Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu kỹ những quy định của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ về nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên theo hợp đồng mua bán hàng hoa, đề tài sẽ so
Trang 2Bộ GIÁO DỤC & Đ À O TẠO
• • • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
MUA BÁN HÀNG HOA THEO BỘ LUẬT
THƯƠNG MẠI THỐNG NHÁT HOA KỲ
MÃ SỐ: B2003- 40- 30
Nguyên Chủ nhiệm đề tài:
Chủ nhiệm đề tài:
Tham gia đề tài:
PGS.TS Hoàng Ngoe Thiết ThS Nguyễn Minh Phượng ThS Ho Thúy Ngọc
Trang 3r Bộ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRUÔNG ĐẠễ HỌC NGOẠI THƯƠNG
• • •
000
TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐONG MƯA BÁN HÀNG HOA THEO BỘ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHÁT HOA KỲ
Trang 4MỤC LỤC
trang
CHƯƠNG I NGHĨA vụ CỦA CÁC BÉN MUA BÁN HÀNG HOÁ THEO BỘ LUẬT 5
THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT HOA KỲ
ì Vài nét về Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kợ 5
1 UCC- nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoa 5
2 Mối quan hệ giữa ucc và luật án lệ điều chỉnh hợp đồng 6
3 Một số khác biệt cơ bản giữa Chương 2-UCC và luật án lệ về hợp 7
đồng
n Hợp đồng- căn cứ phát sinh nghĩa vụ của các bên 9
1 Cách thức thành lập họp đồng 9
2 Hình thức của hợp đồng 10
3 Nội dung của hợp đồng 12
4 Điều kiện hiệu lực của họp đồng 12
ni Một số nghĩa vụ cơ bản của người bán và người mua theo ucc 13
Ì Nghĩa vụ của người bán 13
2 Nghĩa vụ của người mua 19
CHƯƠNG li TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỔNG MUA BÁN HÀNG HOÁ THEO 23
Bộ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT HOA KỲ
ì Một số quy định chung về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua 23
bán hàng hoa theo ucc
Ì Các hình thức trách nhiệm 23
2 Các căn cứ miễn trách và thực tiễn áp dụng 28
n Trách nhiệm cụ thể của người bán và người mua do vi phạm hợp 36
đồng mua bán hàng hoa theo ucc
1 Trách nhiệm của người mua do vi phạm hợp đồng 36
2 Trách nhiêm của người bán do vi phạm hợp đồng 46
CHƯƠNG III SO SÁNH TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỔNG MUA BÁN HÀNG 55
HOA THEO Bộ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT HOA KỲ VỚI LUẬT THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
i
Trang 5ì Một số quy định chung về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua 55
1 Trách nhiệm của người bán do vi phạm hợp đổng 75
2 Trách nhiệm của người mua do vi phạm hợp đổng 80
ni Một sô chú ý đôi với các doanh nghiệp Việt Nam k h i ký kết và 81
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoa với doanh nghiệp Hoa KẬ
Trang 6LỜI NÓI Đ Â U
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Từ khi Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa K ỳ có hiệu lực vào tháng
12 năm 2001, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội để tìm kiếm khách
hàng, xuất khẩu và thâm nhập thị trường Hoa Kỳ Từ năm 2002 đến nay, hoạt
động mua bán hàng hoa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ngày càng trở nên sôi
động K i m ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quổc gia đã tăng từ 800 triệu USD
năm 2000 lên 4,2 tỷ USD năm 2004, bằng tổng k i m ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang 25 nước EU1 Tuy vậy, cần phải thấy rằng, các cơ hội luôn gắn liền
với các thách thức và rủi ro, đặc biệt là các rủi ro về mặt pháp lý
Đ ể xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam phải ký kết các hợp đổng
mua bán hàng hoa với các thương nhân Hoa Kỳ Tuy theo sự lựa chọn của các
bên hay của toa án, trọng tài, các hợp đồng này có thể được điều chỉnh bởi
luật Việt Nam hay luật Hoa Kỳ Là hai quổc gia thuộc hai hệ thổng pháp luật
khác nhau (Việt Nam đã và đang xây dựng hệ thổng pháp luật của mình theo
truyền thổng của các quổc gia thuộc hệ thổng Civil law, Hoa Kỳ lại là đại diện
tiêu biểu của hệ thổng Common law) nên giữa các vãn bản luật điều chỉnh hợp
đồng mua bán của hai nước chứa đựng khá nhiều điểm khác biệt, không chỉ về
những nội dung cụ thể, m à còn về cả những vấn đề mang tính nguyên tắc
"Biết mình, biết ta, trăm trận trăm thắng", dù luật áp dụng là luật nước nào thì
một doanh nghiệp Việt Nam, để hiểu được đổi tác, để giải quyết nhanh chóng
các tranh chấp phát sinh nhằm giảm thiểu các rủi ro về pháp lý, cần nắm bắt
được những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hoa của Hoa Kỳ, đặc biệt là của Bộ luật Thương mại thổng nhất Hoa Kỳ
(ƯCC)
Các tranh chấp phát sinh chủ yếu là do một bên v i phạm hợp đồng làm
phát sinh trách nhiệm của bên đó đổi với bên bị v i phạm Xác định được các
căn cứ, các điều kiện quy trách nhiệm và chế độ trách nhiệm cụ thể đổi v ớ i
1
Nguồn: www vneconomv.com.vn bài phát biểu "213 người Mỹ hài lòng với sự tăng trưởng cùa thương mai
Việt- Mỹ" của Bà Charlene Barsheísky, Nguyên Đ ạ i diên Thương mại M y thời kỳ tổng thổng Clinton
Trang 7bên vi phạm, đó là những vấn đề cốt yếu cần làm rõ để giải quyết tranh chấp Vậy u c c quy định như thế nào về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoa? Những quy định đó khác với những quy định hiện hành của Việt
Nam như thế nào? Đề tài NCKH cấp Bộ "Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
mua bán hàng hoa theo Bộ luật Thương mại thông nhất Hoa Kỳ" được thực
hiện nhứm trả lời cho những câu hỏi nói trên
2 Tinh hình nghiên cứu
Từ trước khi Việt Nam ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ, ở Việt Nam, nhiều học giả, nhiều nhà khoa học, nhiều cán bộ nghiên cứu đã thực hiện các nghiên cứu về môi trường kinh doanh của Hoa Kỳ, trong đó có môi trường pháp lý u c c cũng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học
Tuy nhiên, những đề tài đó chi dừng lại ở việc giới thiệu và phân tích những vẩn đề nói chung của u c c hoặc chỉ phân tích u c c ở góc độ này hay góc độ khác, chưa có đề tài hay công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và cụ thể về trách nhiệm do vi phạm hợp đổng mua bán để từ đó đưa ra những bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam khi làm ăn với đối tác Hoa Kỳ Đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ đầu tiên nghiên cứu vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu kỹ những quy định của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ về nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên theo hợp đồng mua bán hàng hoa, đề tài sẽ so sánh, đối chiếu với những quy định tương ứng của Luật Thương mại Việt Nam, từ đó rút ra những điểm khác nhau và những điểm mà các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý khi ký kết, thực hiện hợp đổng mua bán hàng hoa với thương nhân Hoa Kỳ nhứm vận dụng đúng, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình
4 Nhiệm vụ cụ thể
- Phân tích những quy định của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ
về các nghĩa vụ của người mua và người bán trong hợp đổng mua bán hàng hoa
Trang 8- Phân tích các vấn đề liên quan đến trách nhiệm do v i phạm hợp đổng mua bán theo ucc (các chế tài, các trường hợp miễn trách) cũng như chỉ rõ chế độ trách nhiệm cụ thể của người mua và người bán khi vi phạm hợp đồng
- So sánh những quy định của u c c về trách nhiệm do v i phạm hợp đồng mua bán với các quy định tương ống trong Luật Thương mại Việt Nam năm
1997, từ đó rút ra một số lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam k h i ký kết
và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoa với các thương nhân Hoa Kỳ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cốu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của u c c về nghĩa vụ
và trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoa Những quy định trong trong Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 về van đề này cũng là đối tượng nghiên cốu chính của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nói đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoa ở Hoa Kỳ là nói đến một khái niệm rộng, bao gồm không chỉ những quy định của u c c m à cả những nội dung của luật án lệ- một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của một quốc gia thuộc hệ thống Common law như Hoa Kỳ Đ ề tài chỉ
giới hạn ở việc phân tích các quy định của u c c (cụ thể là chương 2 của UCC) liên quan đến mua bán hàng hoa
Bên cạnh đó, khi so sánh Ư C C với pháp luật Việt Nam, đề tài cũng giới hạn phạm v i phân tích chỉ ở những quy định có liên quan của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 với ý nghĩa là đạo luật cơ bản về thương mại ở Việt Nam hiện nay
6 Phương pháp nghiên cốu
Đ ề tài áp dụng các phương pháp nghiên cốu tổng hợp như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và diễn giải Đặc biệt, phương pháp so sánh luật học được
áp dụng thường xuyên nhằm nêu bật những điểm khác nhau giữa những quy định của u c c và của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 Đ ồ n g thời, nhóm
đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cốu tình huống (case study) nhằm minh họa và làm sinh động thêm về mặt thực tiễn cho các phân tích trong đề
tài
Trang 97 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung của đề tài được phân bổ thành 3 chương:
- Chương ì Nghĩa vụ của các bên mua bán hàng hoa theo Bộ luật
Thương mại thống nhất Hoa Kỳ
- Chương li Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoa theo
Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ
- Chương Hỉ So sánh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hoa theo Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ với Luật Thương mại Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG I NGHỈU vụ cún các BÊN MUA BÁN HÀNG HOA THEO
