1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

230 715 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thị Lan, Phan Anh Tuấn, Nguyễn T. Hoàng Anh, Hồ Hồng Hải, Phan Trần Trung Dũng, Vũ Phượng Hoàng, Nguyễn T. Thanh Phương, Trần T. Bào Quế
Người hướng dẫn PGS, TS. Nguyễn Thị Quy
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Quản trị rủi ro
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 34,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đ ề tài nghiên cứu về các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế, sẽ trở thành một cẩm nang thiết yếu hồ trợ cho các

Trang 2

Bộ T H Ư Ơ N G M Ạ I Bộ GIÁO DỤC VÀ Đ À O TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

***

ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẤP Bộ

NGHIÊN CỨU - PHÂN TÍCH CÁC RỦI RO

TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN

Trang 3

Bộ T H Ư Ơ N G MẠI B ộ GIÁO DỤC V À Đ À O TẠO

T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

***

ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẤP Bộ

NGHIÊN CỨU - PHÂN TÍCH CÁC RỦI RO

TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG ĐIÊU KIỆN

• • •

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TÉ

M Ã SỐ: 2005 - 78 - 010

Chù nhiệm đề tài: PGS, TS Nguyễn Thị Quy - Đại học Ngoại thương

Thành viên tham gia: ThS Nguyễn Thị Lan - Đại học Ngoại thương

ThS Phan Anh Tuấn - nt ThS Nguyễn T Hoàng Anh - nt ThS Hồ Hồng Hải - nt

Trang 4

1.1.1 Khái niệm rủi ro 6

ỉ 1.2 Rủi ro trong kinh doanh lù

Ì 2 Phân loại rủi ro 10

1.2.1 Theo tính chất của rủi ro 10

1.2.2 Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro li

1.2.3 Theo nguyên nhân của rủi ro li

1.2.4 Theo tác động của môi trường vĩ mô gây nên rủi ro li

ì 3 Mối liên hệ giữa rủi ro và lợi nhuận trong kinh doanh 12

1.3.1 Các chi phí phát sinh trực tiếp từ hậu quả bất lợi do rủi ro đem lại 12

1.3.2 Chi phí trong quá trình khắc phục những tứn thất do rủi ro mang lại 12

1.3.3 Chi phí phòng ngừa rủi ro 13

1.3.4 Chi phí xã hội và tinh thần 13

Ì 4 Nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh và các nhân tố làm gia tăng mức độ

rủi ro 13

1.4.1 Nguyên nhân gây ra các rủi ro trong kinh doanh 13

1.4.2 Các nhân tố làm gia tăng mức độ rủi ro 20

1.5 Các loại rủi ro thường gớp trong kinh doanh quốc tế 21

2 Ì Khái niệm về quản tri rủi ro 30

2.2 Các nội dung quản trị rủi ro 31

2.2.1 Nhận dạng - Phân tích - Đo lường rìu ro 31

2.2.2 Kiểm soát rủi ro (Risk control) 39

2.2.3 Tài trợ rủi ro (Risk Financing) 40

2.3 Vai trò của quản trị rủi ro đối với các doanh nghiệp 42

Trang 5

3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của các doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế

3.1 Kinh nghiệm của Microsoít về tổ chức bộ máy quản tri rủi ro và nhận diện rủi ro

bằng phương pháp phân tích tình huống 45

3.2 Kinh nghiệm của E.I du Pont de Nemours and Company (DuPont) về thiết lập

cơ sở cho quản trị rủi ro và áp dụng các công cụ quàn trị tiên tiến 47

3.3 Kinh nghiệm của United Grain Growers (UGG) về nhận diện và tài trợ rủi ro 48

3.4 Kinh nghiệm của IKEA về quản trị rủi ro từ mạng lưới nhà cung cữp và phân

phối , 50

3.5 Kinh nghiệm của General Electrics (GE) về quản trị rủi ro nhân sự 51

3.6 Kinh nghiệm của Gibson Greetings Inc (Gibson) về quản trị rủi ro tài chính bằng

các công cụ tài chính phái sinh 52

3.7 Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam 53

C H Ư Ơ N G 2: T H Ự C TRẠNG RỦI RO V À HOẠT Đ Ộ N G QUẢN TRỊ RỦI RO C Ủ A

C Á C DOANH NGHIỆP V Ệ T N A M TRONG KINH DOANH Q U Ố C T É 58

1 Môi trường kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp nhiều thay đựi là nguy

cơ tiềm ẩn mọi rủi ro 58

1.1 Những thay đổi từ môi trường trong nước 58

1.1.1 Những thay đoi về chính sách thương mại quốc tế cùa Việt Nam 61

1.1.2 Thay đổi về chính sách thuế xuất, nhập khẩu 63

1.1.3 Những thay đỏi về chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước 66

1.2.1 Sự sụp đổ của thị truồng truyền thống và sự thiết lập và mặ rộng thị trường mới 67

1.2.2 Sự biến động của thị trường quốc tế có tác động ngày càng mạnh mẽ đến hoạt

động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam 71

2 Phân tích, đánh giá rủi ro và thực trạng hoạt động quản trị rủi ro của các

2.1 Phân tích, đánh giá rủi ro tại các doanh nghiệp Việt Nam 83

2.1.1 Các rủi ro thường gặp qua khảo sát tại các doanh nghiệp 83

2.1.2 Đánh giá mức độ tác động của các loại rủi ro tới hiệu quả hoạt động kinh doanh

của các doanh nghiệp ọg 2.1.3 Nguyên nhân dan đến các rủi ro ỊQJ

2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp Việt Nam 117

2.2.1 Nhận thức về quản trị rủi ro của doanh nghiệp Ị Ị 7

2.2.2 Các công cụ và biện pháp thường được sít dụng trong quản trị rủi ro tại các doanh

l i

Trang 6

nghiệp 118 2.2.3 Đánh giá công tác quản trị rủi ro cùa các doanh nghiệp 124

C H Ư Ơ N G 3: C Á C GIẢI P H Á P N H Ằ M T Ă N G C Ư Ờ N G C Ô N G T Á C Q U Ả N TRỊ

RỦI RO TẠI C Á C DOANH NGHIỆP VIỆT N A M TRONG ĐIỀU KIỆN H Ộ I NHẬP

1 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động quản trớ rủi ro của các

doanh nghiệp Việt Nam 132

1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mang lại nhiều cơ hội m à còn làm gia tăng

không ít nguy cơ rủi ro cho các doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh quốc tế 132

1.1.2 Thách thức và nguy cơ rủi ro 135

Ì 2 Tác động của hội nhập tới hoạt động quản trị rủi ro của các doanh nghiệp 136

1.2.1 Hoạt động phân tích - nhận diện rủi ro 136

1.2.2 Hoạt động đo lường rủi ro 138

1.2.3 Họatđộng kiểm soát - ngăn ngừa và tài trợ rủi ro 138

2 Những xu hướng mói trong hoạt động quản trớ rủi ro trên thế giới và đớnh

hướng cho các doanh nghiệp Việt Nam 139

2.1 Những xu hướng mới trong hoạt động quản trị rủi ro trên thế giới 139

2.1.1 về hoạt động nhận diện rủi ro 139

2.1.2 về hoạt động đo lường rủi ro 141

2.1.3 Mô hình mới cùa quản trị rủi ro 143

2.2 Định hướng hoạt động quản trị rủi ro của các doanh nghiệp Việt Nam 144

3 Những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trớ rủi ro của các doanh

nghiệp Việt Nam 146

3.1 N h ó m giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về tầm quan

t ọ n g của hoạt động quản trị rủi ro 146

thức đúng và đầy đủ về hoạt động quàn trị rủi ro 148

3.1.2 Nắng cao nhận thức cùa các thành viên trong doanh nghiệp về quản trị rủi ro 149

nghiệp Việt Nam J5Q

3.2.1 Nắm bắt đầy đủ thông tin về môi trường hoạt động của doanh nghiệp 150

3.2.2 Thiêt lập hệ thống thông tin giám sát rủi ro liên tục 752

3.2.3 Xây dụng các chương trình đánh giá, đo lường rủi ro 153

3.3 N h ó m giải pháp nhàm phát triển hoạt động quản trị rủi ro trong doanh nghiệpl54

Trang 7

3.3.1 Tô chức bộ phận chịu trách nhiệm về đánh giá rủi ro 156

3.3.2 Xây dựng các quy trình quản trị rủi ro 157

3.3.3 Phân bổ nguồn lực tài chính một cách hợp lý cho hoạt động quản trị rủi ro 161

3.4 Các giải pháp khác 166

3.4.2 Tiến hành các liên doanh, liên kết, tham gia các hiệp hội 166

3.4.3 Đào tạo nguồn nhân lực thực hiện hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro 166

