánh bắt, nuôi trồng thủy sản thật sự đã giải quyết được những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
GIANG
Giai đoạn 2003 -2005
Trường hợp điển cứu:
Xã Vĩnh Nguơn và Vĩnh Châu ( Tx Châu Đốc )
Xã Phú Lâm và Phú Bình ( Huyện Phú Tân )
Giáo viên hướng dẫn : ThS Phạm Gia Trân
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Đoan Trinh ( CN )
Nguyễn Ngọc Đan Tuyền Trần Thị Ái Hồng Nguyễn Thị Hường Nguyễn Trần Thanh Quyên Trần Thanh Tùng
Nguyễn Đoàn Vũ Tuyền Đàm Huy Hùng
Cao Nhật Tân Đặng Quang Nhân Nguyễn Quốc Thái
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2006
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ĐTM : Đồng Tháp Mười
TGLX : Tứ giác Long Xuyên
UBND : Ủy ban nhân dân
TW : Trung ương
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CLB : Câu lạc bộ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH AN GIANG 14
1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 14
2.ĐẶC ĐIỂM KINH TE - VĂN HOÁ - XÃ HỘI 18
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LŨ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LŨ TẠI TỈNH AN GIANG 22
1 ĐẶC ĐIỂM LŨ 22
2.TÁC ĐỘNG CỦA LŨ 24
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NUÔI TRỒNG ĐÁNH BẮT THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI 29
1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VIỆC ĐÁNH BẮT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI 30
2 MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÁNH BẮT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI 33
3 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CHÍNH QUYỀN TRONG VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI 34
4.CÁC LOẠI HÌNH ĐÁNH BẮT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI .35
CHƯƠNG 4: HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI TRỒNG ĐÁNH BẮT THỦY SẢN TẠI AN GIANG 44
1.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – VĂN HOÁ – XÃ HỘI DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 44
2.HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN TẠI AN GIANG 52
3.HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ VIỆC ĐÁNH BẮT THUỶ SẢN MÙA NƯỚC NỔI TẠI AN GIANG 99
CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ 140
1 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 140
2 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẮT THỦY SẢN 145
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 153
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đánh bắt thủy sản tận dụng nguồn lợi tự nhiên là cách thức thích nghi hình thành từ lâu đời của dân cư vùng sông nước Khi nguồn lợi tự nhiên này giảm sút và để tăng thêm nguồn cung cấp cho nhu cầu ngày một cao của chính mình, người dân lại nghĩ
ra vấn đề nuôi trồng trong môi trường nhân tạo Tuy có sự chênh lệch về thời gian ra đời
và tồn tại nhưng đây là một phần công việc không thể thiếu trong cuộc sống của cư dân
vùng đồng bằng sông Cửu Long, của nền văn minh kênh xáng
Với hơn 2,1 triệu dân (đứng đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long), với diện
tích 3.424km2, nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, là tỉnh đồng bằng có núi, là nơi có
nhiều nguồn lực để phát triển: nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, thương mại, dịch vụ
và du lịch; có nhiều tài nguyên khoáng sản, sông rạch nước ngọt quanh năm, mật độ sông
ngòi và lượng tàu bè qua lại vào loại bậc nhất vùng ĐBSCL, có hệ thống giao thông thủy
bộ thuận lợi, là cửa ngõ vào các nước khối ASEAN, có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử tầm cỡ quốc gia và khu vực có cảng sông tiếp nhận tàu 5.000 tấn và với trên
2 triệu dân, trong đó 80% là nhân khẩu nông nghiệp, An Giang đã khai thác, sử dụng có hiệu quả tiềm năng, nguồn lực và lợi thế tập trung cho đầu tư phát triển nên kinh tế tăng trưởng tốc độ nhanh, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch; sản phẩm hàng hóa của An Giang không ngừng tăng ở thị trường trong và ngoài nước
Là cửa ngõ của sông Mêkông đổ vào Việt Nam qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, đón nhận những lợi thế về nguồn nước ngọt, về độ ẩm, ánh sáng, nguồn thủy sản tự nhiên phong phú quanh năm, An Giang có thế mạnh phát triển ngành thủy sản, với lịch sử hình thành những làng bè, làng nổi từ giai đoạn những năm 60 của thế kỉ XX Hiện nay, thế mạnh này vẫn còn được minh chứng qua những thông số kinh tế: tăng
trưởng GDP ngành nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2005 là 8,15% (so với 2,40% của
6 tháng đầu năm 2004), diện tích nuôi trồng thủy sản trên 1.997ha tăng 11,93% so với
cùng kỳ, sản lượng cá nuôi đạt khoảng 90,3 ngàn tấn tăng 50,5% (chủ yếu là nuôi cá
hầm), có 485ha diện tích thả tôm (tăng 4,75%) tập trung ở Thoại Sơn, Châu Phú, Phú
Tân… Ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh ngày càng phát triển, đa dạng về mô hình: nuôi
Trang 5ao hầm, nuôi làng bè, nuôi đăng quần… và phong phú về chủng loại như: cá tra, cá basa, tôm, baba, cá sấu, lươn… Trong khi đó, số lượng người dân xem nghề đánh bắt là nghề
tạo nguồn thu nhập chính vào mùa nước nổi vẫn không hề giảm sút dù nghề này hiện nay đang gặp nhiều khó khăn do vấn đề đê bao, sản lượng thủy sản giảm sút và vấn đề môi trường ô nhiễm mang lại
Tuy nhiên, đứng ở góc độ bằng những thông số kinh tế chỉ là hữu hình, vấn đề ở đây chính là hiệu quả xã hội mà các mô hình đánh bắt, nuôi trồng thủy sản thật sự đã giải quyết được những vấn đề gì cho cuộc sống của cộng đồng dân cư, đặc biệt dân cư khu
vực nông thôn vùng ngập lũ trong những năm vừa qua (giai đoạn 2003 - 2005) hay
không ?
Các kết quả nghiên cứu khoa học, các chương trình dự án và các đề tài đã góp phần quan trọng cho việc tìm hiểu những mô hình, nghiên cứu ứng dụng và đề ra những biện pháp kỹ thuật đem lại hiệu quả cao trong việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mục tiêu của việc nghiên cứu cũng hướng về lợi ích của người dân và vì sự phát triển mọi mặt của vùng, nối kết sự phát triển của cả vùng đất tiềm năng nhất của cả nước - Đồng bằng sông Cửu Long
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp và liên quan về thủy sản, về hiệu quả kinh tế và kỹ thuật nuôi trồng đánh bắt thủy sản vùng ngập lũ ĐBSCL
Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản An Giang, 2002, Báo cáo: Nghiên cứu
sự tồn tại và phát triển của thủy sản khi có hệ thống thủy lợi ở vùng Nam Vàm Nao, Sở
Nông nghiệp và phát triền nông thôn tỉnh An Giang
Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, Vùng ngập lũ Đồng
bằng sông Cửu Long - Hiện trạng và giải pháp, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí
Minh
Dương Đức Cường, Tổng kết và đánh giá các mô hình canh tác nông - thủy
sản và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện Châu Phú tỉnh An Giang, Khoa Nông
nghiệp và tài nguyên thiên nhiên - Đại học An Giang
Trang 6Lâm Minh Triết (chủ biên) và nhiều tác giả, 2000, Khảo sát, phân tích và
đánh giá hệ thống canh tác nông lâm ngư kết hợp trong mô hình kinh tế hộ vùng ngập lũ ĐBSCL, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang, Các báo cáo chuyên đề
thuộc đề tài khoa học: Quá trình thực hiện Đề án 31 ở huyện Châu Phú, An Giang
Các công trình nghiên cứu nói trên, với hướng nghiên cứu có tính chuyên sâu ở mỗi lĩnh vực cụ thể, có đề ra chương trình và hướng giải quyết vấn đề cho việc canh tác đánh bắt nuôi trồng đạt sản lượng cao, hiệu quả cao vào mùa nước nổi Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung nhiều vào biện pháp mang tính chất
kỹ thuật, tự nhiên trong khi tìm hiểu và đánh giá hiệu quả, tính chất xã hội lại rất ít
Vấn đề cuộc sống của người dân vùng ngập lũ bao lâu nay là một nguồn đề tài lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Đã từng có những cụm tuyến dân cư vượt lũ, đã từng có “sống chung với lũ” và giờ đây một vấn đề cũng cần được quan tâm nghiên cứu, đó chính là tìm hiểu những yếu tố và hiệu quả mà mô hình đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi đã đem lại lợi ích gì cho người dân vùng ngập lũ tỉnh đầu nguồn An Giang
“Hiện trạng và hiệu quả của việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi đối với đời sống của cộng đồng dân cư tỉnh An Giang giai đoạn 2003 - 2005” là đề tài
nghiên cứu sẽ đóng góp những thông tin hữu ích cho các cơ quan chức năng như Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Sở Thủy sản, Sở Thương mại, Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh An Giang trong việc thiết kế các chương trình hành động Đây cũng được xem như là một phần nhỏ để gợi mở cho những ý tưởng mới áp dụng cho các đề tài khác sau này