Bộ LƯỢT THƯƠNG MỘI THỐNG NHẤT Hoe KỲ
I VÀI NÉT VỀ Bộ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT HOA KỲ
1 u c c - nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoa
Hiện tại, pháp luật điều chỉnh hợp đổng mua bán hàng hoa của Hoa Kỳ bao gồm hai phốn: phốn thứ nhất là Chương 2 Bộ Luật Thương Mại Thống Nhất (Uniíorm Commercial Code - UCC) và phốn thứ hai là Luật án lệ về hợp đồng ucc là Bộ luật được tất cả các bang của Hoa Kỳ phê chuẩn (riêng bang Lousiana chỉ áp dụng các chương Ì, 3, 4, và 5) nên đây là Bộ luật có hiệu lực trên khắp lãnh thổ Hoa Kỳ Còn luật án lệ về hợp đồng là nguồn luật được xây dựng dựa trên phán quyết của toa án các bang
ucc được ban hành lốn đốu tiên năm 19492
Với tên gọi là Bộ luật Thương mại thống nhất, mục đích của ucc là thống nhất các quan điểm khác nhau tồn tại trong hoạt động thương mại giữa các bang của Hoa Kỳ (điều này gây ra nhiều khó khăn cho những giao dịch thương mại giữa các thương nhân Hoa Kỳ ở các bang khác nhau hay khi những người này thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế) Ư C C đã trải qua nhiều lốn sửa đổi lớn cho phù hợp với thực tiễn thương mại Hoa Kỳ và với sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc (như sự phát triển của Internet và của thương mại điện tử) Lốn sửa đổi gốn đây nhất của ucc là năm 2001 Bộ luật này còn được gọi là
bộ sưu tập các luật của các bang ("coỉỉectỉon of statutes") và được áp dụng
khá phổ biến trong thực tiễn thương mại ở Hoa Kỳ
Ư C C gồm 9 chương (article3
) điều chỉnh rất nhiều mảng khác nhau trong hoạt động thương mại, bao gồm cả mua bán hàng hoa, ngân hàng, chứng khoán , trong đó có Chương 2 trực tiếp điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hoa Một hợp đồng nếu có đối tượng xác định là hàng họa thì có nguồn luật áp dụng là Chương l i của ƯCC Điều 2-105(1) định nghĩa hàng hoa là mọi thứ có thể di chuyển được về mặt không gian (không bao gồm tiền, chứng khoán, trái khoán) Động vật chưa sinh, mùa màng chưa thu hoạch, các loại cây cho gỗ,
2
Miên R.Kampp, Downtown Code: A History of ucc 1949-1954, Buffalo L Rev 2001 tr.359
3 Thục chất mỗi Article trong ucc có quy m ô tương đương với một chương Vì vậy, chúng tôi dịch " A r t i c l e " thành "Chương" cho gốn gũi với thực tế pháp lý ở Việt Nam
Trang 11khoáng sản tách khỏi bất động sản cũng được coi là hàng hoa Với những hợp đổng có đối tượng gồm cả hàng hoa và dịch vụ, ucc được áp dụng khi yếu tố hàng hoa trội hơn yếu tố dịch vụ, ngược lại, nếu yếu tố dịch vụ trội hơn, nguồn luật điều chỉnh hợp đồng là Luật án lệ
Chương 2 bao gồm 104 điều khoản, được chia thành 7 phứn:
- Phần Ì: Tiêu đề ngắn, quy định chung và chủ đề (7 điều khoản);
- Phần 2: Hình thức, cấu thành và chỉnh lý hợp đổng (10 điều khoản);
- Phần 3: Nghĩa vụ và sự thiết lập hợp đổng (28 điều khoản);
- Phần 4: Chủ nợ và người mua thiện chí (3 điều khoản);
- Phần 5: Thực hiện, thi hành (15 điều khoản);
- Phần ố: V i phạm, khước từ và tha miễn (16 điều khoản);
- Phần 7: Biện pháp khắc phục (25 điều khoản)
Trong toàn bộ chương 2 này, các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã cố gắng thể hiện những quan niệm và nhận thức chung nhất được đúc rút từ thực tiễn kinh doanh giữa các thương nhân trong việc mua bán hàng hoa Cứn nhấn mạnh là,
mục đích của Ư C C là "fiỉl in gaps", nghĩa là để bổ sung cho những vấn đề mà
các bên chưa đề cập hay chưa thoa thuận trong hợp đồng mua bán Trên thực
tế, để đảm bảo sự nhanh chóng trong các giao dịch thương mại, trong hợp đồng, người bán và người mua chỉ thoa thuận một số điều khoản quan trọng như đối tượng hợp đồng, giá cả Những vấn đề khác như phương thức giao hàng, thời hạn thanh toán, các bảo đảm về chất lượng hàng hoa, các biện pháp
mà một bên có thể thực hiện khi bên kia vi phạm hợp đồng , đều được quy định trong ucc và các bên có thể dựa vào ucc để giải quyết Tuy vậy, các bên có thể thoa thuận khác với những quy định của ucc và những thoa thuận này vẫn có giá trị áp dụng
2 M ỏ i quan hệ giữa ucc và Luật án lệ điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoa
Trong nhiều loại hợp đồng, chỉ riêng hợp đồng mua bán hàng hoa là do ucc điều chỉnh Các loại hợp đồng khác áp dụng Luật án lệ về hợp đồng Tuy vậy, các luật gia không có ý định thay thế hoàn toàn Luật án lệ về hợp đồng bằng ucc trong lĩnh vực điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoa Hơn nữa
Ư C C cũng không hàm chứa được tất cả các quy định liên quan đến một giao
Trang 12dịch mua bán hàng hoa Nếu một tình huống phát sinh từ hoặc liên quan đến một hợp đồng được xác định là đối tượng điều chỉnh của ucc, m à Ư C C lại không có quy định cụ thể về tình huống đó, thì sẽ áp dụng Luật án lệ cho hợp đổng Chẳng hạn, chào hàng, vốn là khái niệm trong Luật án lệ cho hợp đổng, cũng được sọ dụng trong Ư C C m à không có đinh nghĩa Nhiều nội dung trong ưcc chỉ đơn giản là cụ thể hoa những quy định đã có trong Luật án lệ về hợp đồng Như vây, là một quốc gia theo hệ thống Common law (hay còn gọi là hệ thống luật án lệ), Luật án lệ về hợp đồng vẫn là nguồn luật quan trọng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoa
Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, k h i áp dụng hai nguồn luật là ucc hoặc Luật án lệ cho hợp đồng sẽ cho các hậu quả pháp lý khác nhau Các quy định của Ư C C so với Luật án lệ về hợp đồng có x u hướng điều chỉnh linh hoạt hơn, gần gũi với thực tiễn kinh doanh hơn Những khác biệt đó sẽ được phân tích cụ thể hơn trong phần 3 dưới đây
3 Một số khác biệt cơ bản giữa Chương 2 ucc và Luật án lệ về Hợp đồng
ucc có thiên hướng điều chỉnh linh hoạt hơn so với Luật án lệ về hợp đồng Toa án áp dụng ucc thường kết luận hợp đồng thành lập nhiều hơn k h i
áp dụng Luật án lệ về hợp đồng ucc cũng có ít các yêu cầu về kỹ thuật hơn
so với Luật án lệ về hợp đồng, chẳng hạn như yêu cầu về quyền và nghĩa vụ đối ứng (điều 2-205 và điều 2-209)
Các luật gia soạn thảo ucc muốn đề ra những nguyên tắc phù hợp với thực tiễn kinh doanh hiện đại Ngày nay, người ta sọ dụng nhiều hợp đồng mẫu, và thực tế này cũng được xọ lý trong một số quy định của ucc (ở các
điều 2-205, 2-207, 2-209(2), và 2-302) Những từ ngữ hợp lý, hợp lý về
thương mại, và trong thời gian hợp lý rất hay được sọ dụng trong Ư C C Đây là
một đặc điểm thể hiện sự linh hoạt của ucc so với Luật án lệ Đ ể ra phán quyết về tính hợp lý theo ucc, Toa án dựa vào việc phân tích các hoạt động thực tế diễn ra trên thị trường nhiều hơn là dựa vào một con người hợp lý được giả định nào đó Ví dụ, giả sọ thời hạn chấp nhận chào hàng được quy định là một thời hạn hợp lý, thì tính hợp lý đó không thể được xác định theo một án lệ nào đó m à phải được đánh giá dựa trên những chi tiết và tình huống thực t ế của tranh chấp như khoảng cách giữa các bên, phương tiện truyền tin dùng để gọi chào hàng, đối tượng của chào hàng, quy m ô của hợp đồng cũng như thực tiễn kinh doanh giữa người chào hàng và người được chào hàng
7
Trang 13Các luật gia soạn thảo ưcc cũng mong muốn phát triển các tiêu chuẩn kinh doanh công bằng và thống nhất hơn, vì vây họ đề ra nguyên tắc nghĩa v ụ
thiện chí và t r u n g thực (good faith andfair dealing) [điều 1-203] trong quá
trình ký kết, thực hiện và đảm bảo thực hiện hợp đồng Trung thực với ý nghĩa
là "thật thà trong thực tế" là mặt nguyên tắc m à các bên trong mọi hợp đổng mua bán phải tuân thủ Ngoài ra, ucc đặt ra yêu cầu đặc thù đối với thương nhân, phải tuân thủ "giao dịch trung thực theo các tiêu chuẩn thương mại hợp lý" [Điều 2-103 (l)(b)] Các bên trong hợp đồng có thể thoa thuận thay đổi các điều khoản khác của Ư C C nhưng không thể thoa thuận thay đổi nghĩa vụ trung thực [Điều 1-102(3)] ucc còn có khái niệm về hợp đồng bất công
(unconscionable contract), tức là hợp đổng rất không công bằng hoặc chỉ có
lợi về mặt phía Những quy đinh nói trên đều thể hiện nguyên tắc cơ bản và quan trọng không chỉ trong thương mại quốc gia m à còn trong thương mại quốc tế, đó là nguyên tắc thiện chí và trung thực Nguyên tắc này cho phép xác định mặt cách linh hoạt nghĩa vụ của bên mua và bên bán trong cả những trường hợp m à Ư C C không quy định và Luật án lệ về hợp đồng cũng không
có, đó là những nghĩa vụ m à các bên phải thực hiện nếu như họ hành đặng theo đúng nguyên tắc nói trên
Ư C C cũng công nhận thực tế rằng người mua thường phụ thuặc vào những người bán chuyên nghiệp m à thông thường thì những người chuyên nghiệp có hiểu biết hơn và có khả năng tự bảo vệ tốt hơn so với những người không chuyên Do vậy, ucc phân biệt thương nhân với những người không phải là thương nhân, trong đó quy đinh thương nhân bị ràng buặc bởi những tiêu chuẩn cao hơn ở mặt số tình huống nhất định [điều 2-201(2), điều 2-205
và điều 2-207(2)] Việc xác định mặt chủ thể là thương nhân hay không phụ thuặc vào tình huống cụ thể M ặ t người luôn kinh doanh mặt loại hàng hoa, hoặc có kiến thức đặc biệt về mặt loại hàng hoa, hoặc thuê mặt đại diên đáp ứng mặt trong hai tiêu chuẩn này, thì được coi là thương nhân trong hợp đồng
có đối tượng là loại hàng hoa này Như vậy, trong mặt hợp đổng, mặt bên mua
ô tô cũ từ mặt nhà buôn ô tô cũ, thì nhà buôn được xác định là thương nhân Nhưng trong hợp đồng khác, cũng nhà buôn ô tô cũ trên bán mặt chiếc tủ lạnh, thì ở đây nhà buôn lại không phải là thương nhân
8
Trang 14li HỢP ĐỔNG- CĂN Cứ PHÁT SINH NGHĨA vụ CỦA CÁC BÊN
1 Cách thức thành lập hợp đồng