4 Kiến nghị với cơ quan nhà nước 167

4.1 Đối với Quốc hội 167

4.2 Đối với Chính phủ 168

4.3 Đối với Ngân hàng nhà nước 172

4.4 Đối với Bộ thương mại 173

4.5 Đối với Bộ Tài chính 174

4.6 Đối với Bộ Ngoại giao 175

TÀI LIỆU THAM KHẢO 179

i v

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

CAPM M ô hình định giá tài sản (Capital Assets Pricing Model) CEPT Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung ASEAN

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đ Q G Công ty đa quốc gia

ECB Ngân hàng trung ương Châu Âu

EU Liên minh Châu Âu

EUR Đồng tiền chung Châu Âu

Eximbank Ngân hàng thương mại cổ phỹn xuất nhập khẩu Việt Nam FAO Quỹ lương thực Liên hợp quốc

FDI Đỹu tư trực tiếp nước ngoài

FED Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reseve Bank)

GSP Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalised System of

Refernces) IBEC Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế

ICC Phòng thương mại quốc tế (International Chamber Commerce)

LIBOR Lãi suất cho vay liên ngân hang quốc tế Lodon

MB Ngân hàng thương mại cổ phỹn Quân đội

NDT Đồng nhân dân tệ

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NSNN Ngân sách nhà nước

ODA Viện trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

OPEC Tổ chức dỹu mỏ thế giới

OTC Thị trường phi tập trung

PWC Pricewaterhouse Coopers

SIBOR Lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế Singapore

TTTTQTVN Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

Trang 9

UNCTAD Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triên

VCB Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

VCCI Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

VFA Hiệp hội lương thực Việt Nam

WEF Diễn đàn kinh tế thế giới

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng Ì: Khả năng đo lường của một số rủi ro 37

Bảng 2: Tăng trưởng GDP và chỉ số lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1996 - 2005 60

Bảng 3: Diễn biến của đồng NDT 77 Bảng 4: Be dày hoạt động của các doanh nghiệp khảo sát 82

Bảng 5: Các loại rủi ro thường gặp của các doanh nghiệp Việt Nam 84

Bảng 6: Tỷ lệ biến động giá gạo - giai đoạn 1999 - 2005 86

Bảng 7: Tỷ lệ biến động giá cà phê - giai đoạn 1999 - 2005 87

Bảng 8: Mức biến động tỷ giá Ư S D / V N D giai đoạn 2000 - 2005 89

Bảng 9: xếp loại trung bình (Mean Ranks) mức độ ảnh hường của các rủi ro theo

phương pháp Friedman 105

Bảng 10: xếp hạng các rủi ro theo mức độ ảnh hưởng đối với doanh nghiệp 105

Bảng 11: xếp hạng mức độ ảnh hưởng các rủi ro theo loại hình D N 106

Trang 11

LỜI NÓI ĐẨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rủi ro xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống, luôn đe dọa cuộc sống của con người Do vậy, con người luôn quan tâm và tìm cách đối phó rủi ro Có thể nói, lịch

sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá tình đấu tranh nhẩm ngăn ngừa, giạm thiểu rủi ro Và dù rằng trong suốt lịch sử phát triển của mình, con người đã làm rất nhiều để giạm thiểu rủi ro, song khi một rủi ro này được kiềm chế thì lại xuất hiện các rủi ro mới Cùng với sự phát triển của xã hội, rủi ro xuất hiện ngày càng đa dạng và phức tạp

Trong kinh doanh, rủi ro luôn đồng hành với lợi nhuận M ọ i quyết định trong kinh doanh đều được đưa ra trong điều kiện có rủi ro Thành công có được một phần không nhỏ là nhờ biết ngăn ngừa, hạn chế rủi ro Biết là vậy, song ít có những doanh nghiệp có đầy đủ nhận thức về tầm quan trọng của quạn trị rủi ro, để

từ đó tìm ra các biện pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro một cách hữu hiệu Nhiều doanh nghiệp phại "chuốc" lấy nhiều tổn thất to lớn, đặc biệt, môi trường kinh doanh hiện nay đang trại qua những thay đổi liên tục và khó dự đoán trước Vì vậy, rủi ro ừong kinh doanh cũng xạy ra một cách thường xuyên và rất khó kiểm soát

và nó trở thành mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp Các doanh nghiệp muốn có lợi nhuận thì phại biết chấp nhận rủi ro Môi trường kinh doanh càng mở rộng thì rủi ro càng đa dạng và phức tạp, đặc biệt là với môi trường kinh doanh quốc tế Việc tham gia tích cực vào thị trường quốc tế sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nhung đồng thời cũng đặt các doanh nghiệp trước nhiều loại rủi ro mới chưa bao giờ gặp phại trước đó

Chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã có trong tay nhiều cơ hội để hội nhập và kinh doanh quốc tế Tuy nhiên, thục tế kinh doanh quốc tế trong thời gian qua đã cho thấy không ít thách thức, rủi

ro đang trông chờ các doanh nghiệp khi tham gia vào môi trường kinh doanh mới này Một loạt các rủi ro vốn có của môi trường kinh doanh quốc tế đã trờ thành bài học đắt giá cho các doanh nghiệp Việt Nam khi va vấp phại Đ ó là các rủi ro pháp

lý (điển hình là vụ kiện cá ba sa), rủi ro giao dịch (ví dụ vụ xuất khẩu gỗ sang thị trường Mỹ bị các doanh nghiệp Mỹ từ chối), rủi ro tài chính (sự kiện đồng Euro lên giá bất ngờ vào đầu năm 2004 khiến một loạt các doanh nghiệp nhập khẩu từ

EU thanh toán bằng Euro phại chịu thiệt hại lớn)

Những vấn đề lý luận và thực tiễn này cho thấy sự cấp thiết phại có những

Ì

Trang 12

chuẩn bị đầy đủ của các doanh nghiệp Việt Nam trước những rủi ro nảy sinh từ môi trường kinh doanh mới

Đ ề tài nghiên cứu về các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế, sẽ trở thành một cẩm nang thiết yếu hồ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị trước những thử thách mới và cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận hay nồ lực vượt qua những rủi ro mới

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.1 Tĩnh hình nghiên cứu ương nước

Vấn đề rủi ro trong kinh doanh đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả Việt nam từ khá lâu Ngay từ năm 1991, nhà xuất bản Thông tin đã phát

hành cuốn "Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh" của

tác giả Nguyễn Hữu Thân Đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, số lượng sách giáo trình, sách tham khảo, luận án và bài báo viết về chủ đề này xuất hiện khá nhiều

Có thể nêu lên một số ấn phẩm điển hình như:

* "Quản trị r ủ i ro và khủng hoảng" của PGS TS Đoàn Thị Hồng Vân, NXB Thống kê, 2005;

* "Rủi ro kinh doanh" của TS Ngô Thị Ngọc Huyền và tập thể giáo viên

Bộ môn Ngoại thương, Khoa Thương mại, Trường đại học kinh tế TP HCM, NXB Thống kê, 2003;

* "Cẩm nang thị trường ngoại hổi và các giao dịch kinh doanh ngoại hối" của PGS TS Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống kê, 2003

* "Các tranh chấp thường phát sinh trong Thanh toán quốc tế bằng L/C và cách giải quyết" của PGS TS Nguyễn Thị Quy, NXB Chính trị quốc gia,

2003

* "Nhũng r ủ i ro nhà nhập khẩu thường gặp trong thanh toán theo phương thức L/C và cách phòng chống" và "Rủi ro do thanh toán dựa trên chúng tù- giả, chúng t ừ không trung thực, mâu thuẫn giữa hàng hoa và chủng

từ"của PGS TS Võ Thanh Thu đăng trên Tạp chí Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập

khau

* "Bảo hiểm trong thương mại và hàng hải" của tác giả Nguyễn Anh Thi

đăng trên Thời báo kinh tế Việt nam ngày 6/3/2000

* "Rủi ro, tổn thất do lừa đảo trong kinh doanh thương mại quốc tế" của TS Nguyễn Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển ngày 3/2001

