1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường thpt

99 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra còn có những đóng góp về cách ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác hiệu quả bản đồ lịch sử của TS.Nguyễn Mạnh Hưởng, ĐH Sư Phạm Hà Nội như: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bả

Trang 2

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử là những gì đã diễn ra, có thật và tồn tại khách quan trong quá khứ Do đó,

để học sinh đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn thì nhất thiết phải tạo ra trong nhận thức học sinh những hình ảnh cụ thể về nhân vật, sự kiện, tức phải tạo biểu tượng lịch sử Tạo biểu tượng lịch sử không chỉ dừng ở những hình ảnh sự kiện, nhân vật mà còn phải xác định cho được không gian diễn ra sự kiện “Xác định được không gian diễn ra các sự kiện lịch sử, qua đó học sinh nhận thức đúng vai trò của hoàn cảnh địa lí, mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội loài người” [24;tr.52] Thế nhưng thực tế học sinh hiện nay thường chỉ nắm nguyên nhân, diễn biến, kết quả các sự kiện lịch sử mà ít nắm được không gian diễn ra sự kiện hay vẫn còn tình trạng nhầm lẫn giữa các địa danh lịch sử Cũng chính vì sự kiện lịch sử không thể lặp lại, không thể tái hiện ở phòng thí nghiệm nên việc tạo biểu tượng địa điểm diễn ra sự kiện lịch sử gặp rất nhiều khó khăn Một trong những cách tốt nhất để tạo biểu tượng không gian diễn ra sự kiện trong bộ môn lịch sử chính là ứng dụng công nghệ thông tin Công nghệ thông tin không chỉ đem lại sự sinh động, hấp dẫn cho một tiết học mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất

để giúp học sinh hình dung chính xác sự kiện lịch sử xảy ra trong không gian như thế nào cũng như nhận thức đúng vai trò của nó

Nhiều bài báo, trang viết, sáng kiến kinh nghiệm, những bản tham luận trong các hội thảo khoa học đã đưa ra nhiều biện pháp đổi mới phương pháp giảng dạy lịch sử Trong

đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào học tập được Bộ giáo dục và đào tạo xem là một trong những phương pháp tích cực và hiệu quả nhất cho nhiều bộ môn, kể cả lịch sử

Và thực tiễn trong thời gian gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học không còn là điều lạ lẫm, mới mẻ ở các trường phổ thông nhưng ứng dụng công nghệ thông tin như thế cho hiệu quả và làm sao để khai thác tối ưu công nghệ thông tin vào các bài dạy lịch sử thì không phải ai cũng thực hiện được

Trang 3

Trong chương trình lịch sử THPT, lịch sử lớp 11 (chương trình chuẩn) bao gồm phần lịch sử thế giới cận đại tiếp theo và lịch sử thế giới hiện đại từ 1917 – 1945; phần lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX Đây là những giai đoạn lịch sử với nhiều biến động lớn, các sự kiện lịch sử quan trọng gắn với những hoàn cảnh địa lý khác nhau khó nhớ Do đó, giai đoạn này giáo viên cần tận dụng, khai thác tối ưu các một

hệ thống tranh ảnh, lược đồ phong phú và đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế một bài học lịch sử hiệu quả cho học sinh

Xuất phát từ lí luận và thực tiễn đó, chúng tôi quyết định chọn: “Ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT (lớp 11 – chương trình chuẩn) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu Với đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ đem lại những biện pháp hữu ích đóng góp vào đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay ở trường phổ thông Đồng thời, qua đề tài này tôi hi vọng bản thân sẽ được rèn luyện thêm những kĩ năng để thực hiện tốt đợt thực tập sư phạm sắp đến cũng như có thêm nhiều kinh nghiệm bổ ích cho việc đứng lớp sau này

2 Lịch sử vấn đề

Sử dụng các đồ dùng trực quan đóng một vai trò rất lớn trong việc ghi nhớ và tiếp thu kiến thức của học sinh Nhận thức được vai trò của các phương tiện dạy học nói chung và ứng dụng công nghệ thông tin nói riêng trong giờ học lịch sử đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này trong các giáo trình, tạp chí giáo dục, tạp chí Nghiên cứu giáo dục, đề tài nghiên cứu khoa học, các khóa luận tốt nghiệp…

N.G.Đairi, tác giả của cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” (1973) đã nêu lên nhiều vấn đề quan trọng mang tính chất lý luận về dạy học lịch sử, trong đó có nhấn mạnh đến vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học

Các nhà giáo dục ở nước ta cũng rất coi trọng việc sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng các thiết bị và phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy học Trong cuốn sách “Đồ dùng trực quan trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp II” của Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá (1975), “Phương tiện kĩ thuật và đồ dùng dạy học” của Nguyễn Xuân Cương (1995), “Các con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường

Trang 4

phổ thông” của Nguyễn Thị Côi (2008)… đã trình bày ở mức chung nhất mang tính chất

lý luận về vai trò, ý nghĩa, các nguyên tắc và cách sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử

Về vấn đề tạo biểu tượng không gian diễn ra sự kiện lịch sử thì trong giáo trình

“Phương pháp dạy học lịch sử” của GS Phan Ngọc Liên (chủ biên), xuất bản năm 2003 đã nêu khái quát về biểu tượng lịch sử, các loại biểu tượng lịch sử và các biện pháp tạo biểu tượng lịch sử Trong đó, GS nêu rõ: “Tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lí nơi xảy ra sự kiện là yêu cầu bắt buộc trong dạy học lịch sử”

Nguyễn Đức Cương trong bài “Dạy học về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử trong bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông”, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 296/2012 cũng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện và nêu lên một số biện pháp để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Ngoài ra còn có những đóng góp về cách ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác hiệu quả bản đồ lịch sử của TS.Nguyễn Mạnh Hưởng, ĐH Sư Phạm Hà Nội như: “Thiết

kế và sử dụng hệ thống bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10 Trung học phổ thông (chương trình chuẩn)”- Đề tài nghiên cứu khoa học trường ĐH Sư phạm Hà

Nội; “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh khai thác hiệu quả lược đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 9 (69), tháng

11/2011 Nhưng trong các công trình này, tác giả mới chủ yếu nêu lên những biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong việc khai thác các kênh hình trong SGK, đặc biệt là bản đồ lịch sử

Trong “Website giúp dạy và học tốt môn Lịch sử” – Đề tài Nghiên cứu khoa học của sinh viên Nguyễn Văn Minh Đức, Phạm Lê Minh Tân (2012), khoa Tin, Đại học Sư phạm Đà Nẵng cũng đã đề cập đến việc ứng dụng google Maps trong việc tái tạo các bản

đồ lịch sử

Nhìn chung, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về tạo biểu tượng không gian diễn ra sự kiện trong dạy học lịch sử (lớp 11 – chương trình

Trang 5

chuẩn) Những bài viết, nghiên cứu chỉ đề cập một cách chung chung về sử dụng công nghệ thông tin vào các kênh hình hoặc chỉ tập trung cụ thể một khía cạnh của biểu tượng không gian lịch sử là tạo lược đồ chứ chưa có một công trình nào hoàn chỉnh và hệ thống nhất Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, bài viết trên là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài này

3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT (lớp 11 – chương trình chuẩn)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu của đề tài: các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Thời gian: chương trình lịch sử lớp 11 (chương trình chuẩn)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử nói chung và trong việc tạo biểu tượng không gian diễn ra sự kiện lịch sử nói chung

- Tìm hiểu nội dung chương trình lịch sử lớp 11 (cơ bản) để xác định vị trí, mục tiêu, kiến thức cơ bản và các sự kiện lịch sử, những kênh hình cần xây dựng biểu tượng không gian cho học sinh dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Trang 6

- Đề xuất các biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng không gian diễn ra sự kiện lịch sử, góp phần vào việc hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh lớp

11 THPT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu về lý luận dạy học, quan điểm và định hướng về giáo dục của Đảng, phương pháp dạy học lịch sử, đặc biệt là những lý luận dạy học liên quan đến việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học

- Tìm hiểu các nguồn tài liệu: các tạp chí (tạp chí Nghiên cứu giáo dục, tạp chí, tạp chí Giáo dục, tạp chí Tin học và Nhà trường), các khóa luận tốt nghiệp, các đề tài nghiên cứu khoa học, các báo cáo về đổi mới phương pháp dạy học, các sáng kiến kinh nghiệm

về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử

- Điều tra cơ bản: khảo sát, điều tra thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong tạo biểu tượng không gian diễn ra sự kiện ở lớp 11 của các giáo viên và mức độ nắm bắt các

sự kiện lịch sử của các học sinh qua các tiết dạy đó

- Thực nghiệm sư phạm: tiến hành dạy thực nghiệm tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để rút ra kết luận

- Điều tra thực nghiệm: tiến hành điều tra học sinh sau tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin thông qua bảng câu hỏi để tìm hiểu mức độ hứng thú và khả năng nắm các biểu tượng không gian lịch sử của học sinh

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, thực nghiệm và tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 2: Hệ thống các sự kiện và biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong chương trình lịch sử lớp 11 – cơ bản

Trang 7

Chương 3: Một số hình thức và biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT (lớp 11 – chương trình chuẩn) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 8

