Tính tất yếu khách quan của việc ban hành Luật Cạnh tranh 16 a Bối cảnh chung 16 b Nhu cểu điều tiết nền kinh tế thị trường bằng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật
Trang 2au S
BỘ GIẢO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
Đẽ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP B Ộ
NHỮNG NỘI DUNG cơ BẢN CỦA
LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM N Ă M 2004
• • •
V À Đ Ề XUẤT Á P DỤNG
MÃ SỐ: B2005 - 40 - 55
CHỦ NHIỆM ĐẾ TÀI : TS Tăng Văn Nghĩa
NHŨNG NGƯỜI THAM GIA CHÍNH : ThS Hồ Thúy Ngọc
: ThS Nguyễn Minh Phượng : CN Võ Sỹ Mạnh
: sv Đặng Minh Ngọc
H À NÔI - 2005
Trang 3p ' Ì
BỘ GIÁO DỤC VẢ Đ À O TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Để TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC cấp BỘ
NHỮNG NỘI DUNG cơ BẢN CỦA
LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM N Ă M 2004
Trang 4Chuông ì: Một sôi vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật canh tranh 5
/ Khái niệm vê cạnh tranh 5
Ì Nguồn gốc, bản chất, vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh 5
2 Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh 9
a) Tác động tích cực và tiêu cực 9
b) X u hướng chiếm lĩnh thị trường và hình hành độc quyền 10
c) Tính khách quan và ảnh hưởng của cạnh tranh trong nền kinh tế
thị trường 10
// Pháp luật cạnh tranh 12
1 V a i trò của nhà nước trong việc đảm bảo tự do cạnh tranh 12
2 Khái niệm pháp luật cạnh tranh 13
3 Cơ cấu của pháp luật cạnh tranh 14
/// Sự ra đời của Luật Cạnh tranh ở Việt nam năm 2004 16
Ì Tính tất yếu khách quan của việc ban hành Luật Cạnh tranh 16
a) Bối cảnh chung 16 b) Nhu cểu điều tiết nền kinh tế thị trường bằng một hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Cạnh tranh 18
c) Nhu cểu chống cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh
tranh trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường 21
d) Nhu cểu tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng
•• • • ' 26
e) Nhu cểu khách quan của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 28
f ) Sự cển thiết phải điều tiết cạnh tranh bằng pháp luật 30
2 Sự ra đời của Luật Cạnh tranh 32
3 Vị trí, vai trò, đặc điểm của Luật Cạnh tranh 33
a) Vị trí của Luật Cạnh tranh trong hệ thống pháp luật 33
bb) M ố i quan hệ của Luật Cạnh tranh với các ngành luật cơ bản
khác ' .' „ 35
(1) M ố i quan hệ giữa Luật Cạnh tranh vói Luật dân sự 35
(2) M ố i quan hệ giữa Luật Cạnh tranh vói Luật Thương mại 36
(3) M ố i quan hệ giữa Luật Cạnh tranh với Luật Hành chính 37
b) Vai trò của Luật Cạnh tranh 38
c) Đặc điểm của Luật Cạnh tranh 2004 39
Chương li: Những nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh năm 2004 42
Trang 5Ì Các thoa thuận hạn chế cạnh tranh 44
2 Về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền
Ì ' ! ' 46
a) Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
46 b) Doanh nghiệp có vị trí độc quyền 49
3 Tập trung kinh tế 4 9
a) Các hành v i tập trung kinh tế 4 9
b) Các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm và ngoại lệ miễn trừ 51
c) Các trường họp tập trung kinh tế phải thông báo 52
/// Hành vi cạnh tranh không lành mạnh 52
Ì Hành vi chỉ dẫn gây nhửm lẫn 53
2 Hành v i xâm phạm bí mật kinh doanh 53
3 ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác và gây r ố i
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác 55
4 Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 55
5 Hành v i khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh 56
6 Hành vi phân biệt đối xử của hiệp h ộ i 57
7 Hành vi bán hàng đa cấp bất chính 57
IV Cơ quan quản lý cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh 60
Ì Cơ quan quản lý cạnh tranh 60
a) Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh 60
b) Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh và điều tra viên vụ việc
cạnh tranh 61
2 H ộ i đồng cạnh tranh 62
V Thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh 63
ỉ Điều tra vụ việc cạnh tranh 63
b) Thẩm quyền xử phạt, xử lý v i phạm pháp luật ve cạnh tranh " 61
c) Thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh 68
Chương HI: Những đề xuất để đưa Luật Cạnh tranh vào áp dụng một
cách có hiệu quả trong thực tiễn 72
/ Nhận thức chung về cạnh tranh kinh tế ở nước ta 72
// Kinh nghiệm, thực thi Luật Cạnh tranh ở một sô nước 74
Ì K i n h nghiệm ở Nhật Bản 74
2) Kinh nghiệm ở Hoa Kỳ 76
3 Kinh nghiệm ở Indonesia 78
Trang 6/// Những đề xuất nhằm áp dụng Luật Cạnh tranh một cách có hiệu quả
dờn thi hành 85 c) Tách bạch quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp, xây dựng
vị trí độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh 87
d) Về kiểm soát độc quyền và độc quyền nhà nước 92
e) Nghiên cứu áp dụng các án lệ trong xử lý v i phạm 95
f) Nâng cao hiểu biết của người dân về Luật Cạnh tranh 96
g) Hợp tác với các nước về việc thi hành Luật Cạnh tranh 97
3 Những đề xuất mang tính vi m ô 98
a) Nâng cao khả năng tự bảo vệ của doanh nghiệp 98
b) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước 99
c) Người tiêu dùng phải tự nâng cao sự hiểu biết và khai thác các cơ
hội lựa chọn của mình 99
Kết luận 100
Danh mục tài liệu tham khảo loi
Trang 71 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ nền kinh tế tập trung và sau nhiều năm chuyển sang cơ chế thị trưòng, nhận thức chung của xã hội về quy luật canh tranh, về cạnh tranh không lành mạnh, về hạn chế cạph tranh ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường Thực hiện chính sách đằi mới kinh
tế, nhà nước đã có nhiều cô gắng trong việc xây dựng hệ thông pháp luật nhằm quản lý có hiệu quả nền kinh tế - xã hội Nền kinh tế theo cơ chế thị trường từng bước được xây dựng và đã được điều chỉnh bằng hàng loạt các vãn bản pháp luật khác nhau Cơ chế kinh tế thị trường đặt ra nhu cầu phải thiết lập và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và công bằng, đảm bảo tự do cạnh tranh cho các chủ thể kinh doanh Từ Luật công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 vói vô vàn các thủ tục hành chính rườm rà phức tạp đến Luật doanh nghiệp năm 1999 và những văn bản hướng dẫn đã có một sự tiến bộ đáng kể k h i thành lập doanh nghiệp Cho đến nay, để thành lập một loại hình kinh doanh, người ta chỉ cần có Giấy chứng nhận đăng ký kinh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, về cơ bản, trên cơ sở có đơn đăng ký theo mẫu, điều l ệ của doanh nghiệp (công ty) và danh sách thành viên của công ty1
Điều đó đã góp phần quan trọng vào sự xuất hiện của 140.0002 doanh nghiệp dân doanh, như trên
đã đề cập, trên thị trường cạnh tranh gay gắt cùng với 5000 doanh nghiệp nhà nước và 3000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 2,5 triệu hộ kinh doanh cá thể3
V ớ i sự gia tăng không ngừng về số lượng cũng như quy
m ô của các doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các chủ thể trên thương trường ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt nhằm thu hút khách hàng và m ở rộng thị phần
Trang 8Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay như tham gia ASEAN, APEC, ký kết Hiệp định thương mại với Hoa kỳ
và sắp tới gia nhập WTO đã và đang làm thay đổi cơ bản những yêu cầu
về quản lý kinh tế của Nhà nước, trong đó tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho m ự i chủ thể kinh doanh ở Việt Nam trở nên đặc biệt cần thiết Đây cũng là một trong những điều kiện để Việt Nam thực hiện các cam kết sau khi gia nhập WTO
Trước bối cảnh trên, việc Quốc hội khoa X I kỳ hựp thứ 6 thông qua Luật Cạnh tranh 2004 là hết sức cần thiết và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng X H C N ở nước ta Luật Cạnh tranh là cơ sở pháp lý quan trựng để duy trì và đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và chống các hành v i cạnh tranh không lành mạnh cũng như ngăn chặn những nguy cơ hạn chế cạnh tranh Đây cũng là một bước cụ
thể hoa Nghị Quyết Đ ạ i hội Đảng lần thứ IX: "Cơ chế thị trường đòi hỏi
phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển "
Ngay k h i ra đòi, Luật Cạnh tranh đã được sự quan tâm của giới nghiên cứu, các nhà quản lý, các chủ thể kinh doanh cũng như người tiêu dùng Tuy nhiên, khác với nhiều đạo luật khác, Luật Cạnh tranh là đạo luật đặc thù lần đầu tiên được ban hành ở Việt Nam Nhiều chế định, khái niệm, phạm trù trong Luật còn rất xa lạ không chỉ đối với các doanh nghiệp m à cả đối v ớ i các luật gia, luật sư, các nhà nghiên cứu cũng như cơ quan tư pháp Điều này gây không ít khó khăn vướng mắc cho việc áp dụng Luật trong thực tiễn
Bên cạnh đó, để Luật Cạnh tranh được áp dụng trong đòi sống thực tiễn hàng loạt các vấn đề cần phải có văn bản dưới luật cụ thể hoa như giải quyết tranh chấp, thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc x ử
lý vụ việc, v.v còn chưa được xác định hoặc chưa rõ ràng C ơ chế thực t h i
Trang 9Luật phải được xây dựng như thế nào để phù hợp với bối cảnh kinh tế Việt Nam cũng còn là một câu hỏi lòn chưa có lòi giải đáp
Để làm sáng tỏ và giải đáp phần nào những vấn đề nêu trên, cần phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về Luật Cạnh tranh nói chung và về giải pháp thực thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh Việt Nam nói riêng Cũng vì thế, việc tìm hiểu và phân tích để tổ đó đề xuất các giải pháp áp dụng Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 là vấn đề hết sức bức xúc hiện nay Đây cũng là lý do để nhóm nghiên cứu chọn vấn đề "Nhũn? nội dung cơ bản
của Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 và đề xuất áp đụn?" làm đề tài nghiên
cứu khoa học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài hệ thống hoa những vấn đề lý luận về pháp Luật Cạnh tranh nói chung và phân tích tổng quan Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004
- Dự đoán một số vấn đề phát sinh trong qua trình thực thi Luật Cạnh tranh và khả năng giải quyết cũng như thẩm quyền của cơ quan xử lý
vụ việc, độc quyền hành chính
- Đề xuất những giải pháp để việc thực thi Luật Cạnh tranh có hiệu quả trong thực tiễn, đặc biệt đề xuất về cơ quan giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xử lý vụ việc cũng như tính độc lập của Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Thương mại), v.v
3 Đôi tuợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của dề tài là Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004,
trong đó đặc biệt là những những vấn đề liên quan đến cơ chế đảm bảo thực thi Luật Cạnh tranh có hiệu quả trong thực tiễn Đ ố i tượng nghiên cứu của
đề tài còn bao gồm nội dung cũng như kinh nghiệm thực thi luật cạnh tranh của một số nước có liên quan
4 Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Đề tài lấy mốc thời gian nghiên cứu những vấn đề liên quan
đến cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh là năm 1990 - năm ban hành Luật
Trang 10công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam Ngoài ra, khi đề xuất các giải pháp thực thi Luật Cạnh tranh Việt Nam, đề tài đề xuất giải pháp cho nhiều năm tới
Về không gian: Các hành vi cạnh tranh xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, các
hành vi xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng ảnh hưởng đến cạnh tranh ở Việt Nam
Về nội dung: Nội dung nghiên cứu của đề tài giới hạn ở những vẩn đề
chung nhất về pháp luật cạnh tranh nói chung và nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biên chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, đề tài áp dặng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp truyền thống như: phân tích, luận giải, tổng hợp, thống
kê, đặc biệt là phương pháp so sánh luật học
6 Nội dung nghiên cứu:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mặc tài liệu tham khảo, bố cặc của đề tài bao gồm 4 chương:
Chuông ì: Một số vấn đề lý luận về cơ bản về pháp luật canh tranh
Chương li: Những nội dung cơ bản của Luật Canh tranh Việt Nam năm
2004
Chương HI: Những đề xuất để đưa Luật Cạnh tranh vào áp dặng một cách
có hiệu quả trong thực tiễn
Trang 11CANH TRANH
ì Khái niệm về cạnh tranh
Ì Nguồn gốc, bản chất, vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh
Dưới giác độ kinh tế, cạnh tranh là một khái niệm liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế và mọi chủ thể kinh doanh Tuy vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế kinh tế nhất định - cơ chế thị trường, nơi pháp luật thầa nhận
và bảo đảm thiết chế sở hữu đa thành phần, quyền tự do ý chí trong đó có tự
do kinh doanh của cá nhân Mặt khác, pháp luật cũng phải bảo đảm trên thị trường sẽ không tồn tại bất kỳ một rào cản tầ quản lý hành chính hay của các chủ thể kinh doanh có sức mạnh thị trường đối vói các Newcomer (doanh nghiệp tiềm năng chuẩn bị hoặc mới gia nhập thị trường) Có tự do cạnh tranh, nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của nó và phát huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nếu thầa nhận cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội, là nhân tố làm lành mạnh hoa các quan hệ xã hội khi nhà nước đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể thuộc mọi thành phẩn kinh tế thì nó cũng kéo theo hệ quả đào thải - có nghĩa là doanh nghiệp yếu kém sẽ có xu hướng bị loại ra khỏi thị trường - và những ảnh hưởng tiêu cực đối vói nền kinh tế của cạnh tranh
Cùng vói sự xuất hiện hiện tượng "cạnh tranh" trong thực tiễn kinh doanh đã kéo những tranh luận, liệu người ta có thể quan niệm thống nhất về cạnh tranh được hay không Tầ trước tới nay, đã có khá nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh Chẳng hạn, theo Tầ điển tiếng Việt, cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về phía mình4 Cạnh tranh cũng có thể được hiểu là hành vi của doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên5
4 Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như ý chù biên), NXB Vân hóa Thông tin, Hà Nội 1998 tr 258
s°mu
( P h á p ) ' t h e ° N g u y ễ n H ữ u H u y ê n ' L u ? ' C i ? n h tranh cua Pháp và Liên minh Châu Âu, NXB Tư
Trang 12Do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh t ế hiện đại, các định nghĩa về cạnh tranh mặc dù đều nêu được trong chừng mực nhất định những đặc điểm căn bản về cạnh tranh, tuy vậy, chúng đều có những hạn chế nhất định và chưa đảm bảo tính khái quát cao và bao trùm trong thực
tiễn Nhìn chung, cạnh tranh được coi là hành vi của các chủ thể trong khi
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với mục đích %iành và thiết lập cho mình những ưu thế có lợi nhất để thu lợi nhuận cao nhất Tuy nhiên, cạnh tranh cũng chỉ xuất hiện và tộn tại trong nền
k i n h tế thị trường, nơi có sự tham gia của ít nhất hai hoặc nhiều người cung cấp hoặc có nhu cầu và những người này có ít nhất một số mục đích đối kháng với nhau, sự đạt được mục đích của người này sẽ dẫn đến sự thất bại của người kia và ngược lại
Bản chất của cạnh tranh: Nếu nhìn khái quát trên bình diện toàn xã hội, cạnh
tranh diễn ra một cách công bằng luôn có những tác động tích cực thúc đẩy nền k i n h tế phát triển Cạnh tranh buộc các đối thủ phải tự cải tổ và trang bị cho mình những điều kiện tốt nhất để duy trì sự tộn tại và phát triển trên thị trường Kết quả đó cũng mang lại cho toàn xã hội những l ợ i ích đáng kể, ví dụ như chất lượng mẫu m ã sản phẩm tốt và phong phú hơn v ớ i mức giá phải chăng, hợp lý hơn M ộ t điều đáng lưu ý là cùng vói mục đích t ố i đa hoa l ợ i nhuận của mình thông qua cạnh tranh để giành những điều kiện có l ợ i nhất, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều
ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác nhau Đây là tiền đề vật chất cho sự hình thành các hình thái cạnh tranh không hoàn hảo, trong đó có độc quyền trên thị trường
Ngoài ra, cạnh tranh cũng còn là yếu t ố hiệu chỉnh bên trong của thị trường Giống như quy luật cạnh tranh sinh tộn trong tự nhiên (survival o f the íittest), quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường luôn khẳng định chiến thắng thuộc về những chủ thể kinh doanh có khả năng thích nghi v ớ i thị trường, mạnh hơn, có trình độ quản lý và tri thức về khoa học công nghệ cao, có t ố chất sáng tạo và kinh nghiệm tốt thương trường Cạnh tranh cũng sẽ thúc đẩy
Trang 13việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm của xã hội một cách có hiệu quả, thúc đẩy các hoạt động đổi mới khoa học công nghệ trong sản xuất làm tăng phúc lợi cho xã hội
Vai trô và ý noỳãa của cạnh tranh: Khác với nền kinh tế k ế hoạch hoa tập
trung, như đã đề cập, nền kinh tế thở trường dựa trên 3 nền tảng chính là sự tự
do đởnh đọat của chủ thể kinh doanh, chế độ sở hữu đa thành phần và cạnh tranh Các chủ thể kinh doanh sẽ luôn luôn phải ganh đua với nhau để thu hút khách hàng và giành thở phần cho mình H ọ phải dựa vào chính n ộ i lực của bản thân để vươn lên, phải nỗ lực tìm các biện pháp sản xuất kinh doanh đảm bảo có hiệu quả nhất N h ư vậy, cạnh tranh phát huy những mặt tích cực của xã hội hay nói cách khác đóng một số vai trò cơ bản sau:
- Thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng xuất lao động và hiệu quả sản xuất:
người tiêu dùng luôn có khuynh hướng lựa chọn hàng hoa, dởch vụ có chất lượng cao vói giá thấp nhất có thể so sánh Do đó, k h i một chủ thể muốn kinh doanh có hiệu quả thì bắt buộc doanh nghiệp đó phải tìm cách chọn phương
án sản xuất có chi phí nhỏ nhất, hiệu quả nhất và đồng thời phải tìm các biện pháp tăng năng suất lao động cũng như phát triển quy m ô sản xuất nhằm khai thác những lợi thế chi phí Vì nếu không, chi phí sx sẽ tăng cao hơn dẫn đến giá thành sản phẩm cao hơn so vói doanh nghiệp áp dụng công nghệ và phương pháp sản xuất hiệu quả và tiên tiến hom K h i đó doanh nghiệp sẽ phải chọn công nghệ hiện đại tiên tiến hoặc sẽ bở thua l ỗ dẫn đến mất sức cạnh tranh và phá sản M ộ t trong những biến đổi có tính quy luật của thở trường là hiệu quả hay là chết R õ ràng rằng, nếu không tìm kiếm, áp dụng công nghệ mói, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất thì doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại được trong thở trường có sự cạnh tranh quyết liệt của các chủ thể kinh doanh
- Sử dụng tài nguyên một cách tối ưu: thông qua cạnh tranh, các chủ thể kinh
doanh buộc phải sử dụng tài nguyên một cách tiết k i ệ m nhất với hiệu quả cao nhất Vì, để giành được nguồn tài nguyên sản xuất vốn chỉ hữu hạn trong một thở trường tự do cạnh tranh với các chủ thể khác nhau là điều không dễ dàng
Trang 14đối với doanh nghiệp tham gia thị trường Hơn nữa, các doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận tối đa phải sử dụng nguồn tài nguyên đó với kết quả cao
nhất
- Thúc đẩy nghiên cứu và áp đụn?, tiến bộ khoa học công nghệ: M ộ t trong
những vấn đề quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh cổa doanh nghiệp là tạo ra được sản phẩm phù hợp vói nhu cầu và thị hiếu cổa nguôi tiêu dùng Tuy nhiên, nhu cầu và thị hiếu cổa con người thì luôn luôn thay đổi và đòi hỏi việc cung cấp các sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu đó Chính vì vậy m à các doanh nghiệp phải không ngừng tìm cách sáng tạo những sản phẩm mới