Trang 13

* "Một số biện pháp chủ yếu nhằm hạn chế r ủ i r o và tổn thất trong kinh doanh thương mại quốc tế"- Luận án tiến sĩ của TS Nguyễn Anh Tuấn, Đ ạ i học Kinh tế quốc dân, 2001

Nhìn chung phần lớn các ấn phẩm này hoặc đề cập những vấn đề về mặt lý thuyết của quừn trị rủi ro trong kinh doanh hoặc chỉ đề cập đến từng khía cạnh riêng lẻ của chủ đề này Nghiên cứu được xem là đầy đủ nhất cho đến hiện nay về chủ đề này là Luận án tiến sĩ của TS Nguyễn Anh Tuấn bừo vệ năm 2001 Trong nghiên cứu của mình, TS Nguyễn Anh Tuấn đã hệ thống hóa được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đề xuất được một số giừi pháp về quừn lý những rủi ro này Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ mới dừng ở giai đoạn từ 1990 đến 2000 Trong khoừn thời gian 5 năm trở lại đây, Việt nam đã trừi qua rất nhiều thay đổi Trước hết là những thay đổi trong chủ trương và chính sách của Đừng và Nhà nước (điển hình là những nỗ lực của chính phủ Việt nam để tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do) đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia dễ dàng hơn vào các hoạt động kinh doanh quốc tế Tiếp đến là những xu hướng tham gia một cách tích cực và chủ động hơn của các doanh nghiệp Việt nam vào thị trường quốc tế Hoạt động kinh doanh quốc tế không còn chỉ giới hạn ở xuất nhập khẩu m à còn cừ đầu tư ra nước ngoài, sừn phẩm kinh doanh không chỉ là các hàng hoa hữu hình m à cừ các hàng hoa vô hình như phần mềm, quyền thương mại v.v , thị trường kinh doanh cũng ngày càng mở rộng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Hem thế, các công cụ hỗ trợ cho hoạt động quừn

lý rủi ro cũng xuất hiện ngày một phong phú (chẳng hạn các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại tệ và hàng hoa) Tất cừ những yếu tố đó đặt các doanh nghiệp Việt nam trước nhiều rủi ro mới xong cũng đem lại nhiều cơ hội để quừn lý rủi ro hiệu quừ hom Trong bối cừnh đó việc xác định và hệ thống các rủi ro m à các doanh nghiệp Việt nam có thể gặp phừi trong điều kiện hoàn cừnh mới cũng như đưa ra các biện pháp phòng ngừa là hết sức cần thiết Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ đáp ứng thỏa đáng đòi hỏi này

2.2 Tinh hình nghiên cứu ngoài nước

Quừn trị r ủ i ro trong kinh doanh là một môn học không thể thiếu được trong các chương trình đào tạo về kinh doanh quốc tế hoặc quừn trị kinh doanh tại các trường đại học của các nước phát triển Thậm chí nhiều trường đại học còn đưa

ra những chương trình đào tạo ở bậc cao học chuyên sâu về vấn đề này Các dịch

vụ tư vấn về quừn trị rủi ro cũng có thể dễ dàng tìm thấy ờ các nước này

Nghiên cứu về vấn đề rủi ro trong kinh doanh là một chủ đề nóng hổi hiện

3

Trang 14

nay khi m à thế giới đang ngày càng phải đôi mặt với nhiêu yếu tô rủi ro hơn hãn

Hầu hết các nghiên cứu chính có thể tìm thấy trong các tạp chí chuyên ngành như:

The Journal of Risk and Insurance, Journal of ỉnternationaỉ Business Studies, Business Insurance Nội dung của các nghiên cứu này tập trung vào các vẩn để như:

Vai trò của quản trị rủi ro đối với doanh nghiệp trong các bài The Market

Value of the Corporate Risk Management Function của Steven M Cassidy;

Richard L Constand; Richard B Corbett; The Impact of Risk Management

Decisions ôn Firm Vaỉue: Gordon's Growth Model Approach của Dongsae Cho;

Corporate Risk Manager's Contribution to Proýit: Comment của Dick L Rottman

Các cách tiếp cận mới hoặc quan điểm mới về vấn đề quản trị rủi ro: New

Perspectives ôn Risk Management: The Search for Prìnciples của Herbert s

Denenberg; J Robert Feưari, An Organization Behavior Approach to Risk

Management của Danvin B Close; Risk Management, Insurance, and Actuarial

Science in the Changing Curriculum của Dan R Anderson

Kinh nghiệm ứng dụng các phương pháp quản trị rủi ro cụ thể: Foreign

Exchange Risk Management Practices and Products Used by Australian Firms của

Jonathan Batten; Robert Mellor; Victor Wan

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài sẽ tập trung vào nhừng mục tiêu chính sau đây:

* Hệ thong hóa những kiến thức lý luận về rủi ro và quàn trị rủi ro Cụ thể:

s Nêu lên được khái niệm chính xác về rủi ro và phân loại các rủi ro m à

các doanh nghiệp kinh có thể phải đối mặt

s Cập nhật nhừng hiểu biết hiện đại về quản trị rủi ro trong kinh doanh

s Giới thiệu các phương pháp đo lường và phòng ngừa rủi ro trong lánh

doanh

* Chỉ ra được những thay đổi trong môi trường kinh doanh hiện nay nhờ đó

có thể dự báo được các rủi ro tiềm tàng cũng như xác định các công cụ quản lý rủi

ro mà các doanh nghiệp có thể sử dụng

* Xác định những rủi ro mà các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đổi mặt

trong họat động kinh doanh quốc tế, m ô tả và phân tích thực trạng của hoạt động

quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp trên cơ sở điều ưa tại các doanh nghiệp Việt

Nam có hoạt động kinh doanh quốc tế

* Trên

Nam, để tài sẽ tiến hành khảo sát, phân tích khả năng ứng dụng các phương pháp

đo lường đánh giá mức độ rủi ro mà các doanh nghiệp có thể đối mặt và các

Trang 15

phương pháp quản trị rủi ro khả thi với các doanh nghiệp Việt Nam

* Tìm hiểu các mô hình quản trị rủi ro hiệu quả tại các nước cũng là một trong các mục tiều cùa đề tài

* Đe tài cũng sẽ đưa ra những kiến nghị tầm vĩ mô đối với nhà nước nhằm

hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp chủ động hơn trong phòng ngửa rủi ro

4 Phạm v i nghiên cửu

về phạm v i nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề rủi ro trong kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động kinh doanh quốc tế, giai đoạn 10 năm (từ 1996 đến 2000), đặc biệt 5 năm gần đây (từ 2001 đến 2006)

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp đườc sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

* Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác

-Lênin trên cơ sờ vận dụng những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển và hội nhập kinh tế đườc đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ VUI và thứ Dí

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp khảo sát thực tiên tại các

doanh nghiệp, phương pháp thống kê, phương pháp mô tà - khái quát, phương

pháp diễn giải - quy nạp, phương pháp phàn tích tông hợp, phương pháp đổi chiếu

- so sánh

6 K ế t cấu của đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài đườc kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Lý luận chung về r ủ i ro và quản trị r ủ i ro trong kinh doanh quốc tế

Chương 2: Thực trạng r ủ i ro và hoạt động quản trị r ủ i ro của các doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh quốc tế

Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị r ủ i ro tại các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

5

Trang 16

C H Ư Ơ N G Ì

LÝ LUẬN CHUNG VÈ RỦI RO V À QUẢN TRỊ R Ỏ RO

TRONG KINH DOANH QUỐC TÉ

1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh quốc tế

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là một khái niệm hết sức quen thuộc, đến mức m à người ta có thể hiểu ngay m à chẳng cần biết đến định nghĩa của nó Tuy nhiên, rủi ro lại là một trong số những thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa và các cách này lại không hoàn toàn nhất trí với nhau

Thứ nhất là định nghĩa do Allan H YVillett1

khởi xướng: "rủi ro là sự không

chắc chắn về tổn thất" Quan điểm này đưằc nhiều học giả như Hardy, Blanchard,

Crobough và Redding, Kulp, Anghell2 ủng hộ

Quan điểm thứ hai cho rằng: "rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất' Quan

