1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch văn hóa tại các tỉnh tây nguyên hiện trạng và định hướng phát triển

83 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 7,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xây dựng nền văn hóa mới vừa dân tộc vừa hiện đại, tinh hoa, văn hóa các dân tộc Tây Nguyên đã được giữ gìn, phát huy và phát triển, kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các giá t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NĂM 2009

HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN

Người thực hiện: Phan Thị Hồng Dung

Bộ môn Du lịch - Khoa Địa lý

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Một số khái niệm 6

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch 8

1.3 Đặc điểm, yêu cầu và nguyên tắc phát triển du lịch văn hóa 9

CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN VÀ TÀI NGUYÊN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA 14

2.1 Tổng quan 14

2.2 Tài nguyên du lịch Tây Nguyên 23

CHƯƠNG 3 : HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN 50

3.1 Hiện trạng khai thác du lịch văn hóa của các dân tộc ít người tại các tỉnh Tây Nguyên 50

3.2 Một số nhận xét 69

CHƯƠNG 4 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI TÂY NGUYÊN 74

4.1 Vấn đề quy hoạch và các chính sách hỗ trợ 74

4.2 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, kêu gọi sự tham gia của người dân 75

4.3 Đào tạo nhân lực du lịch 76

4.4 Liên kết giữa các địa phương, các doanh nghiệp 76

4.5 Phát triển cơ sở vật chất hạ tầng 77

4.6 Tuyên truyền, quảng bá 78

PHẦN KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tây Nguyên có tiềm năng văn hóa dân tộc độc đáo cho phát triển du lịch Trong xây dựng nền văn hóa mới vừa dân tộc vừa hiện đại, tinh hoa, văn hóa các dân tộc Tây Nguyên đã được giữ gìn, phát huy và phát triển, kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa bên ngoài, tạo thành một bản sắc văn hóa độc đáo của Tây Nguyên không dễ trộn lẫn với bất kỳ nền văn hóa nào Tuy vậy, dù có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa nhưng du lịch Tây Nguyên vẫn chưa tận dụng được hết những ưu thế về tài nguyên du lịch nhân văn của mình để xây dựng bền vững các giá trị văn hóa của người bản địa, tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo nhằm thu hút du khách Vì thế, nếu biết tận dụng và phát huy tốt các tiềm năng, cơ hội sẵn có kết hợp với các giá trị văn hóa đặc sắc của mình, sẽ tạo cho du lịch Tây Nguyên những bản sắc riêng đặc biệt hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan

B MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu chung

Phân tích hiện trạng phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên Từ đó, đưa ra một số giải pháp phát triển nhằm góp phần vừa bảo tồn văn hóa các dân tộc ít người, vừa phát huy loại hình du lịch văn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên một cách hiệu quả thông qua kho tàng văn hóa đa dạng và giàu bản sắc của các dân tộc bản địa, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng các sản phẩm du lịchvăn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên

2 Mục tiêu cụ thể

Tìm hiểu tổng quan về khu vực Tây Nguyên và hệ thống các tài nguyên du lịch

tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn tại các tỉnh nơi đây

Tìm hiểu hiện trạng hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên Từ đó, đưa ra những nhận định một cách khái quát về bức tranh chung của tình hình hoạt động du lịch văn hóa trên cơ sở dựa vào những nguồn tài nguyên nhân văn quý giá và đặc sắc của người dân đồng bào

Trang 4

Đề xuất một số định hướng về giải pháp để phát huy hiệu quả du lịch Tây Nguyên nói chung và loại hình du lịch văn hóa nói riêng; góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng các sản phẩm du lịch văn hóa tại nơi đây

C NỘI DUNG, NHIỆM VỤ VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU

1 Nội dung nghiên cứu

Từ những mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung nghiên cứu với những nội dung sau đây:

- Tìm hiểu, nghiên cứu các cơ sở lý luận về du lịch, văn hóa, các vấn đề có liên quan đến văn hóa du lịch và du lịch văn hóa - nhằm làm rõ các vấn đề xuyên suốt trong khuôn khổ nội dung mà đề tài đề cập

- Tìm hiểu về đặc điểm chung của 5 tỉnh Tây Nguyên và các nguồn tài nguyên

để phát triển du lịch

- Tìm hiểu về hiện trạng phát triển du lịch tại 5 tỉnh Tây nguyên, đặc biệt là hiện trạng phát triển du lịch văn hóa Từ đó đưa ra những nhận định khái quát về những thế mạnh và những thách thức để phát triển loại hình du lịch văn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên

- Đề xuất một số định hướng nhằm khai thác và quản lý có hiệu quả việc khai thác các thế mạnh văn hóa của đồng bào dân tộc ít người vào việc phát triển du lịch Góp phần mang lại sự bền vững trong việc phát triển du lịch của đồng bào dân tộc ít người nơi đây

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu hiện trạng về hoạt động du lịch văn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên

- Đề xuất các định hướng giải pháp về các vấn đề quy hoạch, quản lý, liên kết, đào tạo và quảng bá nhằm phát triển du lịch văn hóa có hiệu quả cho địa phương

Trang 5

3 Khung nghiên cứu

D PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp thu thập dữ liệu

a Thu thập dữ liệu sơ cấp:

Khảo sát thực tế: phương pháp này người nghiên cứu áp dụng để tiến hành khảo sát thực tế kết hợp với việc tiếp cận, tham gia, quan sát và tìm hiểu về văn hóa các dân tộc bản địa và hoạt động du lịch văn hóa của họ tại các tỉnh Tây Nguyên Từ đó, đề tài

có thể kiểm chứng các thông tin đã có, đánh giá vấn đề thực tế một cách xác đáng hơn, đồng thời tiếp tục thu thập các thông tin và phát hiện các vấn đề thực tế mới phát sinh

Phỏng vấn sâu: thông qua việc trao đổi, tham gia vào một số hoạt động cùng với người dân (dân tộc thiểu số) đã và đang sinh sống hay tham gia vào hoạt động du lịch tại một số địa bàn trên Tây Nguyên, đề tài tìm hiểu về các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa trong phong tục tập quán của họ và ý thức cũng như sự tham gia của cộng đồng vào du lịch văn hóa Ngoài ra, phỏng vấn sâu cũng được thực hiện để tìm hiểu thêm ý kiến từ các chuyên gia (hay những người am tường về du lịch văn hóa của các dân tộc ít người tại Tây Nguyên) về tiềm năng và triển vọng phát triển loại hình du lịch văn hóa tại Tây Nguyên Các kết quả của phỏng vấn sâu, mạn đàm này là nguồn thông tin hỗ trợ cho việc phân tích và đánh giá đề tài

Du lịch văn hóa Văn hóa Tây Nguyên

Du lịch văn hóa tại các tỉnh

Hiện trạng phát triển

Định hướng phát triển

Trang 6

b Thu thập dữ liệu thứ cấp: những tài liệu được xuất bản chính thức; những đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan; một số các báo cáo thống kê; các báo cáo về hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội tại các tỉnh là nguồn dữ liệu quan trọng trong việc tiếng hành tổng hợp, phân tích và đánh giá đề tài

E GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

1 Phạm vi nghiên cứu: đề tiến hành nghiên cứu trên phạm vi 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng

2 Nội dung nghiên cứu:

- Đề tài tìm hiểu về tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tại các tỉnh Tây Nguyên nhìn từ góc độ các điều kiện để phát triển du lịch Tây Nguyên nói chung chứ không chỉ phục vụ riêng cho loại hình du lịch văn hóa

- Các định hướng đề xuất mang tính giải pháp dựa vào sự cấp thiết của ngành

du lịch Tây Nguyên nói chung và loại hình du lịch văn hóa nói riêng sao du lịch Tây Nguyên ngày càng phát triển cho tương xứng với tiềm năng vốn có của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên

F SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Đã có rất nhiều nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên với những tác động từ quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đến đời sống các dân tộc thiểu số,

về đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa của các dân tộc Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào mảng “văn hóa của các dân tộc” Tây Nguyên mà chưa có sự tìm hiểu sâu về những vấn đề có liên quan đến du lịch và du lịch văn hóa

Trang 7

Tháng 12 năm 2004, trong lần khảo sát tuyến du lịch “Con đường xanh Tây Nguyên” lần đầu tiên, đề tài Nghiên cứu khoa học “Cơ sở khoa học và giải pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch Tây Nguyên bằng tuyến du lịch “Con đường xanh Tây Nguyên”” do cơ quan chủ trì là Tổng cục Du lịch thực hiện đã xác định những yêu cầu cần phải phát huy những tiềm năng, lợi thế của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên Thông qua việc phân tích các thế mạnh, điểm yếu, đề tài đã đưa ra mục tiêu là xây dựng Tây Nguyên trở thành một trong những vùng kinh tế năng động của

cả nước, là một trung tâm du lịch phát triển, tạo nên một hình ảnh du lịch Tây Nguyên nổi bật với những đặc thù về sản phẩm du lịch đa dạng để thu hút khách và lưu giữ khách hiệu quả hơn

Đề tài Khóa luận tốt nghiệp “Phân tích các nguồn lực phát triển tuyến du lịch chuyên đề Con đường xanh Tây Nguyên” được thực hiện vào tháng 7/2008 lại tập trung vào việc phân tích các nguồn lực tại các tỉnh Tây Nguyên, góp phần xây dựng,

bổ sung những chương trình, nội dung tham quan du lịch có thể khai thác trên các cung đường trên tuyến du lịch “Con đường xanh Tây Nguyên”; nâng cao tính hấp dẫn của loại hình du lịch sinh thái tại Tây Nguyên

“Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên - thực trạng và những vấn đề đặt ra” của tập thể tác giả nhóm đề tài Khoa học cấp Nhà nước, do GS.TS Trần Văn Bính chủ biên đã đánh giá, phân tích tương đối toàn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hóa của một số dân tộc Tây Nguyên trong công cuộc đổi mới Ngoài ra, tác giả còn dự báo

xu hướng, đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đời sống văn hóa của các dân tộc trên địa bàn dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Một số tài liệu nghiên cứu khác từ Hội thảo chuyên đề “Tìm kiếm giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng” Theo đó, những bài viết liên quan đến những nhận định về vị thế du lịch Đà Lạt, các sản phẩm du lịch đặc thù… cùng với những giải pháp về quản lý và phát triển du lịch Đà Lạt bền vững, hướng tới tương lai

Dù tài liệu này còn mang tính địa phương (chỉ vận dụng cho thành phố Đà Lạt), tuy nhiên, vẫn là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích vì Đà Lạt là một trung tâm du lịch hấp dẫn đối với tỉnh Lâm Đồng nói riêng và trong nội vùng du lịch Tây Nguyên nói chung…

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Du lịch

Theo Pháp lệnh du lịch (2/1999), “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

1.1.2 Văn hoá

* Nguồn gốc của văn hóa

Từ văn hóa (culture) có nghĩa là sự vun trồng, chăm bón, cải thiện Nguồn gốc của từ “văn hóa” có liên quan đến lao động, hoạt động của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên Về sau, từ “văn hóa” được chuyển nghĩa để nói đến tính giáo dục, nói đến trình độ văn hóa

* Khái niệm “văn hóa”

Theo nghĩa khái quát, văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người thực hiện trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần Văn hóa bao gồm cả quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần Văn hóa là tổng hợp những giá trị đã được vật thể hóa từ hoạt động sáng tạo của con người

Theo nghĩa cụ thể, văn hóa là nhu cầu thiết yếu giá trị nhân văn trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, của một thời đại, là lĩnh vực tinh thần, tạo ra các giá trị nhân văn, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu thêm cuộc sống của con người1

Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc, nó quyết định tính cách của dân tộc hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con

Trang 9

lại cho con người khả năng suy xét về bản thân cá nhân mỗi con người, chính văn hóa

đã làm cho con người trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và sống có đạo đức

Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình chưa hoàn thành được những gì đã đặt ra, để xem những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý tưởng mới mẻ và sáng tạo

1.1.3 Văn hoá du lịch

Văn hóa du lịch là một khoa học nghiên cứu những phương thức khai thác giá trị văn hóa phục vụ du lịch Hay nói cách khác, văn hóa du lịch nghiên cứu các di tích lịch sử văn hóa, các danh lam thắng cảnh, lễ hội, phong tục tập quán, ẩm thực từ góc

độ du lịch và phương thức khai thác những giá trị đó để kinh doanh du lịch2

Theo TS Trần Nhoãn, “Văn hóa du lịch là một khoa học nhằm nghiên cứu mọi giá trị từ các loại hình văn hóa khác nhau, đồng thời tìm công nghệ khai thác tối ưu để phát triển du lịch”

cá nhân, sự duy trì và bảo vệ những thứ ấy Hình thức du lịch này bênh vực, ủng hộ thực tiễn của những nổ lực nhằm để duy trì và bảo vệ những nhu cầu của cộng đồng bằng những lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội dành cho tất cả sự quan tâm của công chúng”

2

Lê Thị Vân, 2006, Giáo trình Văn hóa du lịch, Nxb Giáo dục, 2006

Trang 10

Đây là một định nghĩa khá rộng về du lịch văn hóa, trong đó, ICOMOS đã nhấn mạnh đến ý nghĩa tích cực của du lịch văn hóa, nhằm giáo dục nhận thức, bênh vực cho nhu cầu bảo vệ và duy trì những lợi ích của cộng đồng Và định nghĩa này cũng đã xem du lịch văn hóa như là một hình thức du lịch mang tính bền vững

Tổ chức quốc tế về Tourism Network - Mạng lưới Du lịch Văn hóa Châu Âu ECTN (European Cultural) thì cho rằng : “Du lịch văn hóa có thể được định nghĩa tóm tắt như là sự du lịch dựa trên nguồn tài nguyên văn hóa của vùng, địa phương bao gồm truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, môi trường, kiến trúc, nhà bảo tàng và những hoạt động văn hóa như lễ hội, trưng bày mỹ thuật, những cuốn hút nghệ thuật, nhà hát, nhưng cũng bao gồm những cuốn hút liên quan tới sản phẩm nguyên thủy, sản phẩm thủ công truyền thống, nhà máy sản xuất, lịch sử xã hội và cuộc sống”

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch

Du lịch văn hóa có thể được coi là du lịch dựa vào văn hóa, hoặc du lịch trên cơ

sở khai thác các giá trị di sản văn hóa Mặc dù vậy cũng không ít người hiểu chưa chính xác về vấn đề này Có người đồng nhất du lịch văn hóa và văn hóa du lịch Thực

ra đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Khi nói đến Du lịch văn hóa là ta nói đến việc khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển du lịch như một nguồn tài nguyên du lịch Điều đó khác căn bản với việc tiến hành các hoạt động du lịch một cách văn hóa, hay ta còn gọi là văn hóa du lịch Điều này cũng không khác với khi ta nói về văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, hay văn hóa công sở Như vậy một bên là nội dung và bên kia là tính chất Văn hóa du lịch không chỉ cần thiết khi tiến hành du lịch nói chung mà

cả khi tiến hành các hoạt động du lịch văn hóa Thậm chí trong hoạt động du lịch văn hóa càng cần coi trọng tính văn hóa hơn Bởi nếu du lịch văn hóa mà được tiến hành một cách thiếu văn hóa thì những ảnh hưởng tiêu cực đến du khách sẽ nặng nề hơn nhiều so với yêu cầu này trong các hoạt động du lịch khác Điều đó cũng có nghĩa là tuy phân biệt, song hai phạm trù này luôn gắn kết với nhau Nếu như du lịch văn hóa là nội dung thì hình thức thể hiện của nó cũng cần phải có văn hóa Như vậy thực chất,

Trang 11

Tuy nhiên, mọi khái niệm chỉ mang tính tương đối Bởi vì, không chỉ du lịch văn hóa mới sử dụng nguồn tài nguyên văn hóa Du lịch văn hóa là khái niệm để chỉ

xu hướng chung của du lịch ngày nay là hướng vào các hoạt động tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc chứ không chỉ đơn thuần là đi du ngoạn thưởng thức cảnh đẹp, nghỉ ngơi thư giãn như ngày trước nữa3

1.2.1 Chiều quan hệ: văn hóa - du lịch

Chúng ta biết rằng, không phải mọi giá trị văn hóa đều có thể cùng một lúc đưa vào kinh doanh du lịch Bởi vì muốn đưa chúng vào kinh doanh du lịch còn tùy thuộc vào nhu cầu của khách du lịch, tùy thuộc vào cơ sở vật chất, việc trùng tu, tôn tạo, bảo

vệ giá trị các di tích Vì vậy, cần phải thông qua sự nghiên cứu của văn hóa du lịch để tìm ra phương thức khai thác một cách hợp lý và tối ưu, nhằm sử dụng các kết quả này phục vụ cho hoạt động du lịch

1.2.2 Chiều quan hệ: du lịch - văn hóa

Để phục vụ khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch văn hóa thì điều kiện cần thiết là phải có các chương trình du lịch văn hóa Các chương trình này chủ yếu dựa vào các giá trị văn hóa, các giá trị nhân văn tiêu biểu, đặc sắc của điểm du lịch ; các di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh

Yêu cầu đặt ra đối với những người hoạt động trong ngành du lịch là cần phải xây dựng kế hoạch khai thác các giá trị văn hóa một cách hợp lý thông qua các tiến trình thực hiện từng bước, từng điểm và từng vùng

1.3 Đặc điểm, yêu cầu và nguyên tắc phát triển du lịch văn hóa

1.3.1 Đặc điểm

* Du lịch văn hóa mang tính giáo dục nhận thức

Như ta đã biết, sản phẩm của du lịch văn hóa ngoài phần dịch vụ ra, còn một phần là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Những di sản này hàm chứa nhiều thông tin về văn hóa, lịch sử của dân tộc cũng như những kiến thức về thẩm mỹ, nghệ thuật Du lịch văn hóa giúp du khách hiểu biết hơn về lịch sử văn hóa của quốc gia,

3

TS Nguyễn Văn Bình, Kỷ yếu hội thảo Bảo vệ môi trường du lịch, Tổng cục Du lịch, 2004

Trang 12

điểm đến

* Du lịch văn hóa có thị trường khách lựa chọn

Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch rất kén chọn đối tượng khách Khách lựa chọn đi du lịch văn hóa thường cũng xác định mục đích chuyến đi

du lịch của mình là nhằm tìm hiểu về văn hóa nơi mà mình đến Thông thường những đối tượng khách này cũng có những kiến thức xã hội nhất định Thị trường khách du lịch văn hóa cũng phụ thuộc vào đặc thù của các thị trường khác nhau Chẳng hạn thị trường khách du lịch Châu Âu thường quan tâm nhiều đến du lịch văn hóa, trong khi thị trường ASEAN lại ít quan tâm hơn