và hấp dẫn hơn tung ra thị trường nhằm thoa m ã n nhu cầu này Những doanh nghiệp cạnh tranh khác cũng có mục tiêu như vậy, do đó, họ sẽ cố gắng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để sáng chế ra các sản phẩm mói khác hoặc đổi mới chính sách sản phẩm đang có Ngoài ra, yêu cầu tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế cũng tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật, đổi mói công nghệ
- Thoa mãn nhu cầu người tiêu dùng: Nhu cầu cổa người tiêu dùng sẽ quyết
định chổng loại, số lượng, chất lượng, mẫu m ã sản phẩm cần sản xuất Cạnh tranh có hiệu quả dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn cố gắng tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu đa dạng cổa người tiêu dùng bằng m ọ i khả năng cổa mình nhằm tối đa hoa lợi nhuận Trong điều kiện như vậy, nhu cầu nguôi tiêu dùng sẽ được thoa mãn ở mức độ cao nhất m à các doanh nghiệp có thể đáp ứng được
Từ những vai trò trên, có thể thấy được ý nghĩa hết sức to lớn đối với nền kinh
tế thị trường cũng như đối với kinh tế - xã hội cổa cạnh tranh như sau:
- Cạnh tranh sẽ thỏa mãn tốt hơn sở thích của người tiêu dùng: các doanh
nghiệp muốn tạo ưu thế cạnh tranh, thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị truồng thì phải tìm cách để biết được sở thích người tiêu dùng nhằm sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu và nhu cầu cổa họ
Trong thị trường có cạnh tranh l ợ i ích cổa ngưòi tiêu dùng được đảm bảo ở mức độ tối đa Vì muốn chiếm thị phần, các chổ thể k i n h doanh sẽ phải sản
Trang 15xuất ra các sản phẩm cần thiết cho người tiêu dùng vói giá thấp nhất mà họ có thể đạt được Giá cả ở đây sẽ bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận hợp lý
đủ để cho doanh nghiệp tụn tại kinh doanh
- Khuyến khích áp dụng công nghệ mới: công nghệ mói sẽ làm giảm chi phí
sản xuất Điều này sẽ làm giảm giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có khả năng cạnh tranh qua đó chiếm được thị phần lớn hơn
- Cạnh tranh là sức ép duy nhất buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu
quả các nguụn lực (lao động, vốn, kinh nghiêm quản lý) nhằm tăng hiệu quả kinh tế Qua đó, các nguụn lực trong xã hội được sử dụng hiệu quả và hợp lý hơn
- Tạo sự đổi mới tronẹ xã hội nói chunẹ, thường xuyên và liên tục và vì vậy
mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao
2 Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh
a) Tác động tích cực và tiêu cực
Như trên đã đề cập, cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất hàng hoa đụng thòi cũng là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia Cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp có tác dụng tích cực làm tăng lợi nhuận của người kinh
doanh, chất lượng hàng hoa dịch vụ ngày càng tốt hơn, giá cả hàng hoa thấp
hơn, có lợi cho người tiêu dùng, đảm bảo lợi ích của nền kinh tế quốc dân
Bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng thể hiện những mặt tiêu cực nhất định ở chỗ cạnh tranh có xu hướng làm phân hoa các doanh nghiệp Các doanh
nghiệp có ưu thế và tiềm lực sẽ giành chiến thắng trong các cuộc canh tranh, còn những doanh nghiệp yếu kém, không đủ năng lực canh tranh sẽ gặp khó khăn để duy trì sự tụn tại, thậm chí dẫn đến phá sản Cạnh tranh cũng có thể đưa đến sự phân hoa giàu nghèo, mạnh yếu, người lao động có thể bị thất nghiệp do việc liên tục đổi mói công nghệ hoặc do doanh nghiệp của họ bị phá sản Điều này sẽ tạo
sức ép lớn đối với các chính sách kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việc cạnh tranh dựa vào các thủ pháp gian dối, lừa đảo để vượt qua các đối thủ có thể gây
Trang 16thiệt hại cho các chủ thể tham gia thị trường, tạo ra nhiều hậu quả xấu và tiêu cực đối với cả nhà nước và xã hội
b) Xu hướng chiếm lĩnh thị trường và hình hành độc quyền
Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trang nguồn lực, vốn và các yếu tố khác trong quá trình tái sản xuất Cạnh tranh cao độ sẽ làm xuất hiện nhẫng doanh nghiệp có khả năng thống lĩnh được thị trường, thậm chí giành vị trí độc quyền thị trường hàng hoa, dịch vụ nào đó Nhưng bên cạnh
đó, nhẫng doanh nghiệp có tiềm lực nhưng sức cạnh tranh còn hạn chế cũng
có thể dẫn đến con đường hình thành độc quyền thông qua việc họ liên kết lại với nhau nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh đáng kể trên thị trường Vói cách thức
đó, doanh nghiệp có thể cải thiện được năng lực cạnh tranh của mình, điều này dẫn tói hậu quả là nhẫng doanh nghiệp vừa và nhỏ khác rất dễ có nguy cơ bị thôn tính thậm chí phá sản Bởi vậy, cạnh tranh có x u hướng củng cố vị trí thống lĩnh, có thể dẫn tới độc quyền trong một khu vực thị trường, đối với một loại sản phẩm hàng hoa nhất định
Có thể coi độc quyền là hệ quả của cạnh tranh, nó xuất hiện trong nhẫng điều kiện nhất định của một chủ thể cạnh tranh cũng như môi trường cạnh tranh Độc quyền là biểu hiện lớn nhất của hạn chế cạnh tranh, dễ gây tác động xấu trên thị trường và cẩn phải có các biện pháp phòng ngừa và tác động thích hợp của pháp luật nếu như độc quyền đã hình thành
c) Tính khách quan và ảnh hưởng của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh vốn là một quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường Điều này thể hiện cạnh tranh tồn tại và vận động một cách độc lập không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các chủ thể tham gia thị trường Trong thị trường có
tự do cạnh tranh, các chủ thể có thể tự do thoa thuận, tự do quyết định giá cả,
tự do lưu thông hàng hoa và các yếu tố sản xuất, qua đó, thực hiện hợp lý việc phân phối tài nguyên, bảo đảm quyền tự do hành động và tự do lựa chọn của các nhà kinh doanh và người tiêu dùng K h i nền kinh tế thị trường vận hành theo các quy luật như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật hình thành
Trang 17giá cả thì cạnh tranh cũng có sự vận động biến đổi phù hợp với những quy luật
đó
M ộ t mặt, cạnh tranh xuất hiện một cách độc lập không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của các chủ thể tham gia thị trưứng D ư ớ i sự chi phối của các quy luật kinh tế khác, quy luật cạnh tranh buộc các chủ thể tham gia thị trưứng phải kinh doanh có hiệu quả nhất để tồn tại và phát triển ở mức độ cao hơn trong nền kinh tế thị trưứng Mặt khác, quy luật cạnh tranh tác động trực tiếp
và làm thay đổi tiềm lực nội tại cũng như phương thức cạnh tranh của những chủ thể kinh doanh tham gia thị trưứng Đ ể có thể duy trì và tồn tại cũng như tạo thế và lực trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ khác nhằm giành l ọ i ích
về phía mình, các chủ thể tham gia thị trưứng phải có chiến lược kinh doanh
Ngoài ra, cạnh tranh cũng còn tác động và ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách, pháp luật của nhà nước Nhà nước vận dụng quy luật cạnh tranh để hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, xây dựng chính sách đảm bảo tự
do cạnh tranh cũng như điều tiết các quan hộ cạnh tranh trong kinh tế thị trưứng nhằm mục đích như bảo vệ thị trưứng bảo vệ l ợ i ích của các chủ thể kinh doanh cũng như của ngưứi tiêu dùng, bảo đảm công bằng xã hội
Việc vận dụng đúng quy luật cạnh tranh là điều rất quan trọng vì nó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo môi trưứng cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo được lợi ích của ngưứi tiêu dùng, nhà sản xuất kinh doanh và l ợ i ích của toàn xã hội Ngược lại, việc bất chấp quy luật cạnh tranh hoặc vận dụng không đúng quy luật này trong khi hoạch định chính sách và pháp luật của nhà nước đều phải trả đắt; hoặc là thủ tiêu cạnh tranh, thủ tiêu động lực phát triển kinh tế tạo xu
Trang 18thế độc quyền thái quá; hoặc là tạo ra môi trường phát triển sự cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm lọi ích của người tiêu dùng, tạo ra sự bất công, phân hoa giàu nghèo, thất nghiệp, phá sản trong xã hội
l i Pháp luật cạnh t r a n h
1 V a i trò của nhà nước trong việc đảm bảo tự do cạnh tranh
Như đã đề cập, cạnh tranh chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nơi m à có sự tham giam của một số lưầng lớn các chủ thể kinh doanh (cả ở phía cung lẫn cầu) và họ hoàn toàn có quyền tự do kinh doanh, tự do ý chí K h i đã xác định vai trò của mình trong sự điều tiết thị trường thì nhà nước không thể không phát hiện, thừa nhận, bảo vệ và khuyến khích những khả năng và thuộc tính tốt đẹp cũng như ngăn ngừa những mặt trái của cạnh tranh Mặt trái của cạnh tranh cũng luôn luôn tồn tại nếu không có sự tác động tích cực của pháp luật Thiếu sự điều chỉnh đúng đắn, sẽ không có cạnh tranh hoàn hảo và hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường Điều này có thể làm phá sản hoặc ngăn cản gia nhập thị trường của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khác
ơ một khía cạnh khác, phá sản đưầc coi là hiện tưầng có ích hiểu theo lầi ích chung của cả nền kinh tế và nó giúp cơ cấu lại nền kinh tế thông qua việc loại
bỏ những doanh nghiệp yếu kém, kinh doanh không hiệu quả T u y nhiên, nếu độc quyền từ đó xuất hiện lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm sự phát triển kinh
