1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục

100 596 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Người hướng dẫn PTS. Vũ Chí Lộc
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 15,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu hiện của cuộc khủng hoảng là đổng tiền của các nước này bị giảm giá liên tục và xuống đến mức thấp kỷ lục, giá chứng khoán và bất động sản cũng giảm nhanh chóng và nhiều ngân hàng,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG rOREIQH T R À M UNNRRSITT

TÊN ĐỀ TÀI:

-TIỀN TỆ C H Â U Á TỚI ĐẦU Tư TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG N Ă M QUA

VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

MÃ SỐ: B 99-40-18

Chủ nhiệm đềm: Tiên sĩ vũ CHÍ L Ộ C Tham gia thức hiên đề tài Thạc sĩ: vũ THỊ KIM OANH

Cử nhân: PHẠM THỊ MAI KBANHf7^7Ụ7|7P

Đĩ QOQ££

Trang 2

-MỤC LỤC

L Ờ I NÓI Đ Ẩ U Ì

C H Ư Ơ N G ì: DIỄN BIẾN, N G U Y Ê N N H Â N CỦA cuộc KHỦNG HOẢNG

TÀI CHÍNH TIÊN TỆ Ở C H Â U Á 4

ì Diễn biến của cuộc khủng hoảng 4

li Đặc điểm và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 7

IU Những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á 20

C H Ư Ơ N G n : Ả N H H Ư Ở N G CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI - CHÍNH TIỀN

TỆ C H Â U Á Đ Ế N Đ Ạ U T ư TRỰC TIẾP N Ư Ớ C N G O À I

T Ạ I VIỆT N A M 25

ì FDI tại Việt Nam trước khủng hoảng (trước năm 1997) 25

li Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á đến FDI

vào Việt Nam 32

C H Ư Ơ N G ni : C Á C GIẢI PHÁP H Ạ N CHẾ TÌNH TRẠNG SUY G I Ả M

FDI DO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ V À TẢNG C Ư Ờ N G

THU H Ú T FDI TRONG GIAI Đ O Ạ N T Ớ I 58

ì Triển vọng thu hút FDI tại Việt Nam trong thời gian tới 58

n Một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục hâu quả của khủng hoảng và

tăng cường thu hút FDI trong giai đoạn tới 61

K Ế T LUẬN 85 PHẠN PHỤ L Ụ C

Phụ lục la : Diễn biến cuộc khủng hoảng châu Á

Phụ lục lb : Chi phí đầu tư tại các thành phố lớn ở Châu Á tháng 12/1999

Phụ lục 2 : Tình hình thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam giai đoạn

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Rất nhiều giấy mực đã đổ ra để phân tích về nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ bất ngờ của cái gọi là "phép lạ kinh tế châu Á " chính là do cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ Đông Á xảy ra vào tháng 7 năm 1997 và kéo dài cho đến năm 1999 Tới nay vốn chưa thể hình dung hết được hậu quả của

nó đối với nền kinh tế khu vực và có thể dư vị của nó có thể còn kéo dài Khác với nhiều cuộc khủng hoảng thông thường trên t h ế giới, chỉ hoặc là khủng hoảng tiền tệ, hoặc là khủng hoảng tài chính, cuộc khủng hoảng k h u vực Đông Á vừa qua mang tính chất "kép", tức là vừa khủng hoảng tiền tệ, vừa khủng hoảng tài chính và toàn bộ hệ thống ngân hàng Co thể noi, đây là đặc trưng quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng này Tính chất "kép" của cuộc khủng hoảng, một mặt làm cho khả năng tàn phá của nó trở nên dữ dội

và để lại dư vị kéo dài, nó tác động tới m ọ i mặt của kinh tế-xã hội, tới các cơ

sở nền tảng sâu xa của hệ thống kinh tế và chế độ chính trị-xã hội và làm cho vấn đề trở nên hết sức phức tạp, khó nhận biết một cách chắc chắn và khó khắc phục

Cuộc khủng hoảng dường như đã qua đi, nhưng ai dám chắc những tác động của nó (cả tích cực và tiêu cực) hoàn toàn không còn nữa Các nước vừa qua cuộc khủng hoảng này còn chưa hết bàng hoàng vì cơn "ác mộng"

cả nền kinh tế và cả chế độ chính trị-xã hội một số nước ASEAN, H à n Quốc

và ngay cả Nhật Bản dường như con bị "sóng xung kích" của nó tác động khá mạnh, cho dù dấu hiệu tăng trưởng trở lại bằng các chỉ tiêu cơ bản đã khá hơn nhiều Sau 3 năm đẩy sóng gió, bàn cờ kinh tế châu Á đã được vẽ lai hoàn toàn, nhìn về tương lai thì con đường trước mặt còn lắm chông gai Đ ể khôi phục lại những gì đã mất, các nước trong vùng đã phải tìm m ọ i cách

m à trong đó tăng xuất khẩu và tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xem ra là phương sách tốt nhất

Là một nước Châu Á, Việt nam khó tránh khỏi ảnh hưởng của cuôc khủng hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua Hơn nữa, chiến lược phát triển cua Việt nam từ khi thực hiện đường l ố i "mở cửa" và kinh tế thị trường tới nay

đã từng chịu tác động ngày càng tăng bởi thực tế phát triền của k h u vực Đông A Bản thân cuộc khủng hoảng này có những biểu hiện rất phức tạp và tác động của nó tới nền kinh tế Việt nam còn phức tạp hơn nhiều bởi chính nền k i n h t ế và xã hội nước ta Các nhà quản ly, các nhà nghiên cứu đã tôn nhiều công sức để tìm hiểu, để phân tích và cũng đã đưa ra nhiều quan điểm

và ý kiến rất khác nhau Trong khi các nước trong k h u vực (Thái L a n Han Quốc, Malaisia ) bị tác động mạnh nhất của cuộc khủng hoảng dường như

đã thoát được ra và phần nào lấy lại tốc độ tăng trưởng, thì V i ệ t nam vốn trong tình trạng suy giảm và trì trệ, đặc biệt trong lĩnh vực thu hút F D I

Ì

Trang 4

Sự giảm sút nặng nề F D I từ năm 1998 trở lại đây buộc chúng ta phải nhìn nhận lại một cách khoa học và khách quan chính sách kinh tế đối ngoại của mình, đặc biệt là chiến lược thu hút F D I và các giải pháp h ỗ trợ, tăng cường, để từ đó tìm ra hưững đi đúng nhằm thúc đẩy hơn nữa, hiệu quả hơn nữa nguồn vốn quan trọng này trong quá trình thực hiện thắng lợi đường l ố i còng nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nưữc

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đ ề tài nghiên cứu nhằm:

- Phân tích nguyên nhân, tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của cuộc khủng hoảng ở những nưữc bị tác động nặng nề để rút ra những bài học cần thiết

- Phân tích, đánh giá tác động và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tữi việc thu hút và triển khai thực hiện F D I tại Việt nam Tác động của khủng hoảng tữi F D I bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực, tuy nhiên, đề tài sẽ tập trung nhiều hơn, phân tích sâu sắc hơn tác động tiêu cực tói F D I , đây là nguyên nhân (trực tiếp và gián tiếp) quan trọng làm suy giảm F D I tại Việt nam trong những năm gần đây

- Đưa ra một số các giải pháp có tính chiến lược và các giải pháp cấp bách nhằm hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tữi F D I va tiếp tục tăng cường thu hút F D I trong thời gian tữi

3 Phạm vi nghiên cứu

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực Châu Á được giữi hạn về mặt thời gian từ tháng 7 năm 1997 đến hết năm 1999, nên hoạt đọng FDI cũng chủ yếu được nghiên cứu trong phạm v i thời gian đó Các giai đoạn trưữc đó được đề cập chỉ có tính chất tham khảo và so sánh, đối chiếu nhăm làm rõ phạm v i nghiên cứu của đề tài và mục tiêu m à đề tài đặt ra

4 Phương pháp nghiên cứu

Đ ề tài sẽ sử dụng hệ thống các phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu Phương pháp lập giả định được sử dụng để xác định giữi hạn và phạm v i nghiên cứu và hỗ trợ cho việc hệ thống hoa những tác động cụ thể cua cuốc khủng hoảng tài chính - tiền tệ tữi F D I tại Việt nam Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, các tác giả sử dụng triệt để phương pháp duy vật biện chứng

và phương pháp lịch sử

5 Tổ chức nghiên cứu đề tài

Bộ môn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ, Trường đại học Ngoại

thương được giao nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo các chuyên để về đầu tư quốc tế và Chuyển giao công nghệ cho các loại hình đào tạo (Cử nhân Thạc

sỹ và Tiến sỹ) của Trường là đòn vị tổ chức thực hiện đề tài này

Trực tiếp tham gia nghiên cứu đề tài gồm:

- Tiến sĩ Vũ Chí Lộc, Chủ nhiệm bộ môn, chủ nhiệm đề tài

Trang 5

- Thạc sĩ Vũ Thị Kim Oanh, giảng viên, thành viên

- Thạc sĩ Nguyễn Thị Việt Hoa, giảng viên, thành viên

- Cử nhân Phạm Thị Mai Khanh, giảng viên, thành viên

Nhóm nghiên cứu cũng đã nhận được sự hỗ trợ của PGS.TSKH Nguyễn Bích Đạt, nguyên là Chủ nhiệm Bộ môn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ và hiện nay là Vụ trưấng Vụ Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã cung cấp một số các tư liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

Trang 6

C H Ư Ơ N G I DIỄN BIÊN, NGUYÊN NHÂN CỦA cuộc KHỦNG HOẢNG

TÀI CHÍNH TIÊN TỆ ở CHÂU Á

ì DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại một số nước Đông A bắt đẩu từ Thái Lan vào tháng 7 năm 1997 khi nước này tuyên bố chấm dứt chế độ cố định tỷ giá theo đồng đô la Mỹ Cuộc khủng hoảng này sau đó đã lan rộng

ra nhiêu nước khác trong khu vục như Malơysia, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc Biểu hiện của cuộc khủng hoảng là đổng tiền của các nước này

bị giảm giá liên tục và xuống đến mức thấp kỷ lục, giá chứng khoán và bất động sản cũng giảm nhanh chóng và nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là một số nước châu Á phải trải qua thời kỳ tăng trưởng thấp và mất niềm tin của các nhà đẩu tư nước ngoài

1 Bôi cảnh của cuộc khủng hoảng

Trong ba thập kỷ từ 1965-1995, các nước Đông Á đã có tốc độ tăng

trưởng kinh tế trung bình trên 8 % năm (so với 2 % ở các nước công nghiệp hoa) Trước đó, trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới chưa từng có khu vực nào duy trì được mức tăng trưởng nhanh và bền vững trong suốt m ộ t thời gian dài như vậy Bốn "con h ả " Châu Á tiên phong là Hồngkông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan đã gia nhập các quốc gia phát triển (dựa trên chi tiêu GDP/đầu người) Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan đã gần đuải kịp các con hả đi trước Tuy có bối cảnh văn hoa lịch sử và thể chế chính trị khác nhau, các nước này đều có chính sách kinh tế mở, tích cực hội nhập với khu vực và thế giới, có tỷ lệ tiết kiệm xã hội và tỷ lệ đầu tư cao (tỷ lệ tiết kiệm trung bình là 3 0 % và tỷ l ệ đầu tư là 35-40% GDP) và có một điểm chung nữa là lực lượng lao động hiếu học, làm việc chăm chỉ, kỷ luật Tất cả những đặc trưng trên đã tạo ra cái gọi là điều kỳ diệu châu Á, và trên thực tế

tỷ trọng thu nhập của Châu Á trong thu nhập chung của cả thế giới đã tăng

từ 1 9 % n ă m 1950 lên 3 3 % n ă m 1992 Trong các báo cáo của W B (Ngân hàng thế giới) và I M F (Quỹ Tiền tệ quốc tế) chúng ta thấy rất nhiều đánh giá cao và những lời "tán tụng" triển vọng phát triển của các quốc gia này V à o năm 1994, nhà kinh tế học n ả i tiếng Paul Krugman đã viết trong cuốn Foreign Affairs rằng "sự tăng trưởng nhanh dường như có vẻ giả tạo" K h i

đó, nhận định này của ông đã bị nhiều nhà kinh tế khác nghi ngờ và phê bình gay gắt Chỉ tới khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong k h u vực n ả ra thì lời nhận định của p Krugman mới tỏ ra là một sự dự báo đáng giá T u y nhiên, đã không có nhà kinh tế học nào đoán đúng bệnh, dự đoán đung tầm mức của cuộc khủng hoảng Đông Nam Á và Đông Á vào cuối thập kỷ 90 m à

Trang 7

nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn không hết bàng hoàng đã tự đặt câu hỏi,

n i u Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ vào cuối năm 1998 tiếp theo đồng Yên Nhật mất giá thì không biết tình hình kinh tế thế giới sẽ như thế nào Mặc dù tháng 7 năm 1997 cuộc khủng hoảng m ớ i nổ ra nhưng thực tế

là từ năm 1996 đã xuất hiện nhểng lo ngại về một số nền kinh tế quá nóng,

được thể hiện ở nhểng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức cao, nợ ngắn hạn

nước ngoài lũy k ế tăng, sự tin tưởng của các nhà đầu tư bắt đầu giảm, giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở một số nước như Hàn Quốc và Thái Lan giảm mạnh, thất thường Tốc độ tăng trưởng của cả khu vực giảm

từ 2 0 % trong hai năm 1994-95 xuống còn 5% năm 1996 Đ ế n đầu năm

1997, các điều kiện kinh tế vĩ m ô ở hầu hết các nước trong khu vực đã trở nên xấu đi: thâm hụt tài khoản vãng lai càng cao, nợ nước ngoài ngắn hạn lũy k ế lớn, đầu tư quá mức vào các dự án rủi ro cao và lợi nhuận thấp, nhiều công ty đã bị phá sản và nhiều khoản vay không trả được

Ngay trong quý ì năm 1997, nền kinh tế Thái Lan đã cho thấy nhểng túi hiệu rõ ràng của một cuộc khủng hoảng, đó là nhểng đạt tấn công có tính chất đầu cơ vào đổng Baht và việc đóng cửa một số công ty tài chính đã vay

nợ từ các tổ chức nước ngoài để cung ứng túi dụng quá mức cho lĩnh vực bất động sản và mua cổ phiếu Đ ã có nhểng so sánh và liên tưởng tới cuộc khủng hoảng N ợ ở Mexico nhưng khổng ai có thể ngờ rằng thời điểm khởi đầu của khủng hoảng chính là vào ngày 2/7/1997, sau khi tung ra gần 24 tỷ USD để giể giá đồng Bath nhưng không thành công, Thái Lan chính thức tuyên bố thả nổi đồng Baht, và ngay lập tức trong tuần đó đồng Baht bị mất giá 15% Sự mất giá của đồng Baht đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng có quy m ô và mức độ tàn phá lớn nhất trong lịch sử thế giới

2 Diễn biến của cuộc khủng hoảng (Xemphụ lục số!)

Sự giảm giá của đồng Baht đã tạo ra sức ép làm mất lợi thế cạnh tranh của các nước có điều kiện kinh tế vĩ m ô và mặt hàng xuất khẩu tương tự như Thái Lan, đó là Malaysia, Indonesia và Philippines và cuối cùng làm đồng tiền của các nước này bị giảm giá theo Ngày 11/7/1997 Philippines thả nổi đồng Peso, sau đó là Malaysia, ngày 14/8/1997 Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah

Ngày 5/8/1997, tức là chỉ hơn Ì tháng sau cuộc khủng hoảng, ngân hàng thương mại Thái Lan đã phải tạm ngừng hoạt động của 42 công ty tài chính, đưa tổng số công ty bị đóng cửa lên 58/90 với tổng số nợ 1391 tỷ bath I M F đưa ra chương trình viện trợ cả gói cho Thái Lan 17,2 tỷ USD với nhểng điều kiện ngặt nghèo

Bốn tháng sau, tháng 10 và tháng 11/1997, khủng hoảng lan sang Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật bản và gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho các nền kinh tế liên quan Ngày 21/11/1997, Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc thông báo Chính phủ Hàn Quốc chính thức đề nghị I M F hỗ trợ sau k h i đồng Won giảm giá mạnh Nhưng chỉ hai tuần sau khi I M F công bố khoản

hỗ trợ tài chính cả gói 57 tỷ USD cho Hàn Quốc, đồng W o n đã giảm xuống

5

Trang 8

mức kỷ lục 1926 Won/ Ì USD do có tin Hàn Quốc nợ tới 220 tỷ USD, IMF

và G7 quyết định giải ngân khẩn cấp cho Hàn Quốc l o tỷ USD Cùng vào

thời điểm cuối tháng li, Nhật Bản, nước láng giềng gần gũi với khu vực Đông Nam Á, với kim ngạch buôn bán và đầu tư song phương ủ mức độ cao, cũng không nằm ngoài ảnh hưủng của cuộc khủng hoảng Yamachi, một trong 4 công ty chứng khoán lớn nhất của Nhật bản đã phải tuyên bố phá sản, kết thúc 100 năm tồn tại, để lại khoản nợ không có khả năng thanh toán lên tới 3000 tỷ yên (khoảng25 tỷ USD)

Trái với những dự đoán vội vã ban đầu của các tổ chức tài chính và các chuyên gia IMF, rằng cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ này sẽ kết thúc vào cuối năm 1997, cho tới năm 1999 cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục lan rộng và phát huy tác động của nó và thực tế đến nay dư âm và hậu quả của

nó còn chưa thể xác đinh chắc chắn

Ngày 8/1/1998, đồng Rupiah Indonesia đã giảm giá vượt quá mức nhạy cảm 10.000 Rupiah/1 USD xuống còn 10.225/1 USD Sau đo, hàng loạt các đổng tiền khác trong khu vực đều bị mất giá ủ mức kỷ lục mới Rất may mắn cho nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực là trong hoàn cảnh đó, Chính phủ Trung quốc vẫn quyết định không phá giá đồng nhân dân tệ Ngày 6/4/1998, IMF cho rằng thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng đã qua nhưng tới ngày 15/5, tỷ giá đổng Yên Nhật so với đồng USD

đã xuống tới mức thấp nhất kể từ tháng 8/1991 (137,07 Yên/1 USD) báo hiệu nguy cơ khủng hoảng vòng 2 của khu vực này Giá đồng Yên tiếp tục giảm gây sức ép phá giá đồng nhân dân tệ nhưng một lần nữa, Trung Quốc khẳng định sẽ không phá giá đồng tiền nước mình và cam kết bảo vệ đồng nhân dân tệ ít nhất trong Ì năm Chỉ số chứng khoán trên thị trường Hồng kông và Đài Loan sụt giảm Đồng Yên Nhật đã mất giá dần tới điểm nhạy cảm (150 Yên/1 USD) và đạt 146,55 Yên/1 USD, gây ra tâm lý lo sợ trên toàn cầu Các bộ trưủng tài chính các nước EU đã ra tuyên bố đặc biệt yêu cầu Nhật Bản củng cố hệ thống tiền tệ Ngày 17/6/ 1998, Mỹ vào cuộc Cục

dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã phối hợp với Ngân hàng trung ương Nhật Bẩn

để cứu trợ đồng Yên bằng cách bỏ ra 2 tỷ USD Sự phối hợp này đã làm cho giá đồng Yên lập tức được khôi phục ủ mức 136,2 Yên/1 ỨSD Tâm lý lo sơ cuộc khủng hoảng vòng 2 được giải toa

Ngày 20/6/1998, Hội nghị các thứ trưủng tài chính và thống đốc Ngân hàng nhà nước nhóm G7 và l i nước châu Á - Thái Bình Dương họp tai Tokyo thảo luận về việc ổn định đồng Yên, ngăn chặn cuộc khủng hoảng tiền tệ vòng 2 tại khu vực và tìm cách khôi phục lại nền kinh tế Nhật Ban đang suy thoái Hội nghị ra tuyên bố 9 điểm, trong đó hoan nghênh sự phôi hợp Nhật-Mỹ can thiệp vào thị trường để hỗ trợ đồng Yên của Nhật bản-hoan nghênh Trung Quốc cam kết duy trì giá đồng nhân dân tệ; kêu gọi Nhật Bản sớm điều chỉnh hộ thống tiền tệ, giải quyết các khoản nợ khó đoi và cai cách chế độ thuế; hoan nghênh chế độ cải cách kinh tế của Indonesia nhằm

ổn định tình hình

Trang 9

WB và Chính phủ Anh đã ký thoa thuận thành lập quỹ tín dụng ASEM

(được khởi xướng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEM l i đầu tháng 4/1998) để

khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng với số vốn ban đầu vào khoảng

35-40 tổ USD

2/7/19198, tròn Ì năm sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, Chính phủ Nhật Bản chính thức thông qua kế hoạch thành lập hệ thống ngân

hàng cầu nối để giải quyết các khoản nợ khó đòi của các tổ chức tiền tệ đã bị

phá sản, quyết đinh này được dư luận hoan nghênh và ủng hộ Các quốc gia

khác cũng có những biện pháp để khắc phục hậu quả của riêng mình

Cho đến nay, hơn 3 năm đã trôi qua, cuộc khủng hoảng gần như đã

chấm dứt hoàn toàn, những tín hiệu đáng mừng về quá trình phục hổi kinh tế

khu vực đang mạnh dần Thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng đã qua,

tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đã dần dần được phục hồi, năm 1999, tăng

trưởng ở mức 3,2%, dự kiến tăng trưởng năm 2000 là 5% Tại châu Á, lạm

phát và xáo trộn tổ giá đã được kiềm chế Theo số liệu của IMF, một số nước

trong khu vực đã có chuyển biến tích cực Cụ thể là: Hàn Quốc đạt mức tăng

trưởng 2 % năm 1999, dự báo năm 2000 là 4,6%; Indonesia là 1,1% (so v ớ i

-13,7% năm 1998) và dự kiến 3,3% năm 2000; Malaysia: 0,9% năm 1999 và

2 % năm 2000; Thái Lan: 0,5% năm 1999 và 4,2% năm 2000(1)' Riêng Việt

nam năm 2000 tăng trưởng kinh tế chắc chắn khoảng 6 %, thuộc loại cao của

các nước trong khu vực

li. ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA cuộc KHỦNG

HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ

Không phải các cuộc khủng hoảng tài chính tiên tệ đêu giống nhau cho dù những dấu hiệu bề ngoài là có vẻ như nhau Việc phân tích lịch sử tỷ

mỹ dựa trên lý thuyết giúp chúng ta có thể phân biệt những đặc điểm chính

khủng hoảng châu Á

Theo các nhà kinh tế, có ba loại khủng hoảng tài chính tiền tệ: Khủng

hoảng Tiền tệ, Khủng hoảng Ngân hàng và Khủng hoảng Nợ

Theo m ô hình của Paul Krugman (1979), Khủng hoảng Tiền tệ (hay

khủng hoảng cán cân thanh toán) biểu hiện ở việc đồng tiền bị mất giá, dự

trữ ngoại hối suy giảm và sự sụp đổ của hệ thống tổ giá hối đoái co định

Khủng hoảng xuất hiện khi Chính phủ áp dụng các chính sách tài chính và

tiền tệ không hợp lý trong khi cố định tổ giá, thâm hụt cán cân thương mại

trong một thời gian dài; hoặc bị khủng hoảng ngân hàng tác động, thông qua

việc Nhà nước phải phát hành thêm tiền để trợ giúp ngành ngân hàng

Theo Micheal D.Bordo (1985), Khủng hoảng Ngân hàng là tình trạng

mọi người đổng loạt rút tiền gửi hoặc nhiều ngân hàng thất bại trong việc

' Trang 73, Kinh tế 1999-2000 Việt Nam và I M giói-Tliời báo kinh tế Việt Nam

Trang 10

thanh toán các khoản nợ đến mức phải có sự hỗ trợ của Chính phủ ở quy m ô lớn

Nhưng dấu hiệu nào để có thể phân biệt đâu là một cuộc khủng hoảng Ngân hàng? Trên thực tế, rất khó nhận biết loại khủng hoảng này; một phần bởi bản chất của vấn đề, một phần nữa là thiếu các thông tin chính xác Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế thì sự thay đửi tài sản có và tài sản nợ trong bản quyết toán của ngân hàng là những dấu hiệu tốt nhất để nhận biết một cuộc khủng hoảng Ngân hàng

Mặc dù ở hầu hết các nước, những thông tin về tiền gửi ngân hàng là sẵn có và là dấu hiệu để nhận biết khủng hoảng Ngân hàng khi xuất hiện hiện tượng m ọ i người đồng loạt rút tiền gửi, nhung trong những năm gần đây hầu hết những vấn đề khó khăn của hệ thống ngân hàng ở các nước đang phát triển không xuất phát từ bên tài khoản nợ trong bản quyết toán của ngân hàng, nghĩa là không có hiện tượng m ọ i người rút tiền đồng loạt (chẳng hạn như khủng hoảng ngân hàng ở Phần Lan, Na Uy, Thúy Điển vào cuối những năm 80 và gần đây là ở Nhật Bản) Tại những nước đang phát triển thì ngược lại, hầu hết các cuộc khủng hoảng ở những nước này đều liên quan đến việc rút tiền gửi đồng loạt (như khủng hoảng ngân hàng trong những năm 80 và

90 ở Argentina, Phillipines, Thái Lan, Thử Nhĩ Kỳ, Uruguay, Venezuela) Trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây ở Indonesia, m ọ i người đử xô đi rút tiền gửi khi có những thông tin về sự khó khăn trong việc thu hửi các khoản cho vay của ngân hàng và những tâm lý bất ửn lan rộng về sự phá giá đồng tiền

Nhìn chung, các cuộc khủng hoảng Ngân hàng đều xuất phát từ bên tài sản trong bản quyết toán cua ngân hàng chẳng hạn sự suy giảm kéo dài của chất lượng tài sản Điều này cho thấy: các biến số như: tỷ phần các khoản nợ khó đòi trong danh mục cho vay của ngân hàng, sự biến động mạnh của giá bất động sản và giá cử phiếu, sự thất bại trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều được sử dụng để nhận biết khủng hoảng Ngân hàng Nhưng vấn đề khó khăn là những thông t i n về các biến số trên hầu như không sẩn có và đầy đủ ở các nước đang phát triển (ví dụ như những thông tin về nợ khó đòi) Thậm chí có khi Ngân hàng Trung ương ( N H T W ) có đầy

đủ thông tin về các khoản nợ khó đòi nhưng vẫn rất chậm chạp trong việc phân tích và đưa ra những chính sách đúng đắn để đối phó Chính vì những giới hạn kể trên m à theo các nhà kinh tế, dấu hiệu để nhận biết khủng hoảng Ngân hàng là sự kết hợp của các hiện tượng sau: một số ngân hàng bị đóng cửa, sát nhập hoặc quốc hữu hoa, hiện tượng rút tiền gửi đồng loạt, sự trợ giúp ngày càng tăng của Chính phủ cho một hoặc nhiều cơ quan tài chính Cuối cùng, khủng hoảng N ợ là tình trạng m à ở đó một nước không có khả năng chi trả nợ nước ngoài, cho dù là nợ Chính phủ hay nợ tư nhân Khác v ớ i nhiều cuộc khủng hoảng thông thường trên t h ế giới- chỉ hoặc là khủng hoảng tiền tệ, hoặc là khủng hoảng tài chính (khủng hoảng Ngân hàng hay khủng hoảng Nợ)-, cuộc khủng hoảng Châu Á vừa qua mang

Trang 11

tính chất "kép"- vừa khủng hoảng tiền tệ, vừa khủng hoảng tài chính- hay cả khủng hoảng Tiền tệ, khủng hoảng Ngân hàng, khủng hoảng N ợ xảy ra đồng thời Đây là đặc trưng quan trọng bậc nhất của cuộc khủng hoảng này và

được các chuyên gia thống nhất gọi là "khủng hoảng tài chính - tiền tệ"

Tính chất "kép" của cuộc khủng hoảng, một mặt, làm cho năng lực tàn phá v ố n có của nó trở nên khốc liệt và kéo dài hơn nhiều N ó động chạm đến các cơ sở nền tảng sâu xa của toàn bộ hộ thống kinh tế và chế độ chính trầ-xã hội chứ không chỉ đơn thuần gây ra những khó khăn, trở ngại lớn cho quá trình tăng trưởng và ổn đầnh kinh tế vĩ mô Mặt khác, tính chất "kép" hàm nghĩa rằng các nguyền nhân gây ra khủng hoảng tạo thành một hệ thống rất phức tạp chứ không phải là một vài nguyên nhân đơn lẻ, dễ nhận biết rõ ràng

và khắc phục nhanh chóng Đây thực sự là tính phức tạp, đa dạng của cuộc khủng hoảng và chưa có trong tiền lệ và đã làm cho m ọ i tính toán, dự báo bầ sai lệch

Hai khía cạnh trên chỉ ra rằng quá trình vượt ra k h ỏ i khủng hoảng của các nền kinh tế Châu Á thực tế đã khó khăn hơn nhiều so với nhiều cuộc khủng hoảng trước đây (ví dụ như cuộc khủng hoảng Mexico 1994-95)

Đ ồ n g thời nó quy đầnh một cách tiếp cận m ớ i đến việc phân tích nguyên nhân, động thái của khủng hoảng

Cho đến nay, hàng loạt nguyên nhân khủng hoảng đã được chỉ ra Nói chung, không có sự bất đổng ý kiến lớn về từng nguyên nhân riêng biệt Tuy nhiên, k h i xem xét vai trò của từng nguyên nhân lại có sự khác biệt không nhỏ M ộ t số người cho rằng việc thực thi chính sách tỷ gia hối đoái cố đầnh gắn chặt vào đồng đô la M ỹ và có xu hướng đánh giá cao đổng n ộ i tệ trong

một thời gian dài là nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng Những người

khác lại quy trách nhiệm chính cho tình trạng thâm hụt nặng nề cán cân thương mại và tài chính quốc tế (nợ nước ngoai) hay cho sự yếu k é m trong điều tiết vĩ m ô của nhà nước, nạn đầu cơ tiền tệ và sự phá hoại của một số nhà đầu cơ tiền tộ quốc tế; Xét theo những nguyên nhân riêng biệt thì các ý

k i ế n trên đều dựa trên các luận cứ rất thuyết phục Song, vì nền kinh tế la một tổng thể hữu cơ nên các nguyên nhân đều tác động lẫn nhau, vừa là hâu quả, vừa là nguyên nhân của nhau trong vòng tuần hoan liên tục của sự vạn động Việc đề cao các nguyên nhân đơn lẻ m à không đánh giá đúng mức vai trò của các nguyên nhân khác thường dẫn đến sự phiến diện

