1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống tư liệu đảo, quần đảo dùng trong dạy học địa lý việt nam lớp 8 thcs

63 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG BIỂU Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 1 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8 17 Bảng 2 Hệ thống đảo, quần đảo trong dạy học Địa lí lớp 8 34 Bảng 3 Hệ thống tư

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Cử nhân sư phạm Đi ̣a lí

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Cử nhân sư phạm Đi ̣a lí

Người hướng dẫn:

PGS.TS Đâ ̣u Thi ̣ Hòa

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Em xin chân

thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Đậu Thi Hòa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ,

tạo mọi điều kiện để em hoàn thành đề tài này

Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Địa lí trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Trong quá trình làm bài khó tránh khỏi sai sót rất mong thầy cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lí luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn ít nên bài báo cáo không tránh khỏi sai sót em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô

để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn bài báo cáo

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Võ Thị Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………1

1 Tính cấp thiết của đề tài……….1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……….1

2.1 Mụ tiêu……….1

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….2

3.1 Đối tượng nghiên cứu……….2

3.2 Phạm vi nghiên cứu………2

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….2

5 Phương pháp nghiên cứu……… 3

6 Bố cục đề tài………3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 8 THCS……… 4

1.1 HỆ THỐNG TƯ LIỆU DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ……… 4

1.1.1 Khái niệm về hệ thống tư liệu………4

1.1.2 Khái niệm tư liệu dạy học Địa lí ……… 4

1.1.3 Các tư liệu dùng trong dạy học Địa lí……… 4

a) Tư liệu văn bản………4

b) Tư liệu hình ảnh……….5

c) Tư liệu video clip……….5

1.1.4 Vai trò của hệ thống tư liệu trong dạy học Địa lí………5

1.2 QUAN NIỆM VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO………7

1.2.1 Khái niệm đảo, quần đảo………7

a) Khái niệm đảo………7

b) Khái niệm quần đảo……… 7

1.2.2 Vai trò của đảo, quần đảo……… 7

1.2.3 Các nguồn tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học……….8

1.3 SỬ DỤNG TÀI LIỆU THỰC TẾ VÀO BÀI DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ……….8

1.3.1 Quan niệm về tài liệu thực tế……… 8

1.3.2 Cơ sở để lựa chọn và gắn tài liệu thực tế vào các bài dạy học Địa lí ở trường THCS……….8

a) Dựa vào nguyên lí giáo dục……… 8

b) Dựa vào nội dung bài học……….8

Trang 5

c) Dựa vào trình độ nhận thức của học sinh……… 9

d) Dựa vào điều kiện dạy và học……… 9

1.3.3 Yêu cầu của các tài liệu thực tế khi gắn vào các bài dạy học Địa lí ……… 9

1.3.4 Ý nghĩa của việc gắn tài liệu thực tế vào bài dạy học Địa lí………9

1.4 ĐẶC ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ LỚP 8……10

1.4.1 Mục tiêu chương trình Địa lí lớp 8……… 10

a) Về kiến thức:………10

b)Về kĩ năng:………10

c)Về thái độ, hành vi:……… 10

1.4.2 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8……… 11

1.4.3 Đặc điểm nội dung chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8………11

a) Đặc điểm nội dung chương trình Địa lí 8……… 11

b) Đặc điểm nội dung sách giáo khoa Địa lí 8………12

1.5 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH LỚP 8……… 13

1.6 THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG TƯ LIỆU ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ………14

CHƯƠNG II: HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ VIỆT NAM LỚP 8 THCS……….16

2.1 PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ VIỆT NAM LỚP 8 THCS…… 16

2.1.1 Công cụ hỗ trợ tìm kiếm tư liệu……… 16

a) Tìm kiếm tư liệu qua mạng Internet……… 16

b) Tìm kiếm tư liệu qua sách, báo………17

c) Tìm kiếm tư liệu qua phim tài liệu……….19

2.1.2 Phương pháp xây dưng hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí 8 THCS………20

a) Tìm kiếm hệ thống tư liệu………20

b) Lưu trữ tư liệu……….21

c) Biên tập tư liệu………22

d) Hệ thống hóa tư liệu……… 24

2.2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ VIỆT NAM LỚP 8 THCS………24

2.2.1 Hệ thống đảo, quần đảo trong chương trình Địa lí lớp 8 THCS………… 24

2.2.2 Hệ thống tư liệu thành văn……… 24

a) Quần đảo Cát Bà (Hải Phòng)……… 24

b) Đảo Cồn Cỏ……….25

Trang 6

c) Quần đảo Hoàng Sa………27

d) Quần đảo Trường Sa……… 27

e) Quần đảo Côn Đảo ……….29

i) Đảo Phú Quốc……… 30

2.2.3 Hệ thống tư liệu hình ảnh và video về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8 THCS……… 32

CHƯƠNG III: CÁCH SỬ DỤNG TƯ LIỆU TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 8……….33

3.1 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU ĐẢO, QUẦN ĐẢO TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ VIỆT NAM LỚP 8 THCS……… 33

3.1.1 Phương pháp sử dụng hệ thống tư liệu đảo, quần đảo trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8 THCS……….33

a) Xác định nội dung bài học………33

b) Lựa chọn và chuẩn bị………33

c) Sử dụng tư liệu……… 33

3.1.2 Quy trình sử dụng hệ thống tư liệu đảo, quần đảo trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8 THCS……….34

3.2 Một số lưu ý khi sử dụng tư liệu video và hình ảnh……….35

3.3 Một số giáo án minh họa sử dụng tư liệu đảo, quần đảo trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8 THCS……….36

a) Giáo án minh họa số 1……….36

b) Giáo án minh họa số 2……….40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….45

1 Một số kết quả đạt được……… 45

2 Ý kiến đề xuất……… 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa THCS : Trung học cơ sở

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 1 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8 17 Bảng 2 Hệ thống đảo, quần đảo trong dạy học Địa lí lớp 8 34 Bảng 3 Hệ thống tư liệu hình ảnh và video về đảo, quần đảo

dùng trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8

42

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỉ XXI được các nhà chiến lược xem là thế kỉ đại dương bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, tài nguyên thiên nhiên và nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt trong vài ba thập kỉ tới Trong bối cảnh

đó các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển Việt Nam là một quốc gia biển, biển Việt Nam không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn mà còn là cửa ngõ

để chúng ta mở rộng với quốc tế Biển còn đóng vai trò quan trọng về an ninh và quốc phòng, là địa bàn chiến lược quan trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc Ở nhà trường hiện nay, đặc biệt môn Địa lí với chức năng và nhiệm vụ của mình đã góp phần quan trọng trong chiến lược chung của quốc gia về giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo

Tổ Quốc cho học sinh những người làm chủ tương lai của đất nước

Hiện nay, việc tăng cường hiểu biết cho mỗi công dân về các đảo, quần đảo của nước ta là rất cần thiết Trong chương trình môn học ở các trường trung học (TH), Địa

lí là môn học có điều kiện thuận lợi để giúp học sinh tăng thêm hiểu biết về đảo, quần đảo Trong đó Địa Lí 8, chương trình với các bài học về địa lí tự nhiên Việt Nam, là nền móng ban đầu cho học sinh hình thành kiến thức Tuy nhiên các tư liệu về biển đảo trong dạy học tại trường trung học còn ít và nằm rải rác ở nhiều địa chỉ khác nhau gây khó khăn cho giáo viên và học sinh trong quá trình thu thập để phục vụ cho bài học Đặc biệt là các tư liệu về kênh hình Với những lí do trên, tôi chọn đề tài “ Xây dựng hệ thống tư liệu vê đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8 THCS” để nghiên cứu

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng được hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8 THCS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục biển và đảo cho học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí 8

Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề xây dựng hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8

Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề xây dựng hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8

Xây dựng hệ thống tư liệu về đảo và quần đảo phục vụ cho việc dạy học Địa lí Việt Nam lớp 8