Câu hỏi nghiên cứu
1 Lũ lụt thường diễn biến ra sao? Tác động tiêu cực và yếu tố tích cực của lũ lụt?
2 Đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi ở An Giang hình thành từ khi nào?
Trang 73 Các loại hình, chủng loại thủy sản đánh bắt nuôi trồng điển hình của tỉnh?
4 Vấn đề sản xuất và tiêu thụ của sản phẩm có những thuận lợi và khó khăn gì?
5 Việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản đã đem lại những hiệu quả kinh tế gì cho người dân?
6 Việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản đã đem lại những hiệu quả xã hội gì cho người dân?
7 Vào mùa nước nổi, những yếu tố nguồn lực nào ảnh hưởng chính đến việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản của người dân?
8 Điều gì mà người dân quan tâm nhất khi gặp khó khăn trong quá trình đánh bắt nuôi trồng thủy sản?
9 Biện pháp giải quyết khó khăn của cộng đồng vào mùa nước nổi khi đánh bắt nuôi trồng thủy sản?
10 Ý kiến mong đợi từ người dân trong vấn đề cải thiện hơn việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi?
11 Giải pháp kiến nghị ở nhóm nghiên cứu?
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu hiện trạng của việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi của tỉnh An Giang, và từ đó phân tích những hiệu quả của nó đem lại cho đời sống của cộng đồng dân cư như thế nào? Qua những thuận lợi và khó khăn còn tồn tại để đưa ra kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản đem lại sự
ổn định, tăng cao thu nhập và cải thiện an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư khu vực ngập lũ tỉnh An Giang
2.2 Mục tiêu cụ thể
2.2.1 Tìm hiểu lịch sử hình thành và hướng phát triển của các mô hình đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi ở tỉnh An Giang
Trang 82.2.2.Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội và kỹ thuật canh tác các
mô hình đánh bắt nuôi trồng thủy sản của người dân trong mùa nước nổi để thấy và chọn
ra mô hình có hiệu quả cao
2.2.3.Phân tích những thuận lợi và khó khăn của người dân trong quá trình đánh bắt nuôi trồng thủy sản
2.2.4.Tìm hiểu những hiệu quả của việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi đối với đời sống của người dân vùng ngập lũ
2.2.5.Đề xuất những giải pháp, những ý tưởng nhằm mục đích cải thiện, nâng cao hiệu quả việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi của tỉnh An Giang, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân khi mùa nước lũ tràn về
3 TỔNG QUAN TƯ LIỆU
3.1 Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, Vùng ngập lũ - Hiện trạng
3.2 Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh An Giang, Báo cáo tổng hợp Quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến 2010, Thành phố Long Xuyên, 2000
Báo cáo mang tính chất tổng kết những chặng đường vừa trải qua của tỉnh trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và phương hướng quy hoạch tổng thể từ năm 2000 đến 2010
3.3 Lâm Minh Triết (chủ biên) và nhiều tác giả, Khảo sát, phân tích và đánh
giá hệ thống canh tác nông lâm trong mô hình kinh tế hộ vùng ngập lũ ĐBSCL, Đại
học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000
Đây là một công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp vùng ngập lũ ĐBSCL do trường Đại học Nông Lâm chủ trì Hệ thống canh tác nông - lâm
- ngư nghiệp vùng ngập lũ đã đạt được những thành tựu cơ bản, và các tác giả đã đề ra
Trang 9các mô hình canh tác hiệu quả và phát triển bền vững hơn nữa nhằm mục đích nâng cao hơn đời sống cho người dân vùng ngập lũ
3.4 Đào Công Tiến (chủ biên) và nhiều tác giả, Những vấn đề kinh tế - kỹ
thuật - xã hội và môi trường ĐBSCL để chủ động sống chung với lũ, tập 1 và 2, Bộ
Khoa học công nghệ và Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002
Công trình nghiên cứu khoa học này mang tính chất tổng hợp và chi tiết trên tất
cả các lĩnh vực: kinh tế - kỹ thuật - xã hội và môi trường ĐBSCL để chủ động sống chung với lũ
3.5 UBND tỉnh An Giang, An Giang cơ hội đầu tư và phát triển, An Giang,
3.6 Trần Như Hối ( chủ biên ) và nhóm tác giả, Đê bao vùng ngập lũ đồng
bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản Nông nghiệp, thành phố Hồ Chí Minh, 2005
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về vấn đề đê bao và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống và hoạt động kinh tế- văn hoá- xã hội của cộng đồng dân
cư vùng ngập lũ tỉnh An Giang, trong đó có hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Trang 104 KHUNG NGHIÊN CỨU
SẢN
XUẤT
TIÊU THỤ
KINH
TẾ
XÃ HỘI
NHỮNG TRỞ NGẠI KHÓ KHĂN TỒN TẠI
Ý KIẾN MONG ĐỢI CỦA CỘNG ĐỒNG
KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐÁNH BẮT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÙA NƯỚC NỔI
Trang 11Đề tài nghiên cứu về hiện trạng và hiệu quả về kinh tế và xã hội của mô
hình đánh bắt và nuôi trồng trong mùa nước nổi đối với cuộc sống của những hộ nuôi trồng và đánh bắt, tìm hiểu những khó khăn và vấn đề tồn đọng của mô hình này, những thuận lợi và bất cập trong quá trình phát triển Từ đó, qua phân tích, thống kê, tổng hợp từ những ý kiến của cộng đồng, nhóm nghiên cứu đề xuất
những kiến nghị, giải pháp nhằm mục đích giúp cho những mô hình này phát
triển bền vững và thực sự có hiệu quả đối với cuộc sống dân cư vùng ngập lũ
5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Đại diện các cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương điển cứu tại tỉnh An Giang là những nơi có chức năng và liên quan trực tiếp đến việc quản lý, thực
hiện các chương trình chính sách, dự án về phát triển các loại hình kinh tế vào
mùa lũ, chú trọng vào mô hình nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Trang 12Một số hộ gia đình của cộng đồng dân cư hiện tại đang sinh sống tại khu
vực nông thôn ngập lũ và có những loại hình kinh tế nuôi trồng thủy sản và đánh bắt vào mùa lũ Do bị giới hạn bởi những mặt khách quan và chủ quan nên nhóm nghiên cứu chọn hai điạ bàn khảo sát là Huyện Phú Tân ( nông thôn ) và thị xã Châu Đốc ( đô thị) có những đặc điểm tương đồng và khác nhau hệ thống nông nghiệp sinh thái, đặc điểm điạ lý tự nhiên và xã hội, các công trình ngăn lũ, và