Cách thức thành lập hợp đồng phổ biến là qua việc gửi chào hàng và chấp nhận chào hàng M ộ t bên gửi bản chào hàng (chào bán hay chào mua) và một khi chào hàng được chấp nhận thì phát sinh hợp đổng và các bên trong hợp đồng bị ràng buộc vào các nghĩa vụ Theo ucc, chào hàng có thể được chấp nhận theo bất kự cách thức hợp lý nào trong đó gửi thư chấp nhận là phương thức phổ biến Đôi khi, chỉ cần thực hiện yêu cầu chính trong chào hàng là đã đủ phát sinh họp đồng Ví dụ, nếu người mua nói với người cung cấp rằng anh ta muốn mua 2000 cột gỗ nếu người cung cấp có thể mang hàng đến vào ngày h ô m sau Lúc này, người cung cấp không cần phải trả lời m à chỉ cần cho xe chở 2000 cột gỗ đến cho người mua
Đ ố i với chào hàng cố định, nếu người chào hàng chào bằng văn bản mua hoặc bán một loại hàng hoa nào đó và chào hàng để mở trong một khoảng thời gian hợp lý, điều đó có nghĩa là hợp đồng sẽ phát sinh k h i người được chào chấp nhận trong một thời gian hợp lý mặc dù người chào không quy định một thời gian cụ thể nào Vậy, thế nào thì được coi là "thời gian hợp lý"? Ư C C để ngỏ cho các bên quyết định và chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của m ỗ i bên Các bên cũng có thể quy định thời gian cụ thể trong chào hàng cố định Tuy nhiên, thời hạn hiệu lực của chào hàng không thể vượt quá 3 tháng4, nghĩa là một chào hàng kéo dài quá 3 tháng sẽ không ràng buộc các bên trừ phi có thoa thuận Chào hàng cố định chỉ là chào hàng một chiều
và chưa được chấp nhận Nếu như bên được chào thực hiện hoặc hứa thực hiện một nghĩa vụ nào đó thì coi như đã có "thoa thuận" và chào hàng có thể kéo dài hiệu lực quá 3 tháng Trường hợp này còn được gọi là "hợp đổng lựa chọn"5
Trong thực tế có những tình huống xảy ra như sau: Bên bán gửi thư điện
tử hoặc fax cho bên mua bản báo giá Bên mua gửi lại đơn đặt hàng dựa trên bản báo giá đã nhận Tuy nhiên, nội dung trong đơn đặt hàng lại có nhiều điểm khác với bản báo giá Vậy, bản nào sẽ được coi là hợp đồng và ràng buộc nghĩa vụ các bên? Ví dụ, người mua gửi cho người bán một đơn đặt hàng kèm các chỉ tiêu về phẩm chất kỹ thuật của hàng; người bán trả lời bằng văn bản
Trang 15với nội dung "Cám ơn đơn đặt hàng của quỷ ngài Chúng tôi sẽ gửi hàng ngày
lập tức Lưu ý rằng chúng tôi không thể giao hàng sau 3h chiều các ngày thứ sáu" 6 Hoặc có nhiều trường hợp, người được chào không nhất thiết phải trả
lời bằng văn bản sự đồng ý của mình Ví dụ, người mua gửi đem đặt hàng 700.000 tay cầm khoa cửa; nếu người bán gửi mẫu hàng cho người mua thì lập tổc hiểu rằng người bán và người mua có thoa thuận với nhau
K h i một bên gửi bản chấp nhận toàn bộ chào hàng thì coi như giữa hai bên đã có hợp đồng mặc dù bản chấp nhận có thể có những điều khoản bổ sung hoặc khác so với chào hàng ban đầu Ư C C coi những điều khoản bổ sung
này là "đề xuất bổ sung họp đồng" 1 và chúng sẽ trở thành một phần của hợp đồng trừ phi:
• chúng thay đổi cơ bản nội dung của chào hàng ban đầu;
• bên chào phản đối những điều khoản bổ sung;
• chào hàng ban đầu không cho phép bổ sung
2 Hình thổc của hợp đồng
Trong thực tế kinh doanh ở Hoa Kỳ, hợp đổng có thể được hình thành bằng nhiều cách: thư chào hàng, báo giá, trao đổi trên điện thoại, V V Thậm chí, đôi khi các bên không cần đặt bút viết gì m à chỉ cần thông qua "bắt tay"8
Đ ố i với hợp đồng mua bán hàng hoa, u c c có cách tiếp cận rất linh hoạt, thực tế Hợp đồng mua bán có thể được tự do xác lập bằng các hình thổc như bằng văn bản, bằng miệng, bằng hành vi Trường hợp bằng văn bản thì các bên cũng không nhất thiết phải viết chữ "Hợp đổng" trên đầu văn bản và cũng không cần phải thoa thuận với nhau về m ọ i điều khoản
Khi nào thì hợp đồng nhất thiết phải được lập dưới dạng văn bản? Bất
kỳ hợp đồng mua bán hàng hoa nào có giá trị từ 500 USD trở lên thì buộc phải
có văn bản để xác nhận về việc có hợp đồng giữa các bên Quy định này được gọi là "Quy tắc tránh gian lận"9 Văn bản xác nhận có thể dưới dạng thư hoặc giấy viết tay và phải có chữ ký của bên kia Quan điểm về chữ ký theo u c c cũng rất rộng Không nhất thiết phải là chữ ký chính thống; ký tắt, tem hoặc dấu hiệu trên đầu bản fax cũng được coi là chữ ký hợp lệ M ộ t số trường hợp
Trang 16trong thực tế còn coi phần tiêu đề in sẩn trên giấy cũng có thể coi là chữ ký hợp l ệ1 0 Ví dụ, một người mua gỗ và người bán gỗ thoa thuận miệng với nhau
về việc mua bán 2000 cột gỗ với tổng trị giá là 3580 ƯSD Thoa thuận miệng này không làm phát sinh nghĩa vụ cừa cả hai bên Tuy nhiên, cũng thoa thuận này nhưng với giá trị thấp hơn 500 USD thì sẽ ràng buộc cả người mua và người bán Trên thực tế, toa án và trọng tài thừa nhận các trường hợp ngoại lộ, theo đó, không có văn bản nhưng thoa thuận giữa hai bên vẫn có hiệu lực, đó là:
• người bán đã phải gia công đặc biệt đối với hàng;
• cả hai bên thừa nhân với nhau, bằng hành v i cừa mình hoặc bằng một cách thức nào khác, về sự tồn tại cừa thoa thuận như một hợp đồng;
• hàng hoa đã được giao và người mua đã nhận;
• người mua đã thanh toán lô hàng đã nhận
Tức là, với ví dụ hợp đồng ở trên, khi người bán gỗ chở gỗ đến chỗ người mua, nếu người mua từ chối nhận với lý do chưa có hợp đồng thì người bán không thể kiện người mua về các thiệt hại; ngược lại, nếu người mua nhận hàng thì coi như hợp đồng đã hình thành và làm phát sinh nghĩa vụ cừa hai bên
Ngoài ra, ucc đưa ra thêm một đặc điểm nữa về sự hình thành hợp đồng Sau k h i thoa thuận miệng được thực hiện, hoặc người bán hoặc người mua có thể chuẩn bị và gửi "bản xác nhận" về hợp đồng cho bên kia Nếu bản xác nhận được chuyển đi, bên nhận sẽ bị ràng buộc trừ phi bên nhận gửi thông báo từ chối trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận1 1 Điều đó có nghĩa là người bán và người mua phải đọc thư cừa mình và gửi thư trả lời (hoặc ít nhất cũng
là thư tay) để từ chối nếu họ cho rằng bản xác nhận không m ô tả chính xác những nội dung đã được thoa thuận trước đó
Quay trở lại với ví dụ trên, với thoa thuận miệng cho việc mua bán 3580 USD cột gỗ, nghĩa vụ các bên không phát sinh Tuy nhiên, nếu sau đó, người mua gửi bản xác nhận đến cho bên bán và bên bán không phản đối trong 10
9 Đ 2-201 (l)-Statue of Frauds
'"Trong vụ Cox Engineering V Funston Mách & Supply, 749 s.w.2d 508, 511 (Tex App.1998) tiêu đề gồm
tên nguyên đơn, địa chỉ xuất hiện trên đầu bản hoá đơn được coi là bằng chứng xác nhận bên có nghĩa vụ
Trong vụ Owen V Kroger Co., 936 F Supp 579 (S.D Ind 1996), thẩm phán thừa nhận tiêu đề ÚI sẵn có thể
dóng vai trò là chữ ký theo yêu cầu trong ucc
Trang 17ngày thì bản xác nhận sẽ đóng vai trò là văn bản ràng buộc nghĩa vụ pháp lý của hai bên
3 Nội dung của hợp đồng
Theo ucc, hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ của các bên ngay cả k h i không có thoa thuận về thời gian giao hàng, phương thức giao hàng, địa điểm giao hàng, thậm chí cả thời hạn thanh toán Ví dụ: một người bán gỗ fax chào hàng 2000 cột gỗ với giá 3580 ƯSD Người mua đồng ý và gửi lại ngay bản chấp nhận chào hàng Hợp đống được hình thành và các bên bị ràng buộc vào các nghĩa vụ của người mua và người bán mặc dù họ chưa thoa thuận với nhau
về địa điểm, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán Đ ố i với các nội dung này, khi các bên không thoa thuận gì thì sẽ áp dụng quy định của UCC: nơi giao hàng sẽ là trụ sở của người mua; thời gian giao hàng sẽ là thời gian hợp lý; thanh toán sẽ đến hạn trước khi người bán giao hàng cho người mua12v v
Không giống như hệ thống luật Civil law, pháp luật Hoa Kỳ không đòi hỏi giá phải được xác định trước trong hợp đống Người mua và người bán vẫn bị ràng buộc vào hợp đồng mặc dù họ chưa thoa thuận về giá cả1 3 Tuy nhiên, quy định này chỉ đúng khi các bên có ý định đi đến hợp đồng Đôi k h i người bán hoặc người mua chưa kịp bàn về giá Sau này, họ có thể thoa thuận
về giá, hoặc công thức tính giá hoặc tiêu chuẩn để xác định giá D ù là cách nào thì ucc cũng đòi hỏi "giá phải họp lý tại thời điểm giao hàng"14 Các bên
bị ràng buộc vào giá tại thời điểm giao hàng Trong trường hợp giá dao động, cần phải làm rõ giá trong hợp đống là giá trên thị trường vào thời điểm thoa thuận hay giá thị trường vào thời điểm giao hàng Nếu các bên thoa thuận để cho một bên quyết định giá cả và bên đó không thực hiện được thì bên kia có thể huy hợp đồng hoặc tự mình xác định một mức giá phù hợp
4 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng
Theo ucc, hợp đồng có hiệu lực khi những điều kiện sau đây được thoa mãn:
Trang 18- Hình thức của hợp đổng hợp pháp: các hợp đổng có trị giá từ 500 Ư S D trở lên phải được lập thành văn bản;
- N ộ i dung của hợp đổng phải hợp pháp: hợp đồng phải chỉ rõ đối tượng của hợp đổng, bao gồm tên hàng và số lượng Tuy vậy, có trường hợp, không cần chỉ rõ số lượng hàng hoa trong hợp đồng m à số lượng đó có thể được xác định căn cứ vào thạc tiễn kinh doanh giữa các bên Ngoài
ra, nội dung của hợp đồng phải chỉ rõ được sạ tồn tại consideration, nghĩa là thể hiện được nghĩa vụ đối ứng của các bên trong hợp đồng
M ỗ i bên để có được những lợi ích từ hợp đổng thì phải thạc hiện các nghĩa vụ tương ứng nhất định Khái niệm này tồn tại phổ biến ở các nước theo hệ thống Common law
- Hợp đồng phải được thành lập bằng sạ thống nhất ý chí giữa các bên mua và bán
li MỘT SỐ NGHĨA VỤ Cơ BẢN CỦA NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA THEO u c c
1 Nghĩa vụ của người bán
/./ Nghĩa vụ về hàng hoa
Nhìn chung, người bán có nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đổng cho người mua và cung cấp cho người mua những chỉ dẫn thích hợp Nghĩa vụ
về hàng hoa của người bán bao gồm:
a Cung cấp hàng đúng chủng loại và chất lượng
Điều 2-301 u c c quy định người bán có nghĩa vụ cung cấp hàng phù hợp với hợp đồng