Bên cạnh đó, các quốc gia lại có sự khác biệt về trình độ điều kiên phát triển và về mức độ ảnh hưởng của cắc yếu t ố quốc tế nên ở từng quốc gia khác nhau, vai trò và mức độ tác động của từng nguyên nhân la khác nhau và có những nguyên nhân chỉ phát huy tác dụng ở quốc gia nay ma không phát huy tác dụng ở quốc gia khác Trong số 8 nền kinh tế than k y châu Ạ, có một số nền kinh tế bầ chấn động khủng hoảng tương đối ít hơn như Singapore, Đài Loan bởi các nền kinh te này không co nhiều yêu tố câu trúc giống như các nền kinh tế khủng hoảng Trong đo Singapore chầu anh hưởng mạnh hen do có sự gần kề tâm bão hem và do có mức độ liên két về cơ cấu kinh tế chặt chê hơn với các nền kinh tế khủng hoảng Nhà tai phiệt M y

9

Trang 12

và là người bị báo chí cho là kẻ đã gây ra cuộc khủng hoảng này George Soros đã nói " việc cho các nước Châu Á vay quá mức của các ngân hàng Nhật, M ỹ và Châu  u là nguyên nhân chung của cuộc khủng hoảng, nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất Tại m ỗ i nước lại có những nguyên nhân riêng, ví dụ như ể Malaisia, phần lớn các khoản vay là vay trong nước

chứ không phải là vay nước ngoài, còn ở Inđônêsia, nguyên nhân không hẳn

là do vay quá mức" [24]

N h ư vậy, càng không thể liệt kê đầy đủ từng nguyên nhân riêng biệt

m à có thể nhận thấy rằng cách tiếp cận tổng thể đến hệ thống nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Đông Á, xác định đúng logic của nó là cách tiếp cận hợp lý nhất

1 Hội chứng vay nợ quá mức

Trước khi rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, các nền kinh tế Đông Á đã

rơi vào tình trạng phải gánh chịu gánh nặng nợ khổng lồ Gánh nặng này không chỉ có nợ quốc tế m à còn có nợ trong nước; không chỉ n ợ Chính phủ

m à còn nợ tư nhân Sự đan kết nợ nần làm cho các quan hệ kinh tế trể nên phức tạp, khó kiểm soát và là nguồn gốc bất ổn định vĩ m ô hàng đẩu k h i khủng hoảng được châm ngòi Qua Bảng 1.1 dưới đây cho thấy n ợ nước ngoài của các nước trong khu vực rất nghiêm trọng

Bảng 1.1 Nợ nước ngoài của một số nước trong khu vực trước và sau phá giá đồng tiền

1980, k h i nền kinh tế thế giới nói chung có xu hướng đình trệ và dư thừa vốn, theo quy luật nước chảy chỗ trũng, dòng vốn quốc tế đã đổ rất mạnh vào đây, chỉ thua M ỹ và vượt xa các khu vực khác trên thế giới Cả hai yếu t ố này (sức hút đầu tư và xu hướng cạnh tranh cho vay) đã làm cho cả người vay lẫn cho vay bỏ qua nhiều quy tắc an toàn t ố i thiểu của hệ thống ngân hàng L ợ i thế vốn quốc tế nhiều và rẻ đã trể thành cái bẫy tài chính rủi ro đối với Đông Á Từ 1992 đến cuối 1996, riêng các nền kinh tế Đông Nam Á vay

Trang 13

Với tư cách là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây ra khủng hoảng,

nợ của Đông Á gắn với một số tình huống và có những đặc điểm nổi bật sau

đây:

- Khối lượng nợ nước ngoài tăng nhanh (xu hướng tích đọng nợ) Ví

dụ, nợ nước ngoai của Thái Lan tăng từ 3 8 % GDP năm 1990 lên 9 0 % GDP

năm 1996 (3)

- Tỹ lệ vốn vay nước ngoài từ khu vực tư nhân ngày càng lớn

- Trong khi đó các dự án đầu tư đã không được lựa chọn kỹ càng, do

vậy mức độ mạo hiểm ngày càng cao

Thực tế là vốn vay của Đông Á có cơ cấu nghiêng dần về vốn ngắn hạn, tạo ra xu hướng vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho các dự án khổng lồ dài

hạn (Theo IMF, vốn vay ngắn hạn nước ngoài của Hàn Quốc ít nhất là hơn

100 tỷ USD, của Thái Lan, Indonesia và Malaysia chiếm 7-10% GDP trong các năm 1994-96 trong khi đó nguồn vốn FDI chỉ là 1% GDP) hay tài trợ cho các dự án đầy tham vọng và ít hiệu quặ (Ví dụ như tháp đôi Petronas, cầu xuyên eo biển Malacca, hàng loạt dự án xây dựng sân gòn và cao ốc văn phòng hay các dự án sặn xuất những mặt hàng thiếu thị trường tiêu thụ như

ô tô, hàng điện tử, ).Tốc độ tăng vốn ngắn hạn nhanh đã làm cho nền kinh

tế này nóng lên Một khối lượng tiền vay lớn đã được dùng để đầu cơ bất động sặn Giá bất động sặn tăng vọt nhanh chóng làm méo mó các mối liên

hệ kinh tế khác (ví dụ như làm tăng giá cổ phiếu, lãi suất, các quan hệ thế chấp tài sặn, ), tạo nên sự hào nhoáng của những nền kinh tế bong bóng Điều này phần nào đã làm phát triển xu hướng chuyển sang xã hội tiêu dùng cao (mua xe hơi đắt tiền, các hàng xa xỉ hay các căn hộ sang trọng, ) Kết quặ là nợ quá hạn quốc gia tăng nhanh và đạt tới con số khổng lồ Tính đến tháng 611998, con số này ở Hàn Quốc lên đến 92 tỷ USD, bằng 30% tổng dư

nợ của hệ thống ngân hàng Tỷ lệ này ở Phillipines là 15%, Malaysia là 22%, Thái Lan là 35%, và kỷ lục ở Indonesia là 50%

- Vay tư nhân trong nước rất lớn và tích đọng ngày càng nhiều số nợ

không có khả năng thanh toán Cùng với tình trạng ngày càng xấu đi của các

yếu tố kinh tế khác, số nợ không có khả năng hoặc ít khả năng hoàn trả ngày

càng gia tăng Đây là hệ quả không tránh khỏi của làn sóng đầu cơ bất động

sản, tình trạng đầu tư kém hiệu quả, năng lực quản lý cua hệ thống ngân

hàng kém hiệu quả và nạn đầu cơ tiền tệ vào thời điểm khủng hoảng sắp

bùng nổ

Điều này tạo nên áp lực rất lớn lên cả hệ thống tài chính cũng như hệ thống tiền tệ ở các nước này

Vì tất cả các lý do nêu trên, đã xuất hiện và gia tăng nhanh hàng loạt

mất cân đối vĩ m ô lòn trong nền kinh tế Đó là:

- Xu hướng lệch pha cơ cấu giữa các ngành

l i

Trang 14

- Giảm năng lực trả n ợ trong khi nợ nước ngoài tăng nhanh, cán cân mậu dịch và cán cân vãng lai ngày càng thâm hụt nặng nê

Hậu quả tất yếu của tình trạng trên là:

N ề n k i n h tế bị nóng lên nhanh do đầu tư ồ ạt vì vay m ư ợ n được nhiều vốn với giá rẻ Thâm hụt các cán cân mậu dịch và thanh toán quốc tế gây áp lực càng mạnh lên hệ thống tiền tệ, đặc biệt là tắ giá hối đoái

Với hội chứng vay nợ nước ngoài, các nền kinh tế Đông Á bắt đầu xa

rời một trong những thế mạnh chủ yếu trong m ô hình phát triển của mình: đầu tư cao chủ yếu dựa vào tiết kiệm nội địa cao Trong điều kiện nền kinh

tế mở, quá trình tích đọng nợ nước ngoài đi liền với sự phá vỡ các yếu tố cấu trúc khác của m ô hình phát triển kinh tế trỏ thành nguyên nhân căn bản đẩy nền k i n h tế vào áp lực xoáy lốc, đè lên cả hệ thống tài chính lẫn tiền tệ Khủng hoảng trở thành tất yếu về xu hướng Chỉ cần một tác nhân châm ngòi, bùng nổ sẽ xẩy ra

"Trường hợp của Hàn Quốc thì tôi biết khá rõ- GSoros nói, tỷ lệ nợ trên tải sản của các Chaebol là không thế chấp nhận được Thêm vào đó, lợi nhuận sản xuất kinh doanh lại rất thấp, thu nhập chỉ bằng 1,3 lần chi phí nợ mà phần lớn lại dành cho việc trả lãi vay Vì thế, khi các công ty gặp khó khăn thì giã ngân hàng rất lo lắng không biết các công ty này có thế thanh toán được không Qua đó ta thấy chính sộ liên kết giữa các nước thông qua thị trường quốc tế và hệ thống ngăn hàng đã làm cho cuộc khủng hoảng lan rộ«g"[24]

2 Theo đuổi chính sách tắ giá hôi đoái cô định có xu hướng đánh giá cao đồng nội tệ và gắn chặt vào đồng USD trong một thời gian dài

Trong một thời gian dài, chính sách tắ giá là một trong các công xung lực mạnh mẽ bậc nhất giúp cho các nền kinh tế Đông Á thực thi thành công m ô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu Trong điều kiện GATT, việc

cụ-áp dụng chế độ tắ giá ổn đinh trong một số năm rồi lại phá giá để tạo sức kích thích xuất khẩu (ngoại trừ Thái Lan là nước thi hành chế độ tắ giá gần như là ổn đinh-cố đinh trong suốt mấy chục năm) trở thành một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp các nước này vừa tăng trưởng xuất khẩu nhanh vừa ổn định giữ vững chắc hệ thống tiền tệ là cốt lõi của ổn định vĩ

Trong điều kiện đó, đa số các nước Đông Á, mặc dù thực lực kinh tế của chính họ đã thay đổi theo hướng tăng lên, vẫn tiếp tục duy trì chế độ tắ

Trang 15

giá hối đoái cố định V ớ i chế độ này, đồng tiền của các nước bị đánh giá cao dần lên trong quan hệ tỷ giá H ơ n thế, do gắn chặt với đồng USD, độ rủi ro

tỷ giá cũng gia tăng trong quan hệ buôn bán với những nước và khu vực có đồng tiền mạnh khác, đặc biệt là với đồng Yên Nhật Bản Vì Nhật Bản là thị trưổng lớn thứ hai của Đông Á, lại bị suy thoái kéo dài trong mấy n ă m gần đây nên tính bất ổn định trong tương quan tiền tệ này tạo thành một sức phản kích đối với chính sách ổn định tỷ giá m à các nước này đang theo đuổi

\^ứieo(iiầdmhsádi^giá(K(Ẽdẫn(fenhíjnghâuc|uảnạrigi]ề:

- Giảm mạnh sức cạnh tranh xuất khẩu của nước này; kìm chế x u hướng tăng trưởng xuất khẩu (bao gồm hoạt động xuất khẩu trực tiếp)

- K h u y ế n khích nhập khẩu và tiêu dùng hàng ngoại

- Khuyên khích xu hướng nhập khẩu vốn (do đồng tiền nước ngoài rẻ hơn đồng nội tệ)

- Làm méo mó môi trưổng kinh doanh (vì một trong những thước đo

quan trọng nhất của nền kinh tế thị trưổng hiện đại là tỷ giá hối đoái bị bóp méo

- Sự méo mó trong môi trưổng kinh doanh dẫn tới sự lệch huống

trong đầu tư Do giá cả bị bóp méo, những chỉ báo cho biết việc lựa chọn hướng đầu tư bị sai lệch ngày càng nghiêm trọng X u hướng vay v ố n ngẩn hạn để tài trợ cho các d ự án dài hạn kém hiệu quả" để tiêu dùng xa xỉ, đầu cơ bất động sản, gia tăng Cơ cấu kinh tế của đất nước ngày càng mất cân đối, kém hiệu quả

- Vì thế, xuất hiện và gia tăng nhanh các mất cân đối lớn về tài tiền tệ (cán cân mậu dịch, cán cân thanh toán, cán cân vốn) Những mất cân đối này, đến lượt mình, gây áp lực ngược trở lại lên tỷ giá Đ ó là áp lực phá giá đổng nội tệ Càng duy trì tỷ giá cố định lâu, áp lực này càng lớn, sức phá hoại cũng càng lớn khi ngòi nổ (hành v i phá giá) được châm ngoi

chính-Thực tế ở Thái lan, nhiều tư nhân vay ngoại tệ rồi đổi sang đồng Baht

để đầu tư, hoặc cho vay để đầu tư vào các dự án bất động sản và các dư án khác Đến khi đồng Bath đột nhiên mất giá thì những khoản nợ phải trả tăng lên, và người ta tìm mọi cách bán đồng Baht để mua lại đồng đô la Mậ Khi tình trạng này xảy ra ở hàng loạt công ty thì tất yếu thị trường chứng khoan

sẽ suy giảm Như vậy, đây là cuộc khủng hoảng kết hợp trên cả lĩnh vưc ngân hàng, tiền tệ và thị trường chứng khoán Các con nợ gây áp lúc manh lên đồng nội tệ, đồng nội tệ bị mất giá dẫn đến các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và hậu quả là Thị trường chứng khoán sụt giảm Khi này hệ thống ngân hàng tràn ngập các khoản nợ khó đòi Cuộc khủng hoảng Đông Á vừa qua là thế đó

13

Trang 16

3 Sự yếu kém của hệ thông tài chính-ngân hàng

Hệ thống tài chính-ngân hàng (TC-NH) của Đông Á yếu kém như thế nào còn là vấn đề gây tranh cãi Bởi vì trong suốt 30 nam tăng trưởng "thần kỳ", khó ai có thể phủ nhận thành tích duy trì tỷ lệ tiết kiệm n ộ i địa (cao nhất thế giới) và hiệu quả của hoạt động đầu tư (tốc độ tăng trưởng và tốc độ biến đợi cơ cấu nhanh chóng theo hướng hiện đại hoa) của các nên kinh tê trong khu vực này Chính hệ thống TC-NH đã đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong thành tích đó

Nhưng có một thực tế khác cũng không bác bỏ được là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ cũng có nguyên nhân khởi phát từ chính sự yếu k é m của hẹ thống TC-NH vốn đã từng hoạt động rất hiệu quả trước đây V ấ n đề đặt ra không phải là tranh luận hệ thống đó trong giai đoạn tiền khủng hoảng

có yếu k é m hay không m à là ở chỗ tại sao nó lại bị xuống cấp nghiêm trọng như vậy

Sự phân tích từ nhiều góc độ cho thấy trong một thời gian dài, các nền

k i n h tế Đông Á đã nỗ lực tối đa cho tăng trưởng sản lượng m à không chú ý đúng mức đến sự phát triển của hệ thống TC-NH H ệ quả là tạo ra sự lệch pha cơ cấu ở hai mảng cấu trúc lớn nhất của hệ thống kinh tế thị trường hiện đại: giữa khu vực TC-NH và khu vực sản xuất-thương mại Sự lệch pha này dẫn đến chỗ khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đã đạt đến trình độ phát triển khá cao thì hệ thống TC-NH không thể đáp ứng được các yêu cầu của nó

K h i quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tăng tốc, các quy tắc vận động của các luồng sản phẩm và dòng vốn quốc tế thay đợi thì sự lệch pha này trở thành một điểm yếu sinh tử đối với bản thân các nền kinh tế đó Tính không tương thích này biểu hiện ở một số khía cạnh chính sau đây:

- Hệ thống TC-NH của các nước Đông Á nói chung đều bị phụ thuộc quá nặng nề vào các Chính phủ Do vậy, chúng không thể kinh doanh độc lập Từ đó, sản sinh ra tình trạng dưới áp lực của Chính phủ (trực tiếp là các quan chức Chính phủ), ngân hàng phải cho vay hàng loạt dự án k é m hiệu quả

và nhiều rủi ro, gia tăng tình trạng hối lộ và m ó c ngoặc giữa các nhà kinh doanh (kể cả kinh doanh ngân hàng) và các quan chức Chính phủ