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống tư liệu về các đảo, quần đảo quan trọng nằm trong nội dung kiến thức chương trình Địa lí lớp 8 (Phần 2: Địa lí tự nhiên)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung xây dựng hệ thống tư liệu về các đảo, quần đảo quan trọng nằm trong nội dung kiến thức chương trình Địa lí lớp 8 (Phần 2: Địa lí tự nhiên) bao gồm các đảo, quần đảo:

Tư liệu Địa lí 12, Nguyễn Đức Vũ- Phan Mạnh Hà- Trần Thị Tuyết Mai, năm

2009 Trong sách này, các tác giả đã cung cấp tương đối đầy đủ, đa dạng về các thông tin liên quan đến nội dung dạy học địa lí phổ thông, trong đó có một phần nhỏ nội dung liên quan đến đảo, quần đảo Tuy nhiên các tư liệu trình bày trong này không đi sâu vào đảo, quần đảo mà cung cấp thông tin về tất cả các vấn đề có liên quan đến nội dung chương trình lớp phổ thông

Tài liệu giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, đảo cho học sinh THPT Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2011 Trong tài liệu này, tác giả đã đề cập khái quát về biển Đông và vùng biển Việt Nam, vấn đề phát triển tổng hợp các ngành tổng hợp kinh tế biển, đảo ở Việt Nam và khai thác, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, đảo tại các vùng kinh tế- xã hội của nước ta Trong đó khi khái quát về biển Đông và vùng biển Việt Nam, các tác giả đã đề cập đến các đảo, quần đảo của nước ta Tuy nhiên kiến thức trình bày trong tài liệu này chưa phong phú, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc lấy làm tư liệu phục vụ dạy học

Trang 11

Như vậy liên quan đến tư liệu viết về đảo, quần đảo đã có một số công trình nhưng các tư liệu trên còn mang tính tổng quát, chưa có hệ thống đầy đủ tư liệu về đảo, quần đảo phục vụ cho việc dạy học Địa lí Việt Nam

Ngoài ra trên trang web www.vn.wikipedia.org có nhiều bài cung cấp thông tin

về đảo, quần đảo Tuy nhiên, những thông tin mà trang web cung cấp còn mang tính chung chung, chưa nhằm mục đích phục vụ cho việc dạy học

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng đề tài” Xây dựng hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí lớp 8 THCS” là đề tài hoàn toàn mới, chưa có tác giả nào nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp này theo hướng thu thập, phân tích các tài liệu có liên quan đến các đảo, quần đảo về các mặt vị trí, đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, phát triển kinh tế… chon lọc ra những tư liệu phù hợp nhất phục vụ

đề tài nghiên cứu

Phương pháp phân loại, hệ thống hóa: Sau khi thu thập, tổng hợp các tài liệu, tiến hành phân loại, hệ thống tài liệu theo các vấn đề cần nghiên cứu của đề tài nhằm xây dựng nên một hệ thống tư liệu rõ ràng, khoa học

Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Với những tài liệu thu thập được, tiến hành phân tích, rút ra những kinh ngiệm cho đề tài

Chương II: Hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí 8 THCS

Chương III: Cách sử dụng tư liệu trong dạy học Địa lí lớp 8 THCS

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG

HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC

ĐỊA LÍ LỚP 8 THCS

1.1.HỆ THỐNG TƯ LIỆU DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ

1.1.1 Khái niệm về hệ thống tư liệu

Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất

Tư liệu nói chung là một khái niệm tương đối rộng Tư liệu là những thông tin rút ra từ tài liệu viết tay, in ấn, từ các đồ vật như: công cụ sản xuất, công trình kiến trúc, đồ dùng cá nhân, phim ảnh, băng hình, internet… và là những thông tin sống động từ con người

Như vậy hệ thống tư liệu là tập hợp các tài liệu có cùng chủ đề, có mối quan hệ chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu hoặc những việc cần thiết liên quan đến chủ đề đó

1.1.2 Khái niệm tư liệu dạy học Địa lí

Tư liệu dạy học địa lí là các tài liệu, thông tin ở nhiều dạng khác nhau được sử dụng vào việc học tập, nghiên cứu và truyền thụ tri thức Địa lí cho người học Tư liệu dạy học địa lí do nhiều nguồn khác nhau: Từ các nguồn truyền thống như sách giáo khoa, sách tham khảo giáo trình chuyên môn, bản đồ, tranh ảnh, tài liệu từ các tạp chí khoa học, tài liệu từ Encarta…đến nguồn tài liệu hiện đại hơn như Internet

1.1.3 Các tư liệu dùng trong dạy học Địa lí

Khối lượng kiến thức thực tế gần gũi hoặc liên quan trực tiếp đến nội dung chương trình môn Địa lí rất nhiều và rất đa dạng: văn bản, hình ảnh, video clip

a) Tư liệu văn bản

Văn bản là bản chép tay hoặc in ấn với một nội dung nhất định, thường để lưu lại lâu dài

Theo nghĩa rộng, văn bản được hiểu là vật mang tin được ghi bằng kí hiệu hay ngôn ngữ, nghĩa là bất cứ phương tiện nào dùng để ghi nhận và truyền đạt thông tin từ chủ thể này đến chủ thể khác

Theo nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là các tài liệu, giấy tờ, hồ sơ được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế

Trang 13

Các tư liệu văn bản thường chứa đựng những dấu hiệu có thể đo lường được, có thể đem ra tính toán, so sánh, đối chiếu với các sự việc, hiện tượng diễn ra trong thực

tế Tư liệu văn bản dùng trong dạy học Địa lí chính là các tư liệu về sự vật, hiện tượng địa lí thông qua kênh chữ, lưu trữ dưới dạng văn bản nhằm mục đích phục vụ cho việc dạy học môn Địa lí

b) Tư liệu hình ảnh

Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển

về não, giúp ta cảm nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất, từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận về những hình ảnh mà ta thu được

Tư liệu hình ảnh dạy học Địa lí được hiểu là những hình ảnh về sự vật, hiện tượng tự nhiên, kinh tế, con người được dùng trong dạy học Địa lí nhằm mục đích giúp học sinh có những cái nhìn cụ thể, sâu sắc chân thật hơn về các đối tượng Địa lí

c) Tư liệu video clip

Video clip là những hình hình ảnh có sự chuyển động của sự vật, hiện tượng kèm theo âm thanh được ghi lại bằng các dụng cụ ghi hình

Tư liệu video clip Địa lí là các đoạn phim ngắn có nội dung về các sự vật hiện tượng Địa lí dùng trong quá trình dạy học nhằm giúp học sinh thấy được sự vận động của hiện tượng

1.1.4 Vai trò của hệ thống tư liệu trong dạy học Địa lí

Hệ thống tư liệu trong dạy học Địa lí rất quan trọng

+ Các tư liệu dạy học giúp sinh động hóa, linh hoạt hóa các bài dạy Địa lí Các hình ảnh, âm thanh sống động, màu sắc phong phú, có khả năng tăng sự thu hút đối với học sinh do có tác động đến nhiều giác quan cùng một lúc, thúc đẩy học sinh tư duy để phán đoán, phân tích, tổng hợp, góp phần phát triển động cơ, hứng thú học tập

và tăng khả năng ghi nhớ cho học sinh

+ Các tư liệu dạy học góp phần hình thành, rèn luyện kĩ năng Địa lí cho học sinh Do tính phong phú, đa dạng, chi tiết, sống động các tư liệu có thể giúp rèn luyện cho học sinh nhiều kĩ năng như nhận biết, phân tích, tổng hợp, so sánh các đối tượng Địa Lí

+ Sử dụng các tư liệu dạy học giúp giáo viên và học sinh tiếp cận khai thác nguồn tri thức rộng lớn, hiện đại của nhân loại, tránh tình trạng tụt hậu trong quá trình hội nhập vào nền giáo dục khu vực và thế giới

+ Vệc xây dựng hệ thống tư liệu dạy học giúp cho giáo viên chủ động hơn trong quá trình giảng dạy, giáo viên được mở rộng vốn tri thức cho bản thân Từ đó giúp cho quá trình dạy học đạt được kết quả cao hơn

Trang 14

+ Các tư liệu dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí, chúng hỗ trợ giáo viên và học sinh sử dụng có hiệu quả thời gian của tiết học

Như vậy với những tiện ích và vai trò kể trên, hệ thống tư liệu dùng trong dạy học Địa lí sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập bộ môn Địa lí, giúp cho học sinh hiểu được một cách sâu sắc và hứng thú hơn với nội dung bài học

1.2 QUAN NIỆM VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO

1.2.1 Khái niệm đảo, quần đảo

a) Khái niệm đảo

Có nhiều khái niệm cho rằng:

Đảo là một vùng đất nhô cao khỏi mặt nước, xung quanh có nước bao bọc và không bị thủy triều ngập

Đảo hay hòn đảo là phần đất được bao quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là một lục địa, tuy vậy, không có một kích thước chuẩn nào để phân biệt giữa đảo

và lục địa

Theo điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đưa ra định nghĩa

"đảo" cụ thể hơn, theo đó đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước

b) Khái niệm quần đảo

Quần đảo là tập hợp nhiều đảo gần nhau trong một khu vực địa lí nhất định Theo luật biển Việt Nam, quần đảo được hiểu là một tập hợp các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau

Điều 46 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển định nghĩa: "Quần đảo" là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử."