Một khi người bán đã khẳng định hoặc đã hứa hẹn về những tính chất của hàng m à anh ta có thể giao và dùng những điều kiện này làm cơ sở cho việc đàm phán thoa thuận của mình thì coi như anh ta bảo đảm sẽ giao hàng đúng theo những điều kiện đó Ví dụ, các tờ rơi quảng cáo về hàng của người bán m ô tả tính chất của hàng sẽ được coi như lời đảm bảo của người bán Bên cạnh đó, nếu người bán dùng mẫu hàng để chào cho người mua thì người bán cũng phải có nghĩa vụ giao hàng đúng theo mẫu1 5 Nếu hàng được giao không đúng theo mẫu thì coi như người bán đã v i phạm nghĩa vụ bảo đảm này Các
bảo đảm như vậy gọi là bảo đảm rõ ràng (express warranties) Đ ể không bị
1 5 Đ.2-313UCC
13
Trang 19ràng buộc bởi các bảo đảm rõ ràng nói trên, toa án chỉ cho người bán lựa chọn một trong ba cách sau1 6:
- Người mua không biết gì về những bảo đảm này vào thời điểm mua hàng hoặc đã biết trước là những quảng cáo về hàng là sai sự thật;
- M ộ t người bình thường ở vị trí người mua sẽ không t i n vào những đảm bảo về hàng của người bán;
- Nếu những lời giới thiệu về hàng được thực hiện trên các phương tiện truyền thông thì người mua phải không hay biết gì cả
Cạn lưu ý rằng, nghĩa vụ bảo đảm nói trên không kéo dài vô thời hạn và không phải lúc nào cũng được tính bắt đạu từ khi người mua mua hàng Ví dụ, PamMc Kay mua một chiếc xe Ford 1998 vào ngày 29/9/1998 ở Riverside, Caliíornia Người bán nói rằng chiếc xe này mới được dùng để chạy demo (chạy thử) và mới chạy khoảng 5000 dặm Chiếc xe được ngạm hiểu là mới và chưa hề đăng ký Ngày 15/8/2001, PamMc đưa xe đi sửa một số chi tiết nhỏ
và tưởng rằng chiếc xe vẫn trong thời gian bảo hành Tuy nhiên, k h i đưa xe đến gara thì được thông báo là thời hạn bảo hành đã hết vào tháng 6/2001, tức
là thời hạn bảo hành xe bắt đạu từ khi xe được đưa vào sử dụng lạn đạu tiên Như vậy, thay vì có 36 tháng bảo hành thì PamMc chỉ còn 32 tháng Người bán không hề có bất kỳ một ý nào dù chỉ là ngụ ý nhằm nói rõ cho PamMc biết là thời hạn bảo hành đã trôi qua 4 tháng Tất nhiên, PamMc không thể kiện được người bán mặc dù anh ta cảm thấy mình bị lừa1 7
Theo luật của nhiều nước trong đó có Việt Nam thì chỉ k h i người bán cung cấp giấy bảo hành cho người mua thì người bán mới bị ràng buộc vào nghĩa vụ bảo đảm này Tuy nhiên, theo ucc, nghĩa vụ bảo đảm còn phát sinh trong rất nhiều trường hợp m à đôi k h i người bán không ý thức được- chúng
được gọi là các bảo đảm ngụ ý (ỉmpỉied warranties) Bất cứ một sự khẳng định
hoặc hứa hẹn nào từ phía người bán cũng được coi là ràng buộc người bán vào nghĩa vụ bảo đảm này Do đó, ở Hoa Kỳ, người bán hàng thường được đào tạo cách nói và cách dùng từ ngữ để k h i giới thiệu hàng với người mua sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ bảo đảm này cho người bán
1 6 Henry D Gabriel, How Ịnternational is the Sales Law oỷthe United States, Roma 1999
17
http://philip.greenspun.com/politics/litigation/automobile-disDutes.html
Trang 20Cần lưu ý rằng người bán không nhất thiết phải nói rõ "bảo đảm" hoặc
"định bảo đảm" để thể hiện nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, sự khẳng định
thuần tuy về giá trị hàng hoặc khen ngợi về hàng không phải là một sự đảm bảo cho nghĩa vụ này
Nếu là người bán hàng chuyên nghiệp thì người bán có nghĩa vụ bảo
đảm về khả năng bán được của hàng (merchantability)^ Hàng có khả năng
bán được ít nhất phải là:
- Theo m ô tả trong hợp đổng thì hàng có thể trao đổi được;
- Trong trường hợp hàng thay thế được thì hàng có chất lượng trung bình Chất lượng trung bình tớc là không quá tốt cũng không quá xấu, có thể
được chấp nhận trên thị trường nói chung Trường hợp này thường áp dụng chủ yếu cho các mặt hàng nông nghiệp
- Hàng phù hợp với mục đích thông thường của loại hàng đó, tớc là người
mua có thể bán lại hàng này trong điều kiện thương mại bình thường
- Hàng vận hành được trong dao động cho phép của thoa thuận hoặc của nhóm hàng cùng loại
- Hàng được đóng gói, dán nhãn đầy đủ như thoa thuận Trường hợp này
chỉ áp dụng với hàng hoa mà bản chất của chúng đòi hỏi phải có cách đóng gói đặc biệt
- Hàng phù hợp với quảng cáo của người bán hoặc với ghi chú trên bao bì nhãn mác Trường hợp này ngăn ngừa người mua bán lại hàng hoa đã mua với nhãn mác sai hoặc quảng cáo không phù hợp Nói cách khác, người bán ban đầu đã kiêm cả nghĩa vụ bảo đảm lợi ích cho người mua
kế tiếp
Để bảo vệ mình khỏi bị ràng buộc bởi nghĩa vụ bảo đảm phát sinh ngoài
ý thớc của mình, người bán thường ghi chú rất rõ trên hợp đồng hoặc giấy bảo hành Do đó, trên các hợp đồng và giấy bảo hành thường in hàng chữ rất lớn
và in hoa như sau: "Người mua đồng ý rằng bảo đảm này thay cho bất kỳ bảo
18
Đ.2-314UCC
1 9 "BUYER ACCEPTS THIS V/ARRANTY IN LIÊU OF ANY OTHER WARRANTY EXPRESSED OR
IMPLIED, INCLUDING THE WARRANTY OF MERCHANTABILITY"
Trang 21Người bán khi ký hợp đồng mà có khả năng biết bất kỳ mục đích sử dụng hàng hoa nào của người mua và người mua dựa vào kỹ năng, kinh nghiệm của người bán trong việc chọn lựa hàng phù hợp thì người bán có nghĩa vụ đảm bảo cung cấp hàng hoa đáp ứng được những mục đích nói trên (Đ.2-315 UCC)
Để không bố ràng buộc bởi những nghĩa vụ bảo đảm tuyệt đối hoặc ngụ
ý ở trên thì người bán phải quy đốnh rõ ràng trong hợp đồng nếu hợp đổng
bằng văn bản, ví dụ "Không có đảm bảo gì ngoài việc mô tả hàng hoẩ\ Nếu
hợp đồng được thành lập dưới các hình thức khác thì sự loại trừ nghĩa vụ bảo đảm trên cũng phải được thể hiện thật rõ ràng (Đ.2-316 UCC) Nếu người mua trước khi ký họp đồng đã kiểm tra hàng hoặc mẫu hàng cẩn thận hoặc từ chối kiểm tra hàng thì người bán cũng không bố ràng buộc với nghĩa vụ bảo đảm Nếu mẫu hàng hoặc ngôn ngữ m ô tả hàng có sự mâu thuẫn thì áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật Nếu ngôn ngữ m ô tả hàng hoa không nhất quán thì áp dụng mẫu lấy từ nhóm hàng sẵn có Nếu các nghĩa vụ của người bán được diễn đạt mâu thuẫn nhau thì ưu tiên áp dụng những nghĩa vụ được diễn đạt rõ ràng Thứ tự giá trố pháp lý của nghĩa vụ bảo đảm của người bán như sau:
- Tiêu chuẩn có giá trố pháp lý lớn hơn mẫu;
- Mẫu hàng hiện có có giá trố pháp lý lớn hơn m ô tả hàng;
- Bảo đảm được diễn đạt rõ ràng có giá trố pháp lý lớn hơn bảo đảm ngụ ý Nếu hàng hoa được giao cho người mua không phù hợp với các tiêu chuẩn của hợp đồng và bố từ chối nhưng thời hạn hiệu lực của hợp đổng vẫn còn thì người bán có thể thông báo cho người mua ý đốnh sửa chữa và giao hàng phù hợp trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng
b Cung cấp hàng hợp pháp
Người bán có nghĩa vụ bảo đảm rằng hàng được giao trong hợp đổng là hàng hợp pháp, tức là quyền sở hữu về hàng không bố tranh chấp Ngoài ra, việc chuyển quyền sở hữu cũng phải hợp pháp, tức là hàng không trong giai đoạn thế chấp hoặc bố hạn chế chuyển giao2 0
và việc chuyển giao không đặt người mua vào tình trạng bố bên thứ ba kiện tụng về tính hợp pháp của hàng hoa
Điều 2-312 u c c
16
Trang 22Mục đích của các luật gia khi ràng buộc người bán vào nghĩa vụ này là nhằm giải phóng cho người mua khỏi việc kiểm tra tính hợp pháp của hàng hoa khi mua
Tuy nhiên, nếu người mua đã biết về tình trạng bị hạn chế chuyển giao của hàng hoa m à vẫn muốn thực hiện hớp đồng thì người bán không còn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ này
Ngoài ra, nếu người mua có thể biết trước rằng người bán không khẳng định mình nắm quyền sở hữu hàng m à chỉ bán quyền của mình với tư cách một người thứ ba, thì người bán cũng không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ này
có thể thoa thuận phương pháp tính số lượng Ví dụ, người mua đồng ý mua
1 0 % nhu cầu tiêu thụ thực tế của mình từ một người bán cụ thể Nếu nhu cầu thực tế trên không có thật thì người bán không phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng Có những trường hợp, nhu cầu thực tế của người mua lại phụ thuộc vào nhu cầu trên thị trường m à người mua kinh doanh K h i đó, cả người bán và người mua đều phải nỗ lực thiện chí để thực hiện được hợp đồng
M ớ i hàng hoa trong hợp đồng mua bán phải được giao một lần trừ phi
có thoa thuận khác trong hợp đồng2 2 Nói cách khác, người bán không thể tự ý quyết định giao một phần hàng trước rồi bắt người mua đợi số hàng còn lại
1.2 Nghĩa vụ giao hàng
Nghĩa vụ giao hàng của người bán bao gồm việc giao hàng đúng địa điểm, thời gian và phương thức giao hàng
Nhìn chung, nếu các bên không thoa thuận khác thì địa điểm giao hàng
là cơ sở kinh doanh của người bán Người mua không thể tự cho rằng người bán có nghĩa vụ giao hàng đến cho mình, trừ phi hai bên có thoa thuận như vậy trong hợp đổng
Trang 23N ế u hợp đồng quy định người bán phải gửi hàng cho người mua nhưng không quy định anh ta phải giao đến một địa điểm cụ thể thì anh ta có nghĩa
vụ giao hàng cho người chuyên chở và ký hợp đồng vận tải sao cho phù hợp với tính chất của hàng hoa cũng như khoảng cách xa gần Bên cạnh đó, người bán cũng phải thông báo kịp thời với người mua về viặc vận chuyển hàng
Cần chú ý là các phương thức giao hàng quy định trong u c c là không đồng nhất và có rất nhiều khác biặt so với các điều kiặn cơ sở giao hàng trong các Incoterms của ICC
Theo điều kiặn FOB + địa điểm giao hàng, người bán phải giao hàng tại địa điểm thoa thuận và chịu mọi chi phí và rủi ro cho đến k h i giao hàng cho người chuyên chở Ví dụ: FOB nhà máy của người bán, FOB người vận chuyển hoặc FOB nơi kinh doanh của người bán Trên thực tế, điều kiặn này không có lợi cho người bán k h i hàng hoa bị mất cắp hoặc hư hại trước k h i được giao cho người chuyên chở
Theo điều kiặn FOB + địa điểm đến, người bán phải chịu m ọ i chi phí và rủi ro vận chuyển hàng đến địa điểm đến và giao hàng
Theo điều kiặn FOB + tàu, ô tô hoặc phương tiặn vận tải khác thì người bán phải chịu chi phí và rủi ro xếp hàng lên boong tàu hay lên phương tiặn vận tải