Điển hình cho trạng thái này là Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc đã chỉ thị cho các ngân hàng phải cho các tập đoàn lớn vay (hoặc ngân hàng phải bảo lãnh cho các tập đoàn vay nước ngoài) những món tiền khổng lồ để đẩu tư vào nhiều dự án chậm thu hồi vốn nhưng kém hiệu quả Sản phẩm đương nhiên của phương thầc can thiệp này là nạn hối lộ và tham nhũng của các quan chầc Chính phủ Kết quả là trong thời gian gần đây, nhiều tập đoàn lớn đã bị phá sản với những món nợ nhiều tỷ USD, kéo theo nó là sự lung lay dữ dội của hệ thống TC-NH Uy tín Chính phủ bi sụt giảm nghiêm trọng Đất nước chìm trong nợ nần, nhất là nợ nước ngoài

Tại Thái Lan, với các cách thầc quản lý tài chính tiền tệ lỏng lẻo tai thời điểm trước khủng hoảng, hầu như toàn bộ dự trữ ngoại tệ của đất nước

Trang 17

đều bị "nhốt" vào các hợp đồng giao sau Do vậy, con số hơn 30 tỷ USD dự trữ chỉ là trên giấy Trên thực tế, nó teo lại còn 1,14 tỷ, tương dương với 2 ngày nhập khẩu Khi tin tức về sự mỏng manh này bị lộ ra ngoài trong điêu kiờn áp lực tỷ giá và nạn đầu cơ tiền tờ gia tăng, em hoảng loạn trên thị trường tài chính - tiền tờ bùng lên dữ dội ngay lập tức Lời tuyên bố phá giá đồng baht chỉ là giọt nước cuối cùng trong toàn bộ hoạt động quản lý, điêu hành hờ thống tài chính - tiền tờ yếu kém của cả Chính phủ lẫn khu vực tư nhân(24)

- Tinh trạng cho vay tay trong kéo dài đã làm xói mòn sức mạnh của

các ngân hàng Không tuân theo các nguyên tắc an toàn tối thiểu của hoạt

động TC-NH, ở Đông Á, các Chính phủ cho phép nhiều công ty thành lập

ngân hàng một cách dễ dàng Các ngân hàng này tồn tại trước hết với mục

đích huy động vốn để tài trợ cho các dự án của công ty mẹ hay của bạn bè

các ông chủ công ty và chủ ngân hàng Do hệ thống luật pháp TC-NH thiếu

chặt chẽ và nghiêm minh, việc cho vay tay trong này có độ rủi ro cao và

trong nhiều trưầng hợp, rất không minh bạch Theo nguyên lý hoạt động

ngân hàng, chỉ cần một ngân hàng đổ bể sẽ kéo theo sự đổ bể dây chuyền

trong toàn bộ nền kinh tế và gây nên các tổn thật vượt xa số tổn thất m à một

ngân hàng phải gánh chịu Vậy mà ở mỗi nước Đông Á, không phải chỉ có Ì

hay 2 ngân hàng như vậy

- Hoạt động giám sát và thanh tra TC-NH yếu kém Một trong những

cơ sở quy định tình trạng này, theo nhiều nhà phân tích quốc tế, là tính thiếu

công khai và rõ ràng trong hoạt động TC-NH Do thông tin bị bịt kín, khi

khủng hoảng nổ ra, việc hàng loạt công ty tài chính và ngân hàng thương

mại phải tuyên bố phá sản hoặc buộc phải đình chỉ hoạt động, dù là điều

không thể tránh khỏi, đã gây chấn động rất lớn do tính bất ngầ của nó

Vì thế, ngay sau khi sóng gió tiền tệ nổi lên thì hệ thống TC-NH của

các nước này cũng lâm vào tình trạng chao đảo dữ dội (phá sản) Chỉ một

thầi gian ngắn sau khi bùng nổ khủng hoảng, ở Thái Lan, hơn 30 công ty tài

chính và ngân hàng đã phải đóng cửa Chính phủ Indonesia đã đóng cửa 16

ngân hàng tư nhân, 7 ngân hàng lớn do làm ăn thua lỗ, còn 40 ngân hàng

khác phải đặt dưới sự quản lý và giám sát và quản lý trực tiếp của Chính phủ

Tình trạng cũng tồi tệ không kém đối với hệ thống ngân hàng Hàn Quốc,

quy m ô lớn của các khoản nợ ngắn hạn và khó có khả năng hoàn trả đã đặt 9

trong số 11 NH lớn nhất vào tình trạng gay go (1)

Những con số nêu trên mới chỉ phần nào m ô tả được thực trạng của hệ

thống TC-NH ở Đông Á Chỉ có thể hình dung rõ mức độ trầm trọng của tình

hình khi đặt nó vào trong hoàn cảnh chung rất khó khăn của nền kinh tệ, khi

so sánh giữa một bên là tốc độ tăng trưởng sản lượng rất cao với một bên là

năng lực bảo đảm hạn chế của hệ thống TC-NH cho sự tăng trưởng đó

Khi đặt vấn đề cải tổ và nâng cao năng lực hoạt động, hệ thống TC-NH

các nước Đông Á đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan Sau sự phá

15

Trang 18

sản hàng loạt công ty tài chính và ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc, mặc dù Chính phủ các nước này đã phải cam kết cho ngân hàng nước ngoài vào mua cổ phần và điều hành các ngân hàng bản địa như là một trong các điều kiện để đổi lấy nguồn tài trợ theo chương trình của IMF, song chính tình trạng không rõ ràng về quản lý và k ế toán, sọ m ù m ờ về thông tin nêu trên trong khung cảnh một sọ yếu kém nói chung của hệ thống TC-NH và độ bất ổn định vĩ m ô cao (rủi ro lớn) làm cho các ngân hàng nước ngoài không dám mạo hiểm chia sẻ rủi ro với các ngân hàng bản địa (dù họ đã rất sẩn sàng tham dọ cuộc chơi có mức lợi nhuận tiềm năng rất cao này) do không thể biết được chính xác mức độ rủi ro m à các ngân hàng bản địa đang lâm vào

4 Sọ gia tăng nhanh chóng của nạn đầu cơ tiền tệ

Sọ phát triển nhanh chóng của nạn đầu cơ tiền tệ ở Thái L a n trước

khủng hoảng, sau đó lan rộng ra các nước khác là hậu quả không thể tránh khỏi của tình trạng tích nén các mất cân đối vĩ m ô và những m é o m ó trong nền k i n h t ế suốt trong một thời gian dài Nhưng đến lượt mình, nó chính là tác nhân trọc tiếp, là ngòi nổ của khủng hoảng

Sọ phát triển của hoạt động đầu cơ tiền tệ bắt nguồn từ dọ đoán về quyết định phá giá đồng nội tệ (thả n ổ i tỷ giá) Dọ đoán này dọa trên một cơ

sở thọc tiễn vững chắc là áp lọc đối với tỷ giá đang gia tăng do tác động của

hàng loạt yếu tố (một số yếu tố then chốt nhất đã nêu ở 2 mục trên) Các nhà

kinh doanh, nhất là những người đầu cơ tiền tệ, lao vào cơn lốc vay m ư ợ n đồng n ộ i tệ để mua USD tích trữ, chờ cơ hội bán lại kiếm lời

Điều đó làm cho tăng nhanh áp lọc lên tỷ giá vốn đã rất căng thẳng; làm cho cạn kiệt nhanh chóng nguồn vốn của ngân hàng; hoạt động tín dụng ngày càng dọa trên một cơ sở đầy rủi ro là thế chấp các tài sản bất động sản, các cổ phiếu công ty chất lượng thấp đang bị mất giá nhanh chóng; rối loạn hoạt động lưu thông tiền tệ và gây đình trệ sản xuất

Những áp lọc này gia tăng đến một mức nào đó đã buộc các Chính phủ, trước hết là Thái Lan, tuyên bố phá giá Sau lời tuyên b ố phá giá, cơn hoảng loạn xảy ra Từ đó,hầu như không có cách nào có thể ngăn cản sọ mất giá đồng nội tệ trong một thời gian ngắn Việc chính phủ Thái Lan phải tung

ra hàng chục tỷ USD dọ trữ (các nưóc khác như Malaysia, Indonesia, Philippines cũng hành động như vậy tuy ở mức độ ít hơn) chỉ là thao tác

"muối bỏ bể" H ơ n thế, việc tung dọ trữ ngoại tệ ra với k h ố i lượng lớn làm cho quỹ dọ trữ ngoại tệ hao hụt nhanh, cán cân thanh toán quốc tế mất cân đối trầm trọng hơn và khả năng bảo đảm an toàn nhập khẩu giảm thấp, áp lọc tỷ giá lại gia tăng Từ đó, hình thành nên dòng xoáy mất giá tiền tệ T ạ i đỉnh điểm của cơn xoáy lốc này, đồng Baht Thái L a n và đồng W o n Hàn quốc mất giá khoảng 5 0 % , đồng Rupiah Indonesia mất giá hơn 8 0 % , đồng Ringit Malaysia và Peso Philippines tuy mất giá ít hơn nhưng cũng lên đến 30-40%

Trang 19

Tất nhiên, sự mất giá tiền tộ chịu tác động của nhiều yếu tố khác, đặc biệt là sẽ mất lòng tin của dân chúng và giới kinh doanh vào Chính phủ, vào triển vọng cứu trợ từ bên ngoài, là tâm lý hoảng loạn trong lĩnh vực tiền tệ Song căn gốc của vấn đề là ẩ tình trạng ngày càng xấu đi của các biến số kinh tế vĩ m ô cũng như trong cách điều hành chính sách của các Chính phủ không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn

Không bàn đến sự kiện có hay không có â m m ư u phá hoại của ai đó, bản thân hoạt động đẩu cơ tiền tệ trong trường họp các nền kinh tế khủng hoảng rõ ràng là hậu quả tất yếu của sự yếu kém trong nền kinh tế, trước hết

là trong hệ thống TC-TT, của cách xử lý của Chính phủ trong việc giảm áp lực tỷ giá (phá giá "giạt cục" khi không chịu nổi sức ép thực tiễn chứ không phải nới lỏng các áp lực một cách có hệ thống) Còn khi cơn lốc đầu cơ tiền

tệ đã cuốn nền kinh tế vào dòng xoáy bất ổn định thì bản thân hành v i đầu

cơ trẩ thành tác nhân-xung lực của khủng hoảng chứ không đơn thuần chỉ là hậu quả của các yếu tố khác

Đ ổ n g thời, cần thấy rằng â m m ư u đầu cơ tiền tệ (dù là nhằm mục tiêu phá hoại- như thủ tướng Maiãysia đã buộc t ộ i ông G.Soros, là một trong những nhà tư bản lớn nhất trong lĩnh vực tài chính quốc tế, là tác nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng TC-TT Đông Á vừa qua như là một bộ phận của

â m m ư u phá hoại mang tính quốc tế) chỉ có thể thực hiện được một k h i nền

k i n h tế cũng như hệ thống tài chính của một nước nào đó bị r ố i loạn hoặc

t i ề m chứa đầy các nguyên nhân gây rối loạn đủ chúi muồi H ơ n thế, n o i chung, đầu cơ tiền tệ, giống như m ọ i thao tác đầu cơ khác, là hiện tượng khá thông thường trong cơ chế thị trường Trong điều kiện bình thường, đầu cơ

có tác dụng tái lập sự cân bằng của lưu thông hàng hoa và giá cả Nhưng đầu

cơ sẽ gây nguy hại lớn một khi nó nằm trong chủ đích thu l ợ i nhuận siêu ngạch của các thế lực tài chính hùng mạnh bằng cách gây ra tình trạng bất

ổn kéo dài giữa sự khan hiếm và dư thừa tiền tệ

5 Xu hướng gia tăng tình trạng mất cân đối trong cơ cấu kinh tế

Việc trình bày một số nguyên nhân khủng hoảng phát sinh từ chính lĩnh vực TC-TT ẩ phần trên cho thấy khâu nối trực tiếp giữa hậu quả và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Nhưng sự đan xen phức tạp cua các quan hệ trong nền kinh tế có nghĩa rằng bản thân cuộc khủng hoảng này còn

có gốc rễ từ những yếu tố sâu xa, căn bản và có nền tảng rộng hơn Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, m ọ i sự mất cân đối, bất ổn định va r o i loạn đều thể hiện trước hết thông qua các mất cân đổi và bất ổn đinh TC-TT

M ọ i cuộc khủng hoảng TC-TT đều có nguyên nhân trực tiếp từ đây song có

cơ sẩ vượt ra ngoài lĩnh vực TC-TT Đ ố i với cuộc khủng hoảng TC-TT Đông

Á, quy luật này được minh chứng hết sức rõ ràng N ó có nguồn gốc từ sư tích đọng các mất cân đối kinh tế vĩ mô Thậm chí, ẩ một mức độ rộng lớn hơn, từ cả những mất cân đối trong cấu trúc xã hội phát sinh trong qua trinh

T H ư V I _ N '

T R U Ô N G DAI M Ó C

N G O A I T H l i 0 N B

Trang 20

Nói chung, các nền k i n h tế Đông Á đều có quá trình cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoa rất nhanh Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu giải thích sự thần kỳ Đông Á trong sự so sánh với các khu vực đang phát triển khác trên thế giới V à chính việc theo đuổi m ô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu là động lực chính yếu kiến tạo nên các kết quả

đó

Tuy nhiên, có một điều khá rõ ràng là trong quá trình đó, cùng với những bước nhảy vọt về cơ cấu, trong các nền kinh tế này cũng dần dần tích đọng hàng loạt sự mất cân đứi, hay nói đúng hơn, gia tăng x u hướng phát triển lệch pha cơ cấu trong sự so sánh với xu hướng biến đổi của nền kinh tế

đó Trong bứi cảnh ngày nay, đây chính là sự mất cân đứi có tác động kìm hãm và phá hoại của nền kinh tế hiện đại Thực tế cho thấy khi xu hướng tự

do tài chính quức tế được đẩy mạnh, dòng vứn nước ngoài đổ vào Đông Á ồ

ạt trong khoảng 1985-96 thì hệ thứng TC-NH Đông Á hoàn toàn chưa được chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiếp nhận nó một cách hiệu quả Sự dễ dãi của các ngân hàng trong việc cho vay vứn hay bảo lãnh vay n ợ nước ngoài làm cho các yếu tứ rủi ro bị đánh giá thấp Kết cục là gia tăng nhanh sứ dự

án đầu tư k é m hiệu quả, nhiều rủi ro Như vậy là sự mất cân đứi cơ cấu tổng thể (giữa khu vực TC-NH và khu vực kinh doanh còn lại), nảy sinh và tích đọng những mất cân đứi trong cơ cấu sản xuất-kinh doanh

Thứ hai, yếu tứ hàng đầu đảm bảo tính bền vững của quá trình tăng

trưởng là hệ thứng cơ sở hạ tầng cũng đã bị tụt hậu rõ rệt so với sự phát triển kinh tế Trong khi vẫn theo đuổi mục tiêu hàng đầu là tăng trưởng sản lượng, các nền kinh tế khu vực không thể tự bảo đảm nguồn vứn để phát triển K h i

