Bên cạnh Cải lương là một loại hình sân khấu đặc sắc, mang tính chuyên nghiệp cao thì đờn ca Tài tử là loại hình âm nhạc vừa mang tính bác học vừa mang tính dân gian, gắn bó với đời sống
Trang 1TRẦN CHUNG THÙY TRANG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
Trang 3ra những công trình có giá trị để thế hệ chúng em được may mắn kế thừa, học tập Xin cảm ơn các nghệ nhân tâm huyết của Nam Bộ đã góp công giữ gìn và phát huy nghệ thuật đờn ca Tài tử cho đến ngày nay
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Học viên: Trần Chung Thùy Trang
Trang 4Mục lục
Mục lục 3
Mở đầu 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử vấn đề 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
5.1 Ý nghĩa khoa học 11
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 11
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 12
6.1 Phương pháp nghiên cứu 12
6.2 Nguồn tư liệu 12
7 Bố cục luận văn 13
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 14
1.1 Các khái niệm lý luận cơ bản 14
1.2 Đờn ca Tài tử nhìn từ không gian, thời gian, chủ thể 18
1.2.1 Đờn ca Tài tử nhìn từ không gian 18
1.2.2 Đờn ca Tài tử nhìn từ thời gian 20
1.2.3 Đờn ca Tài tử nhìn từ chủ thể 25
Tiểu kết 31
Trang 5Chương 2: Đặc trưng văn hóa của đờn ca Tài tử Nam Bộ 32
2.1 Tính cộng đồng 32
2.1.1 Đờn ca Tài tử là sức mạnh tinh thần của cộng đồng 32
2.1.2 Đờn ca Tài tử là sức mạnh gắn kết cộng đồng 34
2.1.3 Đờn ca Tài tử là sinh hoạt văn hóa của cộng đồng 35
2.2 Tính biểu cảm 37
2.2.1 Tính biểu cảm ở cách đờn, cách ca 37
2.2.2 Tính biểu cảm ở hơi và điệu 42
2.2.3 Tính biểu cảm ở ca từ, đề tài 47
2.3 Tính linh hoạt 52
2.3.1 Tính linh hoạt ở nhạc cụ và cách đờn, cách ca 53
2.3.2 Tính linh hoạt trong phong cách 64
2.3.3 Tính linh hoạt ở hình thức sinh hoạt 69
2.4 Tính thống nhất 71
Tiểu kết 77
Chương 3: Đờn ca Tài tử trong đời sống người dân Nam Bộ 78
3.1 Đờn ca Tài tử trong đời sống đô thị 78
3.2 Đờn ca Tài tử trong đời sống nông thôn 89
3.3 Bảo tồn và phát huy đờn ca Tài tử ở Nam Bộ 97
3.3.1 Đào tạo thế hệ kế thừa 97
3.3.2 Sự đầu tư, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước 99
3.3.3 Đưa đờn ca Tài tử vào du lịch 100
Trang 63.3.4 Bảo lưu và cải tiến các yếu tố chính thống 101
3.3.5 Xây dựng hồ sơ quốc gia nghệ thuật đờn ca Tài tử trình UNESCO 104
Tiểu kết 107
Kết luận 108
Tài liệu tham khảo 112
Phụ lục 120
Trang 7Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Người viết chọn đề tài này vì đờn ca Tài tử là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng ở Nam Bộ Đầu tiên, đây là sản phẩm sáng tạo của những trí thức Nho học và những nhạc quan, nhạc công chốn cung đình Song theo thời gian, đờn ca Tài tử dần được hoàn chỉnh về tính chất âm nhạc đồng thời được phổ biến rộng rãi khắp hai miền Đông và Tây Nam Bộ, trong đó có công lao rất lớn của tầng lớp bình dân Bên cạnh Cải lương là một loại hình sân khấu đặc sắc, mang tính chuyên nghiệp cao thì đờn ca Tài tử là loại hình âm nhạc vừa mang tính bác học vừa mang tính dân gian, gắn bó với đời sống hàng ngày của người Việt ở Nam Bộ
Cho đến ngày nay đờn ca Tài tử vẫn là món ăn “quốc hồn, quốc túy” trong đời
sống tinh thần của người dân Nam Bộ Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ các phương tiện truyền thông, với nhiều loại hình văn hóa giải trí hấp dẫn công chúng, nhất là giới trẻ, đờn ca Tài tử đang có nguy cơ mai một dần Mặt khác, việc khai thác đờn ca Tài tử đưa vào hoạt động du lịch hoặc các dịch vụ ăn uống… trong thời gian qua đã nảy sinh nhiều bất cập, dẫn đến sự đánh giá không đúng của xã hội về loại hình này Những vấn đề trên cho thấy việc bảo tồn và phát huy loại hình văn hoá truyền thống đặc trưng Nam Bộ trở thành một nhiệm vụ cấp thiết không chỉ đối với những nhà hoạch định chính sách mà còn là của tất cả những ai có tâm huyết với dòng âm nhạc dân tộc
Hiện nay, các nhạc sĩ, các nghệ nhân và các nhà nghiên cứu đang hợp lực chuẩn
bị hồ sơ trình lên UNESCO để được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Đồng thời, Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch ở các tỉnh – thành Nam
Bộ cũng có kế hoạch để phát huy hơn nữa vai trò của đờn ca Tài tử trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương Trong bối cảnh đó, luận văn này hy vọng đóng góp phần nhỏ bé cùng với những người có tâm huyết để giữ gìn và phát
Trang 8huy bản sắc văn hóa Nam Bộ, mong muốn tương lai đờn ca Tài tử sẽ được thế giới công nhận, để loại hình nghệ thuật này sống mãi với thời gian
để giúp người đọc tìm hiểu và thưởng thức nghệ thuật này được sâu hơn, để nhân rộng hơn loại hình âm nhạc này trong tương lai Luận văn hy vọng giúp các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa và kinh doanh du lịch có thêm tư liệu tham khảo, giúp cho việc đề ra những hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn và phát triển loại hình âm nhạc này
ông đề cập đến lịch sử đờn ca tài tử, các nhạc cụ, cách đờn, cách ca dưới góc nhìn chuyên sâu về âm nhạc học, so sánh đờn ca Tài tử với các loại hình khác và đề ra các phương hướng bảo tồn, phát huy loại hình âm nhạc này một cách kịp thời và đúng đắn
Vũ Nhật Thăng có bài Tìm hiểu thang âm của một số bài bản thuộc các điệu
«xuân, ai, oán» đi sâu vào thang âm, có dẫn chứng cụ thể qua các bài bản, đăng trên
Trang 9Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, số 3, năm 1987 Luận án Phó Tiến sĩ Thang âm nhạc Tài tử - Cải lương của Vũ Nhật Thăng năm 1994, với tính chất chuyên sâu về
âm nhạc, so sánh giữa âm nhạc Tài tử và nhạc Cải lương, có một ít so sánh với âm
nhạc Trung Hoa và các nước Đông Nam Á khác Ngoài ra, tác giả còn có cuốn Một cách hiểu về điệu và hơi trong nhạc Tài tử - Cải lương đưa ra một cách hiểu về điệu
và hơi xuất bản năm 1993
Giáo sư- nhạc sĩ Tô Vũ viết ba cuốn sách về âm nhạc Việt Nam, trong đó đề cập
một ít đến đờn ca Tài tử Nam Bộ: Âm nhạc Việt Nam, truyền thống và hiện đại (1996); Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (1996); Âm nhạc cổ truyền Nam Bộ (2002) Các tác phẩm của ông đưa ra những nhận định, hiểu biết khái quát nhất về âm nhạc truyền thống Việt Nam, âm nhạc Nam Bộ, so sánh giữa
âm nhạc truyền thống và hiện đại
Cuốn Sân khấu Cải lương Nam Bộ xuất bản năm 2003 của Đỗ Dũng đề cập đến
quá trình phát triển của Cải lương từ khi ra đời đến nay, trong đó có đờn ca Tài tử Ngoài ra, ông còn viết nhiều bài báo cho báo Sân khấu về Cải lương, về đờn ca Tài
tử: Sự hình thành và phát triển của ca ra bộ; Cái nôi của Sân khấu Cải lương - nhạc Tài tử là “cha đẻ” của Cải lương trên báo «Sân Khấu» năm 2004 và 2006 Đắc Nhẫn năm 1987 viết Tìm hiểu âm nhạc Cải lương, trong đó có nói đến đờn
ca Tài tử Trước đó, ông còn cùng Ngọc Thới viết Bài bản Cải lương: nội dung và tính chất (1974) Các công trình nghiên cứu của ông chuyên sâu vào âm nhạc, chủ
yếu chỉ chú trọng vào Cải lương, ít đề cập đến đờn ca Tài tử nhưng người viết luận văn sử dụng để làm cơ sở so sánh giữa Cải lương và đờn ca Tài tử
Trương Bỉnh Tòng năm 1992 cho ra đời cuốn Tìm hiểu đặc trưng nhạc Tài tử và Cải lương, đưa ra những đặc trưng nhạc Tài tử, có so sánh giống và khác giữa Nhạc
Tài tử và Nhạc cải lương Năm 1997, ông viết Nghệ thuật sân khấu Cải lương – Những trang sử cũng chỉ chú trọng vào lịch sử của Cải lương, chỉ đề cập vài dòng đến đờn ca Tài tử trong giai đoạn đầu
Trang 10Mai Mỹ Duyên viết luận văn Thạc sĩ Đờn ca Tài tử ở Tiền Giang năm 1997 và luận án Tiến sĩ Đờn ca Tài tử trong đời sống văn hóa cư dân Tây Nam Bộ vào năm
2007 Trong luận văn này, trước hết Mai Mỹ Duyên khái quát đờn ca Tài tử có vai trò như thế nào trong đời sống văn hóa của cư dân Tiền Giang, sau đó nêu thực trạng đờn ca Tài tử và giải pháp bảo tồn và phát huy đờn ca Tài tử ở Tiền Giang Luận án mở rộng phạm vi nghiên cứu toàn vùng Tây Nam Bộ, đề cập đến những yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển; các đặc trưng, dạng thức và chức năng nghệ thuật; đồng thời đưa ra những giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca Tài tử một cách sâu sắc
