MỞ ĐẦU Ì- Tính cấp thiết của đề tài Một trong những hình thức tài trợ cho doanh nghiệp , đặc biệt phù hợp với giai đoạn công nghiệp hoa - hiện đại hoa mới được áp dụng ở nước ta hiện nay
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ Đ À O TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHÔ Hồ CHÍ MINH 0O0
ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẤP BỘ
PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TÀI TRƠ
CHO THUÊ TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
CHỦ NHIỆM ĐÊ TÀI: TS BÙI KIM YẾN
THÀNH VIÊN: TS TRÀM XUÂN HƯƠNG
TP.HCM - 2004
Trang 3M Ụ C L Ụ C
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cho thuê tài chính 3
1.1- Tổng quan về cho thuê tài chính 3
1.1.1- Lịch sử hình thành và định nghía 3
1.1.2- Điều kiện về cho thuê tài chính 5
1.1.3- Đối tượng cho thuê tài chính 5
Ì Ì 4- Tài sản cho thuê tài chính 6
1.1.5- Tính chất của tài sản cho thuê tài chính 6
1.1.6- Cho thuê tài chính là hình thức đặc biệt của tín dụng trung và dài hởn 8
1.1.7- Phân biệt cho thuê tài chính ( Hnance lease ) và cho thuê hoởt động
(Operating lease ) 9
1.1.8- Những ích lợi của cho thuê tài chính 12
1.1.9- Hởn chế của cho thuê tài chính 17
1.2- Hoởt đông cho thuê tài chính 18
1.2.1- Qui trình tài trợ qua thuê mua 18
1.2.2- Các hình thức cho thuê tài chính 20
1.2.3 Phương thức xác định tiền thuê 22
1.3- Cho thuê tài chính - phương thức tài trơ vốn đầu tư cho doanh nghiệp 24
Ị 4- Kinh nghiêm về hoởt đông cho thuê tài chính ở mót số quốc gia 25
Trang 4Chương n : Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam 33
2.1- Nhu cầu về vốn đầu tư ai doanh nghiệp trong quá trình hôi nháp 33
2.1.1- Yêu cầu cấp bách đổi mới máy móc thiết bị do lạc hậu và thiếu đồng bộ 33 2.1.2- Các hình thức tài trợ khác chưa thể đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư để thay thế thiết bị và đổi mới công nghệ 35
2.2- Thức trang về vốn và cống nghê tai các doanh nghiệp 38
2,3- Thi trường cho thuê tài chính Việt Nam 48
2.3.1- Lịch sử hình thành và phát triển thị trường cho thuê tài chính Việt Nam 48 2.3.2- Khung pháp lý 50
2.3.3- Qui mô thị trường 50
2.3.4- Cấu trúc thị trường 52
2.3.5- Nguồn vốn 53
2.3.6- Sử dụng vốn 54
2,4- Mót số hoạt đông cho thuê tài chính tai Thành phố Hỗ Chí Minh 55
2.5- Đánh giá hoạt đông của thi trường cho thuê tài chính 69
2.5.1- Những thành tích đạt được 69
2.5.2- Những tồn tại của hoạt động cho thuê tài chính 70
2.5.3- Những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển hoạt động cho thuê tài
chính 73
Trang 5Chương D I : Giải pháp phát t r i ể n phương thức tài t r ự cho thuê tài chính đối vời
doanh nghiệp 77
3.1- Đinh hướng phát triển ngành cho thuê tài chính 77
3.2- Giải pháp 78 3.2.1- Các giải pháp phát triển thị trường cho thuê tài chính 78
- Đa dạng hoa các loại hình công ty cho thuê tài chính 78
- Tái cơ cấu các công ty cho thuê tài chính trong nước 80
- Bổ sung , hoàn thiện các văn bản pháp lý nhằm tiến tới xây dựng luật cho thuê
tài chính 81
- Các chính sách hỗ trự, ưu đãi để phát triển thị trường cho thuê tài chính 84
3.2.2- Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại các công ty cho thuê tài
chính 89
- Phát triển nguủn vốn kinh doanh 89
- Biện pháp tìm kiếm và giữ chân khách hàng 90
- Chiến lược kinh doanh 92
Trang 6N H Ữ N G C H Ữ V I Ế T T Ắ T
- ADB : Asian Development Bank
- AFTA : Tổ chức kinh tế ương khu vực
- CTCTTC : Công ty cho thuê tài chính
- DN : Doanh nghiệp
- DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
- DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng Ì : Cơ cấu GDP theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế 35
Bảng 2 : Cơ cấu tổng đầu tư xã hội theo giá hiện hành 36
Bảng 3 : Dự báo vốn đầu tư toàn xã hội và cơ cấu vốn giai đoạn 2001-2005 36
Bảng 4 : D ự kiến vốn tín dụng trung và dài hạn giai đoạn 2001-2005 37
Bảng 5 : số D N mới thành lập ở TP.HCM từ 29/6 đến 6/7/2004 39
Bảng 6 : Những hạn chế chủ yếu theo xác đỉnh của các giám đốc 40
Bảng 7 : Khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng 42
Bảng 8 : Tuổi máy móc thiết bỉ tại TP.HCM (%) 43
Bảng 9 : Cơ cấu nguồn vốn của các công ty Cho thuê tài chính 53
Bảng lo : Doanh số cho thuê tài chính của các Công ty cho thuê tài chính 54
Bảng 11 : Kết quả hoạt động cho thuê 55 Bảng 12 : Phân tích cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế 56
Bảng 13 : Phân tích cơ cấu dư nợ phân theo tài sản cho thuê 59
Bảng 14 : Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chù yếu năm 2003 61
Bảng 15 : D ư nợ quá hạn các loại tài sản cho thuê 64
Bảng 16 : Phương hướng nhiệm vụ năm 2004 64
Bảng 17 : Hạng mục thuê tài chính 65 Bảng 18 : Kết quả kinh doanh biến động trước và sau đầu tư 65
Bảng 19 : Hạng mục thuê tài chính 66 Bảng 20 : Kết quả kinh doanh biến động trước và sau đầu tư 67
DANH MỤC BIỂU, Đồ THỊ
Biểu đồ Ì : So sánh trình độ công nghệ của Việt Nam với thế giới 34
Biểu đồ 2 : Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh 40
Biểu đồ 3 : Thỉ trường cho thuê tài chính Việt Nam 51
Biểu đồ 4 : Thỉ phần cho thuê tài chính Việt Nam 52
Trang 8MỞ ĐẦU
Ì- Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những hình thức tài trợ cho doanh nghiệp , đặc biệt phù hợp với giai đoạn công nghiệp hoa - hiện đại hoa mới được áp dụng ở nước ta hiện nay đó là
" Cho thuê tài chính "
Hoạt động cho thuê tài chính với bản chất là một hình thức tín dụng trung dài hạn đặc biệt giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trang bị , đỷi mới máy móc thiết bị, công nghệ , tạo năng lực sản xuất hiện đại , hiệu quả hơn đã thực sự phù hợp với nền kinh tế nước ta và đã có những bước phát triển nhanh chóng Hiện tại với 8 Công ty cho thuê tài chính trong cả nước , với giá trị tài sản cho thuê hàng ngàn tỷ đồng , hoạt động cho thuê tài chính đã trở thành một kênh dẫn vốn có hiệu quả , góp phần đáng kể vào tiến trình phát triển nền kinh tế đất nước và chắc chắn rằng trong tương lai không xa , nó sẽ trở thành bộ phận quan trọng trong hệ thống cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tê
Tuy nhiên , trong thời gian qua hoạt động của thị trường cho thuê tài chính vẫn còn nhiều hạn chế , nên chưa khai thác hết tiềm năng cũng như vị trí cùa nó đối với nền kinh t ế Vì t h ế , đề tài " Phát t r i ể n phương thức tài t r ự cho thuê tài chính đối vđi doanh nghiệp trong quá trình hội nhập " đặt ra những vấn đề cần phải nghiên cứu
và tìm những biện pháp khắc phục để thị trường cho thuê tài chính Việt Nam trỏ thành phương thức tài trợ trung và dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho doanh nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập
2- Mục tiêu nghiên cứu
Đ ề tài này nhằm nghiên cứu thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua, cùng với những kinh nghiệm hoạt động cho thuê tài chính ở một
số quốc gia trên thế g i ớ i , nhận diện những tồn tại trong thực tế vẫn còn cản trở sự phát triển cùa thị trường cho thuê tài chính , để xuất một số giải pháp để phát huy được tiềm năng và vai trò cùa thị trường này trong việc cung ứng vốn đầu tư cho
Ì
Trang 9doanh nghiệp hiện dại hóa máy móc thiết bị, dổi mới dây chuyền công nghệ , rút
ngấn khoang cách tụt hậu với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập
3- Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, phương pháp chung được sử dụng mang tính chất xuyên suốt và chỉ đạo là phương pháp duy vật biện chởng, xem xét và giải quyết các vấn đề có liên quan trong mối liên hệ phổ biến, trong trạng thái vận động và phát triển, có tính chất hệ thống và khách quan Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thay thế, phương pháp cân đối, phương pháp thống kê
4- Nội dung
Để tài nghiên cởu ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương :
Chương ì : Những vấn đề lý luận về cho thuê tài chính
Chương li: Thực trạng hoạt động của thị trường cho thuê tài chính
Chương HI : Giải pháp phát triển phương thởc tài trợ cho thuê tài chính đối với doanh nghiệp
Trang 10CHƯƠNG Ì NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VE CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1- Tổng quan về cho thuê tài chính
1.1.1- Lịch sử hình thành và định nghía
Cho thuê tài chính là một hình thức tài ượ vốn trung dài hạn đã được sáng tạo từ rất sớm trong lịch sử văn minh nhân l o ạ i Theo thư tịch cổ , các giao dịch thuê tài sản đã xuất hiện từ năm 2800 trước công nguyên tại thành phố Sumerian của người UR , những tài sản được đem thuê bấy giờ là các công cầ sản xuất nông nghiệp, xúc vật kéo, nhà cửa, ruộng đất và các chủ thể tham gia hành động giao dịch này là các nông dân và thầy tu tự do
Vào những năm 1700 trước công nguyên vua Babilon là Hammunabi đã ban hành nhiều văn bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn trong đó có đưa ra các qui định
về hoạt động thuê tài sản Trong các nền văn minh cổ đại khác : Hy Lạp - La M ã hay A i Cập cũng xuất hiện các hình thức thuê tài sản để tài trợ sản xuất Các giao dịch vào thời này thuộc hình thức thuê mua kiểu truyền thống ( Traditional lease ) và
phương thức giao dịch cùa hình thức này tương tự phương thức vận hành ngày nay và
không có sự thay đổi lớn về tính chất giao dịch trong suốt hàng ngàn năm tồn tại của
cho thuê tài chính
Đầu thế kỳ X I X , sự phát triển của sân xuất nông nghiệp , công nghiệp , giao thông vận tải đã cho ra đời nhiều loại thiết bị mới phù hợp để cho thuê Do đó hoạt động cho thuê tài chính đã có sự phát triển đáng kể cả về số lượng và chùng loại thiết bị, tòng bước hoàn thiện dần để trở thành một công cầ tài chính được nhiều người chấp nhận Cho thuê tài chính phất Điển rất nhanh là do tính linh hoạt cao và khả năng thích nghi với môi trường
Nghiệp vầ tín đầng thuê mua thuần ( Nét lease ) được sáng tạo ra đầu tiên tại Hoa
Kỳ năm 1952 đo một công ty có tên United States Leasing Corporation Sau đó
3
Trang 11nghiệp vụ này nhanh chóng xâm nhập vào Châu  u đầu những năm 60 - đã được ghi
vào Luật thuê tài sản của Pháp năm 1960 với tên gọi là " Credit Bail", cũng vào năm
1960 hợp đồng thuê mua đầu tiên được thảo ra ở Anh có trị giá 18.000 bảng Anh
Ngày nay , hoạt động cho thuê tài chính đã có những bước phát triển rờt mạnh mẽ
về chủng loại tài sản , thiết bị và khối lượng giao dịch và đã trở thành một loại hình dịch vụ chuyên sâu với sự ra đời cùa hàng loạt công ty cho thuê tài chính độc lập Ở Hoa Kỳ , ngành cho thuê tài chính chiếm khoảng 25 - 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm Năm 1993 ở Anh , giá trị ngành công nghiệp cho thuê tài chính đạt 49 tỷ bảng Anh Năm 1994 , ngành cho thuê tài chính thế giới
có giá trị trao đổi chiếm khoảng 350 tỷ USD và năm 1998 tăng lên khoảng 450 tỷ
USD Ở Châu Á và các nước khác , tài trợ thông qua cho thuê tài chính cũng là một hình thức tài trợ quan trọng và đang phát triển rờt nhanh mà Hàn Quốc là một ví dụ Năm 1994 thị trường cho thuê tài chính Hàn Quốc đứng hàng thứ 5 trên thế giới Trong cho thuê tài chính , các công ty cho thuê tài chính (CTCTTC) tiến hành mua tài sản để cho thuê và bên thuê sử dụng tài sản trong một thời gian nhờt định theo một hợp đồng thuê mua đã xác định kèm theo một quyền lựa chọn của người đi thuê
khi kết thúc hợp đồng , đó là quyền chọn mua tài sản cho thuê theo giá cà được ờn định hoặc quyền được tiếp tục thuê tài sản hoặc sê trả lại tài sản thuê nếu thờy đó là điều cần thiết Và ngược lại, người đi thuê phải trả cho người cho thuê một khoản phí để hưởng những tiện ích đó Chính vì thế mà có tên gọi là tín dụng thuê mua TÚI dụng thuê mua thực chờt là thuê tài chính hay thuê vốn theo tên gọi ban đầu của nó ( Hnance lease hay Capital lease ) Từ thuê mua tại Việt Nam do thói quen sử dụng
có lẽ ban đầu từ người dịch đầu tiên
Có nhiều định nghĩa về cho thuê tài chính như:
+ " Cho thuê tài chính là thuê tài sản trung đài hạn , nó là hình thức phát triển cao hơn của việc cho vay bằng tiền trong cùng một thời hạn."
Trang 12+ " Cho thuê tài chính là đề ra các điều kiện khác nhau của giao dịch cho thuê : thời gian sử dụng thiết bị , số tiền thuê và thời gian thanh toán , các đặc điểm của thiết bị thuê và khả nâng lựa chọn khi kết thúc thời hạn thuê "
+ Ở Việt Nam theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP :" Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sữ hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nấm giữ quyền sữ hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được 2 bên thỏa thuận "
1.1.2- Điều kiện về cho thuê tài chính
Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoa mãn một trong những điều kiện sau : + Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng , bên thuê được chuyển quyền sữ hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoa thuận của 2 bên
+ Nội dung hợp đồng thuê có qui định : khi kết thúc thời hạn thuê , bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghiã thấp hơn giá trị thực t ế của tài sản thuê tại thời điểm mua l ạ i
+ Thời hạn cho thuê Ì loại tài sản ít nhất phải bằng 6 0 % thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê
+ Tổng số tiền thuê Ì loại tài sản qui định tại hợp đồng thuê ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng
1.1.3- Đối tượng cho thuê tài chính
Có 3 đối tượng liên quan:
+ Bên thuê : là tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam , trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình
5
Trang 13+ Bên cho thuê : là CTCTTC được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam
+ Tài sàn cho thuê: là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sàn khác
1.1.4- Tài sẩn cho thuê tài chính
Khác với hình thức tài trợ cổ điển bằng tiền tệ , cho thuê tài chính tài trợ dưới hình thức tài sản Thông thường , tài sản cho thuê tài chính bao gồm : động sản và bất động sàn
+ Bất động sân là nhụng tài sán như nhà ở , nhà xưởng , khách sạn , quyền sử dụng đất đai
+ Động sản là nhụng tài sản hụu hình có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài như: máy móc thiết bị công nghệ sản xuất, phương tiện vận tải , thiết bị văn phòng , tàu biển, máy bay
Ở Việt Nam , theo qui định hiện nay, tài sản cho thuê tài chính phải có giá trị sử dụng hụu ích trên Ì năm và chỉ là động sản
1.1.5- Tính chất của tài sản cho thuê tài chính
+ Tính chất pháp lý : người cho thuê là chủ sở hụu của tài sàn cho thuê tại mọi thời
điếm khi người đi thuê chưa ấn định mua tài sản hay người cho thuê chưa ấn định
chuyển giao quyền sở hụu tài sản cho người đi thuê thì người đi thuê chỉ được quyền
sứ dụng tài sàn mà không có các quyền :
- Bán giao, thế chấp thiết bị thuê hoặc dùng thiết bị làm tài sản thế nợ
- Thay đổi hình dáng , tính năng kỹ thuật, di chuyển một phần hay toàn bộ tài sản thuê mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê
- Xoá , thay đổi ký hiệu nhận dạng của tài sản thuê
- Sử dụng thiết bị thuê với nhụng mục đích không được thiết kế hay không mong
đợi
Trang 14Nếu người đi thuê vi phạm những qui ước trên thì người cho thuê được phép thu h ồ i
lại tài sản với cương vị là người chủ sở hữu pháp lý đối với tài sản thuê + Tính chất kinh tế : mặc dù người cho thuê là chủ sở hữu tài sản về mặt pháp lý nhưng họ không trực tiếp sử dểng tài sản , quyền lợi này được trao cho người đi thuê Đây chính là sở hữu về mặt kinh tế Người đứng ra khai thác tính hữu ích của tài sản
và cam kết gánh chịu mọi rủi ro liên quan đến thiết bị thuê người ta dùng thuật ngữ "
sở hữu kinh tế" để nói lên quyền lợi và trách nhiệm này
- Người đi thuê sẽ đền bù cho người cho thuê mọi mất mát hay thiệt hại về thiết bị với bất cứ nguyên nhân nào
- Người đi thuê đồng ý bảo hiểm tài sản theo yêu cầu cể thể của người cho thuê và
sẽ duy trì sự bảo hiểm như vậy đến hết thời hạn thuê
- Người đi thuê sẽ bồi thường cho người cho thuê những sự cố hay hư hại do bên thứ
Người đi thuê chịu mọi rủi ro trong quá trình sử dểng tài sản , tuy nhiên như vậy
không có nghiâ là người cho thuê không gặp rủi ro Các rủi ro mà người cho thuê có
thể gặp là thiết bị không bán được hay cho thuê tiếp khi hợp đồng cho thuê do lạc hậu về công nghệ , sự biến đổi về khả năng thu hồi vốn do chính sách vĩ mô , vi mô gây nên và do môi trường thay đổi
7
Trang 151.1.6- Cho thuê tài chính là hình thức đặc biệt của tín dụng trung và dài hạn
Cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ vốn cho nền kinh tế Phương thức tài trợ này ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển được sử đụng rất rộng rãi Cho thuê tài chính là phương thức cho thuê tài sẫn dài hạn mà trong thời gian đó người cho thuê chuyển giao tài sẫn cho người đi thuê sử dụng Bên thuê có ưách
nhiệm định kỳ thanh toán tiền thuê theo hợp đồng Khi hợp đồng thuê hết hạn, bên đi thuê được quyền mua tài sẫn hoặc thuê tiếp hoặc cũng có thể trẫ lại cho bên cho thuê
Trong cho thuê tài chính, tài sẫn vẫn thuộc quyền sở hữu của người cho thuê trong suốt thời gian cho thuê nhưng vai trò thực sự cùa người cho thuê là cung cấp tài chính trung - dài hạn cho người đi thuê" nên cho thuê tài chính và tín dụng trung dài hạn có những điểm giống nhau:
+ Người cho thuê chuyển giao cho người đi thuê một lượng giá trị dưới hình thức tài sẫn, còn người cho vay chuyển cho người đi vay một lượng giá trị dưới hình thức tiền
tệ trong khoẫng thời gian trung dài hạn
+ Người đi thuê hay người đi vay phẫi hoàn trẫ cho người cho thuê hay người cho
vay toàn bộ vốn gốc và lãi trong thời gian hợp đồng
Cho thuê tài chính tài trợ vốn dưới hình thức tài sẵn nên cho thuê tài chính không phẫi là phương pháp thay thế tín dụng trung và dài hạn mà chỉ là hình thức tín dụng trung dài hạn đặc biệt, tham gia tài trợ vốn làm chuyên nghiệp hóa các nghiệp vụ tín dụng hơn Cho thuê tài chính mang đầy đủ bẫn chất của tín đụng trung dài hạn như tính hoàn trẫ, tính thời hạn, lãi suất
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ là hàng tháng hay hàng quý người đi thuê phẫi thanh
toán tiền thuê tài sẫn cho người cho thuê Người đi thuê được quyền sử dụng tài sẫn tức là đã sử dụng vốn cùa người cung cấp tín dụng dưới hình thức máy móc thiết bị Trong cho thuê tài chính vốn gốc có thể hoàn trẫ lại phần lớn bằng tiền và một phần
là tài sẫn, có nghĩa là trong thời gian hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính (tức
Trang 16thời gian sử dụng tài sản) vốn gốc được hoàn trả bằng tiền và khi kết thúc hợp đồng
thì người đi thuê có thể hoàn trả lại tài sản đã thuê Như vậy, một phần vốn gốc đã
được hoàn trả bằng tài sản đã được sử dụng Điều này có một chút khác biệt với tín dụng trung dài hạn Trong tín dụng trung dài hạn, vốn gốc phải được hoàn trả bằng
tiền vì nó tài ượ vốn dưới hình thức tiền tệ
Tính thời hạn được qui đữnh trong hợp đồng cho thuê tài chính tùy thuộc vào sự
thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê dựa trên thời gian hữu dụng của tài sản
và khả năng tài chính của người đi thuê Và thời gian thuê thông thường là trung dài hạn Hết thời hạn thuê, người đi thuê phải hoàn trả cho người cho thuê toàn bộ vốn
gốc và lãi dưới hình thức thanh toán tiền thuê
Lãi suất, trong cho thuê tài chính có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử
dụng tài sản Người cho thuê mặc dù sở hữu tài sản nhưng sẽ sử dụng nó mà cho thuê
để thu lãi Lãi suất mà người cho thuê tính toán dựa trên lãi suất cho vay trung dài hạn trên thữ trường, thêm vào đó tùy thuộc vào mức độ rủi ro của từng dự án cho thuê
mà áp dụng một mức lãi suất thích hợp Việc xác đữnh lãi suất phù hợp giúp cho công
ty cho thuê tài chính tăng nhanh việc thu hồi vốn tài trợ, tránh những rủi ro có thể xảy
ra khi tài sản tài trợ là loại thiết bữ dễ lỗi thời, không có thữ trường bán lại khi kết thúc hợp đồng thuê
Vậy cho thuê tài chính là một hình thức đặc biệt cùa tín dụng trung dài hạn mà
trong đó người cho thuê có vai trò là nhà tài trợ vốn trung dài hạn dưới dạng tài sản
1.1.7- Phân biệt cho thuê tài chính ( Finance lease ) và cho thuê hoạt động ( Operating lease)
Thuê là một trong những hình thức giúp doanh nghiệp giải quyết việc hạn chế vốn
đáp ứng nhu cầu đổi mới , thay thế qui trình công nghệ tiên tiến trong sản xuất
Trong đó cho thuê tài chính tài trợ vốn dưới dạng tài sản với thời gian trung dài hạn còn thuê hoạt động tài trợ với thời gian ngắn hạn
9
Trang 17Theo như đã bàn về cho thuê tài chính và điều kiện cho thuê tài chính thì một giao
dịch được coi là thuê tài chính nếu có chuyển giao gần như tất cả các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu cho người đi thuê Loại thuê này không thể hủy bỏ và đảm bảo cho người cho thuê sẽ hoàn vỡn và thu được lợi nhuận trên sỡ tiền đã bỏ ra tài trợ , đồng thời người đi thuê sẽ nhận được tài sản khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính với một sỡ tiền mua tượng trưng Bơi vậy , tuy không phải là chủ sỡ hữu về mặt pháp lý trong suỡt thời gian thuê nhưng người đi thuê lại nhận lấy việc khai thác mọi lợi ích kinh tế và chịu mọi rủi ro về tài sản
Ngược lại , trong cho thuê hoạt động , mọi rủi ro và lợi ích gắn liền với quyển sở hữu hầu như không chuyển giao cho người đi thuê , thời gian cho thuê không hạn chế song phổ biến thường là trong một giai đoạn ngắn người đi thuê chi quan tâm tới việc
sử dụng tài sản thuê mà không hề quan tâm tới quyền mua quyền sở hữu tài sản khi kết thúc hợp đồng Người cho thuê không thể thu hồi toàn bộ tiền vỡn đã bỏ ra đầu tư trong hợp đồng đầu tiên mà phải trông chờ vào những hợp đồng tiếp theo
Việc một giao dịch cho thuê được phân loại là cho thuê tài chính phụ thuộc vào bản chất giao dịch thông qua nội dung của hợp đồng Người ta sẽ tiến hành xác định nó trên một tiêu chuẩn nhất định theo các định nghiã của ủy ban Tiêu chuẩn Kế toán
Quỡc tế (International Accounting Standard Commitee - IASC ), thì thuê hoạt động
và cho thuê tài chính xác định bởi các tiêu chuẩn sau :
Trang 18Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động
CHO T H U Ê H O Ạ T Đ Ộ N G
C H O T H U Ê T À I C H Í N H
1 Thời hạn cho thuê
Cho thuê có thời hạn dài so với thời
gian hữu dụng của tài sản Thông
thường bằng 2/3 thời gian hữu dụng của
tương đương với giá trị của tài sàn đó
tại thời điểm ký hợp đồng
Người đi thuê phải thanh toán tiền bảo
dưỡng , đóng bảo hiểm và nộp thuế tài
sản
5 Chuyển quyền sở hữu hoặc bán tài
sản
Trong hợp đồng thuê 2 bên có thể thoa
thuận chuyển quyền sở hữu hoặc bán
lại tài sản sau khi kết thúc hợp đồng
6 Trách nhiệm rủi ro liên quan đến tài
sản
Người di thuê chịu phần lển rủi ro , kể
cả những rủi ro không phải do mình gây
Người cho thuê chịu phần lớn rủi ro , trừ trường hợp rủi ro do lỗi của người đi thuê
Các tể chức tài chính trung gian thường không thực hiện nghiệp vụ này
l i
Trang 191.1.8- Những ích lợi của cho thuê tài chính
• Đối với nền kinh tế
+ Cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn đối với nền kinh tế
Một nền kinh tế muốn phát triển đòi hỏi phải đầu tư thích đáng vào các ngành sản xuất kinh doanh Yếu tố đầu tiên là phải có vốn để đầu tư vào các yếu tố của quá
trình sẵn xuất trong đó có đầu tư đổi mới các công cụ lao động vốn nhàn rừi trong dân cư , doanh nghiệp các định chế tín dụng ngân hàng , Chính phủ , vốn từ nước ngoài trong đó cho thuê tài chính là một phương thức cấp vốn trung dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế
+ Cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy cải tiến khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền kinh tế
Bên cạnh nguồn vốn vay của ngân hàng , thông qua cho thuê tài chính , các loại máy móc thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến được đưa vào các doanh nghiệp góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất trên nhiều lĩnh vực
Đối với những công ty cho thuê tài chính lớn có mạng lưới ở nhiều nơi thì nghiệp vụ cho thuê tài chính sẽ cho phép tài sẵn và kỹ thuật công nghệ được điều chuyển khắp nơi làm giảm bớt sự cách biệt về trinh độ kỹ thuật và công nghệ giữa các khu vực Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam , đổi mới kỹ thuật công nghệ càng trở nên cấp bách , là điều kiện sống còn để các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh , thì cho thuê tài chính càng phát huy tác dụng của nó Các doanh nghiệp thay vì được vay vốn để nhập khẩu trực tiếp công nghệ mới, có thể thuê trực tiếp các công nghệ hiện đại từ các công ty cho thuê tài chính của Việt Nam và của nước ngoài bằng các nghiệp vụ thuê mua , góp phần nâng cao trình độ công nghệ toàn cục của xã hội mặc dù trong diều kiện doanh nghiệp có giới hạn về vốn đầu tư Tuy nhiên ở mặt này cũng cần chú trọng đến những biện pháp kiểm soát, quản lý
chặt chẽ để tránh tình trạng đầu tư máy móc thiết bị đã lạc hậu, lừi thời, gây ô nhiễm
Trang 20môi trường Tình t ạ n g này sẽ làm lãng phí nguồn ngoại tệ vốn đã hiếm hoi của đất
nước
+ Cho thuê tài chính góp phần đa dạng hoa nghiệp vụ của các tổ chức tài chính
Sự ra đời của các công ty cho thuê tài chính đã góp phần tạo ra sự đa dạng hoá các nghiệp vụ của các tổ chức tài chính không chỉ gồm các ngân hàng kinh doanh tổng
hợp mà còn cả các tổ chức tài chính cung cấp các dọch vụ tài chính được chuyên môn hoa với các loại hình phong phú , phục vụ nhiều loại khách hàng , cung cấp vốn cho sản xuất dưới nhiều hình thức , phá vỡ thế độc quyền của ngân hàng trong việc cung cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế tạo một mức cạnh tranh sống động trong lĩnh
vực tiền tệ giúp khách hàng có nhiều khả năng so sánh , lựa chọn hình thức thích hợp với mình nhất
Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính phải tự hoàn thiện mình , hoàn thiện quá trình huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế Điểu trên đây góp phần thúc đẩy hệ thống tài chính của quốc gia phát triển , từ đó làm nền tảng cho nền kinh tế phát triển
• Đối với người cho thuê
+ Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao
Trong suốt thời gian thuê , quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc người cho thuê nên họ có quyền kiểm tra , giám sát quyền sử dụng tài sản Nếu có những biểu hiện đe doa sự
an toàn trong giao dọch cho thuê tài chính , người cho thuê có quyền thu hồi tài sản ngay lập tức Nhờ vậy , họ có thể tránh những thiệt hại , mất vốn tài trợ đến mức thấp nhất Trong khi đó , đối với nhiều hình thức tài trự khác như cấp vốn tín dụng
thông thường của ngân hàng thì khó thực hiện biện pháp này vì quyền sở hữu sử dụng tài sản thuộc người đi vay
Khi tiến hành tài trợ thông qua cho thuê tài chính sẽ đảm bảo cho khoản tiền tài trợ được sử dụng đúng mục đích mà người được tài trợ yêu cầu vì vốn tài trợ thể hiện bằng hiện vật chứ không phải là tiền Và điều này đảm bảo khả năng trà nđcủa
người đi thuê, thêm vào đó , tổ chức cho thuê đã thẩm đọnh hết sức kỹ càng khả năng
13
Trang 21hoàn trả của các loại máy móc thiết bị mà họ tài trợ nên hạn chế rủi ro đến mức thấp
nhất Tiền vốn và phí cho thuê thu hồi dựa trên hiệu quả hoạt động của tài sản ,
trong khi đó nếu tài trợ bằng tiền rất có khả năng người đi vay sử dậng vốn không
mậc đích nếu ngân hàng không có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ
Vì cho thuê tài chính tài trợ bằng hiện vật nên hạn chế được ảnh hưởng của lạm
phát không làm giảm dần các khoản vốn được tài trợ
Trong cho thuê tài chính , mọi rủi ro gắn liền với tài sân được chuyển cho người đi
thuê thông qua điều khoản người đi thuê phải tiến hành những hoạt động bảo dưỡng
tài sản bảo hiểm tài sản được ghi trong hợp đồng Nếu chẳng may có những rủi ro
khách quan xảy ra thì tổ chức cho thuê còn có thể thu hồi vốn tài trợ toàn bộ qua số tiền bồi thường bảo hiểm nhận được từ công ty bảo hiểm
+ Cho thuê tài chính giúp người cho thuê linh hoạt trong kinh doanh
Với loại hình tài trợ này , trong thời gian diễn ra giao dịch thuê mua vốn tài trợ
được thu hồi dần cho phép người cho thuê tài sản đầu tư chúng vào hoạt động kinh doanh sinh lời khác Trong một bối cảnh kinh tế năng động như hiện nay , nếu đồng
vốn luân chuyển nhanh thì có nghiã là hiệu quả sử dậng cao và việc nắm bất cơ hội
kinh doanh dễ dàng hơn Ví dậ có 2 hợp đồng : hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng cho vay , đều có thời hạn hiệu lực là 5 năm , với số tiền tài trợ là 5 tỷ và cùng
một lãi suất
Trong trường hợp cho vay , sau 5 năm người cho vay mới thu hồi được vốn gốc để
bắt đầu một thương vậ khác , trong khi đó đối với người cho thuê hàng năm , hàng
quý , thậm chí hàng tháng họ đã thu hồi một phần vốn gốc để tiến hành một thương
vậ khác như đầu tư vào chứng khoán, bít động sản, tiếp tậc cho thuê thị trường thì
biến động từng phút từng giây , cơ hội thì hiếm lập lại nên những người cho thuê có điều kiện về vốn để tận dậng những cơ hội kinh doanh hơn
Nếu so sánh số tuyệt đối giữa số tiền lãi thu được thì nghiệp vậ cho vay và nghiệp
vậ cho thuê thì số lãi từ cho vay cao hơn Nhưng so sánh cùng một số vốn bỏ ra trong
cùng một thời gian thì lãi đem về giữa 2 nghiệp vậ không chắc người cho vay sẽ đem
Trang 22về nhiều hơn vì lãi người cho thuê thu được bằng lãi từ cho thuê công với thu nhập từ
các hoạt động đầu tư khác trong cùng thời gian
Mặt khác , người cho thuê tập trung vào lĩnh vực hẹp của họ nên có điều kiện đầu
tư cho cả chiều sâu , cả về kinh tế kổ thuật và kổ năng nghiệp vụ tín dụng nên ngày
càng nâng cao hiệu quả kinh doanh
+ Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ bổ sung bên cạnh các nghiệp vụ tài
chức khác cùng cung cấp nhiều loại dịch vụ
+ Hồ sơ cho thuê tài chính đơn giản đối với cả người cho thuê và người đi thuê
• Đối với người đi thuê
+ Trong cho thuê tài chính , người đi thuê được hưởng khoản tài trợ cao có thể đến mức 100% nhu cầu
Đây chính là thuận lợi chính của cho thuê tài chính đối với người đi thuê sở đĩ có thuận lợi này mà trong tín dụng thông thường khó có thể tìm thấy được ở chỗ việc tài trợ cho thuê được đảm bảo bằng chính bản thân thiết bị cho thuê Nó cho phép người cho thuê dễ dàng chiếm hữu lại thiết bị trong trường hợp hợp đồng không được tuân thủ theo hợp đồng do người cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản cho thuê
+ Các doanh nghiệp đi thuê không thoa mân các yêu cầu vay vốn của các định chế
tài chính cũng có thể nhận được vốn tài trợ qua cho thuê tài chính
Điều này chính là sức mạnh cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính so với ngân hàng Các doanh nghiệp , nhất là doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ hay
những doanh nghiệp vừa thành lập chưa có uy tín với các định chế tài chính thường
15
Trang 23rất khó thoa m ã n các điều kiện chống rủi ro ữong thẩm định nên thường bị các ngân hàng từ chối cho vay Trong khi đó do đặc thù của cho thuê tài chính là người cho thuê nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và họ có thể trầc tiếp k i ể m soát, theo dõi việc sử dụng tài sản của người cho thuê nên các công ty cho thuê tài chính sẩn sàng thoa mãn nhu cầu đầu tư cùa khách hàng ngay cả khi vị thế tài chính uy tín của doanh nghiệp có những hạn chế
T h ê m vào đó , các công ty cho thuê tài chính chuyên kinh doanh các thiết bị máy móc nên có mạng lưới hoạt động rộng rãi, có trình độ chuyên sâu nên họ có thể cải
t i ế n , điều khiển các loại tài sản cho phù hợp với nhu cầu khách hàng ở các khu vầc thị trường khác nhau Vì thế họ không quá bi quan khi một giao địch cho thuê tài chính bị đổ vỡ giữa chừng như các định chế tài chính khác ngại bị giầt nợ
+ Cho thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản và tránh những tổn thất về hao m ò n vô hình đối với những trang thiết bị dễ lỗi
Đ ố i với những thiết bị như máy v i tính , thiết bị văn phòng những rải ro tiềm ẩn
về hao m ò n vô hình rất lớn do tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật
N ế u trang thiết bị này được thuê mua thì sẽ hạn chế được điều này vì doanh nghiệp
có quyền chọn không mua khi kết thúc hợp đồng thuê mua và người cho thuê sử dụng những khả năng riêng biệt của mình để khắc phục những rủi ro này như phân phối sang các nước có trình độ kỹ thuật thấp hơn Ở Mỹ , người ta khuyến cáo đối với
m á y v i tính nên sử đụng hình thức tài trợ thuê mua để hạn chế những tổn thất này
Trang 24+ N g ư ờ i đi thuê nhận được khoản tài trợ thuê mua nhanh chóng đáp ứng kịp thời
các cơ hội kinh doanh
Cấc công ty cho thuê tài chính thường chuyên môn hoa trong lĩnh vực thuê mua trang thiết bị cộng với mức độ rủi ro thấp hơn các phương thức tài trợ khác nên các
thủ tục và điều kiện tài trợ cũng đơn giản hơn Vì vậy các CTCTTC nhanh chóng đưa
ra các quyết định tài trợ hay không để đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp
+ Cho thuê tài chính tạo điều kiện cho người đi thuê thanh toán tiền thuê rất linh
+ Các doanh nghiệp có thể thu hút vởn nước ngoài thông qua thuê tài chính
Các doanh nghiệp có thể huy động vởn nước ngoài thông qua các CTCTTC quởc
tế hay các công ty liên doanh cho thuê tài chính hoạt động ở trong nước hoặc thông qua các nghiệp vụ thuê tài chính như thuê mua giáp lưng với sự trợ giúp của các CTCTTC trong nước I " •' VI ẽ N
• "<•"'' " Ó C ;
NíáLỉAi: H Ư G N S Í
—-1.1.9- Hạn chế của cho thuê tài chính ị p r p 0 / ( 4 f I
Cho thuê tài chính cũng tồn tại những mặt hạn chế như :L
+ Cho thuê tài chính sẽ góp phần gây lãng phí nguồn ngoại tệ hiếm hoi của quởc
gia , biến đất nước thành bãi rác thiết bị công nghiệp nếu không có thông tín đầy đủ chính sách đúng đắn , khoa học , luật pháp rõ ràng nhất là trong xu hướng các nước phát triển đang muởn chuyển giao công nghệ lỗi thời gây ó nhiễm môi trường , hao tởn nguyên liệu , diều kiện an toàn không bào đảm , sản xuất sản phẩm có tính cạnh tanh kém sang các nước đang phát triển
17
Trang 25không có thị trường mua bán máy móc thiết bị cũ thì dễ bị đọng vốn trong kinh doanh
+ Đ ố i với doanh nghiệp đi thuê thì:
- Phí tài trợ thường cao hơn so với các hình thức khác
- Ở giai đoạn cuối của thoa thuận thuê mua , dù đã trả gần hết số tiền thuê nhưng người thuê vẫn chưa được quyền sấ hữu tài sản đó nên không thể đem cầm cố , t h ế chấp
- Trong trường hợp hợp đồng có dự liệu quyền mua tài sân với giá trị tượng trưng bị
phá vỡ , người thuê sẽ bị thiệt hại do mất quyền ưu tiên này , bấi vì trong phí thuê đã
tính gộp cả phần tiền trả cho người chọn mua
- Doanh nghiệp không được hưấng khoản tiền chiết khấu như mua bằng tiền mặt
T ó m l ạ i , cho thuê tài chính thúc đẩy nền sản xuất phát triển do những ưu việt m à loại hình này mang lại thì song song đó nó cũng tồn tại những điểm bất lợi m à chúng
ta cần nhận thấy để có những biện pháp phòng ngừa hạn chế để thúc đẩy cho thuê tài chính ngày càng phát triển
1.2- Hoạt đông cho thuê tài chính
1 2 1 - Qui trình tài trợ qua thuê mua
1.2.1.1- Xét duyệt tài trợ
Nội dung và trình tự xét duyệt tài trợ qua thuê mua cũng giống như xét duyệt cho vay So với cho vay thì tài trợ qua thuê mua ít gặp rủi ro hơn Vì vậy, có thể có những tiêu chuẩn được xem xét kỹ lưỡng trong khi xét duyệt cho vay nhưng l ạ i được xem xét tương đối dễ dãi hơn trong khi xét duyệt cho thuê tài chính Sau khi xét duyệt xong, nếu CTCTTC chấp thuận hình thức thuê mua nào m à họ sẽ tài trợ thì quá trình tài trợ được tiến hành phụ thuộc vào điều kiện cụ thể m à các bên tham gia đã thoa thuận trong hợp đồng thuê tài chính
Trang 261.2.1.2- Tiến hành tài trợ
CTCTTC nào chưa có sự khảo sát kỹ về cung và cầu máy móc thiết bị và công
nghệ trong giai đoạn hiện nay thì công ty chỉ nên đóng vai trò đơn thuần là người
cung cấp tài chính mà chưa nên mua trước tài sản để đợi khách hàng có nhu cầu mới cho thuê được Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh , CTCTTC đã và sẽ
có trong tay những tài sản mà ngân hàng "mẹ" đã xiết nợ và chuyển sang hình thồc
cấp vốn, hoặc bán lại cho công ty để dùng cho thuê tài chính cùng với tài sản được thu hồi về khi đáo hạn hợp đồng hoặc do người thuê tài sản vi phạm hợp đồng Cách thồc tiến hành tài trợ qua thuê mua như sau :
* Tài sản dùng đề tài trợ qua thuê mua chưa có sẵn :
CTCTTC với vai trò là người tư vấn cho người đi thuê tài sản và giúp cho người đi thuê đàm phán với các nhà sản xuất hay các nhà cung ồng máy móc thiết bị để họ có thể thoa thuận với nhau về : loại máy móc thiết bị, công nghệ , giá cả, điều kiện giao
hàng
* Tài sản dùng để tài trợ qua thuê mua mà công tỵ thuê tài chính có sẩn
Hiện nay, CTCTTC chưa nên mua tài sản để sẩn rồi mới tìm người thuê vì đơn giản
là do CTCTTC mới hoạt động chưa lâu nên chưa có nhiều kinh nghiệm Đối với
những tài sản mà ngân hàng "mẹ" chuyển sang cho công ty dưới hình thồc cấp vốn
hay CTCTTC thu hồi lại từ người thuê thì ngoài việc cho thuê tài chính trực tiếp ra thì
có thể dùng tài sản đó cho thuê hoạt động (nếu được phép)
1.2.1.3- Thu tiền thuê và kiểm tra tài sản
Thời hạn cho thuê bắt đầu từ lúc người thuê nhận tài sản và quyền sử dụng tài sản đến lúc chấm dồt hợp đồng thuê tài chính Thời hạn cho thuê được chia ra các kỳ hạn tính tiền thuê : tháng, quí, năm tùy theo thoa thuận với người thuê Người thuê phải
có trách nhiệm thanh toán tiền thuê đầy đủ và đúng hạn theo thoa thuận nong hợp
đồng thuê mua Nếu người thuê vi phạm việc thanh toán tiền thuê, CTCTTC sẽ phạt quá hạn hoặc tiến hành thu hồi tài sản cho thuê trước hạn Trong một số trường hợp
19
Trang 27người thuê có thể xin gia hạn việc thanh toán tiền thuê như : người thuê là khách
hàng có uy tín nhưng trong việc sản xuất kinh doanh của họ có thể gặp khó khăn
trong một thời gian nào đó do trở ngại khách quan và họ có khả năng thanh toán được tiền thuê tài sản vào thời điểm liền kế
Định kỳ hoặc đột xuất, CTCTTC cần tiến hành kiểm tra việc sử dậng tài sản của
người thuê để xem mậc đích sử dậng và bảo quản tài sản Những cán bộ kiểm ưa có thể là cán bộ kỹ thuật của CTCTTC hay do chuyên gia kỹ thuật mà CTCTTC thuê
thực hiện tùy theo qui định của hợp đồng thuê mua
1.2.1.4- Thu hồi cài sin và kết thúc hợp đồng
Khi kết thúc hợp đồng thuê tài chính, CTCTTC cùng người thuê tài sản tiến hành thủ tậc kết thúc hợp đồng với nội dung : gia hạn hợp đồng thuê tài chính nếu người thuê còn có nhu cầu thuê tiếp ; thu hồi các khoản nợ mà người thuê còn thiếu ; kiểm tra lại tài sán và tiến hành xử lý tài sản cho thuê tài chính theo các hướng sau : bán lại tài sản và chuyển giao quyển sở hữu tài sản cho người thuê ; thu hồi lại tài sản để tiếp tậc cho thuê hoặc bán thanh lý
Trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính phải kết thúc trước hạn do lỗi của người thuê thì nội dung kết thúc hợp đồng như sau : thu hồi tài sàn và các khoản nợ còn thiếu của người thuê , người thuê phải bồi thường những thiệt hại do lỗi cùa họ gây
ra
1.2.2- Các bình thức cho thuê tài chính
• Cho thuê tài chính thuần
Đây là hình thức cho thuê cổ điển, đặc tnihg nhất và chủ yếu nhất Theo hình thức
này, giao dịch cho thuê tài chính có sự tham gia của 3 chủ thể gồm : bên cho thuê, bên thuê và nhà cung cấp Mối quan hệ giữa các bèn như sau :
Trang 28- Bên cho thuê và nhà cung cấp : bên cho thuê có tách nhiệm trả tiền mua thiêt bị
đã được bên thuê lựa chọn, bên cung cấp phải giao hàng theo đúng các điều khoản trong hợp đồng về chất lượng , thời gian giao hàng
- Bên thuê và nhà cung cấp : lựa chọn thiết bị và giao hàng, lắp đặt chạy thử ( nếu
có yêu cầu ) Bên thuê phải có trách nhiệm về việc kiểm tra chất lượng thiết bị do nhà cung cấp giao
- Bên cho thuê và bên thuê : bên thuê tiếp nhận quyền sử dẩng tài sản thuê và có trách nhiệm thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê theo đúng thời hạn đã cam k ế t Trong trường hợp tài sản tài ỮỢ đã có sẩn và thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, bên cho thuê cũng đồng thời là nhà cung cấp thì giao dịch cho thuê tài chính chỉ có sự tham gia của 2 bên như sau : bên cho thuê và bên thuê ký kết hợp đồng , bên cho thuê chuyển giao quyền sử dẩng tài sản cho bên thuê , bên thuê thanh toán tiền thuê theo đúng thời hạn đã cam kết, hai bên cùng bàn bạc xử lý các nội dung có liên quan khi kết thúc hợp đồng
• Mua và cho thuê lại
Theo hình thức này, bên cho thuê mua lại máy móc thiết bị , phương tiện vận chuyển và các tài sản khác thuộc sở hữu của bên thuê và cho bên thuê thuê lại chính các tài sản đó để tiếp tẩc sử dẩng phẩc vẩ hoạt động sàn xuất kinh doanh của mình
• Cho thuê trả góp
Theo hình thức này thì bên cho thuê và bên thuê thoa thuận đến một thời gian nào
đó, khi m à bên cho thuê đã thu được một tỷ lệ nhất định tiền cho thuê tài sàn thì sẽ chuyển quyền sở hữu tài sản thuê cho bên đi thuê và bên đi thuê vẫn có trách nhiệm tiếp tẩc thanh toán tiền còn lại cho bên cho thuê dưới danh nghía tiền trà góp mua
Trang 29trong cho thuê tài chính thuần Riêng bên cho thuê phải ký thêm hợp đồng tín dụng
với bên cho vay và thanh toán tiền vay
• Cho thuê trợ bán
Là hình thức tín dụng mà trong đó nhà sản xuất sản xuất ra các tài sản , trang thiết
bị bán cho CTCTTC, công ty này vẫn để tài sản cho người sản xuất nắm giữ và yêu cầu họ cho người thứ ba thuê sở đĩ gọi là cho thuê trợ bán là do người cho thuê không chố tài trợ cho người đi thuê mà ngay từ ban đầu là sự trợ giúp vốn cho nhà sản xuất Thông qua quá trình cung cấp vốn tín đụng , nhà sàn xuất có điểu kiện giải phóng vốn trong khâu dự trữ thành phẩm
• Cho thuê giáp lưng
Là hình thức cho thuê tài chính mà thông qua sự đồng ý của bên cho thuê , bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà trước đó họ đã thuê Người thuê thứ nhất mặc dù không chịu những rủi ro liên quan trực tiếp đến tài sản thuê bởi đã chuyển giao cho người thứ hai nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm như là một người
thuê thật sự theo những điều khoản đã ghi trong hợp đồng Ớ đây vai trò của người thuê thứ nhất vừa là người thuê tài sản vừa là người cho thuê và tổ chức đứng ra tài trợ ban đầu chố biết đến người thuê thứ nhất mà không cần biết đến người thuê thứ hai hình thức này thường được sử dụng trong trường hợp bên thuê thứ nhất không còn nhu cầu trực tiếp sử dụng đối vôi tài sàn đã thuê, họ phải tìm bên thuê thứ hai để trút bỏ gánh nặng về chi phí tiền thuê
1.2.3- Phương thức xác định tiền thuê
Bất cứ một phương pháp tính tiền thuê nào cũng dẫn đến một trong ba kết quả :
- Thứ nhất: tiền thuê sẽ giảm dần theo các kỳ hạn (kỳ khoản giảm dần)
- Thứ hai: Tiền thuê sẽ tăng dần theo các kỳ hạn (kỳ khoản tăng dần)
- Thứ ba : tiền thuê sẽ phân phối đểu cho các kỳ hạn (kỳ khoản cố định)
Trong đó phổ biến là kỳ khoản cố định
Trang 30* Trường hợp Ì: Tiền thuê được trả vào cuối mỗi định kỳ
a/ Nếu toàn bộ vốn tài trợ được thu hồi đủ trong thời hạn cho thuê và phân phối đều cho mỗi kỳ hạn thì tiền thuê (A) tính theo công thức sau :
bi Nếu thời gian cho thuê tài sản chỉ chiếm một phần lận tuổi thọ của nó , khi hết
hạn thuê , bên đi thuê sẽ mua lại tài sẵn theo giá cả xác định Như vậy, toàn bộ tiền tài trợ sẽ không thu hồi hết qua tiền cho thuê mà nó chỉ được thu về hết qua tiền thuê
* Trường hợp 2 : Tiền thuê sẽ thu vào đầu kỳ hạn, tức là người đi thuê phải thanh
toán ngay tiền thuê khi hợp đồng được ký
a/ Nếu tiền thuê được tính và thu hồi hết trong thời hạn cho thuê và phân phối đều
Trang 311.3- Cho thuê tài chính - phương thức tài trợ vốn đẩu tư cho doanh nghiệp •
• Vốn của doanh nghiệp
Vốn là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất trong xã hội Đó là lượng giá trị mà doanh nghiệp phải ứng ra cho hoạt động kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả kinh tế
xã hội mong muốn
Vốn là yếu tố quan trọng , cần thiết đầu tiên và bắt buộc phải có ở bất kỗ một doanh nghiệp nào ngay từ khi bắt đầu thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, số
lượng vốn ở mỗi một doanh nghiệp là chỉ tiêu đánh giá quy mô của doanh nghiệp, khả năng chiếm lĩnh thị trường và sức mạnh để tồn tại và phát triển Việc tăng không ngừng về vốn là một trong những mục tiêu lớn, là dấu hiệu tốt đẹp về mức độ phát triển, mức độ mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao tiềm lực tài chính và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, đối với các doanh nghiệp, không chỉ tồn tại mãi với số lượng vốn ban đầu khi thành lập, mà trong quá trình sản xuất kinh doanh, thường xuyên đòi hỏi phải đựoc bổ sung không ngừng một số lượng vốn nhất định
nhằm đáp ứng các nhu cầu về tái sản xuất mở rộng, về thanh toán, về dự trữ phát sinh ở mọi thời điểm
Trước đáy trong nền kinh tế bao cấp các doanh nghiệp chỉ quan tâm chủ yếu đến
việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Sự bao cấp tràn lan về vốn sự can thiệp hành chánh của các cơ quan chủ quản cấp trên vào quá trình sản xuất kinh doanh đã làm cho các doanh nghiệp không có điều kiện phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình dẫn đến việc
sử dụng vốn kém hiệu quả
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh
của các thành phần kinh tế, vốn kinh doanh có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp trên thị trường
Vốn có thể giúp các doanh nghiệp chuyển bại thành thắng bằng việc quản lý và sử đụng đồng vốn một cách có hiệu quả
Trang 32Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, khi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn
toàn về kết quả kinh doanh của mình, thì đồng vốn có vai trò quan trọng quyết định
sự tồn tại và chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh Do đó đòi hỏi phải có một nguồn vốn
ổn đinh và đủ mạnh để không bị áp đảo hoặc thâu tóm bởi các thế lực cạnh tranh trên thị trường Mặt khác, vốn còn là nguồn tài trấ cho doanh nghiệp bổ sung những trang thiết bị, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, phất triển doanh nghiệp
của mình
Để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều cần phải có tư
liệu lao động như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải là những vật giúp cho con người tác động vào đối tưấng lao động để làm ra sán phẩm Loại tư liệu lao động chủ yếu trong doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn đưấc gọi là tài sán cố định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp Vốn cố định của doanh nghiệp có thể đưấc giải quyết bằng nguồn vốn chù sở hữu
của doanh nghiệp hoặc huy động các nguồn tài trấ trung và dài hạn Trong số đó,
thuê tài chính là một nguồn tài trấ trung và dài hạn hữu hiệu giúp doanh nghiệp có thể đưấc sử dụng những máy móc thiết bị, nhà xưởng , nhà kho theo yêu cầu đầu
tư hiện đại hoa máy móc thiết bị hay mở rộng sản xuất kinh doanh
Lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới cho thấy , cho thuê tài chính là một kênh chuyển tải vốn đầu tư hiệu quả mà các doanh nghiệp quan tâm và chọn lựa
cho sự phát triển của mình
1.4- Kinh nghiêm về hoạt đông cho thuê tài chính d một số quốc gia
Cho thuê tài chính là hình thức tài trự bắt đầu từ những năm 1950 với sự thành lập Công ty cho thuê tài chính ( CTCTTC ) cùa Hoa Kỳ ( us Leasing International
Corporatìon) và các CTCTTC này phát triển rất mạnh vào những năm 1960
Tại Anh , các CTCTTC đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống tài chính Các sản phẩm của cho thuê tài chính phát triển rất mạnh và đưấc chấp nhận rộng rãi
25
Trang 33Điều này đã khuyến khích việc thành lập nhiều CTCTTC ở Anh Và các công ty này
đã thu hút được một số khách hàng lớn do tính an toàn và linh hoạt của các sản phẩm này mang lại
Tại Pháp , ngay từ khi hoạt động cho thuê tài chính xuất hiện , nó đã được Chính phủ quan tâm và lập tức đã có một khung pháp lý dành riêng cho hoạt động này được ban hành Do đó đã loại bỏ được mọi khó khăn cản trở đối với hoạt động cho thuê tài chính như tài chính , pháp lý , thuế
Hoạt động Cho thuê tài chính à một số nước Châu Á
• Tại Nhật Bản
Trong số các nước Châu Á , Nhật Bản là nước có thắ trường cho thuê tài chính năng động nhất Hiệp hội cho thuê tài chính Nhật Bản có hơn 100 thành viên Hoạt động cho thuê tài chính ở Nhật Bản được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các ngân hàng và các công ty thương mại
Hoạt động cho thuê tài chính ở Nhật Bản bắt đầu vào những năm 60 Các công ty như Công ty cho thuê tài chính Tokyo được thành lập vào những năm 1963 và 1964
Kể từ đó, hàng loạt các CTCTTC ở Nhật Bản ra đời và được hỗ trợ mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại lớn Hoạt động cho thuê tài chính ở Nhật Bản phát triển rất mạnh , có được điều này là do Chính phủ Nhật cũng như các công ty thực hiện theo những qui trình sau :
- Hoạt động cho thuê tài chính ở Nhật Bản phát triển là do các doanh nghiệp coi các CTCTTC là nguồn cung cấp vốn dài hạn với lãi suất cố đắnh
- Hoạt động cho thuê tài chính ở Nhật Bản được các doanh nghiệp quan tâm vì các khoản thuế thường nằm ngoài bảng tổng kết tài sản , do đó nó không làm ảnh hưởng tới các tỷ số tài chính của doanh nghiệp , cụ thể là không ảnh hưởng đến tỷ số nợ của doanh nghiệp
Trang 34- Các CTCTTC ở Nhật Bản được thừa hưởng một lượng khách hàng rất lổn và
nguồn vốn lớn vì các CTCTTC thường có cổ phần của các ngân hàng , đặc biệt là có
sị tham gia của các công ty bảo hiểm
- Hoạt động cho thuê tài chính ở Nhật Bàn không qui định một hình thức cụ thể nào
mà được đa dạng hoa tất cả các loại hình cho thuê như: cho thuê liên kết (syndicated leases ), bán và tái thuê Do đó các CTCTTC có thể lịa chọn các phướng thức mà
họ có thể cung ứng cho khách hàng với chi phí thấp và tính linh hoạt trong các sản phẩm tài chính để phục vụ cho khách hàng của mình
- Các CTCTTC ở Nhật Bản tham giavào hầu hết các lĩnh vịc , ngành kinh tế và ở khấp mọi nơi kể cả trong nước và quốc tế Hầu hết các CTCTTC Nhật Bản đều có văn phòng đại điện tại New York , London , Hông {Cong , Singapore và các nước Đông Á Vài công ty cũng tham gia vào thị trường Châu Âu , Bắc Mỹ dưới hình thức hoạt động độc lập hay liên doanh với các tổ chức tài chính của nước sở tại
• Tại Singapore
Các CTCTTC ở Singapore chỉ mới được thừa nhận từ những năm 1970 Có khoảng
20 CTCTTC hoạt động ở Singapore Hoạt động cho thuê tài chính ở Singapore tương đối phát triển và đã trở thành một kênh cung cấp vốn cho các doanh nghiệp sở đĩ có
sị thành công đó chính là nhờ các CTCTTC ở Singapore đã tận dụng được những lợi thế từ bên trong nước và những yếu tố nước ngoài
- Hoạt động cho thuê tài chính ở Singapore không chỉ là nghiệp vụ của riêng các CTCTTC mà nó còn là nghiệp vụ phụ của các công ty tài chính khác và một số ngân hàng cũng tham gia nghiệp vụ này
- Hầu hết các CTCTTC ở Singapore là công ty liên doanh giữa một bên là công ty tài chính địa phương và các đối tác nước ngoài Các công ty địa phương luôn là đầu mối giao dịch tại nước sở tại vì họ quen với môi trường kinh doanh và khách hàng truyền thống còn các đối tác nước ngoài thì cung cấp trình độ chuyên môn, vốn, kỹ thuật, quản lý
27
Trang 35- Hoạt động cho thuê tài chính ở Singapore tiếp cận và thừa hưởng nhiều từ các
CTCTTC Nhật Bản , một số nước có ngành công nghiệp cho thuê tài chính phát triển sớm nhất và mạnh nhất ở Châu Á
- Các CTCTTC cùng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác và các ngân hàng thành lập Hiệp hội cho thuê tài chính Singapore (Leasing Association of Singapore -
LAS ) Hiệp hội này được thành lập vào tháng 8/1981 , chỉ sau 2 năm số thành viên lên tới 43, trong đó số thành viên đầy đị là 40 bao gồm 12 CTCTTC, 20 công ty tài chính , 6 ngân hàng đầu tư, Ì công ty mua nợ và Ì ngân hàng thương mại Hiệp hội cho thuê tài chính Singapore đã có một cuộc nghiên cứu toàn diện để lập ra một
khung pháp lý thích hợp nhất cho hoạt động cho thuê tài chính ở Singapore vào năm
1983
• Tại Trung Quốc
Ở Trung Quốc , hoạt động cho thuê trang thiết bị hiện đại đã được triển khai thực
hiện từ đầu thập niên 80 Tháng 2/1981 CTCTTC Phương Đông Trung Quốc ra đời
( China Orient Leasing Co.Ltd ) Đây là liên doanh cịa 3 đối tác : Tập đoàn tài chính
và đầu tư quốc tế Trung Quốc , Công ty kim khí điện máy Bắc Kinh và CTCTTC
Phương Đông Nhật Bản Cũng trong năm này, vào tháng 7, Tập đoàn tài chính và đầu
tư quốc tế Trung Quốc hợp tác với cơ quan quản lý cung ứng vật tư Trung Quốc thành lập công ty Leasing China Ltd, và sau đó Tập đoàn tài chính và đầu tư quốc tế Trung Quốc lập riêng một CTCTTC độc lập Sự hình thành 3 CTCTTC này đã báo hiệu cho
sự ra đời cịa ngành công nghiệp Cho thuê tài chính ở Trung Quốc Cùng với chính sách mở cửa và phát huy nguồn lực trong nước đã làm cho hệ thống đầu tư Trung
Quốc có những thay đổi to lớn , trong đó việc phân phối tài chính cịa Nhà nước đã được sửa đổi về tín dụng , ngân hàng, tăng nguồn vốn hoặc gia tăng vốn tự có cịa doanh nghiệp Việc đa dạng hoa các nguồn vốn đầu tư đã tạo điều kiện để phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở Trung Quốc Nhờ có chính sách mở cửa, cải cách đầu
tư mà ngành cho thuê tài chính ở Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng Sau 10 năm, Trung Quốc đã có hơn 60 CTCTTC, trong đó có hơn 25 công ty liên doanh với nước
Trang 36ngoài M ộ t số công ty đi vào hoạt động toàn diện ở tất cả các lĩnh vực , một số khác
hoạt động ở một số lĩnh vực ngành đặc thù và mở cơ sở tại hơn 12 tỉnh, thành phố cùng các khu tự trị như : Bắc Kinh, Thượng Hải, Tiarýin, Hubei, Guizou, Shanxi và Inner Mongolia Ngoài ra ở Trung Quốc còn cho phép hàng trăm công ty tài chính đầu tư , công ty tài chính tư vấn được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính như là một nghiệp vụ phụ bên cạnh hoạt động kinh doanh chính của mình Nhổng CTCTTC lớn ở Trung Quốc đã mở các văn phòng thương mại và chi nhánh ở nhiều nơi trên đất nước và thành lậpmột mạng lưới cho thuê tài chính trên toàn lãnh thổ Trung Quốc Nếu như doanh thu về hoạt động cho thuê tài chính của cả Trung Quốc năm 1981 chỉ
ở mức 13,2 triệu USD thì năm 1987 xấp xỉ Ì tỷ USD , tổng doanh thu của 6 năm từ
400.000 xí nghiệp quốc doanh có qui mô vừa và nhỏ cùng với hơn Ì triệu xí nghiệp cấp phường, xã tại Trung Quốc có nhu cầu đổi mới công nghệ và một trong nhổng phương thức để họ tiếp cận đến với công nghệ mới là phương thức cho thuê tài chính
- Các thiết bị cho thuê được đưa vào danh mục quản lý của Nhà nước hoặc kế
hoạch của địa phương và là đối tượng phải được sự chấp thuận của Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Điều này nhằm tránh việc đầu tư vào nhổng máy móc thiết bị lạc hậu , lỗi thời và không phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế Bởi vì mục đích cao
29
Trang 37nhất của Chính phủ Trung Quốc là tái thiết lại các doanh nghiệp dựa trên việc đầu tư đổi mới công nghệ để sản phẩm làm ra đạt chất lượng cạnh tranh trên trường quốc tế
- Hoạt động cho thuê tài chính hiện nay ở Trung Quốc được thực hiện theo phương thửc tài trợ toàn bộ ( full pay out leasing ) giá trị tài sản thuê trong đó bên thuê được quyền chọn sử đụng tài sản thuê cho đến khi hết thời hạn hợp đồng , và được trích khấu hao tài sản mình sử dụng Ngoài ra, hoạt động cho thuê tài chính đều phải chịu
sự chi phối của k ế hoạch và chính sách cùa Nhà nước Nguồn vốn đưa ra và lịch tình trả nợ cũng phải căn cử vào k ế hoạch của Nhà nước
- Tất cả các CTCTTC ngoài chửc năng của mình , còn thực hiện thêm chửc năng như một công ty xuất nhập khẩu Nghía là, CTCTTC phải tìm một nhà cung cấp thiết
bị thích hợp, nắm được giá cả cung ửng thiết bị, sắp xếp các cuộc thương lượng về kỹ thuật và thương m ạ i , tổ chửc kiểm tra các thiết bị từ nước ngoài về , huấn luyện nhân viên của công ty thuê thiết bị, cũng như ra lệnh gửi hàng xuống tàu, sắp đặt việc bảo hiểm thiết bị cho thuê
- Hoạt động cho thuê tài chính ở Trung Quốc được Chính phủ dành cho những ưu đãi về thuế Chẳng hạn các CTCTTC liên doanh được miễn thuế lợi tửc trong 2 năm đầu tiên , và chỉ nộp thuế trong năm thử 3 sau khi thu được lợi nhuận Ngoài ra Chính phủ còn có những ưu đãi về ngoại tệ cho các CTCTTC N ă m 1988, ủ y ban quản lý ngoại hối ban hành qui định về việc chi trả số tiền thuê bằng ngoại tệ cho các CTCTTC và các nguồn thu bằng ngoại tệ từ hoạt động cho thuê được giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi ngoại tệ
- Thực hiện khuyến khích đầu tư nước ngoài dưới hình thửc các CTCTTC liên doanh hoặc CTCTTC 1 0 0 % vốn nước ngoài nhằm tận dụng nguồn vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của các công ty nước ngoài trong việc đổi mới các doanh nghiệp Trung Quốc
- Thành lập Hiệp hội cho thuê tài chính nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho hoạt động
cho thuê tài chính , đồng thời tăng cường quan hệ hợp tác của các CTCTTC Thông
Trang 38qua Hiệp hội mà họ đã đưa ra những vướng mắc chung và kêu gọi Chính phủ có sự
hỗ trợ và quan tâm đến các CTCTTC thành viên
- Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện công tác cải tổ , sắp xếp lại toàn diện nền kinh tế Trung Quốc và chính sách mở cửa của Trung Quốc đang đi vào chiều sâu Chế độ pháp luểt, chính sách thuế và hệ thống kế toán đang được hoàn chỉnh từng bước , đây là cơ sở để Trung Quốc tiếp nhển và sẩn sàng phát triển sự hợp tác kinh doanh với tất cả các nước trên cơ sở bình đẵng và đôi bên cùng có lợi
Tóm lại, các CTCTTC ở các nước có những bước đi không đồng nhất với nhau vì phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội ở từng quốc gia Nhưng sự thành công vượt bểc của hoạt động cho thuê tài chính ở những nước này cho chúng ta rút ra được những kinh nghiệm quí báu, góp phần vào việc phát triển ngành công nghiệp
cho thuê tài chính ở Việt Nam Sau đây là những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thành công của các CTCTTC ở các quốc gia trong khu vực và đây cũng là những bài học cho sự phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam :
1 Nhà nước có sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động cho thuê tài chính trong từng giai đoạn phát triển, có những chính sách hỗ trợ kịp thời và tháo gỡ khó khăn cho các
CTCTTC , cụ thể là có chính sách ưu đãi về thuế, hoạt động xuất nhểp khẩu, khả
năng tăng vốn điều lệ, tăng khả năng cho vay của các CTCTTC
2 Chú trọng, tích cực hình thành các CTCTTC liên doanh giữa các đối tác trong nước và các đối tác nước ngoài để tển dụng tối đa nguồn lực trong nước và quốc tế bao gồm cả vốn, kỹ thuểt, kinh nghiệm quẫn lý , khách hàng
3 Đa dạng hoa các loại hình CTCTTC nhằm làm phong phú thêm các phương thức
tài ượ từ hoạt động cho thuê tài chính và cũng tạo lểp mối liên kết giữa nhà sàn xuất, nhà tài trợ và người sử dụng tài sản , có khả năng lớn trong việc tài trợ những tài sàn
có tính hiện đại và giá trị lớn
4 Đa dạng hoa các hình thức cho thuê tài chính để phù hợp với những yêu cầu rất khác nhau cùa các doanh nghiệp , tùy thuộc vào qui mô , tính chất sản xuất, trình độ
31
Trang 39công nghệ , nhằm giảm t ố i đa chi phí và mang l ạ i tiện ích t ố i đa cho khách hàng , đơn giản hoa t ố i đa thủ tục cho thuê
5 Hình thành H i ệ p h ộ i cho thuê tài chính T ổ chức này là cầu nối giữa các CTCTTC , doanh nghiệp sử dụng tài sản và Chính phủ Hiệp hội sẽ thay mặt các CTCTTC đề xuất các k i ế n nghị vẻi Chính phủ nhằm tháo gỡ các khó khăn hạn c h ế trong hoạt động cho thuê tài chính Hiệ p hộ i cũng là nơi quảng bá vẻi doanh nghiệp phương thức tài trợ mẻi m ẻ , đa dạng và phong phú , giúp doanh nghiệp tiếp cận vẻi những thông Ún của thị trường cho thuê tài chính trong và ngoài nưẻc
Để tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, các quốc gia đều phải có chiến lược tạo vốn Vốn là điều kiện hàng đầu của mọi quá trình phát triền Điều này càng cần thiết
vói Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoa - hiện đại hoa đất nước Có nhiều kênh
huy động vốn, cho thuê tài chính là một trong những kênh tiếp vốn quan trọng ở Việt
Nam hiện nay
Trang 40CHƯƠNG n THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH ở V Ệ T NAM
2.1- Nhu cầu về vốn đẩu tư tai doanh nghiệp trong quá trình hôi nháp
Sau hơn 15 năm đổi mới, nền kinh t ế nước ta tăng trưởng nhanh và khá ổn định so
với các nước trong khu vực Đông Nam Á M ộ t trong những yếu tố quan trọng góp
phần tạo nên kết quả đó là chính sách đầu tư phát triển kinh tế đã được mở rộng Các
doanh nghiệp có cơ hội đầu tư mở rộng sản xuứt kinh doanh Bên cạnh các nguồn
vốn đầu tư từ bèn ngoài như ODA, WB, ADB, vốn liên doanh các doanh nghiệp
còn được các tổ chức tài chính , tín dụng trong nước cho vay hàng chục ngàn tỷ đồng
để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuứt kinh doanh
Tuy nhiên, việc cho vay vốn của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp đặc
biệt là vốn trung và dài hạn để trang bị, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ còn
gặp nhiều khó khăn, ữở ngại trong khi các doanh nghiệp đang rứt cần vốn để đầu tư
máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ nhằm sản xuứt ra sản phẩm với số lượng lớn,
chứt lượng ngày càng tốt hơn và giá cả hợp lý đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu
và vươn tới xuứt khẩu ra thị trường thế giới Điển hình như tại TP.HỒ Chí Minh
(TP.HCM) là trung tâm kinh tế năng động và lớn nhứt của cà nước nhưng theo số liệu
thống kê gần đây cho thứy : chỉ có 1 4 % doanh nghiệp có thiết bị và công nghệ tiên
tiến, 5 0 % ở mức độ trung bình và 3 6 % lạc hậu cũ kỹ Hoạt động cho thuê tài chính ra
đời để góp phần giải quyết những khó khăn và khắc phục những hạn chế trong đầu tư
vốn, là một trong những hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn quan trọng cho các
doanh nghiệp để trang bị, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ sản xuứt
2.1.1- Yêu cầu cứp bách đổi mđi máy móc thiết bị do lạc hậu và thiếu đồng bộ
Hiện nay, các doanh nghiệp nước ta hoạt động với qui m ô tài sản cố định nhỏ bé
máy móc thiết bị lạc hậu, thiếu đồng bộ, kỹ thuật công nghệ lỗi thời Theo đánh giá
33