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan

1.1.1.1 Công nghệ Thông tin và Công nghệ thông tin - truyền thông

Trước khi thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện, người ta đã biết đến và sử dụng thuật ngữ “Tin học” (tiếng Pháp là Informatique) vào cuối những năm 70 của thế kỉ

XX Sang những năm 90, thuật ngữ “Công nghệ thông tin” (tiếng Anh gọi là Information Technology, viết tắc IT) xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến, thân thuộc trong đời sống xã hội

Ở nước ta, thuật ngữ "Công nghệ thông tin” (CNTT) được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT trong những năm

90: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công

cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác

và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội Từ khi có Nghị quyết 49/CP của Chính

phủ thì thuật ngữ này bắt đầu được dùng phổ biến trong các mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có ngành giáo dục

Bước sang những năm đầu thế kỉ XXI, thế giới bắt đầu sử dụng “Công nghệ Thông tin – Truyền thông” (tên tiếng Anh đầy đủ và viết tắt là Information and Communication Technology – ICT) Đây là thuật ngữ mới, nhấn mạnh sự không thể tách rời hiện nay của CNTT theo định nghĩa trên với công nghệ truyền thông, chủ yếu là viễn thông, trong thời đại Internet phổ cập toàn cầu hiện nay [6;tr.3]

ICT là: Bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, liên lạc trung gian cũng như là các phần mềm cần thiết Mặt khác, ICT bao gồm IT cũng như là điện thoại, phương tiện

Trang 9

truyền thông, tất cả các loại xử lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải và mạng và các chức năng giám sát [b]

1.1.1.2 Biểu tượng lịch sử - Biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện lịch sử

Theo “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông” thì biểu tượng lịch sử là: hình ảnh về một sự kiện quá khứ khách quan được tạo nên bằng nhận thức cảm tính trên cơ sở tài liệu chính xác, bằng phương tiện nghe nhìn (trình bày miệng, đồ dùng trực quan…)

Như vậy, trong dạy học lịch sử, biểu tượng lịch sử: là những hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí,… được phản ánh trong óc học sinh những nét chung, điển hình nhất [24;tr.52]

Biểu tượng lịch sử được phân ra thành nhiều loại Theo Phan Ngọc Liên thì các loại biểu tượng lịch sử tạo ra cho học sinh phổ thông được phân thành: Biểu tượng về hoàn cảnh địa lí, biểu tượng về nền văn hóa vật chất, biểu tượng về nhân vật chính diện cũng như phản diện, biểu tượng về thời gian, biểu tượng về những quan hệ xã hội của con người

Bất cứ một sự kiện lịch sử nào cũng diễn ở một địa điểm, không gian xác định Do

đó, ta có thể hiểu biểu tượng không gian xảy ra sự kiện là hình ảnh về điều kiện địa lí, địa điểm nơi diễn ra sự kiện lịch sử nào đó được tái hiện trong óc học sinh những nét chung

nhất, điển hình nhất Biểu tượng không gian có thể là một khu vực rộng lớn, như chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc diễn ra trong phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa [24;53]

1.1.1.3 Bản đồ giáo khoa – bản đồ giáo khoa lịch sử

Theo từ điển Tiếng Việt, bản đồ là hình vẽ thu nhỏ dùng các kí hiệu, các quy ước để

mô tả một phần hay toàn bộ tình trạng phân bố của các hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội

U C Bilich và A C Vasmuc (chuyên gia về giáo dục) đã định nghĩa bản đồ giáo

khoa là “những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến việc đào tạo các chuyên gia Bản đồ giáo khoa được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, nhưng trước hết là địa lí và lịch sử” [9;tr.7]

Trang 10

Vậy thì bản đồ lịch sử là gì? Theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: “Bản đồ lịch

sử là loại bản đồ (thế giới hay Việt Nam) được vẽ với tỷ lệ nhỏ (treo tường, trong sách giáo khoa, át lát…) phản ánh một giai đoạn, một hiện tượng, một sự kiện lịch sử”

Từ định nghĩa về bản đồ giáo khoa nêu trên, ta cũng có thể hiểu bản đồ lịch sử là những bản đồ sử dụng trong dạy – học lịch sử Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm diễn ra sự kiện, đồng thời giúp học sinh giải thích các mối liên hệ nhân quả của hiện tượng lịch sử, tính quy luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử, giúp củng cố và ghi nhớ kiến thức đã học

1.1.1.4 Phần mềm – Phần mềm hỗ trợ dạy học

Phần mềm (software) là một tập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết theo một bài toán nào đó

Phần mềm hỗ trợ dạy học: “là loại phần mềm được thiết kế để sử dụng trong lớp, cho phép mô phỏng, minh họa nhiều quá trình, hiện tượng trong xã hội, trong thực tế mà chúng ta không thể quan sát trực tiếp được trong điều kiện vốn có nhà trường, không thể hoặc khó có thể thực hiện nhờ các phương tiện khác…”[a]

Phần mềm dạy học có thể biểu thị thông tin rất đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau như dạng văn bản, đồ thị, bản đồ, các thí nghiệm mô phỏng, một đoạn phim… Các phần mềm hỗ trợ dạy học thường đã được các nhà lập trình, nghiên cứu giáo dục chọn lọc, thiết kế, sắp xếp một cách tối ưu nhằm phát huy thế mạnh của môn học Chúng bao gồm các đơn vị tri thức, các bài tập từ đơn giản đến phức tạp cho phép người học lĩnh hội tri thức thông qua công cụ tương tác giữa giáo viên và học sinh

Sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy – học là rất cần thiết đối với cả giáo viên và học sinh nhằm ứng dụng CNTT vào dạy học để nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử Nó cho phép người dạy lựa chọn các tài liệu cần thiết phục vụ yêu cầu giảng dạy, có khả năng trình bày một cách trực quan, tinh giảng và dễ hiểu đồng thời giúp người học nắm bắt nội dung nhanh chóng, sâu sắc, áp dụng vào thực tiễn cuộc sống

1.1.2 Quan niệm về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử

1.1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước

Trang 11

Từ những năm 70 trở lại đây, công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ và lan rộng nhanh chóng trong đời sống xã hội vì những tiện ích của nó Việc ứng dụng công nghệ thông tin ngày nay đã trở nên phổ biến trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, kể cả ngành giáo dục - đào tạo Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ sớm

Ngày 4/8/1993, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 49/CP về “Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90” Đây là văn bản pháp lí để thực hiện chiến lược ứng dụng CNTT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và “xã hội hóa giáo dục” Trong đó, Đảng đã nêu rõ: phải đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo…Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học Như vậy, bước đầu, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục và thực tiễn

Từ năm 2000 trở lại đây, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở mọi cấp học, ngành học Tiêu biểu trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001 đã chỉ rõ:

“Hiện đại hóa trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành Nhanh chóng áp dụng CNTT vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lí” [2; tr.27]

Từ năm 2001-2002, Bộ GD – ĐT đã liên tiếp gởi nhiều Chỉ thị, Công văn, Báo cáo cho các Sở GD – ĐT, các trường đại học, các trường phổ thông yêu cầu đẩy mạnh phong trào ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp giáo dục Chỉ thị số 49/CT – BGDĐT về

nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học trong năm 2006 – 2007 yêu cầu “chấm dứt tình trạng “đọc – chép”; Công văn số 9584/BGDĐT – CNTT của Bộ GD – ĐT gửi cho các

Sở GD – ĐT, các trường đại học, cao đẳng sư phạm, các khoa sư phạm hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007 – 2008 về CNTT và quyết định phát động năm học 2008 –

2009 là năm học “Công nghệ thông tin” [4; tr.1 – 8],…

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020”, để hướng tới mục tiêu

“xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học và dân tộc”, bản chiến lược đã đưa ra 11 giải pháp mang tính đột phá, trong đó, ở giải pháp thứ 5, Đảng và Nhà nước xác

Trang 12

định: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học Đến năm 2015 có 80% giáo viên phổ thông, 100% giáo viên, giảng viên các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học Tăng cường thanh tra về đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá Đảm bảo đến năm 2020 có 100% giáo viên, giảng viên từ mầm non đến đại học được đánh giá là

áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới” [2;tr18]

Tất cả những chỉ thị, định hướng trên cho thấy Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm rất lớn về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Quan điểm của Đảng thể hiện tính cấp thiết phải ứng dụng CNTT vào đời sống xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng

1.1.2.2 Quan điểm của các nhà giáo dục

Với quan điểm coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, các giáo viên ở các trường THPT hiện nay đã tăng cường việc ứng dụng chúng trong các tiết dạy

để nâng cao tính hứng thú và hiệu quả của bài học

Trên trang báo mạng An ninh thủ đô, trong bài viết “Cần đổi mới phương pháp dạy

Lịch sử”, đăng ngày 11/4/2013 của nhà giáo Lê Sĩ Tứ, thầy cho rằng người giáo viên dạy lịch sử, tức những người trực tiếp hướng dẫn các em học trên lớp cần tìm tòi, cải tiến và

có những đột phá trong phương pháp dạy học Thầy đưa ra nhiều ý kiến đổi mới phương pháp dạy học của bản thân và nhiều người, trong đó có ý kiến của ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam với sáng kiến đề nghị Bộ GD-ĐT đầu

tư xây dựng một trang mạng riêng nhằm mục đích hỗ trợ dạy, học lịch sử Ở đó cung cấp

tư liệu, hình ảnh, bản đồ… để người dạy và học tham khảo một cách chủ động mà không

bị khuôn ép vào SGK

Tác giả Ngọc Anh trong bài viết “Có nhiều bất cập trong dạy và học môn Lịch sử” trên báo mạng Công an Nghệ An đã đưa ra nhiều ý kiến trái chiều về nguyên nhân thực trạng học sinh chán học môn Lịch sử Tác giả cũng nêu những giải pháp mà các trường