Các bài viết Kết hợp sự kế thừa và sáng tạo trong sáng tạo hệ thống bài bản ca nhạc Tài tử Nam Bộ năm 2002, Tiếng Rao trong nhạc Tài tử miền Nam, Nhạc khí trong “dàn đờn” Tài tử (Nam bộ)… của nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thị Mỹ
Liêm đã cung cấp cho người viết những tư liệu chuyên môn, những vấn đề về học thuật hết sức quý giá
Bài viết Thử dẫn giải lại một lý thuyết điệu thức của người Việt qua bản Tài tử
và Cải lương của Nguyễn Thụy Loan (5-1978: Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật) Là một nhà nghiên cứu về âm nhạc truyền thống, Nguyễn Thụy Loan đã có những nhận xét sâu sắc về thang âm, điệu thức của đờn ca Tài tử
Cuốn Đờn ca Tài tử Nam Bộ - 20 bài bản tổ của Trung tâm văn hóa TP HCM
năm 2001 trình bày đầy đủ các bài bản chính của đờn ca Tài tử
Các tác phẩm sau đây cũng nói ít nhiều đến đờn ca Tài tử, quá trình ra đời và
phát triển, các danh ca, bài bản: Huy Trân viết Một số hình thức hòa tấu trong nhạc thính phòng cổ truyền Nam Bộ cho tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật năm 1975; Bùi Trung Tín với Từ phong trào nhạc Tài tử đến những danh ca đầu tiên của miền Nam (1994); Vũy Chỗ viết Tiến trình phát triển nhạc Tài tử miền Nam năm 1994; Huỳnh Khánh viết Nam Bộ xưa và nay, Đờn ca Tài tử Nam Bộ (1999); Lê Thị Dung viết bài Vài nét về nghệ thuật đờn ca Tài tử ở thành phố Hồ Chí Minh trong cuốn
Trang 11Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2002; Kiều Tấn năm 2003 viết Hệ thống bản nhạc Tài tử Nam Bộ; Minh Lời
có Bài bản sân khấu Cải lương và Tài tử Nam Bộ (2004) và một số bài viết khác
cũng đề cập đến một ít về đờn ca Tài tử, mối quan hệ giữa đờn ca Tài tử và Cải lương
Các tài liệu sau đây là nền tảng, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tìm hiểu món
ăn tinh thần ở vùng đất Nam Bộ này: Phạm Quang viết Đồng bằng sông Cửu Long
năm 1984; Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long của Viện Văn hóa năm 1984; Huỳnh Lứa - Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ (1987); Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường có Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long (1990); Thạch Phương có Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ (1992); Hồ
Bá Thâm viết Văn hóa Nam Bộ - Vấn đề và phát triển (2003); Văn Minh Hương viết Gagaku và nhã nhạc do nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2003; Ngô Đức Thịnh năm 2003 viết Văn hoá vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam; Hội Khoa học Lịch sử viết Nam Bộ - Đất và người (2004); Trần Ngọc Thêm năm 2004 viết công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam; Nhà văn Sơn Nam năm 2009 viết Lịch
sử khẩn hoang miền Nam…
Như vậy, trong phạm vi tư liệu có được, người viết nhận thấy rất ít công trình nghiên cứu đờn ca Tài tử dưới góc độ văn hóa học Các tài liệu chủ yếu đi vào khía cạnh âm nhạc như thang âm điệu thức, bài bản của đờn ca Tài tử hoặc chỉ ra mối liên hệ giữa đờn ca Tài tử và Cải lương, chủ yếu là viết về Cải lương, hoặc chỉ nghiên cứu đờn ca Tài tử trong một vùng, một địa phương chứ ít nghiên cứu theo trục không gian, thời gian, chủ thể và các đặc trưng như tính cộng đồng, tính biểu cảm, tính linh hoạt và tính thống nhất của loại hình này trên cả vùng Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy đờn ca Tài tử làm đối tượng nghiên cứu Chủ thể sáng tạo ra nó là người Việt và phạm vi nghiên cứu ở Nam Bộ Do Nam Bộ có rất nhiều tỉnh thành
Trang 12nên ở chương 3, người viết chỉ sơ lược thực trạng hoạt động đờn ca Tài tử ở một số nơi thuộc Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau từ việc đi thực tế, quan sát, phỏng vấn và các nguồn tư liệu khác Người viết nhận thấy đề tài rất rộng nên chỉ giới hạn nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa học, nghiên cứu theo hệ tọa độ không gian, thời gian, chủ thể và các đặc trưng văn hóa của nó Nghiên cứu đờn ca Tài tử với mục đích để hiểu hơn về văn hóa, tính cách con người Nam Bộ (ở đây là người Việt), chứ không đi sâu vào những vấn
đề của âm nhạc học, nghệ thuật học
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
và được Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch làm hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là
Trang 13di sản văn hóa phi vật thể của thế giới Nghiên cứu về đờn ca Tài tử sẽ giúp các bạn trẻ, công chúng hiểu biết, yêu thích, gìn giữ, bảo tồn và phát huy loại hình âm nhạc này Vì vậy, đề tài này có tính thời sự, có ý nghĩa thực tiễn trong thời đại ngày nay
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn là một đề tài thuộc lĩnh vực văn hóa học, do đó người viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: xem văn hóa như hệ thống lớn với âm nhạc
là một thành tố trực thuộc
- Phương pháp liên ngành:
Vận dụng kiến thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành liên quan như lịch sử, âm nhạc, văn hóa, các thuật ngữ và công trình nghiên cứu liên quan… để tìm hiểu các vấn đề của đờn ca Tài tử theo tọa độ không gian – thời gian – chủ thể, các đặc trưng văn hóa của đờn ca Tài tử và thực tiễn hoạt động đờn ca Tài tử ở thành thị, nông thôn và hoạt động bảo tồn, phát triển đờn ca Tài tử ở nơi đây
- Phương pháp quan sát: tìm hiểu đờn ca Tài tử qua nhiều năm xem các chương trình, liên hoan, biểu diễn đờn ca Tài tử ở Nam Bộ
Các thao tác: phân tích và tổng hợp Phân tích theo bộ ba bình diện: chủ thể, không gian và thời gian; hình thức, ý nghĩa và phân bố Phương pháp tổng hợp để kết hợp các mặt, các bình diện đơn giản thành một tổng thể phức tạp Hai phương pháp phân tích và tổng hợp là hai mặt của một quá trình, cái nọ hỗ trợ cái kia
6.2 Nguồn tư liệu
+ Các công trình nghiên cứu: sách, bài báo, bài tham luận hội thảo khoa học có liên quan đến đờn ca Tài tử, văn hóa Nam Bộ, về âm nhạc Việt Nam, văn hóa Việt Nam, lý luận văn hóa học…
Trang 14+ Các thông tin, tài liệu, băng đĩa… của chuyên ngành âm nhạc học, văn hóa học (âm nhạc, nghệ thuật, vùng văn hóa, văn hóa học, bản sắc, tâm lý học…) tập hợp từ thư viện, cá nhân và các phương tiện truyền thông đại chúng
7 Bố cục luận văn
Bố cục của luận văn gồm có ba chương, các chương đi từ khái quát đến cụ thể: Chương 1 là chương cơ sở lý luận và thực tiễn, là nền tảng cho những vấn đề tiếp theo, làm cơ sở cho việc triển khai đề tài
Chương 2 đề cập đến các đặc trưng văn hóa của đờn ca Tài tử, gồm có tính cộng đồng, tính biểu cảm, tính linh hoạt và tính thống nhất
Chương 3 nghiên cứu đờn ca Tài tử trong đời sống người dân Nam Bộ Bao gồm đờn ca Tài tử trong đời sống đô thị, đờn ca Tài tử trong đời sống nông thôn và việc bảo tồn và phát huy đờn ca Tài tử ở Nam Bộ
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Các khái niệm lý luận cơ bản
Trước khi tìm hiểu đờn ca Tài tử là gì, người viết sẽ đề cập đến khái niệm văn hóa, văn hóa học nghệ thuật, bản sắc văn hóa, âm nhạc… Người viết tìm hiểu từ những vấn đề có tính khái quát nhất đến những thuật ngữ chuyên môn … làm nền tảng, cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu loại hình nghệ thuật này
1.2.1 Văn hóa, văn hóa học, văn hóa học nghệ thuật
Có rất nhiều định nghĩa về Văn hóa và Văn hóa học nhưng mang tính khái quát nhất là quan niệm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2004: 25] Văn hoá học là một khoa học chuyên ngành đặc biệt Cái đặc biệt là ở độ bao quát rộng các sự kiện và tính khái quát cao trong yêu cầu khảo cứu Là khoa học lý thuyết nên chúng không đòi hỏi tư liệu thực nghiệm, điều tra, điền dã nhưng đòi hỏi phải tổng hợp và khái quát hoá ở mức cao “Văn hóa học là một ngành khoa học