* Du lịch văn hóa giúp bảo tồn và phát huy giá trị nền văn hóa truyền thống

Để phát triển được du lịch văn hóa, điều quan trọng là phải bảo tồn được những giá trị di sản văn hóa mang đậm bản sắc riêng của dân tộc Chỉ có như thế mới thu hút được du khách Ở Việt Nam, từ khi du lịch phát triển, nhiều di sản văn hóa của dân tộc, vật thể cũng như phi vật thể đã được cộng đồng hết sức lưu tâm, trân trọng Hàng loạt

di tích đã được nghiên cứu, nhìn nhận, được bảo vệ, tôn tạo, thậm chí phục dựng, xây mới Các giá trị văn hóa phi vật thể cũng được chú ý nghiên cứu bảo vệ, đưa vào khai thác giới thiệu với đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế Một số di sản đặc sắc ở nước ta đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới Tính đến tháng 01/10/2009, Việt Nam đã có 9 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, trong đó có 5 di sản vật thể và 4 di sản phi vật thể Điều này vừa là lực hút rất lớn đối với các đối tượng du khách khi muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng góp phần bảo tồn các Di sản văn hóa trước nguy cơ mai một trên đà phát triển của xã hội ngày càng hiện đại Như vậy, phát triển du lịch văn hóa có tác động tương hỗ với bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống

* Du lịch văn hóa là nhịp cầu trao đổi văn hóa giữa các dân tộc

Bản chất của văn hóa là biến đổi và mang tính thời đại Trong khi du lịch là nhịp cầu hữu nghị giữa các dân tộc Những tri thức văn hóa thu nhận được từ các sản

Trang 13

hóa chính là phương tiện truyền bá, trao đổi văn hóa giữa các nền văn hóa khác nhau 1.3.2 Yêu cầu

* Phải đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa

Đây là một yêu cầu cần thiết nhằm đảm bảo tính hấp dẫn của sản phẩm Văn hóa của một quốc gia thường có những đặc điểm chung, thể hiện qua các di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể Do vậy cần biết khai thác những nét đặc thù riêng trong văn hóa địa phương để xây dựng những sản phẩm du lịch văn hóa có phong cách phân biệt càng nhiều càng tốt với các điểm du lịch văn hóa khác Ở đây cần có sự tham gia của dịch vụ và năng lực của người quản lý điều hành các sản phẩm du lịch Có một

lý thuyết quan trọng cần được quán triệt, đó là lý thuyết trọn gói Trong tham luận tại Hội nghị du lịch bền vững ở Huế năm 1997, ông Barry Lord đã cho rằng: “Tạo ra điểm

du lịch văn hóa (sản phẩm du lịch văn hóa) phải có kế hoạch chiến lược được dựng lên với ý tưởng rằng ở đây (điểm du lịch) có các loại động cơ tiêu thụ văn hóa khác nhau

và phần lớn con người tìm sự đa dạng khi họ đi du lịch Do đó, chiến lược cơ bản là sự hỗn hợp Không phải bảo tàng với nhiều bảo tàng hơn, mà bảo tàng với mua sắm, nhà hát với đồ ăn…” Nếu biết khai thác những yếu tố đặc thù khác tại chỗ, có thể sẽ tạo ra

sự khác biệt và có tính cạnh tranh cao hơn

* Đào tạo nhân lực phù hợp

Du lịch văn hóa đòi hỏi sự chuẩn bị nguồn nhân lực rất kỹ càng Bởi vì du lịch văn hóa là du lịch nhận thức Nguồn nhân lực làm việc trong các hoạt động du lịch văn hóa cần được đào tạo bài bản, chuyên sâu có thể mở rộng kiến thức khi cần Đặc biệt

là đội ngũ hướng dẫn viên Sẽ không có sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn nếu không

có những nhà quản lý có trình độ có khả năng xây dựng những sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo và có sức hấp dẫn cao Mặt khác sản phẩm cũng không hấp dẫn được du khách nếu không có những người hướng dẫn viên giỏi

* Phải có sự tham gia của cộng đồng

Cộng đồng là những người sở hữu thật sự những di sản văn hóa của đất nước

Do vậy, để có được sự phát triển bền vững, nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương Chính cộng đồng sẽ là người quyết định nên phát triển hay không

Trang 14

các sản phẩm du lịch văn hóa tại đó Khi phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng thì cộng đồng sẽ là người tự giác bảo vệ môi trường văn hóa của địa phương mình

* Phát triển du lịch văn hóa phải đảm bảo tính văn hóa trong phát triển, hay nói cách khác, phải phát triển du lịch văn hóa một cách văn hóa

Đây là nguyên tắc chung trong kinh doanh du lịch và càng cần được quán triệt trong phát triển du lịch văn hóa Ông Engel Hardt, cố vấn văn hóa của UNESCO đã viết: “Văn hóa không phải là di tích khô cứng của quá khứ Văn hóa nằm trong lòng của sự phát triển… Không có văn hóa kinh doanh vẫn hoạt động, nhưng điều đó không dẫn đến phát triển bền vững” Hiện nay mối quan hệ giữa khách hàng và người cung ứng hàng hóa, dịch vụ đã thay đổi Yếu tố văn hóa càng ngày càng được quan tâm Sự thay đổi này đã định hướng cho những hoạt động đầu tư trong tạo dựng sản phẩm,

Trang 15

trọng khách hàng Đây cũng là một trong những bí quyết thành công trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

* Không lạm dụng và thương mại hóa văn hóa

Du lịch là kinh doanh, nhưng không thể biến các giá trị di sản văn hóa thành hàng hóa thương mại theo nghĩa thông dụng Hay nói đúng hơn cần ngăn cản xu hướng vì mục đích thương mại mà bất chấp những đặc thù riêng của các di sản có những quan niệm sai lầm rằng có thể khai thác các giá trị văn hóa như là hàng hóa để bán cho du khách Đã có trường hợp cho rằng có thể đóng gói lễ hội để đưa đi phục vụ

du khách Nếu như chợ tình Khâu Vai tại Hà Giang một năm chỉ diễn ra một lần vào 27/3 Âm lịch mà lại tái hiện quanh năm để phục vụ du khách… thì rõ ràng sức hấp dẫn của chợ tình “mỗi năm có một” không còn nhiều ý nghĩa Do vậy, giá trị của di sản chỉ hấp dẫn được du khách khi di sản đó nằm trong không gian địa lý, lịch sử và thời điểm

mà nó diễn ra

Trang 16

CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN VÀ TÀI NGUYÊN PHÁT

TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA

2.1 Tổng quan

2.1.1 Vị trí địa lý

Tây Nguyên với diện tích 54.451,39 km2 chiếm 1/6 diện tích tự nhiên của nước

ta gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng nằm trải dài từ

11013’ đến 15015’ vĩ độ Bắc theo phía Nam của dãy Trường Sơn Xét về mặt kinh độ Đông, khu vực Tây Nguyên phân bố từ 107002’ đến 109005’ trải dài từ thung lũng sông Bung (thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam) ở phía Bắc đến bình nguyên sông Đồng Nai và sông Sài Gòn ở phía Nam

Trang 17

Hình 2.1: Lược đồ vị trí các tỉnh Tây Nguyên (Nguồn: tác giả)

â

LAOS

CHINA

CAMBODIA THAI LAND

VÞnh B¾c Bé

VÞnh Th¸i Lan

Gia Lai

Dak Lak Kon Tum

Lam Dong Dak Nong

Phía Đông khu vực Tây Nguyên tiếp giáp với các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa Phía Nam giáp với các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận Phía Tây giáp với nước Lào, Campuchia và tỉnh Bình Phước

Trong lịch sử lâu dài, Tây Nguyên còn là ngã tư của các dòng chảy di dân, tạo nên một khu vực nhân văn rất phong phú, là nơi sinh sống lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số

Từ lâu Tây nguyên được xem là nóc nhà Đông Dương đóng một vị trí chiến lược về mặt quân sự Ngày nay, với vị trí địa lý có nhiều ý nghĩa về mặt quốc phòng, kinh tế của bán đảo Đông Dương nói riêng và khu vực Đông Nam Á lục địa, từ lâu Tây Nguyên đã được xem là vùng lãnh thổ đặc thù của nước ta

Trang 18

Bên cạnh đó khu vực Tây Nguyên còn nằm trong vùng “tam giác kinh tế” của

ba nước Đông Dương, đang đón nhận nhiều cơ hội đầu tư nhằm đáng thức những tiềm lực kinh tế, tạo động lực phát triển cho Tây Nguyên nói riêng và các nước Đông Dương nói chung

Trên khía cạnh du lịch, Tây Nguyên nằm giữa một mạng lưới du lịch mang tầm quốc tế quan trọng Phía Tây có thác Khone, di tích Watphu và cao nguyên Boloven tại Nam Lào Phía Nam có thành phố du lịch Đà Lạt mờ sương, huyền ảo là một trong những điểm nhấn du lịch của khu vực Tây Nguyên Phía Đông là thành phố biển Nha Trang, một trong những trọng điểm du lịch của Á Vùng Nam Trung Bộ Phía Bắc là các tỉnh, thành phố có nhiều thế mạnh du lịch như Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế… 2.1.2 Kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân tộc - dân cư

Tây Nguyên nằm trong chủ trương của Đảng và Nhà nước, xây dựng thành một Tây Nguyên vững chắc về an ninh quốc phòng và xây dựng nơi đây thành một vùng kinh tế trọng điểm kể từ sau năm 1975 Để thực hiện chủ trương đó Nhà nước ta đã