tế Trong những bối cảnh như vậy, cần phải có sự can thiệp của "bàn tay hữu hình" (nhà nước) nhằm tạo điều kiện m ọ i chủ thể đều có thể có cơ hội gia nhập thị trường và tự do cạnh tranh Hoặc làm cho doanh nghiệp độc quyền phải xuất hiện trong trật tự có điều tiết của nhà nước như: độc quyền tự nhiên độc quyền hành chính hoặc độc quyền là hậu quả cạnh tranh hầp pháp Không chỉ độc quyền bị pháp luật cấm, những hành v i cạnh tranh không lành mạnh biểu hiện thông qua những cách thức cạnh tranh khác như bán giá thấp d è m pha đối thủ cạnh tranh, quảng cáo gây nhầm lẫn, trái với đạo đức và tập quán kinh doanh thông thường cũng bị can thiệp của pháp luật
Trang 19Nhìn chung, để điều tiết hoạt động kinh doanh trên thị trường, nhà nước sử dụng một hệ thống các công cụ như: chính sách thuế, kiểm soát giá cả, điều chỉnh độc quyển, quốc hữu hoa, ban hành luật cạnh tranh trong đó việc ban hành và cho thực hiện pháp luật cạnh tranh luôn là công cụ có hiệu quả nhất vì
nó là cơ sặ pháp lý cho việc duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh bình đẳng, ngăn ngừa và hạn chế những mặt trái của cạnh tranh
2 Khái n i ệ m pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh trong phạm v i công trình này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh Pháp luật cạnh tranh là hệ thống các quy phạm cũng như các công cụ pháp luật khác nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng
Pháp luật là một công cụ trong tay nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội
và là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng do cơ sặ hạ tầng quyết định C ơ
sặ cho sự ra đòi của pháp luật cạnh tranh chính là sự tồn tại của nền kinh tế thị trường m à các nguyên tắc nền tảng của nó là tự do khế ước, tự do kinh doanh theo đó có tự do cạnh tranh Bặi vậy, những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường cũng chính là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật cạnh tranh Sau khi ra đời, pháp luật cạnh tranh lại điều chỉnh trặ lại quyền tự do kinh doanh, tự do khế ước thông qua việc quy định các hành v i m à các chủ thể tham gia kinh doanh được phép hay không được phép thực hiện Nói cách khác, việc xây dựng Luật cạnh tranh là nhằm tạo ra khung pháp luật bảo đảm
sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng cho các chủ thể kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường
Ớ các quốc gia đã có bề dày lịch sử về pháp luật cạnh tranh, mặc dù có cơ cấu của pháp luật cạnh tranh khác nhau, song k h i xem xét các cấu thành cụ thể, h ọ đều chia pháp luật cạnh tranh thành hai lĩnh vực có nhiều đặc điểm khác biệt
Đ ó là pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh Sặ dĩ có sự phân biệt như vậy là vì tính chất, mức độ của hành
vi và mức nguy hại của chúng đối với thị trường và theo đó là thủ tục cũng
Trang 20như mức độ áp dụng các biện pháp chế tài đối với hai nhóm hành v i này là khác nhau Mặc dù, suy cho cùng những hành v i cạnh tranh đó đều có tác động xấu đến sự vận động bình thuồng của thị trường Tuy nhiên, tên gỚi của chúng cũng được các quốc gia sử dụng cũng khác nhau Ớ CH Pháp, không có một văn bản pháp luật riêng cạnh tranh (cả luật chống cạnh tranh lành mạnh
và luật chống hạn chế cạnh tranh) m à người ta chỉ ban hành hệ thống các quy phạm nằm ở các văn bản pháp luật nhau như Bộ Luật dân sự, Bộ Luật Thương mại, Bộ Luật Hình sự và cả án lệ Ó Đ ứ c được phân chia thành hai văn bản pháp luật riêng biệt đó là Luật chống cạnh tranh không lành manh và Luật cartel Ớ Hoa Kỳ, có thể gỚi chung là Luật chống tờ rớt (Anti-trust)
3 C ơ cấu của pháp luật cạnh tranh
Nhìn chung, phần lớn các nước đều chia thành 2 lĩnh vực pháp luật riêng biệt: pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (Cartel), ngay cả khi chúng không được ban hành theo những tên g Ớ i đặc trưng như thế Nếu pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được sử dụng
về thuật ngữ khá thống nhất thì pháp luật chống hạn chế canh tranh còn có thể được gỚi ở một số tên khác như: luật Cartel, pháp luật kiểm soát độc quyền, pháp luật chống độc quyền (anti-trust) Sự phân biệt trong quá trình xây dựng
áp dụng pháp luật vào hai loại văn bản khác nhau là dựa vào bản chất của hành vi, mục đích, mức độ nguy hại đối với đối tượng được pháp luật cạnh tranh bảo vệ (chẳng hạn: cơ cấu thị trường, các chủ thể cạnh tranh, l ợ i ích chung của xã hội hay người tiêu dùng ) để có cách thức điều tiết, x ử lý phù hợp
V ề nguyên tắc, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh điều chỉnh những hành v i cạnh tranh không lành mạnh Hành v i cạnh tranh không lành mạnh là hành v i cụ thể của m Ớ i chủ thể tham gia thị trường (kể cả không phải
là doanh nghiệp) nhằm mục đích cạnh tranh, thể hiện tính không lành mạnh (rất trừu tượng) có thể vô tình hoặc cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay một bạn hàng cụ thể Tính không lành mạnh của hành v i cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường và được điều chỉnh về cơ
Trang 21bản theo nguyên tắc chung của Bộ Luận dân sự (luật tư) Ở một số trường hợp đặc biệt, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể bị x ử lý về mặt hình sự Đuôi cả hai giác độ xử lý trên thì sự can thiệp của pháp luật chồ k h i có sự khiếu kiện của người có quyền và lợi ích liên quan Các chế tài phần lớn là bị buộc phải đình chồ hành v i và bồi thường thiệt hại xảy ra
Khác với pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh điều chồnh các hành vi cản trở cạnh tranh trên thị trường, từ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng sức mạnh hoặc vị trí thống lĩnh thị trường cho đến chiến lược tập trung kinh tế Thông thuồng, trong pháp luật chống hạn chế cạnh tranh của các nước đều có mục đích bảo vệ tự do cạnh tranh cũng như bảo vệ cơ cấu thị trường và tương quan thị trường Do đó, nó là một bộ phận của pháp luật về bảo vệ thị trường Do hành v i hạn chế cạnh tranh nguy hại hơn cho thị trường nói chung so vói hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nên pháp luật chống hạn chế cạnh tranh thường có cách thức xử lý nghiêm khắc hơn và kịp thời hơn bằng những biện pháp có tính hành chính kinh tế K h i xuất hiện hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ bị xử lý chủ yếu bằng các biện pháp có tính hành chính Các chế tài được áp dụng để x ử lý những hành
vi vi phạm có thể ở những dạng như: đình chồ hành vi, tuyên bố thoa thuận vô hiệu, chia tác công ty, phạt tiền, v.v Tuy nhiên, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh có đặc trưng là rất mềm dẻo, nó sẽ không áp dụng cho m ọ i truồng hợp có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh m à chồ khi nào hành v i đó có khả năng định tính hoặc định lượng ở một giới hạn nhất định hoặc có dấu hiệu bất lý thì mới bị xử lý Ngoài ra, còn vô số các trường hợp ngoại lệ có thể được được miễn trừ Vì đây là pháp luật bảo vệ tự do cạnh tranh cũng như bảo vệ cơ cấu thị trường và tương quan thị trường, nên một việc cần thiết là phải xác định được thị trường liên quan ở các giác độ về hàng hóa, về không gian và về thời gian
Trên thực tế, hành v i hạn chế cạnh tranh thể hiện chủ yếu ở 3 hình thức đó là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, làm dụng sức mạnh thị trường và tập trung kinh tế Những hành v i đó, trong chừng mực nhất định và tùy theo m ỗ i trường
Trang 22hợp cụ thể, đều ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh Trong hệ thống các quy phạm của Luật chống hạn chế cạnh tranh, thường có các quy định điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh (về luật nội dung) đồng thời có các quy định liên qua đến tố tụng cạnh tranh (về luật hình thẩc), gồm cả cơ cấu tổ chẩc và thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh
Tóm lại, về cơ bản, pháp luật cạnh tranh theo nghĩa rộng bao gồm hai lĩnh vực lớn: pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh Sự điều chỉnh của hai lĩnh vực pháp luật cạnh này đảm bảo cạnh tranh diễn ra theo đúng quy luật của nó thông qua việc bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do cạnh tranh cũng như cơ cấu và tương quan thị trường
in Sự ra đời của Luật Cạnh tranh ở Việt nam năm 2004
Ì Tính tất yếu khách quan của việc ban hành Luật Cạnh tranh
Định hướng phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thẩc sở hữu ra đời, tạo
sự phát triển đa dạng, huy động các nguồn lực từ nhân dân Điều này được đánh dấu bằng việc Luật công ty năm 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân
1990 được ban hành Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc xuất hiện các doanh nghiệp dân doanh tham gia vào thị trường ở Việt Nam Bên cạnh
đó, quyền tự do kinh doanh của cá nhân cũng được Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) khẳng định (Điều 57) làm cho các hoạt động kinh doanh trên thị trường diễn ra sôi động hơn bao giờ hết Vấn đề này làm nảy sinh sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị truồng, qua đó buộc doanh nghiệp hoạt động trên thương trường phải kinh doanh có hiệu quả
Trang 23Thực tế ở Việt Nam hiện nay, đa số doanh nghiệp có quy m ô nhỏ, số lao động trung bình 78 ngưòi/doanh nghiệp Đ ế n nay, Việt Nam chỉ có Ì ,52% doanh nghiệp được coi là lớn xét theo tiêu chí lao động và chiếm 11,73% xét theo tiêu chí vốn Số doanh nghiệp quy m ô vừa theo tiêu chí lao động cũng chỉ chiếm 12,9% Còn lại, hơn 8 0 % doanh nghiệp có quy m ô nhỏ, vốn thấp, số lượng lao động ít, hoạt động phân tán, rải rác khắp nước Các doanh nghiệp Việt Nam không đủ năng lực để cạnh tranh hiệu quả trên thầ trường với mức tự
do hoa ngày càng tăng6