nhân văn giáp ranh với khoa học xã hội, có đối tượng nghiên cứu là văn hóa với tư cách một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng, bằng hệ phương pháp lý luận định tính mang tính liên ngành với độ bao quát rộng các sự kiện và tính khái quát cao trong yêu cầu khảo cứu” [Trần Ngọc Thêm 2005: 40]
Trong văn hóa học có các lĩnh vực như: văn hóa học lịch sử, văn hóa học địa lý, văn hóa học xã hội, văn hóa học nghệ thuật… Nhà nghiên cứu Phan Thu Hiền đã
nhận định: “Văn hoá học nghệ thuật coi nghệ thuật như một thành tố, từ đó sẽ hiểu tổng thể về một nền văn hoá Văn hoá học nói chung, văn hoá học nghệ thuật nói riêng, nhấn mạnh phương pháp nghiên cứu hệ thống, tích hợp liên ngành Văn hoá học nghệ thuật nghiên cứu nghệ thuật như một trong những thiết chế nền tảng của
Trang 16văn hoá, trong quan hệ qua lại nhiều chiều với văn hoá, đã hình thành ở khu vực giao thoa giữa nghệ thuật học và văn hoá học.”[http://www.vanhoahoc.edu.vn] Định nghĩa này giúp cho người viết tiếp cận những công trình nghiên cứu của người đi trước để tổng hợp, phân tích và đánh giá nghệ thuật đờn ca Tài tử
1.2.2 Bản sắc văn hóa
Đứng trước nguy cơ hòa tan, đánh mất dần bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành mối lo ngại lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Do vậy, hơn bao giờ hết, vấn đề bản sắc văn hóa rất được quan tâm Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng đưa ra khá nhiều định nghĩa từ các hướng tiếp cận khác nhau
Với quan điểm của Ngô Đức Thịnh thì “các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa dân tộc, hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước” là bản sắc văn hóa [baotangnhanhoc.org] Đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững Bản sắc văn hóa của một dân tộc là các giá trị tinh thần tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa của dân tộc ấy Các giá trị đặc trưng của bản sắc văn hóa mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Do vậy, muốn nhận biết nó phải thông qua các sắc thái văn hóa với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, bền vững, tiềm ẩn thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối bộc lộ cụ thể và khả biến hơn
Bản sắc văn hóa dân tộc tổng hợp và kết tinh những giá trị tinh thần mang tính bền vững, kế thừa và phát triển qua từng thế hệ nối tiếp của lịch sử Mỗi dân tộc, mỗi xã hội đều có đời sống tinh thần riêng và chính đời sống tinh thần ấy làm nên sức mạnh của dân tộc Khi giao lưu, những nền văn hóa đó phải đấu tranh, sàng lọc
và phát triển nhưng không để mất đi bản sắc dân tộc Bản sắc có thể là những cái độc đáo, riêng biệt do chính tộc người đó sáng tạo, cũng có thể là cái tiếp thu từ bên ngoài nhưng đã có chọn lọc, tiếp biến, thay đổi cho phù hợp
Trang 17Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong bài giảng về Bản sắc văn hóa Việt Nam
đã nhận định bản sắc văn hóa là một hệ thống giá trị tinh thần tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù, khu biệt dân tộc ấy với các dân tộc khác Giữa bản sắc văn hóa và văn hóa có mối liên hệ với nhau Bản sắc văn hóa gắn liền, là một thuộc tính và là phần chung nhất, khái quát nhất của văn hóa Bản sắc văn hóa được xác định với ba cấp độ: khái quát, cụ thể và phái sinh Các cấp độ này tương ứng với: hệ thống các đặc trưng bản sắc (khái quát), hệ thống các đặc điểm cụ thể của các đặc trưng bản sắc (cụ thể) và hệ thống các hệ quả và hậu quả của các đặc trưng bản sắc (phái sinh) Có năm đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, đó là: ưa hài hòa, thiên về âm tính, cộng đồng tình cảm, tổng hợp và linh hoạt
1.2.3 Âm nhạc truyền thống
Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, trong đó vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc của âm nhạc truyền thống là vấn đề cấp thiết
Ở Việt Nam ngày nay, âm nhạc truyền thống nhìn chung được hiểu theo nghĩa:
đó là nền âm nhạc cổ, có lịch sử hình thành, phát triển và tồn tại từ lâu đời Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa tìm ra sự thống nhất cuối cùng cho khái niệm này về mặt khoa học Một số quan điểm đồng ý với nhận định: âm nhạc cổ truyền hay cổ nhạc hoặc âm nhạc truyền thống đều chỉ cùng một nội dung nhưng khác nhau ở tên gọi Cụ thể hơn có ý kiến cho rằng:
“Âm nhạc truyền thống là khái niệm rộng, bao hàm ý khái quát nền âm nhạc của một đất nước, trong đó tích tụ những yếu tố âm nhạc đã có lâu đời và mặc dù được phát triển thành nhiều dòng nhạc, thể loại khác nhau, vẫn duy trì những yếu
tố riêng biệt đó Âm nhạc truyền thống bao gồm cả âm nhạc cổ truyền, âm nhạc dân gian, dân tộc.” [Văn Minh Hương 2003: 307]
Như vậy, âm nhạc truyền thống là khái niệm dùng để chỉ một nền âm nhạc có quá trình hình thành, phát triển lâu đời theo dòng chảy lịch sử và còn tồn tại đến
Trang 18ngày nay Những dân tộc có nguồn gốc lâu đời đa số đều có nền văn hoá âm nhạc đặc trưng của mình Xét trên bình diện chung thì mỗi nền văn hóa âm nhạc đều có hai dòng riêng biệt: (1) âm nhạc nghệ thuật – art music – đòi hỏi trình độ chuyên nghiệp đẳng cấp cao hơn ở cả nghệ sĩ lẫn khán thính giả và (2) âm nhạc đại chúng – popular music – thông dụng hơn với đông đảo mọi người Như vậy, đờn ca Tài tử thuộc dòng âm nhạc nào?
1.2.4 Đờn ca Tài tử
Từ “nhạc thính phòng” dịch từ chữ “musique de chambre” của nhạc Tây Vào
những năm 1956 khi thành lập Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn,
“nhạc thính phòng miền Nam” là từ dùng để gọi lọai nhạc mà ngày nay ta thường gọi là “nhạc Tài tử miền Nam” Từ “nhạc thính phòng” gợi cho ta hình ảnh của một
nhóm trí thức lịch lãm thuộc tầng lớp trung lưu, danh gia thế phiệt, thưởng thức âm nhạc trong một phòng khách sang trọng…
Nước ta có ba lọai nhạc thính phòng của dân tộc Kinh đó là ca trù miền Bắc, ca
Huế miền Trung và ca Tài tử miền Nam [Trần Văn Khê 2004: 58] Riêng từ “nhạc Tài tử” đưa ta trở về với một xã hội với đầy đủ mọi tầng lớp, những con người vốn
dĩ ở mọi thành phần, nhưng tính phong lưu tao nhã trong lúc nhàn rỗi thường tụ tập lại để thưởng thức đờn ca, và nhạc Tài tử ngày nay, không nhất thiết phải thưởng thức trong nhà, trong phòng khách mà có thể ở bất cứ nơi đâu, trên thuyền, trên sân nhà, dưới ánh trăng, cạnh những rặng dừa nghiêng mình soi bóng bên bờ ao…
“Đờn ca Tài tử” là một thuật ngữ được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau, có nơi gọi là “ca nhạc Tài tử”, có nơi lại gọi là “đờn ca nhạc Tài tử” Nhưng tên gọi quen thuộc nhất vẫn là “đờn ca Tài tử”
Theo Trần Văn Khê và nhiều nhà nghiên cứu hiện nay thì đờn ca Tài tử (còn gọi
là nhạc Tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam Việt Nam Thuật ngữ Tài tử
có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, Tài tử là những người tài năng (talent), những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai, Tài tử là những người nghiệp dư (amateur),
Trang 19gồm cả những bậc thầy - nhưng không lấy đó làm kế sinh nhai - tham gia biểu diễn (music of the amateurs)
Vào đầu thế kỷ XX, âm nhạc Tài tử miền Nam đã thành hình, nhờ các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam, đem theo truyền thống âm nhạc đất Thần kinh, chuyển thành hơi miền Nam Các bậc thầy trong nghề thường nói gốc đờn Tài tử là đờn Huế hay đờn Quảng [www.sankhau3mien.com]
“Tài tử đờn ca theo nghĩa thời bấy giờ là kẻ phong lưu, đờn ca để vui chơi thoải mái khác với trường hợp người nhà nghề trong gánh hát, làm nghệ thuật vì sanh kế Đám cưới, tiệc giỗ thường quy tụ ba bốn ban Tài tử trong vùng đến tranh tài, lắm khi thử thách nhau nhưng thường là thông cảm, kết tình thân ái, hẹn những dịp đáp lễ.” [Sơn Nam 2003: 133]“Những người nổi tiếng trong giới Tài tử là những bậc thầy, bài bản đầy đủ, lại có những ngón đờn, chữ nhấn độc đáo, tuyệt diệu Nhưng muốn nghe tiếng đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà được Người đờn “Tài tử” chỉ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để thưởng thức tài nghệ chứ không phải đờn để kiếm tiền mưu sống” [Trần Văn Khê 2000: 43]