các loại hình kinh tế nuôi trồng và đánh bắt và sự phân bố trong địa phương
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Về việc thu thập thông tin dữ liệu, nhóm nghiên cứu đã dựa vào 02 nguồn
là thứ cấp và sơ cấp
Địa điểm thu thập dữ liệu
Điểm thu thập dữ liệu thứ cấp: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cục thống kê tỉnh An Giang, Khoa Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên (Đại học
An Giang), Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thị xã Châu Đốc và Phú Tân, Phòng thống kê Thị xã Châu Đốc và Phú Tân, UBND huyện Phú Tân,
UBND xã Phú Bình và Phú Lâm – huyện Phú Tân, UBND xã Vĩnh Nguơn và
Vĩnh Châu- Thị xã Châu Đốc, Trung tâm khuyến nông tỉnh An Giang
Điểm thu thập dữ liệu sơ cấp: xã Phú Lâm ( ấp Phú Thuận, Phú Lợi ), xã Phú Bình ( ấp Bình Phú 1 và 2 ) - huyện Phú Tân và xã Vĩnh Nguơn ( ấp Vĩnh Chánh 1, Vĩnh Chánh 2 ) và xã Vĩnh Châu ( ấp Mỹ Hoà, Mỹ Thuận ) - Thị xã
đóng nửa mở, câu hỏi chọn ưu tiên, câu hỏi nhiều câu trả lời Với công cụ này,
Trang 13nhóm nghiên cứu đã khai thác thu thập được các thông tin cơ bản chính về vấn
Về dữ liệu thứ cấp:
Tiến hành thu thập, xin cung cấp tư liệu thông tin từ các phòng thống
kê, các phòng chức năng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Tham khảo, nghiên cứu tài liệu văn bản
Tham khảo, chọn lọc những ý tưởng của các văn bản, tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài
Thu thập thông tin từ: thư viện, báo chí, Internet…; lựa chọn, tổng hợp ý
chính và triển khai phân tích vấn đề
Khảo sát thực địa
Nhóm nghiên cứu chủ yếu tập trung tiến hành khảo sát phỏng vấn trên địa bàn của 04 xã là: xã Phú Bình và Phú Lâm - huyện Phú Tân , xã Vĩnh Nguơn và
xã Vĩnh Châu - Thị xã Châu Đốc - tỉnh An Giang
Khảo sát, phỏng vấn sâu đại diện cấp chính quyền địa phương và các hộ gia đình có chọn lọc theo các phiếu phỏng vấn mẫu tại địa phương điển cứu
Khảo sát, ghi nhận, chụp hình về hiện trạng nuôi trồng và đánh bắt, tình
trạng cơ sở hạ tầng, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư khu vực nghiên
cứu
Chọn mẫu nghiên cứu
Qua tham khảo ý kiến của UBND tỉnh An Giang, UBND huyện Phú Tân và UBND Thị xã Châu Đốc các điểm khảo sát được chọn lọc Tiêu chuẩn
Trang 14chọn điểm nghiên cứu dựa vào hệ thống nông nghiệp sinh thái, đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội, các tiêu chuẩn có liên quan đến vấn đề nuôi trồng và
đánh bắt thủy sản, nhất là vào mùa nước nổi Các tiêu chí đánh giá chọn mẫu
nghiên cứu dựa trên cơ sở từ việc đánh giá của các báo cáo về tình hình nuôi
trồng và đánh bắt tại địa phương với sự đề xuất từ cấp chính quyền
Đối tượng nghiên cứu khảo sát được phân vùng: xã Phú Lâm ( nằm bên
sông Tiền, có đê bao triệt để ) và Phú Bình ( nằm bên sông Hậu, có đê bao hở )
của huyện Phú Tân ( một huyện cù lao giữa trung lưu sông Tiền và sông Hậu ),
xã Vĩnh Nguơn ( không có đê bao, nằm bên sông Hậu ) và xã Vĩnh Châu ( có đê
bao triệt để, vùng nội đồng bên sông Hậu ) của thị xã Châu Đốc ( vùng thượng nguồn )
Số lượng mẫu phỏng vấn là 120 mẫu bao gồm: 60 mẫu tại huyện Phú Tân và 60 mẫu thị xã Châu Đốc
5.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu định tính
Từ những vấn đề phân tích nêu trên, chúng tôi tổng hợp ý kiến lại thành các
hộp (box) hay khung tóm tắt
Tổng hợp các quan điểm khác nhau về một vấn đề để hệ thống hóa các tư tưởng, nhận định đó để làm luận cứ cho hướng giải quyết vấn đề
Xử lý dữ liệu định lượng
Định lượng bảng câu hỏi với các số đo thống kê
Số liệu thu thập thông qua phiếu phỏng vấn, khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windown Version 11.5
Số liệu thu thập thông qua phỏng vấn sâu được hệ thống hóa nhằm minh
họa, dẫn chứng cho đề tài
So sánh
So sánh giữa hai khu vực điển cứu
Trang 156 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Sự giúp đỡ tận tình của thầy và cô hướng dẫn; sự hỗ trợ tạo điều kiện của nhà trường, của Khoa Địa Lý; sự động viên đóng góp của thầy cô bạn bè; mà đặc biệt là sự đóng góp vô cùng to lớn của các cơ quan tổ chức chính quyền và người dân địa phương nghiên cứu là động lực thúc đẩy tạo điều kiện thuận lợi cho
nhóm nghiên cứu thực hiện công trình này Song, bên cạnh đó vẫn còn những
mặt khiếm khuyết hạn chế, đó là:
- Tài liệu thông tin về tình hình nuôi trồng và đánh bắt tuy có nhiều nhưng
đa phần mang tính chất tổng hợp chung; hơn nữa, hiện nay, tình hình đánh bắt và nuôi trồng đang có nhiều biến động mà các tài liệu đa số xuất bản và cộng bố
trước thời điểm đó Nhóm nghiên cứu chỉ có thể tiếp cận đến với các nguồn tài liệu từ các chương trình dự án và hội thảo nghiên cứu của các tổ chức cơ quan
ban ngành
- Nhóm nghiên cứu phải chọn lọc ra những địa bàn cụ thể tiêu biểu, có đặc trưng phù hợp với nghiên cứu Do đó, không thể nghiên cứu cả tỉnh thượng
nguồn An Giang, bởi khả năng hạn chế khách quan và chủ quan
- Lần đầu được tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành,
kỹ năng và kiến thức còn nhiều hạn chế Vì vậy, nhóm nghiên cứu rất hy vọng được sự đóng góp ý kiến của thầy và cô hướng dẫn, các thầy cô giảng viên, bạn
bè và chính quyền bà con địa phương Những đóng góp tích cực của quý thầy cô, bạn bè, chính quyền và bà con địa phương sẽ giúp cho nhóm nghiên cứu có thêm kinh nghiệm trong việc học tập và công tác nghiên cứu khoa học sau này
7.KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
STT NỘI DUNG THỰC HIỆN THỜI GIAN
1 Xây dựng đề cương chi tiết đề tài nghiên
cứu
Từ 20/11/2005 đến 01/12/2005
Trang 162 Thu thập các tài liệu, dữ liệu liên quan đến
đề tài
Từ 02/12/2005 đến 20/12/2005
3 Thực địa, chụp ảnh, điều tra lần I Từ 25/12/2005 đến
7 Gửi tiếp đề cương để lấy ý kiến của thầy cô
hướng dẫn và giảng viên phản biện
10/04/2005 15/04/2005
8 Chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh đề tài 15/04/2005 25/04/2005
9 Chuẩn bị và tham gia báo cáo đề tài 09/05/2005 14/05/2005
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH AN GIANG
1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
An Giang là tỉnh thượng nguồn của sông Mekong đổ vào đồng bằng sông Cửu Long
Diện tích tự nhiên là 3406,2 km2 chiếm 1,03% diện tích cả nước và 8,58% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long (đứng thứ 4 đồng bằng sông Cửu
