Cho đến năm 2010, nông dân nước ta chiếm gần 70% lực lượng lao động xã hội, họ vừa là đối tượng chịu sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng cũng đồng thời là chủ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
VŨ DUY ĐỊNH
GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
VŨ DUY ĐỊNH
GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIỆP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Hiệp Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình này
Tác giả
Vũ Duy Định
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DẪN LUẬN ……… 1 Chương 1: QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NÔNG DÂN
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÔNG DÂN ……… 6
1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nông dân ………… …… 6 1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân Việt Nam ….… 13 1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NÔNG DÂN TRONG QUÁ
1.2.1 Vài nét về vai trò của nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay ……… …… 19 1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa………….…… ……… …….….……… ….… 23
Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Dương ………….……… … 31 2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương ……… … … 33
2.2.1 Những chuyển biến tích cực trong nông nghiệp ……….…….…… … 39 2.2.2 Những chuyển biến tích cực trong nông thôn ……… ……… 56 2.2.3 Những chuyển biến tích cực của nông dân ……… … … ……… 74
Trang 5TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY ……….…… 83 2.3.1 Một số khó khăn và hạn chế ……… ……… …… 83 2.3.2 Nguyên nhân của những khó khăn và hạn chế ……… ……… 88
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIAI CẤP NÔNG DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIAI CẤP NÔNG DÂN TỈNH BÌNH
3.1.1 Tập trung mọi nguồn lực tham gia phát triển giai cấp nông dân … … 93 3.1.2 Xây dựng nông dân toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế … … 94 3.1.3 Giải quyết đồng bộ những vấn đề về nông nghiệp và nông thôn….… 94 3.1.4 Nâng cao sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn……….……… … 94
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIAI CẤP NÔNG DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.2.1 Đổi mới, bổ sung hoàn thiện chính sách về đất đai … 96 3.2.2 Nâng cao vai trò, trách nhiệm các hội và hiệp hội đối với nông dân… 98 3.2.3 Đầu tư khoa học - kỹ thuật, quy hoạch các vùng cây chuyên canh … 99 3.2.3 Đào tạo nghề, phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống … 101 3.2.4 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở … … ….… 104 3.2.5 Thực hành Quy chế dân chủ ở địa bàn nông thôn …… …… … …… 106
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC THAM KHẢO
Trang 6DẪN LUẬN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, giai cấp nông dân Việt Nam có vai trò
to lớn, là những chủ nhân khai phá đất đai, mở mang bờ cõi, họ cũng đồng thời sáng tạo và bồi đắp nên những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần truyền thống của dân tộc Không chỉ đóng vai trò quan trọng sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, nông dân còn là đội quân chủ lực trong bảo vệ và giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước ta
Cho đến năm 2010, nông dân nước ta chiếm gần 70% lực lượng lao động xã hội, họ vừa là đối tượng chịu sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng cũng đồng thời là chủ thể tích cực tham gia tiến trình ấy, chính vì vậy: “Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt để xứng đáng là một lực lượng cơ bản trong việc xây dựng nông thôn mới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công
nghiệp hóa” [42, 15], là định hướng mang tính chiến lược lâu dài của Đảng ta
Việc đảm bảo về lợi ích kinh tế là yếu tố quyết định nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người nông dân trong giai đoạn hiện nay Nông dân, nông nghiệp
và nông thôn là chuỗi những giá trị trong cùng một chỉnh thể, nên chỉ có giải quyết một cách đồng bộ và khoa học chúng ta mới có thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thành công và bền vững, trong đó phát huy vai trò và sức mạnh của người nông dân mang yếu tố xuyên suốt và quyết định nhất Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định cần phải: “Ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới ” [46, 118] Vì chính giai cấp nông dân cùng với
“Nông nghiệp, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa…” [47, 12-124] ở nước ta hiện nay
Tỉnh Bình Dương có vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên ưu đãi, cùng với đó, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã có những chủ trương, chính sách đột phá
về phát triển kinh tế, cải cách thủ tục hành chính, thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở
Trang 7hạ tầng… Trong những năm qua, từ một tỉnh thuần nông đã vươn lên thành một tỉnh công nghiệp với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 14%, gấp đôi mức bình quân cả nước, là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, năng động của phía Nam
Những thành tựu về kinh tế đã làm thay đổi cuộc sống của người dân trong tỉnh, đặc biệt đối với người nông dân Tư duy sản xuất lạc hậu, manh mún đã dần được thay thế bằng lối tư duy sản xuất khoa học, hiện đại, người nông dân bước đầu đã có những kỹ năng xây dựng và tiếp cận thị trường hàng hóa Do trình độ sản xuất được nâng cao nên mô hình sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú Nền nông nghiệp của tỉnh phát triển bền vững trên cơ sở được đầu tư tiến
bộ khoa học – kỹ thuật Sự liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp trên địa bàn đã đảm bảo cho sản phẩm của người nông dân có đầu ra ổn định, chi phí sản xuất thấp, giá bán cao… Bên cạnh đó, cũng còn nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp nảy sinh cần phải giải quyết như: đất sản xuất thu hẹp, giá nông sản bấp bênh, chuyển đổi nghề chậm, ô nhiễm môi trường nông thôn gia tăng
Từ đó dẫn đến sự phân hoá về cơ cấu giai cấp nông dân theo chiều hướng đa dạng và phức tạp trong môi trường công nghiệp hóa, đô thị hóa
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Giai cấp nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Dương hiện nay” làm chủ đề nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên nghành Chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vấn đề về nông dân, nông nghiệp, nông thôn đã được các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học hết sức quan tâm
Trước hết là những công trình mang tầm vĩ mô, nội dung tập trung vào những
cơ hội và thách thức đang đặt ra cho giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay về các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội… Tiêu biểu phải kể đến những
công trình như: Để nông dân giàu lên, (2005) của GS.TS Võ Tòng Xuân, (Nxb
Trang 8Trẻ - Thời báo Kinh tế Sài Gòn); Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, (2007) của TS Lê Quang Phi, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội); Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, (2008) của GS Hoàng Ngọc Hòa, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội); Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau, (2008) của TS Đặng Kim Sơn, (Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội) Đây là những công trình mang tính khái quát cao cho hướng
đi của nông dân, nông nghiệp và nông thôn nước ta giai đoạn hiện nay, nêu bật vai trò của giai cấp nông dân trong quá trình đấu tranh và xây dựng đất nước, đồng thời phân tích những thời cơ và thách thức mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về tỉnh Bình Dương, cụ thể như: Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu của Vũ Đức Thành, (Chủ biên), Nxb Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh; Bình Dương thời đổi mới, (2002) Nxb Thanh Niên; Kinh tế trang trại tỉnh Bình Dương - thực trạng và giải pháp phát triển, (2000), Trần văn Lợi (Chủ biên), Ban kinh tế Tỉnh uỷ Bình Dương; Bình Dương - Thế và lực mới trong thế kỷ XX (2003), Chu Viết Luân (Chủ biên),
Nxb Chính trị Quốc gia; Luận án của TS Nguyễn Văn Hiệp vớ i đề tài:
Những chuyển biến kinh tế xã hội của tỉnh Bình Dương từ 1945 – 2005
Những công trình này với luận cứ và số liệu đã được hiệu chỉnh tương đối đầy
đủ, là nguồn tham khảo hữu ích trong quá trình hoàn thành luận văn Tuy nhiên, vai trò và vị trí của người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì các công trình chưa đi sâu và khai thác có tính hệ thống
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Mục đích trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu, phân tích và đánh giá những thành tựu của tỉnh Bình Dương trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Từ đó, luận văn có những đề xuất mang tính giải pháp góp phần nâng cao vai trò và vị trí của người nông dân Đồng thời, phát