THPT Nghệ An hiện nay đang thực hiện, trong đó, tác giả nhận định: “Việc dạy học bằng giáo trình điện tử với những hình ảnh sinh động, ấn tượng, sử dụng các hình thức bổ trợ như sơ đồ, lược đồ tư duy cộng với những chuyến đi thực tế tham quan các địa danh, di

Trang 13

tích lịch sử đã làm cho học sinh thích thú hơn với môn học vốn dĩ được xem là khô khan này” [c]

Theo nhận định của các giáo viên trường ĐHSP Hà Nội thì việc ứng dụng CNTT vào bộ môn lịch sử còn nhiều hạn chế, chưa đem kết quả gì đáng kể Họ cho rằng có nhiều lí do dẫn đến tình trạng như vậy Có thể là do đánh giá chưa đúng đắn về vai trò của CNTT đối với bộ môn lịch sử, sự thiếu trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại cho các trường học, hoặc có trang bị nhưng chưa đồng bộ, Song, nguyên nhân cơ bản mà họ đưa

ra là “sự thiếu hiểu biết” của đội ngũ giáo viên lịch sử về CNTT [a]

Tác giả trong bài báo cáo: “Nâng cao hiệu quả của bài học lịch sử ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT” trong Hội thảo khoa học Quốc gia "Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng DHLS Việt Nam ở trường phổ thông hiện nay" diễn tại Hà Nội, ngày 10/9/2012 đã đưa ra nhận xét: Có nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học LS

ở trường THPT, như sử dụng sách giáo khoa (SGK), sử dụng hệ thống câu hỏi, dùng lời sinh động, giàu hình ảnh, sử dụng kênh hình LS để phát triển các hoạt động nhận thức độc lập của HS,… trong đó ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) thật hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả bài học và đổi mới PPDHLS ở trường THPT [35;tr.224]

Nhìn chung, xã hội hiện nay rất quan tâm đến cách dạy và học môn Lịch sử và trên hết, hầu như tất cả các nhà giáo dục đều xem ứng dụng CNTT là một trong những biện pháp tích cực trong đổi mới phương pháp dạy và học môn Lịch sử

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ thông tin để hình thành biểu tƣợng không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử

Trong cuốn “Phương pháp dạy học” do Phan Ngọc Liên chủ biên, nhóm tác giả đã

đưa ra mục tiêu chung của bộ môn lịch sử: “Xuất phát từ mục tiêu đào tạo chung và vai trò, ý nghĩa của bộ môn, dạy học lịch sử ở trường phổ thông phải cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở đó giáo dục cho học sinh những tư tưởng, tình cảm đúng đắn (niềm tin, lý tưởng, truyền thống dân tộc, lòng yêu nước, lòng biết ơn, kính yêu các bậc tiền bối…) và rèn luyện các năng lực nhận thức, năng lực hành động, kỹ năng kỹ xảo Tức

Trang 14

là bộ môn lịch sử ở trường phổ thông phải thực hiện ba nhiệm vụ: bồi dưỡng nhận thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và phát triển học sinh.” [24;tr.88-89] Từ mục tiêu

chung đó, ta thấy được vai trò, ý nghĩa của ứng dụng CNTT để hình thành biểu tượng không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử với các mặt sau:

1.1.3.1 Về mặt giáo dưỡng

Dạy học lịch sử cũng như tất cả các bộ môn khác, trước hết đều phải cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, khoa học và phù hợp nhất với thực tiễn đất nước Do đặc trưng của bộ môn lịch sử không thể trực tiếp tri giác được các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra, không thể tái hiện lịch sử trong phòng thí nghiệm, do đó việc tái tạo lịch sử bằng cách tạo biểu tượng đúng đắn, sinh động về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, đặc biệt là biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện vừa là nguyên tắc vừa là một biện pháp trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

ối với giáo viên:

Việc ứng dụng Công nghệ thông tin không hạ thấp vai trò của người đứng lớp mà còn làm tăng hiệu quả bài học, nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm

sử dụng công nghệ trong dạy học

Một sự kiện, hiện tượng lịch sử thường được diễn ra trong một hoàn cảnh không gian nhất định Để thuyết giảng về một sự kiện lịch sử, yêu cầu bắt buộc người giáo viên phải giới thiệu hoàn cảnh địa lý nơi diễn ra sự kiện và làm nổi bật vai trò của nó đối với diễn biến, kết quả sự kiện Để thực hiện công việc đó, giáo viên thường sử dụng các đồ dùng trực quan truyền thống như bản đồ, lược đồ, sa bàn hay tranh ảnh, Những biện pháp truyền thống này mang lại một hiệu quả nhất định trong tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện Tuy nhiên, khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin vào vấn đề này một cách hợp lý sẽ làm tăng tính hấp dẫn và hiệu quả sư phạm của một bài dạy lịch sử hơn rất nhiều so với các biện pháp truyền thống Việc ứng dụng phần mềm Google Maps, Google Earth vào thiết kế các dạng bản đồ lịch sử, địa lý vừa hiệu quả vừa đơn giản; sử dụng các phần mềm Photoshop, paint, có thể cắt, chỉnh sửa, phóng ảnh một cách dễ dàng, tạo nên những hình ảnh đẹp, chính xác lại có thể tiện lợi đưa vào các bài giảng PowerPoint trên lớp

Trang 15

Một tiết học có 45 phút nhưng thường thì việc truyền giảng kiến thức mới chỉ có khoảng 35 phút, nên đối với những bài cần giảng giải với lược đồ, hình ảnh rất dễ bị cháy thời gian khi sử dụng các biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan truyền thống Do đó, khi đưa hình ảnh trực quan vào các bài giảng điện tử sẽ tiết kiệm được một khoảng thời gian hoạt động tay chân của giáo viên một cách đáng kể, chẳng hạn, một cú lick chuột chưa đến 1 giây sẽ nhanh hơn rất nhiều lần so với việc treo một lược đồ lên bảng

Việc ứng dụng CNTT sẽ hỗ trợ thêm các phương pháp dạy học truyền thống để hoạt động dạy học đạt chất lượng và hiệu quả hơn vì cùng một lúc, giáo viên sẽ thực hiện được các nhiệm vụ: cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng và đặt cơ sở cho việc hình thành khái niệm

ối với người học:

Lịch sử xã hội loài người rất phong phú, đa dạng, phức tạp và tồn tại khách quan Các em học lịch sử là học những cái đã từng tồn tại nhưng nay không hiện có, nó không lặp lại và bản thân chúng ta cũng không thể dựng lại một cách trọn vẹn Học sinh không

thể “trực quan sinh động” theo kiểu các môn học tự nhiên, mà phải thông qua biểu tượng

lịch sử để hình thành khái niệm, nắm được quy luật, bản chất và các mối liên hệ của sự kiện, hiện tượng lịch sử Nội dung của những hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu Vì thế, tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện là cơ sở để đi sâu tìm hiểu bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất sự kiện

Trong dạy học lịch sử, ưu điểm nổi bật của việc ứng dụng công nghệ thông tin so với phương pháp giảng dạy truyền thống là tạo được môi trường đa phương tiện, trong đó

có sự kết hợp tranh ảnh, văn bản, biểu đồ, lược đồ, hình ảnh video với âm thanh theo kịch bản đã vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa trong quá trình dạy học Theo nghiên cứu của Phòng thí nghiệm đào tạo quốc gia tại Bethel, Maine (Mĩ) thì độ bền kiến thức của người học sau 6 tháng sẽ là 10% (đọc), 20% (nghe), 30% (nhìn), 50% (làm), 70% (thảo luận), đặc biệt nếu được học tập trong môi trường công nghệ, đa phương tiện (Multimedia) thì độ bền của kiến thức của người học sau 6 tháng là 90% [17;20] Do đó khi quan sát những hình ảnh lịch sử được thiết kế sinh động, hấp dẫn và phóng to trên