Vậy, ca nhạc Tài tử là một hình thức âm nhạc thính phòng với lực lượng gọn nhẹ, có thể sinh hoạt đờn ca trong những không gian khác nhau, là loại hình nghệ thuật vừa mang tính bác học, vừa mang tính dân gian
1.2 Đờn ca Tài tử nhìn từ không gian, thời gian, chủ thể
1.2.1 Đờn ca Tài tử nhìn từ không gian
Nam Bộ gồm hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, có hai mùa mưa và khô với mênh mông sông nước và kênh rạch nên nền văn hoá ở đây còn gọi là văn hoá miệt vườn, văn hoá sông nước Quy chiếu về tộc Kinh (Việt) thì mảnh đất Nam
Bộ là “đất mới”, “mới” đây là tương đối so với đất Tổ Bắc Bộ lưu vực sông Hồng
“quê hương buổi đầu của người Việt”, cũng tương đối mới so với mảnh đất miền
Thuận Quảng
Trang 20Nam bộ là nơi đã sản sinh ra một thứ “thổ sản” văn hoá nghệ thuật của riêng
mình, đó là đờn ca Tài tử Đờn ca Tài tử là thú sinh hoạt văn hóa đặc trưng của vùng Nam Bộ Nói là đặc trưng vì loại hình sinh hoạt này gắn liền với những điều
kiện tự nhiên và xã hội của vùng Mai Mỹ Duyên trong luận án “Đờn ca Tài tử trong đời sống văn hoá của cư dân Tây Nam Bộ” đã mô tả 7 dạng thức sinh hoạt của đờn ca Tài tử cho thấy sự thích ứng của con người Nam Bộ ngay trong việc tổ chức các hoạt động tinh thần
Chính từ sự thích ứng đó mà không gian sinh hoạt của đờn ca Tài tử cũng rất đa dạng Đó có thể là hình thức sinh hoạt trong nhà rất rõ tính chất thính phòng như: trong đám tiệc, ở nhà hàng, trên sân khấu, trong tiệm hớt tóc… Cũng có thể là hình thức sinh hoạt ngẫu hứng ngoài trời gần gủi với thiên nhiên, như: trên ghe đò, trong sân vườn… Như vây, đờn ca tài tử được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, phi môi trường, phi điều kiện bởi vì không gian hay những điều kiện khác là thứ yếu, mà chính yếu
là trong các cuộc sinh hoạt đó nguời chơi nhạc và người thưởng thức có được “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” hay không Do vậy, một số bậc cao niên
trong lãnh vực này xem đờn ca Tài tử như là Đạo, tức là lễ và nhạc phải đi cùng
nhau Nhiều công trình nghiên cứu nhạc Tài tử đã mô tả không khí buổi sinh hoạt đờn ca của những ban nhạc Tài tử đầu tiên (vào những thập niên 10-20 của thế kỷ XX): ban nhạc trang phục chỉnh tề (áo dài khăn đóng) ngồi nghiêm trang trên bộ
ván ngựa, trước có một chiếc ghế (bàn) “chân cheo”, trên bày một đỉnh trầm, một
dĩa trái cây, một bộ bình trà, các tài tử cùng nhau diễn tấu, hoà ca trong hương trầm toả ngát
Hiện nay, việc tổ chức sinh hoạt của đờn ca Tài tử được khuyến khích ở các tỉnh-thành Nam Bộ dưới tên gọi là những đội, nhóm, ban, câu lạc bộ… Có thể nhận thấy các tổ chức này ở các ấp, phường-xã, quận-huyện mà nhiều nơi còn được chính quyền địa phương hỗ trợ một phần kinh phí (không nhiều) để tổ chức sinh hoạt định kỳ Theo thống kê sơ bộ của Viện Âm nhạc, hai miền Đông-Tây Nam Bộ
có hàng ngàn ban, nhóm, câu lạc bộ đờn ca Tài tử Điều đó cho thấy chưa có loại
Trang 21hình sinh hoạt văn hoá nào có không gian hoạt động mở rộng như đờn ca Tài tử Nam Bộ
Sau năm 1975, theo bước chân những người xa xứ, đờn ca Tài tử vượt qua biên giới lãnh thổ quốc gia trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật của cộng đồng người Việt ở nước ngoài Nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê đã có công rất lớn khi đi khắp nơi trên thế giới giảng dạy, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung và đờn ca Tài tử nói riêng Và còn rất nhiều những người tâm
huyết như Ea Sola đã mở đường cho “ca nhạc Tài tử” hiên ngang xuất hiện trên những trang báo Âu và Mỹ, đã khai sinh cho “Ca nhạc Tài tử” trong danh từ ca
nhạc của thế giới… Vở kịch của Ea Sola lấy đề tài lúc anh em ruột thịt phải chia tay
thì những bài Tứ đại Oán, Giang Nam và Phụng Hoàng rất hạp cảnh, hạp tình
[Trần Văn Khê 2001: 268]
Tất cả nhận định trên đã cho thấy một không gian văn hoá của đờn ca Tài tử luôn gắn liền với sự thích ứng trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh sống, và đó cũng
là tính cách của con người Nam Bộ, người Việt Nam
1.2.2 Đờn ca Tài tử nhìn từ thời gian
Việc nghiên cứu đờn ca Tài tử ở góc độ thời gian để thấy nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của nó Nhưng trước khi đi vào diễn trình lịch sử của đờn ca Tài
tử, người viết sơ qua vài nét diễn trình lịch sử Nam Bộ
Vua Gia Long nhà Nguyễn gọi vùng Nam Bộ là Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường và Hà Tiên Năm 1843, vua Minh Mạng gọi là Nam Kỳ Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược đất Việt Nam Năm 1862, ngày 13 tháng 4, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp Từ đó, Nam Kỳ được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một Thống đốc
Trang 22người Pháp Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1983) nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến phí còn lại mà triều đình Huế chưa trả hết, nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp Thân (6 tháng 6 năm 1984) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương Năm 1933, quần đảo Trường Sa sát nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp Tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ Sau khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đã ra mắt ngày 25 tháng 8 năm 1945 do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch Thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam Bộ Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập theo
sự chỉ đạo của Pháp hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Năm 1946, trước khi sang Pháp tìm kiếm một giải pháp hòa bình, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào
Nam Bộ, trong đó ông khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông
có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” Không đánh
bại được Việt Minh, Pháp phải dùng “giải pháp Bảo Đại”, công nhận nền độc lập
và sự thống nhất của Việt Nam Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm trong quốc gia Việt Nam Năm 1975, Nam Bộ được hoàn toàn giải phóng sau 20 năm kháng chiến chống Mỹ
Diễn biến chính trị của một vùng đất tác động rất lớn đến bối cảnh kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển, tồn tại hoặc mai một của các loại hình văn hoá-nghệ thuật, trong đó có đờn ca Tài tử
Đờn ca Tài tử Nam Bộ là một loại hình nghệ thuật độc đáo, là kết quả của một quá trình hoạt động và tư duy, lao động sáng tạo, trên cơ sở kết tinh những tinh túy
từ các giai điệu âm nhạc theo các dòng người tứ xứ tụ về vùng đất này khai hoang
mở đất Theo các tư liệu nghiên cứu về lịch sử và âm nhạc cho thấy, từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp thì xã hội Nam Kỳ bị phân hóa nhanh chóng Sự đổ vỡ có mức độ của ý thức hệ phong kiến trong xã hội Nam Kỳ chủ yếu
Trang 23là do phương thức sản xuất mang yếu tố tư bản xuất hiện, cho nên tư tưởng và tình cảm con người đã thoát ly dần những tục tập cũ kỹ, lỗi thời Các Nho sỹ miền Nam
ra kinh đô ứng thí; các nhạc quan, nhạc công vào Nam (với những lý do khác nhau)
đã mang dòng nhạc cung đình và ca Huế để phối hòa với nhạc Lễ miền Nam thành một dòng nhạc mới mẻ, đậm đà tính cách, ngôn ngữ và tâm hồn của con người Nam
Bộ - nhạc Tài tử
Xét ở góc độ thời gian về nhạc Tài tử, đặc biệt ở giai đoạn hình thành không phải dễ dàng Qua khảo cứu tài liệu cho thấy việc chỉ định ra thời gian cụ thể sự đời của nhạc Tài tử hầu như không có Tuy nhiên, khi nghiên cứu những tài liệu sử học liên quan nhận thấy đến nửa đầu thế kỷ XIX thì công cuộc khẩn hoang lập ấp cơ bản hoàn thành Làng xóm định hình, đời sống vật chất bắt đầu nâng lên kéo theo nhu cầu tinh thần cũng dần được xác lập Từ lễ nghi vòng đời cá nhân cho đến nghi
lễ của cộng đồng đều cần có âm nhạc [Mai Mỹ Duyên 2007: 64] Bấy giờ nhạc Lễ