đó, có thể dự đoán tính hiệu quả của các nền kinh tế này sẽ có xu hướng sụt giảm về lâu dài D ự đoán này là yếu tứ quan trọng làm tăng dần m ứ i hoài nghi đứi với triển vọng phát triển lâu dài của Đông Á K h i đó, chỉ cần một dấu hiệu về sự bùng nổ bất ổn định cũng đủ để gây ra trạng thái hoảng loạn trong giới đầu tư quức tế Dòng vứn nước ngoài đứng trước nguy cơ của một cuộc tháo chạy ồ ạt, đẩy nền kinh tế vào một cơn choáng sức nặng

Song song với tình trạng mất cân đứi toàn bộ nêu trên, trong các nền

Trang 21

khu vực) Sự chênh lệch phát triển rất lớn giữa các vùng, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn Tình trạng này bộc lộ rõ nhất ở Thái Lan, Indonesia, Philippines N ó gây ra những hậu quả lâu dài và to lớn đối với mục tiêu tăng trưởng-phát triển nhanh bền vững do không huy động tốt thế mạnh phát triển của các vùng, đứng thời duy trì và làm tăng tình trạng bất bình đẳng xã hội Đây là nguyên nhân sâu xa của nguy cơ bất ứn định chính trị-xã hội, của sự mất lòng t i n vào Chính phủ, yếu tố sẽ bùng nứ và huy hoại các thành quả phát triển hết sức nhanh chóng một khi có cơ hội Sự lệch hướng đầu tư bị sự thống trị hoặc chi phối của các tập đoàn kinh doanh hùng mạnh và có vị thế độc quyền trong nền kinh tế thúc đẩy mạnh hơn nữa Sự phát triển nhanh chóng của các tập đoàn độc quyền (như các Cheabol ở Hàn Quốc hay các tập đoàn gia đình trị ở Indonesia ) là kết quả của chiến lược tạo lập thật nhanh, bằng m ọ i giá một cơ cấu công nghiệp hùng mạnh cho đất nước và m ố i liên kết chặt chẽ giữa Chính phủ và các công ty khứng lồ, trong đó Chính phủ hỗ trợ tối đa cho các công ty này, thậm chí bằng cả những biện pháp can thiệp phi thị trường

Trong hơn ba thập niên lãnh đạo quốc gia, các nhà lãnh đạo Đông Á

đã tạo ra xung lực mạnh cho sự phát triển kinh tế nhờ biết lựa chọn những chiến lược cơ cấu hướng vào mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh quốc tế trên

cơ sở tạo dựng một tiềm lực công nghiệp hùng mạnh và hiện đại cho đất nưốc Các tập đoàn kinh doanh nhanh chóng trở thành những thể chế tầm cỡ

t h ế giới và thế lực độc quyền chi phối nền kinh tế nội địa được hình thành dưới sự bảo trợ tối đa của nhà nước Trong khoảng 30 năm, mức tiết k i ệ m

cao ở các nước này chủ yếu được đứ vào các ngành công nghiệp và tập đoàn

kinh doanh do các nhà lãnh đạo lựa chọn Mặc dù không thể phủ nhận vai trò của cơ cấu công nghiệp này trong quá trình tăng trưởng nhanh của các nền k i n h tế Đông Á, song, đến một giới hạn nhất định, mặt trái của vấn đề

đã bộc lộ khi cơ cấu này tỏ ra kém hiệu quả và môi trường trong nước bị bóp

m é o ngày càng nghiêm trọng Gần đây, dưới tác động của cách d i chuyển cơ cấu kiểu "làn sóng" hay " m ô hình đàn sếu bay" trong khu vực, Chính phủ các nước Đông Á đều lao vào chọn các chương trình đầu tư khứng l ứ vào ngành ô tô, chế tạo điện tử và máy tính với công nghệ cấp hai trong k h i trên thực tế, thị trường đang có xu hướng bão hoa Giải pháp tài chính để thực hiện nhanh chóng các chương trình này chủ yếu là vay nợ nước ngoài (một phẩn đáng kể là nợ ngắn hạn) và một phần dựa vào nguồn F D I từ nước khác trong khu vực Kết quả tất yếu là khi thị trường thế giới biến động (xuất hiên những đối thủ cạnh tranh mới, thị trường không còn khả năng hấp thụ thèm sản phẩm, các quốc gia-thị trường chủ yếu thay đ ứ i chính sách thương mai ) thì lập tức xuất hiện và gia tăng tình trạng thâm hụt trong cán cân thanh toán của đa số các nền kinh tế Đông Á

Sự lệ thuộc vào tốc độ tăng trường cao, vào thị trường bên ngoài-điểm yếu của m ô hình tăng trưởng nhanh dựa chủ yếu vào xuất khẩu vốn đã từng rất hiệu quả- đã bộc lộ và gây tác động Cấu trúc kinh tế dựa chủ yêu vào các tập đoàn kinh doanh độc quyền khứng lồ đặt dưới sự bảo trợ mang tính "bao

Trang 22

cấp" của nhà nước đã không thể thích nghi kịp thời với những thay đ ổ i của điều kiện phát triển mang tính toàn cầu Trạng thái mất cân đ ố i cơ cấu nghiêm trọng thoạt đầu bùng nổ dưới dạng khủng hoảng TC-TT là điều không thể tránh khỏi trong nền kinh tế thị trường hiện đại và có độ m ỉ cửa cao Nhung chắc chắn khủng hoảng TC-TT chỉ là bước đầu tiên

(Có the nêu thêm một số yếu tố khác đóng vai trỏ là nguyên nhân khởi phát của cuộc khủng hoảng TC-TT Đông Á hiện nay như: chế độ làm việc được bảo đảm suốt đời (Hàn Quốc), việc duy trì quá lâu kiểu can thiệp phi kinh tế của nhà nước vào hệ thống thị trưởng, cách thức gia đình trị trong hoạt động kinh doanh (ởIndonesia) -những nguyên nhân liên quan đến cấu trúc chính trị xã hội của các nước Đông Á,nhưng trong phạm vi đề tài chúng tôi không đi sâu phân tích các nguyên nhân đó.)

ni. NHŨNG TÁC ĐỘNG CỦA cuộc KHỦNG HOẢNG TÀI

CHÍNH-TIỀN TỆ ĐÔNG Á

động của cuộc khủng hoảng ở mức độ khác nhau Nhưng nhìn chung có thể

1 Các tác động tiêu cực

N h ư ở phẩn trên đã phân tích, hậu quả tiêu cực m à cuộc khủng hoảng

gây ra là rõ ràng toàn diện và hết sức nghiêm trọng cho m ỗ i quốc gia đang bị khủng hoảng, cho khu vực và cho cả thế giới Những hậu quả dễ nhận thấy nhất và phổ biến nhất trong toàn khu vực tại các trung tâm khủng hoảng chính là sự mất ổn định của đồng tiền và của các thị trường tiền tộ của m ỗ i nước và khu vực, là sự giảm sút các luồng vốn nước ngoài đổ vào m ỗ i nước

và toàn khu vực, là sự giảm sút ngay cả đầu tư trong nước do lãi suất cao và yếu tố lòng tin; từ đó, làm giảm sút tốc độ tăng trường kinh tế của các nước này và toàn khu vực, toàn thế giới nói chung đi đôi với gia tăng tình trạng thất nghiệp và lạm phát cao; cũng như làm tăng nợ nước ngoài bang ngoại tệ

do sự mất giá của đồng bản tệ so với đồng đô la M ỹ và do phải thu hút thêm các khoản tín dụng quốc tế mới để vượt qua khủng hoảng

Những tháng đầu năm 1998 thực sự là thời kỳ tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng Tính đến tháng 1/1998, tất cả các đồng tiền trên đều bị mất giá

từ 70-100% so với cuối tháng 6 năm 1997, có thời điểm đồng Rupiah mất giá tới 5 0 0 % Do đồng n ộ i tệ mất giá, số dư nợ của các nước đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là bằng đồng nội tệ Số dư nợ không trả được lãi từ 6 tháng trỉ lên tăng từ 10-20% H ệ thống ngân hàng bị tê liệt, nhiều ngân hàng bị phá sản, cuối cùng dẫn tới nền kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng

Trang 23

Bằng các nỗ lực của Chính phủ và trợ giúp của IMF và các tổ chức tài

chính khác, đồng tiền của các nước đã phục hồi dần dần Tuy nhiên, tháng 3

năm 1998 các đồng tiền lại nhất loạt mất giá do tác động của sự suy giảm

đồng Yên và lo lắng về sự mất giá của nó Kết quả là, tể tháng 7/1997 đến

cuối tháng 3/1998, đồng Rupiah mất giá 250%, các đồng Baht, Peso và

Ringgit mất giá 40-45%, đông Won mất giá 50% Các đổng tiền khác trong

khu vực không bị phá giá song cũng bị giảm đáng kể Đồng đô la Đài Loan

giảm 1 5 % và đồng đô la Singapore mất giá 10%

Giống như hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán

cũng có biểu hiện giảm xuống trông thấyr Trong vòng tể 1/1997 đến tháng

1/1998 huy động vốn tể thị trường chứng khoán giảm tể 302 tỷ USD xuống

còn 97 tỷ ŨSD, giảm hơn 3 lần

Mặc dù các nền kinh tế đã có những dấu hiệu khôi phục nhưng tới cuối

năm 1998, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á còn khá nặng

nề So vói thời điểm khởi đầu các đồng tiền trong khu vực lần lượt mất gia

mạnh Có thể thấy được qua biểu đồ 1.1 dưới đây

Biểu đồ 1.1.: Mức độ mát giá của đồng tiền trong

khu vực so với đồng USD

Nguồn: Châu Á từ khủng hoàng nhìn về thế kỷ 21-Nhà xuất bản thành phô Hồ

Chí Mình, Trung tâm VAPEC, Thời báo kinh tế Sài Gòn 2000

Cùng vói tăng trưởng chậm, mất giá đồng nội tệ, tình trạng lạm phát cũng trở nên nghiêm trọng hơn, thể hiện qua bảng 1.2

Trang 24

1998, Hàn Quốc là nước duy nhất đạt được con số này, tăng 30% Có nhiều

lý do xuất khẩu không tăng, trong đó phải kể đến không sử dộng hết công suất và lao động Tại Thái Lan 7 0 % các công ty hoạt động dưới công suất, trong đó 5 0 % cắt giảm lao động

FDI thực hiện ở các nước ASEAN cũng giảm mạnh Tại những nền kinh tế chủ chốt trong khu vực, sau một năm FDI giảm từ 30-50% (số liệu của Ban thư ký ASEAN) Điều này cùng với việc không sử dộng hết công suất của các dự án FDI đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng

Ngoài ra, còn có những tác động khác không kém phần nặng nề đối với các nền kinh tế chủ chốt trong khu vực là tình trạng phá sản liên tiếp xảy

ra, nhiều ngân hàng phải đóng cửa

Trong bảng xếp hạng mức độ cạnh tranh của các quốc gia năm 1998, các nền kinh tế chịu khủng hoảng ở Đông Nam Á bị xuống hạng rất nhiều so với năm 1997: Indonesia giảm 16 bậc, Malaysia giảm 8 bậc và Thái Lan giảm 3 bậc

Trang 25

Lịch sử khu vực trong vòng nửa thế kỷ nay chưa bao giờ lại có đạt "đại

hạ giá" đồng loạt các đồng tiền khu vực với số lượng lớn, tốc độ cao và trong

khoảng thời gian ngắn như những năm vừa qua Cũng có lẽ chưa ở đâu và

chưa bao giờ lại có sự ra đi hàng loạt của các quan chấc Chính phủ, của các ngành TC-NH bởi các vụ bê bối và chấn động trong các lĩnh vực này nhiều đến như vậy

Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho các nước châu Á ít nhất 300 tỷ USD, bằng khoảng 2 0 % GDP của các nước bị khủng hoảng và làm thiệt hại chung cho toàn thế giới khoảng 500 tỷ USD Có tới trên 150 tỷ Ư S D đầu tư tài chính đã rút khỏi Đông Nam Á Các nhà đầu tư nước ngoài giảm sút lòng tin, F D I đổ vào Châu Á bị sụt giảm mạnh và tiếp tục ở mấc thấp trong một

sô năm đẩu thế kỷ 21 Hậu quả của cuộc khủng hoảng lòng tin cũng sẽ khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài rụt rè, thận trọng han khi đầu tư vào các nơi khác Do vậy, đến lượt mình, tình trạng thiếu vốn đầu tư sẽ tạo nên các cuộc khủng hoảng nhỏ kiểu Châu Á ở Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi, Braxin, Argentina, Balan Hậu quả dẫn đến sự gia tăng mấc cạnh tranh gay gắt nhằm thu hút FDI giữa các nước trong khu vực và với các nước khác

Sự phá giá đồng tiền bản tệ đã làm gia tăng các chi phí dịch vụ n ợ và chất thêm gánh nặng nợ nần lên vai các con nợ, làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán, phá sản của các công ty này; đặc biệt là những công ty phục vụ thị trường trong nước m à nhu cầu đang giảm sút nhanh chóng T ạ i Indonesia, do phá giá tiền tệ, tỷ lệ nợ ngân hàng nước ngoài trên GDP đã tăng vọt từ 3 5 % lên 140% Phá giá đồng tiền bản tệ ở những nước có tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu cao (ví dụ như Thái Lan lên tới 4 2 % giá trị sản phẩm nhập khẩu) sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu đẩy giá thành lên cao, giảm sấc cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Một hậu quả khác không thể tránh khỏi là tình trạng "bong bóng" bất động sản vỡ tung, các ngân hàng rơi vào tình trạng gánh chịu một đống nợ khó đòi hoặc gìn giữ bất đắc đĩ một lượng tài sản the chấp ngày càng mất giả nghiêm trọng và khó bán Vì lo sợ về tình trạng mất khả năng thanh toán của các con nợ, các chủ nợ và các chủ đầu tư nước ngoài thít chặt hầu bao dự trữ ngoại hối quốc gia ngày càng giảm

Đ ổ n g bản tệ hạ giá cũng có nghĩa là lạm phát gia tăng sẽ làm tăng mấc sống thực tế của người làm công ăn lương, những căng thẳng và bất ổn định

xã hội cũng vì thế m à tăng lên Điều này có thể thấy rõ qua sự thay đổi nội các ở Thái Lan và đặc biệt là sự thay đổi bộ máy chính quyền ở Indonesia và ngay cả Nhật Bản Khủng hoảng không chỉ làm tăng nhanh chóng lượng người thất nghiệp ở các nước trong khu vực m à còn ở các nước bạn hang của

họ do sự thu hẹp quy m ô nhập khẩu vì khủng hoảng

2 Các tác động tích cực:

Cuộc khủng hoảng đã không chỉ hoàn toàn gây tác hại cho các nước trong khu vực chịu tác động của nó, m à còn như Tổng thống Hàn Quốc K i m

Trang 26

Dae l u n g đã khẳng định: " muốn biến cuộc khủng hoảng này thành một cơ hội để cải biến nền kinh t ế " nước mình, cuộc khủng hoảng đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, kéo dài hàng thập kỷ và dựa chủ yếu vào các nguồn vốn nước ngoài của các nước trong khu vực, để chuyển sang một giai đoạn mới đặc trưng bởi nhịp độ tăng trưởng ôn hoa hơn, quan trợng hơn và dựa vào sức mình nhiều hơn:

Thứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt sẽ giúp các

Chính phủ giảm thiểu được lượng ngoại tệ can thiệp để g i ữ giá bản tệ như trước đó, giúp tăng dự trữ quốc gia về lâu dài, với đồng bản tệ rẻ sẽ khuyến khích và tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, tò đó cải thiện những cân đối tài chính của đất nước