Long) Bao gồm một phần đất sông Tiền và sông Hậu (và 4 huyện Cù Lao), một phần chạy dọc hữu ngạn sông Hậu theo hướng tây Nam của châu thổ sông Cửu Long (bao gồm cả tứ giác Long Xuyên) Cơ cấu diện tích đất được chia ra như sau:
Hai trung tâm là thành phố Long Xuyên - thủ phủ của tỉnh An Giang
(3.14% diện tích tỉnh) nằm ở phía Đông Nam của tỉnh với biểu tượng bông lúa- thế mạnh nông nghiệp của tỉnh; thị xã Châu Đốc (2,95% diện tích tỉnh) nằm ở
Tây Bắc của tỉnh với biểu tượng cá basa- thế mạnh thuỷ sản và là trung tâm
thương mại, du lịch biên giới của tỉnh
Chín huyện lỵ: Châu Thành, Chợ Mới, Châu Phú, Thoại Sơn, Phú Tân, Tân Châu, An Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên
Với hơn 140 đơn vị phường xã, thị trấn
1.1.Vị trí địa lý
Trang 18Giới hạn lãnh thổ:
An Giang nằm từ vĩ độ 10010’30’’B đến 10037’50’’B và từ kinh độ
104047’20’’Đ đến 105035’10’’Đ
Ranh giới hành chánh của tỉnh :
Hướng Đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107.628km ranh giới)
Hướng Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang (69.789km ranh giới)
Huớng Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ (44.734 km ranh giới)
Hướng Tây Bắc giáp Vương Quốc Cambodia (97kmđường biên giới )
Là tỉnh thượng nguồn của đồng bằng sông Cửu Long nên An Giang đón
nhận lũ trực tiếp từ Cambodia tràn vào Việt Nam và là tỉnh ngập lũ đầu tiên của
lũ Đồng Bằng sông Cửu Long
An Giang có hệ thống các đường giao thông thủy, bộ khá thuận tiện và vị trí địa lý tạo ra tầm quan trọng của giao thông liên vùng và đặc biệt là giao thông quốc tế giữa Việt Nam và Cambodia, thông qua các cửa khẩu quốc tế: Cửa khẩu Tịnh Biên, cửa khẩu Vĩnh Xương và cửa khẩu Khánh Bình
1.2.Khí hậu
An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai hướng chính Đông Bắc(tháng 11-tháng 4 tương ứng mùa khô), Tây Nam (tháng 5-tháng 10, tương ứng mùa mưa), ẩm độ lớn, nhiệt độ cao và tương đối ổn định Nhiệt độ
trung bình năm là 270C Nhiệt độ bình quân cao nhất là 28,50C, nhiệt độ bình
quân thấp nhất 25,90C Riêng khu vực đồi núi khí hậu có tính chất phi địa đới
nên nhiệt độ thấp hơn vùng đồng bằng khoảng 20C
1.2.1.Lượng mưa
Trang 19Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo thời gian Lượng mức bình quân đạt 1316mm/năm Năm cao nhất lên đến 1875 mm, năm thấp nhất là 895mm Số ngày mưa trung bình là 132 ngày 90% lượng mưa tập trung vào tháng 5-tháng
11, 10% lượng mưa còn lại rơi vào tháng 12- tháng 4 năm sau Do đó khí hậu
phân hoá thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa : tổng số giờ nắng bình quân mỗi ngày thấp hơn 2 giờ so với mùa khô, lượng bốc hơi cũng thấp hơn so với mùa khô tạo độ ẩm không khí lớn (80-85%) trong khi mùa khô lượng bốc hơi cao nhất và độ ẩm trung bình chỉ đạt 75% gây tình trạng thiếu nước vào mùa khô
Điều kiện thời tiết như bão nhiệt đới, hiện tượng forhn ít xảy ra ở An
Giang và không có ảnh hưởng đáng kể
1.2.2 Chế độ thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn của An Giang thay đổi theo mùa và chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố chính: chế độ dòng chảy của sông Mekong, chế độ thuỷ triều, đặc điểm
địa hình và hệ thống kênh rạch chằng chịt và mưa nội đồng
An Giang là tỉnh đầu tiên tiếp nhận nguồn nước đổ vào đồng bằng sông
Cửu Long từ sông Mekong thông qua hai nhánh chính sông Tiền và sông Hậu Chính vì thế thuỷ chế phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mekong
Chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông và hệ thống kênh rạch làm tăng mực nước bình quân trên sông Tiền và sông Hậu, gây khó khăn cho việc
tiêu nước mùa lũ , nhất là lúc lũ lớn vào thời kì triều cường
Vùng tứ giác Long Xuyên do tính chất đồng lũ hở , hàng năm nhận một
lượng lớn nước phèn từ khu vực Bắc Hà Tiên theo kênh rạch đổ vào sông Hậu đưa ra vùng ven biển, nhưng do địa hình trũng đã gây ra sự ứ đọng phèn, nhất là giai đoạn giữa mùa mưa
Hàng năm lượng mưa trên toàn lưu vực sông Mekong vào khoảng
1600mm Nước toàn lưu vực đổ vào dòng chính , làm tăng mực nước ở hạ lưu
vào mùa mưa, lưu lượng nước đạt mức đỉnh vào cuối tháng 9 Mực nước tại Tân
Trang 20Châu thường đạt vào khoảng 4,4m-đỉnh lũ Nước tràn khỏi dòng chính gây ngập lụt khoảng 80% diện tích tự nhiên của tỉnh An Giang với mực nước phổ biến 1-2,5m, trong thời gian từ 2,5 đến 5 tháng tạo thành “mùa nước nổi”
Như vậy chế độ thuỷ văn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước và tài nguyên đất của tỉnh An Giang Một mặt cung cấp nguồn nước ngọt, một lượng lớn phù sa, nguồn thức ăn cho các loài thuỷ sinh sống, mặt khác tạo ra tình trạng nhiễm phèn mặn cho một bộ phận đất nông nghiệp
1.3.Tài nguyên đất
Phần lớn đất đai An Giang màu mỡ , thích hợp phát triển các loại cây lương thực thực phẩm, cây ăn trái và phát triển chăn nuôi Trên toàn lãnh thổ có 6 nhóm đất chính với 37 loại đất, trong đó nhóm phù sa ngọt và phù sa phèn chiếm 72% diện tích tự nhiên
Hiện trạng sử dụng đất: diện tích 340.623 ha, đất đã đưa vào sử dụng 92%, 7,8% diện tích đất chưa sử dụng, đất hoang hoá còn khoảng 12.612ha
Diện tích mặt nước chiếm tỉ lệ lớn trên toàn tỉnh và thay đổi theo mùa Vào mùa lũ diện tích mặt nước được mở rộng Tỉnh An Giang khai thác tốt diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản : nuôi cá bè, nuôi cá ao và có nhiều tiềm năng
Tài nguyên rừng: tập trung chủ yếu ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên: An
Giang có 583 ha rừng tự nhiên thuộc hệ rừng nhiệt đới, đa số là cây lá rộng với
154 loài thuộc 54 họ, rừng tràm phổ biến nhất 400 ha
Trang 21Hệ động vất rừng khá phong phú từ rắn, trăn, heo rừng, khỉ, nhím, dơi
đến các loài quạ, sếu đầu đỏ…
1.4.2 Tài nguyên thuỷ sinh vật
Trên địa bàn tỉnh An Giang, nguồn lợi thuỷ sản dồi dào nhờ vào hai nhánh lớn: sông Tiền, sông Hậu của sông Mekong chảy qua Vì thế tại đây sớm phát
triển ngành nghề nuôi cá bè, ao hầm trên ruộng, cũng như việc khai thác đánh bắt thuỷ sản mùa nước nổi, và những ngành nghề truyền thống cuả dân địa phương
1.5.Nguồn nước sinh hoạt
Được cung cấp từ ba nguồn chính: nước mưa, nước ngập, nước ngầm