Theo điều kiặn FAS + tàu, người bán phải chịu rủi ro và chi phí giao hàng dọc mạn phương tiặn vận tải theo phương thức thường được thực hiặn tại địa điểm giao hàng
Theo điều kiặn CIF + cảng đích thì người bán chịu chi phí và rủi ro giao hàng cho người vận tải tại cảng giao hàng, xếp hàng lên phương tiặn vận tải
Theo điều kiặn CIF hoặc C&F, nếu hợp đổng quy định thanh toán vào lúc hàng đến hoặc sau khi hàng đến thì trước k h i thanh toán, người bán có nghĩa vụ tạo điều kiặn cho viặc kiểm tra hàng sơ bộ
Điều kiặn giao hàng tại tàu "ex-ship" không có nghĩa là giao hàng tại một con tàu cụ thể m à nghĩa vụ của người bán mở rộng đến k h i dỡ hàng ra khỏi tàu Người bán phải giải toa m ọ i khó khăn phát sinh từ viặc giao hàng và hướng dẫn người mua cụ thể Rủi ro về hàng hoa mất mát chỉ chuyển sang người mua k h i hàng đã rời phương tiặn dỡ hàng của tàu
18
Trang 24Theo điều kiện "không đến, không mua bán" ("no arrival, no sale"),
người bán có nghĩa vụ vận chuyển và giao hàng Nếu hàng không đến không
do l ỗ i của người bán thì người bán không có nghĩa vụ
Thời gian giao hàng nếu như không được quy định trong hợp đồng hoặc trong luật thì sẽ được hiểu là thời gian hợp lý Ở Hoa Kỳ, nếu sau 2 tháng kể
từ khi đặt hàng mới giao hàng đến cho người mua thì bị coi là không hợp lý Đến thời hạn giao hàng m à không giao hoặc không có thông tin gì thì cũng bị coi là vi phạm nghĩa vụ này
1.3 Nghĩa vụ cung cấp chứng từ phù hợp
Người bán có nghĩa vụ lảy và giao chứng từ phù hợp cho người mua nhằm đảm bảo cho người mua nhận được hàng Người bán có nghĩa vụ lảy chứng từ phù hợp từ người vận tải
N ế u giao hàng theo điều kiện CIF, người bán có nghĩa vụ chịu chi phí
và rủi ro mua bảo hiểm cho hàng bằng đồng tiền dùng trong hợp đồng, bao gồm cả bảo hiểm rủi ro chiến tranh
Người bán phải chuẩn bị hoa đơn hàng hoa và bảt kỳ chứng từ cần thiết nào cho việc giao hàng hoặc để phù hợp với hợp đổng Đ ồ n g thời, người bán phải chuyển những chứng từ đó kèm theo các xác nhận cần thiết cho người mua nhằm đảm bảo lợi ích của người mua Nếu hàng bị mảt thì việc giao chứng từ và thanh toán coi như đến hạn vào ngày m à hàng hoa lẽ ra phải đến2 3
Theo điều kiện CIF hoặc C & F hoặc FOB, người bán phải lảy được vận đơn hoàn hảo chỉ rõ rằng hàng hoa đã được xếp lên tàu hoặc đã được nhận để chở trong điều kiện CIF hoặc C & F2 4
2 Nghĩa vụ của người mua
Nói chung, người mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán theo thoa thuận trong hợp đồng
2.1 Nghĩa vụ nhận hàng
Người mua phải có nghĩa vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc nhận hàng Bên cạnh đó, người mua phải cung cảp những phương tiện phù hợp với việc nhận hàng trừ phi có thoa thuận khác25
23 Đ 2-321 ucc
2 4 Đ.2-323 u c c
Trang 252.2 Nghĩa vụ thanh toán
Trên thị trường Hoa Kỳ, thông thường người mua phải thanh toán trước khi người bán giao hàng, trừ phi có thoa thuận khác Thông lệ này tổn tại là do quan điểm về quyền sở hữu Quyền sở hữu về hàng sẽ được chuyển giao vào thời điểm chúng được giao cho người mua Điều đó có nghĩa là người mua sẽ
sở hữu hàng hoa một khi chúng được giao cho người mua bất kể anh ta đã thanh toán hay chưa Sau khi giao hàng, người bán có quyền đòi tiền người mua nhưng không có quyền đòi lại hàng Nếu người mua không thanh toán và người bán quay lại đòi hàng thì người bán có thể bị buộc vào t ộ i ăn cặp hàng Nghĩa vụ thanh toán coi như đến hạn tại thời điểm và tại nơi giao hàng, kể cả khi nơi giao hàng là nơi gửi hàng; hoặc tại thời điểm và tại nơi người mua nhận được bộ chứng từ hợp lệ Hầu hết hoa đơn của các nhà cung cấp đều ghi
rõ "đến hạn vào lúc nhận hoa đơn"2 6 hoặc "đến hạn trong vòng 30 ngày" Quy định như vậy trên hoa đơn thực tế đã kéo dài thời hạn thanh toán so với luật quy định Các nhà cung cấp thường hoặc không nói gì về thời hạn thanh toán hoặc ghi chú rõ "thanh toán đến hạn vào lúc nhận hàng"27
N ế u hàng được giao thành nhiều đạt thì người bán có quyền đòi thanh toán đối với từng lần giao hàng Đây là đặc điểm đặc trưng riêng của hợp đổng mua bán m à các hợp đồng khác như hợp đồng lao động, hợp đồng xây dựng không có
Trong trường hợp người bán đồng ý giao hàng chịu cho người mua, thời gian mua chịu được tính từ lúc giao hàng Ngày theo dấu bưu điện trên hoa đơn hoặc chậm trễ trong việc gửi hoa đơn sẽ tương ứng làm chậm mốc tính thời gian mua chịu Việc thanh toán được coi là điều kiện bặt buộc làm phát sinh nghĩa vụ giao hàng của người bán
Người mua có thể thanh toán bằng tiền hoặc bằng hàng hoặc bằng một hình thức nào khác theo thoa thuận2 8 Nếu các bên không có thoa thuận gì thì người bán có quyền đòi trả bằng tiền mặt Tuy nhiên, trong trường hợp này, người bán phải dành cho người mua một khoảng thời gian hợp lý để người mua gom đủ tiền mặt
Trang 26Trong trường hợp người bán phải vận chuyển hàng thì người mua có thể kiểm tra hàng sau khi hàng đến nơi và trước khi thanh toán, miễn là việc kiểm tra này phù hợp với hợp đổng Nếu hợp đồng có ghi thuật ngữ "COD" nghĩa là
"collect ôn delivery", tức là yêu cầu thanh toán trước khi kiểm tra hàng thì người mua sẽ phải thanh toán dù cho hàng không phù hợp với hợp đổng, trừ khi không cần kiểm tra cũng thấy rõ hàng không phù hợp2 9
Chi phí kiểm tra hàng sẽ do người mua trả Nếu hàng không phù hợp với hợp đồng và bị từ chửi thì người bán phải hoàn trả chi phí kiểm tra này
Trường hợp thanh toán bằng tín dụng thì thời hiệu tín dụng tính từ lúc gửi hàng nhưng sau ngày ghi trên hoa đơn Chậm gửi hàng sẽ làm thời hiệu tín dụng chậm tương ứng
Từ những phân tích về thành lập hợp đồng và về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoa ở trên, có thể thấy rằng sợi chỉ đỏ xuyên suửt quá trình thành lập và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoa theo ucc là
nguyên tắc trung thực, thiện chí (good faith and fair dealing) giữa các bên
Với nguyên tắc này, m ọ i vấn đề phát sinh giữa các bên, từ khâu thành lập hợp đổng (hình thức thoa thuận, nội dung thoa thuận) cho đến k h i thực hiện hợp đồng, đều có thể được giải quyết ổn thoa Ngay cả những tình huửng phát sinh chưa được quy định trong họp đồng hay trong luật thì nếu các bên thiện chí,
có thể thoa thuận bổ sung để cùng giải quyết vì mục đích hai bên cùng có lợi
Trên cơ sở nguyên tắc thiện chí và trung thực, các quy định của ucc điều chỉnh việc thành lập hợp đồng về hình thức và nội dung rất đem giản và linh hoạt Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng mua bán hàng hoa theo
Ư C C được quy định giảm thiểu, chỉ bao gồm điều khoản đửi tượng hợp đồng Tuy vậy, các dữ kiện trong điều khoản này phải đủ rõ ràng để bất kỳ một bên thứ ba nào, kết hợp với thực tế thương mại của các bên, cũng có thể xác định được nội dung thoa thuận của các bên Điều này cho phép các cơ quan có thẩm quyền đảm bảo thi hành được hợp đồng
Ngoài ra, nghĩa vụ của các bên trong ucc thường được gắn liền với các thuật ngữ "hợp lý" hoặc "thông thường được chấp nhận trong thực tiễn kinh doanh" Điều này có nghĩa là, nghĩa vụ chung của cả bên bán và bên mua
là phải hành động một cách hợp lý, trung thực nhằm đạt được lợi ích chung cho cả hai bên Đây cũng là điểm thể hiện nguyên tắc thiện chí và trung thực
Đ 2-512 u c c
Trang 27Các bên áp dụng ucc cần lưu ý các điều khoản về điều kiện cơ sở giao hàng trong ucc Mặc dù sử dụng những thuật ngữ tương tự như trong Incoterms do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành (như FOB hay Q F ) nhưng các điều kiện giao hàng trong ucc lại có nội dung và trường hợp áp dụng tương đối khác với các Incoterms cỉa ICC
Điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng m à các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý là, khi hợp đổng phát sinh hiệu lực, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ đã thoa thuận trong hợp đồng Bên cạnh những nội dung cụ thể m à các bên thoa thuận trong hợp đồng, có hai loại nghĩa vụ khác tự động ràng buộc các bên Thứ nhất, các nghĩa vụ thông thường có trong ucc, ví dụ, người bán có những nghĩa vụ cơ bản đảm bảo tính hợp pháp, tính thương mại cỉa hàng hoa Thứ hai là những nghĩa vụ đặc biệt áp dụng đối với người bán nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng- người mua
Trang 28CHƯƠNG li TRÁCH NHIỆM DO VI PH0N HỢP ĐỒNG
Man BÁN HÀNG HOA THEO
Bộ LQệT THƯƠNG M0I THỐNG NHẤT HOA KỲ
I MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VÉ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỔNG MUA BÁN HÀNG HOÁ THEO ucc
Thông thường, sau khi hợp đổng được ký kết, các bên đều thực hiện
nghĩa vụ của mình theo hợp đổng Song, đôi khi, vì lý do nào đó, một trong
các bên có thể không thực hiện nghĩa vụ của mình, do vọy v i phạm hợp đồng
Mọi sai lệch so với các điều kiện của hợp đồng đều bị coi là v i phạm hợp
đổng V i phạm hợp đồng theo pháp luọt Hoa Kỳ là hành v i khách quan, không
cần có lỗi của bên v i phạm (Điều 2-601 UCC) Do trách nhiệm đối với v i
phạm hợp đồng là trách nhiệm khách quan, cho nên, theo Luọt của Hoa Kỳ,
bên bị v i phạm không phải tuân thủ những quy định chặt chẽ trước khi thực
hiện quyền của mình, ví dụ như các nghĩa vụ báo l ỗ i cho bên v i phạm, dành
thời gian hợp lý cho bên vi phạm sửa chữa lỗi
1 Các hình thức trách nhiệm
K h i có v i phạm hợp đồng, Ư C C quy định các hình thức trách nhiệm
khác nhau áp dụng cho bên vi phạm để bảo vệ quyền lợi cho bên bị v i phạm
Mục tiêu của các quy định này của u c c là đưa bên bị v i phạm vào đúng vị trí
đáng lẽ phải đạt được nếu hợp đồng được thực hiện Nói chung, có 5 hình thức
chế tài có thể áp dụng cho v i phạm hợp đồng, bao gồm:
1.1 Đền bù thiệt hại
Bên bị v i phạm có quyền yêu cầu bên v i phạm đền bù các thiệt hại trực