điểm này đưằc đề cập lần đầu tiên trong nghiên cứu của John Haynes3, sau đó đưằc Irving Pfeffer trình bày rất rõ trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế4

Định nghĩa này sau đó cũng đưằc sử dụng trong khá nhiều tài liệu về rủi ro5

Một số học giả như Magee, Mehr và Cammack đại diện cho quan điểm thứ

ba lại coi hai định nghĩa trên là tương đương nhau6

Đặc biệt Erank H Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi

coi "rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được" 1 Một định nghĩa gần

Ronald Press Company)

3

John Haynes, "Risk as an Economic Factor", The Quarterly Joumal of Economics, Dí No 4 (7/1895)

4

Pfeffer, Irving, Insurance and Economic Theory (Homevvood, Dlinois: Richard D Irwin, Inc, 1956)

Xem J Edwarđ Hedges and Walter Williams, Practical Fire and Casualty Insurance (Cincinnati: The National Undenvriter Company); Albert H Mowbray, Insurance (Ì" ed.; New York: McGraw-Hill Book Company, Inc); Insurance Department, Chamber of Commerce of the United States, Dictionary o/Insurance Terms

Xem John H Magee, General Insurance (ó* ed.; Homewood, Illinois: Richard D Irwin, Inc); Robert Ị Mehr and Emerson Cammack, Principles of Insurance (Homewood, Illinois: Richard D Invin Inc)

7 " Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được":, Frank H Knight, Risk, Uncertaity and proíĩt Boston

and New York, trang 233

Trang 17

tương tự cũng tìm thấy trong cuốn từ điển Kinh tế học hiện đại do Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia phát hành

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Thân trong cuốn Phương pháp mạo

hiểm và phòng ngừa rủi ro ương kỉnh doanh cũng quan niệm "Rủi ro là sự bất

trắc gây ra mất mát, thiệt hạc

Ngoài ra, cũng có một số cách định nghĩa về rủi ro khá hẹp, chỉ có giá trị

trong một lĩnh vực nhất định Chẳng hạn giới kinh doanh bảo hiểm coi các đối

tưồng đưồc bảo hiểm cũng là rủi ro9

Phân tích các định nghĩa cho thấy, tuy có sự khác biệt nhưng các định nghĩa

này đều đề cập tới hai thuộc tính cơ bản của rủi ro, đó là:

Kết quả không thể xác định chắc chắn: một khi tồn tại rủi ro ừong một sự

kiện hay hành động, sẽ phải có ít nhất hai kết quả có khả năng xảy ra Nếu một sự

kiện hay hành động m à kết quả của nó đưồc biết chắc chắn thì sẽ không thể có rủi

ro gắn với sự kiện hay hành động đó Chẳng hạn việc đầu tư vào các tài sản hữu

hình như máy móc, thiết bị sẽ phải đối mặt với những tổn thất do hao mòn hữu

hình và vô hình gây ra Kết quả này người đầu tư hoàn toàn biết trước nên việc

phải gánh chịu những tổn thất nói trên không đưồc coi là rủi ro

Kết quả không mong muốn: trong các kết quả có thể xảy ra, ít nhất có một

kết quả là không mong muốn Kết quả không mong muốn thường đưồc hiểu là một

tổn thất hay thiệt hại về của cải hoặc con người

Tuy nhiên, tất cả những định nghĩa này đều có những điểm không rõ ràng và

không phù hồp với lĩnh vực quản trị rủi ro Trước hết, việc định nghĩa "rủi ro là sự

không chắc chắn về tổn thất" sê dẫn đến sự không rõ ràng và thiếu nhất quán trong

xác định rủi ro Trong thực tế, tò "không chắc chắn" thường đưồc hiểu là sự hoài

nghi mang tính chủ quan của con người về tương lai, phản ánh sự hạn chế trong

khả năng nhận thức của con người về hiện tại và tương lai Khả năng nhận thức

này khác nhau giữa người này với người khác Ngay với cùng một người, khả năng

nhận thức cũng có thể thay đổi theo thời gian Do vậy, nếu định nghĩa: rủi ro là sự

không chắc chắn về tổn thất thì rủi ro sẽ là một khái niệm thay đỏi theo thời gian

và khác nhau tùy theo nhận thức cùa môi người Ví dụ: có hai ngôi nhà cùng ở gần

một kho chứa xăng dầu và cùng đối diện với nguy cơ bị cháy như nhau khi kho

8

"Rủi ro là hoàn cánh trong đó một sự kiện xây ra với một xác suất nhất đốnh hoặc trong tnrờng hợp qui mô ám

sự kiện đó có một phân phối xác suất", David w Pearce, Từ điền Kinh té học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia

' H i ệ p hội b ã o h i ề m và r ủ i r o Mỹ định nghĩa: "rủi ro là l/sự không chắc chắn về kết quà dĩa một sự kiện khi mà

có nhiều hơn hai khá năng lon tại; hoặc 2/ con người hay tài sản được bào hiểm"

7

Trang 18

chứa bị cháy, nổ Tuy nhiên đánh giá về nguy cơ này có thể không giống nhau giữa hai người chủ của hai ngôi nhà Một người có thể lo lắng đến nguy cơ này và coi

đó là một rủi ro Nhưng người kia có thể không hề quan tâm và do đó không coi đó

là rủi ro Nhận thức về một rủi ro còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của từng người

về rủi ro đó Một đứa trẻ chưa bị giật điện bao giờ sẽ không coi là có rủi ro bị giật

điện khi nó nghịch ổ cắm điện Như vậy định nghĩa rủi ro là sự không chắc chắn

về tổn thất sẽ khiến cho khái niệm rủi ro trở nên thiếu chính xác và không nhất

quán do một sụ kiện hay hành động có thể hàm chứa rủi ro theo quan niệm của người này nhưng lại không được coi là có rủi ro theo suy nghĩ của người khác

Định nghĩa "rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất" có thể xem là khắc phục

được tính chất chủ quan trong định nghĩa trước đó về rủi ro Đ ó là vì "khả năng xảy ra một sụ kiện" vẫn được thừa nhận rộng rãi là phản ánh trạng thái khách quan của sụ kiện, nó tồn tại không phụ thuộc vào nhận thức của con người về khả năng

đó

Tuy nhiên, nhiều học giả như Willett, Knight, Crobough và Redding cho rằng "sụ không chắc chắn" trong định nghĩa về rủi ro phải được nhìn nhận dưới góc độ "xác suất" Xét về mặt xác suất, có 3 tình huống có thể xảy ra với một sụ kiện: "không thể xảy ra" (tương ứng với xác suất bằng 0), "chắc chắn xảy ra" (tương ứng với xác suất bàng 1), và "không chắc chắn" (tương ứng với xác suất nhỏ hơn Ì và lớn hơn 0) Như vậy ở đây "sụ không chắc chắn" dùng để chỉ khả năng xảy ra một sụ kiện khi xác suất xảy ra sụ kiện đó nằm giữa 0 và Ì, do vậy nó hoàn toàn mang tính khách quan V ớ i phân tích như vậy thì định nghĩa "rủi ro là sụ không chắc chắn mang tính khách quan về tổn thất" sẽ không khác gì với định nghĩa "rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất" Điều này giải thích tại sao có nhiều học giả đã ghép chung cả hai định nghĩa này với nhau Tuy nhiên, nếu chỉ định nghĩa

"rủi ro là sụ không chắc chắn" m à không nhấn mạnh bản chất khách quan của 'sụ không chắc chắn' thì sẽ làm cho định nghĩa không rõ ràng, không rõ "sụ không chắc chắn" trong định nghĩa được hiểu dưới góc độ tâm lý hay xác suất

Định nghĩa "rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được" của Frank

H Knight lại chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh đo lường của rủi ro Rõ ràng có thể thấy định nghĩa này là quá hẹp vì có nhiều rủi ro m à xác suất xảy ra nó không thể đo lường được như rủi ro chiến tranh hạt nhân, rủi ro sóng thần hay như trong kinh doanh, rủi ro giá cả một hàng hoa tăng hay giảm cũng rất khó đo lường Song nó lại có ý nghĩa ứng dụng cao vì trên thục tế chúng ta không thể đưa ra được một quyết định đổi phó với rủi ro nếu như không thể xác định được khả năng xảy ra nó