Nguồn nước và chất lượng nước là yếu tố quan trọng có tính chất quyết
định cho việc cung cấp nước sinh hoạt Nước mưa là nguồn nước có chất lượng cao cho ăn uống, sinh hoạt ở nông thôn, nhất là vùng thiếu nước mặn và nước
ngầm như tứ giác Long Xuyên
Tuy nhiên, lượng nước tập trung vào 6 tháng mùa mưa nên lưu trữ để sử
dụng cho mùa khô là vấn đề rất khó khăn Mùa mưa trữ lượng nước dồi dào và chất lượng tốt hơn mùa kiệt
2.ĐẶC ĐIỂM KINH TE - VĂN HOÁ - XÃ HỘI
2.1 Đặc điểm dân cư
Dân số toàn tỉnh theo thống kê dân số 2005 là 2.277.256 người, tỉ lệ tăng 1,407 % và xu hướng giảm theo các năm
Bảng 1: Quy mô dân số tỉnh An Giang phân theo thành thị và nông thôn thời
Trang 222000 2.083.571 448.500 1.635.071 1,52
2001 2.113.429 454.821 1.658.608 1,46
2002 2.141.256 471.504 1.669.752 1,407
( Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh An Giang – 2004)
Có 4 dân tộc chính ở An Giang bao gồm người Kinh, Hoa, Chăm, Khmer Người Kinh đa số sống tập trung ở thành phố , thị xã, thị trấn, trên các đường tự nhiên ven sông rạch,các truc giao thông chính… Khác với người Hoa ở thành
phố buôn bán, sống thành cộng đồng có ổ chức chặt chẽ, người Hoa tại ĐBSCL sống phân tán và chủ yếu là nông nghiệp An Giang là tỉnh có người Hoa đông nhất tại ĐBSCL , tập trung chủ yếu tại các huyện Châu Phú, Châu Thành , Phú Tân
Người Chăm sống chủ yếu ở Châu Đốc, Tân Châu, Châu Phú khoảng
12.000 người (1992) Người Chăm An Giang chủ yếu theo đạo Muslim Hoạt
động chủ yếu là làm ruộng và tiểu thủ công truyền thống
Người Khmer định cư tư lâu đời tại vùng đất An Giang, tập trung chủ yếu
ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Người Khmer theo Phật giáo tiểu thừa Họ
sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa
2.2.Đặc điểm kinh tế
Cơ cấu kinh tế của An Giang:
Nông nghiệp: 82,1%; khác : 18,9%, GDP năm 2005 đạt 20.756 tỷ đồng,
GDP bình quân đầu người đạt 9.116.000 VND
Cơ cấu lao động nhìn chung còn thấp, hiện có 95% là lao động đơn giản, lao động có kĩ thuật chiếm 3,5% lực lượng lao động đang làm việc trong nền
kinh tế
Trang 23Năm 2004, tổng số hộ nghèo trong toàn tỉnh giảm 5,2% Đời sống người
dân vẫn còn gặp không ít khó khăn , nhất là vùng núi (Tri Tôn, Tịnh Biên), vùng sâu , vùng xa của tứ giác Long Xuyên
Biểu đồ 1 : Kim ngạch xuất khẩu của An Giang thời kì 1975 – 2004
120058 139976
107540 118777 147332 182600 220000
2730
4265 6874
7292 10135
14356 15836
Mạng lưới giao thông
Đến tháng 12-2004 toàn tỉnh có 7.169 km đường giao thông , trong đó
đường bộ là 4.666km và đương thủy là 2.503km Cầu cống các loại có tổng chiều dài 41 077m các loại Giao thông nông thôn, nội bộ có 722 tuyến với tổng chiều dài 3 065km đường sông có 541 tuyến với tổng chiều dài 2.503 km ngoài ra còn
có hệ thống đường trong khu, tuyến dân cư, các hệ thống bờ bao, kênh thủy lợi
Trang 24được tận dụng kết hợp với giao thông Tuy nhiên chất lượng các công trình giao thông còn hạn chế, nhiều tuyến, nhiều đoạn không thể đảm bảo đi lại trong mùa mưa
Hệ thống cung cấp điện
Đến cuối năm 2004 có 100% số các phường có điện Có trên 90% số hộ
dân sử dụng điện, tiêu thụ bình quân đàu người cuối năm 2004 là 124,38kw/
năm Mức độ sử dụng điện cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp ở nông thôn còn hạn chế do các cơ sở quốc doanh tại nông thôn vẫn còn dùng máy nổ vì ngại đầu tư hệ thống điện hạ thế, mặt khác còn do nguồn
cung cấp chưa ổn định
Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt:
Hệ thống cung cấp nước ở đô thị hiện nay cung cấp được từ 50 -90% số hộ dân Trừ thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc, các khu vực thành thị còn lại chỉ cung cấp một lượng rất nhỏ
Hệ thống thủy lợi:
Hệ thống thủy lợi những năm qua đã phát triển đảm bảo các nhu cầu cung cấp nước cho các hoạt động nông nghiệp
Các vấn đề kinh tế xã hội còn lại, tuy có nhũng nét khởi sắc nhất định
nhưng giá trị của các phong trào đó còn phải xem xét lại, bởi phần nhiều chỉ
mang tính hình thức Ví dụ là các chỉ tiêu về các hộ gia đình văn hóa, các thôn văn hóa; các chương trình như số hộ nghèo theo tiêu chuẩn cũ và mới… nó
không phản ánh được một cách thật sự chính xác
Tỷ lệ hộ nghèo*4,3%* , tỷ lệ số học sinh trong độ tuổi đi học được đến
trường là 58%, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (20%) , tuổi thọ trung bình đạt 70 Mật độ sử dụng điện thoại là 5 cái/ 100 dân
Trang 25CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LŨ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LŨ TẠI TỈNH
AN GIANG
1 ĐẶC ĐIỂM LŨ
Lũ lụt xảy ra hàng năm trên địa bàn tỉnh An Giang, chịu tác động trực tiếp
và sớm nhất khi nước lũ từ Campuchia tràn qua Việt Nam Mặc dù đã được Biển
Hồ điều tiết lưu lượng nhưng mực nước lũ vẫn còn cao, lại do yếu tố địa hình
nên lũ (vùng ĐBSCL) đến Việt Nam có dạng bẹt (lũ 1 đỉnh) nhưng thời gian kéo dài (từ tháng 6 - tháng 12) Đỉnh lũ thường xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng
10
Trong 60 năm qua, bình quân 2 năm có 1 năm lũ vượt mức báo động 3 (mức 4,2 tại Tân Châu) vào các năm 1940,1946,1947,1948,1949 và gần đây là 1994,1995,1996,2000,2001 Năm 1961 đỉnh lũ tại Tân Châu 5,27m được xem là trận lũ lớn nhất Riêng lũ năm 2000, lũ xuất hiện sớm và cao nhất so với 20 năm vừa qua Tổng lưu lượng lớn nhất trong vùng 75 năm qua: 367 tỷ m3/90 ngày
Mực nước tại Tân Châu vượt mức báo động 360 ngày, tại Châu Đốc 205 ngày
Mức lũ tràn về theo 2 hướng: từ vùng ngập lụt Cambodia chiếm 10-15%
tổng lượng, theo sông Tiền và sông Hậu 85-90% tổng lượng
Vùng tứ giác Long Xuyên ( TGLX) (gồm toàn bộ An Giang, một phần
thành phố Cần Thơ và một phần tỉnh Kiên Giang) có diện tích 4.000 km2 được khống chế bởi 5 tuyến đường bao do đê và đường giao thông hình thành nên
Tuy nhiên các cách này chưa đủ khẩu độ thoát lũ, các kênh thoát lũ từ tứ giác
Long Xuyên ra biển Tây chưa đủ qui mô đã làm cho vùng lũ tứ giác Long Xuyên lên sớm hơn, đỉnh lũ cao hơn và thời gian ngập dài hơn, ít nhiều ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc sống của người dân vùng ngập lũ
Dòng chảy lũ từ vùng ngập lụt _TGLX ít phù sa đã lấn át dòng nước giàu phù sa từ sông Tiền và sông Hậu chảy vào đồng, làm hạn chế độ phì nhiêu của đất