Các quần đảo thường có ở các biển hở, thông với đại dương Quần đảo có thể nằm sát đất liền, tuy vậy không nhiều bằng các quần đảo ngoài khơi Các quần đảo hình thành chủ yếu do hoạt động núi lửa, nằm dọc theo các lằn đáy biển trồi lên bởi hoạt động của vỏ Trái Đất hoặc các vùng biển có các dòng nham thạch sát dưới vỏ này Rất nhiều quần đảo vẫn đang trong quá trình thay đổi do bào mòn hoặc bồi đắp

1.2.2 Vai trò của đảo, quần đảo

Đối với mỗi quốc gia trên thế giới có vùng biển Đảo và quần đảo đóng một vai trò hết sức quan trọng:

Các đảo, quần đảo là vị trí tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền của mỗi quốc gia Trên các đảo có thể lập những căn cứ

Trang 15

kiểm soát vùng biển, vùng trời, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước Ở nước ta các đảo quần đao như Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lí Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ….là những đảo đóng vai trò hết sức quan trọng trong bảo vệ chủ quyền biên giới lãnh thổ

Hiện nay các đảo và quần đảo đang góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế mỗi quốc gia bằng phát triển tổng hợp kinh tế biển về các mặt: Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch, phát triển giao thông vận tải

Ở Việt Nam các đảo gần ven bờ có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và đây cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Hải- Cát Bà, , huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), Huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lí Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

Như vậy đảo và quần đảo đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Do đó việc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về đảo, quần đảo nước mình rất cần thiết nhằm giáo dục cho các em ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260km Diện tích biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán quốc gia bao gồm: vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa gấp hơn 3 lần lãnh thổ trên đất liền với diện tích khoảng một triệu km2, có trên 3.000 hòn đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và 12 quần đảo Các vùng biển, đảo nằm trên địa giới hành chính thuộc 28 tỉnh, 125 huyện ven biển, trong đó có 12 huyện đảo

Vùng biển nước ta có những đảo đông dân như Cái Bầu, Cát Bà các đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa Biển đảo là nơi khai thác tài nguyên nhằm phục vụ cho Tổ Quốc và có tiềm năng phát triển nghành du lịch như Vịnh hạ Long giúp nước ta được đông đảo bạn bè thế giới biết đến Không nhưng thế biển đảo giúp cho chúng ta giao lưu trao đổi hàng hóa với nhiều nước trên thế giới bằng đường hàng hải Biển còn cho nhiều tài nguyên quý hiếm như dầu khí Đưa nghành công nghiêp này lên một tầm cao mới

Có thể nói, Việt Nam là nước có nhiều lợi ích từ biển Đông Vì vậy mỗi công dân Việt Nam đều có bổn phận bảo vệ vùng biển và hải đảo của đất nước

Trang 16

1.2.3 Các nguồn tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học

Các nguồn tư liệu về đảo, quần đảo được phân bố rải rác ở nhiều địa chỉ khác nhau Dưới đây là các nguồn tư liệu chính:

1.3.1 Quan niệm về tài liệu thực tế

Tài liệu thực tế đưa vào bài dạy Địa Lí là tất cả những thực tế phản ánh đối tượng tự nhiên, kinh tế xã hội ở địa phương, các quốc gia, khu vực hay trên thế giới

Tài liệu thực tế rất đa dạng, phong phú Đó có thể là các hoạt động thực tiễn quan sát được, có thể là các số liệu, tin tức, sự kiện trong bài viết được đăng trên các tạp chí các sách đã xuất bản, các văn kiện, các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo, các tác phẩm văn học, tranh ảnh, phim, video về địa lí Tài liệu thực tế bao hàm cả tính thời sự, nhưng không phải bao giờ tài liệu thực tế đưa vào bài giảng cũng mang tính thời sự, đó có thể là các sự việc, hiện tượng địa lí xảy ra đã lâu nhưng phản ánh được hiện tượng khách quan

Hệ thống tài liệu thực tế mà đề tài xây dựng giới hạn trong các tư liệu thành văn, hình ảnh, phim video phản ánh thực tế về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên của các đảo, quần đảo phục vụ cho các bài dạy học địa lí 8 THCS

1.3.2 Cơ sở để lựa chọn và gắn tài liệu thực tế vào các bài dạy học Địa lí ở trường THCS

a) Dựa vào nguyên lí giáo dục

Theo nguyên lí giáo dục học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn Nguyên lí giáo dục có tính định hướng cho hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường Vì vậy gắn các tài liệu thực tế vào bài dạy nghĩa là làm cho bài dạy mang tính thực tiễn cao, có tác dụng gắn liền giữa kiến thức lí thuyết và thực tiến giúp học sinh liên tưởng đến thế giới bên ngoài

b) Dựa vào nội dung bài học

Cơ sở quan trọng nhất để lựa chọn và gắn các tài liệu thực tế vào bài dạy học là nội dung bài học Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung bài học, xác định nội dung cơ bản của bài học, xác định phần nào, nội dung nào có đưa các tài liệu thực tế vào và lựa chọn các tài liệu thực tế Công việc này được thực hiện trong công tác chuẩn bị, công tác soạn bài trước khi dạy học

Trang 17

c) Dựa vào trình độ nhận thức của học sinh

Các tài liệu thức tế cũng cần đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh Các tài liệu đưa vào phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, không nên lựa chọn các tài liệu thực tế quá khó dễ gây tâm lí chán nản cho học sinh, nhưng cũng không có nghĩa

là không đòi hỏi học sinh phải có sự cố gắng cần thiết, giúp họ vươn tới những tri thức mới và phát triển những năng lực trí tuệ

d) Dựa vào điều kiện dạy và học

Địa phương nơi trường đóng diễn ra các sự kiện, hiện tượng gần gũi thường xuyên nhất đối với học sinh giáo viên có thể lựa chọn các sự kiện hiện tượng điển hình của địa phương phù hợp với nội dung, mục tiêu dạy học để gắn vào bài dạy

Giáo viên cũng cần căn cứ vào điều kiện dạy học của trường để lựa chọn các tài liệu thực tế Ví dụ như ở các trường có điều kiện vật chất tốt thì các tài liệu thực tế dạng phim video sử dụng các giáo án điện tử để trình chiếu là bình thường, nhưng đối với các trường không được trang bị hệ thống máy tính và máy chiếu cho dạy họ thì các tài liệu video không được sử dụng

1.3.3 Yêu cầu của các tài liệu thực tế khi gắn vào các bài dạy học Địa lí

- Phải phù hợp với nội dung bài dạy học Địa Lí: Căn cứ vào nội dung bài dạy học để lựa chọn, xác định các tài liệu thực tế gắn vào bài giảng Địa lí Các tài liệu thực

tế đưa vào bài giảng có thể sử dụng minh họa cho các nội dung bài học, có thể dùng như nguồn tri thức hướng dẫn học sinh khai thác