Trang 19

Nói Tiệt cách khác, nếu không thể đo lường được khả năng tồn tại tổn thất thì cũng chẳng thể có được biện pháp nào để đối phó với nó Do vậy, định nghĩa này đã tạo

cơ sở cho việc ứng dựng các công cự lượng hoa vào quản trị rủi ro

Cuối cùng, điểm hạn chế chung của các định nghĩa nêu trên là chỉ gán rủi ro với tổn thất Trong kinh doanh, khả năng kết quả cuối cùng sai lệch so với dự tính theo chiều hướng bất lợi cũng được xem là một loại rủi ro Các định nghĩa nêu trên

đã không bao quát được loại rủi ro này Việc các định nghĩa trên chỉ gan rủi ro với tổn thất là điều dễ hiểu vì chúng phần lớn được giới nghiên cứu về bảo hiểm đưa

ra Đối tượng của bảo hiểm chỉ giới hạn ở các tổn thất về mặt tài chính m à không bao hàm những sai lệch không mong muốn so với dự tính

Tóm lại, qua phân tích các định nghĩa phổ biến về rủi ro có thể thấy những định nghĩa này gặp phải những hạn chế về tính không rõ ràng, thiếu thống nhất và kém linh hoạt trong vận dựng Không có định nghĩa nào bao quát được hết mọi khía cạnh rủi ro m à nhà quản trị phải đối mặt trong quá trình ra quyết định Do vậy cần thiết phải có một định nghĩa thích hợp hơn cho lĩnh vực quản trị nói chung và quàn trị rủi ro nói riêng

Trên cơ sở những phân tích về khái niệm rủi ro ở trên, nhóm nghiên cứu đề xuất một định nghĩa mới về rủi ro như sau:

Rủi ro là một ánh huống của thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng xảy ra một sự sai lệch bất lọi so vói kấ quả được dự tính hay mong chờ

Từ khái niệm nói trên, chúng ta có thể rút rạ những điểm cơ bản sau đây:

Trước tiên, với việc định nghĩa rủi ro là "một tình huống của thế giới khách

quan", định nghĩa đã khẳng định tính chất khách quan của rủi ro Rủi ro chịu ảnh hưởng bời các nhân tố từ môi trường khách quan gắn với sự kiện chứ không chịu tác động bời nhận thức chủ quan của con người về sự kiện đó

Thứ hai, với quan niệm kết quả không mong muốn của rủi ro chính là sự sai

lệch bất lợi so với kết quả được dự tính hoặc mong chờ, định nghĩa bao hàm cả những rủi ro gắn với các tổn thất và những rủi ro gắn với sự sai lệch so với dự tính

Rõ ràng mọi người đều mong không phải chịu tổn thất hay thiệt hại Nếu trong một tình huống cự thể tồn tại khả năng xảy ra một sự sai lệch bất lợi so với sự mong muốn đó, tức là tồn tại khả năng xảy ra tổn thất hay thiệt hại thì tình huống đó được coi là rủi ro Và ngay cả khi một sự sai lệch so với dự tính dù không gây ra tổn thất nhưng theo chiều hướng bất lợi, chẳng hạn giá cả tăng không như mong muốn khiến lợi nhuận không cao như dự định thì cũng được coi là rủi ro

Thứ ba, định nghĩa này tạo ra sự linh hoạt trong ứng dựng các công cự

9

Trang 20

lượng hóa trong từng tình huống cụ thể Điểm mấu chốt cho sự linh hoạt là thừa nhận "dự tính của con người", là tiêu chuẩn để đánh giá rủi ro M ọ i sự sai lệch bất lợi so với dự tính đều coi là rủi ro Nguyên nhân gây ra sự sai lệch là khách quan, nhưng dự tính của con người là nhân tố chủ quan và khác nhau ữong từng trường hợp cụ thể

1.1.2 Rủi ro trong kinh doanh

Rủi ro trong kinh doanh là mảt dạng rủi ro và nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản như bất kỳ mảt loại rủi ro nào Rủi ro trong kinh doanh thường dễ nhận thấy và được con người quan tâm nhiều nhất Bởi vì, trước hết kinh doanh là mảt hoạt đảng mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, cho mỗi cá nhân và lợi nhuận chính là đảng lực thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng phát triển hoạt đảng của mình Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng thường có nhiều nhân tố tác đảng, ảnh hưởng và làm gia tăng bất trắc Những bất trắc thường xuyên xảy ra trong môi trường kinh doanh dẫn đến

"những sai lệch bất lợi so với kết quả dự tính hay mong chờ" của doanh nghiệp Khác với mảt số rủi ro thông thường khác, rủi ro kinh doanh thường rất cụ thể và có thể đo lường được Sờ dĩ như vậy là vì, khái niệm rủi ro kinh doanh thường gắn với lợi nhuận và nhiều khi doanh nghiệp chấp nhận sự mạo hiểm cùng với khả năng xảy ra rủi ro cao để có lợi nhuận kỳ vọng lớn

Rủi ro kinh doanh đồng thời cũng rất đa dạng và phức tạp bởi nó chịu nhiều tác đảng, không những từ nhân tố khách quan bên ngoài m à còn chính từ nải bả doanh nghiệp, từ chính nền kinh tế trong nước Đ ể có những chiến lược và biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả, con người cần phải biết nhận dạng, đánh giá và phân loại rủi ro

1.2 Phăn loại rủi ro

Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro, sau đây là mảt số cách phân loại chủ yếu:

1.2.1 Theo tính chất của rủi ro

Có 2 loại: Rủi ro suy đoán và Rủi ro thuần tuy

* Rủi ro suy đoán: còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ, tồn tại cơ hải

kiếm lời cũng như nguy cơ tổn thất Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt đảng đầu tư, kinh doanh và đầu cơ ví dụ mua cổ phiếu: khoản đầu

tư này có thể lãi, hoa vốn hoặc lỗ

* Rủi ro thuần tuy: là loại rủi ro m à nếu xảy ra thì chỉ có thể dẫn đến tổn thất

Trang 21

m à không có cơ hội kiếm lời Ví dụ: lụt bão, sóng thần, hoa hoạn, động đất, khủng hoảng kinh tế, đầu tư sai lầm.v.v

1.2.2 Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro

Có 2 loại: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt

* Rủi ro cơ bản: là những rủi ro phát sinh từ những nguyên nhân ngoài tầm

kiểm soát của mọi người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnh hưởng tới cộng đổng và toàn xã hội Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, động đất, núi lửa phun.v.v

* Rủi ro riêng biệt: là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách

quan của từng cá nhân, tổ chức.Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng

cá nhân hoặc tổ chức Nếu xét về hậu quả đối với một doanh nghiệp có thể rất nghiêm trọng, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế- xã hội Ví dụ: rủi ro cháy nổ, rủi ro thanh toán, rủi ro đắm tàu.v.v

1.23 Theo nguyên nhân của rủi ro

Có 2 loại: rủi ro do các yếu tố khách quan và rủi ro do các yếu tố chủ quan

* Rủi ro do các yếu tố khách quan: Yếu tố khách quan xảy ra ngoài ý muốn

của con người và không thể lường trước hay kiểm soát được Đây thường là những nguyên nhân xảy ra từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán ; rủi ro do khủng hoảng kinh tế hoặc có nguổn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ m ô của chính phủ Và vì vậy, chúng rất khó kiểm soát và thường khó khống chế Biện pháp chống đỡ phụ thuộc vào khả năng dự báo và sự thích nghi của doanh nghiệp

* Rủi ro do các yểu tổ chủ quan: là loại rủi ro do yếu tố do hành vi trực tiếp

từ con người hoặc từ các tổ chức kinh doanh Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chính trị không ổn định, quyết định một chính sách quản lý vĩ m ô lệch hướng

N h ó m nguyên nhân này thường rất đa dạng và phức tạp và cũng rất khó dự báo trước