Trang 26Có nhiều yếu tố quyết định cơ chế truyền lũ và thoát lũ ở khu vực TGLX: điều kiện dòng chảy lũ trên sông, tình hình nước đệm của hai vùng, tác động của thuỷ triều và hệ thống hạ tầng cơ sở trong thời gian lũ
Tại An Giang nói riêng, ĐBSCL nói chung công tác theo dõi đánh giá và
dự báo mức độ ảnh hưởng, cường suất của lũ từng năm của cơ quan khí tượng thuỷ văn là rất quan trọng, góp phần vào việc dự báo và lên kế hoạch đối phó
phòng tránh lũ, hạn chế tác hại khi sống chung với lũ
Tại An Giang 2 trạm thuỷ văn Tân Châu và Châu Đốc được xem là chuẩn cho việc xem xét và đánh giá mực nước lũ hàng năm của ĐBSCL
Mực cao nhất tại Tân Châu đặc trưng cho quá trình lũ :
Đầu lũ (2_2,5m) thời lũ trở nước xảy ra khá ổn định 45% trường hợp vào thượng tuần tháng 6
Lũ tràn (3_3,5m) thời kì lũ chảy tràn bờ, tràn từ Cambodia sang thông qua
hệ thống sông và kênh rạch Thời kì lũ tràn bờ khá phân tán, nhưng thường xuất hiện nhiều nhất vào cuối tháng 7 và trong tháng 8
Đỉnh lũ : thời kì xuất hiện tâp trung phần lớn từ trung tuần tháng 9 đến
trung tuần tháng 10 Đỉnh lũ sớm nhất đã xảy ra là vào hạ tuần tháng 8 và muộn nhất là vào hạ tuần tháng 10
Bảng 2 : Quan trắc mực nước cao nhất và thấp nhất trên sông Hậu tại trạm thuỷ văn Châu Đốc từ năm 1999_2002
Trang 272.TÁC ĐỘNG CỦA LŨ
Trên thực tế, vùng ĐBSCL và tỉnh An Giang mùa lũ hàng năm đã trở thành mùa nước nổi gắn liền và không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt
Lũ mang phù sa vào sâu trong nội đồng bồi lắng và cải tạo đất Đây chính
là nguyên nhân chống được sự suy thoái đất do độc canh cây lúa ở ĐBSCL
Bảng 3 : Tổng lượng phù sa sông Tiền qua mặt cắt Tân Châu và sông Hậu
Sự sinh trưởng của thuỷ sản gắn liền với chế độ lũ, chúng phát triển nhanh trong mùa lũ, khi môi trường được nới rộng, thức ăn dồi dào, cá lớn nhanh và
béo Cho nên lũ càng lớn nguồn lợi thuỷ sản càng phong phú (nhiều nhất là cá
linh, cá đồng )
Như vậy đối với những hộ nông dân nghèo không đất canh tác mùa lũ là cơ hội để kiếm sống vì hoạt động kinh tế mùa lũ dễ dàng hơn Chỉ với các dụng cụ
Trang 28thô sơ : giăng câu ,lưới ca, vó cá họ có thể bắt được từ 5_25kg cá/ngày góp
phần cung cấp nguồn đạm cải tạo bữa ăn và tăng thu nhập cho hộ gia đình
Mùa lũ cũng tạo ra một số việc làm như :vớt lục bình, sửa chữa, đan lát dụng cụ đánh bắt đan lưới, vó, nôm, lờ, đóng ghe, xuồng phục vụ việc đi lại, sinh sống của cư dân vùng lũ
Vào mùa lũ, hiện tượng ngập úng gây thiệt hại làm cho những vườn cây ăn quả vào những năm lũ lớn có nguy cơ mất trắng, chết vườn cây
Cơ sở sản xuất và hạ tầng xã hội đều bị thiệt hại trong lũ lụt vì thế việc đầu tư sửa chữa cho các hạng mục công trình xây dựng cơ bản sau lũ chiếm kinh phí khá cao
Thiệt hại lớn nhất là thiệt hại về tính mạng trong mùa lũ
Cơ sở sản xuất gặp nhiều khó khăn hơn vào mùa lũ
Lũ lụt gây ngập cho các khu dân cư, môi trường sống khó khăn, làm phát triển hạng mục công trình sản xuất xây dựng cơ bản, làm ảnh hưởng đến giao
thông thuỷ lợi, y tế, giáo dục …
Đặc biệt nguy hại đến tính mạng con người (trẻ em)
Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, lũ 2000 gây những hậu quả nghiêm trọng nhất trong những năm qua Cả một vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Long An và một số huyện
thuộc Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long thiệt hại về người rất lớn lên đến hàng trăm, hàng triệu người rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, hoạt động sản xuất thiệt
Trang 29hại nghiêm trọng, hàng vạn hecta lúa mất trắng Nhiều quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, trường học, cơ sở y tế bị phá huỷ và thiệt hại nặng
Bảng 4 :Thiệt hại về giao thông đường bộ năm 1999- 2000
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản thiệt hại ước tính lên đến 746,943 tỷ đồng
Bảng 5 :Thiệt hại về cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào mùa lũ năm 1999- 2002
Trang 30Trụ điện xiêu vẹo, đổ Cái 254 45
( Nguồn :Tổng hợp tình hình thiệt hại do lũ lụt các năm tại tỉnh An Giang- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang.)
Bảng 6 : Thiệt hại về hạ tầng an ninh xã hội vào mùa lũ năm 1999- 2002
Thiệt hại về an sinh xã hội Đơn vị tính 1999 2000 2001 2002
Người chết Tổng số/trẻ em 4/4 134/94 135/104 78/69
Học sinh nghỉ học Học sinh 480 130.758 34.179 8.794
Trang 311 Lũ là một hiện tượng tự nhiên do nhiều nguyên nhân tạo thành: những trận
mưa lớn ở vùng thượng nguồn sông Mêkông, ở ĐBSCL Các nguyên nhân khác như nạn phá rừng, di dân và đê đập chỉ có thể làm lũ lụt trầm trọng hơn Những trận mưa lớn do các cơn bão biển Đông và gió mùa Tây Nam gây nên
2 Lũ ở ĐBSCL chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những trận lũ đổ từ các nước vùng
thượng lưu Khi vào Việt Nam lũ theo hai con đường: vùng Đồng Tháp Mười và vùng
Tứ giác Long Xuyên, sau đó sẽ đổ ra biển Đông và biển Tây An Giang là tỉnh sớm đón nhận nước lũ từ Cambodia sang
3 Lũ lụt ngoài việc gây ra những tác hại như thiệt mạng, khó khăn trong việc đi
lại, làm hư hỏng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì nó cũng mang lại những ích lợi như bồi đắp phù sa cho đất, rửa độc tố phèn đồng ruộng, cho cá tôm nhiều…
Trang 324 Hiện nay, công tác kiểm soát lũ, đối phó với lũ và quy hoạch vùng lũ của tỉnh
An Giang đã và đang được đầu tư, xây dựng, nâng cấp và cải tạo ngày càng nhiều Hệ thống đê bao ngăn lũ, kênh rạch thoát lũ… của tỉnh An Giang có khả năng thực hiện việc kiểm soát lũ, tiêu thoát lũ
5 Lũ lụt hàng năm dù ít hay nhiều cũng đã gây ra những thiệt hại tổn thất cho
tỉnh An Giang về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật, an sinh xã hội… mà trong đó tập trung ở khu vực nông thôn
6 Vấn đề phát triển khu vực nông thôn là một chiến lược lâu dài và không chỉ tập
trung vào vấn đề đối phó với lũ mà còn phải tập trung vào vấn đề phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội
Trang 33CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NUÔI TRỒNG ĐÁNH BẮT THỦY SẢN MÙA NƯỚC
là những dòng sông có chế độ lũ lớn trong năm Việc thích nghi với mùa kiệt và mùa lũ của các con sông này khiến cho đánh bắt, nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi phát triển; đặc biệt tại khu vực châu Á