Trang 16

màn ảnh lớn với sự hỗ trợ của CNTT, học sinh sẽ tham gia vào quá trình nhận thức chủ động, tích cực Vì khi phối hợp phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan và phương pháp dùng lời nói, dưới sự hỗ trợ của CNTT và sự hướng dẫn của giáo viên, cùng một lúc, các

em sẽ huy động được nhiều giác quan để học tập, do đó, việc ghi nhớ sự kiện, địa danh

sẽ tốt hơn, tái hiện quá khứ dễ dàng hơn

Đối với bài học lịch sử, nhất là những bài học có nhiều sự kiện như các cuộc khởi nghĩa mà giáo viên không sử dụng đồ dùng trực quan thì dù giáo viên có dạy hay, lời nói

có sinh động, giàu hình ảnh đến mấy đi chăng nữa cũng khó có thể tạo cho học sinh những biểu tượng cụ thể, chính xác về quá khứ Ví dụ khi dạy bài 21: “ Phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam cuối thế kỉ XIX”, khi giảng về cuộc khởi nghĩa Hương Khê, Yên Thế bắc buộc người giáo viên phải tạo biểu tượng về căn cứ chính Hương Khê, địa bàn hoạt động của nghĩa quân Hương Khê hay địa thế của vùng Yên Thế

em hình dung rõ được vị trí, không gian nơi diễn ra những cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế,…các em sẽ hiểu rõ hơn cách tác chiến linh hoạt, sáng tạo của nhân dân và từ đó hình thành trong các em những tình cảm mến phục, lòng quý trọng đối với những người nông dân Việt Nam cần cù, dũng cảm Như thế, ứng dụng CNTT vào dạy học góp phần hình thành nên những phẩm chất, đạo đức cho học sinh THPT

1.1.3.3 Về mặt phát triển

Không chỉ có vai trò về mặt giáo dục, giáo dưỡng, ứng dụng CNTT vào các bài dạy lịch sử còn tăng cường hoạt động lao động của người dạy và người học Việc sử dụng công nghệ thông tin, việc mài mò thiết kế các bài giảng điện tử, việc chỉnh sửa, cắt dán ảnh sao cho nhanh gọn, khoa học, hợp lí, đẹp mắt và đáp ứng yêu cầu bài học lịch sử

Trang 17

không chỉ giúp bản thân giáo viên phát triển kĩ năng của mình mà còn kích thích sự tìm tòi, học hỏi sáng tạo của các em học sinh

Trong học tập lịch sử, giáo viên phải rèn luyện cho học sinh các năng lực nhận thức, trong đó quan trọng nhất là tư duy và thực hành trên cơ sở hoàn chỉnh, nâng cao những năng lực đã hình thành từ THCS Từ những biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện thông qua việc sử dụng CNTT, học sinh sẽ được bồi dưỡng tư duy biện chứng, biết so sánh, đối chiếu, nhận xét, liên hệ thực tiễn và rút ra những bài học lịch sử Đồng thời, học sinh được rèn luyện các thao tác sử dụng phương tiện dạy học, sử dụng đồ dùng trực quan, kỹ năng quan sát và trình bày miệng, phát triển trí tưởng tượng và tư duy ngôn ngữ của học sinh Ví dụ, khi trình chiếu lược đồ nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Hương Khê, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát các kí hiệu trên lược đồ để biết được căn cứ chính của nghĩa quân Hương Khê là nằm ở ngay tại Hương Khê, ở vị trí con sông Ngàn Trươi Các

em quan sát lược đồ để nắm sơ lược địa thế của vùng đất Hương Khê, sự phân bố của các thứ quân để thấy được sự chuẩn bị chu đáo của nghĩa quân và rút ra được đặc điểm của cuộc khởi nghĩa này

Như vậy, với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục, phát triển nêu trên, ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú học tập cho học sinh Tuy nhiên, khi ứng dụng CNTT, giáo viên cần chú ý xây dựng bài giảng sao cho phù hợp với những mục tiêu giáo dục của chương trình và bài học để phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của học sinh

1.1.4 Các loại phương tiện kĩ thuật và phần mềm hỗ trợ dạy học lịch sử

Công nghệ thông tin được hiểu như là hệ thống các công nghệ phục vụ cho xử lí thông tin Hệ thống đó bao gồm các thiết bị đầu vào, thiết bị xử lí, thiết bị lưu trữ, thiết bị đầu ra mà người ta gọi là “phần cứng”; còn các chương trình được lưu trên bộ nhớ máy, điều khiển quá trình xử lí thông tin là “phần mềm”

Trong dạy học lịch sử, ứng dụng CNTT bao gồm cả việc sử dụng các thiết bị xử lí thông tin (phần cứng) và cách xử lí thông tin (phần mềm), cụ thể là sử dụng các phương tiện kĩ thuật và các phần mềm hỗ trợ dạy học

Trang 18

1.1.4.1 Các phương tiện kĩ thuật dạy học

Theo tác giả cuốn sách “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2009 thì phương tiện kĩ thuật thường dùng trong dạy học lịch sử bao gồm:

* Thiết bị nghe

- Máy ghi âm và băng ghi âm: Máy ghi âm được dùng để ghi và phát các đoạn băng

tư liệu ghi âm các lời nói của các nhân vật lịch sử hoặc lời kể chuyện của các nhân chứng lịch sử

- Máy đọc CD audio, máy MP3 và các file âm thanh (đã được mã hóa): Các thiết bị này cũng có tính năng như máy ghi âm nhưng kích cỡ nhỏ gọn, âm thanh được mã số hóa nên thuận tiện khi sử dụng và bảo quản, chỉnh sửa và truyền thông tin

* Thiết bị nhìn

- Máy chiếu (Projector) là phương tiện nghe nhìn được sử dụng hiệu quả khi thực hành giảng dạy, hỗ trợ cho việc trình chiếu và hiển thị các thông tin trong nội dung bài giảng, phục vụ đắc lực cho việc truyền đạt ý tưởng của giáo viên đến học sinh Việc biên soạn giáo án điện tử và triển khai bài giảng, không thể thiếu thiết bị Projector Máy Projector được xem là chiếu cầu nối thông tin giữa người dạy và người học Hiệu quả của quá trình dạy, học phụ thuộc vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên theo hướng tích cực, trong đó phải biết kết hợp sử dụng linh hoạt máy Projector với các phương tiện khác

- Máy chiếu qua đầu (Overhead Projector) và phim trong A4 (transparency film): Thiết bị này được dùng để phóng lớn lên màn hình các loại văn bản, sơ đồ, đồ thị mà người sử dụng tự in hoặc photo Máy chiếu qua đầu có ưu thế trong việc giáo viên trình chiếu những nội dung dạy học thực hiện ngay trên lớp, thực hiện bài tập điền khuyết

- Máy đèn chiếu (Slide Projector) và phim đương bản: Giáo viên sử dụng đèn chiếu

để phóng lớn các tấm phim rời hoặc là cuộn phim để giúp học sinh quan sát hình ảnh lịch

sử trên màn hình chiếu kết hợp với trình bày miệng của giáo viên

- Máy chiếu vật thể (Visual Projector) và các loại văn bản, vật thể 3 chiều: Tính năng của máy chiếu vật thể giống máy chiếu qua đầu nhưng thiết bị này gọn nhẹ hơn và

Trang 19

có thể phóng to phim trong cũng như các loại văn bản, hình ảnh mà máy phóng hình không phóng được

* Thiết bị nghe – nhìn

- Máy chiếu phim Video, tivi và băng từ video: Đây là loại phương tiện nghe nhìn

có ưu điểm là có thể thu lại các phim lịch sử phát trên tivi, hoặc có thể tự quay các đoạn phim về các khu di tích Loại này được trang bị khá phổ biển trong trường nhằm phục vụ dạy học

- Máy tính là trung tâm của hệ thống công nghệ xử lí thông tin Máy tính hiện nay đã trở nên phổ biến trong toàn xã hội Các trường phổ thông cũng như các gia đình học sinh hầu như đều đã trang bị máy tính để phục vụ cho việc học tập và công tác văn phòng

1.1.4.2 Phần mềm hỗ trợ dạy – học

Phần mềm CNTT rất phong phú, đa dạng Hiện nay, ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học đã tạo điều kiện cho việc tăng cường sử dụng các phần mềm hỗ trợ phục vụ công tác dạy học Các giáo viên trường phổ thông đã quá quen thuộc các phần mềm hỗ trợ dạy học chung như: Word, Excel, PowerPoint, Flash, Violet, Ngoài ra, mỗi

bộ môn lại sử dụng những phần mềm riêng tương thích với đặc thù của từng môn học như: Sketchpad, Cabri 3D, Mathtype (Toán), Chemdraw, Crocodile, Chemistry, MC-Mix (Hóa, Sinh), English study, CD-R Dictionary (Tiếng Anh), Encarta (Tiếng Anh, Địa), Tùy đặc trưng của từng môn học mà giáo viên chọn lựa và có cách ứng dụng phù hợp Theo cách phân chia của giáo trình ứng dụng CNTT trong dạy học của trường Đại học Kinh tế - Kĩ thuật Tây Nam Á, nhóm tác giả chia phần mềm dạy học theo từng góc độ sau

* Góc độ chức năng công cụ:

+ Dạng dạy học có sự hỗ trợ của máy tính điện tử

+ Dạng trình bày bài dạy nhờ máy tính điện tử

+ Dạng học tập do máy tính điện tử quản lý

* Góc độ chức năng điều hành quá trình dạy học

+ Phần mềm làm việc với nội dung mới

+ Phần mềm ôn tập, luyện tập

Trang 20

+ Phần mềm kiểm tra đánh giá

* Góc độ can thiệp của người sử dụng

+ Phần mềm đóng: Người dạy làm việc hoàn toàn theo ý đồ người thiết kế

+ Phần mềm mở: Người dạy có thể thể hiện được ý đồ sư phạm của mình

Dựa vào tìm hiểu của bản thân, trong dạy học lịch sử, thường thấy các giáo viên phổ

sử dụng một số phần mềm sau:

+ Phần mềm soạn thảo văn bản: WinWord là hệ soạn thảo chủ yếu trong các lĩnh vực giáo dục và văn phòng Hệ soạn thảo văn bản hiện nay được cài đặt vào máy tính có tác dụng như chiếc máy chữ nhưng tiện ích hơn cả bởi khả năng điều chỉnh chữ sai, thay đổi đoạn văn, kiểu chữ, màu chữ, cỡ chữ,… và đặc biệt là chèn hình ảnh vào văn bản + Phần mềm trình diễn bài giảng: Phần mềm PowerPoint và Violet là hai phần mềm công cụ cho phép các giáo viên có thể xây dựng các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả nhưng mỗi phần mềm có ưu và hạn chế riêng Phần mềm PowerPoint có nhiều hiệu ứng sống động, dễ dàng chỉnh sửa khi cần thiết và có thể sử dụng bút điều khiển từ xa để chuyển Slide giúp giáo viên chủ động trong tiết dạy; tuy nhiên, việc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm, ô chữ, điền khuyết…gặp khó khăn và mất nhiều thời gian; việc chèn các đoạn phim đối với Word 2003 thường gặp nhiêu khó khăn, nếu chèn được thì cũng không có thanh công cụ điều khiển đối với Word 2007 Phần mềm Violet có thể khắc phục hạn chế của PowerPoint là rất tiện lợi trong việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, ô chữ, điền khuyết và việc trình chiếu các đoạn phim song nó lại có

ít sự lựa chọn hiệu ứng, việc sắp xếp thứ tự hiệu ứng cũng gặp không ít khó khăn

+ Phần mềm đồ họa: Paint, Photoshop, Hêro, Adobe Audition, AutoCad, Photozoom… Đây là những chương trình đồ họa được sử dụng phổ biến và thông dụng để thiết kế các bản vẽ kĩ thuật trong các ngành: Xây dựng, Cơ khí, Kiến trúc, Điện, Bản đồ, Nhưng hiện nay, những phần mềm đồ họa này đã được ứng dụng phổ biến trong nhiều ngành, trong đó có giáo dục

cao hiệu quả bài học Những bản đồ, tranh ảnh lịch sử được giáo viên khai thác từ Internet hoặc scan từ SGK, lược đồ treo, tranh ảnh treo tường thường thì những hình ảnh

Trang 21

thu được không đẹp, không rõ ràng hoặc chưa đáp ứng đủ thông tin cần thiết phục vụ cho nội dung học Do đó, giáo viên cần xử lí các hình ảnh trước khi trình chiếu với sự hỗ trợ của các chương trình đồ họa Paint là chương trình đồ họa đơn giản, dễ sử dụng và quen thuộc nhất của hệ điều hành Windown có thể dễ dàng cắt ảnh, tô màu, vẽ kí hiệu Nhưng phần mềm xử lí ảnh hàng đầu được sử dụng phổ biến hơn cả là Photoshop với các tính năng cắt ảnh, xoay ảnh nghiêng, kéo dãn ảnh (Crop Tool),… Ngoài ra còn có các phần mềm khác như Adobe Audition, Hero cũng có nhiều tính năng tương tự Photoshop + Phần mềm dựng phim và cắt phim: Movie Maker là phần mềm cho phép các giáo viên và học sinh có thể chọn lọc và cắt những đoạn phim theo mục đích sử dụng từ những thước phim tìm được, sau đó liên kết và dựng thành bộ phim theo ý tưởng của cá nhân + Phần mềm kể chuyện lịch sử Photostory, Proshow Producer: Đây là những phần mềm tạo video nhạc từ hình ảnh nhưng vẫn thường được các giáo viên sử dụng với mục đích dạy học Các phần mềm này hỗ trợ người dùng tạo các show hình ảnh và âm nhạc theo chủ đề của mình, đặc biệt phần mềm Photostory còn cho phép người dùng tự tạo lời

kể để đưa vào các Slide ảnh

+ Phần mềm vệ tinh Google Earth, Google Maps: Các phần mềm này có thể giúp các giáo viên thiết kế những lược đồ không có sẵn trong SGK

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học thường xuyên được nhắc đến trong ngành giáo dục, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin được nhấn mạnh ở các trường phổ thông Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT đã thực sự hiệu quả và việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện có thực sự chú trọng ở các trường THPT, dựa trên cơ sở lí luận, chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế vấn đề này tại các trường THPT trên đại bàn thành phố Đà Nẵng

Về phía học sinh

Chúng tôi xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục1) để kiểm tra ở ba trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hiền và Thanh Khê năm học 2012-2013 với các mục đích sau:

Trang 22

- Tìm hiểu học sinh có nhớ địa điểm diễn ra sự kiện thông qua các biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện lịch sử trong chương trình lịch sử 11 (chương trình chuẩn) hay không? (câu 1, 2, 3, 6 phụ lục 1)

- Tìm hiểu học sinh có nhớ tên sự kiện và mốc thời gian thông qua các biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong chương trình lịch sử 11 (chương trình chuẩn) hay không? (4, 5, 8 phụ lục 1)

- Thông qua tìm hiểu học sinh để xác định phương pháp tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện của giáo viên có phù hợp với đặc trưng của bộ môn hay không? (câu

Về phía giáo viên

Chúng tôi xây dựng 7 câu hỏi vừa trắc nghiệm vừa tự luận để thăm dò ý kiến của 9 giáo viên tại 3 trường nói trên theo các nội dung sau:

- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện của giáo viên (Câu 3,5,7 phụ lục 5)

- Tìm hiểu ý kiến đánh giá của giáo viên về vai trò của ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện lịch sử trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT (Câu 1,2,6 phụ lục 5)

- Thăm dò ý kiến của giáo viên về nguyên nhân làm học sinh không nhớ địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử (câu 4 phụ lục 5)

Dựa trên việc xử lí phiếu điều tra và tổng hợp các ý kiến, chúng tôi nhận thấy đa số các giáo viên đều cho rằng việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng không gian xảy ra sự kiện là cần thiết, nó tạo điều kiện cho học sinh khắc sâu sự kiện lịch sử, hình thành nên

Trang 23

các khái niệm để từ đó rút ra những bài học lịch sử Các giáo viên đều cho rằng tạo việc tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện lịch sử bình thường, không gặp nhiều khó khăn; tuy nhiên, kết quả hình thành biểu tượng trong đầu học sinh lại không đạt hiểu quả cao Nguyên nhân của thực trạng trên có thể là do giáo viên chưa khắc sâu được không gian, vấn đề lịch sử nơi diễn ra sự kiện hoặc sử dụng phương pháp tạo biểu tượng chưa hiệu quả, do ý thức thái độ học tập của học sinh, do lịch sử 11 có quá nhiều sự kiện lịch

sử mà học sinh thì phải học khá nhiều môn nên không đầu tư vào môn học lịch sử

Qua kết quả điều tra từ giáo viên và học sinh cho thấy rằng: cả giáo viên và học sinh đều đánh giá cao vai trò quan trọng và ý nghĩa tích cực của việc ứng dụng CNTT vào tạo biểu tượng không gian lịch sử ở các trường phổ thông Song, vì có những lí do chủ quan xuất phát từ bản thân giáo viên và cả khách quan xuất phát từ môn học nên hiệu quả việc ứng dụng CNTT vào tạo biểu tượng chưa đạt kết quả cao

Như vậy, những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên là những nhận thức bước đầu của bản thân về ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng không gian xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử Đây là những cơ sở quan trọng để chúng tôi xây dựng nên các biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện và các biện pháp tạo biểu tượng dưới sự hỗ trợ của CNTT

Trang 24

C UƠN 2

Ệ T ỐN CÁC SỰ K ỆN V B ỆN P ÁP ỨN DỤN CÔN N Ệ T ÔN T N Ể T O B ỂU TƯỢN VỀ K ÔN AN XẢY RA SỰ K ỆN TRON C ƯƠN TRÌN LỊC SỬ LỚP 11 –

C ƯƠN TRÌN C UẨN 2.1 Ý nghĩa của chương trình lịch sử lớp 11 (cơ bản) trong chương trình lịch sử THPT

Chương trình lịch sử 11 (cơ bản) nằm trong chương trình lịch sử Trung học phổ thông, nó tiếp nối chương trình lịch sử 10 (cơ bản), bao gồm các khóa trình sau:

Phần lịch sử thế giới cận đại từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, lịch sử thế giới hiện đại 1917 – 1945, đây là những giai đoạn lịch sử rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người Ở chương trình lịch sử 10, các em đã được học về các nước Âu – Mĩ từ thế

kỉ XIX đến đầu XX, lên chương trình 11, các em sẽ tìm hiểu tiếp các nước Á, Phi, Mĩ – Latinh để hiểu rõ bối cảnh, tình hình các nước này ở thế kỉ XIX để các em lí giải được nguyên nhân hầu hết các nước này đều bị biến thành thuộc địa của các nước phương Tât ngoại trừ Xiêm và Nhật Bản Học lịch sử thế giới ở lớp 11, các em sẽ thấy được hai cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt và phi nghĩa giữa các nước đế quốc, nó đã để hậu quả rất lớn không chỉ các nước tham chiến mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống cộng đồng quốc

tế Ngoài ra, các em sẽ bước đầu tìm hiểu và so sánh được bản chất của hai hệ thống đối lập: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, để từ đó các em tự đánh giá và hình thành thế giới quan khoa học