- Phải đảm bảo tính khoa học, hiện đại: Các tài liệu thực tế phải phản ánh đúng bản chất thực tiễn khách quan, phải có căn cứ và đã được chấp nhận

- Phải có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức: Tài liệu thực tế phải có tác dụng bồi dưỡng, thể hiện thế giới quan khoa học cụ thể, phân tích, xem xét các sự vật hiện tượng theo quan điểm duy vật biện chứng và các phẩm chất nhân văn cho người học

- Phải có tính thẩm mĩ: Các tài liệu thực tế gắn vào bài giảng phải đảm bảo tính thẩm mĩ nhằm giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

- Phải có tính vừa sức: Các tài liệu thực tế gắn vào bài giảng phải phù hợp với

mứ độ nhận thức của học sinh ở từng lớp học, cấp học

1.3.4 Ý nghĩa của việc gắn tài liệu thực tế vào bài dạy học Địa lí

Phương tiện dạy học vừa điều khiển được hoạt động nhận thức một cách sinh động vừa là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng Các phương tiện đó chính là cha đẻ của biểu tượng, một cơ sở tạo nên khái niệm, định nghĩa Không dừng lại ở đó, phương tiện dạy học còn giúp học sinh đào xới sâu vào miếng đất tri thức mà mình lĩnh hội trước đó, giúp các em có thêm chất men hứng thú

Trang 18

tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, năng lực khác Với người dạy phương tiện dạy học là chất xúc tác để làm cho bài giảng sâu sắc hơn

- Các tài liệu thực tế gắn vào bài giảng vừa để minh họa vừa là nguồn tri thức nhằm nâng cao và hoàn thiện tri thức địa lí cho học sinh

- Gắn tài liệu thực tế vào bài dạy học Địa lí nằm giúp khắc sâu kiến thức, phát hiện được khả năng quan sát, nhận xét, tư duy, phân tích, tổng hợp và khả năng tìm tòi, sáng tạo của học sinh Vì vậy, gắn tài liệu thực tế có vai trò quan trọng trong việc hình thành và rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh

- Việc gắn tài liệu thực tế có tác dụng làm phong phú sinh động bài giảng và qua đó tạo được động cơ, hứng thú học tập cho học sinh

1.4 ĐẶC ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ LỚP 8

1.4.1 Mục tiêu chương trình Địa lí lớp 8

a) Về kiến thức:

Hiểu và trình bày được những kiến thức đơn giản, cơ bản cần thiết về đặc điểm

tự nhiên của Việt Nam, những vấn đề đặt ra đối với cả nước nói chung và các vùng các địa phương nơi mà học sinh đang sinh sống nói riêng

b)Về kĩ năng:

Kĩ năng học tập và nghiên cứu Địa lí: Quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật hiện tượng địa lí, vẽ lược đồ, biểu đồ, phân tích sử dụng bản đồ, Atlat, biểu đồ, lát cắt, số liệu thống kê

Kĩ năng thu thập, xử lí, tổng hợp và thông báo thông tin địa lí

Kĩ năng vận dụng tri thức Địa lí để giải thích các hiện tượng, sự vật Địa lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh

Trang 19

1.4.2 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8

Sách giáo khoa Địa lí 8 bao gồm 2 phần với 44 bài Trong đó có 36 bài lí thuyết

và 8 bài thực hành

Phần Chương Số bài Trong đó

Lí thuyết Thực hành Thiên nhiên, con

Địa lí Việt Nam Địa lí tự nhiên 22 17 5

Bảng 1: Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8

1.4.3 Đặc điểm nội dung chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 8

a) Đặc điểm nội dung chương trình Địa lí 8

Chương trình SGK Địa lí lớp 8 đã thay đổi và có nhiều điểm mới, chương trình Địa lí lớp 8 là phần nối tiếp chương trình Địa lí lớp 7 và chuẩn bị cho những học sinh học lớp 9 Nhiệm vụ của chương trình Địa lí lớp 8 là cung cấp những kiến thức cơ bản

và tương đối có hệ thống về đặc điểm tự nhiên, dân cư, xã hội, sự phát triển kinh tế của châu Á và về Địa lí tự nhiên Việt Nam

Thông qua những kiến thức trên, học sinh sẽ hiểu được tính đa dạng của tự nhiên, các mối quan hệ tương tác giữa các thành phần tự nhiên với nhau, vai trò của điều kiện tự nhiên đối với sự phát trển kinh tế- xã hội và các tác động con người với môi trường xung quanh Đặc biệt chương trình Địa lí 8 rèn luyện cho học sinh kĩ năng như: Đọc, sử dụng bản đồ Địa lí (đặc biệt là Địa lí Việt Nam), phân tích, nhận xét các biểu đồ địa lí, lát cắt địa hình, cảnh quan, các bảng số liệu thống kê…

Chương trình Địa lí lớp 8 gồm 2 phần: phần 1 là thiên nhiên, con người các châu lục (tiếp theo), phần 2 là Địa lí Việt Nam (phần tự nhiên) Sách được viết theo định hướng đổi mới phương pháp, chú ý rèn luyện kĩ năng cho học sinh có những điểm khó đòi hỏi người giáo viên và cả học sinh phải vận dụng tốt và đổi mới dạy học Qua đó nắm được đặc điểm quan trọng của chương trình Địa lí 8 nhằm nâng cao việc

sử dụng các phương tiện dạy học trong dạy và học môn Địa lí

Chương trình Địa lí lớp 8 cung cấp hệ thống kiến thức khái quát của thế giới và Việt Nam Trong phần đầu tiên của sách Địa lí 8 tiếp tục tìm hiểu về thiên nhiên, con người ở các châu lục Các hệ thống kiến thức về Địa lí Việt Nam được thể hiện ở phần 2: Địa lí tự nhiên

Trong phần địa lí tự nhiên, kiến thức chủ yếu về các đặc điểm tự nhiên và một

số vùng miền Việt Nam

Trang 20

Về mặt lí thuyết tập trung ở các nội dung: Vị trí địa lí và lịch sử phát triển tự nhiên, đặc điểm các yếu tố tự nhiên Vấn đề bảo vệ tài nguyên sinh vật Đặc điểm tự nhiên của các vùng địa lí

Về mặt thực hành: Các nội dung đều tập trung vào việc làm rõ hơn lí thuyết và rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ Việt Nam, Đọc bản đồ địa hình Việt Nam, phân tích các bảng số liệu về khí hậu, thủy văn, vẽ biểu đồ chế độ mưa, chế độ nước chảy và rút ra các mối quan hệ, đọc lát cắt Địa lí tự nhiên tổng hợp và tìm hiểu địa lí địa phương

b) Đặc điểm nội dung sách giáo khoa Địa lí 8

Đảm bảo tính kế thừa và phát triển, cơ bản, hiện đại và cập nhật nhằm đáp ứng mục tiêu bộ môn Nội dung SGK Địa lí lớp 8 gồm các mảng kiến thức về địa lí tự nhiên các châu lục và địa lí tự nhiênViệt Nam Các mảng kiến thức này được trình bày dưới hai hình thức, kênh chữ và kênh hình

- Kênh chữ:

Kênh chữ được viết ngắn gọn súc tích nhằm tạo điều kiện cho học sinh tự học,

tự ôn để nắm vững kiến thức cơ bản Mỗi bài học được chia làm nhiều mục lớn ứng với các đơn vị kiến thức mà học sinh cần nắm Kênh chữ kết hợp với kênh hình tạo thành một thể hữu cơ thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các số liệu được lấy từ niên giám thống kê Viêt Nam và liên tục được cập nhật

- Các câu hỏi và bài tập:

Các câu hỏi và bài tập là một bộ phận hữu cơ trong sách giáo khoa Địa lí 8 Các câu hỏi thường dưới 2 dạng: Dạng câu hỏi xen kẽ trong bài và dạng câu hỏi bài tập ở cuối bài Tuy mức độ khác nhau nhưng các dạng câu hỏi ở cuối bài có tác dụng giúp cho học sinh hệ thống hóa kiến thức và trong chừng mực nhất định góp phần tăng cường rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo địa lí