Từ khi con người định cư dọc 2 bờ sông Mekong, người ta đã biết cách tận dụng tài nguyên vào mùa nước nổi của dòng sông này Tuy nhiên để có thể xác định một cách chính xác vào thời gian nào trong lịch sử thì còn phải xem xét lại Việc tận dụng dòng nước nổi vào mùa lũ để nuôi trồng thủy sản một cách có quy
mô thì xuất hiện cách đây không lâu lắm
Vào mùa nước nổi, các loài thủy sản luôn có nhiều điều kiện phát triển hơn, chúng có nhiểu thức ăn, cũng như một số loài sinh sản vào đầu mùa lũ Một
số loài lại đi ngược dòng đến thượng nguồn để sinh sản, một số loài khác thì tận dụng mùa lũ để kiếm thức ăn ( cá nược, các loài da trơn tự nhiên, một số loài
chuyên sống vùng nước lợ)
Theo Ling ( 1977) thì nghề cá lồng bè có nguồn gốc từ Nam Á, còn theo
Pantule thì ông cho rằng phương pháp nuôi lồng cổ điển xuất hiện sớm nhất tại Đông Nam Á, khu vực Biển Hồ và lân cận Tuy nhiên nghiên cứu của trường Đại học Kansas cho thấy các lưu vực sông có các chế độ nước lũ cao hàng năm thì
đều kéo theo việc một bộ phận dân cư sống phụ thuộc hoàn toàn vào các hoạt
động trong mùa lũ Và nuôi trồng thủy sản theo mùa trên các vùng đệm này xuất hiện từ rất lâu và tương đối phổ biến
Trang 34Theo nghiên cứu trên thì vào trong khoảng những năm 700 BC những người dân dọc bờ sông Mekong từ vùng bờ Bắc Biển Hồ đã biết cách thả những cái lồng nhỏ bằng tre nứa, dây, gỗ để nuôi những loài thủy sản mà họ bắt được trong thời gian lũ lên mà không kịp sử dụng hết sau đó, người dân còn dùng các lưới đáy để gom các thủy sản khác Bắt đầu là những chiếc lồng nhỏ, sau này đến các dãy lưới được dăng hàng ngày và thường xuyên hơn, số người tham gia
không chỉ giới hạn trong một gia đình mà nó tập hợp cả một vài hộ dân, có khi lên đến hơn 10 hộ
Ban đầu họ chỉ nuôi các loài cá dễ sống như cá trê, cá he ( cá nược) và những loại cá khác trong những chiếc lồng bằng tre, gỗ, sau đó nghề nuôi cá lan rộng đến Thái Lan , Việt Nam và các nước khu vực Đông Nam Á khác và người nuôi cá đã thay thế lồng bằng tre gỗ bằng nylon, nhựa , polyetylen, và có cả sự tham gia của kim loại Lồng cá được gắn bởi giá đỡ, phao hoặc thùng dầu ( thùng phuy) Có thể được cố định thành dãy hoặc rời
1.2 Đánh bắt nuôi trồng thủy sản và khai thác trong mùa lũ tại Việt
Nam
Miền Bắc chủ yếu người dân nuôi trồng trong lồng bè trên sông ở dọc
hạ lưu sông Đà, vùng Sơn La… từ những năm 1970, trên những con suối, nuôi
cá trắm cỏ là chủ yếu Hiện nay có thêm cá rô phi đơn tính Đối với khu vực
đồng bằng sông Hồng thì chủ yếu nuôi tại các khu vực bãi bồi ven sông ngoại thành Hà Nội và vùng Hà Nam, Hà Bắc Ở miền Nam có hai vùng nuôi chính
đó là Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Tại miền Đông là các khu vực thuộc vùng sông La Ngà – Đồng Nai và một ít tại Hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng Đồng bằng sông Cửu Long thì tập trung chủ yếu tại vung An Giang, Cần Thơ,
Cà Mau, nhiều nhất tại Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười
Trang 351.3 Đánh bắt nuôi trồng thủy sản và khai thác trong mùa lũ tại An
Giang
Nghề nuôi cá lồng bè du nhập từ Cambodia vào những thập niên 1960, sau đó do chiến tranh nên người dân dần di chuyển xuống vùng hạ lưu sông, dọc theo 2 vùng sông Tiền và sông Hậu
Nghề nuôi cá bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 1974, toàn vùng có khoảng 10.000 bè nhưng kích thước bè còn nhỏ ( khoảng 10 – 15 tấn / bè là tối đa) Theo số liệu năm 2004 thì tại Châu Đốc năng suất đạt khoảng 200 tấn/ bè Trong thời gian này nguồi cung cấp giống chủ yếu là Cambodia về vì người nuôi chưa tự nuôi được cá giống Đối tượng cá nuôi cũng không đồng nhất mà một số
bè vừa nuôi cá basa, vừa nuôi ghép cá lóc bông, cá he, cá chài Vì thế nghề nuôi
cá lúc này không ổn định vì thiếu giống, thiếu thức ăn, vốn Đến năm 1976, số bè còn lại tại An Giang là 476 bè Sau đó nghề này được phục hồi nhưng do chính sách của nhà nước không phù hợp, cùng với chiến tranh biên giới 1979 khiến cho nghề này bị chững lại Đến giữa thập kỷ 80 thì khi biên giới ổn định lại và chính sách của nhà nước khuyến khích người dân trở lại với làng nghề thì nuôi cá lồng
bè thì số bè tăng lên được đến 800
Tính đến ngày 1-10-2005, các số liệu về nghề nuôi trồng thủy sản trên toàn tỉnh được thống kê như sau :
Tổng số hộ nuôi trong toàn tỉnh là 13.464 hộ, giảm 498 hộ so với năm
2004, trong đó nhiều nhất là số hộ nuôi ao hầm chiếm 9.351 hộ, nuôi bè 1.897
hộ Huyện có nhiều hộ nuôi nhất là Phú Tân (2 739), Châu Phú ( 2 042), Chợ
Mới ( 1 652)
Tổng diện tích nuôi thủy sản là 1.836 ha ( kể cả sản xuất giống) Do nuôi cá hầm càng ngày càng phát triển nên diện tích nuôi cá bè giảm, hiện tại có 3.058 bè, giảm 500 bè so với cùng kỳ năm 2004, nên tổng sản lượng giảm mạnh, chỉ còn 79.078 tấn, trong đó cá tra, cá basa là 57.314 tấn, giảm tổng sản lượng
xuống 12.000 tấn so với năm 2004
Trang 36Toàn tỉnh hiện nay có 27.000 hộ đánh bắt thủy sản So với năm 2004 thì giảm 7% Các huyện có số lượng hộ tham gia nhiều nhất là Châu Phú, Tri
Tôn, Long Xuyên…
2 MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÁNH BẮT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI
Tại miền Tây Nam Bộ, khi các vùng đồng bằng chưa có đê bao và chống mặn, ngăn phèn, việc trồng trọt và phát triển nông nghiệp lúa nước cũng như các loài cây ăn trái chưa phát triển mạnh, đánh bắt thủy sản vùng nước nổi là cách
kiếm sống chính của một bộ phận không nhỏ cư dân địa phương Nó trở thành
một hoạt động mang tính thường niên
Vào mùa nước nổi, lượng cá, tôm, phiêu sinh vật và lượng phù sa đạt mức gần như cao nhất trong năm Thời gian này, khai thác thủy san phát triển mạnh nhằm tận dụng tối đa nguồn lợi tự nhiên, mang lại nguồn thu nhập đáng kể
Vào khoảng thời gian từ rằm tháng 8 đến cuối tháng chạp là mùa lũ hàng năm của vùng An Giang và cũng là mùa bắt đầu của các hoạt động đánh bắt
trong mùa nước nổi Hiện nay các hoạt động nuôi trồng diễn ra hầu như quanh năm, và có hệ thống hơn Khi các vùng lúa bị ngập nước thì hoạt động trồng trọt
bị dừng lại và thay thế vào đó là các hoạt động gắn liền với sông nước Thông thường thì đối với người dân trồng lúa ở An Giang và các vùng phụ cận thì