Trang 9huy tiềm năng và lợi thế của kinh tế nông nghiệp cũng như xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại trong giai đoạn hiện nay
- Nhiệm vụ của luận văn:
Nhiệm vụ của luận văn cần giải quyết những nội dung cơ bản sau:
Một là, trình bày những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân, đồng thời khái quát những quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hai là, từ kết quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Dương hiện nay, làm nổi bật những tác động toàn diện đến người nông dân trên các lĩnh vực: kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục - y tế, an ninh quốc phòng Trong đó nêu ra những thuận lợi, thời cơ, khó khăn và hạn chế
Ba là, từ đó có những phương hướng, giải pháp và một số kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người nông dân Bình Dương vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về thời gian: luận văn nghiên cứu từ khi tỉnh Bình Dương được tái lập tới nay (1997 - 2010) Đây là giai đoạn kinh tế của tỉnh có những bước tăng trưởng nhanh chóng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ theo hướng tích cực Đồng thời, cũng cho thấy những chuyển biến rõ nét nhất của giai cấp nông dân Tuy vậy, trong một số luận chứng, luận cứ và số liệu của luận văn có thể dao động trước và sau năm 1997 và 2010 nhằm đảm bảo tính chặt chẽ và logich trong cách trình bày
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bình Dương Tuy nhiên, luận văn cũng có một số đối chiếu, so sánh với các tỉnh có chung quan điểm để từ đó làm sáng tỏ những vấn đề trong luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Luận văn dựa trên thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Trên cơ sở đó, trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp logic lịch sử kết hợp với phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Thứ hai, là cơ sở cho các nhà nghiên cứu, hoạch định có luận cứ sâu hơn về
nông dân, nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bình Dương Từ đó tiếp tục
có những giải pháp thiết thực, hiệu quả hơn về nông dân
Thứ ba, giúp cho Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương có những chính sách cũng như giải pháp phù hợp đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu luận văn
Ngoài những phần dẫn luận, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1 gồm 2 tiết, chương 2 gồm 3 tiết và cuối cùng chương 3 gồm 2 tiết
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1 QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NÔNG DÂN 1.1 QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ NÔNG DÂN
1.1.1 Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về nông dân
Trong học thuyết Chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp nông dân là nội dung quan trọng và xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu cũng như hoạt động thực tiễn cách mạng Tùy vào từng thời điểm lịch sử cụ thể, vị trí địa lý đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung này luôn được giải quyết khoa học, toàn diện nhằm đáp ứng với những yêu cầu cách mạng đặt ra Trước hết, có thể khái quát về vai trò, đặc điểm và những sách lược cơ bản về giai cấp nông dân của C.Mác và Ph.Ăngghen ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, nông dân là lực lượng cơ bản và quyết định cho thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ tư sản Thời kỳ cách mạng 1848 - 1849 diễn ra ở Châu Âu, đánh dấu bước phát triển mới của giai cấp công nhân trên vũ đài chính trị Qua thực tiễn cách mạng, C.Mác đã thấy được vai trò to lớn của người nông dân, Người khẳng định: “Công nhân Pháp không thể tiến lên một bước nào của chế
độ tư bản, khi mà đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản, chưa nổi dậy chống lại chế độ tư bản, chống lại sự thống trị của tư bản” [29, 167] Tuy nhiên, lúc này trong phong trào cách mạng thế giới vẫn còn hoài nghi về sức mạnh và vị trí quan trọng đó của giai cấp nông dân Đứng trước yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn, những tác phẩm chủ yếu tổng kết kinh nghiệm cuộc cách mạng 1848 - 1850 ở Pháp và Đức đã được C.Mác và Ph.Ăngghen viết như : “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 – 1850”; “Chiến tranh nông dân ở Đức”; “Ngày mười tám tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ”; “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức”…
Trang 12Chỉ đến khi sự kiện Công xã Pari nổ ra và thất bại (1871), thực tiễn cách mạng đã kiểm chứng nhận định C.Mác, lúc đó đòi hỏi cần phải nhìn nhận về vai trò, vị trí của nông dân một cách nghiêm túc và thật sự mang tính cầu thị cao Hai ông đã thẳng thắn chỉ ra một trong những nguyên nhân chính làm Công xã Pari thất bại là do giai cấp vô sản chưa nhận được sự ủng hộ cao nhất của nông dân Qua sự kiện này, C.Mác còn đặc biệt chú ý vào “tính chất nhân dân” trong các cuộc cách mạng, nghĩa là cách mạng vô sản thành công tới đâu, nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào việc lôi cuốn được nông dân tham gia hay không Thứ hai, nông dân là lực lượng quan trọng trong mối liên minh công – nông,
có tính quyết định tới thành công của những sách lược trong mọi giai đoạn cách mạng Với lực lượng đông đảo, nhiệt huyết cách mạng cao, nhưng nông dân không tự đứng lên giải phóng chính bản thân mình, họ chỉ có thể liên minh với giai cấp vô sản mà đại diện cao nhất là Đảng Cộng sản để tiến hành cách mạng, ngược lại, chính giai cấp vô sản cũng nhận thấy chỉ có liên minh với nông dân:
“Như thế cách mạng vô sản mới có được bài đồng ca mà thiếu nó thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của cách mạng vô sản sẽ trở thành bài ai điếu”
[30, 762] Câu nói hình ảnh nhưng sâu sắc đó luôn là kim chỉ nam cho những
sách lược của giai cấp vô sản sau này, và thực tiễn cách mạng đã chứng minh hiệu quả mối liên minh này cả trong xây dựng xã hội mới Muốn vậy, việc đầu tiên cần phải làm là: “Đảng đó phải chuyển từ thành thị về nông thôn, phải trở thành một thế lực ở nông thôn” [25, 565] để từng bước tập hợp làm cho nông dân sát cánh bên giai cấp vô sản tiến hành đấu tranh cách mạng, đồng thời dẫn dắt và lãnh đạo phong trào quần chúng Như thế, những chủ trương, chính sách mới được người dân đón nhận một cách nhanh nhất, tin tưởng nhất
Thứ ba, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những nghiên cứu toàn diện về nông dân, mà xuất phát điểm là vấn đề kinh tế Khả năng cách mạng của một giai cấp tùy thuộc vào vị thế giai cấp đó trong toàn bộ nền kinh tế, phương thức sản xuất
mà giai cấp đó tiến hành, từ đó quy định vai trò giai cấp đó trong xã hội Đối với
Trang 13người nông dân những hạn chế của họ có nguồn gốc từ chính điều kiện sản xuất, C.Mác cho rằng: “Mỗi gia đình nông dân gần như tự cấp tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng và do đó kiếm tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giao tiếp xã hội” [24,
515] Vì phương thức sản xuất của người nông dân như vậy đã làm cho họ không thể trở thành một lực lượng tiên phong trong xã hội: “Chừng nào mà giữa
những người nông dân phân tán chỉ có một mối liên hệ địa phương thôi, chừng nào mà lợi ích giống nhau của họ không tạo nên giữa họ một sự cộng đồng nào, một mối liên hệ toàn quốc nào, một tổ chức chính trị nào, thì họ không hình
thành một giai cấp” [24, 516] và “Cho đến nay, phần lớn người nông dân chỉ tỏ
ra là một nhân tố chính trị bằng thái độ lãnh đạm của họ, một thái độ có gốc rễ
trong cảnh biệt lập của đời sống ở nông thôn” [25, 563] Từ những yếu tố đó nên
người nông dân không thể tạo dựng mối quan hệ xã hội để họ gắn kết lại với nhau thành một khối đoàn kết và vững chắc, giống như: “Một cái bao tải đựng
những củ khoai tây hình thành một cái bao tải khoai tây vậy” [24, 515] Do đó,
sức mạnh của nông dân chỉ nằm ở số lượng và không có được phong trào cách mạng độc lập, nếu có thì sớm hay muộn phong trào đó cũng thất bại mà thôi Chỉ ra những hạn chế đó, nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp vô sản vẫn có thể làm thay đổi lập trường và lôi kéo người nông dân về phía mình vì:
“Thái độ thờ ơ lãnh đạm đó hoàn toàn không phải là không thể khắc phục được” [25, 563] Giải pháp thành công nhất và làm cho nông dân tin tưởng nhất chính
là giải quyết vấn đề ruộng đất, chỉ có thể giải quyết nội dung nông dân - ruộng đất một cách biện chứng và khoa học thì mới tìm ra chìa khóa của sự thành công Sau cuộc cách mạng 1848 - 1849 và những sự kiện sau đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định ngay lập trường của mình về vấn đề này Trong:
“Những yêu sách của Đảng cộng sản Đức”; “Thư của Ủy ban trung ương gửi Đồng minh những người Cộng sản”, hai ông đã nhất quán bảo vệ nguyên tắc công hữu về ruộng đất Ở điểm bảy “Những yêu sách” chỉ rõ: “Các dinh cơ
Trang 14ruộng đất của bọn công hầu và điền sản khác của phong kiến, tất cả các mỏ, hầm mỏ…vv, đều biến thành sở hữu của nhà nước Trên những đất đai ấy, người ta sẽ làm nông nghiệp vì lợi ích của toàn xã hội với quy mô lớn và bằng phương pháp
khoa học hiện đại nhất” [27, 605] Như vậy, sau khi cách mạng thành công, đất
đai đó sẽ được trao về tay người nông dân để tiến hành sản xuất trên cơ sở nhà nước quản lý, đầu tư khoa học - kỹ thuật Chỉ có vậy, năng xuất mới không ngừng tăng lên, đời sống của người dân từng bước được cải thiện, và nông nghiệp sẽ có vai trò cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
Thứ tư, C.Mác và Ph.Ăngnghen đã có những định hướng chung cho bước đi sau này của giai cấp nông dân trong xã hội mới Do hạn chế của lịch sử mà vấn
đề về nông dân trong xã hội mới chưa được nghiên cứu sâu và chi tiết hơn Tuy vậy, về cơ bản, nông dân trong quá trình xây dựng xã hội mới cần phải có những bước chuyển tiếp thích hợp, khôn khéo: “Chúng ta sẽ không thể nghĩ đến dùng bạo lực để tước đoạt tiểu nông (dù có hoặc không có bồi thường cũng vậy), như chúng ta buộc phải tước đoạt bọn địa chủ Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông, trước hết phải chuyển hướng quyền sở hữu cá thể và nền kinh doanh cá thể của họ vào còn đường kinh doanh hợp tác, không phải bằng bạo lực mà bằng
sự giúp đỡ của xã hội” [25, 583] Chuyển mình qua xã hội mới, bản thân người
nông dân gặp rất nhiều khó khăn, chỉ có sự giúp đỡ, liên kết từ các tầng lớp khác, nhất là giai cấp vô sản, thông qua Đảng Cộng sản với những chủ trương, chính sách sát với cuộc sống, vì lợi ích của người nông dân mới có thể từng bước phát huy và nâng cao chất lượng cuộc sống
Bên cạnh đó, những phương pháp mang tính nguyên tắc trong việc liên minh với từng thành phần trong giai cấp nông dân cũng được Mác và Ăngghen trình bày một cách cụ thể và chi tiết Bởi nông dân là một giai cấp không có tính thống nhất, nên Ăngnghen đã chia ra 4 thành phần chủ yếu: đại nông, trung
nông, tiểu nông, và cuối cùng là cố nông tức công nhân nông nghiệp và chỉ ra
trong đó rằng: “Bất cứ ở nơi nào mà chế độ sở hữu ruộng đất lớn và vừa chiếm
Trang 15địa vị thống trị, thì nơi ấy công nhân công nghiệp là giai cấp đông đảo nhất trong nông thôn” [28, 623] và đây mới chính là: “Nơi mà công nhân công nghiệp thành thị tìm được những người bạn đồng minh tự nhiên nhất và đông đảo nhất
của mình” [28, 623] Điều đó cũng khẳng định mối liên minh công - nông phải
xuất phát trước hết đối với thành phần này Bên cạnh đó, tầng lớp tiểu nông cũng được đặc biệt chú ý và cần thiết phải lôi kéo về phía giai cấp vô sản, bởi: “Tiểu nông không những nói chung là tầng lớp quan trọng nhất trong tất cả các tầng lớp nông dân, mà còn là một trường hợp gay go nó quyết định toàn bộ vấn đề Nếu chúng ta xác định được lập trường của chúng ta đối với tiểu nông thì chúng
ta sẽ có mọi tiêu điểm để xác định được thái độ của mình đối với những thành phần khác trong dân cư nông thôn” [25, 567] Theo Ăngnghen, tiểu nông là người lĩnh canh hoặc sở hữu mảnh ruộng không lớn, chỉ đủ nuôi sống bản thân
và gia đình nên không có khả năng thuê mướn ai trên mảnh đất của mình, nên vì thế xét ở một khía cạnh nào đó, tiểu nông và cố nông có những đặc điểm tương
tự như giai cấp vô sản, chỉ khác là họ có một chút tư liệu lao động mà thôi Như vậy, vai trò và vị trí của giai cấp nông dân đã được C.Mác và Ph.Ăngnghen phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học trên cơ sở của những tổng kết thực tiễn cách mạng sinh động, những chỉ dẫn đó không chỉ mang tính thời sự và kim chỉ nam cho các sách lược của giai cấp vô sản lúc đó
mà còn nguyên giá trị cho tới ngày nay Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, nông dân được nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện, được thừa nhận và trao cho những trọng trách đúng với khả năng và sức mạnh thật sự của mình
Vai trò và vị trí của người nông dân đã được V.I.Lênin tiếp thu, vận dụng, bổ sung trước điều kiện lịch sử mới Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc thì liên minh với nông dân càng trở nên vô cùng quan trọng Người chỉ rõ: “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức là giai cấp vô sản, thì cách mạng
vô sản không thể thực hiện được” [116, 251] Từ thực tiễn cách mạng thế giới,
Trang 16thực tiễn cách mạng dân chủ tư sản và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô Viết V.I.Lênin đã đề cập nhiều đến vai trò cũng như vị trí của giai cấp nông dân, trong đó nổi bật những nội dung sau:
Thứ nhất, nông dân có vai trò quan trọng trong đấu tranh giành chính quyền
Trong hoàn cảnh nước Nga cuối thế kỷ XIX đấu tranh chống chế độ Nga hoàng, V.I.Lênin đã tập trung phân tích và khẳng định vai trò lãnh đạo không thể thay thế của giai cấp vô sản Tuy nhiên, ông cũng chỉ rõ một trong những điều kiện
để giai cấp công nhân giữ vững được vai trò lãnh đạo và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là giai cấp công nhân phải được sự ủng hộ của nông dân Chỉ
có sức mạnh của sự liên minh giai công - nông, giai cấp công nhân mới có cơ sở
để thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh cách mạng, giành lấy chính quyền về tay giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động Mối quan hệ này được xây dựng trên nền tảng vốn có là những lợi ích trước mắt và lâu dài cả về chính trị lẫn kinh tế của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân V.I.Lênin đã khẳng định: “Chỉ có lập nên chuyên chính dân chủ - cách mạng của giai cấp vô sản và
nông dân thì cách mạng dân chủ mới có thể giành được thắng lợi quyết định” [118, 75] Để giai cấp nông dân phát huy được vai trò của mình, giai cấp vô sản
phải tranh thủ được sức mạnh tiềm tàng của nông dân, phải tin vào sức mạnh đó
và tạo mọi điều kiện để nông dân tham gia tích cực vào phong trào của mình, tức
là sử dụng chính sức mạnh của nông dân để giải phóng cho nông dân
Thứ hai, giai cấp nông dân là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
xã hội mới Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã đánh dấu sự ra đời của một chế độ xã hội mới, một kiểu nhà nước mới Nước Nga Xô viết bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng với vô vàn khó khăn và thử thách Thực tiễn đó đòi hỏi V.I.Lênin cùng với Đảng Bônsêvích Nga phải tìm tòi, kiến thiết con đường và sử dụng những biện pháp phù hợp với điều kiện mới Trong sự nghiệp đó, nông dân tiếp tục đóng vai trò quan trọng và liên minh công - nông là điều kiện quyết định để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Trang 17Trong rất nhiều bài viết và các bài phát biểu của mình, V.I.Lênin luôn nhấn mạnh điều kiện khác biệt của nước Nga là giai cấp công nhân chiếm thiểu số, còn tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số Đối với một nước như vậy thì cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi triệt để với hai điều kiện: “Điều kiện thứ nhất
là có sự ủng hộ kịp thời của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước hay một số nước tiên tiến… Điều kiện nữa là sự thỏa thuận giữa giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoặc đang nắm chính quyền nhà nước với
đại đa số nông dân” [119, 69] Ông cho rằng, chừng nào cách mạng vô sản còn
chưa nổ ra ở các nước khác, thì chỉ có thỏa thuận với nông dân mới có thể cứu vãn được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga Cách mạng thành công, chính quyền non trẻ mới ra đời đã gặp phải sự chống đối quyết liệt của các lực lượng phản động trong và ngoài nước Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ và củng cố chính quyền được đặt lên hàng đầu Nhiệm vụ cách mạng quan trọng của giai cấp công nhân lúc này là làm thế nào để không những quét sạch giai cấp tư sản cũ, mà còn làm cho các nhà tư sản mới không thể nảy sinh ra được, chính quyền được củng
cố một cách vững chắc, hoàn toàn và tuyệt đối vì lợi ích của những người lao động, những người sống bằng lao động của mình Về điều này, như V.I.Lênin đã khẳng định: “Chỉ nhờ có sự ủng hộ hết sức thành thực của đa số nhân dân lao
động, chính quyền đó mới có thể đứng vững được” [118, 75]
Thứ ba, nông dân cung cấp sản phẩm nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu của
xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời góp phần khôi phục và phát triển nền đại công nghiệp, tạo cơ sở vững chắc để giai cấp công nhân từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế mới cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Việc nông dân tích cực sản xuất nhằm cung cấp lương thực cũng như những sản phẩm nông nghiệp khác sẽ giúp đưa nền kinh tế nước Nga ra khỏi sự khủng hoảng do tình trạng thiếu lương thực xảy ra triền miên sau cách mạng Theo V.I.Lênin, Đảng phải thuyết phục để công nhân và nông dân thấy rằng, nếu không có sự hợp lực mới, không có các hình thức đoàn kết mới trong nội bộ nhà
Trang 18nước thì sẽ không thoát ra khỏi tình trạng phá sản về kinh tế Trong tác phẩm
“Bàn về thuế lương thực”, V.I.Lênin đã khẳng định dứt khoát rằng, giai cấp công nhân phải tạo mọi điều kiện giúp nông dân cải thiện đời sống của mình Tư tưởng đúng đắn mang tầm chiến lược và đậm nét nhân văn đó xuất phát từ việc ông ý thức sâu sắc được vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước mà nông dân chiếm đại đa số V.I.Lênin khẳng định:
“Phải bắt đầu từ nông dân Người nào không hiểu điều đó, người nào có ý coi đưa vấn đề nông dân lên hàng đầu như thế là một sự “từ bỏ” hoặc tương tự như
sự từ bỏ chuyên chính vô sản, thì chẳng qua chỉ là vì người đó không chịu suy
nghĩ kỹ càng vấn đề đó và bị lời nói trống rỗng chi phối” [119, 263] Vấn đề cấp
bách nhất hiện nay là dùng những biện pháp để có thể phục hồi ngay những lực lượng sản xuất của kinh tế nông dân Chỉ có bằng con đường ấy mới có thể cải thiện được đời sống của công nhân và nông dân, tăng cường được liên minh công
- nông, củng cố được chuyên chính vô sản
1.1.2 Quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân Việt Nam
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nông dân Việt Nam với lực lượng đông đảo luôn có những đóng góp to lớn và mang tính quyết định nhất Tuy vậy, chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với những sách lược và cương lĩnh đúng đắn và khoa học thì nông dân nước ta mới có được vị thế xứng đáng cũng như phát huy hết khả năng sức mạnh vốn có của mình
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có lòng yêu nước nồng nàn với quyết tâm tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Những cuộc khởi nghĩa trong lịch sử đã để lại lòng cảm phục trong con người Hồ Chí Minh, hơn nữa, qua những sự kiện đó còn cho thấy được sức mạnh, ý chí và tinh thần yêu nước
to lớn của dân tộc ta Sức mạnh đó, nếu có một phương pháp khoa học, Người tin kết quả thu được sẽ to lớn Bởi theo Người: “Dân ta có một lòng nồng nàn
Trang 19yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [61, 171]
Những năm tháng bôn ba của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp Người có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về giai cấp nông dân, tiêu biểu như: Từ tháng 1/1921 đến tháng 6/1923, Người hoạt trong Đảng Cộng sản Pháp là ủy viên Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng, trong thời gian này Người còn tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa (7/1921) do Người đứng đầu; Từ tháng 7/1923 đến tháng 11/1924, Người hoạt động ở nước Nga, trong thời gian này Người có điều kiện tìm hiểu tình hình nông dân Nga, tham dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (giữa tháng l0/1923), đọc bài tham luận nói lên tình cảnh nông dân Đông Dương
bị thực dân Pháp bóc lột, đồng thời Người đã dịch “Tuyên ngôn của Hội nghị Quốc tế Nông dân” (tháng 4/1924) ra tiếng Việt để gửi về nước; Cuối tháng 12/1924 đến 6/1927 Người ở Quảng Châu, 5/1925 thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức; Từ 1936 đến 1938 làm việc tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa trực thuộc Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản
Trong những tác phẩm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: “Bản án chế
độ thực dân Pháp”, “Đường Kách Mệnh” đều nói đến vai trò của nông dân Việt Nam Bằng những lý luận sắc bén, Người trình bày các nhận thức sâu sắc, mới mẻ về đời sống của người nông dân, về sức mạnh to lớn, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân thất bại của phong trào nông dân khi họ chưa được tổ chức
và lãnh đạo đúng đắn
Như vậy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò và vị trí của nông dân nước
ta được thể hiện chủ yếu ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, nông dân Việt Nam có vai trò to lớn và quan trọng trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nông dân, phát triển, bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Trang 20nước ta, cùng với một thời gian dài hòa mình vào cuộc sống của nông dân trên khắp thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem nông dân là lực vô cùng quan trọng trong tiến trình cách mạng Ở nước ta, 90% dân số là nông dân thì vị trí và vai trò của nó càng có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc Chính vì điều này mà khi xác định con đường cách mạng Việt Nam,
Người cho rằng: “Nội dung cách mạng dân tộc cũng là giải phóng nông dân”
[62, 25] Bởi vậy, ngay trong Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng
dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng” [58, 3], chỉ có vậy mới mới tạo được cái
“gốc cách mệnh” cho sự nghiệp sau này Đây là khẳng định hoàn toàn có cơ sở khoa học, vì lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh bằng những chiến thắng oanh liệt trước kẻ thù lớn mạnh hơn rất nhiều, mà trong đó nông dân đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi đó Hơn nữa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh đó sẽ tạo ra những bước ngoặt trong quá trình đấu tranh cách mạng Vai trò của giai cấp nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc còn thể hiện ở sự đóng góp sức người, sức của phục
vụ chiến tranh ở tất cả mọi giai đoạn, công đoạn của cuộc kháng chiến Người nói: “Trong vệ quân và bộ đội địa phương, dân quân du kích số đông là nông dân Tăng gia sản xuất để nuôi bộ đội, nuôi công nhân cũng chính là nông dân Công việc tiêu thổ kháng chiến, công việc sửa chữa đường sá, giao thông vận tải
phần lớn do nhân dân làm” [60, 710] Trong kháng chiến, nông dân là lực lượng
đông đảo và chủ chốt, nông thôn là địa bàn chiến lược, trọng yếu, còn nông nghiệp là nguồn cung cấp nhu yếu phẩm đảm bảo lương thực cho quân đội trong suốt những năm kháng chiến
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mối liên minh công – nông có ý nghĩa quyết định thắng lợi cho các giai đoạn cách mạng Nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo và giàu lòng yêu nước nhưng không thể đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, vai trò ấy chỉ có thể do giai cấp vô sản lãnh đạo mà đại diện
Trang 21cao nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, vì chỉ có: “Thực hiện cho được liên minh công - nông vì đó là sự đảm bảo chắc chắn cho những thắng lợi của cách mạng Chỉ có khối liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và cũng cố
chính quyền của nhân dân lao động” [64, 303-304] Trong lịch sử đấu tranh của
dân tộc ta, đã có rất nhiều cuộc nổi dậy của nông dân với quy mô, tính chất và thời điểm lịch sử khác nhau, tuy nhiên chưa có cuộc khởi nghĩa nào đi đến thành công trọn vẹn, mà nguyên chính vì họ không đại diện cho lực lượng với bản chất cách mạng tiên tiến Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nông dân và công nhân là hai giai cấp chủ yếu sản xuất của cải cho xã hội, nhưng lại bị chủ nghĩa chế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề nhất, chính vì điều kiện khách quan đó đã làm cho họ dễ đồng cảm, xích lại gần nhau cùng đấu tranh chống kẻ thù chung, hơn nữa, sự đồng cảm đó còn được nhân lên với truyền thống yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc Việt Nam Mặt khác, những hạn chế của giai cấp nông dân sẽ được khắc phục nếu đoàn kết với giai cấp công nhân, được giai cấp công nhân lãnh đạo: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng, cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới
lãnh đạo thắng lợi” [61, 459] Hơn nữa, liên minh với nông dân còn đảm bảo cho
giai cấp công nhân dễ dàng tập hợp được Mặt trận dân tộc thống nhất, nước ta khi đó có đến 90% là nông dân, nên liên minh với giai cấp nông dân cũng đồng nghĩa với việc giai cấp công nhân sẽ nắm trọn quyền lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất, mà trong đó lực lượng hậu thuẫn chính là người nông dân
Thứ ba, nông dân có vai trò to lớn trong công cuộc xây dựng xã hội mới ở nước ta Với hơn 90% dân số là nông dân, khi bắt tay vào xây dựng xã hội mới thì vai trò của nông nghiệp nói chung và nông dân nói riêng là yếu tố quyết định cho phát triển kinh tế, Người nói: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn
Trang 22Nông dân ta giàu thì nước ta giàu” [59, 215] Đất nước trải qua bao gian khổ
trong kháng chiến, giành được độc lập chúng ta phải bắt tay ngay vào công cuộc kiến thiết nước nhà với nhiều khó khăn, thiếu thốn Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rằng chỉ có thể động viên toàn thể dân tộc ta nhằm tạo ra một hợp lực to lớn với mục tiêu chung thì mới có thể thành công, mà trong đó nông dân chính nguồn lực to lớn nhất: “Vì nước ta là nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông
nghiệp” [63, 544-545] Chính vì thế, theo Người cần phải tiến hành nhiều biện
pháp quyết liệt và kịp thời nhằm giải phóng sức mạnh của người nông dân Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay, trong đó quyết định bỏ ba thứ thuế là: Thuế thân, thuế chợ và thuế
đò Tiếp sau đó, ngày 7/9/1945, ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân Quyết định này đã thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chính thể dân chủ mới, bảo vệ quyền lợi của người nông dân Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông dân được thể hiện trước hết là vấn đề ruộng đất Bởi vì ruộng đất chính là nguồn sống chính của người nông dân Một trong những công việc được làm ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo
là tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian để chia cho dân nghèo theo nguyên tắc dân chủ Trong những ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên chăm lo tới đời sống của người nông dân, giúp bà con ở vùng tự do phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống Sinh thời, ngay cả khi tuổi đã cao, Chủ tịch Hồ Chủ Minh vẫn thường xuyên xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi Người đã tát nước, nhổ cỏ… hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương
Bốn là, nông dân cùng với lĩnh vực nông nghiệp là cơ sở vững chắc đảm bảo cho nền công nghiệp non trẻ của nước nhà phát triển Nông nghiệp đi trước, đảm bảo những nhu yếu phẩm cần thiết, cuộc sống toàn xã hội được giữ vững, đồng
Trang 23thời cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp phát triển: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp
làm gốc” [62, 572] Tư tưởng biện chứng mang tầm chiến lược này cho đến
ngày nay vẫn còn nguyên giá trị khi nước ta đẩy nhanh tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước: “Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát
triển Cho nên, công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi
đến đích” [63, 545] Người cho rằng, chỉ khi công nghiệp phát triển mới có tác
dụng hỗ trợ trở lại cho nông nghiệp, đảm bảo phát triển hài hòa giữa hai lĩnh vực chủ chốt này trong nền kinh tế Vì tầm quan trọng đó, theo Người, phải chăm lo toàn diện mọi mặt cho người nông dân Trong sản xuất cần động viên và có những giải pháp thích hợp để đưa người nông dân vào hợp tác xã với lối làm ăn tập thể, phát huy cao nhất tính ưu việt của xã hội mới, thể hiện tinh thần tương trợ lẫn nhau trong làm ăn kinh tế Trong nông nghiệp cần đầu tư toàn diện nhằm đạt năng suất cao như: khoa học – kỹ thuật, trang bị máy móc, thiết bị vật tư… phù hợp với từng vùng miền Nông thôn cần được đổi mới, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát huy những giá trị văn hóa, đồng thời vận dụng và tiếp thu cái mới, tiến bộ, loại bỏ những hủ tục, lỗi thời
Tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đánh giá đúng đắn về vai trò của nông dân trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng xã hội mới Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đây là một trong những lực lượng cơ bản trong quá trình xây dựng xã hội mới Căn cứ vào tình hình cụ thể mà Người luôn đề ra những đường lối, chính sách, những hình thức tổ chức, những biện pháp thích hợp để phát triển toàn diện nông dân, nông nghiệp nông thôn, tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc
1.2 QUAN ĐIỂM ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Trang 241.2.1 Vài nét về vai trò của nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Xét trên các mặt kinh tế - xã hội và môi trường, nông dân, nông nghiệp và nông thôn có vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển của mỗi quốc gia, kể
cả những nước có ít điều kiện nhất để phát triển nông nghiệp Trong điều kiện hiện nay, thế giới luôn có nhiều tiềm ẩn phức tạp cùng những biến động khó lường, thì ở hầu hết các quốc gia đều rất quan tâm tới lĩnh vực này Thật vậy, vì nông thôn là nơi có diện tích rộng lớn, dân cư tập trung sinh sống đông đúc, đồng thời sản xuất ra lương thực, thực phẩm đảm bảo tính ổn định của xã hội và cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến Hơn nữa, còn giúp cân bằng về mặt sinh thái trong điều kiện môi trường đang xuống cấp và bị đe dọa nghiêm trọng, mà những điều đó luôn là vấn đề cấp bách, nóng hổi trên phạm vi toàn thế giới từ xưa đến nay Ngày nay, sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, những thành tựu của cơ khí hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, tin học
và công nghệ sinh học… đã tạo ra quy mô lớn, phát triển trên cả bề rộng và chiều sâu, có tác động tới mọi mặt đời sống của con người, song không vì thế
mà vị trí và vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn giảm sút mà nó ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới Trên thực tế, hiện nay những vấn đề mang tính toàn cầu như: an ninh lương thực, nạn đói, nạn suy dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường… đều liên quan trực tiếp tới người nông dân, nông nghiệp và nông thôn, đây cũng chính là mối lo ngại cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới Lịch sử đã chứng minh quốc gia nào có nền nông nghiệp phát triển và mang tính bền vững cao thì nước đó đều đạt được những bước ổn định lâu dài về kinh tế, đồng thời đảm bảo cho nhiều lĩnh vực khác trên phạm vi của xã hội đó Một chứng minh rõ ràng hơn khi tới nay có 192 quốc gia giành độc lập sau đó bắt tay vào tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng chỉ có 34 nước công nghiệp hóa thành công, chủ yếu trong giai đoạn đầu, còn lại đa số các nước khác sau một thời gian tăng trưởng nhanh, vượt qua
Trang 25mức thu nhập thấp rồi dừng lại, không cất cánh nổi mà một trong những nguyên nhân chủ yếu chính là coi nhẹ vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Ba nước thành công trong giai đoạn sau nay là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là những quốc gia biết đặt những vấn đề trên trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, thậm chí coi ổn định nông nghiệp, nông thôn, nông dân ngang bằng với ổn định chính trị [40, 16]
Đối với nước ta, là quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp lớn, nông dân chiếm đa
số, nguồn nhân lực chủ yếu dựa vào nông thôn thì vấn đề này có vị trí đặc biệt quan trọng, thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:
Thứ nhất, nông dân cùng với nông nghiệp là lực lượng sản xuất ra những sản
phẩm thiết yếu cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu, tích lũy nguồn vốn ban đầu cho tăng trưởng kinh tế Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và những năm trở lại đây, nhờ đổi mới chính sách, cơ chế quản lý mà nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta có những bước tiến rất đáng khích lệ, không chỉ giải quyết căn bản vấn đề lương thực tạo điều kiện ổn định đời sống cho nhân dân, mà còn đưa nước ta từ một nước phải nhập khẩu lương thực trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản Hiện nay, nông nghiệp nước
ta vẫn là lĩnh vực đóng góp vào tăng trưởng GDP cao trong nền kinh tế và chiếm khối lượng xuất khẩu lớn Xuất phát điểm từ một nền kinh tế tiểu nông, hậu quả của chiến tranh để lại nặng nề, chúng ta bắt tay vào tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ xuất phát điểm kinh tế rất thấp, điều đó đã đặt ra rất nhiều khó khăn và thách thức Nông nghiệp có tính chiến lược khi là lĩnh vực cung cấp chủ yếu những nguyên vật liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu Với một nước có nền công nghiệp non trẻ như nước ta thuận lợi đó đã tiết kiệm được nguồn vốn tích lũy ban đầu rất lớn Chính nguồn vốn tích lũy này để bước đầu chúng ta xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo lập các khu công nghiệp thu hút đầu tư
Trang 26Thứ hai, nông dân là lực lượng cơ bản của mối liên minh công – nông – trí trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay Trong đấu tranh cách mạng, từ địa
vị kinh tế quy định, nông dân không thể tự giải phóng chính bản thân mình, liên minh giai cấp là một trong những giải pháp đảm bảo cho họ không chỉ tránh khỏi sự lôi kéo, lợi dụng của giai cấp bóc lột, mà hơn thế, còn giúp họ ngày càng gắn bó hơn, phát huy tối đa sức mạnh của mình Trong xây dựng xã hội mới, mối liên minh là sự tác động biện chứng khi những sản phẩm làm ra của người nông dân không chỉ đảm bảo nuôi sống xã hội, mà còn là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, đồng thời là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các sản phẩm do công nghiệp Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thì vai trò của tri thức đối với người nông dân rất quan trọng, bởi đó chính là nền tảng và động lực giúp nông nghiệp phát triển theo chiều sâu và mang tính bền vững Nông dân nước ta còn nặng về sản xuất theo kinh nghiệm, lối mòn, chính vì thế năng xuất và chất lượng chưa cao nên rất cần
có sự đóng góp tích cực của khoa học – công nghệ Khi người nông dân tiếp cận được tri thức, ứng dụng và thực hành ngay trên đồng ruộng của mình sẽ là cơ sở khoa học thực tiễn nhất để các nhà khoa học thấy được những ưu và khuyết điểm của mình, từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn nữa ở những bước tiếp theo trong quy trình sản xuất Như vậy, có thể nói người nông dân vừa là người trực tiếp nhất thực hiện những ứng dụng khoa học trong thực tiễn, đồng thời cũng là một nhà “phản biện” tích cực Lý thuyết và thực tiễn là một quá trình mà trong đó người nông dân chính là cầu nối, trung gian của quá trình đó
Thứ ba, người nông dân là nhân tố quyết định cho thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay Đây là một chủ trương lớn của Đảng, quá trình này cần tổng hợp tất cả nguồn lực khác nhau cùng tham gia, trong đó giai cấp nông dân là chủ thể quan trọng và quyết định nhất Việc thành công tới đâu của công cuộc đổi mới nông nghiệp theo hướng
Trang 27hiện đại này phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của người nông dân, vì thực tiễn Nhà nước không thể làm thay hay can thiệp Nếu bản thân người nông dân không tự giác nhận thức, vượt khó, không đánh giá đúng vị trí và vai trò của mình trong xã hội thì những chủ trương với những hỗ trợ của Đảng và Nhà nước
về khoa học, về vốn có nhiều cũng khó thành công Ngược lại, nếu người dân nhận thức được những chính sách của Đảng, thay đổi cách nghĩ, cách làm, đổi mới tư duy trong nền kinh tế thị trường, năng động, sáng tạo thì nông dân sẽ chủ động thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu
Thứ tư, nông dân là nguồn nhân lực dồi dào cung cấp lao động cho xã hội và các ngành kinh tế khác Số lượng này nếu được đào tạo nghề, chuyển giao khoa học - kỹ thuật sẽ là một nguồn lực vô cùng to lớn, đồng thời giải phóng được phần lớn sức ép lao động cho các vùng nông thôn hiện nay Tổng số dân của nước ta ngày 01/04/2009 là 85.789.573 người, đứng thứ ba ở Ðông Nam Á và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới, bình quân mỗi năm tăng thêm 947 nghìn người Với hơn 70 % dân số nước ta tập trung sinh sống ở nông thôn, trong đó độ tuổi lao động chiếm số lượng lớn là một thế mạnh của nước ta về nguồn nhân lực Tuy vậy, chất lượng lao động ở nông thôn nước ta chưa cao là trở ngại chính cho việc tiếp thu khoa học – kỹ thuật, trong tương lai, không chỉ trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi nguồn nhân lực có tay nghề cao, mà kể cả trong lĩnh nông nghiệp cũng vậy Chúng ta đã xây dựng xong Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ nay tới 2020, và cho đến nay đã được triển khai đồng loạt trong các tỉnh thành cả nước Đây là bước đi quan trọng và quyết định không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn cả cho công nghiệp của nước ta để bước vào còn đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó, nông nhiệp, nông thôn và nông dân còn có vai trò quan trọng khác như: Là thị trường tiêu thụ cho các ngành công nghiệp và dịch vụ trong nước; cung cấp ngoại tệ từ xuất khẩu nông sản; giải quyết những vấn đề về xã hội, nổi bật là việc làm; giữ gìn tài nguyên, khoáng sản của Quốc gia…
Trang 281.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nông dân thông qua tổ chức của mình (Nông hội, Hội nông dân) đã luôn chứng minh là một lực lượng đông đảo, trung thành với Đảng, liên minh chặt chẽ với công nhân, trí thức, đấu tranh kiên cường bất khuất, cống hiến to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Qua 25 năm đổi mới, chúng ta thấy tự hào vì nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng trưởng thành và khẳng định được vai trò to lớn của mình trong công cuộc kiến thiết nước nhà Có thể khái quát cơ bản những quan điểm chỉ đạo qua các kỳ Đại hội của Đảng ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông dân, nông nghiệp và nông thôn như sau:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), trong chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta xác định: “Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của
cả thời kỳ quá độ ở nước ta Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện cơ bản cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi Điểm mấu chốt trong công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” [50, 543-544]
Tuy ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nhưng Đảng ta luôn coi trọng vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Thực hiện Nghị quyết Đại hội III, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã tiến hành nhiều Hội nghị quan trọng như: Hội nghị lần thứ V (7/1961) để bàn về nông nghiệp, nông thôn Trong các hội nghị này, vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp được xác định với những nhiệm
vụ và nội dung cơ bản:
- Về nhiệm vụ: Cung cấp đủ lương thực và thực phẩm cho toàn dân, cải thiện đời sống nông dân; Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp trong nước và xuất khẩu để đổi lấy những nguyên liệu và thiết bị cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp; Bảo đảm sức lao động để phát triển nông nghiệp toàn diện và cung cấp
Trang 29lao động thường xuyên cho công nghiệp; Đưa nông thôn trở thành thị trường tiêu thụ của công nghiệp
- Nội dung thực hiện là: Trang bị máy móc, thực hiện cơ khí hóa trong nông nghiệp; Tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phân bố lại lao động trên địa bàn nông thôn; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế - kỹ thuật ở nông thôn, cũng như áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cây trồng
và con giống mới
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chúng ta đã vấp phải một số sai lầm, khuyết điểm chủ yếu do tư tưởng chủ quan, nóng vội, bên cạnh đó, ngày 5/8/1964 Mĩ dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ, từ đây miền Bắc phải chuyển hướng xây dựng và phát triển và không thể tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ đã đề ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) Trên cơ sở đường lối chung, quan điểm chỉ đạo về kinh tế là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp” [51, 524]
Trong thời gian này, Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) ra đời đã tạo động lực mới cho kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng phát triển Chỉ thị 100 tháng 10/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã bước đầu tạo khí thế mới trong sản xuất
Nông nghiệp có chiều hướng phát triển tốt, công nghiệp quốc doanh xuất hiện một số điển hình đạt hiệu quả kinh tế cao, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá Công tác quản lý kinh tế bắt đầu chuyển đúng hướng Các lĩnh vực văn hóa
- xã hội cũng có chuyển biến tích cực Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn không ít khó khăn như: mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh
Trang 30tế quốc dân, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm cho tiêu dùng xã hội, nền kinh tế chưa tạo được tích lũy
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) Trên cơ sở của những phương
hướng đã vạch ra từ những kỳ đại hội trước, Đảng ta cũng xác định: Nước ta đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ và đi lên từ một nước nông nghiệp
lạc hậu và kém phát triển, “cửa ải” lương thực chúng ta chưa thể vượt qua Vì
vậy, những chiến lược về công nghiệp hóa đất nước mà chúng ta đề ra từ những
kỳ đại hội trước đã được điều chỉnh sang tập trung cho nông nghiệp, thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển, cải thiện đời sống nhân dân tạo tiền đề và điều kiện cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện, không quán triệt sâu sắc những quan điểm trên, nông nghiệp, nông thôn, nông dân nên chưa có được những điều kiện phát triển tốt nhất, cũng như chủ quan, nóng vội trong việc cải tạo nông nghiệp theo hướng hiện đại Chủ trương hợp tác hóa, tập thể hóa được phát triển rộng rãi trên toàn quốc nhưng đem lại hiệu quả chưa cao, chính sách về nông nghiệp, nông thôn, nông dân chưa đáp ứng với những yêu cầu, nguyện vọng của người dân, dẫn tới động lực to lớn của người nông dân không thể phát huy, các tiềm lực chưa khai thác hết cũng như sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài và dẫn tới khủng hoảng, đời sống phần lớn dân cư nông thôn rơi vào khó khăn gay gắt
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), trên tinh thần: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đã khởi xướng đường lối đổi mới mà trước hết là đổi mới tư duy Đại hội khẳng định: “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và
hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng”
[52, 30] Đại hội khẳng định tầm quan trọng của nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Ngay sau khi tiến hành Đại hội VI, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách đối với nông dân,
Trang 31nông nghiệp và nông thôn Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (Khóa VI) tháng 4/1987; Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (Khóa VI) tháng 8/1987, tiếp tục khẳng định Nghị quyết của Đại hội VI của Đảng và đưa ra định hướng một số chính
sách đổi mới về ruộng đất Đầu năm 1988, Quốc hội thông qua Luật đất đai
(1/1988), đánh dấu một bước phát triển mới về quản lý và sử dụng đất đai
Ngày 05/4/1988, Bộ chính trị (khoá VI) ra Nghị quyết 10 - NQ/TW Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Quan điểm cơ bản của Đảng về quản lý nông nghiệp là coi hợp tác xã như đơn vị kinh tế tự quản, hộ gia đình xã viên là đơn
vị kinh tế tự chủ, nhận khoán với hợp tác xã Nghị quyết đã thể hiện sự chuyển biến rõ nét nhất của tư duy kinh tế, đổi mới chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn Từ đây sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân có những thay đổi rõ rệt, người nông dân do tác động của cơ chế mới đã gắn bó với quá trình sản xuất, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình
Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu mang tính bước ngoặt trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Trong đó, là những chuyển biến mang tính đột phá về phát huy vai trò làm chủ của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) được tiến hành với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (1991 - 2000) Bên cạnh 6 đặc trưng về chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng được khái quát, vấn đề về nông dân, nông nghiệp, nông thôn cũng được đặc biệt quan tâm
Triển khai Cương lĩnh cũng như Chiến lược nêu trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã tiến hành nhiều hội nghị quan trọng, trong đó nổi bật là Hội nghị lần thứ năm (6/1993) với Nghị quyết chuyên đề “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”, Hội nghị lần thứ bảy (7/1994) đặt sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn trong tiến trình công nghiệp hóa đất nước và coi đó chính là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan
Trang 32trọng hàng đầu, đồng thời chỉ rõ: “Từ nay tới cuối thập kỷ, phải rất quan tâm đến
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn” [49, 49] Hội
nghị lần thứ năm là một bước phát triển mới về đường lối đổi mới trong nông nghiệp Đảng ta đã đưa ra một hệ thống quan điểm đồng bộ về ba vấn đề lớn: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Gắn phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới với nâng cao đời sống của nông dân Trong đó, Đảng
ta tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế hộ, phát triển một bước quan điểm
về kinh tế hợp tác, chính sách kinh tế nhiều thành phần, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết vấn đề công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo Nổi bật nhất là chính sách ruộng đất, nó tác động kinh tế xã hội nông thôn trong quá trình phát triển
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) không những khẳng định tính đúng đắn của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, mà còn nhấn mạnh phải: “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn” [44, 86], Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII (10/1998) “Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1999”, tiếp tục nhận thức: “Phát triển nông nghiệp… và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài,
làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội” [48, 196], sau đó Nghị quyết
Bộ Chính trị “Về một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn” (11/1998), tiếp tục khẳng định: “Coi trọng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp… và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng… là cơ sở để
ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước” [43] Nội dung cơ bản về nông nghiệp, nông thôn mà Nghị quyết
Đại hội VIII của Đảng như sau:
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, bảo đảm an ninh lương thực
Trang 33quốc gia, tạo ra nhiều nông sản hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới
- Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và phát triển khoa học, công nghệ cần tập trung vào việc thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, ứng dụng những thành tựu của công nghệ sinh học, xây dựng hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn văn minh, hiện đại
Đại hội IX của Đảng (4 - 2001), Nghị quyết Đại hội IX của Đảng ta trong khi tiếp tục lựa chọn con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm trung tâm thì đồng thời cũng nhấn mạnh: “Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ
mới” [45, 92] Đại hội IX của Đảng đã cụ thể hóa, bổ sung và phát triển những
quan điểm, chủ trương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
ở nước ta trong những năm thập niên đầu của thế kỷ XXI và chủ trương: “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu
cây trồng, vật nuôi…” [45, 92] Ngoài chủ trương tiếp tục phát triển kinh tế
nhiều thành phần, chuyển dịch kinh tế theo ngành, lĩnh vực, Nghị quyết cũng chỉ
ra những yêu cầu cơ bản của phát triển vùng Cần tạo điều kiện cho các vùng phát triển dựa trên cơ sở thế mạnh của mình, đồng thời liên kết giữa các vùng kinh tế trọng điểm với nhau
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã phát triển nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lên một tầm cao mới là gắn với phát triển kinh
tế tri thức Đại hội tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [46, 29] Đồng thời Đại hội cũng khẳng định:
“Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn
có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” [46, 90-91] Đại hội chỉ ra trong những
Trang 34năm tới cần tiến hành theo nội dung cụ thể: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh ứng dụng những thành tựu tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương
Như vậy, có thể thấy qua các kỳ Đại hội của Đảng ta, các quan điểm về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã thay đổi qua các giai đoạn lịch sử Những chuyển biến này của Đảng ta gắn với sự thay đổi tư duy về yêu thực tiễn đặt ra Trong quá trình thực hiện, có những chủ trương đúng, có những chủ trương chưa sát với cuộc sống người dân, thậm chí là sai lầm nghiêm trọng Tuy vậy, những thành tựu ngày này chúng ta đã và đang đạt được dần khẳng định những phương hướng chỉ đạo của Đảng là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với
xu thế của thời đại
Ngay sau khi ra đời, Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn coi vấn đề về giai cấp nông dân là một trong những nội dung quan trọng và xuyên suốt trong quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn cách mạng Giai cấp nông dân trong chủ nghĩa Mác - Lênin có vị thế đặc biệt, không chỉ là người “Bạn đồng minh tự nhiên nhất” của giai cấp vô sản trong đấu tranh chống lại những bất công, giành lại cuộc sống công bằng, ấm no, hạnh phúc, mà còn là lực lượng cơ bản trong xây dựng xã hội mới V.I.Lênin là người đầu tiên đã cụ thể hóa những lý luận đó trên cơ sở bổ sung và hoàn thiện vào thực tiễn khi bắt tay vào xây dựng nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới Chính sách kinh tế mới là một trong những dấu ấn và mang tính đột phá của V.I.Lênin trong thời kỳ xây dựng đất nước, chính sách đó
Trang 35không chỉ thu được những kết quả to lớn mà một lần nữa đã chứng minh cho vai trò và sức mạnh của người nông dân
Vận dụng và bổ sung những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nông dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa những lý luận đó vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta trên một tầm cao mới Có thể nhận thấy, nông dân Việt Nam đã được Hồ Chí Minh nâng lên với vị trí xứng đáng, và đúng với khả năng cách mạng thật sự của mình Với hơn 90% dân số nước ta khi đó là nông dân, sách lược đúng đắn
đã cho thấy hiệu quả và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân nước ta khi đó Trong xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên quan tâm
và có những chỉ dẫn kịp thời tới đời sống của người nông dân, sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn Nội dung đó còn nguyên giá trị tới ngày nay Thực tiễn lịch sử đã chứng minh nếu có những sách lược đúng đắn, giải pháp khoa học thì sức mạnh của giai cấp nông dân sẽ được phát huy một cách tối đa Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh đó trong kháng chiến với những phong trào như: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Ba sẵn sàng, ba đảm đang”, “Tay cày, tay súng”… là những minh chứng hào hùng nhưng cũng vô cùng bình dị mà giai cấp nông dân đóng góp, sáng tạo ra Giai cấp nông dân còn là lực lượng đã mở đường cho công cuộc Đổi mới, rồi cũng chính người nông dân giúp Đảng ta thực hiện thành công quá trình đó Ngày nay, khi cả nước đang nỗ lực tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, một lần nữa chính người nông dân sẽ là nền tảng vững chắc cho tiến trình đó vì chỉ có công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thành công chúng ta mới có thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà thành công và vững chắc
Trang 36Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Dương
Trang 37Tỉnh Bình Dương thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh Diện tích 2.695,22 km2 Dân
số 1.482.636 người, mật độ dân số 550 người/km2 (1/4/2009) [97, 16]
Tỉnh Bình Dương có địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 20 - 25m so với mặt biển, độ dốc 2 - 5°
Khí hậu tỉnh Bình Dương mang đầy đủ sắc thái của vùng cận xích đạo, nóng
ẩm với hai mùa rõ rệt: Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11), mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 - 2.000 mm Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,50C Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ và độ ẩm quanh năm cao, nguồn ánh sáng dồi dào, ít thiên tai bão, lụt… Có nhiều thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày
Hệ thống giao thông của tỉnh Bình Dương nổi bật có: Hệ thống đường bộ với đường quốc lộ 13, từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối với Campuchia đến biên giới Thái Lan; Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (Bình Phước) tới vùng Tây Nguyên; Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); Liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; Liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh, tỉnh lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh Hệ thống giao thông đường thủy: Do nằm giữa 3 con sông lớn: Sông Đồng Nai, Sông Thị Tính, Sông Bé, Sông Sài Gòn, nên tỉnh Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía Nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại: đất xám trên phù sa cổ phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ
Trang 38Dầu Một Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái; đất nâu vàng trên phù sa cổ thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13 Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như mít, điều; đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía Bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp mùn Glây nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối, Đất có chua phèn, tính axít sau khi được cải tạo có thể trồng lúa, rau…
Tỉnh Bình Dương có tài nguyên rừng đa dạng và phong phú về chủng loài, nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương Rừng còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật quý hiếm Có khoáng sản phong phú như: đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, tập trung
ở các huyện: Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một Đó chính là cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương
Đơn vị hành chính của tỉnh Bình Dương có nhiều thay đổi với tên gọi khác nhau nhằm đáp ứng việc chỉ đạo chiến lược cho từng giai đoạn lịch sử
Dưới triều Nguyễn, Bình Dương thuộc tổng Bình An, tỉnh Biên Hòa Đến thời Gia Long, tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An
Dưới thời thực dân Pháp đã chia Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xắc Mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu hành chính Trong đó, khu vực Sài Gòn gồm 5 tiểu khu: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Gia Định Đến ngày 20/12/1899, đổi tiểu khu thành tỉnh, tiểu khu Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Dầu Một [92, 17]
Đến khi Mỹ thay chân Pháp, theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22/10/1956, chính quyền Sài Gòn chia Thủ Dầu Một ra thành hai tỉnh Bình Dương, Bình Long Năm
Trang 391959, địch cắt một phần đất của tỉnh Biên Hòa và Bình Dương thành lập tỉnh Phước Thành, nhưng đến năm 1965, chính quyền Sài Gòn giải thể tỉnh này
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 5/1951, Trung ương Cục miền Nam phân chia lại chiến trường Nam Bộ thành Phân liên khu miền Đông
và Phân liên khu miền Tây, đồng thời sát nhập một số tỉnh, trong đó tỉnh Thủ Dầu Một với tỉnh Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên Tháng 1/1955, Xứ ủy Nam Bộ quyết định tách tỉnh Thủ Biên thành hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa Tháng 9/ 1960, Xứ ủy Nam Bộ quyết định nhập Thủ Dầu Một và Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên lần thứ hai Tháng 6/1961, Xứ ủy lại tách Thủ Biên thành 2 tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa Tháng 10/1967, Trung ương Cục bố trí lại chiến trường, thành lập 5 phân khu Thủ Dầu Một lúc bấy giờ thuộc phân khu 5 Tháng 5/1971, Phân khu 5 giải thể rồi thành lập phân khu Thủ Biên Tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập vào tháng 10/1972 [92, 19]
Sau ngày đất nước thống nhất, ngày 02/7/1976, Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước thành tỉnh Sông Bé Ngày 6/11/1996, ra quyết định tách tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước Trên cơ sở đó, ngày 1/1/1997, tỉnh Bình Dương chính thức được thành lập gồm 7 huyện, thị và tồn tại đến ngày nay Thuở xa xưa, Bình Dương là một vùng đất hoang vu, chỉ có số ít cư dân bản địa người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ Nông sinh sống Đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII một bộ phận người Hoa trên đã vào vùng đất Bình Dương
Do quá trình Nam tiến diễn ra từ thế kỷ XVI đến vùng đất Đồng Nai - Gia Định nói chung và vùng đất Bình Dương nói riêng, nên đến năm 1943, cư dân sinh sống ở tỉnh Bình Dương xưa lên tới 230.000 người [92, 36] Điều đáng chú ý trước khi bước vào giai đoạn sau năm 1945, cùng với cư dân nông nghiệp, thợ thủ công, tiểu thương, quan lại, địa chủ ở Bình Dương còn có thêm lực lượng công nhân Dưới ách cai trị và chính sách khai thác thuộc địa
Trang 40của Pháp, dân cư Bình Dương ngày một phân hóa sâu sắc và chính điều này đã tác động quan trọng đến sự biến đổi kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương thời kỳ
1945 - 1975 Sau năm 1975, dân cư tỉnh Bình Dương (Sông Bé) có sự biến động lớn, một phần do người chạy loạn tránh chiến tranh nay quay về quê cũ, một phần
do đồng bào ở một số tỉnh miền Bắc, miền Trung di dân đến Bình Dương lập nghiệp, theo chính sách kinh tế mới của Nhà nước
Trong giai đoạn tỉnh phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, hầu hết di dân từ các tỉnh đến Bình Dương tham gia lao động tại các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp, tập trung nhiều nhất ở các huyện Dĩ An, Thuận An, kế đến là thị xã Thủ Dầu Một và huyện Bến Cát
Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Bình Dương có nhiều nét tương đồng với các tỉnh khác ở Nam Bộ Đó là việc thực hành các lễ tục trong đời người như: sinh nhật, thượng thọ, ma chay, cưới hỏi…
Về tín ngưỡng, cũng như một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân ở Bình Dương phần đông được hình thành trên cơ sở các tập tục truyền thống của làng xã miền Trung và miền Bắc Việt Nam được các nhóm lưu dân người Việt mang theo vào vùng đất mới Cơ cấu tín ngưỡng, tôn giáo và
lễ hội của cư dân ở Bình Dương là một tập hợp rất phong phú và đa dạng, biểu hiện cụ thể như: lễ hội đình, lễ hội miếu, lễ hội võ, lễ hội tổ nghề, lễ hội chùa Phật, lễ hội thờ mẫu… của đồng bào miền Bắc, lễ hội của người Hoa Do đó, trong cộng đồng dân cư ở Bình Dương, tuy cùng thuộc dạng thức tín ngưỡng –
lễ hội của người Việt, song mức độ phổ biến có phần rộng hẹp khác nhau, đối tượng thờ tự cũng như các triết lý và tâm lý tín ngưỡng cùng nghi thức lễ hội rất
đa dạng và phong phú
Ở Bình Dương, hàng năm mỗi đình làng có nhiều ngày lễ như: Lễ Tiết tứ thời có ngày Đưa thần (25/12) và Rước thần (30/12); Nguyên đán (ngày 1 tháng Giêng; Đoan ngọ (5/5); Khai sơn (7/7)… các lễ Thượng nguyên, Trung nguyên
và Hạ nguyên mang tính chất tôn giáo Các ngày lễ mang tính dân gian như lễ