ở Nam Bộ gọi là nhạc ngũ âm, trong đó chia ra hai nhóm nhạc gọi là phe văn và phe
võ Do nhu cầu phục vụ gia chủ và khách trong các tang lễ về khuya đòi hỏi âm lượng nhạc cụ phải nhỏ nhẹ, êm ái nên dàn nhạc phe văn có một sự thể nghiệm mới
Đó là việc giảm bớt số nhạc cụ dây kéo vĩ chỉ còn cây đờn Cò, bỏ đi trống nhạc, sáng tạo thêm cái Song lang (có thể phỏng từ hai miếng phách tre hoặc sênh tiền) bổ sung một số nhạc cụ dây gẩy và ống Sáo hay ống Địch vào dàn nhạc Với hình thức gọn nhẹ như vậy, người ta gọi đó là nhóm nhạc đờn cây… Nhạc lễ Nam Bộ được biểu diễn trong cúng đình, tang ma, lễ hội [Kiều Tấn 2002: 276]
Phong trào đờn cây là tiền thân của phong trào ca nhạc Tài tử Đứng về mặt tổ chức dàn nhạc mà nói, đây là một bộ phận nhạc cụ tách ra từ trong dàn Nhạc lễ Những người chơi nhạc chỉ dùng các nhạc cụ nhẹ, không dùng các loại trống kèn và các loại nhạc cụ gõ khác Bài bản của nó gồm một số bài bản của Nhạc lễ có viết thêm lời ca và một số bài bản của nhã nhạc từ miền Trung đi vào Trong các cuộc tế
lễ, ma chay thường thấy cách diễn tấu của phong trào đờn cây [Đắc Nhẫn, Ngọc Thới 1974: 7]
Trang 24Do chơi đờn cây hoà tấu từng nhóm nhỏ hoặc độc tấu nên kỹ thuật ngày càng trau chuốt và phát triển nhiều ngón, kỹ xảo tinh tế Về bài bản, làn điệu cũng có nhiều đổi thay, các bài Nhạc lễ như Long ngâm, Long đăng không còn phù hợp với tâm tư quần chúng Âm nhạc Tài tử phát triển các bài dân ca Huế và Nam Bộ, cải biến những bản nhạc cổ Trung Bộ như Kim tiền Huế, Hành Vân Huế và sáng tác nhiều bài mới trên cơ sở âm điệu dân tộc như Giang Nam, Phụng Hoàng, Tứ Đại, Văn Thiên Tường…
Căn cứ trên sự đời của bản Dạ cổ hoài lang của nhạc sỹ Cao Văn Lầu vào năm
1919 và những tư liệu nghiên cứu về lịch sử Cải lương cho thấy thời điểm đó tương ứng với giai đoạn đờn ca Tài tử phát triển và lan toả mạnh mẽ Từ những hình thức sinh hoạt ban, nhóm mà giới nhạc Nam Bộ đã nhanh chóng tiếp nhận bản nhạc này,
và góp sức sáng tạo thêm để sau đó đưa vào sân khấu Cải lương Như vậy, xét ở góc
độ thời gian, đờn ca Tài tử khi phát triển cả về nội dung, hình thức và cách thức tổ chức sinh hoạt cũng đã manh nha trong lòng nó, sự ra đời của một thể loại nghệ
thuật sân khấu mới mẻ là Cải lương, được khởi xướng bằng hình thức “ca ra bộ”
của đờn ca Tài tử
Tuy nhiên, đờn ca Tài tử không phải phát triển đến đỉnh cao là “ca ra bộ” mà hình thức này phát sinh như một tất yếu vì nó phù hợp với hoàn cảnh xã hội và tính cách Nam Bộ - thích cải tiến, sáng tạo và ham chuộng cái mới Bởi vì, theo quy luật vận động và phát triển, một loại hình nghệ thuật khi đạt đến đỉnh cao thường có xu hướng thoái trào Trong khi đó, xét ở góc độ không gian thì phạm vi hoạt động của đờn ca Tài tử ngày càng mở rộng, điều đó cũng có nghĩa rằng sự ra đời của sân khấu Cải lương không có nghĩa là nhạc Tài tử đã kết thúc vai trò của nó
Từ ban nhạc của ông Nguyễn Tống Triều, hình thức “ca ra bộ” được khởi thuỷ bằng lối ca có giọng đối đáp của cô Ba Đắc và có thể một vài động tác sơ bộ kèm theo lúc cô trình diễn đã gợi cho ông Tống Hữu Định ở Vĩnh Long (khi đến Mỹ Tho chơi) một ý tưởng mới mẻ về phong cách trình diễn cho đờn ca Tài tử Đó là sự
Trang 25phân công cho các tài tử đứng trên bộ ván ngựa ca bài Tứ đại oán theo 3 nhân vật: Bùi ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga Hình thức ca ra bộ này có thể được xem là tiền thân của sân khấu Cải lương
Để nhấn mạnh vai trò của nhạc Tài tử và tầm ảnh hưởng của nó đến việc ra đời của nghệ thuật sân khấu Cải lương, không ít nghệ nhân và nhà nghiên cứu đã có
những lập luận tương đồng với nhau: Nhạc Tài tử Nam bộ là “cha đẻ” của nhạc Cải
lương Các giai điệu nhạc Cải lương ban đầu đều bắt nguồn từ bài bản Tài tử mà ra, mỗi giai điệu được trích từ một lớp nào đó của một bài bản nhạc Tài tử Chỉ khác nhau ở tiết tấu để phù hợp, phục vụ cho tình huống kịch và tính cách nhân vật Sau này, nhiều nhạc sĩ, nghệ nhân sáng tác các giai điệu mới cho Cải lương cũng dựa trên nguyên lý nhạc Tài tử và các nhạc sĩ Cải lương cũng đều là hàng môn đệ của những thầy nhạc Tài tử [Đỗ Dũng 2006: 30]
“Trong Nam, phong trào Cải lương đã làm cho đờn Tài tử trở nên phổ biến trong dân chúng… Chúng tôi muốn nhấn mạnh vào điểm hát Cải lương đã đem đờn Tài tử lên sân khấu Đờn Tài tử trước kia chỉ do những người nhạc công Tài tử - tức là không phải hạng nhà nghề - biểu diễn, và chỉ một số ít người thưởng thức Đem lên sân khấu, lối nhạc đó được lọt vào tai bao nhiêu người từ thành thị chí thôn quê.” [Trần Văn Khê 1961: 46]
“Khi sân khấu Cải lương ra đời thì phong trào đờn ca Tài tử vẫn được duy trì, phát triển từ ấy đến nay, đặc biệt về sau lại ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.” [Đỗ Dũng 2004: 28] Đờn ca Tài tử, Cải lương và Hát bội có lệ cúng Tổ chung vào ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm Thực tế còn chứng minh sau năm 1975 và cho đến ngày nay, các hình thức sinh hoạt đờn ca Tài tử có mặt hầu hết các tỉnh thành Nam Bộ Xác định được vai trò của loại hình này trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư, ở đô thị hay nông thôn, các cấp chính quyền đã có sự đầu tư với những mức độ khác nhau Có nơi đầu tư kinh phí (tổ chức sinh hoạt định kỳ), có nơi đầu tư cơ sở vật chất (cấp nhạc cụ, chỗ nơi trình diễn), có nơi đãi ngộ nghệ nhân
Trang 26theo chính sách riêng ở địa phương (miễn lao động công ích) hay tổ chức liên hoan, hội thi để giúp cho nhạc Tài tử được tồn tại và phát triển Đặc biệt, từ năm 1998 (sau khi Nghị quyết 5 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII ban hành) đến nay, các cuộc liên hoan đờn ca Tài tử ở các cấp độ khác nhau: từ cấp xã-phường, quận-huyện, tỉnh-thành hàng năm đều được tổ chức
Vậy, nguồn gốc của nhạc Tài tử vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng chắc chắn là từ
khi ra đời đến nay, hình thức nghệ thuật này đã trở thành “cái hồn” của vùng sông
“Đến đây xứ sở lạ lùng Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh
Hoặc
“Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Trang 27Xuống sông sợ đỉa, lên rừng cọp um” [Sơn Nam 2009: 8]
Đất mới, con người cũng mới, trên vai không trĩu nặng truyền thống hàng ngàn năm, con người trở nên mạnh bạo, năng động, cởi mở… Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân Nam Bộ đã tạo dựng một nếp sống tinh thần
ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa huynh đệ làm trọng, sống chết có nhau, giữ trung cang nghĩa khí lúc khó khăn, thời vận đổi thay Cá tính Nam Bộ chịu ảnh hưởng
của “khí hậu, đất trời và môi trường sinh trưởng” mới: cởi mở trong giao lưu, nhạy
bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần bình đẳng, nhân nghĩa, bao dung, nhưng rạch ròi, quyết liệt và rất mực giản dị, thiết thực, vượt ra khỏi những ràng buộc, gò
bó của khuôn mẫu Con người với những tính cách ấy được phản ánh trong rất nhiều lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, trong đó có đờn ca Tài tử
Xét ở góc độ chủ thế, đờn ca Tài tử là kết quả sáng tạo và lưu truyền của rất nhiều thế hệ nghệ nhân, nhạc sĩ và được nuôi dưỡng bởi đông đảo công chúng thưởng thức của cả vùng Nam Bộ
1.2.3.1 Các thế hệ nghệ nhân, nhạc sĩ
Các công trình nghiên cứu về đờn ca Tài tử cho thấy loại hình nghệ thuật này được hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất phát từ những nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống
Ca Huế Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó
Ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng Vào đến miền Nam, đờn ca Tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới Những con người tháo vát, đầy sáng tạo tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của đờn ca Tài tử đa phần là những điệu phảng phất nỗi u buồn Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu được thêu thùa, biến hóa tùy lúc, tuỳ người