Phần lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 có vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam Trước khi học phần này, học sinh đã tìm hiểu lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến nửa đầu thế kỉ XIX cụ thể trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Trên cơ sở đó, học sinh sẽ tiếp tục tìm hiểu đất nước ta như thế nào từ nửa sau thế kỉ XIX Đây là giai đoạn đất nước bị thực dân Pháp thực hiện chiến tranh xâm lược, âm mưu xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Khi tìm hiểu về giai đoạn này, học sinh sẽ thấy được quá trình đánh chiếm nước ta của thực dân Pháp và cũng từ đó, các em biết được tinh thần chiến đấu kiên trì, anh dũng của nhân dân Việt Nam Học sinh đối sánh được thái độ,

Trang 25

hành động của nhân dân và thái độ, hành động của triều đình nhằm hình thành trong các

em kĩ năng so sánh, đánh giá một vấn đề lịch sử

2.2 Nội dung kiến thức cơ bản của chương trình lịch sử lớp 11 (cơ bản)

Theo chương trình lịch sử 11 (chương trình chuẩn), học sinh sẽ học ba phần: phần lịch sử thế giới cận đại nối tiếp từ lịch sử cận đại lớp 10, sau đó học tiếp phần lịch sử thế giới hiện đại (từ năm 1917 đến năm 1945), rồi chuyển sang học lịch sử Việt Nam (1858 – 1918) ở phần 3

Chương trình lịch sử 11 có tất cả 24 bài, không tính phần sơ kết lịch sử Việt Nam (từ 1858 đến 1918) và được chia ra làm 35 tiết, phần lịch sử thế giới 22 tiết, lịch sử Việt Nam 10 tiết, 1 tiết lịch sử địa phương và 2 tiết kiểm tra cuối kì

Phần một: Lịch sử thế giới cận đại (tiếp theo) gồm có 3 chương: Chương I – Các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ Latinh (Thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX), chương II – Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), chương III – Những thành tựu văn hóa thời cận đại Nôi dung phần này đề cập đến mọi mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, châu Phi và khu vực Mĩ Latinh từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX

Phần hai: Lịch sử thế giới hiện đại (Phần từ năm 1917 đến năm 1945) Phần này gồm 4 chương: Chương I – Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 – 1941), chương II – Các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), Chương III – Các nước châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), chương IV – Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) Phần này bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô

- Tình hình các nước tư bản Đức, Mĩ, Nhật giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

- Phong trào cách mạng ở Trung Quốc và Ấn Độ từ 1918 đến 1939

- Tình hình các nước Đông Nam Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

- Chiến tranh thế giới thứ hai

- Ôn tập lịch sử thế giới hiện đại từ 1917 đến năm 1945

Trang 26

Phần ba: Lịch sử Việt Nam (1858 – 1918) gồm hai chương: Chương I – Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX, chương II – Việt Nam từ đầu XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) Phần này trình bày đầy đủ quá trình Pháp xâm lược Việt Nam cũng như cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp

- Pháp xâm chiếm Việt Nam, nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược

từ năm 1858 đến năm 1884, Nhà nước phong kiến Nguyễn từng bước đầu hàng

- Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX

- Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp

- Phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta trong những nhăm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)

Như vậy, chương trình môn lịch sử lớp 11 (chương trình chuẩn) được xây dựng theo hướng “đồng tâm kết hợp với đường thẳng” Theo đó, kiến thức lịch sử mà học sinh học phải từ “xa đến gần”, tức cái gì xảy ra trước thì sẽ học trước, cái gì xảy ra sau thì học sau, học song song cả lịch sử Việt Nam và thế giới

So với chương trình cũ thì chương trình sách giáo khoa lớp 11 – chương trình chuẩn được biên soạn công phu, khoa học, đảm bảo tính chính xác và tính hệ thống, phù hợp với nhận thức học sinh Chương trình Lịch sử 11 thể hiện được đầy đủ kiến thức cơ bản của một giai đoạn lịch sử quan trọng của thế giới và Việt Nam, không chỉ đề cập đến những cuộc chiến tranh xâm lược, những con số và sự kiện khô khan mà còn chú ý đến những thành tựu văn hóa của xã hội loài người Trong sách giáo khoa đưa nhiều kênh hình với các tranh ảnh và lược đồ nhằm tạo biểu tượng lịch sử, tạo cơ sở học sinh hình thành các khái niệm đồng thời giảm tải bớt những mục kiến thức không quan trọng đáp ứng tính vừa sức cho học sinh

Tuy nhiên, chương trình vẫn còn khá nhiều vướng mắc khi dạy về lịch sử Việt Nam

Quỹ thời gian dành cho lịch sử Việt Nam chỉ có 9 tiết và 1 tiết kiểm tra trong khi chương trình lịch sử Việt Nam lại khá đồ sộ và vì phải đảm bảo tính lôgíc và tính lịch sử, nên

Trang 27

không thể cắt xén và cũng không thể thu gọn lịch sử lại được, tạo ra tâm lý cho người dạy

là chương trình nặng, bài quá dài Bài 19 “Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (Từ năm 1858 đến trước năm 1873)”, bài 20 “chiến sự lan rộng ra cả nước, cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 - 1884, nhà Nguyễn đầu hàng” về kênh hình chủ yếu là tranh ảnh và chân dung các nhân vật lịch sử, chỉ có một lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ, trong khi đó lại có rất nhiều sự kiện cần lược đồ cho nên việc hướng dẫn học sinh tự học và làm bài tập ở nhà chưa đạt hiệu quả cao Bài 20 trình bày khá dài dòng với rất nhiều biến cố lịch sử nên ở lớp, các giáo viên chủ yếu trình bày thời gian, sự kiện khiến tiết học trở nên khô khan, nhàm chán Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào việc tạo biểu tượng không gian nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là rất cần thiết ở chương trình lịch sử 11 để nâng cao chất lượng dạy – học môn lịch sử

2.3 Các sự kiện và biện pháp tạo biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện trong chương trình lịch sử 11 (cơ bản)

Nhật Bản * Đến nửa đầu thế kỉ XIX, Nhật Bản

lâm vào tình trạng suy yếu nghiêm trọng

Nhật Bản là một quần đảo ở Đông Bắc

Á, trải dài theo hình cánh cung bao gồm các đảo lớn nhỏ trong đó có 4 đảo lớn: Honsu, Hokaido, Kyusu và Sikôku Nhật Bản nằm giữa vùng biển Nhật Bản và Nam Thái Bình Dương, phía đông giáp Bắc Á và Nam Triều Tiên diện tích khoảng 374.000 km2

- Khai thác bản đồ thế giới từ Internet

+ Sử dụng phân mềm Photoshop tô màu phần lãnh thỗ Nhật Bản

+ Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược đồ được thiết kế trên phần mềm PowerPoint

Trang 28

* Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế cuối thế kỉ XIX, đầu XX đã tạo sức mạnh cho chính quyền Nhật Bản thực hiện chính sách bành trướng

Nhật Bản tiến hành chiến tranh xâm lược Đài Loan năm 1874 và đến năm

1895 đã xâm chiếm được phần lãnh thổ Đài Loan Từ năm 1905 đến 1914,

mở rộng phạm vi chiếm đóng ra Nga, Triều Tiên, Trung Quốc

- Xây dựng lược đồ bành trướng của Nhật Bản bằng cách khai thác từ Internet + Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược đồ được thiết kế trên phần mềm PowerPoint

Ấn Độ Ấn Độ * Đến giữa thế kỉ XIX, thực dân Anh

đã hoàn thành xâm lược và đặt ách cai trị ở Ấn Độ

Ấn Độ là một đất nước rộng lớn, giàu đẹp đa dạng về điều kiện tự nhiên

Trải qua nhiều thế kỉ, những dòng người du mục, những thương nhân, những tín đồ hành hương đã cố gắng vượt qua khó khăn và mạo hiểm để xâm nhập vào đất nước này sự du nhập này đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng về văn hóa, dân tộc, ngôn ngữ của Ấn Độ

Sau phát kiến địa lý tìm ra đường biển đến Ấn Độ, thực dân phương Tây đã tìm cách xâm nhập vào thị trường Ấn

Độ Đi đầu là Bồ Đào Nha rồi đến Hà Lan, Anh, Pháp, Áo Đến đầu thế kỉ

- Khai thác lược đồ từ Internet Sử dụng các thanh công cụ trên thanh Menu Drawing, Picture trên phần mềm Paint để

vẽ thêm và tô màu sắc các

ký hiệu lá cờ, đốm lửa để chỉ trung tâm phong trào công nhân, nông dân

- Thiết kế lược đồ trên phần mềm PowerPoint, tạo hiệu ứng động cho các

kí hiệu

- Sử dụng máy Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược đồ

Trang 29

là Anh Và Pháp ngay trên đất Ấn Độ (từ 1746-1763) Nhờ có ưu thế về kinh

tế và hạm đội mạnh ở vùng biển Anh

đã loại các đối thủ để độc chiếm Ấn

Độ và đặt ách cai trị ở Ấn Độ vào giữa thế kỉ XVII

* Phong trào đấu tranh của nhân dân

Ấn Độ diễn ra mạnh mẽ vào nửa sau thế kỉ XIX

Phong trào diễn ra nổi bật nhất là khởi nghĩa Xi-bay ở Mi-rút (Đê-li) Với đạo luật chia đôi xứ Ben-gan càng thổi bùng lên mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ Phong trào của công nhân với trung tâm ở Bombay, Can-cút-ta, Mi-đrát, cùng với phong trào của nông dân phát triển mạnh ở Xim-la (Bắc Ấn Độ) tạo thành một cao trào lan rộng trong cả nước