tiếp và các thiệt hại xảy ra có quan hệ nhân quả đối với hành v i v i phạm, bao
gồm các thiệt hại gián tiếp, chi phí bổ sung, thanh toán cho các bên thứ ba, lợi
mất hưởng 30 Tuy nhiên, theo Ư C C , bên bị v i phạm thường không thể yêu cầu
bồi thường thiệt hại gián tiếp hay những hình thức mang tính trừng phạt trừ
khi được quy định cụ thể trong Ư C C hoặc trong pháp luọt liên quan
Xem các điều 2-708, 2-709, 2-710, 2-713, 2-714, 2-715, 2-718- ưcc
Trang 29Trách nhiêm đối với thiệt hại gián tiếp từ một hành vi vi phạm hợp đổng (chẳng hạn lợi mất hưởng hoặc thiệt hại cho tài sản) có thể được các bên thoa thuận loại trừ hoặc hạn chế Tuy nhiên, thoa thuận loại trừ hay hạn chế này có
thể không có hiệu lực nếu nó không phù hợp với luật công bình (equity law)
Mời nỗ lực hạn chế bồi thường thiệt hại gián tiếp cho người tiêu dùng sẽ được coi là không công bằng (Điều 2-719(3) UCC) Chẳng hạn một nhà sản xuất ô
tô bảo hành cho chất lượng của ô tô mình sản xuất ra k h i bán cho người tiêu dùng Sau đó, nhà sản xuất này lại cố gắng chối bỏ trách nhiệm đối với bất kỳ
ai bị hại do chiếc ô tô không phù hợp theo điều kiện bảo hành gây ra hoặc hạn chế trách nhiệm thay thế phụ tùng bị lỗi Kiểu chối bỏ trách nhiệm này là không công bằng đối với người tiêu dùng và không có hiệu lực N h ư vậy, điều khoản loại trừ hoặc hạn chế thiệt hại gián tiếp chỉ có hiệu lực nếu đó là tổn thất mang tính thương mại, hoặc nếu đó là một điều khoản không trái với luật công bình
Đ ố i với người mua, thiệt hại gián tiếp bao gồm các chi phí m à người mua phải trả để nhận, kiểm tra, chuyên chở và bảo quản lô hàng m à người bán
đã gửi cho người mua nhưng không phù hợp với quy định của hợp đồng Thiệt hại gián tiếp cũng bao gồm những chi phí hợp lý m à người mua phải trả để mua hàng thay thế (Điều 2-715(1) UCC) Người mua phải chứng minh được vào thời điểm ký hợp đổng, người bán đã biết hoặc đáng lẽ phải biết người mua sẽ phải chịu những thiệt hại nhất định nếu người bán không thi hành nghĩa vụ hờp đồng Người mua cũng phải chứng minh ngay cả k h i mua được hàng thay thế, người mua cũng không thể không phải chịu những thiệt hại này (Điêu 2-715(2) UCC)
Ví dụ, Knitting Min đã cam kết giao 1000 mét vải sợi đặc biệt cho Dora ngày Ì tháng 9 Knitting Min biết Dora mua số hàng này để may trang phục cho mùa Giáng Sinh Knitting Min cũng biết Dora đã ký hợp đồng giao lô
hàng thành phẩm cho nhiều siêu thị, hạn giao hàng là ngày Ì tháng 10 N h ư
vậy, nếu Knitting Min không giao hàng hoặc giao hàng chậm thì Dom sẽ phải
chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gián tiếp khi không mua được hàng thay thế để thực hiện nghĩa vụ giao hàng với các siêu thị ngày Ì tháng 10 Thiệt hại gián tiếp còn bao gồm những thiệt hại về người và của k h i nghĩa vụ bảo hành bị v i phạm Chẳng hạn, Hanson mua phải một chiếc cưa có khiếm khuyết Trong k h i Hanson sử dụng cưa, lưỡi cưa văng ra ngoài và làm tay của Hanson bị thương nghiêm trờng Tai nạn của Hanson được gời là thiệt
24
Trang 30hại có tính nhân quả (thiệt hại gián tiếp) từ một sản phẩm không phù hợp hay còn gọi là một sản phẩm có khiếm khuyết
Bên bán và bên mua có thể thoa thuận trong hợp đồng của mình điều khoản về bồi thường, áp dụng khi một bên không thực hiện nghĩa vụ Các bên
có thể giới hạn các hình thốc trách nhiệm được quy định trong luật, hoặc số tiền bồi thường có thể đòi được (Điều 2.719(1) UCC) Nếu các bên thoa thuận
về số tiền bổi thường sẽ được trả cho bên bị vi phạm thì số tiền này được coi là
t i ề n b ồ i thường t h i ệ t h ạ i tính trước M ộ t thoa thuận về tiền bồi thường thiệt hại tính trước chỉ có hiệu lực nếu số tiền thoa thuận là hợp lý và việc chống minh thiệt hại thực tế trong trường hợp có v i phạm hợp đồng xảy ra là khó thực hiện Số tiền được coi là hợp lý nếu số tiền này không quá lớn như một hình thốc trừng phạt m à cũng không quá nhỏ đến mốc quá đáng (Điều 2-718(1) UCC)
Ví dụ: Ông Carl Carpenter ký hợp đổng bán cho ông Hank Hawker một
quầy triển lãm với giá 3000 USD để ông Hawker sử dụng tại hội chợ tỉnh Thời hạn giao hàng là ngày Ì tháng 9 Chỉ khi hàng được giao đúng hẹn thì ông Hawker mới bán hàng tại hội chợ được Hai bên thoa thuận rằng nếu hàng
bị giao chậm, Carpenter phải trả cho ông Hawker một khoản tiền bồi thường thiệt hại ước tính là 1750 USD/1 ngày Việc xác định doanh thu của ông Hawker có thể bị mất do không có chiếc quầy là rất khó, vì vậy, hai bên đã thoa thuận áp dụng điều khoản bồi thường thiệt hại được ước lượng trước trong hợp đổng V ớ i điều khoản này, ông Carpenter biết trách nhiệm của mình trong việc không giao hàng đúng hạn, và ông Hawker cũng biết mình được bổi thường số tiền bao nhiêu khi hàng không được giao đúng hạn Số tiền 1750 USD/1 ngày là họp lý M ộ t điều khoản quy định số tiền bồi thường thiệt hại ước tính là 500 000 USD/1 ngày sẽ vô hiệu vì số tiền này lá quá lớn so với những thiệt hại m à ông Hawker dự đoán được một cách hợp lý Tương tự như vậy, một điều khoản quy định số tiền bồi thường là Ì USD thì bị coi là không công bằng, do vậy cũng không có hiệu lực
N ế u điều khoản về bồi thường thiệt hại tính trước không có hiệu lực do mang tính trừng phạt hay không công bằng cho bên bị v i phạm, bên bị v i phạm có thể yêu cầu được bồi thường thiệt hại theo những tổn thất thực tế
Trang 31N ế u người bán đã dừng giao hàng một cách hợp pháp do người mua v i phạm hợp đồng, người bán có thể đòi lại khoản tiền vượt quá số tiền thiệt hại tính trước theo hợp đồng Nếu trong hợp đồng không có thoa thuận như vậy, người bán không thể đòi được nhiều hơn 500 Ư S D hoặc số tiền tương đương với 2 0 % tổng trị giá hợp đồng, áp dụng con số nhọ hơn Quyền này phát sinh
từ quyền của người bán được đòi bồi thường thiệt hại theo các quy định khác của ucc và được yêu cầu người mua hoàn lại mọi lợi ích m à người mua đã có được trực tiếp hoặc gián tiếp từ hợp đổng (Điều 2-718 UCC)
Cần lưu ý rằng, khác với pháp luật Việt Nam, chế tài phạt hợp đồng về nguyên tắc không tổn tại trong hệ thống Common law nói chung và trong pháp luật thương mại Hoa Kỳ nói riêng Theo tinh thần của pháp luật thương mại Hoa Kỳ, người phải thực hiện nghĩa vụ có quyền tự do định liệu có thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hay không và nếu nảy sinh những cơ hội hấp dẫn hơn thì người này có thể không thực hiện nghĩa vụ và đền bù thiệt hại cho bên
bị vi phạm Phạt hợp đồng hạn chế quyền tự do đó của bên phải thi hành nghĩa
vụ và vì thế, một điều khoản như vậy trong hợp đồng có thể bị toa án Hoa Kỳ tuyên bố vô hiệu M ộ t bên không được phép dùng hình thức phạt hợp đồng như một biện pháp răn đe hạn chế quyền tự do định đoạt của bên kia
1.3 Huy hợp đồng
Theo ucc, một bên có quyền áp dụng chế tài huy hợp đồng khi bên kia
vi phạm các điều khoản chủ yếu Điều khoản chủ yếu thường là điều khoản liên quan đến đối tượng của hợp đồng, ví dụ khi người bán giao sai loại hàng thì lúc đó vi phạm của người bán là v i phạm điều khoản chủ yếu và người mua
có quyền tuyên bố huy hợp đồng Tuy vậy, việc xác định điều khoản nào là điều khoản chủ yếu phải phụ thuộc vào từng trường hợp tranh chấp cụ thể Việc v i phạm thời hạn giao hàng nhìn chung không được coi là v i phạm chủ yếu, vì vậy, nếu người bán giao hàng chậm thì người mua chỉ có quyền đòi bổi thường thiệt hại chứ không được quyền hủy hợp đồng Tuy nhiên, đối với những hợp đồng mang tính chất thời vụ m à ngày giao hàng là một ngày cụ thể (ví dụ để phục vụ bán hàng vào ngày Giáng Sinh), thì việc người bán giao hàng chậm một ngày cũng đã cấu thành một vi phạm chủ yếu và người mua có thể huy hợp đồng
Trong nhiều trường hợp, Ư C C không có quy định cụ thể là bên bị v i phạm được huy hợp đồng hay không Tinh thần của ucc là đối với cùng một
vi phạm, ucc đưa ra nhiều biện pháp (hay chính là các chế tài) m à bên bị v i
26
Trang 32phạm có thể lựa chọn áp dụng Ví dụ, khi người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng và người mua đã từ chối một cách hợp pháp, người mua có quyền lựa chọn:
- Hoặc trả lại hàng và đòi lại tiền, đồng thời đòi bổi thường các thiệt hại phát sinh Đây chính là việc áp dụng chế tài huy hợp đồng
- Hoặc mua hàng thay thế và đòi bồi thường chênh lệch giậa giá hợp đồng và giá mua hàng thay thế cộng với các chi phí mua hàng thay thế Đây lại là biện pháp của người mua để có được hàng hoa đúng theo quy định của hợp đồng và người bán phải hoàn trả các chi phí để người mua thực hiện biện pháp đó
Đ ố i với nhiều vi phạm khác, ucc cũng đưa ra nhậng sự lựa chọn như vậy cho bên bị v i phạm (xem thêm trong phần phân tích trách nhiệm cụ thể của người mua và người bán trong phần l i của chương này) Thường thì bên bị
vi phạm có thể lựa chọn: hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng và đòi đền bù thiệt hại, hoặc huy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Cần chú ý là phạm
vi yêu cẩu bồi thường thiệt hại trong trường hợp huy hợp đồng bao gồm các lợi ích và giá trị m à bên bị v i phạm mất đi nếu như hợp đồng chưa được giao kết Toa án áp dụng m ô hình hư cấu để giải quyết quyền l ợ i cho các bên sau khi hợp đổng bị huy (vì thực ra sau khi huy hợp đổng, giậa các bên không còn tồn tại quan hệ hợp đồng)