Trang 28Sức lan toả và chất lượng nghệ thuật được đánh giá qua trình độ chuyên môn của các nhóm nhạc địa phương Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Đông và Tây Nam Bộ đã hình thành hai nhóm ca nhạc Tài tử ra sức tranh đua với nhau để cải tiến, nâng cao và sáng tác thêm nhiều bài bản mới Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) Nguyễn Quang Đại là nhạc quan của triều đình Huế, bỏ kinh thành phiêu bạt về phương Nam khoảng thập niên 1870 [dancataitu.multiply.com] Ông đã trôi dạt đến vùng đất Chợ Đào (nơi có gạo Nàng Thơm Chợ Đào, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước), mở lớp dạy đờn ca Ông là người Quảng Nam, con thứ ba trong gia đình, theo cách gọi của dân Nam Bộ là Ba Đại, nhưng nói trại theo tiếng Quảng Nam là
Ba Đợi Tại Chợ Đào, ông Ba Đợi thu nhận những học trò có năng khiếu và say mê đờn ca để truyền dạy những bài bản Nhạc lễ cung đình Nhạc lễ cung đình trang trọng, hoành tráng qua sự cải biên và sáng tạo của ông trở nên dân dã, gần gũi trong môi trường của vùng đất mới khẩn hoang Có thể nói, ông Ba Đợi đã có công lớn, cùng các văn nhân và học trò giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản gốc của ca nhạc Cung đình Huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp (nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp lơi) song vẫn tôn trọng lòng bản, để tạo một nhịp điệu hòa hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần chúng Ông Ba Đợi thường nhắc nhở
học trò: “Lễ phải có Nghi Nhạc phải có Hòa Tiếng đờn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan” [www.dactrung.com]
Ở miền Tây, tại Bạc Liêu có lò nhạc Tài tử rất là nổi tiếng là lò của thầy Hai Khị (Lê Tài Khị) còn gọi là Nhạc Khị Thầy Hai Khị là người sáng tác ra bộ Tứ Bửu để đáp lại bộ Ngũ Châu của nhóm miền Đông, đồng thời ông còn có công chỉnh lý và hiệu đính 20 bài bản Tổ của nhạc Tài tử Nam Bộ, mà ngày nay đang được phổ biến Thầy giỏi cả Nhạc lễ và Nhạc Tài tử, ông còn đào tạo ra nhiều học trò xuất sắc như: Cao Văn Lầu, Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Năm Phát, Hai Thơm, Ba Chột, Thiện Thành, Tư Bình… mà nhóm miền Đông không thể sánh kịp, cho nên cả giới nhạc
Trang 29Tài tử Đông – Tây đều tôn ông là “hậu Tổ” tức bậc thầy của các thầy Có nghĩa là đất Bạc Liêu sinh ra hiền tài và nhiều bài bản của nhạc Tài tử Nam Bộ
Hình 1: Lê Tài Khị [Nguồn: http://www.tranquanghai.info/p1859-tran-phuoc-thuan-%3A-hau-to-co-nhac-
bac-lieu.html]
Ngoài Nhạc Khị truyền dạy nhạc và hướng dẫn sáng tác cho khá đông học trò,
Sư Nguyệt Chiếu cũng bỏ công không nhỏ trong việc đào tạo Nhạc lễ và đờn ca Tài
tử khi ông được mời về ngụ tại chùa Vĩnh Đức, thị xã Bạc Liêu Những năm tháng
này, phần lớn thầy đờn Nhạc lễ và đờn ca Tài tử giỏi đều xuất thân từ “lò” đào tạo
cổ nhạc của Nhạc Khị như Sáu Lầu, Ba Chột, Trịnh Thiên Tư, Hai Tài, Mộng Vân, Năm Nhỏ, Lý Khi… hay học trò của Sư Nguyệt Chiếu như Thiện Ý, Thiện Ngộ, Thiện Thành…
Một điểm khá thú vị, trong thời gian dạy Nhạc lễ và đờn ca Tài tử, Sư Nguyệt Chiếu thường chú trọng hướng dẫn bài Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu (lúc sinh thời nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Năm Nhỏ) kể chính Sư Nguyệt Chiếu đã giúp Cao Văn Lầu đặt tên sáng tác của ông là bài Dạ cổ hoài lang; về sau có người hiểu lầm Sư Nguyệt Chiếu là tác giả) Trong số học trò của Sư Nguyệt Chiếu, nổi bật có Năm Nghĩa (Lư Hoà Nghĩa, phụ thân của Nghệ sĩ ưu tú Bảo Quốc), Sanh Xía, Chín Quy…
Trang 30Miền Đông còn có ông Nguyễn Liên Phong (cha) và Nguyễn Tùng Bá (con) đi dạy đờn khắp lục tỉnh Bấy giờ ở miền Tây có những nhà giàu có, khá giả thường mời thầy đờn về dạy nhạc, bao ăn ở và trả thù lao hậu hỉ Ông Nguyễn Liên Phong, người Nghệ An, là một trí thức nho học, đỗ cử nhân (khoa Đinh Mão 1867), làm
quan đến chức Tri phủ sau vào Nam dạy đờn Ông còn là tác giả của Điếu cổ hạ kim thi tập và Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca Qua 2 tác phẩm này đã xác định
nguồn gốc miền Trung của nhạc Tài tử Như trường hợp Tiến sỹ Phan Hiển Đạo đỗ
Đệ tam giáp tiến sỹ đồng xuất thân (khoa Bính Thìn 1856) người làng Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho Ông là một trong những nho sỹ đã mang nhạc Huế dạy cho các học
trò của mình Ghi nhớ công lao của Phan Hiển Đạo nên trong Điếu cổ hạ kim thi tập Nguyễn Liên Phong đã viết: “Khúc đờn Lưu thuỷ trôi dòng bích Mà giọng kìm tranh giọng Huế còn” [Mai Mỹ Duyên 1997: 50]
Trong số các bậc tiền bối của nhạc Tài tử có không ít người được sinh ra từ Mỹ Tho Đất Mỹ Tho có thể xem là một trong những trung tâm xuất phát nghệ thuật ca cầm Người có công đưa nghệ thuật này đến với công chúng có thể nói là ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều), đứng đầu một ban nhạc Tài tử Ban nhạc của ông được mời sang Mạc-xây (Pháp) trình diễn ở Hội chợ các nước thuộc địa Ban nhạc gồm có Tư Triều chơi đờn Kìm (đờn Nguyệt), Chín Quán chơi đờn Độc huyền (đờn Bầu), Mười Lý thổi Tiêu, Bảy Võ chơi đờn Cò, Hai Nhiễu chơi đờn Tranh (đờn Thập lục) Cô Ba Đắc ca ban nhạc Tài tử này được nhiều người hâm mộ Chủ Minh Tân khách sạn ở Mỹ Tho mời Ban này đến giúp vui cho khách ăn hàng [Hoàng Như Mai 1986: 6].Ban nhạc Tài tử của ông Tư Triều còn được thầy Năm Hộ mời biểu diễn ở rạp chiếu bóng Casino Thời kỳ đầu này nhạc Tài tử còn rõ chất thính phòng Các tài tử mặc áo dài, khăn đóng, ngồi trên một bộ ván đặt trên sân khấu để biểu diễn Dần dần, cách biểu diễn này phát triển ra các địa phương khác và đến với Sài Gòn hoa lệ
Như một học giả đã nhận định: “Trong giai đoạn lịch sử tiếp xúc với văn hoá phương Tây này, nhất là chính sách đồng hoá của bọn thực dân, thì đờn ca Tài tử
Trang 31như là sự phản kháng bằng âm nhạc, một sự trỗi dậy của âm nhạc dân tộc chống lại mưu đồ nô dịch văn hoá của kẻ thù.” [Ngô Đức Thịnh 2003: 333] Do vậy, sáng tạo
ra âm nhạc trong giai đoạn đầu là những người có tài năng, am hiểu nhạc học đồng thời cũng là những trí thức có nhận thức sâu sắc về văn hoá dân tộc, như: Phan Hiển Đạo, Trần Quang Thọ, Cao Hoài Sang, Lê Tài Khị, Nguyễn Quang Đại, Trần Văn Triều, Nguyễn Tống Triều, Nguyễn Tri Khương, Cao Văn Lầu…
1.2.3.2 Đối tượng thưởng thức
Xét ở góc độ chủ thể là người thưởng thức thì có nhiều ý kiến khác nhau Có người cho rằng đờn ca Tài tử là lối đờn ca của những tri kỷ tri âm không có khán giả, người đờn người ca cũng đồng thời là người thưởng thức Song trong đời sống thực tế, âm nhạc của bất kỳ dân tộc, quốc gia nào cũng là cầu nối giữa người sáng tạo, người trình diễn và người thưởng thức So với các loại hình nghệ thuật khác,
âm nhạc có sức lan toả mạnh mẽ, có đối tượng là công chúng (người thưởng thức)
rất rộng, ở nhiều tầng lớp xã hội khác nhau “Thú đờn ca quy tụ nông dân, thợ hớt tóc, lơ xe đò, con cái điền chủ, giáo viên Đã chơi thì không phân biệt giai cấp.” [Sơn Nam 2003: 133]
Mặt khác, từ những người thưởng thức này, đờn ca Tài tử đã được nuôi dưỡng
và phát triển bởi những hành động hào hiệp, như: hỗ trợ phương tiện di chuyển, tiền
bạc để tập dượt, biểu diễn, thưởng công sáng tạo bài bản… Họ là những “mạnh thường quân” có vai vế ở địa phương hoặc giàu có, khá giả Ngày nay, đờn ca Tài
tử thu hút những người mộ điệu tụ họp hát ca và thưởng từ đủ mọi ngành nghề, đủ mọi lứa tuổi trong xã hội
Vậy, có thể nói, thị hiếu thẩm mỹ của chủ thể quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của đờn ca Tài tử Nam Bộ
Trang 32Tiểu kết
Tóm lại, theo người viết thì đờn ca Tài tử Nam Bộ là một loại hình nghệ thuật vừa mang tính bác học trong hệ thống bài bản, vừa mang tính dân gian trong sinh hoạt cộng đồng, lấy sinh hoạt đờn ca làm thú vui tao nhã, kết bạn tri kỷ tri âm Từ thú tiêu khiển tao nhã của tầng lớp nho sỹ, trí thức đờn ca Tài tử đã được phổ biến thông qua các phương thức truyền dạy và hình thức tổ chức sinh hoạt đa dạng, thích ứng với mọi không gian, hoàn cảnh nên chỉ trong khoảng thời gian không lâu, loại hình nghệ thuật này đã nhanh chóng được các tầng lớp xã hội đón nhận