nguồn tiền tích lũy trong các vụ mùa trước thường không đủ cho sinh hoạt trong mùa nước lên, và nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy sản cũng là cách kiếm sống gần như duy nhất của họ
Đối với các gia đình có thu nhập tương đối ổn định hơn thì đây là một cách
để tăng thêm thu nhập chứ không phải là công việc chính, nhất là đối với những người dân sống ven lộ và trong vùng đệm gần đô thị Bởi trong suốt quá trình từ khi lũ rút mùa trước đến khi bắt đầu mùa lũ năm sau thì đa số các hộ dân đều có được một lượng dự trữ lương thực nhất định phòng tránh
Đối với một số hộ dân có điều kiện hơn về kinh tế và áp dụng khoa học kỹ thuật thì mùa nước nổi lại là một cơ hội cho họ có được thu nhập cao hơn các
Trang 37thời điểm khác trong năm Đây không phải là giai đoạn khai thác để bán ra thị
trường mà là giai đoạn tận dụng các ưu thế do dòng lũ mang lại ( ví dụ như cây đay có được lớp vỏ dày hơn khi mùa lũ đến, cá con lớn nhanh hơn cũng như một
số loài cá sống trong ao hầm có nhiều thức ăn hơn) Một số hộ dân có được số
đất đủ lớn để khoanh thành những ao lưới cá có diện tích cần thiết thì tận dụng được nước mùa lũ mang lại cho họ thu nhập cao hơn so với trồng lúa hay hoa
màu khác Trong thời điểm này, giá cá mồi cũng như lượng thức ăn được cung cấp một cách nhiều hơn, thời gian nuôi được rút ngắn lại và môi trường nước
được cải thiện một cách đáng kể
Tuy nhiên đối với các chính quyền địa phương thì đánh bắt thủy sản mùa nước nổi là một giải pháp để giảm bớt gánh nặng phải cứu trợ cho những người dân trong vùng ngập lụt Theo quan sát, vẫn còn một bộ phận những dân cư vùng sâu, vùng xa không có được lượng đất đai cần thiết cho việc canh tác trong năm, sống hoàn toàn nhờ vào khai thác tự nhiên và không thể ổn định được trong mùa
lũ Tuy nhiên vẫn chưa có sự can thiệp một cách rõ ràng và có tổ chức của chính quyền địa phương Nhất là đối với hai địa phương là Phú Tân và Châu Phú
3 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CHÍNH QUYỀN TRONG VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA NƯỚC NỔI
Đối với các cư dân sống chung với lũ từ bao đời nay thì việc khai thác
trong mùa lũ là rất bình thường Hầu như việc xáo trộn cuộc sống của người dân khi lũ về không mang tính bất ngờ như lũ quét ở miền Trung hay khu Tây Bắc Chính vì thế người dân ở đây thích nghi rất nhanh với việc sống chung cùng lũ Thế nhưng khai thác hết được tiềm năng và có được một cuộc sống ổn định trong mùa lũ không phải là một vấn đề dễ dàng
Trong 5 năm gần đây, An Giang có chính sách dùng đê bao bảo vệ các khu dân cư cũng như các khu vườn ăn trái vốn không chịu ngập nước Có nhiều dạng
đê bao như đê tháng 8, đê triệt để, được phân bố ở từng địa phương khác nhau
tuỳ thuộc vào đặc điểm điạ hình và đặc điểm lũ tại nơi đó Khi có đê bao, số vụ
Trang 38làm lúa trong một năm của người nông dân cũng tăng lên, từ 2-3 vụ/năm, đem lại nguồn thu nhập đáng kể hơn cho người dân Đê bao có nhiệm vụ bảo vệ người dân dù chỉ trong từng phạm vi nhỏ Đa số những hộ dân tại những rốn lũ thì
không có cơ hội đó Tuy nhiên đê bao cũng có những mặc hạn chế đang được
chính quyền nghiên cứu như từ khi có đê bao, sản lượng cá trong đồng giảm sút,
va vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước khu vực nội đồng tăng lên Hiện nay tại An Giang, một số vùng còn có thể nuôi tôm, nhưng diện tích rất ít
do hiện tượng ô nhiễm nguồn nước, nó chỉ còn tồn tại ở một số vùng bên Đồng Tháp nhưng diện tích cũng không lớn
Việc sử dụng đê bao khiến cho khai thác và nuôi trồng của một bộ phận dân
cư không còn nữa, thay vào đó là lúa vụ 3, lúa chét hoặc các vườn cây ăn trái
Thay đổi môi sinh do đê bao còn chưa được đánh giá hết ảnh hưởng của nó
nhưng cơ bản người dân sinh sống trong và ngoài đê đang tìm cách thích ứng
với điều kiện sống mới này
Việc hình thành các cụm dân cư vượt lũ trong vùng mang lại lợi ích cho
một bộ phận không lớn dân cư bởi khu dân cư tập trung không cung cấp được
việc làm cho những người dân vốn quen với công việc làm thuê và đánh bắt hàng ngày Người dân có thể thích nghi với vấn đề lũ lên nhưng không kịp chuyển đổi hình thức lao động Chính vì thế việc hình thành các cụm dân cư vượt lũ và hiệu quả của nó cần phải xem xét lại
Riêng đối với việc nuôi cá bè, cá lồng thì lũ lại là một điều thuận lợi và
được người dân chờ đợi Trong mùa lũ, áp lực thức ăn không lớn, môi trường
nước được cải thiện rất nhiều; trong khi đó thì thị trường tại chỗ giá cả không có lợi cho người nuôi nhưng xuất khẩu vẫn bình thường Chính vì thế nuôi cá bè,
Trang 394.CÁC LOẠI HÌNH ĐÁNH BẮT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÙA
NƯỚC NỔI
4.1 Đánh bắt
Loại hình phổ biến nhất hiện nay là chài, giăng lưới, giăng câu mang tính
hộ gia đình Thông thường mỗi một hộ đều có một ghe, xuồng nhỏ và thường
người lao động chính trong nhà dùng để giăng lưới hoặc đi câu Người đi thường một đến hai người, đánh trong quy mô nhỏ và thường mang về nhà dùng một ít
và chủ yếu là mang ra chợ bán, hoặc là dùng hình thức bán rong trên ghe
Tình trạng đánh bắt bằng xung điện hiện nay vẫn rất phổ biến Hầu hết các ghe cào đều dùng xung điện để khai thác Theo kết quả điều tra thì trong toàn
tỉnh An Giang có 5.247 hộ đang dùng xung điện khai thác Hình thức phổ biến là gắn thêm bình acquy theo các nút chài Các cách đánh bắt khác như soi (dùng
đèn soi cá vào buổi tối) dùng đăng, đó, … Hay đi hớt các loại ốc, cá nhỏ để làm thức ăn cho cá lớn Dùng các hình thức khác như đặt lờ, lợp…
Ngoài ra người dân còn cắm đăng để hướng luồng cá vào những nơi dễ khai thác, dùng các sào và dãy lưới để đón được nhiều cá hơn
Không chỉ trong mùa nước nổi, mùa kiệt vẫn có những hộ dân đi chài trong khoảng thời gian giữa ngày để lấy cá làm thức ăn cho cá bè, cá hầm của họ Hầu hết các hộ này đều dùng điện sạc để khai thác bởi họ không mang ra chợ bán
Trong các hoạt động này, người dân không chú trọng vào các loại cá hay tôm được bắt mà chỉ quan tâm tới số lượng, đánh bắt số lượng lớn sẽ đem lại
nguồn thu nhập lớn vì đa số cá bán được chủ yếu là cho các hộ nuôi cá và họ ít phân loại cá, trừ những trường hợp bán lẻ ngoài chợ