Tuy vậy, câu hỏi đặt ra là, việc lựa chọn của bên bị v i phạm phải tuân theo nhậng tiêu chuẩn, hay nhậng quy định nào? Bên bị v i phạm không thể lựa chọn biện pháp như anh ta "muốn", m à phải lựa chọn biện pháp nào "hợp lý" nhất cho anh ta và cho bên bị v i phạm Một điểm cần lưu ý là ucc rất nhấn mạnh đến tính kinh tế của một hợp đổng nói chung và họp đồng mua bán hàng hoa nói riêng Tính kinh tế (hay chính là lợi nhuận) chính là mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng, và đó cũng là điều m à cuối cùng các bên hướng đến Vì vậy, khi có một tình huống phát sinh (khi một bên v i phạm hợp đồng), thì biện pháp m à bên kia lựa chọn thực hiện phải đảm bảo làm sao giảm đến tối đa các lợi ích kinh tế m à các bên bị mất do tình huống đó Trong trường hợp nêu trên, nếu người mua có khả năng mua hàng thay thế để kịp thời giao cho khách hàng của mình thì anh ta phải thực hiện điều đó và đòi chênh lệch giá chứ không thể huy hợp đồng và đòi người bán bồi thường khoản tiền phạt m à anh ta phải trả cho khách hàng do v i phạm hợp đồng với khách hàng của mình
Trang 331.4 Buộc thực hiện hợp đồng
Đ ố i với các hợp đồng liên quan đến vật đặc định và không thể thay thế được, ví dụ đồ cổ, tranh ảnh, sách báo cũ không có vật thay thế, hay đối với các hợp đồng mua bán đất, thuê mua doanh nghiệp, bên bị v i phạm có quyền yêu cầu toa án buộc bên v i phạm thỳc hiện hợp đổng Đây là những trường hợp đặc biệt ngoại lệ, m à việc dùng tiền để đền bù thiệt hại cho bên bị v i phạm là không hợp lý Các toa án Hoa Kỳ rất hạn chế áp dụng chế tài này
1.5 Chế tài do toa án áp đặt
Chế tài do toa án áp đặt nhằm sửa đổi hoặc xác định lại nội dung hợp đổng theo các nguyên tắc của luật công bình, trong đó đền bù thiệt hại là hậu quả pháp lý phổ biến nhất được áp dụng, các hậu quả pháp lý khác là những ngoại lệ và chỉ được áp dụng rất hạn chế
2 Các căn cứ miễn trách và thỳc tiễn áp dụng
Mặc dù việc không thỳc hiện một nghĩa vụ đến hạn thông thường sẽ cấu thành v i phạm hợp đổng, nhưng vẫn có những tình huống m à người không thỳc hiện nghĩa vụ được miễn trách do có một số yếu tố phát sinh sau khi hợp đồng được thành lập K h i những yếu tố này phát sinh và khiến cho người phải thỳc hiện nghĩa vụ không thể thỳc hiên hay không thể thi hành nghĩa vụ thì người này được miễn thỳc hiện nghĩa vụ theo quy định hợp đồng Sau đây là những căn cứ miễn trách phổ biến nhất được quy định trong Ư C C
2.1 Không thể thực hiện được
K h i việc thỳc hiện một nghĩa vụ hợp đồng trở nên không thể được sau khi hợp đồng đã được thành lập, nghĩa vụ này sẽ được miễn thỳc hiện với căn
cứ là không t h ể thỳc hiện được Điều này không có nghĩa là một người có thể được miễn thỳc hiện nghĩa vụ nếu người này đã thoa thuận trong hợp đồng
để làm một việc m à anh ta hoàn toàn không thể làm được và do vậy gây khó khăn cho anh ta sau đó Không thể thỳc hiện được theo nghĩa pháp lý có nghĩa
là "không ai có thể thỳc hiện được" chứ không phải là "tôi không thể làm được" Như vậy, một thụ trái thấy rằng mình đã thoa thuận thỳc hiện một nghĩa vụ vượt quá khả năng của mình, hoặc một nghĩa vụ sau đó vì một tình huống nào đó không còn mang lại lợi nhuận cho thụ trái, thậm chí đem l ạ i gánh nặng, thì không được miễn thỳc hiện nghĩa vụ Việc không thể thỳc hiện được chỉ là căn cứ miễn trách khi có một sỳ kiện không được lường trước phát sinh sau khi thành lập hợp đồng và khiến cho việc thỳc hiện hợp đồng một
28
Trang 34cách khách quan là không thể được Sự kiện gây ra tình huống không thể thực hiên không nhất thiết phải hoàn toàn là không thể tiên liệu Thông thường, sự kiện này phải là một sự kiện m à các bên một cách hợp lý đã không thể tính đến như một khả năng thực tế có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng
Có nhiều tình huống cho phép một người có nghĩa vụ được miễn thực hiện với căn cứ là không thể thực hiện được Ba tình huống phổ biến nhất là: thụ trái chết hoạc bị ốm; tính bất hợp pháp không ngờ; và đối tượng thực hiện của hợp đồng bị phá huy
a Thụ trái bị chết hoặc bị ốm
Tình trạng đau ốm đến nỗi không thể làm việc được, và sự kiện chết là căn cứ miễn trách cho trường hợp thụ trái phải thực hiện những công việc m à mình phải trực tiếp làm Chẳng hạn, nếu Pauling, một giáo sư đại học thoa thuận một hợp đồng với Đ ạ i Học State giảng dạy một năm học, chết trước k h i hoàn thành hợp đồng, di sản của Pauling không bị tính đến để bồi thường cho
vi phạm liên quan đến hợp đổng này Tuy nhiên, sự kiện chết hoạc ốm của thụ trái không phải là căn cứ miễn trách nếu việc thực hiện nghĩa vụ có thể được chuyển giao cho người khác, chẳng hạn nếu đó là nghĩa vụ giao hàng, nghĩa
vụ thanh toán tiền, hoạc nghĩa vụ sang tên bất động sản Ví dụ, nếu Odell đã hợp đồng để sang tên bất động sản cho Ruskin và chết trước k h i đến thời hạn này, Ruskin vẫn có thể yêu cầu thực hiện hợp đồng trên di sản của Odell
b Tính bất hợp pháp không ngờ
N ế u một đạo luật hoạc một quy định của chính phủ được ban hành sau khi hợp đồng được thành lập, khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của một bên là bất hợp pháp, thì thụ trái được miễn thực hiện nghĩa vụ Các đạo luật hoạc các quy định m à chỉ làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn hay làm cho tính lợi nhuận bị kém đi thì không phải là căn cứ để miễn
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Xem vụ: Công ty Centex V Dalton sau3 1
CENTEX VÀ DALTON
Diễn biến tranh chấp : Centex là một công ty hoạt động trong tĩnh vực xây dựng thương mại và dân dụng và các dịch vụ tài chính John Dalton là một uy viên ban chấp hành của một quỹ tiết kiệm Texas Năm ỉ988, do nền kinh tế
J.p Maillor, Business Law and the Regulatory Envỉronment- Concept and Cases, tr.338-339
Trang 35Uy ban Ngân hàng Quản lý Hoạt động Cho Vay (Uy ban Ngân hàng) và các
cơ quan quản lý khác đã quyết định đóng cửa, sáp nhập, thanh lý, hoặc bán nhiều quỹ tiết kiệm lớn Đây gọi là "kếhoạch Tây Nam" Tháng li năm 1988, Centex liên lạc với Daỉton yêu cẩu ông này giúp Centex mua lại một số quỹ tiết kiệm trong "kế hoạch Tây Nam" Một vài tuần sau, Dalton đến Washỉngton, D.C., ở đó ông ta đã không thành công trong việc thương lưủng
để tìm kiếm các hủp đồng mua lại cho Centex Cũng tại đó, Dalton đưủc biết
có bốn quỹ tiết kiệm trung ương của Texas gọi là "Gói Thịt Cừu" Dalton thông báo về điều này cho Centex, và vào tháng 12 năm 1988, Centex ký một thoa thuận với Dai ton, hứa sẽ trả cho Dalton 750000USD trong một thời hạn
3 năm nếu Centex có thể thành công trong việc mua lại "Gói Thịt Cừu" Trước khi các bên ký thoa thuận, Centex đã gặp Uy ban Ngân hàng và thông báo với
Uy ban về ý định của mình trong việc trả phí cho Dalton cho việc mua Gói Thịt Cừu Uy ban Ngân Hàng đã nói với Centex rằng điều này có thể đưủc chấp nhận nếu Centex - chứ không phải một quỹ tiết kiệm nào khác trong Gói Thịt Cừu, phải thanh toán cho Dalton Sau đó, có nhiều việc đã đưủc tiến hành để Centex có thể mua đưủc Gói Thịt Cừu, nhưng vào ngày 28 tháng 12 năm 1988, đêm trước khi hoàn thành việc này, đại diện của Centex đưủc biết
Uy ban Ngân hàng có thể không cho phép thực hiện việc thanh toán với
Dalton Tuy nhiên, Centex vẫn tiến hành những việc cuối cùng để mua đưủc Gói Thịt Cừu, thiết lập một chi nhánh, gọi là Ngân hàng Tín thác Tiết Kiệm Texas, là cơ quan mua lại Tại một cuộc họp ngày 28 tháng 12 năm ỉ988, Uy ban Ngân hàng phê chuẩn việc mua lại của Gói Thịt Cừu, với điều kiện cấm Quỹ Tín Thác Texas trực tiếp hoặc gián tiếp thanh toán chi phí cho người hỗ trủ công việc mua lại Biên bản cuộc họp cho thấy các thành viên của Uy ban Ngân hàng đã thảo luận về việc thanh toán đã định trước đối với các khoản phí cho Dalton của Quỹ Tín Thác Texas, phản đối việc thanh toán này, và yêu cầu bộ phận pháp chế của mình thảo một bản sửa đổi để minh thị lệnh cấm của cơ quan này đối với việc thanh toán khoản chi phí kia cho đối tác cụ thể này của Quỹ Tín Thác Texas Ngày 31 tháng ỉ năm ỉ 989, Uy ban Ngân hàng thông qua bản sửa đổi đã đưủc bộ phận pháp chế trình lên
Dalton đã thực hiện công việc theo quy định của hủp đồng mà ông đã
ký với Centex, nhưng Centex lại không thanh toán cho Dalton do lệnh cấm ban hành bởi Uy ban Ngân Hàng Dalton đã kiện Centex ra toa về việc vi
Trang 36phạm hợp đồng Toa sơ thẩm đã ra phán quyết xử Dalton thắng kiện, cho
Dalton được hưởng khoản bồi thường 750.000 USD, cộng với lãi suất, các chi phí khác, và phí luật sư Centex đã kháng án, toa phúc thẩm xử lại với cùng phán quyết như toa sơ thẩm Centex lại kháng án ra Tòa Tối cao Texas
của Centex theo thoa thuận đã kỷ trở nên không thể thực hiện được để tuân thủ lệnh của Uy ban Ngân hàng, vì vậy, Centex được giải thoát khỏi việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Nghị viện trao thẩm quyền cho Uy ban Ngân
Hàng được quản lý hoạt động mua lại và kiểm soát trên toàn bang các quỹ tiết kiệm có bảo đảm trong tay các công ty tài chính Do vậy, lệnh cấm của Uy Ban Ngân hàng đã khiến cho nghĩa vụ mà Centex phải thực hiện theo thoa
thuận đã kỷ là bất hợp pháp "Khi việc thực hiện hợp đồng của một bên trở nên không thể được do sự xuất hiện hoặc sự không xuất hiện của một sự kiện
cơ bản mà hợp đồng giả định thì nghĩa vụ thực hiện đó được giải thoát" Một quy tắc chính phủ hay một lệnh làm cho việc thực hiện một nghĩa vụ là không thể được, sự kiện pháp lý này là "một sự kiện mà khi người ta ký kết hợp đồng, không ai nghĩ đến cả " Do vậy, để tránh vi phạm quy định cấm của Uy ban
Ngân hàng và tránh xung đột với các quy định pháp luật của bang, chúng tôi
căn cứ miễn trách là không thể thực hiện được
Mỗi khi toa án phải xử cho một bên được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng do các tình huống bất ngờ phát sinh khiến cho việc thực hiện hợp đồng
là không thể được, toa thường cố gắng phân bổ gánh nặng rủi ro và quyết định bên nào phải gánh chịu những rủi ro này Khả năng tiên liệu được là một yếu
tố mà toa sử dụng để quyết định bên nào phải chịu rủi ro do tình huống bất ngờ gây nên Tuy nhiên, yếu tố về khả năng tiên liệu được đang ngày càng trở nên kém quan trọng đi Trong vụ việc hiện tại, không thể yêu cầu bên Centex phải chịu trách nhiệm đối với rủi ro, không tính đến khả năng tiên liệu được