1.2.4 Theo tác động của môi trường vĩ mô gây nên rủi ro

l i

Trang 22

Có các loại: rủi ro do điều kiện tự nhiên, rủi ro chính tri, rủi ro kinh tế, rủi

ro luật pháp, rủi ro văn hoa Theo cách phân loại này, có rất nhiều loại rủi ro và thường là những rủi ro điển hình đối với các doanh nghiệp như: rủi ro kinh tế, pháp

lý, chính trị, tỷ giá hối đoái, giá cả, lãi suất v v

Với nhóm rủi ro này, nếu doanh nghiệp không có biện pháp quản trị tốt sẽ chịu nhiều hậu quả nặng nề nhất

1.3 Mối liên hệ giữa rủi ro và lợi nhuận trong kinh doanh

về mặt lý thuyết, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kở vọng/yêu cầu phải càng cao Sở dĩ như vậy là vì nhà đầu tư sê chỉ tham gia vào một dự án rủi ro khi mức

độ lợi nhuận dự tính từ dự án đó tương xứng với mức độ rủi ro m à nhà đầu tư chấp nhận gánh chịu Tuy nhiên về mặt dài hạn, rủi ro là một ữong những nhân tố làm xói mòn lợi nhuận khi nó không được kiểm soát Đ ể làm rõ những tác động bất lợi của rủi ro đối với lợi nhuận, phần này sẽ liệt kê những chi phí phát sinh khi xảy ra rủi ro Chí phí của rủi ro là toàn bộ những thiệt hại, mất mát về vật chất lẫn tinh thần trong việc gánh chịu, khắc phục, bồi thường tổn thất, trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro1 0 Các chi phí này có thể chia thành các nhóm sau:

1.3.1 Các chỉ phí phát sinh (rục tiếp từ hậu quả bất lợi do rủi ro đem lại

Chi phí này bao gồm:

* Những thiệt hại về giá trị các tài sản bị mất mát hoặc hư hỏng hay những giảm sút về lợi nhuận, thậm chí thua lỗ

* Nguồn thu nhập không có cơ hội nhận được, chẳng hạn tiền cho thuê toa nhà trong trường hợp toa nhà không gặp hoa hoạn

* Các chi phí phải bồi thường: Đây là các chi phí phải chi trả do cam kết của doanh nghiệp hay thuộc trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đổi với người thứ ba khi rủi ro xảy ra Ví dụ: bồi thường cho người lao động bị tai nạn trong quá trình lao động theo cam kết hoặc theo quy định của pháp luật

Ngoài những chi phí mang tính hữu hình như đã nêu trên còn có những chi phí mang tính vô hình như mất uy tín, mất bạn hàng và thị trường, bỏ lỡ thời cơ Các chi phí này nhiều khi còn lớn hơn chi phí hữu hình gấp nhiều lần

1.3.2 Chi phí trong quá trình khắc phục những tổn thất do r ủ i ro mang lại

Các chi phí này bao gồm:

Ờ đây chi giới hạn ở những rủi ro trong kinh doanh

Trang 23

* Chi phí khoanh lại tổn thất: nhằm làm cho tổn thất không trầm trọng hơn, không trở thành nguyên nhân cho các tổn thất khác hay làm tăng nguy cơ cho các rủi ro có liên quan Chẳng hạn chi phí để sơ cứu cho người lao động bị tai nạn nhằm tránh cho họ bị nặng hơn

* Chi phí khắc phửc rủi ro: là toàn bộ chi phí liên quan đến phửc hồi sức khỏe của con người, phửc hồi lại giá trị sử dửng của tài sản, phửc hồi lại hoạt động sản xuất - kinh doanh, thị phần, uy tín

1.3.3 Chi phí phòng ngừa rủi ro

Là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tập huấn, tuyên truyền, trang bị thiết bị kỹ thuật, mua bảo hiểm liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro để nhầm ngăn chặn, phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro Những chi phí này lẽ ra sẽ không mất nếu không tồn tại rủi ro

1.3.4 Chi phí xã hội và tinh thần

Đây là các chi phí mang tính chất gián tiếp, xem xét về khía cạnh vĩ m ô hoặc tinh thần Xét về mặt vĩ mô, một môi trường kinh doanh nhiều rủi ro sẽ làm giảm hiệu quả của việc sử dửng vốn, gây thiệt hại cho nền kinh tế nói chung Mặt khác, môi trường rủi ro tăng sẽ làm tăng mức bù rủi ro khiến cho chi phí về vốn sẽ tăng lên Người tiêu dùng cuối cùng sẽ phải gánh chịu những sự gia tăng chi phí này

Xét về mặt tinh thần, các rủi ro, đặc biệt là rủi ro thuần túy" sẽ tạo tâm lý bất an, lo láng cho những người bị đe dọa bởi rủi ro

Việc liệt kê các chi phí m à rủi ro có thể gây ra doanh nghiệp như trên chẳng những khẳng định được sự cần thiết phải đối phó với rủi ro m à còn cung cấp những căn cứ để xác định mức độ thiệt hại m à rủi ro có thể gây ra trong từng tình huống cử thể, là cơ sở để đưa ra các phương pháp xác định, đánh giá, đo lường rủi

ro sau này

1.4 Nguyên nhãn gây ra rủi ro trong kinh doanh và các nhân tố làm gia tăng mức độ rủi ro

1.4.1 Nguyên nhân gây ra các rủi ro trong kinh doanh

1.4.1.1 Nhóm các nguyên nhân đất từ bên nsoài doanh nghiệp

Đây là các nguyên nhân mang tính khách quan, xuất phát từ môi trường tự

nhiên, kinh tế - chính trị và văn hoa m à doanh nghiệp hoạt động Chúng không chỉ ảnh hường tới riêng một mình doanh nghiệp m à tới tất cả các doanh nghiệp hoạt

" Rủi ro thuần tuy là nhũng rủi ro chi liên quan đến tản thất, phân biệt với rủi ro đẩu cơ vừa hàm chứa khả năng gặp tồn thất vừa h à m chứa khá năng được lợi

13

Trang 24

động trong cùng môi trường đó Nhóm nguyên nhân này bao gồm:

ạ Các nguyên nhân có nguồn gốc từ môi tnrờne tu

nhiên đầy bát ừăc

Môi trường tự nhiên trên thế giới hiện nay đang là nơi chứa đựng rất nhiều hiểm hoa, nguy cơ rủi ro, tổn thất mang tính toàn cầu Đ ó là những rủi ro do các thảm họa tự nhiên như: như gió bão, sóng thần, động đất, núi lửa phun, cháy rặng, tình trạng thời tiết khắc nghiệt (El Nino, La Nina) đã gây ra những tổn thất to lớn

về người và tài sản

Mặc dù xã hội loài người đã có những bước phát triển vượt bậc, con người

đã có những cố gắng rất lớn nhằm giảm bớt những nguy cơ đe dọa tặ môi trường

tự nhiên nhưng thực tế cho thấy các hiện tượng thiên tai vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Rủi ro tặ môi trường tự nhiên vẫn thường xuyên rình rập cuộc sống của con người

b Các nguyên nhân cổ nguồn gốc từ môi trường chính tri phức tạp và bắt ồn trên thế giới

Cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, dù cuộc chiến tranh lạnh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng trên thế giới vẫn liên tiếp xảy ra các cuộc xung đột vũ trang, các cuộc chiến tranh khốc liệt, gây nên những tổn thất to lớn về người và của, để lại hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, xã hội cho nhiều quốc gia dân tộc, đẩy cuộc sống của nhân dân nhiều nước và khu vực rơi vào thảm họa của

sự nghèo đói, chết chóc, bệnh tật, tỵ nạn Theo thống kê sơ bộ, chỉ tính tặ năm

1990 đến nay, trên thế giới đã xảy ra hàng trăm cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang lớn nhỏ, cirớp đi sinh mạng của hàng chục vạn người với mức thiệt hại về vật chất lên đến trên 3000 tỷ USD Bên cạnh đó, các cuộc khủng bố đẫm máu mang màu sắc chính trị xảy ra liên tiếp, điển hình là vụ khủng bố ngày 11/9/2001 ở Mỹ, nơi được coi là an ninh tốt nhất thế giới; đồng thời làn sóng biểu tình, bãi công dâng cao ở khắp các thành phố các nước gây ra rất nhiều tổn thất về người và của Nguyên nhân chủ yếu xảy ra xung đột chính trị trên thế giới xuất phát tặ những mâu thuẫn về chính trị, lợi ích kinh tể, về biên giới lãnh thổ giũa các sắc tộc, giữa các đảng phái, giữa các tôn giáo, các quốc gia, dân tộc, cộng đồng người rất khó có thể dung hòa Bởi vậy, các cuộc xung đột này diễn ra rất dai dẳng, tính chất, mức độ của nó ngày càng nghiêm trọng Trong khi đó, một sổ thế lực chính trị

ở các nước lớn quan niệm: mọi mâu thuẫn có thể giải quyết bằng con đường quân

sự, nước lớn có thể áp đặt chính trị cho nước nhỏ thông qua sức mạnh quân sự, nên khi cần, họ có thể phát động chiến tranh với các nước khác; hoặc luôn khuyến khích,

Trang 25

tài trợ cho các cuộc bạo động chính trị, gây bất ổn về chính trị, tạo ra thị trường vũ khí làm lợi cho các nước sản xuất vũ khí chiến tranh Những yếu tố nói trên đã giải

thích lý do vì sao: "Thểgiới chưa bao giờ im tiếng súng" Chúng ta vẫn không biết

đến bao giờ mới có những ngày bình yên cho mọi dân tộc, mọi con người trên trái đất này Đây chính là những nguy cơ rủi ro m à các doanh nghiệp phải nhận diện và phân tích đửy đủ trong chiến lược kinh doanh của mình

c Nguyên nhân rủi ro từ sư thiếu hiểu biết môi trường văn hoa - xã hôi đa dang của cắc dân tóc trên thế giới

Môi trường văn hóa - xã hội của mỗi một quốc gia, dân tộc sẽ chi phối mạnh

mẽ đến tâm tư, tình cảm, hành vi, ứng xử, sở thích, thị hiếu của người dân của nước đó, các doanh nghiệp cửn hiểu biết sâu sắc, nắm chắc và tận dụng được cơ hội trong kinh doanh của mình

Rủi ro do môi trường văn hóa - xã hội là những rủi ro xảy ra cho các doanh nghiệp thiếu sự hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức, cấu trúc xã hội, các định chế của quốc gia, dân tộc đang và sẽ vào kinh doanh, từ đó sẽ có những hành vi ứng xử không phù hợp, nhiều khi vô tình trờ thành bất nhã, gây ra những thiệt hại, mất mát hoặc đánh mất cơ hội kinh doanh, nhất là đối với các nước có tôn giáo chính thống Đ ố i với các quốc gia này, vấn đề liên quan đến tôn giáo phải được nghiên cứu kỹ trong kinh doanh nhất là trong quảng cáo của doanh nghiệp tại nước đó, hoặc những nước lễ giáo được coi trọng thì phải rất cẩn thận khi tiếp xúc, đàm phán ngược lại những nước phát triển thì vấn đề quan trọng nhất là tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong kinh doanh, đàm phán của doanh nghiệp

Ví du:

* Sản phẩm Casset Sony một thời bị tẩy chay ở Thái Lan và chính phủ Thái Lan cũng có phản ứng đối với công ty Sony bằng con đường ngoại giao, vì đã dùng đến hình ảnh Phật Thích Ca khi quảng cáo sản phẩm máy Casset Sony; người Thái coi đây là sự phỉ báng đối với Phật Tổ

* Có doanh nghiệp đã không chú ý đến chuẩn mực xã hội đặc biệt của người Nhật (coi trọng tuổi tác, địa vị xã hội, trọng nam, khinh nữ ) ngay từ buổi đửu đã

cử một trưởng đoàn đàm phán là nữ trẻ tuổi nên đàm phán không thành công

d Nguyên nhân rủi ro từ các cuộc khủng hoảng kinh tể

Phương thức sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa với mục tiêu là lợi nhận tối

đa đã tạo ra sự phát triển thửn kỳ về mặt kinh tế, nhưng luôn mang trong lòng nó nguy cơ khủng hoảng kinh tế mang tính chu kỳ Đặc trưng của các cuộc khủng

15

Trang 26

hoảng kinh tế là biến đổi theo các chu kỳ mặc dù có thời gian dài ngắn khác nhau Khủng hoảng kinh tế chỉ là một trong các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, nó được coi như là một sự kiện tất yếu, có tính quy luật, một căn bệnh kinh niên của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Nên kinh tế thế giới đã tịng trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, đầu tiên xảy ra vào năm 1825, sau đó là các năm 1836, 1847 m à đỉnh cao của các cuộc khủng hoảng này xảy ra trong giai đoạn tị năm 1929 đến năm 1933 Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử loài người Một khi khủng hoảng kinh tế xảy ra tức là nền kinh tế thế

giới, khu vực hoặc quốc gia lâm vào tình trạng bất ổn, thất nghiệp gia tăng, lạm

phát, giá cả tăng đột biến, tiền tệ mất giá nghiêm trọng, kinh tế suy thoái trầm trọng Tất cả những yếu tố này là nguyên nhân gây nên những rủi ro, tổn thất cho các doanh nghiệp nói chung, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế

Hộp Ị : Khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu A xảy ra năm 1997

Sau nhiều năm phát triển với tốc độ cao nhất thế giới, khu vực Đông Nam

Á được nhiều người biết đến với con mắt khâm phục "Bất ngờ, vào ngày 2/7/1997 chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Bath mở đầu cho cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á Tiếp theo, ngày 11/7/1997 Philippin tuyên bố thả nổi đồng Peso Ngày 11/8/1997 Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường ngoại hối Ngày 14/8/1997 Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah Ngày 19/8/1997 Singapore tuyên bố không can thiệp vào thị trường ngoại hối Ngày 23/12//997 đồng Won (Hàn Quốc) giảm xuống mức thấp nhất: 1926 W 0 N / 1 Ư S D Ngày 16/6/1998 đồng Yên (Nhật) giảm xuống mức kỷ lục trong nhiều năm: 150 JPY/1ƯSD Đ ó chính là các mốc quan trọng đánh dấu cuộc khủng hoảng tiền tệ ở các nước trong khu vực kéo dài trong nhiều năm

Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thật nặng nề, trước sự mất giá của đồng nội tệ người gửi tiền đồng loạt đến ngân hàng rút tiền, hoặc bán cổ phiếu để mua ngoại tệ mạnh cất trữ; cầu về ngoại tệ trên thị trường tăng nhanh cung ngoại tệ giảm càng đẩy nhanh sự sụt giá của đồng nội tệ ở các nước, đã làm trầm trọng thêm khủng hoảng Tinh trạng đó làm cho rất nhiều ngân hàng không

có khả năng chi trả dẫn đến sự phá sản; các chỉ số chứng khoán giảm mạnh do trị giá nhiều cổ phiếu giảm mạnh, sự rối loạn ịong hoạt động kinh tế, xã hội gia tăng (nạn đầu cơ phát triển, môi trường đầu tư, kinh doanh bị ảnh hưởng, phá sản tăng thất nghiệp tăng )

16

Trang 27

Thái Lan và Indonesia là 2 nước chịu ảnh hưởng nặng nê nhát Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan năm 1998 giảm 16,1% so với năm 1996 (trước khủng hoảng), Indonesia năm 1998 giảm 21,2% so với năm 1996 Tốc độ phục hồi kinh

tế của 2 nước cũng khá chậm chạp do dư âm của khủng hoảng còn kéo dài Các nước còn lại (Hàn Quốc, Malaysia, Philippin) tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế âm (1998), nhưng sự phục hồi kinh tế khá nhanh, điển hình là Hàn Quốc năm 1999 đạt 17,4% so với năm 1998, Malaysia năm 1999 đạt 12,9% so với năm 1998