- Sử dụng máy Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược đồ phong trào cách mạng ở Ấn Độ cuối thế kỉ XIX - đầu XX trên phần mềm PowerPoint

Trên lược đồ, giáo viên vẽ các kí hiệu và tạo hiệu ứng để đánh dấu vị trí của Đê-li trên bản đồ điện tử kết hợp với lời giảng

đế quốc Đức chiếm vùng Sơn Đông;

Anh chiếm vùng châu thổ sông Dương

- Tạo biểu đồ hình khối tròn trên phần mềm PowerPoint Tạo hiệu ứng chuyển động cho các hình khối Mỗi khối tượng trưng cho một miếng

Trang 30

Tử; Pháp chiếm vùng Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông; Nga, Nhật chiếm vùng Đông Bắc…

bánh, tức vùng lãnh thổ

mà một nước xâm chiếm

- Sử dụng máy chiếu Project kết nối với máy tính trình chiếu biểu đồ và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu ở nhà

Quảng Tây là một tỉnh phía nam Trung Quốc, có biên giới với Việt Nam (các tỉnh Đông Bắc từ Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn đến Quảng Ninh) Đây là nơi tập trung nhiều Người Tráng, một trong những dân tộc thiểu số chính ở Trung Quốc Kim Điền thuộc huyện Quế Bình ở miền đông Trung Quốc

Nghĩa quân xây dựng chính quyền với lãnh thổ trải rộng từ sông Dương

Tử xuống phía nam Trung Quốc với trên 16 tỉnh và hơn 600 thị, có thủ đô

là Thiên Kinh (Nam Kinh)

- Cuối thế kỉ XIX còn có phong trào Duy Tân (1898) diễn ra trong tầng lớp

- Xây dựng bản đồ giáo khoa điện tử bằng cách khai thác ảnh từ Internet Dùng thanh công cụ Drawing để vẽ kí hiệu nơi bùng nổ các cuộc khởi nghĩa như Kim Điền, Sơn Đông trên lược đồ Trung Quốc

- Tạo hiệu ứng động ở chế độ zoom trên phần mềm Slide để học sinh nhớ các về Quảng Tây có

vị trí giáp với các tỉnh Đông Bắc Việt Nam

- Sử dụng máy chiếu project kết nối với máy tính trình chiếu lược đồ về phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, giáo viên kết hợp lời nói

Trang 31

quan lại Miền Bắc Trung Quốc có phong trào Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ ở Sơn Đông, một tỉnh ven biển phía đông Trung Quốc, rồi lan ra Sơn Tây, Trực Lệ

và dùng bút trình chiếu laser để chỉ vị trí các địa danh trên bản đồ

- Từ Vũ Xương, phong trào cách mạng lan rộng ra các tỉnh miền Nam và Trung Trung Quốc

- Sử dụng phần mềm MovieMaker để cắt những đoạn phim diễn tả

về chiến trường cách mạng Tân Hợi, về cách mạng diễn ra ở Vũ Xương

từ những bộ phim về cách mạng Tân Hợi khai thác

từ Internet

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu phim được thiết kế trên phần mềm violet

- Tìm một đoạn phim về đất nước Đông Nam Á lấy

từ Youtube

- Dùng phần mềm movie Maker để cắt và rap những đoạn phim tư liệu cần thiết

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy

Trang 32

Á có vị trí đặc biệt, vì nó chắn ngang tất cả các con đường biển nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, đồng thời là cầu nối giữa Châu Á và Châu

Úc Nơi đây có mạng lưới sông ngòi dày đặc: sông Mê-Kông (dài 4500km), sông Sa-lu-en chảy qua Mi-an-ma (dài 3200km), sông I-ra-oa-đi (dài 2100km), sông Mê-Nam (dài 1200km), sông Hồng (dài 1126km)

Người ta ví 5 con sông như năm dẻ quạt, năm ngón tay, tạo nên những đồng bằng phù sa, màu mỡ Đông Nam

Á nằm trong khu vực gió mùa, có nhiều tài nguyên khoáng sản Từ nửa sau thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX,

sự suy thoái của chế độ phong kiến của các nước Đông Nam Á đã tạo điều kiện cho các nước tư bản phương Tây xâm lược

tính để trình chiếu cho học sinh xem, sau khi học sinh xem xong, giáo viên phát vấn vài câu hỏi để xem tình hình nắm bắt của học sinh Sau đó, giáo viên chốt lại các ý cần tạo biểu tượng chính về khu vực Đông Nam Á

Hà Lan đã có mặt và từng bước chiếm lĩnh thị trường Đến giữa thế kỉ XIX,

Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập nền thống trị trên đất nước

- Tạo lược đồ câm về khu vực Đông Nam Á trên PowerPoint Lược đồ sẽ được sử dụng xuyên suốt bài học Giáo viên chỉ rõ

vị trí của từng nước Đông Nam Á và tạo biểu tượng nhanh trước khi dạy về

Trang 33

này

Phi-lip-pin là một quần đảo, từ giữa thế kỉ XVI, Phi-lip-pin đã trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha Trong hơn

300 năm đô hộ, thực dân Tây Ban Nha

đã ra sức khai thác các đồn điền, hầm mỏ…ở Phi-lip-pin để phục vụ chính quốc Hầu hết các cư dân ở đây theo đạo Thiên Chúa do người Tây Ban Nha truyền đến, chỉ có một số ít người

ở phía nam (đảo Mi-đa-nao) theo đạo Hồi nên bị đối xử tồi tệ Những điều này làm mâu thuẫn giữa nhân dân Phi-lip-pin với Tây Ban Nha ngày càng sâu sắc

Cam-pu-chia giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Lào ở phía Bắc và Việt Nam ở phía Đông

Vào cuối thế kỉ XIX, nó đã trở thành thuộc địa của Pháp

Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển Lào giáp Trung Quốc phía Bắc, giáp cam-pu-chia ở phía Nam, giáp Việt Nam phía Đông, giáp Mi-an-ma phía Tây Bắc

Do đó, khi tiến hành xâm lược Việt Nam và Cam-pu-chia, Lào cũng không nằm ngoài ý định nhòm ngó của Pháp

phong trào đấu tranh của mỗi nước

Trang 34

Châu Phi - Châu Phi là một châu lớn, giàu tài

nguyên thiên nhiên và là một trong những cái nôi của loài người Châu Phi

bị ngăn cách khỏi châu Âu bởi Địa Trung Hải, nó nối liền với châu Á về phía tận cùng đông bắc bằng Xuy-ê (bị cắt ngang bởi kênh đào Xuy-ê) Trước khi châu Âu xâm chiếm và phân chia châu Phi, phần lớn nhân dân ở đây đã biết dùng đồ sắt; nghề dệt và nghề gốm phát triển; nghề chăn nuôi và trồng trọt cũng phổ biến Năm 1482 người Bồ Đào Nha đã thiết lập trạm thương mại đầu tiên dọc theo bờ biển Nhưng bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX, họ đã bị các nước thực dân châu Âu xâm phạm, phá họa và cướp bóc

- Kênh đào Xuy-ê: Nằm ở vùng Tây Bắc Ai Cập, nối liền biển đỏ với Địa Trung Hải Kênh này do Công ty kênh Xuy-ê của Pháp - Ai Cập xây dựng, bắt đầu từ tháng 4/1859 và hoàn thành vào năm 1869 Kênh có giá trị kinh tế, quân sự cao, đường thủy đi từ châu Âu sang châu Á qua kênh Xuy-ê là gần nhất, giảm được 50% quãng đường

Trong chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, kênh Xuy-ê có vị trí chiến

- Tạo lược đồ câm về vị trí địa lí của châu Phi bằng ứng dụng phần mềm

vệ tinh Google Earth Khai thác lược đồ thuộc địa các nước đế quốc ở châu Phi đầu thế kỉ XX từ mạng

Dán ảnh vào các Slide của bài giảng điện tử

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để tạo biểu tượng về nước châu Phi, cần giới thiệu tình hình các nước châu Phi trước khi bị xâm lược

Giáo viên chỉ rõ từng thuộc địa của mỗi nước thực dân trên bản đồ điện

tử

Trang 35

lược đặc biệt

* Phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân châu Phi, nổi bật là cuộc kháng chiến của nhân dân Ê-ti-ô-pi-a

Ê-ti-ô-pi-a nằm phía đông châu Phi, phía Tây Xô-ma-li Ê-ti-ô-pi-a cùng với Li-bê-ri-a là hai nước duy nhất giữ được độc lập trước sự xâm chiếm của các nước thực dân phương Tây