đưa một lực lượng lao động lớn lên Tây Nguyên và việc tiến hành một cuộc đại di dân

từ đồng bằng Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ lên Tây Nguyên Đây là một cuộc đại đi dân chưa từng có, lại là từ vùng Kinh lên vùng dân tộc nên có những đặc điểm rất riêng biệt

Trước năm 1979 là di dân theo kế hoạch Sau năm 1979 là di dân tự do (cả từ miền núi phía Bắc vào)

Bảng 2.1 Dân số Tây Nguyên qua các năm 1976 - 2008 (Nguồn tổng cục thống kê)

Trang 19

có sự đảo lộn lớn Cư dân bản địa trở thành thiểu số với tỷ lệ chênh lệch lớn trên chính đất đai, rừng núi ngàn đời của họ

Về thành phần các dân tộc, từ lâu, các cư dân bản địa của vùng đất Tây Nguyên

đã được xác định gồm hai nhóm ngữ hệ chính Nam Á và Nam Đảo (cùng chung nguồn gốc Cổ Mã Lai) Trong đó nhóm thuộc ngữ hệ Nam Đảo gồm: Gia- rai, Chu-ru, Ê-đê

và Ra-glai; nhóm thuộc ngữ hệ Nam Á với ngôn ngữ Môn - Khmer là: Ba-na, Xơ-đăng,

Mạ, Cơ-ho, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ-Măm Trong quá trình cộng cư, xét trong mối quan

hệ của cộng đồng các dân tộc bản địa có nhiều nét tương đồng mặc dù thuộc hai nhóm ngữ hệ khác nhau Điều đó minh chứng cho mối quan hệ gần gũi, gắn bó, giao lưu, ảnh hưởng qua lại của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên trong hàng ngàn năm lịch sử cùng chung sống trên địa bàn Tây Nguyên

Trang 20

Hình 2.2: Sơ đồ sự hình thành các dân tộc Việt Nam

(Nguồn: http://vi.wikipedia.org)

Ngoài ra, địa bàn Tây Nguyên là một trong những vùng có thành phần cấu trúc các dân tộc tương đối cao ở Việt Nam Ngoài cộng đồng các dân tộc bản địa, trong quá trình di dân do tự giác, tự phát và các đường lối phát triển kinh tế của đất nước, trong những năm gần đây trên địa bàn Tây Nguyên đã là quê hương thứ hai của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam: Việt, Hoa, Tày, Nùng, H’Mông, Sán Chay, Thái, Mường…

Trong kết cấu dân số, người Việt (Kinh) chiếm đa số, các thành phần dân tộc còn lại có mức độ chênh lệch khác nhau Cộng đồng dân tộc Rơ-măm, Brâu còn tồn tại với quy mô rất nhỏ Điều đó đòi hỏi trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cần có sự ưu tiên đặc biệt, sự quan tâm và nâng cao đời sống cho họ trước những nguy

cơ thu hẹp và tuyệt chủng của một số các đồng bào dân tộc ít người

Trang 21

Bảng 2.2: Thành phần các dân tộc Tây Nguyên (Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2004)

Dân tộc Số dân (người)

có thể chia ra bao gồm khu vực Bắc Tây Nguyên gồm 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum; khu vực Trung Tây Nguyên gồm Đắk Lắk, Đắk Nông; khu vực Nam Tây Nguyên là tỉnh Lâm Đồng Tại các khu vực thành phần cư dân bản địa nổi trội cũng có sự khác biệt nhất định Từ đó cũng đã tạo nên những nét văn hóa rất riêng từ cộng đồng các dân tộc

Trang 22

ở các địa phương nhưng vẫn trên nền tảng tương đồng về mặt văn hóa

Bảng 2.3: Địa bàn cư trú theo tỉnh của một số dân tộc bản địa Tây Nguyên

Đắk Lắk Ê-đê M’nông, Gia-rai

Kon Tum Xơ-đăng, Gia-rai, Ba-na, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ-măm

Lâm Đồng Cơ-ho, Mạ, Chu-ru, M’nông

2.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội hiện nay

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương và chính sách đầu tư cho Tây Nguyên khá mạnh Cho nên tình hình kinh tế - xã hội Tây Nguyên có bước phát triển khá toàn diện và hiệu quả

Bảng 2.4: Số vốn và các dự án đầu tư vào khu vực Tây Nguyên

(Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Tây Nguyên, Viện khoa học xã hội Việt Nam)

Năm Vốn đầu tư (tỷ đồng)

Trang 23

Theo tài liệu của Trung tâm Nghiên cứu Tây Nguyên (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) tổng kim ngạch xuất khẩu trên toàn vùng đã tăng nhanh từ năm 1999 là

124 triệu USD đến năm 2000 là 376 triệu USD với các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của vùng là cà phê, trà, cao su, tiêu, lâm sản… Hiện nay Tây Nguyên trở thành vùng sản xuất cây công nghiệp có những sản phẩm mang thương hiệu lớn và uy tín trên cả nước và thế giới như sản phẩm trà - cà phê Trung Nguyên, Sương Mai, Tâm Châu… cùng các mặt hàng mỹ nghệ từ gỗ như Hoàng Anh Gia Lai…

Một trong những xu thế phát triển kinh tế Tây Nguyên là phát triển loại hình kinh tế trang trại; canh tác và phát triển các loại cây công nghiệp và các mặt hàng nông sản trên quy mô rộng lớn phù hợp với quỹ đất cũng như tính chất dất đai màu mỡ và điều kiện khí hậu phù hợp cũng như những kinh nghiệm canh tác được tích lũy qua nhiều thế hệ tại khu vực này

Lâm nghiệp trên địa bàn cũng có những bước chuyển biến quan trọng Từ khai thác gỗ rừng tự nhiên đã chuyển sang trồng mới, khoanh nuôi, bảo vệ và chăm sóc, thiết lập quy trình sản xuất chế biến các mặt hàng lâm sản khép kín

Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhiều nhà máy chế biến các mặt hàng từ các loại cây công nghiệp lâu năm đã sớm hình thành, một phần nâng cao giá trị các thành phẩm từ cây công nghiệp, một phần giải quyết đáng kể lực lượng lao động tại chỗ của địa phương

Tây Nguyên có nhiều tiềm năng cho ngành công nghiệp năng lượng với các công trình thuỷ điện không những là nguồn cung cấp điện năng cho khu vực mà còn là nguồn cung cấp và chia sẻ điện năng cho các khu vực khác của đất nước Với các công trình thủy điện nổi tiếng như Yaly, Đại Ninh, Drây H’Linh, Sêrêpok 3, SêrêPok4… Theo dự báo, tiềm năng thủy điện Tây Nguyên rất lớn, trong đó sông Sê San được đánh giá đứng thứ ba trong hệ thống sông ngòi tại Việt Nam về tiềm năng thuỷ điện sau sông Đà và sông Đồng Nai, ước tính tổng công suất là 1.700 MW

Thế mạnh của Tây Nguyên trong việc khai khoáng hiện tại là các công trình khai thác các mỏ đá, và đặc biệt ở khu vực Bảo Lộc có nhà máy Bôxit (thuộc cao nguyên Di Linh), là địa bàn có trữ lượng Bôxit lớn nhất nước ta

Trang 24

Xét về điều kiện giáo dục, trên địa bàn Tây Nguyên hiện có hai trường đại học lớn: Đại học Đà Lạt, Đại học Tây Nguyên và các trung tâm nhiên cứu lớn như Viện Hạt Nhân Đà Lạt, Viện Nghiên cứu cây cà phê ở Ea Kmat, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên… là những trung tâm khoa học kỹ thuật với nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm có nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển đời sống xã hội

và nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu khoa học của khu vực

Những năm gần đây, Tây Nguyên có tốc độ đô thị hóa khá cao, cư dân thành thị tăng nhanh từ 19,6% đến 26,7% trong 10 năm từ năm 1990 đến 2000 Hệ thống đô thị của toàn vùng có nhiều đổi mới, nhất là sau sự kiện chia tách hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông (vào năm 2004) với sự có mặt của đô thị non trẻ thị xã Đắk Nông Các đô thị không những mang chức năng kinh tế, khoa học, kỹ thuật mà còn đóng vai trò quan trọng về chức năng hành chính của toàn vùng Toàn khu vực Tây Nguyên có 4 đô thị lớn Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kon Tum và gần đây nhất vào tháng 4/2010, Bảo Lộc cũng đã được công nhận là thành phố (đô thị loại 3) Trong đó thành phố Bôn Mê Thuột có quy mô rộng lớn nhất là thủ phủ quan trọng của toàn vùng; thành phố Đà Lạt với nhiều thế mạnh về phát triển du lịch, nghĩ dưỡng; phố núi Pleiku đang ngày càng dần hoàn thiện điểm nhấn quan trọng của khu vực Bắc Tây Nguyên… Bộ mặt các đô thị này đang dần hoàn thiện với những quy hoạch từng bước với các bố cục hợp lý và

hệ thống vật chất cơ sở hạ tầng khá hiện đại, được xem là những hạt nhân trong việc phát triển vùng

Thật sự bức tranh chung về điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của khu vực Tây Nguyên, vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất nước cùng với các thế mạnh về khai thác các mặt hàng lâm sản đang có những bước chuyển mình đáng kể với diện mạo ngày càng hiện đại Đời sống người dân dần nâng cao cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để đón nhận những cơ hội và không ít những thách thức trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước khi Việt Nam đã là một thành viên của WTO với uy tín, bản lĩnh ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế

Trang 25

2.2 Tài nguyên du lịch Tây Nguyên

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.2.1.1 Tài nguyên địa hình

* Địa hình

Nhìn chung địa hình Tây Nguyên với độ cao từ 250 đến 2600m so với mặt nước biển, tuân theo quy luật chung của địa hình Việt Nam thấp dần về phía Tây Tây nguyên là miền đất cao và rộng lớn nằm ở sau lưng cánh cung gò núi Trường Sơn Nam gồm nhiều cao nguyên có độ cao khác nhau bao gồm: cao nguyên Kon Tum - Pleiku, cao nguyên Đắk lắk, cao nguyên Lâm Viên, cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh

Cao nguyên Kon Tum - Pleiku có độ cao từ 400m so với mặt nước biển, nơi có nhiều dấu vết của núi lửa và miệng núi lửa

Cao nguyên Đắk Lắk có độ cao từ 400 đến 800m, là cụm cao nguyên rộng lớn nhất khu vực, nằm ở giữa Tây Nguyên

Cao nguyên Lâm Viên có địa hình tương đối phức tạp với độ cao tới 1500m Cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh còn có tên gọi khác cao nguyên ba biên giới, có

độ cao từ 800 đến 1000m với địa hình tương đối bằng phẳng và thấp dần về phía Nam

Địa hình Tây Nguyên mang tính phân bậc rõ ràng, các bậc cao nằm về phía Đông, bậc thấp hướng về phía Tây Các cao nguyên kể trên có nhiều tiềm năng lớn về rừng và canh tác các loại cây công nghiệp điển hình là trà, cà phê, hồ tiêu

Nổi bật nhất trong những nét về địa hình Tây Nguyên là sự nâng lên cao khá nhiều của bề mặt địa hình so với các khu vực xung quanh với nhiều đứt gãy và bậc thềm tạo nên nhiều đèo dốc cheo leo có thể kể đến như đèo Mang Yang, đèo Phượng Hoàng, đèo Ngoạn Mục, đèo Phú Hiệp, đèo Prenn, đèo Ngoạn Mục, đèo Bảo Lộc…

Bên cạnh dạng địa hình cao nguyên đến với khu vực này chúng ta còn có dịp bắt gặp những ngọn núi cao, hiểm trở Có thể nhắc đến một số đỉnh núi cao ở khu vực bắc Tây Nguyên như Ngọc Linh (Kon Tum) cao 2598m so với mực nước biển, Ngọc Niay (Kon Tum) có đỉnh cao 2259m, Ngọc Lum H’leo 2116m (Kon Tum), Ngọc Crinh 2025m (Kon Tum)… Đặc biệt tại khu vực Trung Tây nguyên, có thể kể đến như

Trang 26

đỉnh Chư Yang Sinh cao 2405m (Đắk Lắk), núi Nam Déc Bri cao 1580m (Đắk Nơng) Khu vực nam Tây Nguyên cĩ đỉnh Langbiang cao 2163m (Lâm Đồng), ngọn Bi-doup cao 2287m (Lâm Đồng)

Hình 2.3: Bản đồ tài nguyên du lịch Tây Nguyên (Nguồn: tác giả)

L L

N

N

N N

N N

N

N N

Giarai Giarai Bana

Bana Bana Giarai Giarai

K'Ho

K'Ho Mạ

Thác Thủy Tiê n

Thác Dray Sap

Thác Gia Long

Thác Xung Khoeng

Thủ y điệ n Ialy

VQG

Bi Doup Nú i Bà

VQG Yok Don

VQG Chu Yang Sin

Ea So

Khu BTTN Nam Nung

Khu BTTN Nam Kar

VQG Chu Mom Ray

Kon Chu Rang

VQG Kon Ka Kinh

Hang DakTuar Buôn Yun

Suố i Tiên

KDL Mă ng Đen

KDL Lang Biang KDL Buô n Đô n

Cửa khẩ u QT

Bờ Y

Nú i Đại Bình

Hồ Lắ k Biể n Hồ

20

20

14

Thác Ba tầ ng Thác Diệu Thanh

Thác Datanla Thác Prenn Thác Voi

Thá c Gougar Thác Pongour

Thác Bobla Thá c Đambri

Thánh địa Cá t Ti ê n

Đắc Tô - Tâ n Cả nh

Là ng khá ng chiế n Ster Că n cứ tỉ nh ủ y Kon Tum

Nhà ngục Buô n Mê Thuột

Că n cứ cách mạng Nam Nung

1998

1347

1812 1403 1176

Trang 27

Bao phủ trên bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng và gợn sóng của khu vực Tây Nguyên là diện tích đất đỏ bazan rộng lớn, kết quả của quá trình bao phủ dung nham và biến tính do phong hóa của các vùng đá bazan, hình thành nên các cao nguyên đất đỏ đặc trưng của khu vực Tây Nguyên

Địa hình Tây Nguyên còn được bổ sung thêm sự có mặt của các đồng bằng và miền trũng, như cánh đồng An Khê rộng đến 15km chạy dài đến 45km ở địa phận tỉnh Gia Lai; hoặc miền trũng giữa núi Kon Tum, chạy dọc theo dòng sông Pôcô; vùng trũng Cheo-Reo Phú Túc chạy dài từ Kon Tum xuống theo đứt gãy Tây Bắc, Đông Nam và vùng trũng Krông Pách-Lắk nằm ở phía Nam thành phố Buôn Mê Thuột vốn

là một thung lũng bóc mòn với nhiều núi sót đã biến thành một cánh đồng tích tụ với đầm lầy và Hồ Lắk rộng lên đến 800ha

Ngoài ra khu vực Tây Nguyên còn có các bình nguyên với các quy mô to nhỏ khác nhau Điển hình là bình nguyên Easup - một đồng bằng bóc mòn, có núi sót khá bằng phẳng, chưa bị phân cắt sâu như ở các vùng khác

Như vậy, địa hình Tây Nguyên khá đa dạng và phức tạp Có thể căn cứ vào bề mặt địa hình để phân chia Tây Nguyên thành ba khu vực chính: Bắc Tây Nguyên gồm hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum; Trung Tây Nguyên: Đắk Lắk, Đắk Nông; Nam Tây Nguyên: Lâm Đồng Tuy nhiên sự phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối Trên thực tế, địa hình chủ yếu ở Tây Nguyên vẫn là các sơn nguyên xen kẽ giữa các ngọn núi cao và vừa

2.2.1.2 Tài nguyên khí hậu

Nằm hoàn toàn trong kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do tác động yếu tố địa hình, khí hậu Tây Nguyên chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của quy luật phi địa đới theo đai cao Cũng với địa hình tương đối cao và thuận lợi trong việc tiếp nhận các khối không khí ẩm chủ yếu từ gió mùa Tây Nam, khu vực Tây Nguyên là một trong những vùng tiếp nhận một lượng mưa tương đối lớn trong năm của nước ta Bên cạnh

đó khu vực Tây Nguyên còn chịu ảnh hưởng của các khối hội tụ nhiệt đới và các dạng thời tiết khá đặc biệt như áp thấp nhiệt đới, mưa bão từ khu vực Biển Đông

Trang 28

Nhìn chung khí hậu Tây Nguyên có thể phân chia thành hai mùa rõ rệt trong năm: mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng

10 trong năm Với tính chất nhiều đồi núi, với sự có mặt của các khu vực đèo dốc, vách núi cheo leo thì hiện tượng “mưa địa hình” xuất hiện ở một số sườn núi tại khu vực Tây Nguyên Các luồng không khí ẩm, trên đường di chuyển, gặp các sườn núi chắn ngang, bắt buộc phải bốc lên cao hóa lạnh, làm cho một lượng lớn hơi nước ngưng tụ và gây mưa

Điều kiện nổi trội về điều kiện khí hậu đưa vào khai thác du lịch tại khu vực Tây Nguyên là sự biến đổi của khí hậu do sự thay đổi các bậc địa hình theo quy luật phi địa đới Điển hình cho kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mát mẻ, trong lành,

lý tưởng cho hoạt động nghỉ dưỡng và sức khỏe là thành phố du lịch Đà Lạt mờ sương với độ cao 1.500m so với mực nước biển, có nhiệt độ trung bình trong ngày là 180C, thích hợp cho việc nghỉ mát của du khách Chính vì thế mà Đà Lạt còn có tên gọi thân thương và triều mến khác “thành phố mờ sương” - thành phố nghỉ mát lớn nhất nước

ta Ngoài ra, một địa điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng khác phải kể đến là khu du lịch Măng Đen, thuộc địa phận Kon Tum ở Bắc Tây Nguyên với độ cao tương đối là 1.100m – hiện là một trong những điểm đến được quan tâm nhiều với khí hậu trong lành, tinh khiết với khung cảnh thiên nhiên còn khá ban sơ, chưa bị tác động nhiều bởi du lịch Với nhiệt độ trung bình trong ngày 200C, độ ẩm trung bình 85%, trong tương lai Măng Đen sẽ là điểm đến lý tưởng của các luồng du khách từ khu lọc dầu Dung Quất và các tỉnh duyên hải miền Trung lân cận

Có thể nói yếu tố khí hậu đã góp phần làm tăng thêm sự hấp dẫn của khu vực Tây Nguyên Nói một cách khác, đưa điều kiện sẵn có của tự nhiên vào khai thác du lịch cần tính toán đến công tác bảo vệ và gìn giữ những giá trị tự nhiên đó Các địa phương khác của khu vực Tây Nguyên có khí hậu tương đối ôn hoà hơn so với các vùng miền khác của lãnh thổ Việt Nam

Tuy vậy, đôi lúc khí hậu của khu vực chịu những ảnh hưởng xấu từ các hiện tượng mưa bão, áp thấp nhiệt đới, các dải hội tụ nhiệt đới từ vùng ngoài khơi biển