Thứ hai, cuộc khủng hoảng giúp định hướng lại và cải thiện cơ cấu

đầu tư, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia Các khoản chi kém hiệu quả

sẽ bị điều chỉnh cắt giảm, các dự án tư nhân sẽ được khuyến khích Qua trinh

tư nhân hóa và việc giảm bớt sự độc quyền, sự can thiệp và bao cấp của Chính phủ trong khu vực kinh doanh sẽ được xúc tiến tích cực, kiên quyết và rộng khắp hơn Có thể nói, cuộc khủng hoảng như một cú tác động mạnh mẽ

để xốc lại cơ cấu kinh tế cho cho cân bằng, hợp lý và hiệu quả hơn, tạo ra sức ép buộc các chủ đầu tư phải thay đổi thích ứng với tình hình mới, thúc đẩy những sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh xuất khẩu cao hơn

Thứ ba, cuộc khủng hoảng ít nhiều góp phần và là dịp để Chính phủ

và nhân dân m ỗ i nước trong khu vực cũng như các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế xem xét lại bản thân, bổ khuyết những thiếu sót cả về chính sách, thể chế lẫn về nhân tố con người từ đó tạo ra những xung lực tích cực m ớ i cho

sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững cả ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế

vớ tư cách là một chỉnh thể hữu cơ Quá trình tự do hoa, toàn cầu hoa sẽ được đẩy lên một nấc mới, một phần nhờ các chương trình điều chỉnh kinh tế rộng rãi theo hướng này ở các nước trong khu vực, đổng thời là kết quả của

sự hợp tác giữa các nước trong khu vực trong nỗ lực vượt qua khủng hoảng

Trang 27

C H Ư Ơ N G li ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI - CHÍNH TIÊN TỆ CHÂU Á ĐẾN DẤU Tư

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

L roi TẠI VỆT NAM TRƯỚC KHỦNG HOẢNG (TRƯỚC NĂM 1997)

1 Tình hình thu hút FDI ở Việt Nam

1.1 Lượng vốn, lượng dự án và quì mô dự án qua các năm

Trong giai đoạn này FDI vào Việt Nam tăng mạnh cả về số lượng dự

án và tổng vốn đầu tư đăng ký Nếu trong vòng ba nấm đầu thu hút đầu từ

Việt Nam mỳi chỉ có 211 dự án FDI thì con số này của riêng năm 1993 đã là

273 và năm có số lượng dự án được cấp phép cao nhất trong thòi kỳ này là

Biểu đồ 2.1.: Tổng vốn FDI đãng ký và bổ sung

1991-1996

1991 1992 1993 1994 1995 1996

Nguồn: Vụ quản lý dự án - Bộ Kế hoạch Đẩu tư

năml995 vỳi 412 dự án Bình quân trong giai đoạn này số dự án tăng thêm 42,7%/năm Trừ năm 1997 là năm tổng vốn FDI đăng ký giảm, còn trong

giai đoạn 1988-1996 tổng FDI đăng ký vào Việt Nam liên tục tăng vỳi tốc

độ cao, tức là khoảng trên 30%/năm, năm cao nhất chỉ số này đạt tỳi 62 5 %

đó là năm 1995 so vỳi 1994 Vỳi tốc độ tăng tổng vốn đăng ký cao như vậy

qui m ô trang bình của các dự án FDI cũng được nâng lên rất nhiều, đặc biệt

25

Trang 28

là trong năm 1995 và 1996 Nếu như từ 1988 đến năm 1994 qui m ô vốn đầu

tư chỉ tăng từ 7.5 triệu USD/dự án lên 10.97 triệu USD/ dự án (nghĩa là tăng

khoảng 46.2%) thì qui m ô dự án năm 1995 đã tăng 46.4% so với năm 1995

và 114% so với qui m ô dự án bình quân trong ba năm 1988-1990 N ă m 1996

qui m ô dự án tiếp tục tăng với tốc độ rất cao, 46.2% so với năm trước Vậy là

chỉ trong vòng 9 năm 1988-1996 qui m ô dự án FDI đã tăng gấp 3 lần Tất cả

những chỉ tiêu trên chứng tỏ Việt Nam đã rất nỗ lực trong thu hút FDI và sức

hấp dởn của môi trường đầu tư ở Việt Nam ngày càng cao tại thời điểm đó

Mặc dù khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á nổ ra vào giữa năm

1997, nhưng những dấu hiệu của nó thì đã xuất hiện từ trước và chúng phần

nào ảnh hưởng đến dòng FDI vào Việt Nam, đặc biệt là vốn đăng ký N ă m

1997, mặc dù số lượng dự án FDI vởn lớn (331 dự án bằng 9 0 % năm 1996)

nhưng tổng vốn đăng ký giảm mạnh chỉ bằng 52.2% so với năm 1996 chính

vì vậy mà qui m ô dự án trong năm 1997 cũng chỉ bằng 58.1% năm 1996

1.2 Cơ cấu đầu tư

- Theo chủ đầu tư

Đến hết năm 1997 đã có 67 nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, trong đó 10 nước và vùng lãnh thổ đã có tổng FDI vào Việt Nam

trên Ì tỷ USD Tổng cộng vốn đăng ký của các dự án của l o quốc gia này ở

Việt Nam lên tới 25,149 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng vốn FDI đăng ký ở Việt

Nam

10 nước và khu vực đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam và ASEAN Các

nước ASEAN chủ yếu đầu tư vào công nghiệp chế biến và lắp ráp, du lịch và

dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ yếu dưới hình thức liên doanh với quy

m ô vừa và nhỏ

Các nước châu Á luôn dởn đầu trong FDI tại Việt Nam Tính đến cuối năm 1997, tổng FDI của các nước châu Á vào Việt Nam chiếm tới 71 5 %

tổng FDI vào Việt Nam Trong số l o quốc gia có số vốn đầu tư lớn nhất vào

Việt Nam có tới 6 quốc gia châu Á N ă m vị trí đầu tiên lần lượt thuộc về

Singapore, Đài Loan, Hổng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc Các nước

ASEAN rất tích cực đẩu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư chiếm 24 8%

tổng FDI vào Việt Nam trong giai đoạn này

Nhật Bản : chiến lược đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản là tìm thị

trường tiêu thụ tại nước sở tại, xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba thậm

chí xuất khẩu trở lại Nhật Bản Do đó, các chủ đầu tư Nhật Bản thường muốn

tìm nơi đầu tư gần Nhật, tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ

chuyển vào nơi đó những ngành có giá trị gia tăng thấp, nhằm tận dụng ưu

thế về nguyên liệu và lao động rẻ ở các nước nhận đầu tư Nhật Bản chủ yếu

đầu tư vào ngành thúy sản, sản xuất hàng điện tử, ô tô, xe máy, tại Việt

Nam

Trang 29

Châu Âu : khu vực các nước Châu Âu chiếm khoảng 20,51 % tổng FDI vào Việt Nam, trong đó Pháp: 5,42%, Hà Lan: 1,79%, Anh: 1,72%, Đức: 0.6% Nhìn chung các nhà đầu tư châu Âu vẫn dè dặt trong đầu tư vào Việt Nam So với tiềm lực tài chính của họ và tổng vốn đầu tư của họ thì FDI vào Việt Nam không đang kể

Biểu đồ 2.2.: Cơ câu FDI vào Việt Nam theo

chủ đầu tư nước ngoài giai đoạn 1988-1997

7,8 0,2

• Châu á ta Châu  u D Châu Mỹ • Các khu vực khác

Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ Kế hoạch và Đấu tư

Châu Mỹ: chiếm khoảng 7,82% Mặc dù Mỹ là người đến sau trong đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhưng tham gia rột tích cực vào quá trình này Mỹ chiếm 3,48% xếp thứ 8 Canada: 0,58% Thòi gian đầu chủ yếu là các công ty nhỏ, ít vốn đầu tư vào các dự án nhỏ, trừ một số công ty dầu lửa lớn Từ khi Mỹ bỏ lệnh cộm vận đối với Việt Nam, các dự án qui m ô lán thời gian hoạt động dài ngày càng tăng

- Theo lĩnh vực đẩu tư

Nông - lâm nghiệp chiếm 3.8%; thúy sản 1.1%; Công nghiệp xây dựng 11.7%; khách sạn - du lịch 12.3%; giao thông vận tải - bưu điện 8.9%; tài chính ngân hàng 0.1%; văn hoa - y tế - giáo dục 1.2%; các ngành dịch vụ khác 24.2%

36.7% Theo địa bàn đẩu tư

Trong giai đoạn khỏi đầu này, hầu hết các tỉnh, thành phố của Việt Nam đã thu hút được FDI (59/61) Phân bố FDI không đều giữa các vùng chủ yếu tập trang vào những tỉnh thành phố lớn, có điều kiện kinh tế - xã hội

và cơ sở hạ tầng thuận lợi

Sáu địa phương thu hút được hơn Ì tỷ USD đó là: thành phố Hồ Chí Minh (8857,5 triệu USD); Hà Nội (6970,9 triệu USD); Đồng Nai (3258 9 triệu USD); Bà Rịa - Vũng Tàu (2249 triệu ƯSD); Hải Phòng (1456,4 triệu

Trang 30

USD) và Bình Phước - Bình Dương (1190,9 triệu USD) Sáu tỉnh thành phố này chiếm tói 76,4% tổng FDI đăng ký tại Việt Nam

Trong giai đoạn này hình thức đầu tư chủ yếu là liên doanh và chiếm

6 2 % số dự án và 7 0 % số vốn đầu tư Hình thức 100% vốn nước ngoài có xu hướng tăng lên do chính sách thu hút FDI của Việt nam thay đổi và các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được đối xử công bằng như đối với các doanh nghiệp liên doanh, cụ thể hình thức này chiếm 3 0 % số dự

án và 2 0 % vốn đầu tư Các chủ đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bồn, Đài Loan dẫn đầu trong loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam Các dự

án dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chỉ chiếm 8% số dự án và 10% số vốn đầu tư

2 Tình hình triển khai các dự án FDI trong giai đoạn này

Tình hình triển khai các dự án FDI ở Việt Nam giai đoạn 1988 - 1997 xem Phụ lục SỐ2

- Tỷ lệ vốn thực hiện trong tổng vốn đầu tư tăng dẩn qua các năm : năm 1991 mới là 16.5% thì năm 1997 là 72%

- Tỷ lệ vốn pháp định thực hiện trong tổng vốn đầu tư chiếm khoồng 50%, tăng từ 26-28% năm 1991-1992 lên 62.7% năm 1997 Bên Việt Nam thực hiện 64.9% vốn pháp định, bên nước ngoài thực hiện 43.7% Đây là dấu hiệu đáng mừng thể hiện Việt Nam đang nô lực sử dụng nguồn vốn FDI vào quá trình phát triển kinh tế

Biêu đồ 2.3.: Vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 1991-1996

Trang 31

3 Những đóng góp tích cực của FDI cho nền kinh tế Việt Nam

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở v i ệ t Nam đã phát

triển nhanh chóng trong vòng l o năm vừa qua và trở thành một bộ phận

quan trọng của nền kinh tế quốc dân (Xem phụ lục số 3)

- FDI là nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế của Việt Nam, là nhân tố ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế

Trong tỷng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, khu vực FDI chiếm tỷ lệ khá và tăng dần qua các năm, năm 1995 là 25,1%, năm 1996 là 26,7% và năm 1997 là 28,9%2 Tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI luôn cao hơn khu vực có vốn đầu tư trong nước nên đã góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế ở mức cao

Biểu đồ 2.4.: Doanh thu khu vực FDI tại Việt Nam 1991-1996

(Triệu USD)

1991 1992 1993 1994 1995 1996

Nguồn: Vụ quản lý dự án - Bộ Kế hoạch Đầu tư

- Đóng góp trong GDP Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có

vị trí ngày càng tăng trong GDP của Việt nam, cụ thể:

- Chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý : Nhiều công nghệ hiện đại ứên thế giới đặc biệt là trong ngành dầu khí và viễn thông Góp phẩn nâng cao năng suất lao động, tăng cường khả năng sản xuất, tạo ra bưãc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoa mẫu mã, bao bì,

2 Nguồn: Niên giám thống kê 1998

Trang 32

- Xuất nhập khẩu : tăng cả về k i m ngạch và tỷ trọng trong tổng k i m ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung về xuất nhập khâu của toàn bộ nền

k i n h tế Việt Nam Bình quân trong giai đoạn 1991-1997 xuất khẩu của khu vực F D I tăng 82,2%/năm N ă m 1997 k i m ngạch xuất khẩu chiếm 19,58% tổng k i m ngạch xuất khẩu của Việt Nam

- Nộp ngân sách : Tỷ trọng tăng dừn qua các năm

- Giải quyết việc làm : lao động trực tiếp là 250000 người năm 1997 và hàng chục vạn lao động gián tiếp Riêng trong ngành công nghiệp số lao động tăng từ 62900 người năm 1994 lên 104700 người năm 1995, 110000 người năm 1996 và 117200 người năm 1997

4 Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam

- Công tác qui hoạch còn chậm, chất lượng chưa cao: Trong một số ngành công suất thiết kế khi cấp phép đừu tư vượt quá xa so vói nhu cừu thực tế,như ngành lắp ráp ô tô, sản xuất hàng điện tử gia dụng, Trong tĩnh vực khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, công suất khai thác chỉ đạt 30-40% công suất thiết kế Qui hoạch các nhà máy chế biến chưa gắn với phát triển vùng nguyên liệu dẫn đến việc cung cấp nguyên liệu không ổn định, công suất hoạt động của nhà máy thấp đôi khi nảy sinh cạnh tranh không lành mạnh, không thực hiện các cam kết hợp đồng cung ứng nguyên liệu,

- Hiệu quả kinh tế - xã hội còn thấp :

+ F D I chủ yếu tập trang vào các ngành có lợi nhuận cao và những địa phương có điều kiện thuận lợi dẫn đến sự phát triển không đồng đều, mất cân đối giữa các ngành, các vùng

+ Tỷ lệ xuất khẩu của khu vực F D I trong tổng k i m ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1991-1997 mới đạt 1 0 % thấp hơn nhiều nước trong khu vực

+ Nhiều máy móc thiết bị cũ lạc hậu được đưa vào Việt Nam gây ô nhiễm môi trường, lãng phí nguyên vật liệu, do công tác kiểm tra, giám định hàng nhập khẩu còn kém

+ Lượng lao động trong khu vực F D I còn khiêm tốn so với tiềm năng lao động của Việt Nam, bằng 8,5% tổng số lao động trong khu vực nhà nước

và mới bằng 0,8% tổng số lao động đang làm việc trong toàn bộ nền kinh tế Việt Nam (36 triệu người) Phừn lòn lao động Việt Nam là lao động giản đơn, sau k h i tuyển dụng doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí để đào tạo m ớ i hoặc đào tạo lại Lao động kỹ thuật có tay nghề cao rất hiếm Trong một số doanh nghiệp FDI, quan hệ lao động có những biểu hiện không lành mạnh

Lý do co thể là chủ đừu tư cố tình kéo dài thời gian làm việc theo quy định

va thoa thuận, trả lương thấp, đối xử tàn bạo, xúc phạm nhân phẩm người lao động; hoặc cũng có thể do người lao động chưa quen tác phong làm việc

Trang 33

tranh mang tính tự phát, tổ chức công đoàn chưa đủ mạnh và chưa phát triển rộng khắp trong tất cả các doanh nghiệp FDI

- H ệ thống luật pháp đang trong quá trình hoàn thiện nên còn thiếu tính đồng bộ, chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước được, việc thi hành luật pháp chưa nghiêm