Sách có hệ thống câu hỏi hết sức phong phú và da dạng với tổng cộng 104 câu hỏi và bài tập cuối bài và hàng trăm câu hỏi giữa bài Các câu hỏi giữa bài giúp học sinh tự tìm hiểu kiến thức trong quá trình học tập nhất là đối với những câu hỏi yêu cầu phải vận dụng các kiến thức đã học, sử dụng các câu hỏi giữa bài hoặc trong bài để khai thác kênh hình Giáo viên cũng có thể tổ chức các hoạt động lên lớp, giúp quá

Trang 21

trình dạy học diễn ra liên tục, logic và khai thác sâu hơn các kiến thức bài học Các câu hỏi và bài tập cuối bài chỉ ra những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững cũng như rèn luyện kĩ năng tư duy địa lí Trong số này có một vài bài tập tương đối khó nhằm giúp học sinh làm quen với phương pháp nghiên cứu

- Bài thực hành:

Nội dung bài thực hành rất đa dạng, rèn luyện cho học sinh nhiều kĩ năng khác

nhau Trong phần này chỉ đề cập đến nội dung phần hai địa lí tự nhiên Việt Nam Đọc bản đồ Việt Nam dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam để xác định được vị trí của các tỉnh, thành phố trên đất nước Việt Nam, xác định các mối quan hệ không gian giữa các đối tượng Địa lí Vẽ biểu đồ và phân tích bảng số liệu nhắm rèn luyện những kĩ năng vẽ

biểu đồ, khai thác thông tin từ bảng số liệu

Các hệ thống kênh chữ, kênh hình, câu hỏi bài tập và các bài thực hành không tồn tại biệt lập mà chúng có mối quan hệ mật thiết, đan xen hỗ trợ lẫn nhau tạo nên một thể thống nhất, là công cụ hữu ích cho học sinh tìm kiếm tri thức và rèn luyện kĩ năng

1.5 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH LỚP 8

Học sinh THCS nói chung và học sinh lớp 8 nói riêng có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên, do vậy các em còn có tên gọi khác là thiếu niên Đối với tuổi thiếu niên, có một số các rối loạn tâm lý mang tính chất đặc trưng Nếu như có rối loạn phát triển tâm lý từ trước thì đến tuổi thiếu niên chúng cũng sẽ có những biến đổi nhất định.Tuổi thiếu niên ở trong khoảng từ 11- 14 tuổi Đây là thời gian xảy ra rất nhiều các biến đổi

ở các mức độ khác nhau trong cơ thể trẻ, sự hình thành nhân cách được hoàn thiện Ở góc độ nội tiết, sự họat hóa của tuyến yên, của các tuyến sinh dục, của tuyến thượng thận được tăng cường, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh về chiều cao, trọng lượng cơ thể, các dấu hiệu sinh dục phụ xuất hiện Tuy nhiên, người lớn phải ý thức rằng, những phát triển trong cơ thể trẻ lúc này diễn ra chưa đồng bộ và với diện mạo “to cao” bên ngoài như vậy, các em vẫn chưa là người lớn thực thụ về tất cả các chức năng trong cơ thể Về trí tuệ, ở giai đoạn lứa tuổi này, tiếp tục diễn ra sự phát triển của trí nhớ, đặc biệt trí nhớ ý nghĩa, chú ý có chủ định và vận động, tư duy lôgic và trừu tượng cũng phát triển mạnh Thiếu niên hoàn toàn có khả năng tiếp thu các khái niệm của các môn học trừu tượng

Mặt khác, sự thay đổi trong lĩnh vực động cơ của nhân cách cũng diễn ra cùng với động cơ học tập nhu cầu trong giao tiếp bạn bè, việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị môi trường của thiếu niên cũng bắt đầu diễn ra Từ đó quá trình nhận thức và ghi nhớ cũng thay đổi

Trang 22

Do sự phát triển của quá trình nhận thức và ảnh hưởng của hoạt động học tập, hoạt dộng tư duy của học sinh trung học cũng có thay đổi quan trọng, các em có khả năng phát triển tư duy lí luận và tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo

Sự phát triển ý thức học tập ở học sinh trung học được biểu hiện ra ở khả năng

tự đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu của bản thân, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng và

tự điều chỉnh các hoạt động của mình bởi học sinh đã bắt đầu có sự hình thành thế giới quan, có những quan điểm nhìn nhận, đánh giá về các hiện tượng thường xảy ra quanh cuộc sống hằng ngày

Nắm được tâm sinh lí của học sinh và những biến đổi tích cự và tiêu cực trong hành vi và nhận thức sẽ giúp giáo viên khai thác triệt để khả năng của học sinh cũng như giúp học sinh tự khẳng định bản thân, định hướng và phát huy tốt những thế mạnh bản thân Đồng thời, giáo viên cũng từ đó thay đổi phong cách, kết cấu bài dạy phù hợp với nhu cầu học tập của học sinh

Các em học sinh lớp 8, đây là lứa tuổi trung gian của thời niên thiếu và dần dần tiến sang lứa tuổi trưởng thành, hầu hết các em đều rất nhạy bén và thích tìm hiểu thông tin rèn kuyện những kĩ năng Địa lí, các tiết học sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện khác các em đều rất thích thú và tò mò Nhiều em học hành rất chăm chỉ và thấy hứng thú với việc tiếp cận các phương tiện dạy học mới, tuy nhiên vẫn còn một số em rất nghịch và lười học chỉ muốn khẳng định mình bằng những việc làm không nên Phần lớn các em vẫn chưa thành thạo trong việc khai thác kiến thức, rèn luyện kĩ năng từ các phương tiện dạy học Tồn tại song song với nhau cả mặt tích cực, tiêu cực, người cán bộ giáo viên và ban lãnh đạo trường phải luôn nắm vững tình hình tâm lí các em để kịp thời có những biện pháp hiệu quả

1.6 THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG TƯ LIỆU ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG

DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ

Hiện nay, việc xây dựng các hệ thống tư liệu nói chung và xây dựng hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo nói riêng vẫn còn rất hạn chế bởi nhiều nguyên nhân:

+ Tại các trường THCS các giáo viên đều cho rằng việc xây dựng các hệ thống

tư liệu cho từng bộ môn học rất cần thiết Bởi vì nó giúp bổ sung và hoàn thiện kiến thức bài học, mở rộng kiến thức cũng như hiểu biết cho giáo viên và học sinh về hệ thống đảo, quần đảo Việt Nam, mang lại tính trực quan cao tạo được nhu cầu, hứng thú học tập của học sinh và tạo được hứng thú học tập của học sinh góp phần đổi mới phương pháp dạy học Nhiều giáo viên cũng đã xây dựng hệ thống tư liệu nhưng còn hạn chế do gặp nhiều khó khăn

+ Nhiều trường chưa đủ cơ sở vật chất, đặc biệt số phòng có máy chiếu còn ít, các giáo viên ở nhà cũng chưa có máy tính nối mạng, tài liệu sách tham khảo còn hạn

Trang 23

chế… Những điều đó làm cho giáo viên ngại xây dựng hệ thống tư liệu khi chuẩn bị bài giảng

+ Tại nhiều trường học, nhiều giáo viên còn hạn chế về năng lực tin học, ngoại ngữ Do đó, việc sử dụng máy tính, kĩ năng tìm kiếm thông tin qua Internet còn hạn chế vì vậy tư liệu tìm được rất ít, chưa đảm bảo kiến thức, chưa phong phú về cả nội dung lẫn hình thức

+ Ngoài ra các chính sách khuyến khích, hỗ trợ giáo viên xây dựng hệ thống tư liệu dạy học còn hạn chế vì công việc này đòi hỏi thời gian, công sức và chi phí tương đối tốn kém

Có thể nói, xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu dạy học là việc làm cần thiết,

nó làm tăng tính trực quan của bài học, bổ sung và mở rộng kiến thức, giúp học sinh nhớ lâu hơn hứng thú học tập hơn và góp phần thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm

Do đó, nhà trường, Bộ Giáo Dục phải có những biện pháp, chính sách về chuyên môn, vật chất và tinh thần để giáo viên có điều kiện việc xây dựng về hệ thống

tư liệu đảo, quần đảo Việt Nam rộng rãi và hiệu quả hơn

Trang 24

CHƯƠNG II: HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO, QUẦN ĐẢO DÙNG

TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ VIỆT NAM LỚP 8 THCS

2.1 PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ ĐẢO,

QUẦN ĐẢO DÙNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ VIỆT NAM LỚP 8 THCS

2.1.1 Công cụ hỗ trợ tìm kiếm tư liệu

Hiện nay công cụ hỗ trợ tìm kiếm tư liệu vê đảo, quần đảo có ba công cụ chính:

+ Tìm kiếm tư liệu qua mạng Internet

+ Tìm kiếm tư liệu qua sách, báo

+ Tìm kiếm tư liệu qua phim tài liệu

Tuy nhiên đề tài chỉ giới thiệu công cụ tìm kiếm phổ biến nhất hiện nay đó là công cụ tìm kiếm tư liệu qua mạng Internet

a) Tìm kiếm tư liệu qua mạng Internet

Tìm kiếm tư liệu về đảo, quần đảo qua mạng Internet hiện nay đang là công cụ hữu hiệu nhất bởi những ưu điểm của nó như: Thuận lợi, nhanh chóng, ít tốn kém, tư liệu tìm kiếm phong phú, đa dạng và đễ dàng trong việc lưu trữ thông tin

- Các phần mềm để tìm kiếm tư liệu

 Phần mềm hỗ trợ download Internet Download Manager(IDM)

IDM là phần mềm hỗ trợ download đứng đầu thế giới hiện nay, nó giúp người

sử dụng tải các thông tin từ Internet với tốc độ nhanh Tầm quan trọng của IDM đối với đề tài là rất lớn Vì ngoài tài liệu dưới dạng kênh chữ, hình ảnh có thể sao chép trực tiếp, dạng tài liệu video clip thì phải tải (download) về máy từ các đường dẫn file Tuy nhiên nếu phải tải bằng ứng dụng có sẵn của Windown thì rất chậm, thêm vào đó một video rất lớn (từ 10-80mb) và cần một thời gian khá dài, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ của đề tài và kinh phí Nhờ có IDM, tốc độ tải video tăng lên rất nhanh, tải được nhiều dạng video và ở nhiều trình duyệt khác nhau của bất kì trang web nào

- Các thiết bị lưu trữ

 Đĩa cứng DVD

DVD (còn được gọi là “Digital Versatile Disc” hoặc “Digital Video Disc”) là

một định dạng lưu trữ đĩa quang phổ biến Công dụng chính của nó là lưu trữ video và lưu trữ dữ liệu Đây là thiết bị lưu trữ khi in ra sản phẩm của đề tài

 Ổ đĩa cứng

Ổ đĩa cứng, hay còn gọi là ổ cứng (tiếng Anh: Hard Disk Drive, viết tắt: HDD)

là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính

Ổ đĩa cứng là loại bộ nhớ "không thay đổi" (non-volatile), có nghĩa là chúng không bị

mất dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng

Trang 25

Ổ đĩa cứng là một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ liệu thành quả của một quá trình làm việc của những người sử dụng máy tính Những sự hư hỏng của các thiết bị khác trong hệ thống máy tính có thể sửa chữa hoặc thay thế được, nhưng dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa cứng thường rất khó lấy lại được

 Thẻ nhớ USB

USB có tác dụng chuyển đổi dữ liệu giữa các máy tính khác nhau, dáng vẻ gọn nhẹ, tiện lợi Đối với bất kì một đề tài nghiên cứu nào thì USB là một vật dụng không thể thiếu

 Công cụ tìm kiếm google(https://www.google.com.vn/)

Google liên kết với hàng tỉ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm một thông tin mà họ muốn thông qua qua các từ khóa Khi nhập từ khóa và nhấn vào tìm kiếm, google sẽ trả cho bạn kết quả phù hợp nhất theo thứ tự từ trên xuống dưới Đối với đề tài này đây là một công cụ trợ giúp đắc lực và chủ yếu trong việc tìm kiếm tài liệu

 Công cụ tìm kiếm từ youtube (https://www.youtube.com/)

Bộ máy tìm kiếm của youtube có nhiều đặc điểm giống như google Từ một từ khóa công cụ youtube sẽ đối chiếu với tên của các file trong cơ sở dữ liệu và đưa ra những video gần với nội dung mà từ khóa cần tìm Sau đó bạn phải xem và lựa chọn video phù hợp để tải về

b) Tìm kiếm tư liệu qua sách, báo

 Sách báo, tài liệu

Bên cạnh những loại tư liệu nói trên, thông tin được rút ra từ sách báo cũng có nhiều tác dụng trong việc đào sâu, mở rộng thông tin, làm bài báo sâu sắc và thuyết phục bạn đọc hơn

Sách báo, tài liệu (gọi chung là sách) là kho tàng tri thức nhân loại được lưu lại cho các thế hệ sau Đó là nguồn tri thức rất quan trọng và vô tận đối với mọi người, đặc biệt là người trí thức - trong đó có các bạn Mọi thành công của con ngừơi đều là

sự kết hợp của nỗ lực sức lực với tri thức lĩnh hội được từ thầy, từ cuộc sống, từ sách

vở Nếu các bạn đọc sách thường xuyên và có phương pháp khoa học thì các bạn sẽ:

Mở rộng và đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được, tiếp cận được với sự phát triển của khoa học và nghề nghiệp tương lai

 Thư viện

Theo định nghĩa mới nhất của UNESCO thì thư viện không phụ thuộc vào tên gọi nó là bất kì bộ sưu tập có tổ chức của sách, báo, tài liệu các loại, ấn phẩm định kì

Trang 26

Nhân viên thư viện có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng tài liệu để nghiên cứu thông tin, giáo dục & giải trí

Thư viện là nơi thông tin được tổ chức, nơi dễ dàng tìm thấy thông tin qúy vị cần hoặc muốn Thư viện chỉ có giá trị khi nó có thông tin và có người biến thông tin trở nên hữu ích Chúng ta có nhiệm vụ đảm bảo sự tiếp cận không hạn chế các ý tưởng

mà chúng ta thừa hưởng một cách hợp pháp, sau đó định hình và chuyển giao cho thế

hệ tiếp theo Thông tin là kho báu Quý vị những người làm công tác thư viện đang nắm giữ chìa khóa mở kho báu trong tay

Thư viện giúp chúng ta nhận thấy mình và nhìn thấy người khác Thư viện giúp chúng ta vượt ra ngoài giới hạn của bản thân mình, để học hỏi nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn về thế giới xung quanh ta và những người khác đang chung sống cùng chúng ta

Có thể hiện nay các thư viện Việt Nam (thư viện quốc gia, thư viện chuyên ngành khoa học, thư viện đại học,…) chưa có đủ một lượng tài liệu mới dồi dào, phong phú, đáp ứng nhu cầu của đông đảo các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực, nhưng điều đó đang thay đổi từng ngày một Đồng thời, không thể bỏ qua lượng tài liệu tuy cũ nhưng có tính chất kinh điển, căn bản, đã được chọn lọc và tích luỹ trong thời gian dài Và vẫn có một xác suất không nhỏ có thể tìm thấy những tài liệu thực sự quan trọng cho một đề tài nghiên cứu

Các loại tài liệu lưu trữ ở thư viện bao gồm sách, tạp chí, tài liệu nghe nhìn, các văn bản nhà nước, các luận văn, luận án, v.v., được sắp xếp và phân loại một cách khoa học, trật tự

Để phục vụ tra cứu, các thư viện thường lập các phiếu thư mục mô tả vắn tắt về tài liệu được lưu trữ (phổ biến nhất là sách), theo một hệ thống được quy định riêng Qua các phiếu thư mục, có thể tìm thấy tên tác giả, tựa tài liệu, thông tin ấn loát (năm xuất bản, phương tiện phát hành, số trang hoặc dung lượng, v.v.) Các phiếu thư mục

có thể được sắp xếp theo chủ đề, theo tên tác giả hoặc theo tựa tài liệu, tuỳ theo cách tổ chức của thư viện