Mức vốn đầu tư của các doanh nghiệp thấp và nhỏ lẻ Hiện nay, vốn trung bình của các doanh nghiệp nhà nước mói đạt 55 tỉ đồng/đoanh nghiệp, trong khi đó, số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỉ đồng vẫn chiếm tói 4 0 % M ộ t lượng vốn lớn hỗ trợ từ nhà nước là phân bổ không đều, tập trung và các tổng công
ty nhà nước tới 171 ngàn tỷ đồng trong tổng số 214 nghìn tỉ đồng7 Quy m ô vốn đầu tư nhỏ khiến cho các doanh nghiệp không có đủ khả năng ứng dụng công nghệ mới hay đầu tư vào máy móc thiết bầ hiện đại; đầu tư dàn trải, cơ cấu chưa hợp lý nên đã không tạo được mũi nhọn trong chiến lược xuất khẩu của đất nước
Mức độ đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp còn rất thấp so vói yêu cầu phát triển Hiện nay, trong k h i trình độ tự động hoa trên 2 0 % công việc đã phổ biến ở 80,77% các doanh nghiệp có vốn F D I thì m ớ i có 20,69% doanh nghiệp nhà nước và 38,55% doanh nghiệp dân doanh đạt được mức này V ớ i trình độ công nghệ hiện nay, các doanh nghiệp khó có thể nâng cao năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm
Vói số lượng đông đảo các chủ thể kinh doanh như trên, sự cạnh tranh của h ọ trong từng lĩnh vực, từng ngành hàng ngày càng trở nên gay go và quyết liệt hơn Điều đó làm các chủ thể kinh doanh,phải tự cải tổ hơn nữa để duy trì sự tồn tại và phát triển. ị - J
, " 0 r , 3
L
Thời báo Kinh tế Việt Nam, ngày 28.9.2005: Những hạn chế nội tại của doanh nghiệp xuất khẩu
Trang 24Cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường đã làm cho nền kinh tế ở nước ta có những biển đổi căn bản Hàng hoa trên thị trường d ồ i dào phong phú, đời sống người dân dần được cải thiện, tăng trưởng kinh tế hàng năm khá
ổn định, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm là 7% Chính sách kinh tế mới đã thừc sừ khơi dậy khả năng tiềm tàng của các thành phần kinh tế Người dân đã có lòng tin vào quy luật thị trường, quy luật cạnh tranh
Nhìn chung, cạnh tranh đã xuất hiện và từng bước phát triển ở Việt Nam với những tiền đề cơ bản ban đầu: có nhiều doanh nghiệp thuộc m ọ i thành phần kinh tế tham gia hoạt động trên thị trường; quyền từ do kinh doanh của các chủ thể kinh tế thừa nhận; cơ chế giá cả bước đầu được hình thành theo thoa thuận ở hầu hết các sản phẩm hàng hoa, dịch vụ, Tuy nhiên, do nguyên nhân khách quan, chủ quan nên nhận thức về vấn đề cạnh tranh và độc quyền trong k i n h doanh vẫn chưa nhất quán, rõ ràng Nếu xét về cơ cấu và tương quan thị trường ở các ngành, các lĩnh vừc nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung thì tỷ trọng kinh tế nhà nước còn lớn, nhiều mặt hàng nhà nước vẫn g i ữ độc quyền kinh doanh, các doanh nghiệp độc quyền chủ yếu là độc quyền nhà nước Trên thừc tế, chưa có một doanh nghiệp độc quyền nào được hình thành thông qua quá trình cạnh tranh
b) Nhu cầu điều tiết nền kinh tế thị trường bằng một hệ thông văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Cạnh tranh
Cơ chế thị trường là một cơ chế từ điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoa, điều tiết sừ vận động của kinh tế thị trường thông qua tác động của các quy luật kinh tế Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản của m ỗ i chủ thể kinh doanh là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai
M ộ t điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là trên thị trường có sừ tham gia của kinh doanh của m ọ i thành phần kinh tế Sừ tồn tại của những doanh nghiệp trên thị trường, về mặt bản chất, đã chứng minh hiệu quả kinh doanh và chiến lược kinh doanh của họ Không có chiến lược cạnh tranh khả t h i , doanh
Trang 25nghiệp sẽ bị đẩy ra khỏi guồng máy cạnh tranh của thị trường Cạnh tranh luôn là phương thức hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế thị trường
Mục đích của cạnh tranh là nhằm đạt được những lợi ích kinh tế nhất định k h i tham gia vào thị trường, m ọ i chủ thậ đều hướng tới việc tối đa hoa lợi ích kinh
tế của mình: người bán hướng tới việc tối đa hoa lợi nhuận thu được với các nguồn lực cho trước, người mua hướng tới việc tối đa hoa lợi ích sử dụng với các khoản thu nhập cho trước
Về mặt bản chất, cạnh tranh là m ỗ i doanh nghiệp đều tìm cách hạ thấp chi phí sản xuất hàng hoa, dịch vụ của mình nhằm đạt được l ạ i thế về giá cả so vói các chủ thậ cạnh tranh khác Trong điều kiện m ọ i chủ thậ được tự do hoạt động trên thị trường, lợi thế cạnh tranh chỉ thuộc về các doanh nghiệp biết áp dụng những biện pháp tiên tiến về quản lý, kỹ thuật và công nghệ sản xuất Trên giác độ đó, cạnh tranh có ý nghĩa rất tích cực đối vói phát triận kinh tế
N ó góp phần thúc đẩy nghiên cứu và áp dụng khoa học - công nghệ, tăng năng suất lao động, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoa, dịch vụ N ỗ i lo bị đối thủ vượt lên có tác dụng kích thích, buộc các nhà doanh nghiệp tiến hành đa dạng hoa sản phẩm, cải tiến mẫu mã, giảm chi phí sản xuất và đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của khách hàng
Thực tế cho thấy giá cả thị trường, cung - cầu và cạnh tranh là ba bộ phận có quan hệ mật thiết với nhau như những mắt khâu trong một guồng máy Tác động của chúng đến cơ chế thị trường có thậ làm bộc l ộ không chỉ các ưu thế
m à còn cả những khuyết tật của cơ chế thị trường
Việc đánh giá một cách đầy đủ các ưu thế và khuyết tật của cơ chế thị trường
là rất khó, tuy nhiên, có thậ thấy rằng cơ chế thị trường có các ưu t h ế n ổ i bật sau:
- Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thậ kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh mang tính cạnh tranh của
họ Do đó, làm cho nền kinh tế phát triận năng động, huy động được các nguồn lực của xã hội vào phát triận kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triận, nâng cao năng suất lao động xã hội-
Trang 26- Sự tác động của cơ chế thị trường thông qua quy luật cung - cầu tới nền
k i n h tế giúp thoa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp
- Cơ chế thị trường có tính mềm dẻo, có khả năng thích ứng cao đối với những thay đổi của nền kinh tế
Nhờ các ưu thế nói trên m à cơ chế thị trường có thồ giải quyết được ba vấn đề
cơ bản của một chủ thồ kinh doanh Song cơ chế thị trường không phải là hiện thân của sự hoàn hảo, bên trong nó vẫn tồn tại những khuyết tật vốn có như:
- Trong cơ chế thị trường, mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là tối đa hoa lợi nhuận Không ít doanh nghiệp sẽ tìm m ọ i cách đồ đạt được lợi nhuận tối đa; do đó, có thồ dẫn đến hậu quả xấu về môi trường, thị trường, lợi ích chung của xã hội;
- Những tác động của cơ chế thị trường thường gây ra sự phân hoa giàu nghèo đậm nét nên ảnh hưởng xấu đến đạo đức và tình người;
- M ộ t nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường khó tránh khỏi những thăng trầm và khủng hoảng kinh tế có chu kỳ
- Cạnh tranh khốc liệt đồ tồn tại cho nên sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế, thủ tiêu cạnh tranh Điều này sẽ có thồ dẫn tới sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng, của xã hội bị xâm hại
Như vậy, bên cạnh các tác động tích cực đối với kinh tế - xã hội, cơ chế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều tác động tiêu cực; cho nên rất cần phải có hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh đồ khắc phục và hạn chế những tác động tiêu cực do cơ chế thị trường tạo ra
Sự đổi mới chính sách kinh tế đã làm cho nền kinh tế theo cơ chế thị trường ở nước ta vận động và phát triồn theo những quy luật cũng như mang trong mình những đặc điồm vốn có của nó Bởi vậy, xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế, trong đó có Luật Cạnh tranh nhằm điều chỉnh các họat động kinh tế, kinh doanh ở nước ta là rất cần thiết
Trang 27c) Nhu cầu chống cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh
trong nền kinh tê theo cơ chế thị trường
Như đã trình bày ở trên, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của
nền k i n h t ế thị trường, là phương thức hoạt động chủ yếu của các doanh
nghiệp tham gia thị trường Cạnh tranh có thể gây tác động tích cực giúp cho
cơ chế thị trường phát huy các ưu thế của mình, cũng có thể gây tác động tiêu
cực khiến cho cơ chế thị trường bộc l ộ các khuyết tật vốn có Cạnh tranh trên
thị trường nược ta trược thời điểm ban hành Luật Cạnh tranh còn nhiều hạn
chế do các hành v i cạnh tranh của các doanh nghiệp; cụ thể là:
- Hành vi hạn chế cạnh tranh của một số doanh nghiệp thông qua thoa thuận, thông đồng cấu kết
Trên thị trường nược ta đã xuất hiện hiện tượng các đối thủ cạnh tranh thoa
thuận ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia kinh doanh, m ở rộng
hoạt động, ứng dụng công nghệ mợi hoặc ấn định sản lượng, tẩy chay không
cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ
Bên cạnh đó, sự thoa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh để phân chia địa bàn
hoạt động, thị trường người cung cấp hoặc thị trưòng người tiêu thụ cũng đã
xuất hiện Đây là tình trạng cát cứ của những doanh nghiệp địa phương hoặc
những doanh nghiệp thành viên của các Tổng công t y làm cho thị trường bị
chia cắt, việc lưu thông hàng hoa trở nên khó khăn
Ngoài ra, giá một số mặt hàng như tân dược, vật liệu xây dựng, nông sản và
một số mặt hàng nhập khẩu bị thao túng, khống chế vào một vài thòi điểm bởi một số người kinh doanh liên kết vợi nhau Các thoa thuận trong trường hợp
này thường không mang tính chính thức
Phổ biến hơn là tình trạng phối hóp ra quyết định cùng hành động giữa các
doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trong hiệp hội Các thoa thuận này là chính
thức M ộ t số hiệp hội rằng buộc các thành viên trong việc định giá (định giá
thu mua nông sản xuất khẩu), phương thức tính giá (các doanh nghiệp thuộc
Hiệp hội taxi thành phố H ồ Chí M i n h thống nhất cách tính giá cược taxi), kìm
giữ giá (đầu năm 2002, các ngân hàng thương mại quốc doanh liên kết vợi
Trang 28nhau để định mức lãi suất cho vay hoặc lãi suất huy động trên thị trường chung) và thậm chí ép buộc những đơn vị không phải thành viên phải tuân thủ những quy định hạn chế cạnh tranh này
Ngoài ra, hiện tượng thoa thuận thông đồng trong đấu thầu xây dắng cũng diễn ra một cách tràn lan Các doanh nghiệp thoa thuận với nhau để định ra người thắng thầu hoặc làm sai lệch giá trúng thầu, đẩy giá trúng thầu lên sát vói giá trần
- Hành vi lạm dụnẹ ưu thế của doanh nghiệp chi phối thị trường
Các doanh nghiệp nhà nước lớn (tổng công ty độc quyền có khả năng chi phối thị trường) có thể sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh để duy trì vị trí chi phối thị trường
Hành vi lạm dụng mang tính chất cửa quyền của các doanh nghiệp này thường liên quan đến giá cả hoặc các điều kiện thương mại khác Các doanh nghiệp độc quyền mua thì ấn định giá mua thấp (giá thu mua nông sản thấp), độc quyền bán thì bán giá cao (giá cước viễn thông, x i măng, sắt thép, cao), kìm giữ giá (xăng dầu) để thu lợi nhuận siêu ngạch hoặc định giá bán thấp hơn giá thành toàn bộ của sản phẩm để loại bỏ đối thủ cạnh tranh M ộ t hình thức cửa quyền phổ biến của các doanh nghiệp độc quyền nhà nước là phân biệt đối xử
về giá các sản phẩm dịch vụ cung cấp (giá điên phân biệt theo nhiều loại đối tượng) Việc bù giá chéo giữa các loại hình sản phẩm dịch vụ tạo điều kiện hạch toán không rõ ràng, kết quả là người tiêu dùng phải gánh chịu cả những chi phí bất hợp lý
Tình trạng áp đặt các điều kiện rằng buộc bất hợp lý trong kinh doanh như ép mua, ép bán; mua kèm, bán kèm những sản phẩm dịch vụ không cần thiết chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp nhà nước lớn và người tiêu dùng, giữa các nhà máy chế biến, công ty thu mua với nông dân, trong lĩnh vắc bảo hiểm và một số loại hình vận tải
Các doanh nghiệp độc quyền còn có những hành v i từ chối giao dịch với đối tác kinh doanh hoặc người tiêu dùng, nhất là trong các ngành dịch vụ Đ ộ c quyền cung ứng đã hạn chế khả năng lắa chọn của khách hàng, gây thiệt thòi
Trang 29cho khách hàng vì phải chi trả một khoản tiền không tương xứng với chất lượng của hàng hoa
Sự tồn tại của các tổng công ty theo ngành nghề kinh doanh và sự phân chia thị trường giữa các doanh nghiệp thành viên theo địa phương vừa hạn chế khả năng lựa chụn của người tiêu dùng, vừa hạn chế khả năng của doanh nghiệp thành viên tham gia kinh doanh trong lĩnh vực khác
- Sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp
Cho đến nay, các trường hợp sáp nhập, hợp nhất làm tăng đáng kể mức độ tập trang tích tụ của thị trường chỉ diễn ra theo quyết định hành chính của nhà nước Đ ó là sự thành lập các tổng công ty và các liên doanh Các liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và tổng công ty nhà nước hiện nay đang g i ữ vị trí quan trụng thị trường càng làm tăng khả năng chi phối thị trường của các doanh nghiệp độc quyền và làm cho thị truồng trở nên tập trung hơn Mặt khác, liên doanh thúc đẩy cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước, với đối tác của hụ trên thị trường và vói các doanh nghiệp nước khác về giá cả, thu hút khách hàng, tìm kiếm các nguồn lực, Liên doanh cũng như doanh nghiệp nước ngoài có vốn đầu tư nước ngoài khác tuy chưa nắm được vị trí độc quyền nhưng vẫn có thể tạo ra độc quyền nhóm
- Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành v i cạnh tranh không lành mạnh là những hành v i cạnh tranh không phù hợp với đạo đức của xã hội trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Những hành v i này có thể gây hại cho người tiêu dùng, cho đối thủ cạnh tranh hoặc đối tác kinh doanh của doanh nghiệp M ộ t số hành v i cạnh tranh không lành mạnh đã được điều chỉnh bằng ở một vài văn bản pháp luật khác nhau như Luật Thương mại, Bộ Luật dân sự, nhưng chưa quy định chế tài, một số hành v i canh tranh không lành mạnh khác hoàn toàn chưa được điều chỉnh Hành v i cạnh tranh không lành mạnh gây hại cho người tiêu dùng rất đa dạng nhưng chủ yếu gồm các hành v i làm hàng giả, định giá không tương xứng với chất lượng hàng hoa, quảng cáo sai sự thật về sản phẩm của mình và k h i so
Trang 30sánh với sản phẩm khác, khuyến mại lừa đảo về giá cả, chất lượng, mức thưởng
Hàng giả cũng được tung ra thị trường với các hình thức giả về chất lượng (chất lượng không đúng như ghi trên bao bì, giói thiệu, quảng cáo), giả nhãn mác (nhái hoặc mạo nhãn mác hàng hoa của các hãng có uy tín lớn trên thị trường như các loại xe máy với nhãn mác Waver, Weaser, của Trung Quốc nhái nhãn mác xe Wave của Honda, Nhật Bản) hoặc nguy hại hơn là giả cả về chất lượng và nhãn mác (rượu hay nước hoa ngoại rởm loại đụt tiền) Mặc dù ở một chừng mực nhất định, pháp luật đã có quy định về sản xuất và tiêu thụ hàng giả nhưng việc thực thi và xử lý chưa nghiêm nên tình trạng này vẫn còn diễn ra
Lợi dụng sự thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm dịch vụ, có những trường hợp giá cả được đưa ra rất cao, hoàn toàn không tương xứng vói chất lượng thực sự Đây chính là hành v i lừa d ố i khách hàng Hoạt động quảng cáo, khuyến mại ngày càng phát triển vói nhiều hình thức đa dạng nhưng còn thiếu quy định điều chỉnh về n ộ i dung cạnh tranh lành mạnh
N h i ề u trường hợp quảng cáo cường điệu, thổi phồng ưu điểm hàng hoa của mình, đưa ra so sánh gây hiểu nhầm về hàng hoa khác Thậm chí có trường họp mang tính chất lừa đảo như quảng cáo về tính chất không hề có của sản phẩm (thường gặp đối với dược phẩm, mỹ phẩm) Cạnh tranh gay gụt đòi hỏi phải quảng cáo, khuyến mại để khách hàng biết nhiều hơn đến sản phẩm của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoa của mình; nhưng chúng ta không thể chấp nhận các hành v i quảng cáo, khuyến mại với mục đích cạnh tranh không lành mạnh, lừa d ố i người tiêu dùng
Các hành vi gây hại cho đối thủ cạnh tranh chủ yếu gồm dèm pha, bôi nhọ đối thủ, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, v i phạm hợp đồng,
c h i ế m đoạt hoặc làm l ộ bí mật kinh doanh, thông đồng với cơ quan nhà nước
để cản trở, loại trừ đối thủ cạnh tranh
Trang 31Hành v i dèm pha, bôi nhọ đối thủ được thực hiện bằng việc tung tin thất thiệt nhằm làm giảm uy tín của đối thủ Thị trường rượu bia tại Việt Nam có thời
kỳ rộ lên với các tin đồn về bia Tiger có gián khiến cho các nhà chữc trách Việt Nam tốn không ít công sữc m à không tìm ra nguyên nhân tại sao một quy trình sản xuất bia khép kín tối tân như vậy lại bị gián chui vào; còn người tiêu dùng cữ nhìn thấy bia Tiger lại tưởng tượng ra nguy cơ uống phải gián N h ư vậy, bằng những biện pháp tung tin thất thiệt, các chủ thể cạnh tranh đã đạt được mục đích là làm cho người tiêu dùng phải "dè chừng" hay "né tránh" đối vói sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, gây ra những bất lợi hay đưa đến thiệt hại đáng kể cho đối thủ cạnh tranh
Gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh cùng là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh dễ gặp ở Việt Nam, chẳng hạn vụ phá sóng taxi V 2 0 tại H à nội năm 2001 Hãng taxi này đã không chịu gia nhập hiệp hội, lại có những chính sách, phương thữc tính giá ưu đãi cho khách hàng M ộ t doanh nghiệp taxi khá mạnh nằm trong hiệp hội bèn dùng thiết bị phá sóng khiến các khách hàng không thể gọi điện thoại vào tổng đài của V20 được Hành v i này không những gây tổn thất cho đối thủ cạnh tranh m à còn làm phương hại đến quyền lợi của người tiêu dùng
Pháp lệnh họp đồng kinh tế được ban hành từ năm 1989 đã có nhiều điểm không còn phù hợp (Pháp lệnh này còn có hiệu lực đến hết tháng 12/2005) Luật thương mại và Bộ Luật dân sự (trước kia) cũng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế dân sự nhung còn có nhiều điểm mâu thuẫn nhau Hợp đồng được các doanh nghiệp Việt Nam soạn thảo thường thiếu chặt chẽ cùng với sự thiếu sót của pháp luật hợp đồng đã dẫn đến tình trạng v i phạm cam kết Các hình thữc vi phạm chủ yếu là đơn phương huy bỏ hợp đồng m à không có sự đền bù, thanh toán không đúng cam kết trong hợp đồng, từ chối nhận sản phẩm đã giao kèo, giảm giá trị hợp đồng so với ban đầu Nghiêm trọng hơn là các vụ vi phạm hợp đồng quốc tế làm giảm uy tín của doanh nghiệp nước ta nói chung
Trang 32Khai thác bí mật kinh doanh một cách bất hợp pháp hoặc làm l ộ bí mật kinh doanh cũng là một hành v i cạnh tranh không lành mạnh hiện nay đang trở nên phổ biến hơn nhưng chưa được pháp luật quan tâm đúng mức
Một hành v i cạnh tranh không lành mạnh mang tính chất nghiêm trọng hơn là thông đồng với cán bộ của cơ quan nhà nước như thuế, công an, quản lý thị trưống, hải quan để cản trở, loại trừ đối thủ cạnh tranh
Mặc dù nhà nước đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về quyền kinh doanh của tổ chức, cá nhân như Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Luật doanh nghiệp 1999, Luật hợp tác xã 2003, Luật doanh nghiệp nhà nước