Trong khối quần chúng to lớn đó đã xuất hiện nhiều nhân tài của nghệ thuật âm nhạc Nhạc Tài tử dần dần phát triển về nội dung lẫn hình thức, trong những cuộc liên hoan, hội hè, cưới hỏi hay lúc nông nhàn, trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng Bởi vì, song song với sự phát triển đời sống vật chất, nhạc Tài tử đã đem đến cho họ một cảm xúc thẩm mỹ mới mẻ mà trước đó chưa có tiền lệ Đờn ca Tài tử ra đời đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ, là tâm tư, tình cảm, tính cách họ gửi gắm vào từng câu ca, điệu nhạc
Căn cứ diễn trình lịch sử từ lúc khai hoang mở cõi, định hình vùng đất mới rồi trải qua hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm cho đến ngày nay, đờn ca Tài tử ra đời và phát triển như một sản phẩm văn hoá tinh thần tất yếu của con người Nam
Bộ Về mặt nghệ thuật, nhạc Tài tử đã đóng góp nhiều yếu tố mới trong đời sống
âm nhạc của quần chúng, được bà con nông dân yêu mến và bảo vệ, đã tiến đến một thời kỳ rực rỡ hơn bao giờ hết, mở đầu cho sự xuất hiện một loại hình nghệ thuật mới, đó là nghệ thuật sân khấu Cải lương
Đờn ca Tài tử nhìn từ hệ tọa độ không gian, thời gian, chủ thể và các khái niệm liên quan là nền tảng, là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu những đặc trưng văn hóa của đờn ca Tài tử Nam Bộ
Trang 33Chương 2: Đặc trưng văn hóa của đờn ca Tài tử Nam Bộ
Mỗi một loại hình văn hóa - nghệ thuật đều có những dạng vẻ và đặc điểm riêng biệt làm nên đặc trưng của loại hình Dưới góc nhìn văn hóa học, người viết người viết phân tích bốn đặc trưng nổi bật nhất của đờn ca Tài tử là: tính cộng đồng, tính biểu cảm, tính linh hoạt và tính thống nhất
2.1 Tính cộng đồng
Đờn ca Tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, là kết quả của sự sáng tạo, cải tiến của rất nhiều nghệ nhân đờn ca Tài tử Những người tham gia đờn ca, khán giả thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau, nhiều độ tuổi, trình độ Vượt lên trên sự biểu đạt thông thường của một loại hình sinh hoạt tinh thần, Nhạc Tài tử đã trở thành tâm thức văn hóa, liên kết cộng đồng, gắn bó máu thịt với người dân Nam Bộ
2.1.1 Đờn ca Tài tử là sức mạnh tinh thần của cộng đồng
Đờn ca Tài tử là nghệ thuật kết hợp của đờn và ca Những người tham gia đờn
ca Tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về điều kiện vật chất hay không gian sinh hoạt Đờn ca Tài tử phù hợp với mọi tầng lớp xã hội nhưng đối tượng chủ yếu là nông dân, những người lao động chân chất, bình dị mà cuộc sống và tâm hồn họ đã bao đời gắn bó với làng xóm, quê hương
Chính vậy mà đờn ca Tài tử được xem là “máu thịt”, là tâm hồn của con người
Nam Bộ Các nhạc sĩ, nghệ nhân đều được cộng đồng trân trọng vì danh tiếng và tài năng của họ Do vậy mà không ít gia đình ở Nam Bộ chọn tên những người nghệ sĩ
nổi tiếng để đặt tên con cháu của mình Những người chơi nhạc được gọi là “Thầy đờn”, thậm chí còn có danh hiệu cao hơn Như trường hợp tài tử Ba Vinh ở Cà Mau, Vĩnh Bảo ở Sài Gòn được giới chơi nhạc ở địa phương phong là “nhạc sư” Hay
nhạc sĩ Trần Văn Triều ở Mỹ Tho sáng tạo ra dây Tố Lan; nhạc sĩ Năm Vĩnh ở Hậu
Trang 34Giang sáng tạo ra dây Hò 5 cho cây đờn Kìm được cả Nam Bộ biết đến Danh tiếng của một tài năng trong giới nhạc Tài tử cũng tác động đến tình cảm của người mộ điệu Như trường hợp của nghệ sĩ ưu tú Ba Tu quê ở Long An trong thời gian hoạt động cách mạng bị bắt, sau đó lại được thả về do kẻ địch bấy giờ nghe danh tiếng đờn ca của ông Người viết đã từng nghe những nghệ nhân trong giới đờn ca Tài tử
ca ngợi rằng: “chừng nào miền Nam hết cỏ thì mới hết danh cầm”
Thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đờn ca Tài tử bị cấm vì cho rằng nó ủy mị, đau buồn sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu Tuy vậy, những nghệ nhân vẫn lén lút, âm thầm tụ họp đờn ca Họ còn bất chấp nguy hiểm đạn bom, bất chấp kỷ
luật, bơi xuồng ra đờn hát “bơi xuồng tuốt vào rừng U Minh để đờn ca cho thỏa mãn” (lời soạn giả Lâm Tường Vân trong chương trình Liên hoan đờn ca Tài tử Nam bộ năm 2001 ở TP.HCM) Nhưng khi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa áp dụng chiến tranh tâm lý, tuyên truyền nghệ thuật phương Tây, trong đó có tân nhạc thì những nhạc công, nhạc sĩ, nông dân tham gia kháng chiến đã tìm cách đưa đờn ca
Tài tử vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc thông qua các bản Xuân tình, Tây Thi, Đảo ngũ cung, Vọng cổ… Các bài ca sáng tác dựa trên các yếu tố lịch sử để hun đúc
ý chí, tinh thần yêu nước và tình đoàn kết dân tộc của cộng đồng Những sáng tác
đó đã đem lại sức mạnh của nhân dân miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước
“Tiếng pháo, bom đạn vừa dứt thì tiếng đờn ca Tài tử Nam Bộ lại trỗi lên, tiếng đờn, tiếng ca luôn hiện diện trong đời sống của mỗi con người, trong những ngày vui chiến thắng, trong những buổi hành quân trên những cánh đồng mênh mông, trên những dòng sông kênh rạch chằng chịt giữa cánh rừng tràm, rừng đước bạt ngàn” [Huỳnh Khánh 1999: 380]
Đờn ca Tài tử không chỉ phục vụ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ
mà còn là phương tiện để vận động, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, gây quỹ bảo trợ người nghèo, ủng hộ, cứu đói những nơi bị lũ lụt, đi sâu vào ngóc ngách của đời sống tâm lý con người phản ánh sở nguyện của họ trên hành trình đi tìm cuộc sống mới Các bài ca Tài tử cũng lấy đề tài từ thực tế cuộc sống
Trang 35nông thôn Nam Bộ, tìm cảm hứng từ cảnh thực, người thực để đưa vào trong các
bài ca: gặp cô bán trầu duyên thì có bản vọng cổ “Cô gái bán trầu duyên”, gặp cô bán trầu xanh có bài “Lá trầu xanh”, gặp anh bán chiếu thì có bản “Tình anh bán chiếu”… Không chỉ là biểu hiện của sức mạnh cộng đồng mà đờn ca Tài tử đã thâm nhập vào những ngóc ngách của đời sống nội tâm con người, phản ánh nó theo phương thức thẩm mỹ của nghệ thuật Chính điều đó đã tạo nên sức sống mạnh mẽ của loại hình này
2.1.2 Đờn ca Tài tử là sức mạnh gắn kết cộng đồng
Hai chữ “đờn ca” không thể tách rời nhau Có đờn thì mới có ca, ca thì phải có
đờn, ca mà không có đờn thì không thể ca được Hòa đờn được thể hiện từ ban nhạc, mà ban nhạc thì phải có ít nhất từ hai loại nhạc cụ khác nhau trở lên thì mới gọi là hòa đờn Còn hòa ca phải có cả ban nhạc và ít nhất phải có một người ca thì mới biểu diễn được tiết mục hòa ca Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, đờn ca Tài tử luôn phản ánh tính cách của con người Nam Bộ: đó là sự kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, như: yêu nước, thương đồng bào, ý chí và tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm Đó còn là những đặc trưng tính cách được hình thành của một cộng đồng đi khai phá vùng đất mới: nghĩa khí, phóng khoáng, chân thật, thích giao du và kết bạn Tất cả thể hiện rõ nhất ở nội dung của các bài ca Tài tử
Người đờn ca Tài tử khi nào thích thì cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hoà đờn để vui chơi và để cho người mộ điệu thưởng
thức Trước đây cũng như bây giờ, những thầy đờn Tài tử “khó tính” cảm thấy vui, thấy cảm xúc thì chơi còn không “hứng” thì thôi, khó ai có thể bỏ tiền ra mua hay
dùng quyền thế mà bắt buộc được họ Đây cũng là sự thể hiện tính cách khẳng khái,
“trọng nghĩa khinh tài” của con người Nam Bộ Như vậy, giữa đờn và ca cũng đã
cho thấy một sự gắn kết chặt chẽ trong các dạng thức sinh hoạt nghệ thuật đờn ca Tài tử Nam Bộ
Trang 36Đờn ca Tài tử ngày nay giữ được hai hình thức sinh hoạt: dân dã và thính phòng
và hình thức dân dã có phần nổi trội hơn Vì hình thức sinh hoạt dân dã cũng đồng nghĩa với đại chúng chấp nhận Hiện nay, không chỉ người Việt thích đờn ca Tài tử