Toa phúc thẩm cho rỷng lệnh cấm của Uy ban Ngân hàng chỉ áp dụng
đối với Quỹ Tín Thác Texas chứ không phải đối với Centex Tuy vậy chúng tôi nhận thấy rỷng lệnh cấm này không chì cấm việc thanh toán trực tiếp cho người vận động cho Centex mà còn cấm cả việc thanh toán gián tiếp nữa Chúng tôi cũng thấy rỷng toa phúc thẩm đã lập luận, vì nghĩa vụ thanh toán
Trang 37cho Dalton của Centex phát sinh khi thoa thuận giữa họ được giao kết và được kỷ ngày 23 tháng 12 năm ỉ988, trước khi Uy ban Ngân Hàng thông qua lệnh cấm vào ngày 29 tháng 12 năm 1988, và do thế, lệnh cấm không áp dụng cho thoa thuận giữa Centex và Dalton Lập luận của toa phúc thẩm là không đúng vì thoa thuận giữa họ là dựa trên một quyết định có điều kiện Theo các điều khoản trong thoa thuận, quyền của Dalton không thờ được thực hiện nếu
Uy ban Ngân hàng chưa cho phép thông qua giao dịch mua lại của Centex
Và bởi vì Uy ban Ngân Hàng, khi cho phép thông qua giao dịch mua lại, đã cấm việc thanh toán phí cho người vận động, thì đã làm vô hiệu lực thoa thuận giữa các bên liên quan, tức là quyền của Dalton từ thoa thuận đã không
có cơ hội được phát sinh
Lệnh của Uy Ban Ngân Hàng đã cấm Centex thực hiện thoa thuận với Dalton, ta biết là nếu không có lệnh này thì theo luật hợp đồng của bang, việc thực hiện nghĩa vụ này sẽ được đảm bảo thực hiện Centex không thờ thanh toán cho Dalton và tuân thủ quy định của chính phủ — quy định cấm việc
thanh toán trong thoa thuận giữa Centex và Dalton Nghĩa vụ của Centex theo thoa thuận với Dalton do vậy được miễn
Bác phán quyết cũ, xử cho Centex thắng kiện
Phân tích và bình luân: Đây là một vụ việc cho thấy thực tế áp dụng
tình huống bất hợp pháp không ngờ như một căn cứ miễn trách, giải thoát
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ cho một bên hợp đồng Lệnh của Uy ban Ngân
hàng - cơ quan chính phủ có thẩm quyền trong vụ việc, là một quyết đinh có
điều kiện, được ban hành sau khi các bên liên quan là Centex và Dalton thành
lập một thoa thuận Lệnh này làm vô hiệu thoa thuận của các bên, cụ thể là giải thoát nghĩa vụ thanh toán cho Centex Tính tiên liệu được của các bên liên
quan hợp đồng trong vụ việc này không đóng vai trò gì Theo tình tiết vụ việc,
Yếu tố này hoàn toàn không được xem xét k h i xác định khả năng Centex có
được miễn thực hiện nghĩa vụ hay không Thẩm phán Toa tối cao Texas đã ra
quyết định chủ yếu dựa trên hai lập luận sau:
- Lệnh của chính phủ được ban hành sau k h i hợp đồng được thành lập;
và
Trang 38- Việc thi hành nghĩa vụ hợp đồng đồng thời là v i phạm lệnh của chính phủ, tức là bất hợp pháp
Như vậy, căn cứ chủ yếu để áp dụng tính bất hợp pháp không ngờ là
quyết định/ lệnh liên quan của chính phủ làm vô hiệu hoa việc thực hiện nghĩa
vụ của các bên hợp đổng và được ban hành sau k h i hợp đồng giữa các bên được thành lập
c Đối tượng của hợp đồng bị phá huy
Trong trường hợp đối tượng chủ yếu của việc thực hiện nghĩa vụ của thụ trái bị phá huy sau khi hợp đổng được giao kết m à không có l ỷ i của thụ trái, thụ trái được miễn thực hiện nghĩa vụ Chẳng hạn, Woolridge kỷ họp đồng bán ô tô của mình cho Rivkin Nếu một vụ nổ làm phá huy chiếc ô tô sau k h i hợp đồng đã được giao kết và trước khi Woolridge giao chiếc ô tô cho Rivkin, Woolridge được miễn thực hiện nghĩa vụ Việc những đối tượng không chủ yếu m à thụ trái định sử dụng để thực hiện nghĩa vụ bị phá huy không phải là căn cứ miễn thực hiện nghĩa vụ nếu có đối tượng thay thế, mặc dù để làm được như vậy thì việc thực hiện nghĩa vụ là khó khăn hơn, hoặc kém lợi nhuận
đi Chẳng hạn Công ty Xây dựng Ace đã dự định sử dụng một bộ phận máy móc nhất định để thực hiện một hợp đồng xây một toa nhà cho Công t y Worldwide Widgets Nếu bộ phận máy này bị phá huy, nhưng lại có một máy khác thay thế thì việc chiếc máy m à Ace định sử dụng bị phá huy trước k h i Ace thực hiện nghĩa vụ hợp đổng không phải là căn cứ để Ace được miễn thực hiện nghĩa vụ
2.2 Tình huống bất ngờ làm mất tác dụng
Rất gần với căn cứ không thể thực hiện được là tình huống bất ngờ làm mất tác dụng (hay còn gọi là mất tác dụng về thương mại hoặc không còn giá trị sử dụng) Đây cũng là một căn cứ giải phóng cho thụ trái khỏi nghĩa vụ đã cam kết khi có những sự kiện nhất định xảy ra sau k h i hợp đồng được giao kết khiến thụ trái không thể được hưởng l ợ i từ việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia Mặc dù toa án thường xử các vụ với căn cứ tình huống bất ngờ làm mất tác dụng cùng với thuật ngữ chung là không thể thực hiện được, người ta vẫn phân biệt căn cứ này với căn cứ không thể thực hiện được ở chỷ là thụ trái trong trường hợp này không nhất thiết là không thể thực hiện được nghĩa vụ Trong căn cứ này, thụ trái được miễn thực hiện nghĩa vụ vì việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia không còn giá trị gì nữa đối với thụ trái Ví dụ, Boyd ký
Trang 39một hợp đồng có thời hạn Ì năm với Phòng Tập Thể Dục Eden với giá là 50 USD một tháng Một tuần sau khi ký hợp đổng, Boyd bị tai nạn ô tô nghiêm trọng và phải nằm trên giường Ì năm Tai nạn ô tô không hề làm cho Boyd không thể thực hiủn được nghĩa vụ hợp đồng (trả 50 USD một tháng) nhưng sự kiủn này làm cho Boyd không thể hưởng lợi từ viủc thực hiủn nghĩa vụ của Eden nữa Trong trường hợp này, toa án có thể xử cho Boyd được miễn thực hiủn nghĩa vụ với căn cứ là có tình huống bất ngờ làm mất tác dụng
2.3 Tính không thể thực hiện được trong thực tế xét về mặt thương mại
Điều 2-615 ucc đã mở rộng phạm v i của căn cứ không thể thực hiủn được cho cả các trường hợp m à do các tình huống không được lường trước đã khiến cho viủc thực hiủn nghĩa vụ của thụ trái gần như là không thể được, quá tốn kém một cách không hợp lý, hoặc chẳng còn mấy giá trị đối với trái chủ Thay vì dùng tiêu chuẩn của sự không thể thực hiủn được (impossibility), ucc sử dụng tiêu chuẩn không t h ể thực hiủn được t r o n g thực t ế (impracticalibity) Mặc dù áp dụng một tiêu chuẩn kém khắt khe hơn, thụ trái vẫn phải chứng minh rằng, có một tình huống đã xảy ra không phải do l ỗ i của thụ trái khiến cho viủc thực hiủn nghĩa vụ của thụ trái là không thực tiễn, và rằng khi hợp đổng được giao kết, các bên đều không cho là tình huống đó sẽ phát sinh Điều này có nghĩa là tình huống này nằm ngoài phạm v i của các rủi
ro m à các bên đã dự liủu tại thời điểm giao kết hợp đồng và thụ trái đã không
hề tính đến, một cách rõ ràng hay ngụ ý, rằng tình huống này sẽ xảy ra
Luật án lủ và các bình luân chính thức đối với Điều 2-615 ucc khẳng định rằng viủc tăng chi phí hay viủc mất thị trường đối với một mặt hàng nhất định không đủ để tạo thành căn cứ miễn thực hiủn nghĩa vụ, vì đây là những tình huống thuộc về rủi ro kinh doanh m à mọi thụ trái đều phải tính đến Tuy nhiên viủc giá tăng quá cao hoặc viủc khan hiếm hàng hoa trầm trọng do những tình huống không được dự liủu như chiến tranh hoặc mất mùa có thể được coi là căn cứ không thể thực hiủn được trong thực tiễn
ucc cũng cố gắng phân biủt các trường hợp không thể tiên liủu được và không thể kiểm soát được, với những sự kiủn là một phần rủi ro m à một bên hợp đồng phải chịu Nếu hàng hoa là đối tượng của hợp đồng bị huy không phải do lỗi của bất kỳ bên nào trong hợp đồng trước thời điểm rủi ro đối với tổn thất được chuyển sang cho người mua, thì hợp đồng không còn giá trị (Điều 2-613 UCC) Chẳng hạn Jones thoa thuận bán và giao cho Brown một
34
Trang 40chiếc bàn cổ Chiếc bàn bị hư hại khi cửa hàng đồ cổ của Jones bị sét đánh và bắt lửa Như vậy, chiếc bàn - đối tượng đặc định của hợp đổng trên đã bị hư hại m à không phải do l ỗ i của cả hai bên trước thời điểm rủi ro đối với tổn thỏt được chuyển sang cho Brown Theo Ư C C , Brown có quyền lựa chọn hoặc là huy bỏ hợp đồng hoặc là nhận chiếc bàn theo một giá mua được điều chỉnh theo tình trạng hư hại của chiếc bàn (Điều 2-613 UCC)
N ế u các tình huống không được tiên liệu xảy ra làm trì hoãn hoặc khiến cho việc giao hàng là không thể thực hiện được, do đó việc thực hiện hợp đồng
là không thể thi hành, thì người bán được miễn giao hàng Tuy nhiên, nếu khả năng giao hàng của người bán chỉ bị ảnh hưởng một phần, thì người bán phải phân bổ số hàng có thể bán theo một phương thức hợp lý và công bằng cho các khách hàng của mình Khi người bán phân bổ lượng hàng bán, người bán phải thông báo cho các người mua theo các hợp đồng (Điều 2-615 ƯCC) K h i người mua nhận được thông báo này, người mua có thể hoặc quyết định chỏm dứt hợp đồng hoặc thoa thuận chỏp nhân sự phân bổ (Điều 2-616 UCC)
Ví dụ, United Nuclear tham gia một số hợp đồng để bán một lượng nhỏt định các thanh nhiên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân sử dụng cho các thiết
bị điện Nếu chính phủ liên bang giới hạn khối lượng Uranium m à Ưnited có thể sử dụng làm cho United không thể thực hiện được tỏt cả các hợp đổng m à Ưnited đã thoa thuận, thì khi đó, United được miễn không phải thực hiện toàn
bộ hợp đổng với căn cứ là không thể thi hành được về mặt thương mại Tuy nhiên, Ưnited có thể phân bổ lại số lượng thanh nhiên liệu có thể bán cho các khách hàng bằng cách giảm theo tỉ lệ với mỗi khách hàng một phần nhỏt định của khối lượng có thể thực hiện, và thông báo việc phân bổ này cho khách hàng K h i đó, m ỗ i nhà máy điện có quyền quyết định hoặc huy hợp đổng hoặc chỏp nhận khối lượng phân bổ lại của số thanh nhiên liệu có thể mua được
N ế u không có các tình huống có sức thuyết phục, các toa án không sẩn sàng xử cho các bên được giải phóng khỏi nghĩa vụ hợp đồng, đặc biệt là khi
có thể thỏy rõ rằng các bên đã lường trước được vỏn đề và đã quy định trong họp đồng về vỏn đề này