Còn thiếu một số luật như luật về hải quan, kinh doanh bất động sản, luật cạnh tranh và chống độc quyền trong kinh doanh, M ộ t số chính sách liên quan trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp F D I thay đổi nhiều và quá nhanh ảnh hưầng xấu đến trạng thái kinh doanh ổn đinh của doanh nghiệp Thiếu các chính sách khuyến khích và thiếu một sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế dẫn đến tình trạng hầu như chỉ có các doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam tham gia vào hoạt động F D I mặc dù chủ trương của ta là khuyến khích m ọ i thành phần kinh tế tham gia hợp tác đầu

tư với nước ngoài

- Quản lý nhà nước đối với hoạt động F D I còn yếu kém : các diu tục sau giấy phép như cấp đất, hải quan, xây dựng, môi trường, tuy có nhiều sửa đổi nhưng vẫn còn phức tạp và phiền hà làm chậm trễ việc triển khai dự

án, tốn thời gian và tiền bạc của các nhà đầu tư, ảnh hưầng xấu đến môi trường đầu tư Doanh nghiệp F D I chưa nghiêm túc trong việc chấp hành các chế độ báo cáo thống kê Việc kiểm tra, thanh tra hoạt động của doanh nghiệp F D I còn tuy tiện và nhiều đầu mối, gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp

- Vận động xúc tiến đầu tư còn thụ động, nặng về tuyên truyền luật pháp, chính sách m à chưa xúc tiến cụ thể theo các chương trình, dự án trọng điểm, chưa hướng mạnh vào những thị trường có tiềm năng lớn về đầu tư ra nước ngoài

- Cán bộ là yếu tố quyết định nhưng lại đang là khâu yếu : do trình độ ngoại ngữ, chuyên m ô n yếu, ít am hiểu pháp luật lại phải gánh vác những công việc khó khăn, phức tạp nên nhiều cán bộ Việt Nam chưa biết kết hợp hợp tác và đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư Việt Nam cũng như của người lao động Việt Nam, dẫn đến những sơ hầ, thiệt hại trong quá trình hợp tác đẩu tư M ộ t số cán bộ chưa thấy hết trọng trách của mình trong vai trò đại diện cho quyền sầ hữu của Nhà nước trong các liên doanh, một số cán bộ kém phẩm chất, thoái hoa, chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt của bản thân nên đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho Việt Nam trong quá trình hợp tác đầu tư với nước ngoài

^ n TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

C H Â U Á Đ Ế N F D I V À O V I Ệ T N A M

Là một nước thuộc khu vực cháu Á Việt Nam khó tránh khôi "vòng xoáy" của cuốc khủng hoàng tài chính tiền tệ diễn ra từ năm 1997 Hoạt động kinh tế đối ngoại của Viêt Nam nói chung và việc thu hút và sử dụng FDl nói riêng cũng chịu nhiều ảnh hưởng cả tích cực lân tiêu cực của khủng hoảng Câu hỏi đặt ra là tác động của khủng hoảng đến FDI ở Việt Nam có giống các nước khác trong khu vực không và tại sao?

Trang 34

1 Những nét tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và các nền kinh tế bị khủng hoảng khác trong khu vực

Nằm trong cùng một châu lục và đặc biệt là cùng một phía của lục địa châu Á, Việt Nam có nhiều đặc điểm kinh tế xã hội giống các nước trung tâm của khủng hoảng tài chính- tiền tệ vừa qua, nhưng bên cạnh đó cũng có những đặc trưng riêng của mình Chính sự giống và khác nhau này làm cho tác động của khủng hoảng châu Á thời gian vừa qua đến Việt Nam nói chung và FDI vào Việt Nam nầi riêng không hoàn toàn giống các nước khác

1.1 Những điểm tương đồng

-Nền lành tế phát triển với tốc độ tương đối cao, nhưng chưa thực sự

ần định và bền vững

Nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao trong 7-8 năm vừa

qua tuy nhiên sự tăng trưởng này chưa thật sự ổn định và vững chắc Cũng

giống như các nước trong khu vực một phẩn quan trọng đóng góp cho tăng

trưởng kinh tế của Việt Nam là tốc độ tăng xuất khẩu và đẩu tư nước ngoài

cao Tiết kiệm trong nước ở mức thấp chỉ chiếm khoảng trên dưới 2 0 % GDP

và có xu hưởng giảm, bằng một nửa tỷ lệ tiết kiệm bình quân của một số

nước trong khu vực Hệ số ICOR ngày càng tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng

vốn của Việt nam không cao Xem bảng 2 ỉ dưới đây:

Bảng 2.1: Hệ số ICOR, đầu tư và tiết kiệm trong nước của Việt nam giai đoạn 1995-1999

- Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý

Đẩu tư tăng nhanh nhưng lại chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nhất

định nên tạo ra sự phát triển mất cân đối Đ ẩ u tư quá nhiều vào các ngành

k i n h doanh bất động sản, khách sạn, văn phòng cho thuê và một số ngành

công nghiệp khác như dệt, điện tử, các chất tẩy rửa, nước giải khát, bia sản

xuất mía đường, sắt thép, x i măng Các ngành này hiện đa có biểu hiện suy

thoái, cung vượt cẩu

- Mức thâm hụt cán cân vãng lai cao và kéo dài trong nhiều năm từ

năm 1992

Thâm hụt cán cân vãng lai và cán cân thương mại đã gây sức ép đối

với tỷ giá h ố i đoái và tăng dư nợ nước ngoài của Việt Nam Nam 1996 can

cân vãng lai thâm hụt 2 tỷ USD, bằng khoảng 1 0 % GDP, năm 1997 mác du

thâm hụt có giảm nhưng vẫn ở mức cao khoảng 1,5 tỷ USD Cán cân thương

mại cũng ở tình trạng tương tự : năm 1996 thâm hụt 4 tỷ USD, n ă m 1997 •

Trang 35

nghiệp trong nước từ chỗ nhập siêu đã chuyển sang xuất siêu Tuy nhiên, theo đánh giá của một số chuyên gia Bộ Thương Mại thì kết quả này chưa

thể bền vững vì xuất khẩu của ta còn manh mún, hiệu quả xuất khẩu thấp và

tỷ lệ trao đổi (Terms of Trade) còn rất bất lứi (T<100)

- Nợ nước ngoài ngày càng tăng sau khi Việt Nam bình thường hoa quan hệ với các tổ chức quốc tế và tái hoa nhập với cộng đổng tài chính quốc tế Trước mắt khi nứ nước ngoài tăng, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển

kinh tế đưức đáp ứng, nhưng về lâu dài gánh nặng nứ nần này ảnh hưởng

không nhỏ đến cán cân thanh toán do nhu cầu về ngoại tệ để trả nứ tăng khi

các khoản nứ đến thời hạn phải trả Theo đánh giá của WB thì tỷ lệ Nứ/ GDP

và Nứ/ Xuất khẩu của Việt nam ở mức rất cao (từ 95,61 % - 1 9 1 % đối với tỷ

lệ Nứ/GDP và từ 211,83% -651% đối với tỷ lệ Nứ/ Xuất khẩu), (xem Worl

Debes Tables, Word Bank, 1996,1997,1998,1999,2000) Trong khi đó tỷ lệ Nứ/ GDP của các nước bị khủng hoảng đưức coi là trầm trọng hơn v i ệ t nam

thì thấp hơn như: Thái lan là 62,%, Inđônexia là 67%, Philípin 63%, Hàn

Quốc 3 1 % còn Trung Quốc thì tỷ lệ đó là 18%

- Cơ cấu xuất nhập khẩu còn nhiều bất hợp lý

Xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng nông lâm sản, nguyên liệu thô, sơ chế nên dễ mất giá trên thị trường quốc tế Cơ cấu nhập khẩu đã đưức

cải thiện trong những năm gần đây với tỷ trọng máy móc thiết bị nhập khâủ

ngày càng tăng, nhưng các hàng tiêu dùng xa xỉ và một số hàng tiêu dùng

mà trong nước đã đủ khả năng sản xuất vẫn tiếp tục đưức nhập vào Việt

Nam

- Dự trữ ngoại tệ quá thấp

Năm 1997 dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đưức coi là cao nhất cũng chỉ

đạt 2085 triệu USD tương đương với l o tuần xuất khẩu3

- Bội chi ngân sách nhà nước kéo dài gây sức ép lớn đến nhu cầu vốn

Ngân sách nhà nước bội chi năm 1997 là 3,5% GDP gấp 3 lần năm

1996 Công cụ thuế chưa phát huy hết hiệu lực và hiệu quả đối với nền kinh

tế

- Duy trì ổn định quá lâu tỷ giá hối đoái

Chế độ tỷ giá ổn định kéo dài góp phần tạo sự ổn định cho môi trường kinh tế vĩ mô, tăng tính hấp dẫn đối vói đầu tư nước ngoài nhưng cũng làm

cho đồng Việt Nam tăng giá một cách khiên cưỡng so với USD dẫn đến sức

ép gia tăng trên thị trường ngoại hối

3 Tạp chí Ngân hàng Iháng 12/1998

Trang 36

Biểu đồ 2.5 • Dựtrữ ngoại tệ của Việt Nam

giai đoạn 1994-1998

25001

1994 1995 1996 1997 1998

Nguồn: Vụ quản lý ngoại hối- Ngân hàng nhà nước Việt nam

- Hệ thống ngân hàng chưa phát triển, còn yếu kém trong quản lý đặc biệt ương việc thanh tra, kiểm soát

Các ngân hàng còn lỏng lẻo trong quản lý vốn, chất lượng tín dụng kém, thất thoát, nợ đọng, nợ quá hạn, nợ khó đòi lớn Các ngân hàng thương

mại còn có tình trạng cho vay thanh toán đối ngoại tràn lanT Hậu quả là k h i

thị truồng bất động sản suy giảm (đặc biệt tủ năm 1996 đến nay) nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán đẩy các ngân hàng vào tình trạng thiếu vốn,

- Trình độ cán bộ, nạn tham nhũng cũng đang là vấn đề đáng lo ngại

Trình độ thấp kém của các cán bộ đặc biệt là cán bộ làm công tác quản

lý nhà nước luôn là vấn đề đau đầu của các nước đang phát triển trong đo có Việt Nam Còn nạn tham nhũng thì không những là quốc nạn ở khu vưc châu

Á mà trên toàn thế giói

1.2 Những nét khác biệt

- Thị trường tài chính, tiền tệ còn sơ khai, còn đóng cửa với các nhà

Thị trường chứng khoán ở Việt Nam mới đang trong giai đoạn hình thành, thử nghiệm, các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu chưa phát triển nên đầu tư gián tiếp hay các luồng chu chuyển vốn ngắn hạn chưa

có điều kiện phát triển Thêm vào đó việc đầu tư của nước ngoài vào các giấy

tờ có giá tại Việt Nam vẫn còn bị kiểm soát chặt chẽ nên khả nàng đầu cỡ gây bất lợi cho đồng tiền Việt Nam được hạn chế Vậy nên sức ép cua việc chuyển vốn ngắn hạn (vốn nóng) ra khỏi Việt Nam không có và không thể gây nên những cú sốc đột ngột như đối một số nước trong khu vực

- Đồng tiền Việt Nam chưa là đồng tiền chuyển đổi

Chính vì đồng tiền Việt Nam chưa đủ mạnh nên chưa là đối tương của đầu tư quốc tế

Trang 37

Nguồn vốn đổ vào Việt Nam chủ yếu là nguồn vốn vay dài hạn ODA và FDI nên độ an toàn cao hơn

-N ợ nước ngoài chủ yếu là nợ chính phủ tò nguồn ODA và nợ trung hạn

và dài hạn, tỷ trọng nợ ngắn hạn không nhiều chỉ khoảng 1 0 % tổng nợ nước ngoài Vậy nên sức ép từ các khoản nợ này đối với cầu ngoại tử không mạnh như các nước trong khu vực bị khủng hoảng Viửc vay nợ nước ngoài của các doanh nghiửp tuy hiửu quả sử dụng thấp nhưng nhìn chung chúng ta vân kiểm soát được F D I chiếm tỷ trọng lớn khoảng 7 0 % tổng nguồn vốn nước ngoài vào Viửt Nam

- Chế độ quản lý ngoại hối tương đối chặt chẽ

M ọ i giao dịch bằng ngoại tử của Viửt Nam kể cả các giao dịch vãng lai

và giao dịch vốn đều phải tuân thủ những qui định rất chặt chẽ Chính sách này đã tạo ra một rào chắn trước những áp lực của luồng ngoại tử chảy ra khỏi Viửt Nam hoặc những hoạt động đầu cơ tiền tử

- Chính sách tỷ giá về mặt tổng thể cũng đã được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở Ổn định giá trị đối nội và đối ngoại

Chính sách này một mặt tạo điều kiửn cho đồng Viửt Nam được phản ánh tương đối sát thực với cung cầu ngoại tử tạo "neo giữ" góp phần kiềm chế lạm phát, một mặt đáp ứng khả năng hỗ trợ xuất khẩu Cụ thể từ năm

1986 đến nay Viửt Nam đã chủ động điều chỉnh tỷ giá để đạt mục tiêu nói trên : từ năm 1986-1990, tỷ giá VND/USD Trước khi khủng hoảng khu vực xảy ra Viửt Nam đã sớm có giải pháp nâng dần tỷ giá chính thức (tháng 2/1997 tăng 1 0 % và tháng 8/1998 tăng 7 % ) Những giải pháp này đã kịp thời góp phần làm giảm bớt sức ép đối với tỷ giá hối đoái của đồng Viửt Nam

các nguy cơ khủng hoảng

Dự đoán trước nguy cơ khủng hoảng, nhận thức được các yếu kém trong chính nền k i n h tế nước mình, Chính phủ Viửt Nam đã sòm đề ra các biửn pháp đề phòng, đặc biửt là xử lý các vấn đề chính sách Các giải pháp chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994 và ngăn chặn kịp thời tình trạng m ở L/C thanh toán tràn lan từ cuối năm 1996 thông qua khống chế mở L/C ngắn hạn tối đa, tỷ lử ký quĩ bắt buộc, đã sớm hạn chế được ảnh hưởng của lĩnh vực này Đồng thời Chính phủ cũng đã có các biửn pháp xử lý tài sản thế chấp, giải toa nguồn vốn cho hử thống ngân hàng Viửc xúc tiến xây dựng các qui chế, qui định đồng bộ đối với ngành ngân hàng đã góp phần không nhỏ trong tiến trình hoàn thiửn hử thống ngân hàng, đặc biửt viửc đưa vào thực hiửn Luật Ngân hàng và Luật Các tổ chức tín dụng

Riêng về quan hử kinh tế đối ngoại, đặc biửt là quan hử thương mại và đầu tư Viửt Nam cũng có một số nét khác biửt so với các quốc gia khác trong khu vực

Trang 38

Trong khi các nước Đông Á và ASEAN luôn duy trì và phát triển quan

hệ với các đối tác mạnh như Nhật Bản, Mỹ, EU và gần đây là Trung Quốc

thì các đối tác chính của Việt Nam lại là các nước Đông Á và ASEAN Hợp

tác trong lĩnh vực thương mại và đầu tư của Việt Nam chỉ tập trung vào một

số nước như Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc Thị phần cua Việt Nam tại