Trang 29

Bên cạnh đó tính mùa cũng được thể hiện rõ nét của khí hậu Tây Nguyên và tính mùa cũng có những ảnh hưởng nhất định cho hoạt động du lịch của khu vực Mùa mưa kéo dài gây nên những trở ngại nhất định cho hoạt động du lịch, nhất là việc thực hiện các loại hình du lịch ngòai trời Mùa mưa khiến cho việc di chuyển giữa các điểm

du lịch khó khăn hơn Để khắc phục những hạn chế cố hữu này, cần sự nỗ lực rất lớn của những cá nhân, tổ chức, các đơn vị quản lý và kinh doanh du lịch của các tỉnh Tây Nguyên trong việc đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng, tạo các sản phẩm du lịch thu hút khách vào các mùa thấp điểm (mùa mưa)

Nhìn chung, khí hậu Tây Nguyên tương đối thuận lợi cho công tác phát triển du lịch, các hiện tượng khí hậu đặc biệt mang tính hủy hoại cao gần như rất ít và ảnh hưởng không lớn trên địa bàn Tây Nguyên

2.2.1.3 Tài nguyên nước

Tây Nguyên là nơi phát tích của một số con sông lớn như sông Ba, sông Sê San, sông Sê Rê Pok, hệ thống sông Đồng Nai, sông La Ngà… Hệ thống sông, suối của khu vực Tây Nguyên có một bộ phận chảy theo hướng Đông ra biển Đông, một số khác chảy theo hướng Tây và đổ vào dòng Mê Kông

Trữ lượng nước mưa hàng năm lên đến 100 tỉ m3 trong đó có đến 50% được cung cấp cho hệ thống sông suối trên địa bàn Tây Nguyên Mạng lưới sông suối Tây Nguyên vào mùa mưa có lưu lượng nước lớn hơn mùa khô từ 130 đến 150 lần Mực nước các sông, suối vào mùa mưa cao hơn so với mùa khô từ 2.5 cho đến 2.7m Vào mùa mưa là hiểm họa của các cơn lũ quét, sạc lở đất… làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân

Hệ thống hồ ở khu vực tương đối khá phong phú bao gồm các hồ tự nhiên, nhân tạo chứa đựng nhiều giá trị to lớn về mặt kinh tế, thuỷ điện Có thể kể đến như Biển

Hồ, Hồ Ialy, Hồ Lăk, Hồ Xuân Hương, Hồ Tuyền Lâm, Hồ Đại Ninh…

Bên cạnh đó các sông, suối Tây Nguyên hoạt động trên dạng địa hình đặc biệt

có nhiều đứt gãy địa tầng tạo nên dạng cảnh quan đặc trưng là các thác nước hùng vĩ, nên thơ của núi rừng Tây Nguyên

Trang 30

Như vậy, thủy văn Tây Nguyên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, chặt chẽ của các yếu

tố khí hậu, địa hình, là một trong những bộ phận quan trọng của vẻ độc đáo rất riêng của địa bàn Tây Nguyên

2.2.1.4 Tài nguyên sinh vật

Tây Nguyên được xem là một trong những địa bàn có độ che phủ rừng lớn nhất nước ta Với môi trường tự nhiên lý tưởng, Tây Nguyên là địa bàn của nhiều loài thực động vật phong phú và quý hiếm của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới

Rừng á nhiệt đới ở Tây Nguyên phân bố chủ yếu ở khu vực Măng Đen, cao nguyên Lâm Viên, Gia Nghĩa… trong đó nổi bật là các cánh rừng thông

Rừng nhiệt đới phân bố tương đối rộng khắp các địa bàn, thường được phân loại thành rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới, rừng kín hỗn hợp giữa cây lá rộng

và cây lá kim, rừng hỗn giao Và một trong những kiểu rừng khá đặc trưng của Tây Nguyên là kiểu “rừng khộp” (Rừng khộp là một kiểu rừng với các loài cây thuộc họ

Dầu lá rộng (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế, loại rừng này là một kiểu rừng đặc

trưng chỉ có ở Đông Nam Á)

Rừng Tây Nguyên chứa đựng nhiều giá trị về mặt cảnh quan, kinh tế Không những là nơi tập trung trữ lượng gỗ quý, tốt mà rừng Tây Nguyên còn là nơi cư ngụ của nhiều loại dược phẩm rất quý hiếm như: tam thất, hoàn liên, huyền sâm, linh chi, quế, đảng sâm, hoàng sâm, thông đỏ…

Hệ động vật phong phú đa dạng với sự có mặt của các họ côn trùng, bò sát, động vật xương sống, họ lông vũ, ếch nhái, cá nước ngọt…

Đến với Tây nguyên, chúng ta còn có dịp chiêm ngưỡng những rẫy cà phê vào mùa hoa nở rợp trắng cả một khoảng trời, những cánh đồng dâu với màu xanh bạt ngàn, những nương bắp trĩu quả, những đồi trà xanh với nhiều chồi non mơn mởn đầy sức sống…

Tây Nguyên thật sự đã, đang và sẽ chứa đựng nhiều mầm xanh và sức mạnh của sự sống Một vùng đất có tài nguyên sinh vật khá đa dạng, phong phú góp phần tạo

Trang 31

2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

2.2.2.1 Mô hình xã hội cơ bản

Về phương diện xã hội cơ bản, nếp sống nương rẫy vẫn được duy trì trong các quan hệ xã hội ở cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Điều đó hình thành nên tập quán

cố kết, gắn bó cao của cộng đồng các dân tộc bản địa nơi đây trong việc tổ chức đời sống theo mô hình là các buôn, làng Tên gọi của các buôn, làng Tây Nguyên thường gắn chặt với đặc điểm của môi trường tự nhiên mà cộng đồng đã chọn làm nơi sinh sống, hoặc mang tên các dòng họ hoặc tên của một nhân vật nào đó có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và bảo vệ buôn làng, hay những sự tích và huyền thoại làm nảy sinh các tên gọi của làng

Buôn làng Tây Nguyên là những tổ chức tự quản Tùy theo từng dân tộc mà thiết chế tổ chức bộ máy buôn làng có những cách thức khác nhau Nhưng nhìn chung, đứng đầu buôn, làng thường là các già làng, trưởng làng, hay có nơi hình thành cả một

“hội đồng già làng” Hội đồng già làng là những ngưới có uy tín và tiếng nói rất có giá trị trong làng và lưu giữ nhiều hiểu biết về tập tục của cộng đồng, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất đôi khi họ là người có nhiều đóng góp cho buôn làng của mình Với vai trò là những người đứng đầu, các già làng có ảnh hưởng nhất định trong tổ chức đời sống của cộng đồng; quản lý, giáo dục, dạy bảo thế hệ đi sau; ngoại giao với các cộng đồng làng xã khác; đứng ra quy tụ và tổ chức các lễ hội, sự kiện gắn liền truyền thống buôn làng; hòa giải các tranh chấp…

Mỗi buôn, làng như vậy bao gồm nhiều gia đình lớn hay nhỏ, thường cư trú chung cả đại gia đình Mô hình buôn làng của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên chuyển tải một giá trị nhân văn sâu sắc, luôn thể hiện trên bốn liên kết, đó là liên kết

cơ sở cư trú (cộng cư), cộng đồng sở hữu đất đai và lợi ích các nguồn tài nguyên thiên nhiên (cộng lợi), cộng đồng về đời sống tâm linh (cộng mệnh) và cộng đồng về văn hóa (cộng cảm) Trong môi trường xã hội như vậy, tồn tại các quan hệ bình đẳng, dân chủ của xã hội nguyên thủy, xã hội chưa phân hóa giai cấp và thiết lập chế độ người bóc lột người

Ngày nay, cùng với sự thúc đẩy của quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa,

mô hình xã hội này đang phần nào có sự chuyển biến và phát triển, phù hợp với xu

Trang 32

hướng của thời đại mới

2.2.2.2 Công trình, kiến trúc

Kiến trúc nhà là một trong những yếu tố rất độc đáo trong tuy duy sáng tạo của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Một cách đơn giản nhất có thể thấy được là nhà ở của từ một gia đình trở lên hoặc nhà mang chất sỡ hữu của cả buôn, làng Đôi khi có những kiến trúc nhà ở vừa là nơi cư trú, vừa là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa của cộng đồng

Nhìn chung, các dân tộc Tây Nguyên đều xây dựng nhà theo kiểu nhà sàn, một phần tránh ẩm thấp, tạo sự thông thoáng trong những cái nắng khá gay gắt vào mùa khô, tận dụng không gian bên dưới sàn nhà vào các mục đích khác như một kiểu nhà kho dạng mở hoặc chăn nuôi các loại gia súc và gia cầm

Nguyên liệu chính của các căn nhà truyền thống ở địa bàn Tây Nguyên chủ yếu

từ gỗ các loại cây rừng, các loại tre nứa… Một số kiểu nhà có vách được làm từ nguyên liệu là hỗn hợp đất, cỏ tranh nhào ướt sau đó phơi khô và kết thành khối tảng vững chắc