- Giới thiệu vị trí của ô-pi-a và Li-bê-ri-a trên bản đồ để tạo biểu tượng

Ê-ti-về không gian xảy ra phong trào đấu tranh của nhân dân hai nước này

Khu vực

Mĩ Latinh

Mĩ Latinh là một bộ phận lãnh thổ rộng lớn của châu Mĩ, gồm một phần Bắc Mĩ, toàn bộ Trung Mĩ, Nam Mĩ và những quần đảo thuộc vùng biển Ca-ri-bê Châu lục này đứng đơn độc, tách

xa phần còn lại của thế giới bởi hai đại dương Hình thành bởi hai khối lục địa lớn hình tam giác và được nối liền với nhau bằng một dải đất dài và hẹp ở giữa

Lịch sử Mỹ Latinh và Châu Mỹ nói chung gắn liền với tên tuổi của Đô đốc Chris Columbus Từ xa xưa, trên vùng đất này có nhiều tộc người bản xứ sinh sống Các tộc người bản xứ ở Mỹ Latinh bao gồm những tộc thổ dân được biết dưới cái tên Người da đỏ (do

họ dùng một chất phẩm đỏ bôi lên da

để trang trí) tại Bắc Mỹ (bao gồm cả

- Tạo lược đồ câm để thể hiện vị trí địa lí của Mĩ Latinh bằng ứng dụng phần mềm vệ tinh Google Earth

Khai thác lược đồ khu vực Mĩ Latinh đầu thế kỉ XIX

Dán ảnh vào Slide của bài giảng điện tử

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để tạo biểu tượng về nước Mĩ Latinh, giáo viên chỉ vị trí của khu vực Mĩ Latinh và giới thiệu về khu vực này trên bản đồ kết hợp với miêu tả, thuyết trình

Trang 36

Mỹ và Mê-xi-co); và trên các địa bàn còn lại là rất nhiều tộc người khác nhau Từ thế kỉ XVI, XVII, đa số các nước Mĩ Latinh đều lần lượt biến thành thuộc địa của Tây Ban Nha và

Bồ Đào Nha Nhiều cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra mạnh mẽ

từ biển Ban-tích ở phía tây cho đến Mot-ka ở phía đông, khoảng 1200

km và trải dài theo chiều cho đến biển Đen ở phía nam khoảng 1.600 km Mặt trận phía Đông trải dài hơn so với mặt trận phía tây và cũng do chiến tuyến quá rộng nên việc chọc thủng phòng tuyến là dễ dàng hơn so với mặt trận phía tây Địa hình ở mặt trận này đa phần là đất rắn nên khó có thể xây dựng các chiến hào

Mặt trận phía Tây, tức gồm phần Tây

Âu, không trải dài như mặt trận phía đông Nơi đây đa phần đất mềm và bùn nên dễ dàng xây dựng hệ

- Sử dụng bản đồ thế giới

ở dạng câm bằng cách chụp ảnh từ bản đồ treo tường

- Xử lí ảnh bằng các phần mềm ACDSee, Hero, công cụ Drawing để trực tiếp vẽ lên Slide diễn biến chiến tranh tại từng mặt trận

- Sử dụng phần mềm PowerPoint: tạo hiệu ứng động cho các mũi tấn công, di chuyển

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu hình ảnh về các mặt trận

Trang 37

thống chiến hào dày đặc

Sa hoàng đã tốn rất nhiều sức người, sức của cho cuộc chiến Kinh tế Nga ngày càng suy sụp, nạn đói xảy ra khắp nơi

Pê-tơ-rô-grát: Đây là thành phố lớn thứ hai và cố đô của nước Nga, nằm trên châu thổ sông Nê-va và trên một hòn đảo cận kề; thông với Vịnh Phần Lan

Nơi đây tập trung rất nhiều xí nghiệp

và công nhân lao động

-Khai thác tranh ảnh từ các trang mạng, đặc biệt trên baigiang.violet.vn

- Sử dụng phần mềm Photostory hoặc proshow producer để tạo đoạn video bằng tranh ảnh về cách mạng tháng hai Nga

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu hình ảnh cho học sinh, kết hợp với lời dẫn chuyện của giáo viên

- Yêu cầu học sinh khai thác tranh ảnh từ Internet

về tình cảnh các nước châu Âu sau chiến tranh

Trang 38

và xác lập áp đặt, nô dịch đối với các nước bại trận, đặc biệt là các nước dân tộc thuộc địa và phụ thuộc Tuy nhiên, nền kinh tế châu Âu bị kiệt quệ nặng

nề do hậu quả của chiến tranh Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân lao động ở các nước tư bản

thế giới thứ nhất

- Sử dụng máy chiếu qua đầu overhead để phóng lên màn hình những hình ảnh các em thu thập được

và học sinh rút ra nhận xét

về hậu quả chiếu tranh gây ra cho nền kinh tế châu Âu đồng thời nêu trật tự thế giới mới sau chiến tranh

Đức: nắm ở Trung Âu, giáp với Đan Mạch (phía bắc), Ba Lan và Séc (phía đông), Áo và Thụy Sĩ (phía nam), phía tây là Pháp, Luc-xem-bua, Bỉ, Hà Lan

Sự bại trận của Đức trong chiến tranh thế giới thứ nhất với những hậu quả nặng nề đã làm cho những mâu thuẫn

xã hội trở nên gay gắt Tháng 11/1918, cuộc cách mạng dân chủ tư sản đã lật

đổ chế độ quân chủ ở Đức Hè năm

1919, chính phủ Đức kí hòa ước Vécxai phải chịu những điều kiện hết sức nặng nề và lâm vào khủng hoảng kinh tế, tài chính

+ Sử dụng phân mềm Photoshop để xử lí bản đồ thế giới: tô màu phần lãnh thỗ nước Đức

+ Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược đồ được thiết kế trên phần mềm PowerPoint

Trên lược đồ, giáo viên chỉ vị trí nước Đức và tạo biểu tượng về nước Đức

và sự khủng hoảng của nước Đức

Nước Nước Mĩ * Bước vào thập niên 20 của thế kỉ XX,

Trang 39

nước Mĩ bước vào thời kì phồn thình

Mĩ nằm ở vùng Bắc châu Mĩ, được đại dương bao bọc Đây là một trong những nguyên nhân để chiến tranh thế giới thứ nhất không lan tới nước Mĩ

Trong giai đoạn đầu của chiến tranh,

Mĩ giữ thái độ trung lập, buôn bán vũ khí cho cả hai bên tham chiến và thu nhiều lợi nhuận, trong khi đó các nước châu Âu bị chiến tranh tàn phá nặng

Chiến trường châu Âu được chia làm

ba mặt trận: Mặt trận phía đông - giữa Đức và Liên Xô; Mặt trận phía tây - giữa Đức và Anh, Pháp, và Hoa Kỳ; Mặt trận Địa Trung Hải - giữa Đức, Ý và Anh, Úc

- Mặt trận Thái Bình Dương: Mặt trận này trải rộng trên hầu hết ở Thái Bình Dương và các đảo của nó, ngoại trừ Phi-líp-pin, Úc, Đông Ấn thuộc Hà Lan, một phần thuộc mặt trận Tây Nam Thái Bình Dương, các khu vực Trung Quốc và đất liền Đông Nam

Á Mặt trận này diễn ra giữa Nhật Bản chống lại các lực lượng Hoa

Kỳ, Anh, Hà Lan và Pháp

- Sử dụng bản đồ thế giới

ở dạng câm bằng cách chụp ảnh từ bản đồ treo tường

- Xử lí ảnh bằng các phần mềm Hêro, dùng thanh công cụ Drawing để trực tiếp vẽ lên Slide diễn biến chiến tranh tại từng mặt trận

- Tạo hiệu ứng động cho các mũi tấn công trên phần mềm PowerPoint

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược

đồ

Trang 40

sở giáo dân theo đạo Kitô Chính vì vậy, Pháp quyết định chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên

* Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng và đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Sơn Trà, chiếm đồn An Hài

và Điện Hải trong vòng 1 ngày

Thành Điện Hải nằm ở tả ngạn sông Hàn, về phía tây, gần cửa biển Đà Nẵng, được xây dựng lần đầu tiên dưới thời Gia Long, sau được dời vào đất liền dưới thờ Minh Mạng Vào mùa xuân năm Quí Dậu, niên hiệu Gia Long thứ 12 (1813), vua cho đắp đài Điện Hải và bảo An Hải, đài ở bên tả cửa biển Đà Nẵng, bảo ở bên hữu, sau khi đài xây xong, đến tháng 5/1813 vua Gia Long tuần du Quảng Nam,

- Tạo bản đồ câm về Đà Nẵng bằng cách sử dụng phần mềm Google Earth

- Cuối cùng sử dụng một phầm mềm xử lí ảnh để cắt gọt như Photo Editor, Crop tool hay Paint

- Dán ảnh vào các slice và tạo hiệu ứng trên PowerPoint

- Scan lược đồ chiến sự ở

Đà Nẵng đưa lên máy tính Sử dụng phần mềm Adobe Photoshop để chỉnh sửa và cắt ảnh

- Sử dụng phần mềm PowerPoint để tạo hiệu ứng động đối với các mũi tấn công của Pháp và sự kháng chiến của quân và dân ta

- Sử dụng máy chiếu Projector kết nối với máy tính để trình chiếu lược đồ

về trận đánh ở Đà Nẵng

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w