Mỹ, Nhật Bản va EU rất nhẫ

- Tính tương hố giữa thương mại và đầu tư

Giữa thương mại và đầu tư có sự hỗ trợ lẫn nhau, đầu tư tại Đông Á và ASEAN giúp cho các nước này tăng tỷ trọng hàng chế biến xuất khẩu, những

mặt hàng có hàm lượng vốn, công nghệ cao như hàng điện tử, sản phẩm hoa

dầu, máy móc thiết bị, thiết bị bưu chính viễn thông, trong khi FDI tại Việt

Nam mới chỉ góp phần tăng xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều lao động

và khai thác tài nguyên thiên nhiên

2 Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á đến FDI tại Việt Nam

2.1 Khủng hoảng làm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của Việt

Nam giảm so với các nước trong khu vực

Môi trường đầu tư ở Đông Á trước khi nẫ ra khủng hoảng về một số khía cạnh chưa thật sự hấp dẫn như các nước công nghiệp phát triển Lý do

là cơ sở hạ tầng chưa hiện đại, thậm chí còn lạc hậu, lao động chưa có trình

độ kỹ thuật cao để đáp ứng nhu cầu của các ngành sản xuất tiên tiến, hệ

thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa hoàn chỉnh và việc thực thi pháp luật

chưa nghiêm minh, Tuy nhiên, nhờ biết tận dụng những lợi thế so sánh

của mình như nguồn lao động rẻ, nguồn tài nguyên phong phú cộng với các

chính sách khuyến khích và trợ giúp đầu tư nước ngoài đặc biệt là FDI, các

nước Đông Á đã trò thành khu vực có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các chủ

đầu tư nước ngoài Đặc biệt môi trường kinh tế của nhiều nước trong khu vực

này được đánh giá cao nhờ sự phát triển năng động với tốc độ cao của nền

kinh tế, tỷ lệ lạm phát thấp, tỷ giá hối đoái ẫn định theo đồng đô la, Thế

nhưng, khủng hoảng tài chính tiền tệ nẫ ra đã làm đảo lộn tất cả

2.1.1 Khủng hoảng làm độ rủi ro của môi trường đầu tư ở Việt Nam

tăng nhưng không mạnh như các nước trong khu vực

Sự sụp đẫ của thị trường tài chính ở nhiều nước, sự bất ẫn và trì trệ của

nền kinh tế các nước này đã khiến cho mức độ rủi ro trong đầu tư của toàn

khu vực tăng mạnh Sức hấp dẫn của môi trường đầu tư ở các nước châu Á

nói chung giảm Các chủ đầu tư e ngại rót thêm vốn vào khu vực này, họ

thận trọng và khắt khe hơn trong các quyết định đầu tư, họ nghe ngóng tình

hình hoặc chuyển hướng đầu tư vào các khu vực khác an toàn hơn như Tây

Âu, Bắc Mỹ, Mỹ La Tinh Các nhà đầu tư châu Á cũng chuyển vốn vào các

thị trường ngoài Đông Á như Hồng Kông, Trung Quốc, Ấ n Độ, nơi ít chịu

Trang 39

Tổng luồng vốn vào các thị trường châu Á giảm đáng kể, từ 139 tỷ USD năm 1997 còn 65,8 tỷ usb năm 1998 Tại Hàn Quốc, Inđônêxiá, Malaixia, Thái Lan, Philippin do sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư luồng vốn tư nhân đã giảm 6 tỷ USD năm 1997, 24,6 tỷ USD năm 1998 Nếu tính chung cả 9 nước thành viên ASEAN, đến tháng 10 năm 1998, đầu tư nước ngoài vào khu vực này giảm khoảng 3 3 % so với cùng kỳ năm 19974

Như trên đã phân tích, Việt Nam không thể tránh khứi những tác động tiêu cực của khủng hoảng, nhưng rõ ràng mức độ ảnh hưởng của khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam không mạnh như nhiều nước khác trong khu vực Chính vì vậy mà nếu chỉ xét riêng tác động của khủng hoảng đến việc tăng rủi ro của môi trường đầu tư thì Việt Nam được xếp vào một trong những nước trong khu vực có mức rủi ro tăng thấp nhất

2.1.2.Khủng hoảng làm chi phí đầu tư ở Việt Nam tăng tương đối so

với nhiều nước trong khu vực

Khủng hoảng làm cho đồng tiền các nước mất giá ở những mức độ khác nhau Nếu tính trong khoảng thời gian từ 1995 đến 1998, đồng Rupia của Inđônêxia mất giá mạnh nhất tới 333,28%, tiếp đến là Philippin đồng nội

tệ bị mất giá khoảng 6 1 % , Thái Lan và Malayxia phá giá trên 5 0 % đồng tiền của mình, còn đồng Việt Nam chỉ giảm 26,2% Như vậy so với nhiều nước trong khu vực đồng tiền Việt Nam phá giá với mức độ nhẹ nhất Điều này gây ra những tác động hai chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và FDI vào Việt Nam nói riêng

Bảng 2.2 : Thay đổi tỷ giá hối đoái của một số đồng tiền trong khu vực

Nước Đồng tiền 1995 1996 1997 1998 1998/1995

(%) Inđônêxia Rupia/USD 2308 2383 5402 10000 333,28 Philippin PHP/USD 25,7 26,2 29,5 41,4 61,09 Thái Lan Baht/USD 25,19 25,61 47,25 38 50,85 Malaixia Ringgit/USD 2,54 2,53 3,88 3,92 54,33 Viêt Nam VND/USD 11016 11085 12297 13904 26,21

Nguồn : Tạp chí nghiên cứu kinh tế thế giới số253, tháng 611999

Cụ thể đối với FDI tác động này được lượng hoa bằng chi phí đầu tư

Ta sẽ chia thành ba trường hợp để xem xét

Trường hợp thứ nhất là các chi phí để mua sắm các hàng hoa, dịch vụ

trong nước Trong các dự án FDI, chắc chắn chủ đầu tư phải bứ ra nhiều các khoản chi ban đầu để chuẩn bị dự án ở Việt Nam, phải tuyển người lao động

là người Việt Nam và trả lương cho họ bằng tiền Việt Nam, phải thuê đất của Chính phủ Việt Nam và nhiều dự án với định hướng nguồn nguyên liệu còn mua sắm các nguyên, nhiên vật liệu tại Việt Nam để phục vụ cho hoạt động của dự án, thậm chí một số hoặc toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp (nhà xưởng, máy móc thiết bị, ) cũng được mua sắm tại Việt Nam Điêu gì

4 Nghiên cứu kinh tế số 248 tháng 1/1999

37

Trang 40

sẽ xảy ra đối với các chi phí này k h i đồng Việt Nam mất giá nhưng không mạnh như đồng tiền các nước khác K h i đó chi phí m à chủ đầu tư bỏ ra để mua các hàng hoa, dịch vụ này sẽ tăng một cách tương đối so với các d ự án tương tự ở một số nước khác Sở đĩ chi phí đầu tư chứ tăng "tương đ ố i " là vì thực tế giá các hàng hoa dịch vụ này k h i tính bằng đồng bản tệ của các nước

có thể không thay đổi nhưng k h i qui đổi ra cùng một đồng tiền (USD) để so sánh thì do mức độ mất giá của các đồng tiền khác nhau nên giá khác nhau

và theo x u hướng giá thấp đối với các đồng tiền bị mất giá nhiều Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận m à dự án mang lại cho các nhà đầu tư,

k h i ế n các nhà đầu tư phải cân nhắc lại xem có nên đầu tư vào Việt N a m hay không

Căn cứ vào khảo sát của Bộ Thương mại tại miền Nam cuối n ă m 1998 cho thấy, 8 4 % các doanh nghiệp F D I được điều tra chọn Việt Nam làm nơi sản xuất để khai thác lợi thế về tài nguyên và lao động có tay nghề và chi phí một số đầu vào khá thấp (đinh hướng chi pho để sản xuất hàng xuất khẩu Nay mục tiêu này không thực hiện được nữa nên họ có ý định chuyển hướng đầu tư sang các nước khác trong khu vực

Trường hợp thứ hai là các chi phí để nhập khẩu hàng hoa từ các nước

có đồng tiền mất giá mạnh Trường hợp này có lợi cho các chủ đầu tư tại Việt Nam bởi vì k h i đó giá các hàng hoa này qui ra đồng Việt N a m giảm dẫn đến chi phí sản xuất giảm Trên thực tế có rất nhiều dự án F D I tại V i ệ t Nam, đặc biệt là các d ự án của các nhà đầu tư châu Á có sử dụng các m á y móc, thiết bị và cả nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước này

Trường hợp thứ ba là các chi phí để nhập khẩu hàng hoa từ các nước

m à đồng tiền không mất giá hoặc không mất giá mạnh như đồng V i ệ t Nam

K h i đó rõ ràng dù giá các hàng hoa này tính bằng đổng tiền của các nước xuất khẩu hay cấc đồng tiền mạnh không đổi nhưng k h i q u i đổi ra đồng V i ệ t Nam thì tăng lên so với trước và như vậy giá thành sản phẩm của dự án sẽ tăng lên gây bất lợi cho nhà đầu tư

2.1.3.Khủng hoảng khiến các nước phải nỗ lực cải thiện môi trường đẩu tư và Việt Nam đi sau trong cuộc đua này

Khủng hoảng n ổ ra khiến các nước trong khu vực nhận thức rõ hơn l ợ i

t h ế về tính ổn định của F D I so với các nguồn vốn nước ngoài khác Các nước châu Á đặc biệt là những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng đã tăng cường cải cách kinh tế, công bố thêm nhiều những biện pháp ưu đãi và đảm bảo đầu tư K ế t quả là môi trường đầu tư - k i n h doanh ở các nước này trong con mắt các nhà đầu tư quốc tế đã trở nên hấp dẫn hơn Những nước thu hút đầu tư lớn như Trang Quốc, Â n Đ ộ , Inđônêxia và những nước bắt đầu tiếp nhận F D I như Myanma, Pakistan đều ráo riết cải thiện môi trường đầu

tư trở thành các đối thủ cạnh tranh nặng ký của V i ệ t Nam trong quá trình thu hút FDI Trong k h i đó, mặc dù môi trường đầu tư nước ngoài của V i ệ t nam

đã được cải thiện khá nhiều so với thời kỳ đầu, nhưng so sánh v ớ i các nước

Ngày đăng: 10/12/2013, 19:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. TS Lê Đăng Doanh, "Khủng hoảng tài chính khu vực Đông nam Á và tác động của nó đ ến Việt nam". Hội thảo về "Khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á và bài học đối với Việt nam&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính khu vực Đông nam Á và tác động của nó đến Việt nam". Hội thảo về
3. GS.TS Tào Hữu Phùng,, "Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu Á và một số giải pháp đ ối với Việt nam", Tạp chí Cộng sản, số 3, tháng 2/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu Á và một số giải pháp đối với Việt nam
4. GS.TS Tào H ữ u Phùng," Khủng hoảng tiền tệ Thái lan và ảnh hưởng đến các nước trong khu vực". Tạp chí Nghiên cụu kinh tế, sô 233, tháng10/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tiền tệ Thái lan và ảnh hưởng đến các nước trong khu vực
5. TS Caroly L. Gates, "Khủng hoảng kinh tế và tài chính Đông á: diễn biến và giải pháp". H ộ i thảo về "Khủng hoảng tài chính khu vực Đông Á và bài học đối với Việt nam&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng kinh tế và tài chính Đông á: diễn biến và giải pháp". H ộ i thảo về
9. PTS Nguyễn M i n h Tú, "Những tác động của khủng hoảng tài chính k h u vực đối với ASEAN/AFTA". H ộ i thảo về "Khủng hoảng tài chính k h u vực Đông nam Á và bài học đối với Việt nam&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác động của khủng hoảng tài chính khu vực đối với ASEAN/AFTA
Tác giả: PTS Nguyễn Minh Tú
Nhà XB: Hội thảo về "Khủng hoảng tài chính khu vực Đông nam Á và bài học đối với Việt nam
15. "Thực trạng viện trợ 1998-1999". NXB Chính trị Quốc gia, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng viện trợ 1998-1999
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
16. "Khắc phục nguy cơ tụt hâu xa hơn". Thời báo Kinh tế, số 104, ngày 30/8/200(1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khắc phục nguy cơ tụt hâu xa hơn
17. "Nặng nợ nước ngoài phải trả". Thời báo Kinh tế Việt nam, số 123, ngày 13/10/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nặng nợ nước ngoài phải trả
18. Bùi Trường Giang, "Nguy cơ suy thoái toàn cầu". Nhủng vấn đề kinh tế thế giới, so 5 (55), tháng 10/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ suy thoái toàn cầu
19. Nguyễn Bình Giang, "Vì sao Đài loan, Hồng công và Xingapo ít bị khủng hoảng tài chính". Nhủng vấn đề kinh tê thế giới, số 5(55), tháng10/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao Đài loan, Hồng công và Xingapo ít bị khủng hoảng tài chính
1. Đông Á: T ừ thần kỳ tời khủng hoảng - những bài học có ích cho Việt nam, Edouard Answer Wattez, Báo cáo chuyên đ ề của nhân viên UNDP, H à nội tháng 6/1998 Khác
6. V ũ Chí Lộc. Giáo trình Đ ầ u tư nước ngoài, Nhà xuất bản Giáo dục, H à Nội, 1998 Khác
7. V ũ Chí Lộc. Giáo trình Chuyển Giao công nghệ, Trường Đ ạ i học Ngoại thương, 1998 Khác
8. GS.TS Nguyễn Mại. Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á và bài học đối với Việt nam Khác
10. Báo cáo của Bộ tài chính về khủng hoảng tiền tệ ở một số nước châu Á, tác động của nó đến Việt nam và những giải pháp Khác
11. Báo cáo của Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước Việt nam về khủng hoảng tiền tệ châu Á, ảnh hưởng và giải pháp khắc phục Khác
12. Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Á và đối sách của chúng ta. Đ ề tài khoa học cấp bộ. Bộ k ế hoạch và đầu tư, V i ệ n chiến lược phát triển. H àNội, tháng 4/1999 Khác
13. Khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á: nguyên nhân và những bài học. Báo cáo chuyên đề của Viện kinh tế học, Trung tâm khoa học xã hội và Khác
14. Trương Thái Phương, Một số vấn đề về quản lý nợ nước ngoài ở Việt nam. Tạp chí Ngàn hàng, số 15/1999 Khác
20. PTS Nguyễn Xuân Thắng. Phục hồi và triển vọng kinh tế ASEAN. Nhân dân, ngày 13/10/1999 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Nợ nước ngoài của một số nước trong khu vực trước và  sau phá giá đồng  tiền - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 1.1 Nợ nước ngoài của một số nước trong khu vực trước và sau phá giá đồng tiền (Trang 12)
Bảng 1.2: Tình trạng lạm phát ở một số nước Đông Á - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 1.2 Tình trạng lạm phát ở một số nước Đông Á (Trang 24)
Bảng 2.1: Hệ số ICOR, đầu tư và tiết kiệm trong nước của Việt nam  giai đoạn 1995-1999 - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 2.1 Hệ số ICOR, đầu tư và tiết kiệm trong nước của Việt nam giai đoạn 1995-1999 (Trang 34)
Bảng 2.2 : Thay đổi tỷ giá hối đoái của một số đồng  tiền trong  khu  vực - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 2.2 Thay đổi tỷ giá hối đoái của một số đồng tiền trong khu vực (Trang 39)
Bảng 2.3 : Danh mục một số dự án đầu tư lớn khó có khả năng triển - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 2.3 Danh mục một số dự án đầu tư lớn khó có khả năng triển (Trang 49)
Bảng 2.4: Doanh thu của các doanh nghiệp FDl trong một số ngành - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 2.4 Doanh thu của các doanh nghiệp FDl trong một số ngành (Trang 55)
Bảng 2.5: Giá một số mặt hàng sản xuất trong nước so với giá hàng - Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính   tiền tệ châu á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại việt nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục
Bảng 2.5 Giá một số mặt hàng sản xuất trong nước so với giá hàng (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w