2003, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000), Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1998, Luật các tổ chức tín dụng 1997, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004), Luật kinh doanh bảo hiểm, Tuy nhiên những văn bản này chưa có chế tài đủ mạnh để kiểm soát, xử lý hành v i cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh của các chủ thể tham gia kinh doanh Nhiều hành v i chưa được xử lý hoặc xử lý chưa nghiêm Tình trạng nêu trên đòi hỏi cần có những biện pháp để kiểm soát quá trình hình thành vị trí thống lĩnh thị trưống, vị trí độc quyền thông qua hành vị hạn chế cạnh tranh tập trung kinh tế của các doanh nghiệp nhằm tạo lập và duy trì môi trưống cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng
T ó m lại, trên thị trưống nước ta hiện nay đã xuất hiện ngày càng nhiều các hành v i thoa thuận hạn chế cạnh và cạnh tranh không lành mạnh Điều này không chỉ gây thiệt hại cho ngưối tiêu dùng, các doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh chân chính m à còn cả kinh tế - xã hội đất nước Vì vậy, cần phải có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát và xử các hành v i nói trên bằng một văn bản luật có chế tài đủ mạnh; đó chính là Luật Cạnh tranh
d) Nhu cầu tạo lập và duy trì một mõi trưống kinh doanh bình đẳng
Về nguyên tắc, m ọ i doanh nghiệp đã được hình thành và hoạt động trong nền
k i n h t ế thị trưống đều bình đẳng trước pháp luật, Điều 16, Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi 2001) K h i đã được Hiến pháp ghi nhận luật điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có chung đối tượng điều chỉnh là các chủ
Trang 33thể không phân biệt quy m ô , nguồn vốn và lĩnh vực hoạt động Nhưng trên thực tế, luật điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của nước ta bị "lệch pha" về đối tượng điều chỉnh Các chủ thể tham gia vào hoạt động sản kinh doanh bị phân chia theo hình thức sụ hữu vốn và luật được xây dựng riêng cho từng loại hình sụ hữu này, cụ thể là:
- Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 điều chỉnh sự hình thành và hoạt động của các doanh nghiệp do nhà nước đầu tư vốn;
- Luật Đ ầ u tư nước ngoài tại Việt Nam 1996, (sửa đổi, bổ sung năm 2000) điều chỉnh sự hình thành, hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp của nước ngoài (các doanh nghiệp FDI);
- Luật Hợp tác xã 2003 điều chỉnh sự hình thành, hoạt động của hợp tác
xã (thường được gọi là kinh tế tập thể);
- Luật Doanh nghiệp 1999 điều chỉnh sự hình thành, hoạt động của doanh nghiệp do tư nhân đầu tư vốn (thường được g ọ i là doanh nghiệp dân doanh)
Ngoài ra, trong thực tế còn khá nhiều doanh nghiệp trực thuộc các cơ quan Đảng, Đoàn thể, các Bộ như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Trung ương đoàn TNCS H ồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động V i ệ t Nam, H ộ i Phụ nữ V i ệ t Nam, v.v Đây là những doanh nghiệp mang trong mình nhiều dấu hiệu và đặc trưng khác nhau, nên không thể xếp chúng vào đối tượng điều chỉnh của riêng một văn bản pháp luật nào trong số những luật đã nêu ụ trên Ngoài ra, còn có hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh cá thể cũng không thuộc diện điều chỉnh của các Luật nêu trên m à thuộc diện điều chỉnh của Luật Thương mại và Bộ Luật Dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan khác
Sự khác biệt về chủ thể bị áp dụng của các văn bản pháp luật tất yếu dẫn đến một hệ thống không thống nhất giữa những văn bản hướng dẫn quy định về các chính sách cụ thể riêng cho từng loại hình doanh nghiệp N h ư vậy các doanh nghiệp cùng tham gia kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường nhưng vị
t h ế cạnh tranh của từng doanh nghiệp lại không hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực bản thân của mỗi doanh nghiệp m à chủ yếu phụ thuộc vào loại hình và chủ
Trang 34sở hữu của doanh nghiệp đó Vì thế, không có cơ sở pháp lý thống nhất của môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng cho những doanh nghiệp này tồn tại Đ ộ c quyền trong kinh doanh có những nguyên nhân ngay từ trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bên cạnh đó, việc sị dụng sức mạnh thị trường, công nghệ, tài chính của những doanh nghiệp có nguồn vốn
từ những tập đoàn tư bản nước ngoài trong qua trình kinh doanh có thể gây những áp lực lớn về cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước Việc hạn chế sự lạm dụng sức mạnh thị trường, công nghệ, tài chính của h ọ là một đòi hỏi có tính bắt buộc cho sự tổn tại của các doanh nghiệp trong nước Những hình thức và phương pháp cạnh tranh của một số hãng nước giải khát nước ngoài trước kia, chẳng hạn như Coca-cola gây thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp nước giải khát non trẻ trong nước là những minh chứng hùng hồn cho
sự lạm dụng sức mạnh thị trường của họ Ban đẩu, Coca - Cola hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh giữa Việt nam và Mỹ Đ ể loại bỏ các hãng nước ngọt có ga khác khỏi thị trường Việt nam cũng như loại bỏ chính bên Việt nam trong liên doanh, Coca - Cola đã sị dụng biện pháp bán giá thấp tức
là bán hàng dưới giá vốn để cạnh tranh; đồng thòi sị dụng các biện pháp quảng cáo và khuyên mại không lành mạnh8
Đ ể các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường nưốc
ta có được một môi trường kinh doanh bình đẳng, cần phải có một văn bản pháp luật điều chỉnh cho tất cả các chủ thể đó Vì vậy, ban hành Luật Cạnh tranh trở nên rất cần thiết để có thể tạo lập một môi trường pháp lý kinh doanh bình đẳng cho m ọ i chủ thể tham gia trên thị trường
e) Nhu cầu khách quan của tiên trình hội nhập kinh tê quốc tê
Từ tháng 07 năm 1995, trở thành thành viên chính thức của A S E A N , nước ta bắt đầu tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng hơn, đánh dấu bằng việc tham gia khu vực mậu dịch tự đo A F T A (01/1996), tham gia Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương APEC (11/1998) ký kết
" Xem thêm, Nguyễn Quốc Dũng, Nhận diện các công cụ và thủ đoạn cạnh tranh cùa các doanh nghiên tron" nền kinh tế thị trường, Tạp chí Cộng sàn, số 7/4-2000 tr 30 32
Trang 35Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (07/2000) và sắp tới là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO Quá trình này đã làm thay đổi một cách căn bản cơ cấu thị trường cũng như vai trò của cạnh tranh trong nền kinh
tế ở nước ta
K h i tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh trên thị trường sẽ không chự là các chủ thể kinh doanh trong nước m à còn bao gồm vô sô các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh về tài chính và quyền lực thị trường từ nước ngoài Đây là những chủ thể có bề dày kinh nghiệm cạnh tranh trên thương trường quốc tế và họ cần có một môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng để họ
có thể phát huy năng lực cạnh tranh của họ Đ ố i xử bình đẳng giữa các danh nghiệp trong nước và nước ngoài cũng là một trong những cam kết quan trọng trong AFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và WTO Các cam kết quốc tế sẽ tăng thêm các sức ép cạnh tranh với hàng hoa nhập khẩu và với doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam Nhiêu doanh nghiệp trong nước, thậm chí cả doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài chưa sẩn sàng đối mặt với những cuộc cạnh tranh hết sức gay gắt còn ỷ lại vào sự bảo hộ của nhà nước Bên cạnh đó, một số quy định pháp lý
từ luật cho đến các thông tư hướng dẫn đã và đang hạn chế sự tham gia thị trường và cạnh tranh, quyền tự chủ, quyền quyết định kinh doanh của doanh nghiệp
Do đó, việc ban hành Luật Cạnh tranh cũng góp phần làm cho các doanh nghiệp trong nưóc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của h ọ cũng như có thể
tự tin bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt khi các cam kết quốc tế có hiệu lực đầy đủ và đáp ứng được đòi hỏi khách quan hiện nay
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ mang đến cho cấc doanh nghiệp Việt nam rất nhiều cơ hội cũng như thách thức trong sản xuất, kinh doanh M ộ t trong các thách thức đặt ra là sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng chính tiềm lực của mình chứ không phải bằng sự bảo hộ của nhà nước Mặt khác, để tham gia sân chơi chung trên trường quốc tế, Việt Nam phải tuân thủ luật chơi tức là phải có những chính
Trang 36sách cạnh tranh phù hợp nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh của m ọ i chủ thể kinh doanh nói chung cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng Cả hai vấn đề này đòi h ỏ i cần phải ban hành Luật Cạnh tranh nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập của V i ệ t Nam trong giai đoạn hiện nay
f) Sự cần thiết p h ả i điêu tiết cạnh t r a n h bằng pháp luật
N h ư trên đã đề cập, luật cạnh tranh là hệ thống các quy phạm cũng như các công cẳ pháp luật khác nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng
Luật cạnh tranh ra đời k h i và chỉ k h i có cơ sở k i n h tế-xã h ộ i cho nó tồn tại, đó chính là nền kinh tế thị trường với nguyên tắc nền tảng là t ự do hợp đồng, tự do kinh doanh Luật Cạnh tranh thực chất là tổng hợp các quy định pháp luật tác động ngược trở lại các quyền t ự do này bằng cách xác định những khuôn k h ổ ứng xử trong k i n h doanh, những gì m à các chủ thể không được phép làm Ngoài những hành v i k i n h doanh bị cấm, thì các doanh nghiệp được t ự do thực hiện Nói cách khác, Luật Cạnh tranh chính
là công cẳ m à nhà nước sử dẳng để điều tiết, đảm bảo cho cạnh tranh không diễn ra một cách thái quá, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường nền
k i n h tế Việc điều chỉnh họat động cạnh tranh bằng pháp luật còn xuất phát từ những yêu cầu khách quan sau đây:
(1) Nhu cẩu bảo vệ và điều tiết quy luật cạnh tranh, bảo vệ cấu trúc cua thị trường Trong một nền kinh tế luôn tồn tại những doanh nghiệp có quy m ô lớn nhỏ khác nhau Joseph Stiglitz (chủ nhân của giải Nobel k i n h tế n ă m 2001) đã cho rằng hành v i k i n h doanh của các doanh nghiệp lớn luôn có
xu hướng hạn chế cạnh tranh Đ ơ n giản là vì k h i nắm g i ữ độc quyền, h ọ dễ dàng tìm kiếm l ợ i nhuận hơn là việc phải không ngừng vận động tìm cách sáng tạo để đưa ra thị trường nhơn? sản phẩm tốt hơn v ớ i giá rẻ hơn K h i
đã có quyền lực thị trường trong tay (nắm g i ữ vị trí độc quyển hoặc ít ra là
vị trí thống lĩnh), doanh nghiệp sẽ tìm cách t h u l ợ i nhuận một cách nhiều nhất bằng cách hạn chế lượng sản xuất, tăng giá của sản phẩm Đ ộ c quyền
Trang 37sẽ phá vỡ cấu trúc của thị trường, bóp m é o quy luật cung cầu, làm biến dạng các quan hệ thương mại Đ ể ổn định nền k i n h tế, bảo vệ quy luật cạnh tranh trên thị trường, nhà nước phải sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó có việc k i ể m soát các hành v i hạn c h ế cạnh tranh (đó là lý
do tại sao trong Luật Cạnh tranh lại phải có các quy định về thoa thuận hạn chế cạnh tranh, l ạ m dụng ví thựng lĩnh, tập trung k i n h tế), về phương diện này, Luật Cạnh tranh vừa là công cụ hữu hiệu để điều tiết kinh tế, bảo
vệ các quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, vừa là công cụ tự vệ m à các các doanh nghiệp n h ỏ có thể vận dụng chựng lại những cạnh tranh bất công do các doanh nghiệp lớn áp đặt
(2) Nhu cầu bảo vệ các chủ thể kinh doanh, tức là các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường Đ ể tìm k i ế m t ự i đa l ợ i nhuận, các doanh nghiệp có thể sử dụng m ọ i biện pháp, kể cả các biện pháp không lành mạnh (dèm pha, nói xấu đựi t h ủ cạnh tranh, gây r ự i hoạt động của doanh nghiệp cạnh tranh, xâm phạm bí mật k i n h doanh, hoặc các biện pháp khác nhằm loại bỏ đôi thủ cạnh tranh ) Trong trường hợp này, Luật Cạnh tranh có nhiệm vụ bảo vệ các chủ thể tham gia thị trường, chựng l ạ i các hành v i cạnh tranh không lành mạnh, hạn c h ế cạnh tranh do các doanh nghiệp là đựi thủ cạnh tranh sử dụng (đó là lý do ra đời của các quy định về chựng cạnh tranh không lành mạnh và chựng hạn c h ế cạnh tranh), ở phương diện này, Luật Cạnh tranh là cơ sở pháp lý của m ọ i doanh nghiệp để chựng lại những hành v i cạnh tranh trái phép của các doanh nghiệp
(3) N h u cầu bảo vệ người tiêu dùng về phương diện này, Luật Cạnh tranh được coi là phương tiện quan trọng trong việc bảo vệ l ợ i ích hợp pháp của người tiêu dùng, duy trì các nguyên tắc của pháp luật dân sự Luật Cạnh tranh có mục đích tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng lành mạnh, m à người hưởng l ợ i của cạnh tranh lành mạnh không ai khác chính
là người tiêu dùng, bởi lẽ cạnh tranh lành mạnh bao g i ờ cũng dẫn đến hệ
Trang 38quả là các doanh nghiệp luôn phải không ngừng c ả i tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm để t h u hút ngày càng nhiều khách hàng hơn về phía mình về nguyên tắc, càng nhiều doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường thì người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội lựa chọn để thủa m ã n nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của mình
2 Sự ra đời của Luật Cạnh tranh
Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, lần đầu tiên nhà nước ta đã tiến hành soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật về cạnh tranh Đây có thể được coi là một sự kiện quan trọng trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
hệ thống văn bản pháp luật về kinh tế nhằm tạo lập môi trường kinh doanh công băng, bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh, xác lập những nguyên tắc căn bản cho nền kinh tế theo cơ chế thị trường Đ ồ n g thời cũng góp phần hài hòa hóa và tiêu chuẩn hóa các quy định của pháp luật phục vụ cho việc h ộ i nhập kinh tế quốc tế
Dự án Luật Cạnh tranh bắt đầu được triển khai xây dựng từ năm 2000 dưới sự chủ trì thực hiện của Bộ Thương mại Trong quá trình xây dựng đã có sự phối hợp chặt chẽ và sự tham gia của đại diện các cơ quan như: ủ y ban K i n h t ế Ngân sách của Quốc hội, ủ y ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ K ế hoạch Đ ầ u
tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và một số V i ệ n nghiên cứu, trường Đ ạ i học
Trong quá trình xây dựng, ban soạn thảo Luật Cạnh tranh cũng đã tổ chức nghiên cứu, tham khảo Luật cũng như những tài liệu có liên quan đến cạnh tranh từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada và vùng lãnh thổ (Đài Loan), luật mẫu của một số tổ chức quốc tế (UNCTAD, OECD) Đ ồ n g thời Ban soạn thảo cũng đã tiến hành
rà soát, hệ thống hóa các quy định pháp luật của Việt Nam, tổ chức đánh giá thực trạng hệ thống các văn bản, xác định các quy định còn phù hợp với thực tiễn để kế thừa và nâng một số quy phạm lên thành luật
Đ ể xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp với các hành v i cạnh tranh trên thị trường, Ban soạn thảo đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tiến
Trang 39hành nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học để lấy ý kiến các doanh nghiệp, chuyên gia, các nhà quản lý trong nước và nước ngoài như Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, úc, Đài Loan, UNCTAD Lần đầu tiên Ban soạn thảo Luật Cạnh tranh đã cho đăng toàn văn dự thảo luật lên mạng internet để đông đảo người dân quan tâm có thể tham gia, đóng góp ý kiến cho ban soạn thảo
Sau 15 lần sửa đủi, Luật Cạnh tranh được Quốc h ộ i khóa X I , kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày Ì tháng 7 năm 2005
Sự ra đòi của Luật Cạnh tranh 2004 góp phần làm hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về kinh tế ở Việt Nam Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, điều chỉnh bao trùm họat động cạnh tranh kinh tế, đồng thời thay thế nhiều quy định pháp luật tản mạn về cạnh tranh trước đó
Luật Cạnh tranh 2004 là sự định hướng cho các hoạt động cạnh tranh phát triển đúng hướng, đúng mục tiêu phát triển và tăng trưởng kinh tế; bảo đảm canh tranh diễn ra công bằng, và phù hợp với đạo đức xã hội Qua đó, cũng nhằm bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của nhà nước; giải quyết hài hoa m ố i quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền cũng như liên minh cạnh tranh để tạo thế độc quyền; điều chỉnh và xử lý các hành v i hạn chế cạnh tranh
có thể gây hậu quả tiêu cực cho xã hội; đáp ứng mục đích mở rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế Luât Cạnh tranh cũng xác lập về nguyên tắc quyền do cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trên thương trường
3 VỊ trí, vai trò, đặc điểm của L u ậ t Cạnh tranh
a) Vị trí của Luật Cạnh tranh trong hệ thông pháp luật
aa) Đặt vấn đê
Vị trí của Luật cạnh tranh trong hệ thống pháp luật không chỉ là vấn đề tranh cãi ở nước ta m à cả ở các nước khác, đặc biệt ở các nước có hệ thống pháp luật thể hiện dưới hình thức văn bản
Trang 40Có quan điểm cho rằng, Luật cạnh tranh thuộc lĩnh vực luật công, nó bắt nguồn từ luật hành chính Tính "công" thể hiện ở chỗ, Luật Cạnh tranh là một trong số các luật nhằm bảo đảm trật tự công cộng trong lĩnh vực kinh tế, duy trì sự tác động của nhà nước vào nền kinh tế Trong nhiều trưẩng hợp, k h i phát hiện thấy có dấu hiệu làm cản trở đến cạnh tranh, thì cơ quan công quyền được phép chủ động can thiệp m à không cẩn chẩ các đương sự khởi kiện Hầu hết Luật cạnh tranh của các nước đều cho phép các cơ quan quản lý cạnh tranh được quyền chủ động can thiệp k h i phát hiện có dấu hiệu v i phạm quy định của luật cạnh tranh Luật Cạnh tranh Việt Nam cũng quy định rằng cơ quan quản lý canh tranh sẽ điều tra vụ việc k h i phát hiện bên bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành v i vi phạm các quy định của luật này, Điều 65 Điều này lại càng thể hiện rõ ràng hơn trong các quy định của Điều 6 về các hành v i
bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước và Đ i ề u 7 về Trách nhiệm quản lý nhà nước về cạnh tranh N h ư vây, Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 cũng hàm chứa những đặc điểm của luật công
Quan điểm khác cho rằng, luật cạnh tranh thuộc lĩnh vực luật tư Các vấn đề
cơ bản của luật cạnh tranh như tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do giá cả đều xuất phát từ các nguyên tắc của pháp luật dân sự, pháp luật thương mại Nhiều c h ế định của luật cạnh tranh như cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát hành v i hạn chế cạnh tranh thực chất là sự phát triển của Luật dân sự, Luật thương mại (ví dụ cạnh tranh không lành mạnh có cơ sở từ những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự như tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp (Điều
8, B L D S 2005), từ chế định bồi thưẩng thiệt hại ngoài hợp đồng trong dân sự, điều khoản hạn chế cạnh tranh có cơ sở từ luật thương mại)
Quan điểm thứ ba cho rằng, Luật Cạnh tranh nằm ở giữa các dấu hiệu của luật
tư và luật công, phá vỡ biên giới giữa luật công và luật tư Luật Cạnh tranh mang trong mình những nguyên tắc, quy định của rất nhiều các vãn bản pháp luật như: Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Hành chính, Luật Hình sự Luật Cạnh tranh sử dụng các chế tài của các ngành luật khác đ ố i với chủ thể
có hành vi v i phạm pháp luật cạnh tranh Đ ó là chế tài dân sự (áp dụng đối với