Nhà sàn có mặt nhiều nơi trong các buôn làng Tây Nguyên Nhưng có lẽ đẹp và quy mô nhất, mất nhiều công sức để xây dựng phải kể đến là kiểu nhà sàn dài của người Ê-đê Nhà dài Ê-đê là nơi sinh sống của một đại gia đình gồm nhiều thế hệ từ ông bà, cha mẹ đến con cháu Đồng thời nhà dài của người Ê-đê còn là nơi tiếp khách, diễn ra các hoạt động văn hóa của cộng đồng như kể khan, đánh chiêng, hội họp dòng họ… Nhà sàn dài của dân tộc Ê-đê còn là nơi thể hiện vai trò của thiết chế gia đình

mẫu hệ trong vấn đề quản lý tài sản, phân công lao động, bảo vệ sự tồn tại của họ mẹ

Bên cạnh người Ê-đê, người Gia-rai và người Xơ đăng cũng có nhà dài Nhà dài của người Gia-rai có tên là nhà dài kiểu Ia-yun-pa Bên cạnh kiểu nhà này, người Gia-rai còn có kiểu nhà sàn Hđrung dành cho từng gia đình nhỏ theo thiết chế mẫu hệ

Với quy mô nhỏ hơn, kiểu dáng có đôi nét khác biệt với nhà dài, với kiến trúc khá mở theo chiều ngang là nhà sàn của dân tộc Bana, Cơ-ho, M’nông, Mạ, Brâu, Chu

Trang 33

Nhà sàn của người Bana khá độc đáo, theo chiều ngang nằm song song với mặt đường, chiều dài ngôi khá khiêm tốn Nét độc đáo của nhà sàn người Bana là mái lợp bằng gỗ cây dầu được ghè đẽo công phu và rất đều nhìn xa như ngói của người Việt Chỉ có một cầu thang lên xuống phía đầu hồi ở cổng chính Vách được làm bằng gỗ hay từ hỗn hợp đất và tranh Trong nhà không có vách ngăn phân chia cụ thể đâu là buồng, bếp, và phòng tiếp khách nhưng trong không gian rộng và mở ấy, gian tiếp khách nằm ngay chính diện, gian buồng phía tay trái và gian bếp phía phải nhìn theo hướng từ ngoài đường vào nhà

Nhà sàn của dân tộc Mạ không gian vừa được mở theo cả chiều cao lẫn chiều rộng nên hình khối khá cân xứng và vuông vức hơn Nhà sàn truyền thống vẫn là mái tranh vách gỗ, có cầu thang lên xuống nhưng không được trang trí cầu kì như cầu thang của nhà dài Ê-đê

Trang 34

Hình 2.4: Kiến trúc nhà của một số dân tộc ít người Tây Nguyên (Nguồn: tác giả)

Trang 35

Khi đến những khu nghĩa địa của đồng bào các dân tộc Bana, Gia-rai và Ê-đê… chúng ta hay bắt gặp hình ảnh các tượng gỗ tại khu nhà mồ Nhà mồ được dựng lên cho người chết, để hàng ngày người sống mang cơm và đến thăm nom Giai đoạn đầu nhà mồ có tên gọi là “nhà cơm” Khi người thân tiến hành nghi thức “đoạn tuyệt” với người chết thì sẽ có tên gọi là nhà mồ Tượng nhà mồ chỉ xuất hiện vào dịp lễ bỏ mả Trong dịp lễ này người ta còn trang trí lại nhà mồ, xây dựng các hàng rào xung quanh Tượng nhà mồ là một trong những nét kiến trúc rất độc đáo của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, mà dưới góc độ lịch sử, các nhà nghiên cứu chia ra thành ba lớp hay ba phong cách: phong cách biểu tượng - gợi tả (các loại tượng tượng cặp nam nữ đang phô bày bộ phận sinh dục hay làm tình, đàn bà chửa hoặc đang đẻ, tượng những sinh linh mới ra đời đang ngồi trong tư thế bào thai…); phong cách trần thuật diễn tả (tượng người hầu…); phong cách tả thực (tượng cầu thủ bóng đá, thợ chụp ảnh, người chiếu phim…)4… Sau khi lễ bỏ mả kết thúc tượng nhà mồ và nhà mồ sẽ không còn được chăm sóc, sẽ lụi tàn dần dưới sự tàn phá của thiên nhiên và thời gian

Kiến trúc nhà mang tính cộng đồng cao, thể hiện được uy quyền và sức mạnh của cả cộng đồng thường thấy một cách rõ nét nhất là kiến trúc nhà rông của các dân tộc: Bana, Gia-rai, Xơ-đăng, Brâu, Rơ-măm Trong đó nhà rông có chiều cao hơn cả với tính mỹ thuật sâu sắc hơn cả là nhà rông của người Bana

Nhà rông là nhà to nhất làng, vượt lên không gian sừng sững của đất trời như hình dáng lưỡi rìu bén sắc lật ngược lên trên Hai mái đầu hồi hình tam giác cân nhọn hoắc có đỉnh rất hẹp, hai mái mặt bên hông mang dáng dấp của một chiếc hình thang cân với hai cạnh bên được uống cong lõm xuống đều đặn Cạnh mái chạy bốn xung quanh nhà rông được xén gọt bằng phẳng Phía trên cùng của mái nhà rông được trang trí với các hình thù, hoa văn sinh động và rất gần gũi như hình chim sơn ca, lông chim, mặt trời… Phía trước nhà rông có một khoảng không gian được chuyển tiếp giống như

“thềm ba” của nhà người Việt là một sàn gỗ không lợp mái Phía trước là hai chiếc cầu thang được gọt đẽo cầu kì từ một đoạn gỗ nguyên khối, các bậc thang được khoét lõm

và tạo dáng cong hình nêm

4

Bộ Văn hóa Thông tin, Kỷ yếu hội thảo “Nếp sống - phong tục Tây Nguyên”, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1995

Trang 36

Nhà rông xưa kia là nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo, truyền nghề, hội họp vui chơi của cả làng, hoặc là nơi dành cho khách nghỉ đêm Nhà rông còn là nơi “tụ quân” tập trung các trai tráng trong làng sẵn sàng chiến đấu với các mối hiểm họa Chỉ

có những người dũng sĩ giỏi nhất làng hay những già làng cao tuổi nhất độc thân hoặc góa vợ mới được giao cho trọng trách là canh giữ nhà rông

2.2.2.3 Trang phục

Cũng như nhiều hiện tượng sinh hoạt kinh tế, xã hội và văn hóa khác, trang phục của các dân tộc Tây Nguyên có rất nhiều nét chung tương đồng từ khâu chế biến nguyên liệu, phương thức làm ra vải, các loại y phục, phụ kiện, màu sắc và các đường nét hoa văn… Tuy nhiên ở mỗi dân tộc vẫn bảo lưu những nét văn hóa riêng Về nguyên liệu, trước khi có nghề trồng bông, lanh, gai để se sợi dệt vải thì các dân tộc Tây Nguyên đã có kinh nghiệm trong việc thu lượm những thứ cây có sợi mọc hoang dại trong rừng về chế biến thành sợi dệt vải Tập quán này còn thấy ở một số dân tộc, người Xơ-đăng thu lượm những loại gai hoang dại như ktô, goa và kukà; đay hoang dại như hme, phe…; người Bana tìm kiếm các loại vỏ cây như kđôn, kpông… để se sợi dệt vải

Màu nền của các trang phục của đồng bào Tây Nguyên thường thấy là màu đen hay màu chàm Màu sắc được nhuộm từ vỏ cây thiên nhiên như màu đen từ các vỏ cây

mo, cây kpai, cây truôn nhây; màu vàng từ củ nghệ; màu đỏ từ cây loang nhâu…

Về các loại hình trang phục, nam cũng như nữ thường sử dụng các kiểu y phục phổ biến là kiểu choàng quấn hoặc áo chui đầu Đây là kiểu trang phục rất đặc trưng của các dân tộc Đông Nam Á Trong các loại trang phục này thì chiếc khố là loại cổ trang nhất, khố chỉ dành cho nam Nhưng có nhiều nghiên cứu cho rằng trước đây khố đều dành cho cả nam và nữ Ngày thường đàn ông mặc loại khố ngắn, vải thường được nhuộm chàm Dịp hội hè, tiếp khách đàn ông mặc khố vạt dài có tua chỉ màu, trên mặt khố trang trí hoa văn

Một bộ phận khác trong trang phục choàng quấn là chiếc váy mảnh còn có các tên gọi khác là váy hở, váy không khâu, hay váy tấm Đó hoàn toàn là một tấm vải

Trang 37

giắt mối tại đó rồi dùng dây lưng buộc thêm cho chặt Loại váy này hầu như các phụ

nữ Tây Nguyên thường sử dụng, sự khác biệt là hoa văn trang trí, hay khác nhau ở màu sắc, kích thước ngắn hay dài

Tiếp đến là các kiểu áo chui đầu, có sự phân biệt khá rõ giữa áo nam và áo nữ Phụ nữ thường mặc áo cánh ngắn, may kiểu chui đầu, không có ve cổ, tùy theo từng dân tộc mà các kiểu áo có những trang trí hoa văn khác nhau Còn áo của nam giới có các kiểu ngắn không có tay hoặc là áo dài tay Tùy theo từng dân tộc mà trên áo có trang trí hoa văn hay để màu chàm Tiêu biểu cho lo áo chui đầu này là chiếc áo Kteh của người Ê-đê có trang trí “đại bàng giang cánh” bằng những cuốn vải nhỏ màu đỏ đặt trước ngực

Bên cạnh chiếc áo chui đầu là kiểu áo choàng thường thấy của các dân tộc Tây Nguyên Đó là một tấm vải màu chàm đậm, trang trí hoa văn, dùng cho cả nam và nữ trong những lúc trời lạnh hay dùng trong những nghi lễ quan trọng Thông thường họ choàng tấm áo này phủ trên thân kéo dài đến chân, cũng có khi chiếc áo choàng này được buộc chéo từ nách này sang nách bên kia Ngày xưa những chiến binh thường gấp tấm áo choàng này thành hình chữ nhân và buộc trước ngực