mà người Hoa, người Khmer ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang cũng tham gia vào đờn hát trong các câu lạc bộ đội nhóm Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng đến đây tìm hiểu và học đờn ca với nghệ nhân
2.1.3 Đờn ca Tài tử là sinh hoạt văn hóa của cộng đồng
Đờn ca Tài tử gắn chặt với đời sống tinh thần và vật chất của người Nam Bộ
Họ hợp tác với nhau trong lao động bằng đờn ca Tài tử, yêu nhau bằng đờn ca Tài
tử, truyền từ này qua đời khác bằng truyền khẩu theo cách cha dạy con, anh dạy em, bạn bè chỉ ngón cho nhau Đờn ca Tài tử xuất hiện mọi lúc mọi nơi, ăn sâu vào đời sống người lao động một cách tự nhiên, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của họ
Đờn ca Tài tử nối kết tâm hồn của cộng đồng, tạo ra được sự cảm thụ âm nhạc gần gũi mà rất nghệ thuật Giữa người ca diễn và người thưởng ngoạn gần như không có khoảng cách Những đề tài, nội dung của các bài ca gắn liền với sinh hoạt lao động, sản xuất, dựng xây cuộc sống của bà con Nó là những giá trị âm nhạc của đám đông nhằm phục vụ cho đám đông Nó không đòi hỏi sân khấu rộng lớn, kỹ thuật âm thanh ánh sáng hiện đại Ai cũng có thể là khán giả của đờn ca Tài tử Họ được thưởng ngoạn âm nhạc dân tộc lành mạnh, vui tươi mà không phải trả tiền Trong nhân dân bình thường cũng có những người yêu văn nghệ có trình độ sáng tạo bài bản và những người có giọng ca đẹp tự nhiên có thể ca diễn, kể cả ca ra
bộ Bài bản, lời ca, chữ đờn, phong cách diễn xuất của họ giàu tính sáng tạo, đột phá, gắn liền với cuộc sống lao động, sản xuất và chiến đấu
Có khi ban ca nhạc Tài tử chỉ có hòa nhạc giữa các nhạc sĩ với nhau vì không có người ca Trái lại, có người ca mà không có dàn nhạc thì không thể gọi là đờn ca Tài tử được Các tài tử giai nhân đờn ca trước kia nhất nhất đều ăn mặc thật nghiêm
Trang 37túc, đàn ông đàn bà đều mặc áo dài, đầu chít khăn đóng, chân mang guốc Bộ ván ngựa ở nhà trên rất thông dụng dành cho nhóm ca nhạc Tài tử ngồi trình diễn khi họ được mời đến nhà
Ở nông thôn hiên nay, người đờn, người ca, người xem là những nông dân chân lấm tay bùn, tụ hợp lại đờn ca giải trí Trong từng xã ấp, những người thích đờn ca, giỏi bắt vần bẻ điệu cũng sẵn lòng tụ họp ca xướng trong đám cưới, đám giỗ, đám tang Có thể nói, đờn ca Tài tử Nam Bộ chính là những lời giao duyên, biểu hiện những tình cảm sâu kín của con người, là nơi để gặp gỡ tạo nên niềm vui sau những ngày, mùa lao động vất vả
Dù là ngày bình thường hay ngày lễ, Tết, đờn ca Tài tử cũng có thể vang lên ở bất cứ đâu trong đám tiệc, trên đồng ruộng Họ không thành lập ban bệ mà chỉ tập hợp những người có cùng sở thích rồi cùng ngâm nga vài câu sau những giờ làm việc mệt nhọc Ai có nhã hứng thì hát, không cần chắc câu, đúng nhịp Có khi họ hát đến tận đêm khuya mà vẫn không chán Hát xong thấy đói bụng, mọi người chung tay nấu một nồi cháo, vừa ăn, vừa nghe hát thật tri kỷ, tri âm, hay nói như
nhà văn Sơn Nam “đờn ca Tài tử là để di dưỡng tính tình” [Sơn Nam 2003: 313]
Những cuộc vui chung của cộng đồng có đờn ca Tài tử trên sông, trong gia đình nghệ nhân vào những ngày nông nhàn, ngày tết, lễ hội… là môi trường cộng cảm, tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó tình làng nghĩa xóm
“Cuộc sống sinh hoạt của cư dân Nam Bộ thường gắn liền với những cuộc hát
hò vui chơi mà điển hình là là đờn ca Tài tử Đó là kho cứ liệu văn hóa dồi dào, là nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư xây dựng và khắc họa hình tượng con người Nam bộ mang đậm chất văn hóa Nam bộ: mê đờn ca tài tử, thích hát vọng cổ, tiêu chuẩn chọn chồng…” [http://www.viet-studies.info] Ví dụ
như trong các tác phẩm Một mối tình, Làm má đâu có dễ, Dòng nhớ… Trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi hay bộ phim truyền hình Đất phương Nam, hình ảnh người dân Tây Nam Bộ bình dị, chân chất, trong nghèo khó,
Trang 38trong chiến tranh vẫn vang lên tiếng đờn, tiếng hát Nhà văn Sơn Nam rất mê đờn ca
Tài tử nên phần lớn các tác phẩm của ông đều ít nhiều nói đến như “Văn minh miệt vườn ”, “Hương rừng Cà Mau”… Họa sĩ Văn Phúc cũng có bức tranh về đờn ca Tài
tử, miêu tả thú vui dân dã của những người miền Tây trên sông nước
Những điều này chứng tỏ loại hình âm nhạc đờn ca Tài tử giống như là máu thịt của người dân, không thể thiếu được trong cuộc sống Không phải loại hình âm nhạc nào cũng trở thành văn hóa nhưng đờn ca Tài tử đã trở thành văn hóa của cộng đồng Sự trân trọng của cộng đồng cũng là chất xúc tác cho niềm đam mê của nghệ nhân, giúp họ gắn bó lâu dài với đờn ca Tài tử, đem tài nghệ của mình phục vụ công
chúng và duy trì nền âm nhạc dân tộc bằng cách “cha truyền con nối” Không ít gia
đình nghệ nhân ở Nam Bộ có 3-4 thế hệ đờn ca Tài tử
2.2 Tính biểu cảm
Ngoài tính cộng đồng, đờn ca Tài tử còn mang tính biểu cảm Biểu cảm là biểu
lộ, bộc lộ cảm xúc vui, buồn Có một thuật ngữ gọi nhạc Tài tử là “tâm tấu”, những ngón đờn Tài hoa bất chợt được tấu lên gọi là “đờn thần” Một ban nhạc hay
là một ban nhạc có những người tâm đầu ý hợp, một ban nhạc “ăn rơ” [Lê Thị
Dung 2002: 304] Đờn ca Tài tử như lời tự tình của dân tộc trên hành trình mở cõi,
là nỗi niềm hoài vọng cố hương Đờn ca Tài tử mang tâm hồn, tính cách người phương Nam luôn luôn sống tình cảm, chân thành, nghĩa tình, bao dung…
Biểu cảm trong đờn ca Tài tử được xét qua cách đờn, cách ca, hơi điệu và ca từ,
đề tài Gốc của đờn ca Tài tử là khí nhạc, bài bản đờn có trước lời ca Người nghe đờn ca Tài tử dù là người Việt hay người nước ngoài đều “cảm” được trước hết và phần lớn là nhờ nghệ thuật đờn, nghệ thuật ca, giai điệu, làn điệu…
2.2.1 Tính biểu cảm ở cách đờn, cách ca
Nhà nghiên cứu Trần Văn Khê đã từng nói trong một chương trình văn nghệ
ngày 17 tháng 12 năm 2010: “Khác với Ca trù miền Bắc hay Ca Huế miền Trung
Trang 39mà lời ca quan trọng hơn tiếng đờn, trong đờn ca Tài tử dàn nhạc lại được chú ý hơn tiếng ca Người nghe chú trọng vào chữ đờn nhấn có gân, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề… ngọt ngào uyển chuyển; cách đờn câu thòng, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng Nhưng tiếng ca cũng không kém phần quan trọng.” [tranquanghai.info] Đờn và ca phải hòa hợp với nhau, hơi ca không được đâm, nhịp đờn không được chỏi
Khi phong trào nhạc Tài tử ra đời thì có hai lọai nhạc: Nhạc lễ Tài tử và Nhạc Tài tử Nhạc lễ Tài tử chuyên phục vụ các đám tang với Tranh, Kìm, Cò, Gáo, Sến
và Tiêu Còn nhạc Tài tử thì ngoài những nhạc khí trên còn có Tỳ bà, Tam, Đoản, Bầu, Sáo… Đến đầu những năm 40, trong số nhạc khí dân tộc có thêm Ghi-ta phím lõm, Ghi-ta Hawai và cây Violon [Lê Thị Dung 2002: 320]
Đờn Tài tử có khi đờn một mình như độc tấu đờn Kìm hay đờn Tranh Khi biểu diễn nhạc Tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có
âm sắc khác nhau, nhất là song tấu đờn Kìm và đờn Tranh - là sự kết hợp giữa tiếng
tơ và tiếng sắt (sắt cầm hảo hiệp), hoặc tam tấu đờn Cò, Độc huyền, Tranh-Cò-Độc huyền (tam chi liên hoàn pháp) Năm cây - gọi là ngũ
Kìm-Tranh-tuyệt - gồm đờn Tranh, Kìm, Cò, Độc huyền và Tỳ bà Thỉnh thoảng lại có ống Sáo hay ống Tiêu cùng hòa và về sau có thêm Ghi-ta phím lõm
Một điểm đặc biệt của nhạc Tài tử nữa là lối đờn ngẫu hứng đầy tính biểu cảm Người nghệ sĩ dựa trên lòng bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với những nghệ sĩ cùng diễn khác Chính vì thế, mà mỗi lần nghe lại cùng bản đờn, người nghe luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa
Dàn nhạc Tài tử sử dụng đờn Kìm và đờn Tranh, thường thì lựa tiếng thổ hòa với tiếng kim, mà có thêm cây đờn Cò thì càng hay Có thể thêm đờn Độc huyền, đờn Tỳ bà, đờn Tam Ống Sáo, ống Tiêu thường dùng trong các bài buồn như Tứ
Trang 40đại oán hay Văn thiên tường Và đặc biệt là Song lang (có nghĩa là hai thanh tre già) dùng để gõ vào nhau khi câu nhạc đến nhịp quan trọng