Với sự phát triển của công nghệ thông tin và Internet hiện nay, việc tin học hoá

hệ thống thư mục của các thư viện là xu thế tất yếu Nhiều thư viện lớn hiện nay đã tin học hoá thư mục để có thể tra cứu trực tuyến, với nhiều chức năng tìm kiếm theo tên tác giả, tựa tài liệu, từ khoá, chủ đề, v.vv

Theo ý nghĩa truyền thống, thư viện là kho sưu tập sách, báo và tạp chí Tuy nó

có thể chỉ đến kho sưu tập cá nhân của người riêng, nhưng nó thường chỉ đến nhà lớn sưu tập sách báo xuất bản được bảo quản bởi thành phố hay học viện hay nhận tiền góp của họ Những nhà sưu tập này thường được sử dụng bởi những người không

Trang 27

muốn (hay không có thể) mua nhiều sách cho mình Tuy nhiên, vì giấy không còn là phương tiện duy nhất để lưu giữ thông tin, nhiều thư viện cũng sưu tập và cung cấp bản đồ, tranh ảnh hay công trình nghệ thuật khác, micrôphim, băng cassette, CD, LP, băng video, DVD và họ để người khác truy cập các cơ sở dữ liệu CD-ROM và Internet

 Nhà sách:

Ngoài thư viện chúng ta có thể tìm kiếm tư liệu ở các nhà sách Đây cũng là nơi tập trung nhiều loại sách, báo khác nhau Tuy nhiên nguồn sách ở đây thường hạn chế

về các chủ đề, nhất là các sách nói về chủ đề đảo, quần đảo

c) Tìm kiếm tư liệu qua phim tài liệu

Cho tới nay, trên thế giới có rất nhiều quan niệm về phim tài liệu Tuỳ theo góc

độ nghiên cứu khác nhau của các tác giả sẽ có những quan niệm riêng về thể loại này

Khuynh hướng thứ nhất, đề cao tính chân thực của phim tài liệu truyền hình, coi tính chân thực là đặc tính chi phối toàn bộ tác phẩm phim tài liệu truyền hình

Khuynh hướng thứ hai, đề cao tính nghệ thuật của phim tài liệu truyền trình lẫn

tính báo chí của nó Phim tài liệu là một thể loại của điện ảnh, không những thế mà còn là thể loại đầu tiên xuất hiện khi điện ảnh ra đời Nó mang trong mình những đặc điểm nghệ thuật của điện ảnh Khi được sử dụng trên truyền hình, phim tài liệu truyền hình làm nhiệm vụ của một thể loại báo chí được biến đổi để phù hợp với đặc trưng của loại hình truyền thông đại chúng Phim tài liệu truyền hình chuyển tải những sự kiện, hiện tượng nóng bỏng của cuộc sống thông qua những thủ pháp nghệ thuật Vì vậy, phim tài liệu truyền hình thể hiện rõ nét tính chính luận và tính thời sự của báo chí

Từ điển bách khoa toàn thư Encarta (ở mục từ docmumentaries) của Mỹ cho

rằng: “Phim tài liệu truyền hình là những tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ

nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết”

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về phim tài liệu truyền hình: phim tài liệu truyền hình là một thể loại báo chí truyền hình nằm trong nhóm thể loại chính luận nghệ thuật Nó nói lên tư tưởng chủ đề, tức là tính chính luận của báo chí, thông qua việc xây dựng hình tượng từ những sự kiện, hiện tượng, con người cụ thể có thật trong đời sống xã hội Nói cách khác, phim tài liệu truyền hình dùng sự thật

để xây dựng hình tượng nghệ thuật, qua đó làm nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ và định

hướng cách nhận thức sự thật đó cho công chúng

Trang 28

Phim tài liệu là một thuật ngữ trong điện ảnh để chỉ mọi loại phim khai thác mọi khía cạnh trong đời sống ở góc độ chân thực và tự nhiên nhất Đây là một công cụ

hỗ trợ cho chúng ta trong việc thu thập tư liệu video clip

Công cụ giúp ta tìm kiếm tư liệu qua phim tài liệu chính là các đĩa VCD, DVD Đây chính là nguồn lưu trữ các phim tài liệu Tuy nhiên để tìm kiếm tư liệu đúng mục đích của mình phải mất rất nhiều thời gian và rất khó khăn Vì thông thường, các phim tài liệu ít lưu hành bên ngoài và chỉ lưu trữ tại các đài phát thanh, truyền hình hoặc các nhà làm phim Do đó, việc tìm kiếm tư liệu qua phim tài liệu ít được sử dụng

2.1.2 Phương pháp xây dưng hệ thống tư liệu về đảo, quần đảo dùng trong dạy học Địa lí 8 THCS

a) Tìm kiếm hệ thống tư liệu

 Định hướng tư liệu cần tìm kiếm

Định hướng tư liệu tức là cần phải xác định được nội dung thông tin, tài liệu cần tìm và bộ tài liệu chính xác Công việc này được cụ thể qua các khâu như sau:

+ Nghiên cứu nội dung bài học để xác định các thông tin, tài liệu cần tìm Trước khi tìm kiếm một tài liệu nào, chúng ta cần xác định được nội dung cơ bản của bài học, xác định nội dung nào cần đưa tài liệu để giải thích nắm rõ? Xác định các tài liệu thực tế cần tìm

+ Chuẩn bị các từ khóa cần tìm: Sau khi xác định được tài liệu cần tìm, chúng

ta cần phải chuẩn bị bộ từ khóa phục vụ cho việc tìm kiếm Từ khóa là một cụm từ hay một từ mà nó phản ánh một phần nội dung hoặc toàn bộ nội dung của chủ đề nào đó Mặc định các công cụ tìm kiếm như google, yahoo… sẽ tìm kiếm tất cả các từ mà ta đánh vào trong ô tìm kiếm những từ đó chính là từ khóa

Từ khóa được lấy từ các khái niệm, cụm từ trong SGK, hoặc dựa vào vốn từ vốn có của người tìm kiếm Để nguồn tài liệu thêm phong phú, có thể dùng các từ khóa tiếng Anh và chuyên ngành

Từ khóa càng chi tiết chính xác thì việc tìm kiếm càng đạt kết quả cao Không nên chọn các từ khóa đa nghĩa, chung chung hoặc các từ khóa quá dài dòng Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa sẽ tăng cơ hội đạt được kết quả tìm kiếm cần thử nhiều lần với các từ khóa tương đương hay đồng nghĩa

 Sử dụng các công cụ tìm kiếm

Sau khi xác định được bộ từ khóa, chúng ta cần sử dụng các công cụ tìm kiếm Sau đây là các bước tìm kiếm trên hai công cụ phổ biến nhất hiện nay là google và youtube

Trang 29

 Sử dụng công cụ tìm kiếm google:

Google là công cụ tìm kiếm phổ biến nhất hiện nay, các tiện ích của google cho phép tìm kiếm nhanh các văn bản, hình ảnh, phim video…Có thể tìm kiếm bằng 2 cách:

+ Tìm kiếm thông thường

Mở trình duyệt web thông thường thông qua trình dyệt Interne Explorer 8, Google Chrome… Sau đó vào địa chỉ trang web https://www.google.com.vn/, giao diện của google mở ra

Thông thường chỉ cần nhập từ khoá và nhấn tìm kiếm (Search) hoặc nhấn Enter thì google sẽ cho ra rất nhiều kết quả bao gồm các địa chỉ liên kết đến trang web có từ khóa và vài dòng mô tả bên dưới, chỉ cần nhấp chuột vào địa chỉ liên kết sẽ mở trang web có thông tin muốn tìm bên dưới

+ Tìm kiếm nâng cao

Ngoài ra, google còn cho phép sử dụng thông số và điều kiện chọn lọc kèm theo từ khóa Sau đây là các thông số và điều kiện chọn lọc thông dụng