Các họa tiết trang trí trên những trang phục của cư dân bản địa Tây Nguyên là những hình ảnh khá quen thuộc như chim, nhện, voi, chà gạc, nỏ, bẫy, mũi tên…

Tây Nguyên còn được biết đến với những kiểu trang sức của tục “cà răng căng tai” Đây là những kiểu phục sức cổ xưa và ít được lưu truyền trong không gian văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên

Ngoài ra còn có thể thấy các loại trang sức như vòng cổ, vòng đeo tay và vòng chân được làm bằng đồng trong diện mạo và thói quen làm đẹp của một số tộc người Tây Nguyên

Nét độc đáo trong việc làm đẹp của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên là chiếc gùi, một dụng cụ lao động rất đỗi thân quen trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên với chức năng đựng và mang vác các vật dụng khác cần thiết cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày

Trang 38

2.2.2.4 Ẩm thực

Đặc sản của Tây Nguyên được du khách gần xa biết đến nhiều đó là cơm lam, rượu cần và những sản vật từ núi rừng khác như măng tre tươi hoặc khô, mật ong rừng…

Hầu như ở khắp mọi nơi tại khu vực Tây Nguyên, rượu cần đã trở thnh thức uống phổ biến trong những dịp đoàn tụ, hội họp gia đình, sinh hoạt văn hóa lễ nghi của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Mỗi dân tộc có những phương pháp chế biến riêng để cho ra lò những ché rượu cần mang đầy phong vị của vùng cao Nhìn chung, người dân đều tận dụng những sản vật sẵn có từ hoa lợi thu hoạch được trong những

vụ mùa của mình như từ sắn, bắp, gạo tẻ, gạo cẩm… Các nguyên liệu trên được nấu chín, trải đều lên những nong tre cho nguội, đôi khi trộn thêm vỏ trấu để sau này thành rượu dễ hút lên bằng các ống giang nhỏ rỗng ruột bên trong gọi là cần, đây cũng là cách lý giải cho tên gọi “rượu cần” Tiếp đến hỗn hợp nói trên được gia biến thêm những chất lên men được làm từ bột củ nghệ, gừng, rễ cam thảo hay các loại cây khác như củ cây chít… Sau đó chúng được cho vào ché, đến lưng chừng ché dùng một lá chuối khô bịt kín miệng lại, sau đó ủ đến khi thành rượu thì đem ra dùng Thời gian dùng tốt nhất khoảng từ một tháng đến ba tháng sau khi ủ

Rượu ngon phải có màu vàng đục như mật, khi rót ra dòng chảy không bị đứt đọan, sờ vào thấy hơi dính, có mùi thơm ngây ngất, cay nồng, xen lẫn mùi ngọt rất đặc trưng Đã là rượu ngon phải được chưng cất trong ché quý Người Ba-na, người M’nông, Xơ-đăng… ít chú trọng đến vấn đề này, nhưng người Ê-đê thì cho rằng ché quý là những ché có màu trắng hoặc xanh lá, càng lớn càng tốt, càng có nhiều tai và càng hai bên hông phía trên của phần chuyển tiếp miệng và thân ché thì càng quý

Tùy theo từng dịp mà cách uống rượu cần cũng khác Thường lễ cúng lớn nhỏ đều dùng một cần để uống rượu, riêng vào dịp cưới xin thì người ta mới dùng đến trên hai cần rượu Khai tiệc là những chủ nhà, các già làng hay những người uy tín có địa

vị cao trong làng và được mọi người trọng vọng Các dân tộc theo chế độ mẫu hệ Tây nguyên có đặc quyền thưởng thức ché rượu cần là người phụ nữ lớn tuổi nhất hay

Trang 39

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên quan niệm rằng “ăn là ăn và uống là uống” Trong khi uống rượu cần chú ý không được làm rớt cần rượu vì đó là biểu thị sự mạo phạm đối với chủ tiệc và biểu thị cho sự không may mắn Hết nguồn rượu nguyên chất thì các ché rượu lại đầy bởi sự tiếp nước từ các ống tre nhỏ hơn vào ché cho đến khi cuộc vui chấm dứt từ các gia chủ mời rượu

Cơm lam có mặt không chỉ ở Tây Nguyên mà còn xuất hiện ở vùng Tây Bắc nước ta Cơm lam với tên gọi khác là cơm ống tre phần nào cũng gợi lên cách thức chế biến của món ăn khá độc đáo này Theo cách chế biến của những cư dân mang đậm nét

“văn hóa nương rẫy” gắn bó cuộc sống với không gian xanh của rừng, khi lên nương, khi vào rừng kiếm sống họ mang theo gạo Đến bữa cần chế biến, họ chặt những ống tre, lồ ô hay nứa với bề ngang cỡ bằng nửa ống tay, cho gạo vào bên trong Họ lựa những dòng suối, lạch nước trong mát dùng nguồn nước từ đó cho vào ống sao cho trộn đều với gạo, đầu ống được bịt chặt bởi lá tre, nứa hay lồ ơ Các ống tre, nứa, lồ ô

đã có hỗn hợp gạo bên trong được “nướng cháy” trong những đống lửa Sau đó đồng bào róc phần cháy, phần sơ tráng của các ống lộ rõ, bao lấy những hạt cơm thơm ngon, dậy mùi thơm của các ống tre, nứa, hay lồ ô Cơm lam hay được dùng với thịt nướng, chấm muối ớt với thói quen “ăn bốc” là nét thú vị sẽ để lại nhiều ấn tượng sâu sắc khi

du khách được một lần thưởng thức khi đến thăm vùng đất này

Ngày trước các loài thú rừng xuất hiện trong bữa ăn, tiệc tùng của cư dân bản địa nơi đây Nhưng hiện nay với ý thức bảo vệ và gìn giữ nguồn động vật rừng quý giá, nguồn thịt rừng đã được thay thế bằng các vật nuôi như bò, trâu, lợn, gà… Trong đó nguồn thịt lợn nuôi theo lối thả rong hiện tại đang được rất ưa chuộng qua hương vị thơm ngon của các món nướng có tác dụng kích thích cao đến khứu giác của thực khách trên những bếp lửa hồng

Ngoài ra, một món ăn đặc sắc khác của đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên không thể không nhắc đến đó là món canh da trâu nấu với cà đắng Người đồng bào lấy số da khô vừa đủ, đốt cho cháy sùi ra, cạo sạch đến khi trông miếng da

có màu vàng ươm, mùi thơm phức Sau khi nướng giòn tan, miếng da được bẻ thành từng miếng nhỏ bỏ vào nồi cà đắng đã được giã hơi dập, đun nhỏ lửa cho đến nhừ Trước khi bắc xuống người ta thêm gia vị vào nồi canh trâu cà đắng này Có thể nêm

Trang 40

thêm một ít hạt tiêu hoặc cà chua rừng để tăng thêm hương vị cho món ăn Món ăn này được người đồng bào cho rằng có tính mát, bổ dưỡng và đậm đà hương vị núi rừng…

Ngày nay hương vị cao nguyên đất đỏ còn được kết tinh trong những giọt cà phê, những chung trà dịu mát Mặc dù đây là thói quen mới được hình thành khi Tây Nguyên trở thành vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất nước ta trong thời gian gần đây, nhưng đã một lần đến với Tây Nguyên mà chưa có dịp thưởng thức những tách trà và cà phê quả là những thiếu sót lớn Mặc dù thói quen thưởng thức trà, cà phê không xuất phát từ tập tục của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, nhưng phong vị của hai loại thức uống kể trên đã thâm nhập vào đời sống chung của người dân nơi đây

là những nhân tố quan trọng góp phần làm cho những cuộc hành trình du ngoạn đến với Tây Nguyên thêm phần đặc sắc

2.2.2.5 Tín ngưỡng, luật tục

Bao bọc xung quanh thế giới thực của cư dân bản địa vùng đất Tây Nguyên là một thế giới huyền ảo, ở đó ngự trị các thần linh và ma quỷ, các linh hồn Đó là quan niệm vạn vật hữu linh, một quan niệm tín ngưỡng sơ khai của loài người trong xã hội nguyên thủy Ở khu vực Tây Nguyên, tiêu biểu nhất cho quan niệm nói trên là mọi vật xung quanh từ các vật dụng như chiêng, ché, kế đến cây cỏ, sông, suối, đồi núi, các con vật… đều có “yang” Yang vừa có ý nghĩa là thần vừa có ý nghĩa là hồn Có yang tốt phù hộ cho con người, có yang xấu, nếu như con người không làm chúng hài lòng thì chúng sẽ làm hại Con người có thể nhận biết yang qua những giấc chiêm bao Chính quan niệm vạn vật hữu linh trong tâm thức của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã tạo ra những giao cảm tinh tế giữa người và vật, nó nhân hoá mọi hiện tượng tự nhiên và các sự vật xung quanh mình, tạo ra những xúc cảm, những ảnh hưởng đáng kể trong đời sống sinh hoạt thường nhật của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Bên cạnh đó, xung quanh cuộc sống con người luôn đề phòng cảnh giác trước những lớp hồn, ma bao quanh khiến con người ta luôn đề phòng và cảnh giác trước những gì có thể làm hại mình, quấy nhiễu cuộc sống bình thường của cả cộng đồng

Một hiện tượng đặc sắc nữa trong tri thức bản địa của đồng bào các dân tộc Tây

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm