1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tương đồng và khác biệt trong chính sách khuyến nông của vua lê thánh tông và vua minh mạng

86 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều các tác phẩm, công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố, trong đó chúng tôi có thể thống kê thành 4 nhóm sau: - Nhóm các các tác phẩm thông sử do cơ quan sử học của

Trang 1

Ọ N N

Ọ SƯ P M

K OA LỊ SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I HỌC

Tương đồng và khác biệt trong chính sách khuyến nông

của vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng

Người hướng dẫn : Nguyễn Xuyên

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

PHẦN MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa đến nay ở Việt Nam, nông nghiệp vẫn là cái gốc của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong sự hưng vong của xã tắc Vì vậy chăm lo, khuyến khích việc nông tang, điền thổ được các bậc vua chúa thời trước dù trong hoàn cảnh nào cũng hết sức coi trọng

Việt Nam một đất nước nông nghiệp truyền thống đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Qua biết bao nhiêu biến cố, thăng trầm để được đất nước Việt Nam đang dần đổi mới và phồn thịnh như ngày hôm nay quả là điều không đơn giản Để có được thành quả đó, ngoài việc phải đánh đổi biết bao máu xương chống ngoại xâm bảo vệ độc lập, thì việc chăm lo phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt

là kinh tế nông nghiệp là điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển

Từ khi đất nước thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và bước vào thời kỳ xây dựng Nhà nước phong kiến độc lập, thì công tác khuyến nông, chăm lo phát triển nông nghiệp càng được các triều đại phong kiến Việt Nam chú trọng đặc biệt như là một nhiệm vụ tất yếu khách quan của quốc gia Đại Việt

Các vua chúa trong lịch sử Việt Nam đã rất chăm lo đến vấn đề phát triển nông nghiệp, ngay từ khi lên ngôi những vị vua sáng đã đưa ra những chính sách chấn hưng

và khuyến khích phát triển nông nghiệp nước nhà Chính sách khuyến nông đó đã được đưa ra và thực hiện có hiệu quả bởi các vị vua sáng như Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Minh Mạng Hằng năm Lễ Tịch điền được cử hành trọng thể hàng năm ở kinh đô là một trong những biểu hiện đặc sắc của tư tưởng trọng nông, "dĩ nông vi bản" của người xưa

Bên cạnh đó, các chính sách khai hoang mở rộng diện tích, chăm lo đến công tác

đê điều, thủy lợi… cũng được các vua chúa đương thời rất chú trọng Trong đó chính sách khuyến nông của Lê Thánh Tông và Minh Mạng được xem là đáng chú ý và có hiệu quả nhất

Có thể thấy rằng những chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng đều là những chính sách cải cách nông nghiệp lớn và mang lại nhiều thành quả trong lịch sử Việt Nam Những chính sách khuyến nông đó được thực hiện trong những hoàn cảnh lịch sử riêng nên giữa những chính sách cải cách đó có những điểm tương đồng và khác biệt riêng

Trang 3

Tìm hiểu về vấn đề ruộng đất và những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp từ trước đến nay luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học lớn nhỏ khác nhau - nhất là vấn đề ruộng đất thời trung đại Tìm hiểu về vấn đề ruộng đất cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu cơ sở của văn minh dân tộc ta trong lịch

sử, bởi lẽ nền kinh tế nước ta cơ bản là sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các nguồn tư liệu chúng ta đã phác hoạ được một bức tranh khá đầy đủ các mặt về tình hình ruộng đất và nông nghiệp Việt Nam thời kỳ trung đại Đặc biệt là những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp của các triều đại phong kiến Việt Nam đã làm cho bức tranh về nông nghiệp Việt Nam đó càng thêm đầy đủ và sâu sắc Những chính sách khuyến nông đó, sẽ góp phần phản ánh tình hình kinh tế xã hội của nước ta qua các triều đại khác nhau, từ đời sống của nhân dân cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến, cho đến tình hình văn hoá xã hội diễn ra và biến đổi như thế nào Đặc biệt khi bước vào thế kỷ XXI, với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước thì vấn đề nông nghiệp và ruộng đất đã từng bước chuyển biến phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế của Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Cùng với những thành tựu đó, những thách thức đối với ruộng đất và kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh kinh tế thị trường vẫn đang là những vấn đề nóng bỏng Vì vậy, việc nghiên cứu về nông nghiệp và vai trò của chính sách khuyến nông trong phát triển nông nghiệp của các triều đại trong lịch sử và của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là yêu cầu cấp thiết

Được xem là những vị vua đã đưa ra những chính sách khuyến nông tiến bộ nhất trong lịch sử Việt Nam, những chính sách khuyến nông của Lê Thánh Tông và Minh Mạng thực sự là những chính sách đã đem lại nhiều hiệu quả và để lại bài học kinh nghiệm cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp trong lịch sử và cho đến tận ngày nay

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về đề tài nông nghiệp, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp của các triều đại phong kiến Việt Nam Các công trình nghiên cứu đó đã giúp chúng ta hiểu một cách khá toàn diện

về nông nghiệp và nông thôn Việt Nam từ trong lịch sử cho tới hiện nay Trên cơ sở đó chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm rõ hơn về chính sách khuyến nông dưới triều Lê Thánh Tông và Minh Mạng

Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tương

đồng và khác biệt trong chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dưới chế độ phong kiến nói chung hay phong kiến Việt Nam nói riêng, nông nghiệp luôn luôn là vấn đề lớn của toàn bộ quốc gia

Trang 4

Vấn đề nông nghiệp Việt Nam dưới các triều đại phong kiến đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của không ít các học giả, các nhà nghiên cứu trong giới sử học

Đã có nhiều các tác phẩm, công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố, trong

đó chúng tôi có thể thống kê thành 4 nhóm sau:

- Nhóm các các tác phẩm thông sử do cơ quan sử học của các triều đại phong kiến Việt Nam để lại viết về chính sách nông nghiệp dưới hai triều đại Lê Sơ và triều Nguyễn như:

+ Trong bộ sử Đại Việt Sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên do Viện Sử

học dịch và xuất bản năm 2004 đã trình bày một cách cụ thể về lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến đời vua Gia Tôn nhà Lê dưới dạng sử biên niên, trong đó đã đề cập tới các sự kiện liên quan tới tình hình nông nghiệp và chính sách khuyến nông dưới thời Lê Sơ, đặc biệt là dưới thời Vua Lê Thánh Tông

+ Trong bộ sử Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng, do NXB khoa

học xã hội xuất bản năm 2000 đã trình bày các văn kiện, sự việc lịch sử từ thời đại Hùng vương và kết thúc vào năm 1801 khi triều Tây Sơn mất ngôi Tác giả đã căn cứ vào những ghi chép thực địa, hoặc những bộ sách trong nước cũng như thư tịch cổ Trung Quốc, đính chính lại nhiều nhầm lẫn của các bộ quốc sử Trong đó tác giả đã có những đóng góp quan trọng về ghi chép và đính chính lại nhiều sự kiện liên quan tới

kỷ nhà Lê

+ Trong tác phẩm Minh Mệnh Chính Yếu của Quốc sử Quán triều Nguyễn - Viện

sử học xuất bản năm 2004, với nội dung trích những văn kiện, ghi những việc làm thiết yếu dưới triều Vua Minh Mạng như: sinh hoạt cung đình, hình luật, nhạc lễ, ngoại giao, trị an, khai hoang, khẩn hóa… trong đó có có những văn kiện đề cập tới vấn đề trọng nông của Minh Mạng

+ Trong bộ sử Đại Nam Thực Lục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn - Viện sử học

dịch và xuất bản năm 2006 đã trình bày một cách cụ thể về lịch sử Việt Nam dưới triều Nguyễn, trong đó đã nhắc tới nhiều sự kiện liên quan tới tình hình ruộng đất và nông nghiệp dưới thời nhà Nguyễn, đặc biệt là các sự kiện liên quan tới chính sách khuyến nông dưới thời Gia Long và Minh Mạng

- Nhóm các tác phẩm chuyên đề viết về vấn đề ruộng đất và nông nghiệp dưới triều Lê Sơ và triều Nguyễn như:

+ Trong cuốn Lê Thánh Tông vị vua anh minh, nhà cách tân xuất sắc của Đại tá

luật sư Lê Đức Tiết, xuất bản năm 1997 cũng đã đề cập tới chính sách chấn hưng nông nghiệp của Vua Lê Thánh Tông và một số thành tựu của những chính sách đó

+ Trong cuốn Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (thế kỷ XV) của

Phan Huy Lê NXB văn sử địa xuất bản năm 1959 đã đề cập đến tình hình ruộng đất,

Trang 5

kinh tế nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới thời Lê sơ Trong đó có nhắc tới tình hình nông nghiệp và chính sách khuyến khích nông nghiệp dưới thời Lê Thánh Tông

+Trong cuốn Chính sách khuyến nông dưới triều vua Minh Mạng của Mai Khắc

Ứng, do NXB văn hóa thông tin xuất bản năm 1996 cũng đã khái quát quá trình khai hoang ruộng đất trong cả nước, một số thành tựu về khai hoang thời Minh Mạng, đồng thời tác phẩm cũng đã nhấn mạnh vào những chính sách khuyến nông của vua Minh Mạng và thành tựu về nông nghiệp dưới thời vua Minh Mạng

+ Trong cuốn Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới triều Nguyễn của Trương Hữu Quýnh - Đỗ Bang do NXB Thuận Hóa xuất bản năm 1997 đã

đề cập tới vấn đề nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới triều Nguyễn, trong đó có đề cập tới chính sách ruộng đất và nông nghiệp dưới thời vua Minh Mạng

+ Trong cuốn Kinh tế - xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn

Thế Anh, xuất bản năm 2008 cũng đã đề cập tới tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới chính sách phát triển nông nghiệp của các vua triều Nguyễn

- Nhóm các bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí nghiên cứu như:

+ Bài viết của Nguyễn Khắc Đạm: “Vai trò của Nhà nước về vấn đề khai hoang

trong lịch sử Việt Nam”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 39 /1962, trang 19 đã

đề cập tới vấn đề chính sách khai hoang của các Nhà nước phong kiến Việt Nam, trong

đó đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của Nhà nước đối với công cuộc khai hoang, phát

triển nông nghiệp

+Bài viết của Vũ Huy Phúc “Mấy ý kiến về chính sách nông nghiệp của Nhà

nước trung đại Việt Nam”, đăng trên Tạp chí NCLS - số 3/1978, trang 15 cũng đã đề

cập tới vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế của nước ta và chính sách đối với nền kih tế nông nghiệp của các triều đại phong kiến Việt Nam thời trung đại

- Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất và nông nghiệp dưới thời

Lê Sơ và triều Nguyễn như:

+Trong đề tài luận văn tốt nghiệp Chính sách ruộng đất thời Lê Sơ (1428 - 1527), hoàn thành năm 2003, của Vũ Thị Khánh Linh, sinh viên khoa lịch sử, Đại học Vinh

cũng đã đề cập tới vấn đề ruộng đất và chính sách ruộng đất dưới thời Lê Sơ

+ Trong đề tài luận văn tốt nghiệp Thành tựu khai hoang ruộng đất thời vua Minh Mạng, hoàn thành năm 2005 của Đinh Văn Kiên, Khóa luận tốt nghiệp, chuyên

nghành lịch sử, Đại học Phú Xuân đã trình bày khá cụ thể về chính sách khai hoang ruộng đất dưới thời vua Minh Mạng

Bên cạnh đó còn có một số sách báo, bài viết, tạp chí cũng đã đề cập tới một vài khía cạnh về nông nghiệp dưới hai triều đại Lê Sơ và triều Nguyễn Nhưng nhìn chung các tác phẩm, bài viết đó mới chỉ đề cập tới một số khía cạnh về vấn đề ruộng đất và

Trang 6

nông nghiệp dưới hai triều đại đó, chứ chưa có tác phẩm nào thực sự đi sâu nghiên cứu

và đối sánh về chính sách khuyến nông dưới hai triều vua Lê Thánh Tông và Minh Mạng

Tuy nhiên đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi kế thừa và đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện đề tài của mình

3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về tất cả các mặt của vấn đề nông nghiệp và chính sách khuyến nông dưới thời Lê Thánh Tông và Minh Mạng Đồng thời có sự so sánh những điểm tương đồng và khác biệt, tích cực và hạn chế trong chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp của 2 vị vua này, những chính sách khuyến nông đó đã có tác động như thế nào tới nền kinh tế nông nghiệp Đại Việt lúc bấy giờ và có ý nghĩa như thế nào tới

vấn đề nông nghiệp trong lịch sử nói chung

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chính sách khuyến nông dưới triều vua Lê Thánh Tông và Minh Mạng chưa được nhiều người nghiên cứu, khai thác Do hạn chế về tài liệu, tư liệu lịch sử nên đề tài này chỉ tập trung tìm hiểu những đặc điểm trong phạm vi chính sách khuyến nông dưới triều vua Lê Thánh Tông và Minh Mạng Tìm hiểu các khía cạnh sau: bối cảnh lịch sử tác động tới chính sách khuyến nông của Lê Thánh Tông và Minh Mạng, nội dung của chính sách khuyến nông của hai vị vua này Đồng thời so sánh những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách khuyến nông của hai vị vua sáng trong lịch sử Việt Nam

4 Nguồn tƣ liệu

- Bao gồm các tài liệu thành văn như các bài viết trong sách báo, tạp chí có nội dung liên quan vấn đề ruộng đất và nông nghiệp trong lịch sử Đặc biệt là những tài liệu liên quan tới vấn đề ruộng đất và nông nghiệp dưới hai triều đại Lê Sơ và triều Nguyễn

Trang 7

- Tài liệu thu thập trên báo đài và các phương tiện truyền thông, trên mạng internet và các phương tiên khác

Đây là nhưng nguồn tài liệu phong phú cần được khai thác triệt để

5 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này chúng tôi sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Chúng tôi đứng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng

Từ các tác giả đi trước đã từng nghiên cứu về các vấn đề liên quan, chúng tôi tập hợp, so sánh phân tích tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu, đồng thời sử dụng phương Pháp logic, lịch sử và một số phương pháp chuyên nghành khác

Thu thập và xử lý tài liệu dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau như sách, báo, website… để đối chiếu, so sánh và đánh giá vấn đề

6 óng góp của đề tài

Đề tài góp phần làm sáng tỏ về vấn đề ruộng đất và nông nghiệp trong lịch sử phong kiến Việt Nam nói chung, đặc biệt là vấn đề khuyến khích và phát triển nông nghiệp dưới hai triều vua Lê Thánh Tông và Minh Mạng

Thành công của đề tài còn đóng góp nguồn tài liệu quan trọng bổ sung cho phần kiến thức về vấn đề ruộng đất và nông nghiệp trong lịch sử Việt Nam Là nguồn

có thể sử dụng để bổ sung kiến thức cho học phần chế độ ruộng đất trong lịch sử Việt Nam

Đề tài còn góp phần cho người đọc có một cái nhìn khách quan hơn về chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng, thấy được những chính sách khuyến nông đó đều là những chính sách tiến bộ, mặc dù kết quả thực hiện được là khác nhau nhưng cả Lê Thánh Tông và Minh Mạng đều xứng đáng là những nhà cải cách lớn

Bên cạnh đó đề tài còn đưa ra một số nhận xét, đánh giá về vấn đề khuyến nông trong lịch sử phong kiến Việt Nam và liên hệ những chính sách khuyến nông đó với thực tế nông nghiệp nước ta hiện nay

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm có 3 chương :

Chương 1: Tổng quan về chính sách khuyến nông trong lịch sử Việt Nam

Chương 2: Chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng

Chương 3: Những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG ƢƠN 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN NÔNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về nông nghiệp và chính sách khuyến nông

1.1.1 Khái niệm nông nghiệp

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp

Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời…trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất,sản lượng cây trồng vật nuôi Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp,vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên

1.1.2 Khái niệm chính sách khuyến nông

Khuyến nông (Agricultural extension) được hiểu theo nhiều nghĩa, từ đó hình

thành ra các khái niệm khác nhau, cụ thể là:

- Theo Peter Oakley & Cristopher Garferth: “Khuyến nông là cách đào tạo

thực nghiệm dành cho những người dân sống ở nông thôn, đem lại cho họ những lời khuyên và những thông tin cần thiết giúp giải quyết những vấn đề khó khăn trở ngại của họ Khuyến nông cũng nhằm mục đích nâng cao năng suất, phát triển sản xuất Hay nói một cách khái quát là làm tăng mức sống cho người nông dân” [12, tr 8]

- Theo Thomas: “Khuyến nông là ý tổng quát chỉ mọi công việc có liên quan

đến phát triển nông thôn Đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường trong đó người lớn và trẻ em được học bằng cách thực hành” [12, tr 8]

- Theo Niels Roling: “Khuyến nông là các hoạt động nhân rộng các kết quả

nghiên cứu và tư vấn cho nông dân trong các hoạt động nông nghiệp để nâng cao năng lực phân tích và giao tiếp cho họ” [12, tr 8]

- Theo A.W.Van den Ban và H.S Hawkins, khuyến nông, 1988: “Khuyến

nông là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn” [12, tr 9]

Trang 9

- Theo Tổ chức lương thực Thế giới (FAO): “Khuyến nông là một hệ thống

biện pháp giáo dục nông nghiệp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới” [12, tr 9]

- Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp quốc: “Khuyến

nông là quá trình dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và đào tạo tay nghề cho nông dân, làm cho họ có đủ khả năng giải quyết vấn đề của hộ gia đình và làng xã họ Nói một cách khác, khuyến nông là biện pháp giúp đỡ nông dân biết cách phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ, xây dựng và phát triển nông thôn, tang thu nhập và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần” [12, tr 9]

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp các khái niệm trên, để phù hợp với đặc điểm

thực tiễn sản xuất nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Cục Khuyến nông Việt Nam

(năm 2000) đã đưa ra khái niệm về khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào

tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản

lý kinh tế, những thông tin về thị trường, để họ đủ khả năng tự giải quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới” [12, tr 10]

Như vậy chúng ta có thể hiểu khuyến nông là những chính sách, chủ trương nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp của một Nhà nước, triều đại hay là một quá trình chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng và trợ giúp những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để họ có đủ khả năng tự giải quyết được những công việc của chính mình nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và cộng đồng

1.2 Tính khách quan của việc thực hiện chính sách khuyến nông trong lịch

sử Việt Nam

Dân tộc Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển trên vùng châu thổ sông Hồng và sông Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay Trong buổi bình minh của lịch sử, Việt Nam là một trong những quê hương của loài người Con người từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sang đời khác đã khai hoá đất để trồng trọt Họ đã tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự dòng sông Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm Quá trình lao động không ngừng để chế ngự nước - chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xây dựng đê điều, đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa - đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hoá làng xã

Có thể nói ngay từ buổi đầu bình minh của lịch sử kinh tế nông nghiệp đã gắn

liền và trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống kinh tế của người Việt cổ Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nền kinh tế

Trang 10

nông nghiệp đã trở thành nền kinh tế chủ chốt và mang ý nghĩa sống còn của người Việt cổ

Cư dân Văn Lang, Âu Lạc với kỹ thuật luyện kim đạt đến trình độ cao đã xây dựng nên một nền kinh tế nông nghiệp phát triển rực rỡ và một nền văn minh lúa nước phát triển ở trình độ cao Chính vì vậy mà trải qua hơn 1000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ nền văn hóa, văn minh của người Việt - Văn minh lúa nước vẫn được bảo tồn và phát huy Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước truyền thống của người Việt vẫn được các cha ông ta tiếp tục bảo lưu và phát triển

Muốn cho nông nghiệp có thể phát triển bền vững thì một trong những vấn đề không thể thiếu đó chính là công tác khuyến khích phát triển nông nghiệp Bất cứ triều đại nào từ cổ chí kim đều rất chú trọng công tác khuyến nông và coi đó là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế đất nước, cũng cố triều đại và ổn định đời sống nhân dân Mặc dù ở mỗi thời kỳ, mỗi triều đại hoàn cảnh và mục tiêu thực hiện chính sách khuyến nông là khác nhau nhưng đều có những điểm chung như:

Thứ nhất là, được thực hiện sau những cuộc chiến tranh liên miên, tình hình xã hội sau một thời gian không ổn định hoặc sau khi các vị vua mới đăng quang đã đề ra những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp để ổn định tình hình, phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân

Thực tế lịch sử cho thấy các vị vua sau khi đăng quang trong một thời gian ngắn

đã thi hành các chính sách khuyến khích và phát triển nông nghiệp như Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Minh Mạng… đó là tính khách quan của việc tiến hành chính sách khuyến nông để ổn định tình hình và phát triển kinh tế nông nghiệp

Thứ hai là, Cày tịch điển là hình thức phổ biến nhất trong chính sách khuyến nông của các triều đại phong kiến

Lễ cày tịch điền là nghi lễ khuyến khích sản xuất nông nghiệp được tiến hành vào mùa xuân hàng năm Nghi lễ này được khởi đầu từ thời vua Lê Đại Hành, nhà vua đích thân xuống ruộng cày 3 luống cày để khuyến khích nhân dân hăng hái tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nghi lễ này được các vua thời Lý, Trần, Lê Sơ, Nguyễn tiếp tục

kế thừa và thực hiện đều đặn hằng năm và kéo dài cho đến tận ngày nay

Thứ ba là, mục tiêu là để ổn định tình hình xã hội, cũng cố triều đại và cải thiện đời sống nhân dân

Là một nước thuần nông lấy cây lúa làm gậy chống cơ bản, nên các triều đại phong kiến Việt Nam đều thực hiện chính sách khuyến nông với mục đích phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo ra của cải cho xã hội, làm cho nhân dân được cơm no, áo ấm

Từ việc làm cho dân được cơm no, áo ấm để ổn định trật tự xã hội bởi dân có an cư, lạc nghiệp thì đất nước mới phát triển được, triều đại mới được cũng cố vững chắc

Trang 11

được Chính vì vậy mà phát triển kinh tế nông nghiệp là tất yếu khách quan để củng cố triều đại, phát triển đất nước

Thứ tư là, đa phần các chính sách đó đều được nhân dân ủng hộ và đã đạt được những kết quả đáng kể, thúc đẩy nông nghiệp phát triển

Những chính sách khuyến nông đề ra là để phát triển kinh tế nông nghiệp, để làm cho nông dân có ruộng để cày cấy, có cuộc sống ổn định, được cơm no, áo ấm Vì đó

là những chính sách tiến bộ và vì lợi ích của nhân dân (trừ một số trường hợp nhằm cũng cố địa vị của giai cấp thống trị) nên đa phần các chính sách này đều được quần chúng nhân dân hưởng ứng và thực hiện Sự ủng hộ và tham gia của quần chúng nhân dân chính là động lực để các chính sách khuyến nông thực hiện có hiệu quả Trong những chính sách về nông nghiệp thì thực tế lịch sử cho thấy rằng một chính sách nào

đó của nhà nước đưa ra nếu không có quần chúng nhân dân ủng hộ thì những chính sách đó không thể thực hiện được, mà dù có thực hiện được đi nữa thì cũng chẳng đạt được kết quả gì Chính vì vậy sự ủng hộ của nhân dân là tất yếu khách quan để những chính sách khuyến nông của nhà nước thực hiện có hiệu quả

1.3 Khái lƣợc về chính sách khuyến nông trong lịch sử phong kiến ở Việt Nam

Ra đời và phát triển trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp, văn minh lúa nước Chính sách khuyến nông trở thành yếu tố sống còn, trở thành điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế của các quốc gia phong kiến Việt Nam Bất cứ triều đại nào khi nắm vai trò lãnh đạo đất nước đều rất chú trọng công tác khuyến khích và phát triển nông nghiệp Bởi kinh tế nông nghiệp có phát triển thì nhân dân mới an cư, lạc nghiệp được, đời sống nhân dân và tình hình xã hội mới ổn định được tạo tiền đề cho đất nước phát triển

Trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, quan hệ sản xuất của phong kiến phương Bắc đã xâm nhập trong đời sống nhân dân các công xã Trước sự xâm lược của ngoại bang, nhân dân tập trung, co cụm lại như một phản ứng tất yếu, hình thành thế ứng xử của làng xã trước Nhà nước Điều này đã làm chững lại quá trình phân hoá của làng

xã Ruộng đất công thời kỳ này vẫn được giữ nguyên, bảo lưu, chưa bị biến thành ruộng đất tư Mặc dầu luôn bị kìm hãm, áp bức nặng nề, nhân dân ta vẫn cố gắng vươn lên Ruộng đất ngày càng được mở rộng, nông nghiệp lúa nước từng bước đạt được cải tiến, xã hội cũng bắt đầu có sự phân hoá sâu sắc

Ngay sau khi giành lại độc lập sau hơn 1000 năm bị phong kiến phương Bắc đô

hộ và bước đầu xây dựng Nhà nước phong kiến độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam đã bắt tay vào công cuộc cải tổ đất nước, ổn định tình hình xã hội, phát triển kinh

tế đất nước và quan trọng nhất là công tác chấn hưng và phát triển nông nghiệp

Trang 12

Ý thức được tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp mà ngay sau khi giành lại

được quyền tự chủ, chính quyền họ Khúc đã ban hành chính sách quân bình thuế và tha bỏ lực dịch để khẳng định quyền chi phối của mình đối với toàn bộ ruộng đất trong

nước Ý thức về quyền lực tập trung của Nhà nước quân chủ dần dẫn đến sự hình thành quan niệm về quyền sở hữu tối cao của Nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trong nước Ngay sau khi dẹp loạn 12 sứ quân Đinh Tiên Hoàng đã bắt tay vào cải tạo ruộng đất, tập trung quyền lực trong tay Nhà nước, khuyến khích và phát triển kinh tế

nông nghiệp “Sự kiện Đinh Bộ Lĩnh đánh thắng các sứ quân không chỉ có ý nghĩa về chính trị mà còn có ý nghĩa khẳng định quyền sở hữu ruộng đất tối cao thuộc về Nhà nước trung ương Cũng từ đây chế độ sở hữu ruộng đất của Nhà nước trung ương - đứng đầu là ông vua chuyên chế có được cơ sở vững chắc hơn và mang tính chất thực chất hơn Để đảm bảo quyền sở hữu đó, nhà vua còn tiến hành ban phong lại các thái

ấp đã tồn tại của những lãnh chúa phong kiến không chống đối” [2, tr 398]

Tuy nhiên, có thể nói rằng chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp của Nhà nước phong kiến Việt Nam bắt đầu được đẩy mạnh và thực sự có hiệu quả từ thời nhà Tiền Lê, với những chính sách khuyến nông của vua Lê Đại Hành đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trung ương đối với nền kinh tế đất nước và đời sống của nhân

dân: “Để khuyến khích và phát triển sản xuất nông nghiệp, vua Lê Đại Hành đã mở đầu định lệ nhà vua đầu năm đi cày Tịch điền ở nước ta Theo sử cũ vào năm 987, nhà vua đã đến Đọi Sơn và Bàn Hải (Nam Hà) để cày Tịch điền Sau khi làm lễ tế thần nông, nhà vua trực tiếp xuống ruộng cày một luống để làm gương cho nhân dân Đây

là nghi lễ của Nhà nước nhằm biểu thị sự quan tâm của nhà vua đối với sản xuất nông nghiệp và khuyến khích nông dân trong nước chăm lo đến việc nông tang Và từ đây, nghi lễ này đã trở thành một định lệ tốt đẹp vào đầu xuân hàng năm của Nhà nước phong kiến và là một tín ngưỡng mang tính chất quốc gia Tuy là một việc làm có tính chất tượng trưng nhưng nó vẫn có tác dụng nhất định nhất là việc động viên nhân dân chăm lo cày cấy làm ăn Sử chép, năm ấy (987) cả nước được mùa to [2, tr 408]

Cũng từ đây, chế độ ruộng đất ở thời Tiền Lê đã có thêm một bộ phận ruộng đất thuộc quyền quản lý trực tiếp của Nhà nước được gọi là ruộng Tịch điền Để cày cấy số ruộng đất này, Nhà nước cho nuôi trâu bò (quan ngưu) và giao cho tù nhân lao động sản xuất

Bên cạnh đó Nhà nước cũng rất quan tâm đến công tác khẩn hoang mở rộng diện

tích và chăm lo công tác thủy lợi: “Dưới thời Tiền Lê, công tác khẩn hoang cũng được đẩy mạnh Chính quyền nhà Tiền Lê đã cho tiến hành nhiều công trình đào kênh, vét sông ngòi ở các nơi để mở mang giao thông đường thủy và tưới tiêu cho đồng ruộng Vào năm 983, vua Lê Đại Hành cho đào kênh nối từ núi Đồng Cỏ (Đan Nê - Yên Định) đến sông Bà Hòa (Tĩnh Gia - Thanh Hóa) Đến năm 1003, vua Lê Đại Hành cho

Trang 13

nạo vét kênh Đa Cái (còn gọi là kênh Hương Cái) nối kênh Sắt với sông Lam (Nghệ An) Năm 1009, vua Lê Long Đĩnh cho đào sông Châu Di ở Thanh Hóa Ngày nay ở Thanh Hóa vẫn còn nhiều đoạn sông được mang tên sông nhà Lê” [2, tr 409] Ngoài

ra nghề trồng dâu cũng được Nhà nước Nhà nước khuyến khích nhằm cung cấp nguyên liệu cho nghành thủ công dệt vải lụa để phục vụ cho nhu cầu về trang phục của triều đình, quân đội và nhân dân

Đến thời Lý, kinh tế nông nghiệp của nước Đại Việt tiếp tục phát triển Trong bối cảnh đất nước thanh bình, nhà Lý ra sức chăm lo phát triển kinh tế Trong đó, nông nghiệp là nghành kinh tế cơ bản của nhân dân và có liên quan chặt chẽ đến chế độ ruộng đất Trên cơ sở kế thừa chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp dưới thời Tiền Lê lễ cày Tịch điền dưới thời Lý vẫn được tiến hành đều đặn hàng năm nhằm

động viên nhân dân hăng hái sản xuất: Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa Xuân năm 1038, vua Lý Thái Tông ngự Bố Hải Khẩu để cày Tịch điền, các quan đi theo dọn

cỏ, đắp đàn, rồi nhà vua đích thân tế thần nông Tế xong, vua xuống ruộng cày Các quan ngăn lại tâu: Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì phải làm thế?, Vua bảo:

“Trẫm không tự cày cấy thì lấy gì mà làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất thiên hạ?” Nói rồi vua tiếp tục đẩy cày 3 lần”[17, tr 54]

Bên cạnh đó, Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp Việc khẩn hoang và xây dựng các công trình thủy lợi được nhà Lý tiến hành với quy

mô lớn: “Nhiều đoạn đê quan trọng dọc các con sông lớn ở đồng bằng đều được bồi đắp, trong đó quan trọng nhất là đê Cơ Xá (đê sông Hồng ở vùng quanh Thăng Long) Một số kênh ngòi nhất là kênh Thanh Hoa được tiếp tục khơi đào sâu thêm Tù binh được sử dụng đi khai hoang Từ đó nhiều làng xã mới được thành lập” [2, tr 428]

Ngoài ra, để tăng cường cho phát triển nông nghiệp, vấn đề sức lao động và sức kéo

trong nông nghiệp được Nhà nước ra sức bảo vệ: “Nhà Lý ra lệnh cấm buôn bán Hoàng nam làm tư nô và quân đội được tổ chức thay phiên nhau để về quê sản xuất (Ngụ binh ư nông) nhằm đảm bảo sức lao động cho nông thôn Những nông dân phiêu bạt được trở về quê hương nhận ruộng cày cấy Trâu bò là sức kéo trong nông nghiệp được Nhà nước ra sức bảo vệ Nhà Lý trừng phạt nặng đối với tội trộm trâu bò và hạn chế việc giết thịt trâu bò để ăn uống” [2, tr 429] Bên cạnh đó Nhà nước còn ban hành

nhiều chính sách khác nhằm hỗ trợ nhân dân trong những năm mất mùa, đói kém:

“Trong những năm mất mùa, đói kém, Nhà nước giảm hoặc miễn tô thuế cho nhân dân” [2, tr 430]

Với những chính sách khuyến nông tích cực đó của Nhà nước, sức sản xuất nông nghiệp thời Lý đã có những tiến bộ đáng kể Nhiều năm trong nước được mùa to, cuộc sống nhân dân khá ổn định

Trang 14

Đến thời nhà Trần, sau khi lên ngôi cũng đã rất chú ý, quan tâm hồi phục và phát

triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp: “Vào năm 1248, nhà Trần ra lệnh cho nhân dân tiến hành đắp đê ở dọc hai bên sông lớn, suốt từ đầu nguồn cho đến sát biển, gọi là đê Quai Vạc Nhiều sông ngòi đã được nạo vét Nhiều kênh máng được khai thông Mọi người dân có nghĩa vụ phải tham gia đắp đê, kể cả sinh viên trường Quốc

tử giám” [2, tr 480] Nhà Trần đã đặt các chức Chánh - phó Hà đê sứ để chăm lo việc

bồi đắp, tu bổ đê điều Công tác khai hoang cũng được Nhà nước tổ chức một cách quy cũ và mở rộng, bao gồm cả khai hoang tư nhân và khai hoang của Nhà nước Ở các Lộ nhà Trần đặt các chức đồn điền Chánh - phó sứ để đôn đốc việc khẩn hoang và quản lý đồn điền Năm 1266, Nhà vua cho các vương hầu, công chúa, vương phi được chiêu tập dân nghèo để khai hoang các vùng ven sông, ven biển để lập thành điền trang Đất đai khai khẩn được trở thành ruộng tư của quý tộc Điều đó đã khuyến khích

các quý tộc hang hái ra công tổ chức việc khai phá: “Họ tiến hành đắp đê ngăn mặn, khai phá vùng đất tân bồi phì nhiêu của dòng sông Hồng, lập thành các điền trang rộng lớn” [2, tr 480] Bên cạnh đó, hằng năm các vua Trần vẫn giữ lệ cày Tịch điền

một cách đều đặn và thân hành đi xem nông dân gặt hái, xem quân dân chống đê điều trong các ngày mưa lũ Vào những năm hạn hán, vua Trần đứng ra tổ chức lễ tế, cầu đảo, mong mưa thuận gió hòa và đồng thời cũng làm yên lòng nhân dân Vào những năm mùa màng thất bát, Nhà nước miễn giảm thuế khóa và chẩn cấp cho dân đói

Cùng với đó để tăng cường sức lao động cho nông nghiệp chính sách ngụ binh ư nông

được nhà Trần thực hiện triệt để Nhờ đó nông nghiệp thời Trần có bước tiến rõ rệt Khắp nơi nhân dân ra sức cày cấy, tận dụng đất đai, tạo nên những cánh đồng tốt tươi Dưới thời Trần trình độ thâm canh trong nông nghiệp cũng đạt trình độ thâm canh và tăng vụ khá cao Đời sống nhân dân nhờ đó mà được ổn định và ngày càng khấm khá Đến thời Lê Sơ, sau 20 năm bị phong kiến nhà Minh đô hộ, nền kinh tế của nước

ta bị tàn phá nghiêm trọng Ngay sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã ban hành nhiều

chính sách tích cực nhằm phục hồi và phát triển kinh tế: “Ruộng đất bỏ hoang bị Nhà nước tịch thu cùng với ruộng đất của giặc Minh và tay sai, giao về cho các làng xã quản lý và nhập thành ruộng đất công để đem phân chia cho nhân dân cày cấy Tù binh, tội nhân và quân lính đồn trú ở các địa phương được tổ chức đi khai phá những vùng đất hoang, lập thành những đồn điền của Nhà nước, nhằm khai thác hết sức sức nông nghiệp và mở rộng nguồn súc tích cho nước nhà, các công cuộc khẩn hoang của nhân dân cũng được đẩy mạnh, nhất là ở vùng ven biển và trung du” [2, tr 619] Dưới

thời vua Lê Thánh Tông cũng đã ban hành một số chính sách thúc đẩy công tác khẩn

hoang, mở rộng diện tích: “Năm 1486, Lê Thánh Tông ra lệnh cho các phủ huyện có đất bồi ven biển phải cho người ít ruộng tình nguyện bồi đắp khai khẩn nộp thuế” [2,

Trang 15

tr 620] Cùng với đó nhà Lê đã tiến hành phong cấp và chia lại ruộng đất cho quan lại

và nhân dân thông qua 2 chính sách lộc điền và quân điền

Bên cạnh chính sách về ruộng đất, nhà Lê cũng hết sức chăm lo đến công tác đê

điều và thủy lợi: “Nhà nước đặt riêng ngạch quan Hà đê sứ để chuyên trông nom về

đê điều và ngạch quan Khuyến nông sứ để đôn đốc việc sản xuất nông nghiệp Hai ngạch quan này có hệ thống từ trung ương đến cấp xã Hằng năm việc tu bổ và kiểm tra đê điều được tiến hành đều đặn Ngoài hệ thống đê điều cũ đã được tu bổ lại, nhà

Lê còn tiến hành đắp thêm một số đê mới ở vùng ven biển và đào thêm nhiều kênh ngòi

ở các địa phương” [2, tr 621] Để đảm bảo sức kéo và sức lao động cày cấy lúc mùa

vụ, nhà Lê ra lệnh cấm giết thịt trâu bò bừa bãi, cấm điều động phu phen, tạp dịch khi nhân dân đang ở vào thời vụ cấy hái, Nhà nước quy định quan lại không được khinh động sức dân Hằng năm vào đầu mùa xuân nhà vua ra chiếu khuyến nông và tổ chức cày Tịch điền để động viên nhân dân cày cấy Các quan Khuyến nông sứ và Hà đê sứ không làm tròn trách nhiệm đều bị Nhà nước nghiêm trị Để tăng cường sức dân và giảm chi phí cho quân đội, chính sách ngụ binh ư nông cũng được thực hiện triệt để Những chính sách tích cực đó của nhà Lê đã có tác dụng phục hồi và phát triển nền kinh tế nông nghiệp Các nạn mất mùa, đói kém rất ít xảy ra Nhiều năm trong nước được mùa to Đời sống nhân dân tương đối ổn định

Từ thế kỷ XVI - XVIII, tình hình chính trị không ổn định với sự tranh chấp quyền lực của các thế lực phong kiến và sự phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài Tuy nhiên thời kỳ này nông nghiệp 2 đàng cũng có sự phát triển đáng kể, nhất là ở đàng Trong Cùng với quá trình Nam tiến, chúa Nguyễn đã thực hiện nhiều chính sách khai hoang,

mở rộng diện tích và phân chia lại ruộng đất cho nhân dân: “Chúa Nguyễn chủ trương nhanh chóng khai phá thành đồng ruộng và lập thành xóm làng để có điều kiện cai quản ổn định, nên bên cạnh lực lượng nông dân nghèo lưu tán, chúa Nguyễn còn khuyến khích những địa chủ giàu có ở Thuận - Quảng được mộ dân vào đây khai hoang lập ấp và cho phép họ được mua người làm điền nô để cày cấy ruộng đất” [2,

tr 788] Theo lê Quý Đôn, trên vùng đất Đồng Nai, Gia Định: các nhà giàu hoặc có chỗ là 40 - 50 nhà hoặc có chỗ là 20 - 30 nhà, mỗi nhà có 50 - 60 điền nô, trâu bò có đến 300 con, cày, bừa, trồng cấy, gặt hái, không lúc nào rỗi Do đó ở đây bên cạnh bộ

phận ruộng đất tư hữu mang tính phân tán của nông dân nghèo đã hình thành trở lại hình thức sở hữu điền trang mà lực lượng sản xuất là nông nô, nô tì, cùng với loại sở hữu ruộng đất của những địa chủ lớn Với những chính sách của chúa Nguyễn mà nông nghiệp đàng Trong phát triển nhanh chóng Là vùng đất mới khai phá, đất đai rộng rãi và màu mỡ nên sản xuất nông nghiệp đàng trong rất phát triển với năng suất rất cao Nhờ sự phát triển của kinh tế trong một thời gian dài những mâu thuẫn ở nông

Trang 16

thôn đàng trong có điều kiện tự giải quyết Cuộc sống của người dân được tương đối

ổn định

Dưới triều Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, để quản lý đất đai trong cả nước chính quyền nhà Nguyễn đã tiến hành đo đạc lại ruộng đất, lập địa bạ các xã Trước tình hình ruộng công còn lại quá ít, chính quyền Minh Mạng đã tiến hành cải cách điền bạ ở Bình Định và thí điểm chia lại ruộng đất ở Nam Kỳ Bên cạnh đó chính quyền nhà Nguyễn cũng không ngừng khuyến khích nhân dân nhân dân tiến hành khai hoang, mở rộng diện tích, nhờ đó mà diện tích không ngừng được mở rộng Cùng với

công tác khai hoang, nhà Nguyễn cũng chú ý đến vấn đề trị thủy và thủy lợi: “Năm

1803, lần đầu tiên vua Gia Long chứng kiến một trận lụt lớn do vỡ đê Bắc Thành gây

ra Thấy rõ mối quan hệ giữa công tác thủy lợi, trị thủy và nông nghiệp, nên vua Gia Long lập tức ban dụ hỏi các quan về biện pháp trị thủy là nên đắp đê hay bỏ đê, cuối cùng Nhà nước đã cho tiếp tục sửa đê và đắp đê mới” [2, tr 930] Đến thời Minh

Mạng thì Nha đê chính được thành lập Bên cạnh đó thì nhà Nguyễn cũng tiến hành cải tạo một số thành phần kinh tế trong nông nghiệp và đưa một số giống lúa, hoa màu mới vào sản xuất Nhờ vậy mà kinh tế nông nghiệp dưới thời Nguyễn phát triển khá đa dạng, phong phú, nhưng vẫn không vượt ra được khỏi phương thức sản xuất cổ truyền

để góp phần tạo nên tình trạng ổn định cho xã hội Trong khi đó thiên tai, mất mùa, dịch bệnh xảy ra liên miên đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của nhân dân Như vậy, ý thức được tầm quan trọng của nền kinh tế nông nghiệp đối với sự phát triển và tồn vong của đất nước, ổn định tình hình xã hội và đời sống nhân dân, các triều đại phong kiến Việt Nam đều rất quan tâm tới những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp Trong thời gian tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam nền nông nghiệp nước ta đã có nhiều bước tiến và phát triển đáng kể là cơ

sở cho nền nông nghiệp hiện đại sau này

Trang 17

ƢƠN 2: ÍN SÁ K UYẾN NÔNG CỦA LÊ THÁNH TÔNG

VÀ MINH M NG

2.1 Chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông

2.1.1 Tình hình ruộng đất và nông nghiệp Việt Nam đầu thời Lê Sơ

Chế độ đô hộ của nhà Minh và cuộc chiến tranh giải phóng Tổ Quốc đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn đã suy yếu những thập kỷ cuối Trần Đồng ruộng, làng xóm tiêu điều, xơ xác, tan hoang, nhân dân phiêu tán Những công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp bị tàn phá trầm trọng Trước tình hình như vậy, việc khôi phục kinh tế nông nghiệp trở thành yêu cầu cấp bách hàng đầu của nhà Lê sau khi hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước

Sau khi đất nước được độc lập, Nhà nước và nhân dân với ý thức tự hào dân tộc sâu sắc đã nhanh chóng khôi phục sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh Vua

Lê Thái Tổ đã lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh và đưa ra một số chính sách để phát triển kinh tế nông nghiệp Mặc dù đã thực hiện một số chính sách

và biện pháp nhằm xác lập quyền sở hữu ruộng đất của Nhà nước, tăng cường chức năng quản lý làng xã nhưng vai trò quản lý của Nhà nước trung ương tập quyền đối với ruộng đất và sản xuất nông nghiệp, với làng xã vẫn chưa được tăng cường Quan

hệ sản xuất địa chủ - tá điền vẫn chưa trở thành quan hệ kinh tế chủ đạo thống trị trong

xã hội Do đó, chế độ quân chủ quan liêu vẫn chưa có cơ sở để xác lập

Ngay từ 1427, Lê Lợi đã ra lệnh thu thuế ruộng công để tích trữ và kêu gọi nhân dân phiêu tán trở về quê quán nhận lại ruộng đất cày cấy và xây dựng lại làng xóm Năm 1428, nhà Lê hạ lệnh làm sổ ruộng sổ hộ, ra lệnh cho các địa phương thống kê số

ruộng đất của các quan ty ngạch cũ, các thế gia triều trước dâng nộp lên vua: “Bắt đầu

ra lệnh cho châu, huyện, trấn, lộ khám xét ruộng, đất, đầm, bãi và các hạng thuế vàng, bạc, thổ sản (như muối, diêm tiêu, dầu, sơn, mây tre…) cùng các hạng điền sản sung công (các ngụy quan, các hộ mất tích, lính đào ngũ) định thành sổ sách Làm xong thì bắt đầu lấy thuế (đến mùa hạ năm thứ 6 thì xong)” [4, tr 297] Nhà Lê đã khẳng định

quyền sở hữu tối cao của mình với lãnh thổ quốc gia, đã sung công được hàng loạt

Trang 18

điền trang của các quý tộc Trần, Hồ tuyệt tự, hàng loạt thửa ruộng tư của các địa chủ, nhân dân bị chết trong chiến tranh, hàng loạt ruộng đất tư của bọn Việt gian bán nước

và quân xâm lược Trên cơ sở đó nhà Lê ban hành các chính sách ruộng đất rộng rãi và thống nhất nhằm giải quyết các vấn đề mâu thuẫn đang xảy ra trong xã hội

Nhìn chung tình hình ruộng đất và nông nghiệp đầu thời Lê Sơ đã từng bước được phục hồi và đi vào ổn định sau một thời gian chiến tranh kéo dài Vào đầu thời

Lê Sơ ruộng đất có thể phân thành 4 bộ phận sau: Ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý, ruộng đất ban cấp cho quan lại, ruộng đất do làng xã quản lý và ban cấp cho nông dân tự quản lý và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân

Thứ nhất, ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý

Dưới thời Lê Sơ, bộ phận ruộng đất này gồm 2 loại chủ yếu là ruộng quốc khố và ruộng đồn điền:

Ruộng quốc khố đã có từ các triều đại trước được duy trì lại và được bổ sung thêm bằng việc tịch thu ruộng đất của một số người bị tội Ngay từ đầu thời Lê Sơ thì

bộ phận ruộng đất này đã được giao về cho xã phát canh thu tô và nộp cho Nhà nước, chứ không tổ chức thành các quan trang, quan trại như thời Lý Trần trước đây

Ruộng đồn điền: Do ruộng đất bị bỏ hoang nhiều sau chiến tranh, nhà Lê áp dụng chính sách khuyến khích dân khẩn hoang và lập đồn điền để tận dụng sức lao động của các tù binh và người phạm tội Dưới sức ép của tình trạng nhân dân lao động bị thiếu đất, bỏ làng đi lưu vong, trong khi các vùng ven biển, ven sông đất đai bỏ hoang nhiều,

có thể khai khẩn thành ruộng để sử dụng, vua Lê đã cho đưa tù binh đi khai phá các nơi này, lập làng xóm mới Đây là sự kế tục việc tổ chức đồn điền và đặt chánh phó đồn điền sứ đê trông coi tiến hành từ thời Trần Tuy nhiên dưới những vị vua đầu thời

Lê chính sách khẩn hoang lập đồn điền vẫn chưa thực sự phổ biến phải đến thời Lê Thánh Tông mới được thực hiện rộng rãi Với những chính sách đó đã có tác dụng khuyến khích dân nghèo khai khẩn đất hoang hoá, mở rộng diện tích canh tác và tăng thêm nguồn thu nhập cho đất nước

Thứ hai, ruộng đất ban cấp cho quan lại

Để cũng cố quyền lực của bộ máy Nhà nước trung ương tập quyền vừa mới được thiết lập lại sau chiến tranh và phong thưởng cho những người có công trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh, vua Lê đã tiến hành phong thưởng ruộng đất cho

các công thần Trên tấm bia Quốc triều tả mệnh công thần, Lê Chính ngay trong buổi đầu gặp Lê Lợi, nhờ có công lớn, đã được phong Lân hổ vệ tướng quân, tước quan nội

hầu, ban thưởng 100 mẫu quan điền Cách phong thưởng đó được nhà Lê biến thành chính sách cụ thể cho tướng sĩ sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng

Ruộng đất phong thưởng nói chung là ruộng của các họ tuyệt tự trong chiến tranh, ruộng bỏ hoá, đất hoang có thể khai khẩn được Nhà nước không lấy ruộng đất

Trang 19

công đang được cày cấy và chịu thuế để phong thưởng cho các công thần Ruộng đất được dùng gồm hai loại: ruộng công làng xã (quan điền) và ruộng ngoài sổ thuế, đất hoang tự khai khẩn được

Chính sách ban thưởng ruộng đất cho các công thần ở buổi đầu Lê sơ có tác dụng lớn trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp và cũng cố quyền lực của bộ máy Nhà nước trung ương tập quyền

Bên cạnh đó nhà Lê còn thực hiện chính sách ban cấp ruộng đất qua chế độ lộc điền, mục đích nhằm gia tăng quyền lực thực tế của ruộng đất công làng xã của Nhà nước Trước Lê Thánh Tông, Nhà nước vẫn tiếp tục thực hiện chính sách ban cấp hộ nông dân để làm bổng lộc cho quan lại Phải đến năm 1477, dưới triều vua Lê Thánh Tông chính sách ban cấp lộc điền mới chính thức được ban hành Lộc điền là chính sách dùng ruộng đất công để ban cấp cho quý tộc và quan lại cao cấp và phần đất ban cấp ấy được nhà Lê xem như một dạng đặc biệt của chế độ lương bổng Người được hưởng lộc điền gồm quý tộc, quan lại từ hàng chánh tứ phẩm trở lên Lộc điền gồm hai

phần: phần cấp vĩnh viễn thì con cháu người được cấp được quyền sở hữu và được coi như là ruộng tư, phần này có diện tích không lớn và phần được cấp tạm thời thì sau 3

năm khi người được cấp qua đời, Nhà nước sẽ thu lại

Chế độ lộc điền của nhà Lê đã góp phần củng cố và phát triển chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất cũng như góp phần xác lập những quan hệ sản xuất địa chủ, tá điền

và chế độ bóc lột địa tô Chế độ lộc điền là một chuyển biến quan trọng của chế độ bổng lộc cho quan lại - trước đây cấp bằng hộ có thuế - phù hợp với bước phát triển mới của chế độ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất và của những quan hệ sản xuất trong quá khứ Nó tiến thêm một bước quan trọng vào chế độ chiếm hữu ruộng công của làng xã, khẳng định tính chất phong kiến của chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất Tuy vậy việc ban cấp ruộng lộc của những vị vua đầu thời Lê Sơ cũng còn nhiều hạn chế, việc quá hậu đãi các công thần khai quốc và các quan lại đã làm thu hẹp đáng

kể ruộng đất công Vì thực hiện chính sách này, Nhà nước chỉ tiến hành lấy ruộng đất công để ban cấp Nhà nước không thể lấy ruộng tư để ban cấp được, bởi vì Nhà nước phong kiến Lê Sơ là Nhà nước đại diện cho giai cấp địa chủ, do đó cần bảo vệ quyền

tư hữu của giai cấp địa chủ Vì thế phần lớn ruộng được cấp là ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý và chủ yếu là ruộng đất mới tịch thu Ruộng mới sung công này có thể là ruộng đất bị bỏ hoang trong chiến tranh, nhưng phần lớn ruộng đất đó là do nông dân địa phương đã tự chiếm giữu lấy để cày cấy trong lúc chủ nhân (thế gia, ngụy quan, người phiêu tán…) chết hay bỏ trốn Vì vậy, việc tịch thu, ban cấp này căn bản

là việc Nhà nước chiếm đoạt lại ruộng đất của nông dân đã giành lại được trong chiến tranh đánh đuổi quân Minh và có tính chất nhân dân vừa qua, đem cấp cho tầng lớp thống trị mới và đặt ách bốc lột lên đầu người nông dân vừa vùng lên trong cuộc chiến

Trang 20

ấy Như vậy, đầu thời Lê, Nhà nước chỉ ra sức hậu đãi cho các công thần khai quốc,

mà lại chà đạp lên những cống hiến của quần chúng nhân dân vừa giúp họ đánh đuổi giặc Minh, giải phóng đất nước Những hạn chế đó đã thúc đẩy Lê Thánh Tông tiến hành sửa đổi và ban hành chính sách lộc điền mới vào năm 1477

Thứ ba, ruộng đất do làng xã quản lý và ban cấp cho nông dân tự quản lý

Sau chiến tranh, Nhà nước trung ương đã nắm trong tay một số ruộng khá lớn, nếu không khôi phục sản xuất, số ruộng công không thể tạo điều kiện giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị lớn của xã hội Trong suốt quá trình xây dựng Nhà nước, vua

Lê sử dụng ruộng đất công để ban cấp, phong thưởng cho công thần, quan lại, làm thu hẹp một phần đáng kể ruộng đất công trong cả nước

Sau khi hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước, Lê Lợi ban hành chính sách quân điền Năm 1428 Lê Lợi hạ lệnh cho quan địa phương phải kê khai tất cả các loại

ruộng để lập sổ điền và sổ hộ Vua ra phủ dụ: “Chiến sĩ thì nghèo, du sĩ thì giàu, người chiến sĩ phải chiến đấu thì không có tấc đất để ở, kẻ du thực vô ích cho xã hội thì lại

có ruộng đất quá nhiều Do đó không có người tận tâm với nước, mà chỉ lo việc phú quý” [4, tr 299], nên phải phân chia ruộng đất, trên nguyên tắc ruộng đất công làng xã không được mang ra mua bán hay chuyển nhượng và phải phân chia công bằng: “Vua thấy bọn rong chơi, lười biếng thì cưỡng chiếm nhiều ruộng đất Còn những quân sỹ chiến đấu thì không có đến một thước, một tấc đất Như thế không có gì để khuyến khích người ta siêng năng việc nước, liền ra lệnh cho các quan đại thần bàn định phân hạng các loại, từ đại thần trở xuống đến những kẻ già yếu, cô quả để được xét cấp”

[4, tr 299] Ngoài nhà vua ra, không ai, dù là tập thể làng xã cũng không được phép dành một phần đất công nào đó để làm một việc nào đó cần thiết, hay ban cho một nhân vật cụ thể nào Nhà nước trung ương trở thành người chủ trực tiếp của toàn bộ ruộng công làng xã Như vậy thực chất của chế độ quân điền là tấn công mạnh mẽ vào quyền tự trị của ruộng đất công làng xã, vào quyền tự trị của làng xã và tập trung ruộng đất trên cả nước vào trong tay của Nhà nước trung ương Tuy nhiên chính sách quân điền ở buổi đầu Lê Sơ vẫn còn nhiều hạn chế Theo Lịch triều hiến chương loại

chí của Phan Huy Chú: “Phép quân điền đầu thời Lê các hạng ra sao cũng chưa được

rõ Đại đa số ruộng được cấp đều là ruộng công, còn số ruộng tư ở trong dân thì không lấy để cấp” [4, tr 299] Lại theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn: “Thấy duệ tôn của Chiêu Huân công Nguyễn Công Duẩn xuất trình tờ chiếu chỉ cấp điền lộc cho khai quốc công thần vào năm Thuận Thiên thứ 2 Trong đó cho phép lấy ruộng của thế gia triều trước đã tuyệt tự, cùng ruộng đất bỏ hoang, bỏ rỗi ban cho ngài làm tài sản riêng, cộng là 470 mẫu Như thế thì rất ít khi lấy những ruộng đang cày cấy và những ruộng công đã định thuế Kết hợp hai thuyết trên mà xét thì đầu thời Lê, cấp ruộng

Trang 21

cho dân, chỉ lấy ruộng đất công và ruộng lộc của công thần cũng chỉ lấy từ ruộng đất của những thế gia tuyệt tự, cùng ruộng lậu sổ, ruộng hoang mà thôi” [4, tr 300]

Tuy vậy, chính sách quân điền đầu thời Lê sơ là một bước trong quá trình phong kiến hoá làng xã, chuyển từ nền kinh tế điền trang quý tộc sang nền kinh tế tiểu nông,

là một bước củng cố quyền sở hữu Nhà nước về ruộng đất công làng xã, góp phần trói buộc nhân dân vào ruộng đất và làng xã, duy trì số dân đinh cần thiết phục vụ đất nước Làng xã trở thành một đơn vị kinh tế phụ thuộc Nhà nước, vừa cung cấp thóc gạo, vừa cung cấp nhân lực lao dịch, binh dịch, cung cấp đất đai để Nhà nước ban cho các viên chức của mình Chính sách quân điền đó cũng chính là cơ sở để Lê Thánh Tông tiếp tục hoàn thiện và đưa ra phép quân điền mới vào năm 1477

Thứ tư, ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân

Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân không phải đến thế kỷ XV mới phát triển, mà ngay từ thế kỷ XII - XIII chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã phát triển với sự ra đời của các điền trang, thái ấp… Bước sang thế kỷ XIV ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân đã chiếm một vị trí quan trọng, đe dọa đến sự tồn tại của Nhà nước trung ương xây dựng trên cơ sở công hữu về ruộng đất

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XV - thời Lê Sơ thì bộ phận ruộng đất tư hữu mới thực sự phát triển mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng Điều này được giải thích rằng thế kỷ XV do chiến tranh xảy ra một số địa chủ, cường hào ở các làng ra sức cướp đoạt ruộng đất, thiêu hủy sổ sách, giấy tờ, phá bỏ cột mốc để bao chiếm ruộng đất của nông dân Lê Lợi - đại diện tiêu biểu của giai cấp địa chủ đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp và giải phóng đất nước thành công Sau khi chiến tranh kết thúc thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua, tức là giai cấp địa chủ lên nắm chính quyền thì đồng thời cũng kết thúc quá trình tan rã của kinh tế đại điền trang và mở đầu thời kỳ thống trị của kinh tế địa chủ - thời kỳ phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất

Sau khi lên ngôi Lê Lợi đã ban hành những chính sách phong thưởng, ban cấp ruộng đất, những chính sách khuyến khích khẩn hoang… đã tạo điều kiện cho sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất Đồng thời với điều đó Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách, điều luật vừa nhằm công nhận, vừa nhằm ổn định quyền

sở hữu tư nhân về ruộng đất Cũng giống như thời Lý - Trần, ở thế kỷ XV, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất được Nhà nước bảo vệ Nhà nước Lê Sơ đã nâng đỡ loại

ruộng này bằng cách không đánh thuế ruộng tư: “Nhà Lê không đánh thuế ruộng tư Tất cả việc cầm cố, mua bán, kế thừa và tranh chấp ruộng đất đều phải theo đúng luật của Nhà nước Thậm chí thể thức viết văn tự hoặc khế ước cũng được nhà Lê quy định một cách chi tiết” [39, tr 260] Chính điều này đã thúc đẩy sự phát triển của chế độ sở

Trang 22

hữu tư nhân về ruộng đất và làm cho hoạt động trao đổi, mua bán ruộng đất trở nên phổ biến hơn

Có thể thấy rằng, từ rất sớm thì mua bán ruộng đất đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến (ngay từ dưới thời Lý - Trần) Đến thế kỷ XIV và nhất là sang thế kỷ XV việc mua bán ruộng đất ngày càng phát triển Nhà Lê theo luật của các triều đại trước

đã khẳng định lại lệ giữ đất và hạn chuộc ruộng trên 30 năm đối với người trong họ, 20 năm đối với người ngoài họ Điều này có nghĩa là bằng cách chiếm giữ lâu năm giai cấp địa chủ có thể mua đất của nông dân nghèo với giá rẻ mạt - theo chế độ bán đợ

Năm 1466, nhà Lê Thánh Tông quy định: “Những văn tự cầm bán ruộng từ thời Trần,

Hồ đến thời giặc Ngô đều không được chuộc” [17, tr 196] Những nông dân nghèo

cầm bán ruộng cho địa chủ vào những năm loạn ly đều phải chịu mất ruộng

Bên cạnh đó, các chính sách khai hoang mở rộng diện tích của Nhà nước đã làm xuất hiện thêm hình thức tư hữu nhỏ của nông dân tự canh Trong những năm sau chiến tranh ruộng đất của nông dân bị thu hẹp đáng kể Khi hòa bình lặp lại nhờ chính sách khẩn hoang mở rộng diện tích của Nhà nước mà số nông dân có ruộng tư hữu ngày càng nhiều lên Bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu của nông dân từng bước được phục hồi và phát triển nhanh chóng Thể lệ ruộng chiếm xạ cũng góp phần mở rộng hơn nữa bộ phận ruộng đất tư hữu này Tuy nhiên, diện tích ruộng đất thuộc sở hữu của nông dân tăng lên thì hiện tượng mua bán ruộng đất cũng phát triển

Nhìn chung tình hình ruộng đất và nông nghiệp những năm đầu thời Lê Sơ có những chuyển biến mạnh mẽ trong các hình thức sở hữu về ruộng đất, bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước vẫn giữ một vai trò quan trọng trong chế độ ruộng đất nói chung Đó vẫn là cơ sở kinh tế chủ yếu của Nhà nước trung ương tập quyền, Nhà nước

đã bảo vệ nó, chống lại tư hữu hóa, đồng thời tăng cường hơn nữa quyền chi phối của mình, thống nhất cách sử dụng và phân phối ruộng đất công làng xã, mở rộng việc khẩn hoang trên cơ sở điều hoà quyền lợi giữa Nhà nước và tư nhân Những năm đầu thời Lê Sơ cũng là thời điểm quan trọng của sự chuyển biến trong chế độ tư hữu về ruộng đất vốn đã được khuyến khích, thúc đẩy từ thế kỷ XIII - XIV Xu hướng ngày càng thu hẹp của bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước từng bước phát triển mặc mọi cấm đoán, hạn chế của Nhà nước Có thể thấy với sở hữu tư nhân, chính quyền Nhà nước đầu thời Lê Sơ tôn trọng quyền tư hữu, không đánh thuế mà còn có sự ưu đãi, tuy những chính sách đó đã làm giảm đi phần nào nguồn thu nhập của Nhà nước nhưng cũng chính sách đó đã giúp Nhà nước cũng cố được chính quyền sau một thời gian dài sau chiến tranh và triều đại vừa mới được thành lập

Tuy vậy, có thể thấy rằng những năm đầu thời Lê Sơ vẫn tiếp tục xây dựng bộ máy Nhà nước theo kiểu Nhà nước quân chủ quý tộc như dưới thời Lý - Trần vốn đã trở nên lỗi thời, lạc hậu Chính vì thế cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến những chính

Trang 23

sách của Nhà nước trong những chính sách liên quan tới vấn đề ruộng đất Điển hình nhất là những hạn chế nhất định trong chính sách lộc điền và quân điền của các vị vua đầu thời Lê Sơ Chính vì vậy mà quan hệ sản xuất địa chủ - tá điền vẫn chưa trở thành quan hệ kinh tế chủ đạo thống trị trong xã hội Do đó, chế độ quân chủ quan liêu vẫn chưa có cơ sở để xác lập Vì thế, để phát triển nông nghiệp - nền kinh tế chủ đạo của Nhà nước phong kiến và cũng cố hơn nữa bộ máy Nhà nước trung ương tập quyền - xác lập chế độ quân chủ quan liêu, một trong những việc làm cấp bách của vua Lê Thánh Tông sau khi lên ngôi là ra sức cải tạo lại nền kinh tế nông nghiệp và chế độ ruộng đất trong cả nước, mở đường cho hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất ngày

càng phát triển Đó là quy luật chung của sự phát triển ruộng đất thời phong kiến

2.1.2 Vài nét về vua Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông huý là Tư Thành, lại húy là Hạo, sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) Người là một trong 4 hoàng tử của vua Lê Thái Tông Lê Tư Thành là con thứ tư, mẹ ông là bà Ngô Thị Ngọc Dao (con của Ngô Từ, cháu Ngô kinh, đại công thần khai quốc theo Lê Lợi từ thời khởi nghĩa), người làng Đông Bàng, huyện Yên Định (Thanh Hóa)

Theo các tài liệu sử cổ thì Lê Tư Thành không sinh ra trong cung cấm, mà ra đời ở chùa Huy Văn (Hà Nội) khi Ngô Thị Ngọc Dao bị dèm pha, vu oan và phải đi

lánh nạn Về sự kiện ông sinh ra sử sách chép: “Vua sinh ra tư trời rạng rỡ, thần sắc anh di, tuấn tú, sáng suốt, chững chạc” [5, tr 14] Năm 1445, lúc Lê Tư Thành lên 4

tuổi được mẹ vua Lê Nhân Tông đón vào cung và phong làm Bình Nguyên vương

Lê Thánh Tông từ nhỏ đã tỏ ra thông minh, lanh lợi và có phẩm chất của bậc đế

vương: “Tư Thành sớm có tư chất đế vương, chăm chỉ học tập, dáng dấp đoan chính, thông tuệ hơn người Vì thế mẹ Nhân Tông càng quý và coi Tư Thành như con đẻ của

bà, còn vua Nhân Tông thì cho là người em hiếm có” [7, tr 182]

Lớn lên trong bối cảnh mâu thuẫn cung đình trở nên gay gắt, sự tranh ngôi, đoạt

vị của vương tộc Lê Tư Thành tuổi còn nhỏ nhưng cũng bị lôi vào vòng luẩn quẩn của

sự tranh chấp quyền lực đó: “Khi Nghi Dân con cả của Thái Tông trước đó bị biếm truất rồi âm mưu thoán đoạt đã giết mẹ con Bang Cơ (vua Nhân Tông) lên ngôi vua, lại phong Tư Thành làm Gia Vương và vẫn cho ở nhà Tây ở trong nội điện Khi Nghi Dân bị lật đổ, trong triều có người bàn lập Tư Thành làm vua, nhưng một viên quan là

Lê Lăng can rằng: Tư Thành còn có người anh nữa là Cung vương Khắc Xương, không nên bỏ anh lập em, dẫm lại vết xe đổ của Nghi Dân - Bang Cơ Triều thần đã đến đón Cung vương, song ông này từ chối Khi đó họ mới đến rước Tư Thành lên ngôi, lúc bấy giờ ông vừa tròn 18 tuổi” [7, tr 182]

Như vậy Lê Thánh Tông sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh vương triều Lê đã được thiết lập vững vàng sau thắng lợi của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và

Trang 24

các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đã đạt được một số thành quả trong cũng cố vương triều và xây dựng đất nước Nhưng triều Lê vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn cung đình phức tạp với những vụ giết hại công thần và những mưu đồ tranh ngôi đoạt quyền Chính Lê Thánh Tông cũng được sinh ra và lên ngôi giữa hai biến cố lớn bộc lộ mâu thuẫn và xung đột cung đình gay gắt Những mâu thuẫn và xung đột đó cản trở và hạn chế công cuộc xây dựng đất nước trên nhiều phương diện và có khi đe dọa tới cả sự tồn tại bền vững của triều Lê Ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, Lê Thánh Tông đã nhanh chóng chấm dứt tình trạng xung đột cung đình, lập lại kỷ cương quốc gia, tạo nên sự ổn định chính trị để đẩy mạnh sự nghiệp phục hưng dân tộc Đó là thành công lớn đầu tiên của ông, mở ra một thời kỳ phát triển của vương triều và của đất nước

Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã từng bước xây dựng một bộ máy chính quyền trung ương vững mạnh theo mô hình quân chủ quan liêu chuyên chế Đường lối trị nước của Lê Thánh Tông mang dấu ấn của một cá tính mạnh, song nó không phải là một phát minh tư tưởng đột xuất, mà có nguồn gốc cơ sở lịch đại và đồng đại, chịu ảnh

hưởng trong nước và ngoài nước: “Ông tự cho mình là trung thành với tổ tông, tất nhiên ông chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng, tính cách của ông, cha, anh mình Phải chăng ông thừa hưởng ở Lê Thái Tổ truyền thống ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc… xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, ở Lê Thái Tông cái tinh thần bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo sùng nho, mở khoa thi chọn kẻ sĩ, ở Lê Nhân Tông quan niệm thương người làm ruộng, yêu nuôi muôn dân”

[19, tr 72,73] Có thể nói đường lối trị nước của Lê Thánh Tông là sự kế thừa tiếp nối, đồng thời phát triển đỉnh cao những quan điểm chính trị của các nhà vua triều Lê Sơ trước đó Bên cạnh đó Lê Thánh Tông còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố bên ngoài, đó là mô hình xã hội Đông Á Trung Hoa, lúc bấy giờ là nhà Minh - một triều đình ở giai đoạn cao của nền quân chủ chuyên chế

Trong suốt 38 năm ở ngôi vua (1460 - 1497), đường lối trị nước của Lê Thánh Tông đã thể hiện những quan điểm khá nhất quán Đó là sự tăng cường vai trò cá nhân của một nhà vua mạnh, toàn năng, điều hành một bộ máy Nhà nước mạnh, cực quyền toàn trị, với tinh thần tự tôn của một quốc gia, dân tộc mạnh Có thể nói Lê Thánh Tông là một hoàng đế đầy tự tin và có phần nào tự cao, ý chí kiên định và hành động

quyết đoán: “Ông can thiệp vào và trực tiếp điều hành ở mức tối đa tất cả mọi công việc của triều đình và hàng ngũ quan liêu, không thông qua vai trò của một chức quan đầu triều như các triều đại trước Chỉ thị, khen thưởng, quở trách, trừng phạt, hạ nhục các triều thần là chuyện bình thường đối với Lê Thánh Tông” [19, tr 73,74] Trong 38

năm ở ngôi vua đó ông đã đặt niên hiệu 2 lần: 10 năm đầu (1460 - 1469) ông đặt niên hiệu là Quang Thuận, 28 năm sau (1470 -1479) đặt niên hiệu là Hồng Đức

Trang 25

Nhà nước mà Lê Thánh Tông xây dựng là một Nhà nước quân chủ quan liêu, chỉ huy, quản lý và can thiệp vào đời sống của nhân dân trong làng xã một cách chặt chẽ hơn trước, từ kinh tế đến chính trị, xã hội, tư tưởng Nó dựa trên những cột trụ vững chắc của chế độ: một hệ thống quan liêu hoàn chỉnh, một quân đội mạnh, một pháp luật nghiêm và một hệ thống tư tưởng - lễ giáo chặt chẽ Chính Lê Thánh Tông đã nhấn mạnh đến hai chức năng chủ yếu của Nhà nước đó là: tôn trọng lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân, khuyến khích nông tang để có đủ cơm áo, đó là những việc cần kíp của chính sự, là chức trách của các quan nuôi giữ dân Chính bộ máy Nhà nước siêu mạnh của chế độ phong kiến Nhà nước quan liêu thời Lê Thánh Tông trước mắt đã đưa lại

sự ổn định, kỷ cương, thịnh trị cho xã hội Đại Việt nửa sau thế kỷ XV, và đó cũng chính là điều kiện thuận lợi đề Lê Thánh Tông thực hiện những chính sách cải cách, cải tổ lại đất nước của mình

Trị vì được đất nước 38 năm, đến cuối năm Hồng Đức thứ 27 năm Bính Thìn (1496) Lê Thánh Tông bị ốm nhưng vẫn tự giải quyết những công việc quan trọng Tháng giêng năm sau vua bị ốm nặng rùi qua đời Vua Lê Thánh Tông thọ 56 tuổi, trong đó có 38 năm ở ngôi vua - là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử phong kiến Việt

Nam: “Những năm Lê Thánh Tông làm vua là những năm hoạt động không mệt mỏi của ông Chính nhờ sức làm việc dẻo dai đó, ông đã để lại cho cuộc đời một sự nghiệp lớn” [5, tr 15] Có lẽ ít có vị vua nào trong lịch sử phong kiến Việt Nam lại nhận được

nhiều sự quan tâm, tìm hiểu như vua Lê Thánh Tông, dù ở thời đại nào ông cũng được đánh giá rất cao bởi những đóng góp của ông với đất nước, với nhân dân Còn đối với các sử gia thì hầu hết các ý kiến đều nhận định nhất trí: Lê Thánh Tông là một vị vua

anh minh và thời đại của ông là thời đại “võ công, văn trị” Nhận xét về Lê Thánh Tông, sử gia Vũ Quỳnh cuối thế kỷ XV viết: “Vua tư trời cao sáng anh minh, quyết đoán, có tài hùng lược, võ giỏi văn hay, mà thánh học rất chăm, tay không lúc nào rời quyển sách Các sách kinh sử, các sách lịch toán, các việc thánh thần, cái gì cũng tinh thông… cho nên có thể sửa dựng chính trị, chế tác lễ nhạc, hiệu lệnh văn chương, rõ ràng có thể cho người sau noi theo” [5, tr 16]

Lê Thánh Tông rất chăm lo đến phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân Đặc biệt ông nhận thức được sâu sắc vai trò của kinh tế nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế đất nước và sự hưng vong của triều đại Nên từ lúc lên ngôi, Lê Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và phân chia lại ruộng đất mà các triều vua trước còn một số hạn chế

Lê Thánh Tông là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà thơ kiệt xuất của dân tộc từ thế kỷ XV Ông là người hiếu nghĩa, chăm lo đời sống và thương yêu nhân dân Ông là người có kiến thức văn hoá sâu rộng, đam mê cái đẹp của thơ ca là chủ suý của hội Tao Đàn - có thể nói đây là Viện Hàn Lâm văn học có quy củ đầu tiên của nước ta

Trang 26

Ngoài thơ văn, Lê Thánh Tông còn có những bài phê bình văn học, những bài về địa

lý, chính trị, pháp luật, quân sự nổi tiếng thể hiện tài năng đa dạng và rất uyên bác Ông đã chỉ đạo và chuyển biến luật Hồng Đức, chủ trương vẽ bản đồ lãnh thổ và địa giới nước Đại Việt (1490) ban lệnh dựng bia tiến sĩ tại nhà văn miếu, ban lệnh cho sứ thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ: Đại Việt sử kí toàn thư (1479) gồm 13 tập, Thiên Nam dư

hạ tập (100 quyển)

Trong 38 năm trên cương vị hoàng đế (1460 -1497) Lê Thánh Tông đã đề ra và thực hiện nhiều chính sách và biện pháp mang ý nghĩa cải cách khác toàn diện ở các lĩnh vực hành chính, văn hoá, giáo dục, chế độ thi cử, tuyển chọn nhân tài, xây dựng

và phát triển kinh tế đất nước, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước Ông đã làm rạng rỡ một giai đoạn của lịch sử dân tộc Sách Đại Việt Sử ký bản

ký thực lục (Quyển X viết: Vua sáng lập chế độ văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc anh hùng tài học, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được )

Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thánh Tông có những ưu điểm nổi bật và cũng không tránh khỏi một số hạn chế Tuy nhiên xét về yêu cầu khách quan của lịch sử thì phải thừa nhận công lao của Lê Thánh Tông là rất lớn trong việc xây dựng một triều đại ổn định và thịnh trị, tạo điều kiện cho đất nước phát triển về mọi mặt Với những đóng góp đó thì Lê Thánh Tông hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà thơ, danh nhân văn hóa tầm cỡ Trên phương diện nông nghiệp thì phải thừa nhận những đóng góp của ông là vô cùng to lớn Nó có tác động thúc đẩy sự

phát triển kinh tế của đất nước và góp phần xây dựng nên một quốc gia thịnh trị

2.1.3 Nội dung chính sách khuyến nông của Lê Thánh Tông

Ngay sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã ngay lập tức thực hiện các chính sách cải cách, cải tổ lại đất nước, khắc phục những hạn chế còn tồn tại ở các triều vua trước nhằm xây dựng một bộ máy Nhà nước quân chủ quan liêu chuyên chế hoàn chỉnh và phát triển nền kinh tế đất nước ngày càng vững mạnh Là người yêu dân yêu nước thiết tha, khi ở ngôi, Lê Thánh Tông tỏ ra là nhà tổ chức vô cùng tài giỏi, có tinh thần cải cách táo bạo và một ý chí tự cường dân tộc hết sức mạnh mẽ Đặc biệt, Lê Thánh Tông nhận thức được rõ ràng vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp đối với sự phát triển nền kinh tế đất nước, cũng như sự hưng vong, thịnh trị của triều đại Nên khi vừa lên ngôi, Lê Thánh Tông đã rất quan tâm đến những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp Một năm sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông ra sắc chỉ cho các quan phủ, huyện, lộ, trấn rằng: Từ nay về sau, trong việc làm ruộng, phải khuyến khích quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không được bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán, làm trò du thủ du thực Người nào có ruộng đất mà không chăm cày cấy, thì quan cai trị bắt trình trị tội

Trang 27

Dưới triều Lê Thánh Tông, các chính sách mang tính khai phóng đã được tiến hành, như mở mang đồn điền, khai khẩn đất đai, khuyến nông, nuôi dưỡng sức nước trong việc làm tăng trưởng sức dân tất cả đã tạo nên những thay đổi căn bản của quốc gia Đại Việt Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, Lê Thánh Tông cũng rất chú ý quan tâm đến công tác trị thủy và ra các điều luật để bảo vệ nông nghiệp Chính sách khuyến nông của vua Lê Thánh Tông có thể tựu chung trong một

số chính sách cụ thể sau đây:

Thứ nhất là chính sách khẩn hoang và đồn điền

Sau khi đất nước được thống nhất, nhà Lê ban hành nhiều chính sách kinh tế nhằm phục hồi và xây dựng đất nước, vấn đề trước hết là phải phục hồi lại diện tích cày cấy trong sản xuất nông nghiệp Vấn đề khai hoang được đặt ra từ rất sớm Đất nước trở lại độc lập, ruộng hoang đầy rẫy khắp nơi Đưa nông dân về với ruộng đất và tiến hành khẩn hoang là yêu cầu cấp thiết của Nhà nước Lê Sơ khi mới thành lập Có tiến hành khai hoang mở rộng diện tích và đáp ứng yêu cầu ruộng đất cho nhân dân thì mới có một xã hội yên bình, Nhà nước trung ương vững mạnh và phát triển được Chính vì thế mà ngay từ rất sớm các vị vua đầu triều thời Lê Sơ đã rất chú trọng đến công tác khai hoang mở rộng diện tích và tiến hành lập đồn điền Đặc biệt là dưới triều vua Lê Thánh Tông, công tác khai hoang mở rộng diện tích ngày càng được đẩy mạnh, diện tích đất hoang hóa cũng ngày càng được thu hẹp Quan hệ sản xuất Địa chủ - tá điền cũng từng bước được xác lập

Ngay sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã thực hiện rất nhiều chính sách quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, đặc biệt là Lê Thánh Tông rất chú trọng đến công tác khai hoang mở rộng diện tích

Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh bộ hộ lệnh cho các đạo làm sổ ghi số ruộng đất bị ngập lụt và đất hoang Năm 1471, Lê Thánh Tông cho dân khai khẩn đất hoang lập làng Năm 1474, Lê Thánh Tông lại xuống chiếu các phủ huyện trong nước có ruộng đất bỏ hoang, cho phép dân được chiếm xạ khai khẩn truyền lại cho con cháu cày cấy sinh sống và nộp thuế Năm 1486, Lê Thánh Tông một lần nữa có lệnh cho các phủ, huyện, xã rằng nơi nào có ruộng bỏ hoang ở bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn nộp thuế thì phủ huyện xét thực cấp cho dân làm Đồng thời, Lê Thánh Tông cũng có những quy định rất nghiêm khắc đối với đất đai bỏ

hoang Điều 350 bộ luật Hồng Đức quy định: “Những ruộng đất công có chỗ bỏ hoang

mà quan trông coi không tâu để xin chia cho người cày ruộng khai khẩn, thì xử tội biếm hay phạt (nơi nào dân ít ruộng nhiều thì không luận tội) Sau ba năm khai khẩn thành phục rồi, mà không nộp một nửa hoa lợi vào của công, thì xử biếm ba tư Bắt kẻ cấy ruộng phải bồi thường tiền giá ruộng” [29, tr 139]

Trang 28

Nhờ những biện pháp tích cực cho đến nửa sau thế kỷ XV, diện tích ruộng đất hoang hoá được khôi phục, tăng thêm diện tích sản xuất Chính sách khai hoang của nhà Lê là một chính sách tích cực Trong quá trình khai hoang, một số lớn ruộng đất biến thành ruộng công làng xã của những làng xã mới lập, nhưng một bộ phận đáng kể

đã trở thành ruộng tư của nông dân hay của địa chủ Bên cạnh đó, chính quyền nhà Lê còn quan tâm và quản lý sát sao ruộng đất ở các xứ, xứ nào còn ruộng đất hoang hóa

thì tiếp tục mộ dân để khai hoang: “Năm 1494 triều đình sai thừa ty Thanh Hoá khám xét các xứ và cho người lương thiện đưa gia đình tới khai khẩn, cư trú” [15, tr 158]

Tất cả công cuộc khẩn hoang đều có tác dụng tích cực mở rộng diện tích canh tác cho nông nghiệp Đó cũng chính là một biểu hiện quan trọng của sự phát triển sức sản xuất nông nghiệp thời Lê Sơ

Công cuộc khẩn hoang của nhân dân ta dưới chủ trương của Nhà nước được thể hiện qua các chiếu chỉ mang lại kết quả đáng kể Nhiều xóm làng mới được thành lập như làng Cống Thuỷ - tổng Yên Ninh - huyện Yên Khánh - tỉnh Ninh Bình ngày nay được thành lập do kết quả của công cuộc khẩn hoang của Lê Thánh Tông Ba người thuộc họ Nguyễn ở làng Cốc Dương, huyện Đại An (thuộc Hà Nam Ninh); họ Bùi ở

An Vân (thuộc Ninh Bình) và họ Nguyễn ở Cao Lương đứng ra xin khẩn hoang một vùng ven biển và lập ra làng Cống Thuỷ

Sau này, trong các sách: Lịch sử thành lập làng thì rất nhiều các làng hiện nay vùng ven biển Thanh - Nghệ và Bắc Bộ mà được tiến hành khai hoang và thành lập làng từ thế kỷ XV và những người đầu tiên có công chiêu dân khẩn hoang vùng đất đai

và lập là được nhân dân suy tôn làm "tiên công" và thờ làm "thành hoàng" của làng và hàng năm thường có ngày hội làng để ghi nhớ công ơn của các vị "tiên công"

Chính sách khẩn hoang làm cho bộ phận nông dân tư hữu, tự do tăng lên, điều hoà mâu thuẫn giai cấp, ổn định xã hội, nền kinh tế nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi và có bước phát triển

Song song với chính sách khai hoang, lập làng Lê Thánh Tông còn đẩy mạnh việc khai hoang, lập đồn điền Chính sách này được thi hành từ thời Thái Tổ và được

mở rộng dưới thời Thánh Tông Tháng 04 năm 1462 Lang trung đạo Hoàng Thanh dâng sớ tâu trình 7 điều, trong đó điều thứ 7 xin thành lập đồn điền ở những vùng đất hoang Đồn điền ở các nơi đều được chia làm 3 hạng: Thượng, Trung, Hạ Nhà nước đặt ra các cơ quan chuyên trách công việc khác, lập đồn điền do các chức quan chánh, phó sứ đồn điền phụ trách Trong việc cử người làm sở xứ trông coi việc đồn điền và khai khẩn đất hoang của triều đình cũng có điều lệ chế quan quy định chứ không phải

cử một cách tuỳ tiện, phẩm cấp ở xứ phải là tòng bát phẩm và phẩm cấp của phó sứ là chánh cửu phẩm

Trang 29

Đặc biệt là với "Chiếu lập đồn điền" của vua Lê Thánh Tông năm 1481 đã xác định rõ mục đích của việc lập sở đồn điền, Lời chiếu rằng: “Đặt sở đồn điền là để hết sức làm ruộng, rộng nguồn tích trữ cho Nhà nước Vậy hạ lệnh đồn điền các xứ định làm thượng trung ba bậc” [17, tr 380] Dưới thời lê Sơ, lực lượng huy động để khai

hoang lập đồn điền chủ yếu là các tù binh, tội phạm và một số quân lính đồn trú tại địa phương

Đồn điền của thời Lê Sơ, là cơ sở chủ yếu của chính sách khẩn hoang của Nhà nước do các quan lại tổ chức của Nhà nước tiến hành và quản lý, nhiều tướng lĩnh của nhà Lê đã tham gia công việc này như tướng Nguyễn Xí, Trịnh Khả, Trần Lan là những tướng của triều đình nhà Lê đã từng được cấp tù bình để tiến hành khai hoang Chính sách khẩn hoang bằng cách lập đồn điền là chính sách có quy mô lớn của

nhà Lê Ngoài chính sách "lập đồn điền" do Nhà nước trực tiếp quản lý và tiến hành

dưới sự chỉ huy của các chánh phó sứ đồn điền còn có các hình thức khai hoang đất đai

- đó là các công trình khai hoang của nhân dân nằm trong chính sách khẩn hoang mở rộng diện tích của cả nước, các công trình khai hoang của nhân dân được đẩy mạnh Năm 1485 vua Lê Thánh Tông ra lệnh cho các phủ, huyện có đất bồi ven biển phải cho người ít ruộng tình nguyện bồi đắp khẩn hoang, nộp thuế

Biện pháp lập đồn điền là phương pháp tối ưu, có thể sử dụng nó vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng hoang hoá, cần phải có lực lượng tập trung Mặt khác việc thành lập các sở đồn điền không chỉ đơn thuần là đáp ứng nhiệm vụ kinh tế mà còn thực hiện nhiệm vụ bố phòng quan trọng mà Nhà nước phong kiến đã tính đến và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ

Theo "Thiên Nam dư hạ tập" bấy giờ cả nước có tất cả 43 sở đồn điền (Bắc Bộ

có 30 sở, Trung Bộ có 13 sở): “Tháng 5, đặt đồn điền (gồm 43 sở như Vĩnh Hưng, Dịch Vọng, Minh Tảo, Lạc Trường, Bồng Hải, Đan Nhiễm mỗi sở có 1 viên chánh

sứ, 1 viên phó sứ")” [4, tr 368] Trong đó, có 30 sở do Nhà nước trực tiếp quản lý còn

Trấn Thuận Hoá - Quảng Nam: 4 sở

Những đồn điền này được xây dựng lớn trên cơ sở đồn điền cũ bỏ hoang, các vùng đất hoang ở miền núi hay miền ngược chủ yếu là ở các vùng đất chưa khai thác

Trang 30

Các sở đồn điền phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và các phủ miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh việc thành lập đồn điền ở các tỉnh phía Nam cũng đã bắt đầu

Mục đích thành lập đồn điền được ghi trong tờ chiếu thể hiện được ý nghĩa tích cực, tiến bộ của nó Mặc dù lực lượng khai khẩn đồn điền là binh lính, dân lưu vong, những người bị tù tội và các tù binh nước ngoài, nhưng sự mở mang đồn điền Lê Sơ vẫn có những tác dụng tích cực như: mở rộng diện tích canh tác, hoà hoãn mâu thuẫn giai cấp và góp phần làm tăng thu nhập của toàn bộ xã hội Ruộng đất khai hoang được thuộc quyền sở hữu của Nhà nước trung ương, đó là nguồn thu nhập quan trọng của Nhà nước, cần thiết trong việc cung cấp bổng lộc cho các quan lại các chi tiêu vào các việc cần khác Khai thác được đồn điền, tăng được thu nhập thì Nhà nước có điều kiện giảm bóc lột, giảm nhẹ tô thuế đối với nông dân

Như vậy chính sách khẩn hoang của Nhà nước Lê Sơ chẳng những mang lại một khối lượng rộng lớn đất đai, đặc biệt các vùng ven biển, các xứ xa xôi, làm tăng diện tích canh tác, tăng nguồn thu nhập tô thuế cho Nhà nước, ổn định trật tự xã hội và phát triển xã hội, để lại cơ sở và kinh nghiệm cho các triều đại phong kiến tiếp tục kế thừa Rõ nét nhất là thế kỉ XIX, triều Nguyễn đã đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang với hình thức phong phú, đem lại kết quả to lớn

Thứ hai, quan tâm - chăm lo công tác đê điều, thủy lợi

Để thực hiện các chính sách khuyến nông có hiệu quả, Lê Thánh Tông rất quan

tâm tới công tác thuỷ lợi, đê điều, tổ chức việc đào kênh, khơi ngòi “Tháng 12, năm Quang Thuận, năm thứ 8 (1467), khai kênh Vân ở Thuận Hóa (huyện Lệ Thủy, Quảng Bình ngày nay) và các kênh ở Thanh Hóa (kênh Ngọc Giáp ở Quảng Xương, kênh Lãm

và kênh Chiếu Bạch ở Tống Sơn, kênh Linh Trường ở Hậu Lộc, kênh Thần Phù, kênh Đồng Tri ở Nga Sơn), Nghệ An (kênh Xước, kênh Tang ở Quỳnh Lưu, kênh My ở Yên Thành, kênh Thiết, kênh Hương Cái, kênh Đích ở Hưng Nguyên), Hà Tĩnh (kênh Na ở Cẩm Xuyên, kênh Lạc ở Kỳ Anh)” [4, tr 351]

Đồng thời, để chăm lo cho công tác thủy lợi, tham nghị Thừa chính sứ ty Hóa Châu Đặng Thiếp (người Vị Bổ, huyện Sơn Vi, đồ Hoàng Giáp) đã dâng sớ nói xin

làm 5 tiện lợi: “1 Lập bảo để giữ cửa biển Tư Dung 2 Lấp cửa Eo 3 Khai kênh Sen

4 Bãi bỏ chức Thuế sứ ở đầu nguồn 5 Chiêu mộ dân lưu vong đến khẩn hoang ở châu Bồ Chính” [17, tr 293]

Bên cạnh đó, công tác chống hạn hán, ngập úng cũng được Lê Thánh Tông rất quan tâm, ông đã ra nhiều chỉ thị chỉ đạo cho quan lại ở các xứ chăm lo đến công tác

chống ngập úng: “Bính Tuất năm thứ 7 (1466): Sắc cho bộ Hộ khai hoặc lấp đường nước ở ruộng, đừng để cho ruộng ngập úng hay khô cạn Sai bộ Hộ tư tờ cho Thừa tuyên các xứ xét hỏi các Ty Khuyến nông và Hà đê, chỗ nào có ngập úng lúa má và có

Trang 31

ruộng bỏ hoang thì tâu lên” [17, tr 294] “Tháng 9, Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 (1473), sắc chỉ cho cả nước sửa đắp những chỗ đê đập và đường sá” [17, tr 351]

Nhà vua Lê Thánh Tông đặc biệt coi trọng việc đắp đập, tu sửa đê điều để đề phòng bão lụt Trong bộ luật Hồng Đức có hai điều quy định khá tỉ mỉ về vấn đề này:

Điều 181: “Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng mười tháng giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trong hai tháng đến ngày mồng mười tháng ba thì làm xong Những đường đê mới đắp hạn trong ba tháng phải đắp xong Quan lộ phải năng đến xem xét, quan coi đê phải đốc thúc hằng ngày Nếu không cố gắng làm, để quá hạn không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm Quân lính và dân đinh không theo thời hạn đến làm và không chăm chỉ sửa đê,

để quá hạn không xong thì bị trượng hoặc biếm” [29, tr 89] Điều 182: “Việc giữ đê không vững vàng hoặc làm quam giám đương không ra sức giữ gìn để cho nước lút làm vỡ đê, làm mất hoa màu của dân thì quan lộ và giám đương bị xử biếm bá tư, bãi chức Nếu những người tự mình đi giữ đê thì được giám 1 bậc Nếu đường đê vững chắc mà đê vỡ khi bất ngờ lại được giảm 1 bậc Nếu khi nước sông lên to tự mình đến giữ đê nhưng khi đê vỡ không có mặt ở đó thì cũng một tội với người vô ý để vỡ đê Nếu đường đê vững chắc, lại cố gắng giữ gìn, song vì nước lụt quá to, sức người không chống nổi mà đê vỡ thì không bị xử tội” [29, tr 89] Với những quy định rõ

ràng như vậy những quan chức có trách nhiệm khó lòng chối cãi và đổ vấy trách nhiệm cho người khác, cho khách quan mỗi khi xảy ra nạn vỡ đê

Thành công lớn nhất của Lê Thánh Tông trong công tác trị thủy thời kỳ này là cho đắp một hệ thống đê điều lớn mang tên đê Hồng Đức Gọi là đê Hồng Đức bởi con

đê được đắp dưới thời Hồng Đức (1470- 1497) Theo Khâm định Việt sử thông giám

cương mục chép: “Ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, có đê đá được đắp từ phía bắc của sông Thần Phù đến bờ nam sông Càn và đê đất từ xã Côi Trì huyện Yên Mô đến

xã Bồng Hải huyện Yên Khánh”

Đê Hồng Đức là tuyến đê ngăn mặn có quy mô lớn kéo dài từ cửa Thần Phù, (nay thuộc xã Yên Lâm - Yên Mô- Ninh Bình) đến cửa Muộn Hải - cửa sông Hồng thời bấy giờ (nay thuộc Xuân Thuỷ Nam Định) Đương thời con đê này được đắp khá kiên cố

Có khoảng 5km (đoạn từ chân núi Soi nằm trong dãy núi con Lợn, thuộc thôn Thần Phù (xã Yên Lâm, Yên Mô) đến Cống Đồn thuộc làng Yên Mô Càn (nay thuộc xã Yên Mạc, huyện Yên Mô) được đắp bằng đá Phần còn lại được đắp bằng đất Đê Hồng Đức ở Ninh Bình được đắp vào các năm 1471, 1472, dài gần 30 km

Nếu nói mỗi lần quai đê là một kỳ tích thì đợt quai đê Hồng Đức là sự mở đầu rực rỡ nhất, thành công nhất trong việc đắp đê ngăn mặn Đê Hồng Đức được đắp là kết quả của chính sách đúng đắn của triều đình Lê Thánh Tông và sự nỗ lực của nhân dân Đê Hồng Đức đã tạo ra điều kiện thuận lợi có tính quyết định đối với công cuộc

Trang 32

khai hoang lập làng ở khu vực nam sông Hồng bấy giai đoạn cuối thế kỷ XV Riêng ở địa bàn Ninh Bình, đê Hồng Đức ra đời đã tạo thuận lợi to lớn cho việc khai hoang, thành lập nhiều làng xã mới mà tiêu biểu là làng Côi Trì (Yên Mô - Ninh Bình), làng Cống Thuỷ (Yên Khánh),…

Đê Hồng Đức có một vai trò rất to lớn về kinh tế trong thời Lê Sơ Trước hết nó

là tuyến đê ngăn mặn, một tuyến đường thành vững chắc đối diện với sóng gió, bảo vệ xóm làng, bảo vệ thành quả lao động của nhân dân ven biển Có lẽ vì vậy, trải qua hơn

500 năm, một số công trình đê đập được khởi công xây dựng từ thời vua Lê Thánh Tông cho đến tận ngày nay vẫn còn tác dụng và lưu lại dấu vết

Như vậy những chính sách chăm lo tới công tác thủy lợi của Lê Thánh Tông có một ý nghĩa rất lớn trong chính sách khuyến nông của Lê Thánh Tông nói riêng và đối với sự phát triển nền nông nghiệp thời Lê Sơ nói chung Đó chính là cơ sở nền tảng để kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ phát triển rực rỡ dưới triều vua Lê Thánh Tông

Thứ ba, chính sách khoan hồng trong chế độ thuế khóa của Lê Thánh Tông

Để tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển và ổn định đời sống nhân dân, nhất là trong những năm mất mùa, đói kém, lũ lụt, hạn hán xảy ra Hoàng đế Lê Thánh Tông

đã thể hiện sự khoan hồng của mình đối với nhân dân bằng những chính sách giảm hoặc xóa thuế cho dân, tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể nhất định Hơn nữa mức thuế đối với nông nghiệp dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông lại rất thấp, là mức thuế nông nghiệp thấp nhất trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam

Ngay sau lên ngôi, Vua Lê Thánh Tông đã ban bố sắc lệnh xóa thuế 3 năm cho

dân Sau đó ban hành chính sách thu thuế mới với mức rất nhẹ: “Bính Tuất (Quang Thuận ) năm thứ 7 (1466) Mùa xuân, tháng giêng lại lấy thuế đinh và thuế ruộng đất (thuế đinh mỗi người một năm 8 mạch tiền Ruộng đất và bãi dâu chia làm 3 loại, nộp tiền có mức độ khác nhau) Trước đây, có ân xá, các loại tô thuế đinh điền đều miễn

cả Đến đây phải chi dùng nhiều, lại lấy thuế” [4, tr 338] Cũng trong năm đó vua lại xuống chiếu giảm thuế: “Xuống chiếu giảm tô ruộng và thuế nhân đinh theo chức bậc khác nhau, vì cớ bộ Hộ tâu lúa ruộng mất mùa” [17, tr 294]

Đinh Hợi, (Quang Thuận), năm thứ 8 (1467) mất mùa, lại tuyên bố đại xá cho

dân: “Lời dụ nói: Năm ngoái, từ mùa thu đến mùa đông không mưa, nhân dân cực khổ, lương thực khó khăn Trẫm là cha mẹ dân, thực xót xa trong lòng Nên có lệnh khoan hồng, đại xá” [4, tr 344]

Có thể thấy rằng, Lê Thánh Tông là một vị vua rất yêu nước, thương dân, quan tâm tới hoàn cảnh và cuộc sống của nhân dân Điều đó thể hiện rất rõ trong chính sách thuế khóa của ông Chế độ thuế khóa trong nghiệp của Lê Thánh Tông có thể xem là mức thuế nhẹ nhất trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam Lê Thánh Tông đã theo sát tình hình nông nghiệp và các biến cố thiên tai hằng năm để có những chính sách giảm

Trang 33

hoặc xóa thuế cho nhân dân Chính những chính sách khoan hồng đó đã có tác dụng tích cực trong phát triển kinh tế nông nghiệp, ổn định đời sống cho nhân dân và tăng cường sự tin tưởng, sự gắn kết giữa nhân dân và Nhà nước

Thứ tư, những cải cách hành chính trong nông nghiệp

Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã đặt ra các cơ quan chuyên trách về việc chấn

hưng nông nghiệp như đặt ra bốn cơ quan mới: “Sở tầm tang chuyên lo việc khuyến khích trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa; Sở thực thái chuyên lo việc trồng rau; Sở điền mục chuyên lo việc chăn nuôi gia súc, gia cầm và Sở đồn điền chuyên lo việc ruộng đất”

[39, tr 77] Ông còn đặt thêm chức quan mới là quan hà đê để lo việc đắp đê, hộ đê,

phòng chống bão lụt Sách Việt sử cương mục tiết yếu chép: “Ất Mùi (Hồng Đức) năm thứ 6 (1475) Mùa thu, tháng 7, nước lớn, vỡ đê Tô Lịch (huyện Thọ Xương, Hà Nội) Đặt chức quan Hà đê và Khuyến nông Ra lệnh các xứ thừa tuyên, các phủ, huyện rằng: Những nơi ruộng mùa có thể chứa nước làm vụ chiêm thì sai quan hà đê và khuyến nông đi xem xét địa thế, đốc thúc dân bối đắp để trồng cấy kịp thời” [4, tr

362]

Trong một đất nước có thiên tai, bão lụt, việc đề ra chức quan Hà đê tưởng chừng như là một việc làm tất yếu, nhà vua nào cũng phải làm, nhưng chỉ dưới triều vua Lê Thánh Tông, quan Hà đê mới được đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của nó Việc đặt các chức quan chuyên lo trông coi nông nghiệp cho thấy được sự sáng suốt và sự quan tâm, coi trọng nông nghiệp của vua Lê Thánh Tông

Bên cạnh đó, để tăng cường sức sản xuất cho nông nghiệp và giảm chi phí cho quân đội, tiếp nối truyền thống từ các triều đại trước Lê Thánh Tông tiếp tục thực hiện

chính sách “ngụ binh ư nông” cho quân lính thay phiên nhau về quê sản xuất: “Bính Tuất (Quang Thuận) năm thứ 7 (1466) Tháng 5, chia sai các quân, cho một nửa về làm ruộng (một nửa ở lại làm việc, một nửa về làm ruộng) Đó là làm theo kiến nghị của Thái bộc tự thiếu khanh Lê Tá Tuấn (người xã Thanh Lãng, huyện Tế Giang, nay

là huyện Văn Giang, Hoàng Giáp)” [4, tr 338] Chính sách này vừa có tác dụng giữ

nhịp độ cho sản xuất nông nghiệp và giảm được chi phí quốc phòng, lại vừa cho phép nhà Lê vẫn có thể duy trì được một đội hình quân đội mạnh

Thứ năm là tăng cường tính pháp chế trong nông nghiệp

Việc dùng luật pháp để bảo vệ và khuyến khích nông nghiệp phát triển được quy định rõ ràng và đầy đủ trong luật Hồng Đức Trong bộ luật Hồng Đức có 722 điều 13 chương, thì Lê Thánh Tông đã dùng hẳn 1 chương - chương điền sản gồm 59 điều có nội dung quy định liên quan trực tiếp đến sự mở mang, chấn hưng nông nghiệp Bên cạnh đó còn có một số điều luật khá về đê điều, thuế khóa được Lê Thánh Tông rất chú trọng và đưa vào bộ luật Hồng Đức Tính chung trong cả bộ luật nhà Lê có tới gần

70 điều liên quan đến khuyến nông và nông nghiệp Trong đó có những điều luật mà

Trang 34

mục đích trực tiếp của nó là phục vụ cho chấn hưng nông nghiệp và quy định rõ đó là

trách nhiệm của quan lại trị nhậm tại địa phương như: Điều 347: “…Nếu không phải ruộng hoang mà bỏ lâu ngày không chia thì các quan viên phải bồi thường tiền hoa màu ruộng” [29, tr 137] Điều 350: “Trong hạt có nơi nào mà bị nạn lụt, hạn, mưa

đá, sâu keo, châu chấu phá hoại lúa má, quan chủ ty đáng phải tâu mà không tâu hay tâu sai sự thật thì xử tội trượng hay phạt Quan kiểm tra không xét đúng sự thật thì bị biếm hay phạt…” [29, tr 139] Điều 387: “con trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà ruộng đất của mình được người trong họ hay người ngoài họ cày hay ở, đã quá niên hạn mới miễn cưỡng đòi lại thì xử phạt 80 trượng và mất ruộng đất (niên hạn người trong họ 30 năm, người ngoài họ 20 năm) nếu vì chiến tranh hay đi phiêu bạt mới về thì không theo luật này” [29, tr 151]…

Với những điều luật như vậy, Nhà vua đã hạn chế được đến mức thấp nhất việc

bỏ hoang ruộng đất và số người lười lao động, sống bám vào sức lao động của người khác Nhà vua đặt việc chấn hưng và phát triển nông nghiệp, trước hết là trách nhiệm của quan trị nhậm, sau là trách nhiệm của toàn dân Ngoài việc đặt ra các điều luật quy định trách nhiệm cụ thể của quan lại về việc khuyến khích khẩn hoang, khẩn hoang, cày cấy, trồng trọt, Lê Thánh Tông còn đặt ra nhiều điều luật và nhiều lần hiểu dụ về những điều làm căn cứ đề khảo khóa - tức là nhận xét năng lực làm việc của quan lại Nhà vua cho rằng ở xứ nào mà nhân dân ở xứ ấy no đủ, dân số ngày càng đông, dân không phải phiêu tán nơi khác thì quan trị nhậm nơi đó được nhận xét là xứng chức và được nhà vua ban thưởng Nếu nơi nào dân phải tha phương cầu thực, trộm cướp hành hoành thì viên quan nơi ấy sẽ bị trừng trị, bị bãi chức

Với cơ chế Pháp luật và xử phạt, khen thưởng như vậy nhà vua không dung thứ cho bất kỳ quan lại nào vin vào cớ thiên tai, lũ lụt để trối bỏ trách nhiệm của mình trong việc mở mang, phát triển nông nghiệp tại địa phương nơi mịnh trị nhậm

Bên cạnh đó Lê Thánh Tông còn ban hành nhiều điều luật về kiện tụng, kiện cáo đất đai Trước tình trạng tranh chấp đất đai đang trở nên ngày càng phổ biến và để bảo

vệ cho quyền lợi của giai cấp mình, sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã xuống lệnh

rằng: “Xét việc kiện tụng, phải mỗi tháng 3 lần trình lên để quyết định Lại có sắc lệnh rằng Từ nay việc kiện tụng đã được quyết đoán, lại còn cố kêu nài xét lại, và khi tranh ruộng đất, đã bị đuối lý lại còn cố chuyển bán cho các nhà thế gia thì bị trị tội” [4, tr 332] Điều 356 trong luật Hồng Đức cũng quy định: “Những tá điền cấy nhờ ruộng ở nhà của người khác, mà dở mặt tranh làm của mình thì phạt 60 trượng, biếm hai tư, nếu người chủ ruộng đất có văn tự xuất trình thì người tá điền phải bồi thường gấp đôi

số tiền ruộng đất, không có văn tự thì trả nguyên tiền thôi” [29, tr 140]…

Nhà nước cũng ban hành nhiều điều luật để bảo vệ ruộng đất công như điều 342:

“Bán ruộng đất của công cấp cho hay ruộng đất khẩu phần, thì xử 60 trượng, biếm

Trang 35

hai tư, người viết văn tự thay và người làm chứng đều bị xử tội nhẹ hơn một bậc, truy thu số tiền bán ruộng đất sung vào của công Đem cầm thì xử phạt 60 trượng và bắt chuộc” [29, tr 136] Điều 343: “Chiếm ruộng đất công quá số hạn định, từ một mẫu thì bị xử phạt 80 trượng, mười mẫu thì bị biếm một tư, tội chỉ bị biếm ba tư là cùng, đòi lại tiền lợi ruộng đất nộp vào làm của công Nếu khai khẩn những nơi ruộng đất hoang thì không phải tội” [29, tr 343]…

Nhìn chung, luật pháp ruộng đất dưới thời Lê Thánh Tông được đề ra và quản lý chặt chẽ trong bộ luật Hồng Đức với những điều luật nghiêm khắc nhằm quản lý, xử phạt những vi phạm và tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, ổn định đời sống nhân dân Mặt khác, những điều luật liên quan tới nông nghiệp trong bộ luật Hồng Đức cũng cho thấy bản cấp giai cấp rõ nét của triều đại phong kiến thời Lê Sơ, bảo vệ cho quan hệ sản xuất địa chủ - tá điền, cho đặc lợi của giai cấp thống trị và tạo điều kiện cho chế độ tư hữu ruộng đất phát triển

Thứ sáu, thường xuyên tổ chức các nghi thức - nghi lễ nông nghiệp

Trong công tác khuyến nông, có thể nói rằng, việc thực hiện các nghi thức - nghi

lễ nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khuyến khích nhân dân hăng hái sản xuất và tăng cường sự tin tưởng của nhân dân vào nhả nước trung ương

Như chúng ta đã biết, lễ Tịch điền là ngày lễ khởi đầu việc làm ruộng trong năm (Tịch: mở ; Điền: ruộng), mang ý nghĩa khuyến nông Tịch điền có từ thời nhà Tiền Lê

và được duy trì qua các triều đại phong kiến Việt Nam nhằm khuyến khích nhân dân siêng năng cày cấy, tạo ra của cải

Thời nhà Lê, tiếp nối truyền thống từ các triều đại trước, lễ Tịch điền được tổ chức long trọng vào mùa xuân, là một nghi lễ quan trọng trong chính sách khuyến

nông của Lê Thánh Tông: “Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 (1473) (Minh Thành Hóa thứ 90) Mùa Xuân, tháng giêng, vua thân đi cày ruộng Tịch điền và đốc suất các quan cày” [17, tr 343] Năm Hồng Đức thứ 15 (năm 1484), vua Lê Thánh Tông đặt sở Tịch

điền ở làng Hồng Mai, ngoài kinh đô Thăng Long, dựng Đàn Tiên Nông cao 7 thước, rộng 36 thước, có tường đất bao quanh để vào tháng trọng Xuân hàng năm, vua đến tế

Thần Nông, rồi xuống đồng cày ruộng làm gương cho mọi người: “Bắt đầu dựng đài Tiên nông và đài quan canh (xã Hồng Mai, huyện Thanh Đàm bên hữu ruộng Tịch điền Lại dựng hành điện và nhà bếp ở đó)” [4, tr 370]

Bên cạnh đó, vào những năm hạn hán, lũ lụt, mất mùa, sâu bệnh hoành hành, nhà vua cũng tổ chức nhiều nghi lễ, nghi thức nông nghiệp như lễ cầu đảo, cầu mưa nhằm động viên nhân dân vượt qua khó khăn, tiếp tục sản xuất:

Tân Tỵ, năm thứ 2 (1461) (Minh, Thiên Thuận thứ 5): “Tháng 3, ngày 11, đêm sét đánh ở cửa Thừa Thiên Ngày 19, vua và các quan bỏ áo triều làm lễ tạ ở điện Thừa Thiên Chỉ huy cho các quan phủ huyện trấn lộ xã rằng: Từ nay về sau, về việc

Trang 36

làm ruộng thì nên khuyên bảo quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không nên bỏ nghề gốc theo nghề ngọn, người nào có ruộng đất mà không chăm cấy trồng thì quan tư cai quản bắt trình trị tội” [17, tr 247]

Quý Mùi, năm thứ 4, (1463) (Minh Thiên Thuận thứ 7): “Mùa xuân, tháng giêng, xuống chỉ rằng làm lễ cầu mưa thì lấy tiền thuế” [17, tr 254]

Bính Tuất, năm thứ 7 (1466) (Minh Thánh Hóa thứ 2): “Ngày Giáp Thìn mồng 8, vua thấy trời lâu không mưa, tâu cáo để cầu mưa Lại sai Thái bảo Nguyễn Lỗi làm lễ cầu đảo ở các đền Chí Linh, Hoàng Hựu” [17, tr 277]

Bên cạnh làm lễ cầu mưa vào những năm hạn hán, nhà vua cũng rất chú trọng

đến rất quan tâm đến các nghi lễ cúng tế và cầu mưa trừ sâu bệnh: “Tháng 9, lúa mới chín, có sâu cắn lúa Sai đạo sĩ cúng trừ sâu lúa Sai các thượng thư Lại bộ và Lễ bộ

là bọn Nguyễn Như Đổ đến tế các thần để trừ sâu lúa” [17, tr 295, 296]

Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 (1473) (Minh Thành Hóa thứ 90): “Tháng 3, đại hạn, cầu đảo ở Thái miếu và sai quân đi cầu đảo khắp các thần, 2 ngày thì mưa” [17,

tr 345]

Bính Thìn, Hồng Đức năm thứ 27 (1496): “Mùa xuân, tháng 2, trời không mưa, vua thân hành cầu đảo (vua làm thơ dán lên tường đền thờ Hoàng Hựu ở huyện Lương Sơn, nay thuộc huyện Thụy Nguyên) Đêm ấy mưa to” [17, tr 379]

Những nghi lễ nông nghiệp của Lê Thánh Tông cho thấy sự quan tâm đặc biệt của ông đến nền kinh tế nông nghiệp và mong cho đất nước được mua thuận gió hòa, đời sống nhân dân được ổn định, sung sướng Qua các nghi thức này, còn cho thấy long thành kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị, các nghi thức truyền thống của tổ tiên Bên cạnh các chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển thì Lê Thánh Tông còn tiến hành phân chia lại ruộng đất công cho nhân dân ở các làng xã và định lại cách phân cấp bổng lộc cho quan lại, khắc phục những hạn chế và tồn tại ở các triều đại trước Năm 1477, Lê Thánh Tông cho định lại chế độ lộc điền mới và ban phép quân điền mới

2.1.4 Kết quả, ý nghĩa

Như vậy, có thể thấy rằng, ở một nước mà nền nông nghiệp lúa nước từ rất sớm

đã xuất hiện và trở thành nghành kinh tế chủ đạo, thì việc các nhà cầm quyền quan tâm, chú ý đến nông nghiệp là lẽ đương nhiên và trở thành nhân tố thúc đẩy nền kinh

tế nông nghiệp phát triển

Nhà nước Lê Sơ, sau khi được thành lập cũng đã tiếp tục các chính sách từ các triều đại trước nhằm ra sức cũng cố và đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp Các vua Lê nhiều lần ban hành chiếu khuyến nông nhằm khôi phục đồng ruộng bị bỏ hoang sau chiến tranh, khôi phục lễ cày Tịch điền, mở rộng và cũng cố hệ thống đê ngăn lũ và đắp đê biển ngăn mặn mở rộng diện tích đất trồng ven biển mà tiêu biểu

Trang 37

như đê Hồng Đức, bên cạnh đó còn thực hiện các chính sách như chính sách lập đồn điền, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông…

Đến thời Lê Thánh Tông còn ban hành nhiều chính sách rất cụ thể quan tâm đến

nông nghiệp Thực hiện phương châm “bất nông vi thời” và “sử dân dĩ thời” Cùng

với đó, vấn đề khai hoang mở rộng diện tích được Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm, dưới triều Lê Thánh Tông diện tích đất nông nghiệp được mở mang rất nhiều Chính sách khai hoang dưới thời Lê Thánh Tông mang nhiều điểm tích cực so với các triều đại trước, đã mở rộng thành phần đối với các tầng lớp nhân dân Chế độ nông nô cuối Trần đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, với yêu cầu nhanh chóng khôi phục nền kinh tế sau thời gian loạn lạc đã buộc nhà Lê ngay từ sớm đã khuyến khích nhân dân khẩn hoang, xây dựng xóm làng và cho các công thần khai quốc được khai hoang lập nghiệp Và công cuộc khai hoang đó đã được triển khai cực kỳ hiệu quả dưới thời Lê Thánh Tông Diện tích nông nghiệp được mở rộng rất nhiều so với các triều đại trước Bên cạnh tích cực khai hoang mở rộng diện tích, Lê Thánh Tông cũng rất chú trọng đến công tác thủy lợi và miễn giảm thuế cho nhân dân

Chính vì vậy, mà nông nghiệp dưới triều vua Lê Thánh Tông rất phát triển, nhân dân sống trong cảnh ấm no, thanh bình Nạn ăn xin, chết đói đầy đường đã xảy ra dưới thời trị vì của vua cha và vua anh nay vắng bóng Để miêu tả sự phát triển nông nghiệp thời kỳ này trong dân gian có câu:

“Đời vua Thái tổ, Thái tông Thóc lúa đầy đường trâu chẳng buồn ăn”

Ở thế kỷ XV, Lê Thánh Tông không phải là 1 nhà duy vật Ông rất tin vào họa phúc, vào trời phật Đối với ông thiên tai là một điều không tránh khỏi Nhưng nhà vua

đã nói là làm kẻ trưởng thì phải biết chăn dắt dân, hướng dẫn dân khắc phục, chế ngự thiên tai bằng các việc làm cụ thể Đó chính là những biện pháp cũng cố hệ thống thủy lợi, chăm lo công tác đê điều, dùng pháp luật để răn đe những kẻ vi phạm Bên cạnh

đó ông cũng không quên việc thực hiện các nghi lễ nông nghiệp và lập đàn tế để chấn hưng tinh thần cho nhân dân trong những năm thiên tai, mất mùa

Với những chính sách đó của Lê Thánh Tông, kinh tế nông nghiệp dưới thời trị vị của ông phát triển hưng thịnh Nhân dân được sống trong cảnh ấm no, thái bình Nhiều làng xã mới được thành lập Tạo điều kiện căn bản cho Lê Thánh Tông xây dựng được một triều đại thịnh trị

2.2 Chính sách khuyến nông của vua Minh Mạng

2.2.1 Tình hình ruộng đất và nông nghiệp Việt Nam đầu thời Nguyễn

Ở nửa đầu thế kỷ XIX, tình hình ruộng đất - tư liệu sản xuất chính của nông nghiệp và là nền tảng kinh tế chủ yếu của xã hội đang đứng trước hàng loạt khó khăn

Do sổ sách mất mát, “cách ghi chép không chính xác”, “dân xiêu tán nhiều, do các

Trang 38

làng xã gần cạnh lấn chiếm của nhau” Năm 1803, Gia Long cho tiến hành một đợt

đo đạc lớn, lập “địa bạ” các xã Trải qua nhiều lần làm đi làm lại, năm 1820, bộ Hộ

chính thức báo cáo: Tổng diện tích ruộng đất của cả nước là 3.076.300 mẫu và 26.750 khoảnh Thời Minh Mạng, sau nhiều đợt lập thêm địa bạ các xã chưa làm, nhất là sau đợt đo đạc ở Nam Kỳ năm 1836, bộ Hộ đã cho con số (năm 1840): Tổng diện tích ruộng đất thực canh là 4.063.892 mẫu, trong đó tổng diện tích ruộng là 3.396.584 mẫu đất tư Không chỉ Nam Kỳ có rất ít ruộng công mà ở Bắc Kỳ, trải qua nhiều thế kỷ biến chuyển, nhiều xã hoặc không có hoặc ít có rất ít ruộng công

Nhìn chung nửa đầu thế kỷ XIX vẫn tồn tại hai loại hình thức sở hữu ruộng đất là

sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân:

Thứ nhất, tình hình ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước

Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm 2 loại: Loại Nhà nước trực tiếp quản

lý và ruộng đất công làng xã

Loại ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý bị thu hẹp rất nhiều so với thời kỳ trước đó Ba hính thức chủ yếu còn tồn tại ở nửa đầu thế kỷ XIX là Tịch điền, quan điền quan trại và đồn điền

Tịch điền là loại ruộng đất có tính chất lễ nghi được tiến hành từ thời Lê Hoàn và

được một số triều đại sau này noi theo Năm 1828, Minh Mạng quyết định thành lập Tịch điền ở kinh đô Huế với số lượng 4,4 mẫu thuộc hai phường Hậu Sinh và An Trạch Năm 1832 mở rộng ruộng Tịch điền ra các địa phương trên toàn quốc, mỗi tỉnh lấy 3 mẫu, lấy ruộng ở khu vực ở phía tây tỉnh thành Về nguồn gốc ruộng Tịch điền

có thể là ruộng công, cũng có thể là ruộng tư khi mở rộng, Nhà nước miễn thuế hoặc đền tiền Người cày ruộng Tịch điền là nông phu của các làng xã lân cận, có thể được trả lương hoặc miễn thuế thân và lao dịch Sản phẩm thu hoạch 1 phần để giống, còn lại nộp cho Nhà nước dùng chi phí trong việc tiến hành các nghi lễ nông nghiệp hàng năm Số ruộng Tịch điền trên toàn quốc ít ỏi (không quá 100 mẫu) vì thế loại ruộng này hầu như không gây tác dụng gì đáng kể đến chế độ ruộng đất đương thời

Quan điền, quan trại là loại ruộng đất đã có từ các thời kỳ trước đó Đây vốn là

loại ruộng ngụ lộc, thưởng lộc, chế lộc, quan điền, quan điền trang, quan đồn điền, quan trại… dưới thời Trịnh - Nguyễn, sau đó nhà Tây Sơn đem cấp cho quan lại Sau khi khôi phục nền thống trị, nhà Nguyễn thu hồi các loại ruộng trên gọi chung là quan điền, quan trại và đặt dưới sự sở hữu trực tiếp của Nhà nước Quan điền, quan trại phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền trung từ Nghệ An trở vào, số lượng không nhiều Với

tư cách là loại ruộng đất thuộc sở hữu trực tiếp của Nhà nước đem bộ phận ruộng đất quan điền, quan trại ban cấp cho một số đối tượng làm ruộng thờ, bộ phận còn lại dùng

để phát canh cho dân sở tại hoặc các vùng lân cận cày cấy như ruộng tư Từ năm 1822

Trang 39

Minh Mạng cho chuyển dần quan điền, quan trại thành ruộng đất công làng xã và đến giữa thế kỷ XIX thì quan điền, quan trại về cơ bản không còn tồn tại nữa

Đồn điền, ngoài một số bộ phận ruộng đất có từ trước, còn phần lớn là thành quả

của công cuộc khai hoang dưới triều Nguyễn Địa bàn phân bố chủ yếu ở vùng Nam

Bộ

Ruộng đất công làng xã, về nguyên tắc thuộc sở hữu Nhà nước Tuy nhiên xét

trên nhiều khía cạnh, làng xã là người chiếm hữu, cũng đồng thời là người đồng sở hữu loại ruộng đất này Nhìn chung vào đầu thế kỷ XIX, ruộng đất công làng xã trên

toàn quốc thu hẹp nhiều “Theo Sĩ hoạn tu tri lục của Nguyễn Công Tiệp vào đầu thế

kỷ XIX tổng diện tích đất công tư cả nước là 3.396.584 mẫu, trong đó ruộng công, ruộng quan, ruộng muối 580.363 mẫu, chiềm 17,08%” [31, tr 30]

Tuy nhiên tỷ lệ ruộng đất công trên phân bố không đều ở các địa phương và các vùng miền trong cả nước Tính chất phân bố không đều của ruộng đất công xuất phát

từ nhiều nguyên nhân địa lý và lịch sử khác nhau Ở các khu vực đất đai đã được khai phá lâu đời sự thu hẹp ruộng đất công chủ yếu là do quá trình tư hữu hóa Vì thế vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ và các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tỷ

lệ ruộng công lúc bấy giờ đã rất thu hẹp Các tỉnh từ Quảng Bình vào đến Thừa Thiên Huế hầu hết các làng xã mới được thành lập trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam Ở từng miền, từng địa phương hẹp, sự phân bố tỉ lệ công điền không đều do những đặc điểm của từng miền, từng địa phương đó quy định

Nhìn chung tỷ lệ ruộng đất công thu hẹp chứng tỏ loại hình sở hữu này không đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế đất nước vào đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên sự phân bố không đều của ruộng công cho thấy vai trò của nó ở từng nơi, từng địa phương khác nhau Có những vùng, có những làng ruộng công vẫn là tư liệu sản xuất chủ yếu của cư dân, nhưng ở nhiều nơi khác ruộng công đã mất hoàn toàn vai trò trong đời sống xã hội

Thứ hai, tình hình bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân

Đầu thế kỷ XIX sở hữu tư nhân về ruộng đất đã chiếm vị trí bao trùm: “Theo Nguyễn Công Tiệp là 2.816.221 mẫu, chiếm tỷ lệ 82,92%” [31, tr 35]

Tuy nhiên, cũng giống như ruộng đất công sự phân bố tỷ lệ ruộng đất tư giữa các vùng miền là không giống nhau Ở miền Bắc, trên địa bạn tỉnh Hà Đông ruộng đất tư chiếm tỉ lệ 65,34% tổng diện tích đất các loại nhưng phân bố không đều giữa các huyện, giữa các tổng Trên địa bàn tỉnh Thái Bình tỉ lệ ruộng đất tư cũng phân bố không đều Khu vực phái Tây huyện Thụy Anh 75,2%, huyện Kiến Xương 37,67% Vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ sở hữu tư nhân phát triển rất mạnh, đặc biệt là vùng Nam Bộ Tỉnh Bình Định vào những năm 1839 - 1840 ruộng đất công chỉ còn khoảng

Trang 40

7.000 mẫu, còn lại hầu hết là tư điền Tại Nam Bộ, tỷ lệ tư điền lên tới 92% tổng số các loại ruộng đất

Như vậy, đến đầu thế kỷ XIX sở hữu làng xã về ruộng đất nhìn chung rất thu hẹp

Sở hữu tư nhân đã chiếm vị trí ưu thế chi phối các quan hệ ruộng đất Trong sở hữu tư nhân đã có sự phân hóa nhất định Phân hóa xã hội, phân hóa giai cấp có xu hướng ngày một đậm nét

Do những chính sách khai hoang, mở rộng diện tích của Nhà nước nên diện tích nông nghiệp đã được mở rộng một cách đáng kể Trong những năm được mùa, thịnh trị, người nông dân được sống ổn định ở quê hương, có cơm ăn, áo ấm, có mảnh ruộng

để cày dù đó là công hay tư

Tuy vậy, trong những năm mất mùa, đói kém, thiên tai hoành hành, thêm vào đó

là chế độ thuế khóa có phần hà khắc của nhà Nguyễn đã làm cho đời sống của nhân dân ngày càng bấp bênh và cực khổ Tình trạng dân đói kém phải bỏ đi phiêu tán đã đưa đến một diện tích lớn ruộng đất hoang phế không người cày cấy Nó đã ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất nông nghiệp trong nước và làm thất thu đến ngân quỹ Nhà nước Dân nghèo mất đất, không có ruộng để làm ăn sinh sống, một bộ phận lớn thì phải sống nhờ vào canh tác ruộng đất công hoặc làm thuê cày mướn cho địa chủ Tình hình kinh tế suy đốn, nông nghiệp thì khủng hoảng do lực lượng sản xuất bị phá hoại, giai cấp thống trị bóc lột thậm tệ lại thêm thiên tai lũ lụt, đói kém hoành hành đe dọa cuộc sống của người nông dân, sự bất bình sâu sắc của những người dân nghèo bị bần cùng phá sản với giai cấp thống trị đã đẩy họ đến một con đường duy nhất là tập hợp nhau lại và đứng dậy đấu tranh

Nhìn chung, ở nửa đầu thế kỷ XIX, chế độ tư hữu về ruộng đất Việt Nam đã phát triển đến trình độ đỉnh cao Tư hữu hóa về ruộng đất vẫn còn là một xu thế, dù nó đã ở những bước đi cuối cùng Phân hóa và tập trung ruộng đất dù ở nơi này hay nơi khác

đã đạt trình độ cao Nhưng nhìn chung, trên bình diện cả nước vẫn chưa đạt tới mức triệt để và sâu sắc

2.2.2 Vài nét về vua Minh Mạng

Vua Minh Mạng húy là Hiệu, lại có tên là Đảm, sinh ngày 23 tháng giêng năm Tân Hợi (1789) tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc Chiến tranh Tây Sơn - Chúa Nguyễn (1787-1802) Ông tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu, Ông là con thứ tư của vua Gia Long Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu Trần Thị Đang

Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Hoàng thái tử Đảm lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mạng (có nguồn tài liệu gọi là Minh Mệnh), khi ấy 30 tuổi

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
2. Huỳnh Công Bá (2011), Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam cổ trung đại
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2011
3. Đỗ Bang (2000), Chân dung các vua Nguyễn - tập 1, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung các vua Nguyễn - tập 1
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2000
4. Đặng Xuân Bảng (2000), Việt sử cương mục tiết yếu, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử cương mục tiết yếu
Tác giả: Đặng Xuân Bảng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
5. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1998), Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
6. Phan Huy Chú (2008), Lịch triều hiến chương loại chí. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng (1998), Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 1998
8. Phan Đại Doãn (1997) “Vài ý kiến về cải ách của Lê Thánh Tông”, Tạp chí NCLS - số 6/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về cải ách của Lê Thánh Tông”," Tạp chí NCLS
9. Trần Hữu Duy - Nguyễn Phong Nam (chủ biên) (1997), Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn
Tác giả: Trần Hữu Duy - Nguyễn Phong Nam (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
10. Nguyễn Khắc Đạm (1962) “Vai trò của Nhà nước về vấn đề khai hoang trong lịch sử Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử - số 39 /1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước về vấn đề khai hoang trong lịch sử Việt Nam”, "Tạp chí nghiên cứu lịch sử
11. Nguyễn Đình Đầu (1992), Chế độ công điền trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kì lục tỉnh, Hội sử học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ công điền trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kì lục tỉnh
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Năm: 1992
12. Trần Văn Hà (1997), Khuyến nông học, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nông học
Tác giả: Trần Văn Hà
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
13. Lâm Quang Huyền (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Lâm Quang Huyền
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
14. Đinh Văn Kiên (2005), Thành tựu khai hoang ruộng đất thời vua Minh Mạng, Khóa luận tốt nghiệp, chuyên nghành lịch sử, Đại học Phú Xuân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu khai hoang ruộng đất thời vua Minh Mạng
Tác giả: Đinh Văn Kiên
Năm: 2005
15. Phan Huy Lê (1959), Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (thế kỷ XV), NXB Văn Sử địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (thế kỷ XV)
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Văn Sử địa
Năm: 1959
16. Phan Huy Lê (1981),“Chế độ ban cấp ruộng đất thời Lê sơ và tính chất sở hữu của loại ruộng đất thế nghiệp”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử - số 4/1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ban cấp ruộng đất thời Lê sơ và tính chất sở hữu của loại ruộng đất thế nghiệp”," Tạp chí nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Phan Huy Lê
Năm: 1981
17. Ngô Sĩ Liên (2004) Đại Việt Sử Ký toàn thư, tập II, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử Ký toàn thư, tập II
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
18. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2011), Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, NXB Đại học sư phạm - Trung tâm văn hóa Tràng An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm - Trung tâm văn hóa Tràng An
Năm: 2011
19. Nhiều tác giả (1997) Lê Thánh Tông con người và sự nghiệp (1442 - 1497), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông con người và sự nghiệp (1442 - 1497)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Vũ Huy Phúc (1978) “Mấy ý kiến về chính sách nông nghiệp của Nhà nước trung đại Việt Nam”, Tạp chí NCLS - số 3/1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về chính sách nông nghiệp của Nhà nước trung đại Việt Nam”, "Tạp chí NCLS

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w