Loại bỏ một từ nào đó ra khỏi kết quả tìm kiếm: Google sẽ tìm tất cả các trang web

có chứa từ khóa cần tìm nhưng không có từ bị loại bỏ

 Tìm video qua youtube

Để tìm video, chúng ta làm như sau:

Mở trình duyệt web và nhập địa chỉ https://www.youtube.com/ Màn hình của trang youtube hiện ra Chúng ta gõ từ khóa liên quan đến đoạn video cần tìm vào ô tìm kiếm Sau đó nhấn Enter hoặc kích chuột vào nút Search để tìm Trang web hiển thị các đoạn video có tiêu đề chứa từ khóa mà chúng ta gõ

Để xem một đoạn chúng ta kích chuột để chọn đoạn video đó, nếu đó không phải đoạn video chúng ta cần, ta chọn nút back để trở lại trang trước, tiếp tục chọn video khác cho đến khi chọn được đoạn video ưng ý Để có nhiều video phong phú hơn, chúng ta có thể sử dụng các từ khóa bằng tiếng Anh Sau khi xem và tìm được đoạn video phù hợp, chúng ta sử dụng công cụ IDM để tải đoạn video về máy và lưu trữ trên ổ cứng Công việc này rất thuận tiện vì ở trên mỗi videotrong Youtube phía dưới góc trái màn hình luôn có một nút lệnh”Download video from this page” Nút lệnh có tác dụng tải video, chúng ta chỉ cần chọn nơi lưu và ghi nhớ nơi lưu Để tránh lộn xộn bạn nên lưu vào một thư mục riêng

b) Lưu trữ tư liệu

Tài liệu là đơn vị thông tin được ghi lại không phụ thuộc vào hình thức và vật mang tin

Trang 30

Văn bản là một tài liệu được lập ra hoặc nhận được trong quá trình tiến hành các công việc hợp pháp của một người hoặc một tổ chức và được bảo quản – được duy trì bởi người hoặc tổ chức đó với mục đích làm chứng cứ hoặc để tham khảo trong tương lai

Theo đó, văn bản trước hết là tài liệu, nghĩa là nó “Là đơn vị thông tin được ghi lại không phụ thuộc vào hình thức và vật mang tin” Nhưng nó phải “được lập ra hoặc được tiếp nhận trong quá trình tiến hành các công việc hợp pháp bởi một người hoặc một tổ chức và được bảo quản bởi một người hoặc một tổ chức với mục đích làm chứng cứ cho hoạt động của mình hoặc để tham khảo trong tương lai”

Công nhận kết luận này đồng thời cũng là sự khẳng định một quan niệm tiếp theo Khái niệm văn bản được bao hàm trong khái niệm tài liệu kể cả khi văn bản không còn giá trị pháp lý hiện hành, nghĩa là khi văn bản trở thành nguồn sử liệu nếu

nó được các nhà sử liệu hoạc công nhận nó chứa đựng thông tin quá khứ giá trị cho sử học – giá trị chứng cứ lịch sử Nói một cách khác, khi văn bản không còn giá trị pháp

lý hiện hành nó sẽ trở thành “tài liệu” đúng nguyên nghĩa của khái niệm “tài liệu”

“Tài liệu lưu trữ” – một trong những khái niệm làm nền tảng chung cho lưu trữ học và tất cả các hoạt động lưu trữ

 Đối với tài liệu kênh chữ:

Các tư liệu kênh chữ, sau khi chúng ta dán nội dung cần thiết vào chương trình Microsoft Word thì chúng ta tiến hành lưu văn bản bằng cách chọn save as ở mục file

để dẫn đường link lưu văn bản trong thư mục ổ cứng chúng ta muốn lưu trữ

 Đối với tài liệu là hình ảnh

Cách thức lưu hình ảnh khá đơn giản Đối với mỗi hình ảnh tìm được muốn lưu

về máy của mình cần thực hiện những thao tác sau: Từ trang web, click chuột phải vào vào hình ảnh chúng ta muốn đưa về máy Chon save picture as Hộp thoại xuất hiện chọn nơi lưu ở Look in, đặt tên cho hình ảnh ở ô file name Sau đó nhấn OK

 Đối với tài liệu là video:

Các video không thể lưu trực tiếp như hình ảnh mà phải lưu gián tiếp thông qua việc tải về (download) Đa phần các video tìm được của các đề tài đều có nguồn từ công cụ tìm kiếm video youtube nên các file video khi tải về sẽ được lưu lại tại các đường link cả phần mềm hỗ trợ download IDM

c) Biên tập tư liệu

Sau khi các tài liệu đã được lưu trữ trên ổ cứng, công việc tiếp theo là phải xử lí biên tập tài liệu Dạng tài liệu cần được xử lí đó là video

Đối với các tài liệu video được lấy từ các trang web nước ngoài, ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Anh Những tài liệu này nếu muốn ứng dụng cho dạy học cần phải biên

Trang 31

dịch sang tiếng Việt Ngoài ra các video tải về thường có dung lượng lớn chúng ta cần chọn lọc nội dung, cắt bỏ một số đoạn không cần thiết, cách xử lí video khá phức tạp, sau đây là các công đoạn biên tập

Các video khi tải về có định dạng đuôi là đuôi*.flv, kiểu file này rất khó để biên dịch cũng như ứng dụng giảng dạy Do đó các video này cần được chuyển đổi đuôi

*.flv sang *.avi hay *.mpg Để chuyển đổi đuôi ta cần dùng đến phần mềm Pazera Free FLV to AVI converter Cách dùng khá đơn giản:

Đầu tiên ta chạy phần mềm và đưa các file video có đuôi *.flv vào phần mềm ở khung Add file Tiếp theo là chọn dạng duôi sẽ đưa ra sau khi chuyển đổi là *.avi hay

*.mpg ở khung Out file format Chọn nơi lưu file sau khi đã đổi đuôi ở khung Output directory Có thể chỉ ra đường dẫn đến một nơi lưu khác khi nhấn nút Browse Sau đó chỉ ra nơi lưu thích hợp Cuối cùng nhấn nút covert để thực hiện chuyển đổi Phần mền

tự động đổi đuôi, tùy dung lượng mà thời gian chuyển đổi sẽ nhanh hay chậm

 Biên dich file video

Sau khi chuyển được định dạng đuôi là *.avj hay * Pmg, sử dụng movie Maker để tiến hành biên dịch các video dùng ngôn ngữ tiếng Anh

- Một số yêu cầu trước khi biên dich:

+ Người biên dịch phải có vốn từ tiếng anh chuyên ngành về địa lí ở một mức

độ nhất định, phải có khả năng nghe hiểu tiếng anh tương đối

+ Không nhất thiết phải dịch hết toàn bộ đoạn video mà phải biết nắm vững kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, những nội dung cần thiết phải minh họa và làm

rõ Video có nội dung tương ứng thì phải biên dịch để làm nổi bật kiến thức cơ bản Cắt bỏ những đoạn không cần thiết

+Những đoạn video không nên quá dài, độ dài mỗi video dùng trong giảng dạy

và trình chiếu chỉ nên từ 1 đến 5 phút

+ Nên biên dịch dưới hình thức làm phụ đề

 Biên tập video bằng phần mềnMovie Maker

Đầu tiên ta khởi chạy phần mềm movie Maker, chọn khung thêm video và ảnh và đưa video cần thiết theo các đường dẫn vào phần mềm Tiếp đó nấn nút chạy phát để xem video Tách bỏ những đoạn video không cần thiết bằng cách chọn vị trí cần tách, nhấn chuột phải và chọn tách Sau khi đã nghe qua và dịch sang tiếng Việt, ta tiến hành làm phụ đề cho video Ở vị trí nào cần chèn phụ đề, tiến hành chọn font chữ, cỡ chữ và gõ nội dung vào Công việc tiếp theo là phải thiết đặt thời gian xuất hiện phụ đề

ở khung thời lượng chữ Chúng ta cũng có thể đặt hiệu ứng trong mỗi đoạn video khi chọn khung Hiệu ứng hình ảnh và hoạt hình Cuối cùng là trích xuất video Thông

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w