*Nguồn: nhóm tác giả nghiên cứu tự tồng hợp từ các tài liệu khác nhau

Như vậy, khủng hoảng kinh tế (trong đó có khủng hoảng tài chính - tiền tệ)

là một căn bệnh kinh niên của kinh tế thị trường xảy ra theo chu kứ Một khi xảy

ra, nó mang lại hậu quả rất nghiêm trọng cho nền kinh tế của nhiều quốc gia Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế lại rất khác nhau, phụ thuộc vào

sự can thiệp của Chính phủ, mức độ mở cửa nền kinh tế, vào bản thân quy m ô của nền kinh tế quyết định Khủng hoảng kinh tế là nguyên nhân gây ra nạn thất nghiệp, qua đó giảm sức mua của thị trường quốc tế và thu hẹp thị trường xuất khẩu của nhiều quốc gia

e Các nguyên nhân cổ nguồn gốc từ chính sách kinh tế và môi trưòng pháp lý thiểu

ổn đinh, thiếu rõ ràng, minh bách của các niróc trên thế g ở i

Chính sách phát triển kinh tế mỗi quốc gia thường được cụ thể hóa bằng một

hệ các văn bản pháp luật và cơ chế điều hành Trong thực tế, nhiều khi hệ thống các văn bản pháp lý và cơ chế điều hành mâu thuẫn thậm chí trái ngược với chính sách kinh tế chung của Nhà nước Sự thay đổi và tính không ổn định của các chính sách kinh tế và hệ thống các văn bản pháp lý là một trong các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro trong kinh doanh quốc tế m à các doanh nghiệp thường gặp phải Kinh nghiệm của các doanh nghiệp cho thấy: khi kinh doanh với các đối tác ở một số nước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á, Nam Mỹ môi trường pháp lý phức tạp, không rõ ràng hay thay đổi của Chính phủ các nước sở tại cộng với cơ chế điều hành của chính quyền thường rườm rà, thiếu kỷ cương, công khai, dân chủ nên có thể gây ra các rủi ro cho các doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp mất toàn

bộ số vốn đã đầu tư, chi phí kinh doanh tăng dẫn đến giảm sức cạnh ữanh trên thị trường, thu nhập của doanh nghiệp giảm, thậm chí bị lỗ trong kinh doanh

f Các nguyên nhân cổ liên quan tới sư phát triền của kỹ thuật công nghê

Sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ luôn là động lực cho sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, ữịiilSữngNthràng hợp nhất định

17

UO'<íì 0 « " Ó C

N G O A I T H U O K G

]jtiãD

Trang 28

chúng cũng tạo ra những rủi ro mới cho xã hội nói chung và hoạt động kinh doanh

nói riêng Chúng có thể là sự phát triển quá nhanh của công nghệ khiến cho các

doanh nghiệp chịu lãng phí khi phải chạy theo công nghệ mới để dành ưu thế trong

cạnh tranh N ó cũng có thể là sự phát triển quá nhanh m à không kèm theo các biện

pháp ngàn ngừa những tác hại của sự phát triển đó, chẳng hạn sự phát triển của

công nghệ hạt nhân, nguyên tử, công nghệ viễn thông chưa tính đến tác hại của

chất thải hạt nhân, hay tình trạng bị tấn công trên mạng

g Các nguyên nhân bên ngoài khác

Đây là các nguyên nhân có nguồn gổc bên ngoài doanh nghiệp nhưng chỉ

ảnh hưởng tới riêng doanh nghiệp; bao gồm các nguyên nhân có nguồn gổc tự

nhiên như: cháy, nổ và các nguyên nhân có nguồn gổc từ hành v i của con người

(như hành v i cạnh tranh không trung thực (làm hàng giả, hàng nhái), tình trạng mất

khả năng thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng của đổi tác (do phá sản, do lừa đảo),

hay sự tắc trách bất cẩn, thậm chí phá hoại từ bên ngoài) Các nguyên nhân này

thường do các chủ thể có quan hệ với doanh nghiệp gây nên như nhà cung cấp,

khách hàng, đổi thủ cạnh tranh, các đơn vị quản lý

1.4.1.2 Nhóm các nguyên nhân từ nôi bô doanh nghiệp

Đây là các nguyên nhân mang tính chủ quan, có nguồn gổc bên trong doanh

nghiệp, chúng xuất hiện từ các hành v i trực tiếp hoặc gián tiếp của cá nhân và

doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Phải nói rằng nhóm nguyên nhân này rất

đa dạng và phức tạp Có thể khái quát một sổ nguyên nhân sau đây:

ạ) Sư sai lầm của lãnh đao doanh nghiệp về việc lưa chon chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh là tổng thể các phương sách mang tính tổng thể bao gồm: tư tưởng, phương chẫm, mục tiêu, nhiệm vụ, các bước và biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược nhằm phát triển doanh nghiệp trong một

trên cơ sở khảo sát, phân tích các điểu kiện môi trường bên trong và ngoài doanh nghiệp

Việc xác định đúng đắn chiến lược kinh doanh sẽ có tác dụng thúc đẩy và

đảm bảo sự phát triển thuận lợi của doanh nghiệp; nâng cao tính mục đích của sản

xuất kinh doanh, tăng khả năng thích nghi của doanh nghiệp trong mọi điều kiện

tình huổng, từ đó tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Ngược lại việc lựa

chọn một chiến lược kinh doanh sai lầm của lãnh đạo doanh nghiệp sẽ gây ra

những hậu quả nghiêm trọng Nó dẫn doanh nghiệp vào đường đi bế tắc sai lầm

18

Trang 29

gây ra những thiệt hại, thua lỗ lớn cho doanh nghiệp Đây là nguy cơ lớn nhất dẫn đến sự đổ vỡ, phá sản của một doanh nghiệp

Ngoài ra, việc thiếu một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh cũng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trờng không kém so với việc lựa chờn sai lầm chiến lược kinh doanh Do không có chiến lược nên hoạt động kinh doanh mang nặng tính

"tình thế", "chộp giựt", khi gặp phải rủi ro bất ngờ, thất bại là không thể tránh khỏi

b) Sư thiếu thông tin kinh doanh dẫn đến nhũng quyết đinh sai lầm gây ra rủi ro, tổn thất trong kinh doanh

Có thể nói trong nền kinh tế thị trường thông tin có một vai trò hết sức quan trờng trong việc quản trị doanh nghiệp Lãnh đạo doanh nghiệp chỉ có thể ra được các quyết định đúng đắn, đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp trên cơ sở nguồn thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời về tình hình thị trường, đối tác kinh doanh, đoi thủ cạnh tranh, môi trường luật pháp trong nước cũng như quốc tế.v.v

Sự thiếu thông tin hoặc có những thông tin không chính xác sẽ dẫn đến các quyết định quản lý sai lầm, dễ bị lừa đảo, không xác định rõ sức manh của đối thủ cạnh tranh, thị trường phù hợp Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến rủi ro, thất bại trong kinh doanh

c) Sư yếu kém về năng lúc canh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt: quy m ô về lao động và vốn, dinh độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp

Sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ dẫn đến các hậu quả như: chất lượng hàng hoa thấp kém, giá thành cao dẫn đến sản phẩm không có khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế, gây ra sự thiếu tin tưởng của đối tác, khách hàng, không có khả năng ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế lớn.v.v Những hậu quả này là một trong các nguyên nhân chính gây ra những đổ vỡ, thất bại trong kinh doanh của các doanh nghiệp

d) Sư yếu kém về trình đô quản tri doanh nghiệp

Sự yếu kém về trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp thể hiện ở sự thiếu kiến thức trong kinh doanh; trình độ, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ được giao; sự phối hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp thiếu

ăn khớp, nhịp nhàng; chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, sa thải người lao động không phù hợp.v.v

Sự yếu kém nói trên sẽ dẫn đến những hậu quả như: quan hệ với khách hàng (cả nhà cung cấp - đầu vào lẫn người tiêu thụ hàng hoa - đầu ra) bị xấu đi, chất

19

Trang 30

lượng sản phẩm thấp kém, hàng hoa bị trả lại, thậm chí có thể xảy ra những "rối loạn" trong nội bộ doanh nghiệp như xảy ra đình công, bãi công, nổi loạn.v.v Đây

là những yếu tố gây ra những rủi ro, tổn thất nặng nề cho doanh nghiệp

e) Những neuvên nhân khác

Ngoài những nguyên nhân kể trên, sự sơ suất, bất cẩn, chủ quan, thiếu tinh thồn trách nhiệm, thậm chí thiếu trang thực của các thành viên trong doanh nghiệp cũng là những nhân tố có thể gây ra rủi ro, tổn thất đáng kể cho doanh nghiệp

Như vậy, nguyên nhân gây ra rủi ro, tổn thất trong kinh doanh rất đa dạng

và phức tạp, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau Đ ó có thể là những nguyên nhân mang tính khách quan đến từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp nhưng cũng có thể là những nguyên nhân mang tính chủ quan đến từ bên trong doanh nghiệp Cho

dù đó là nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì chúng đều là nguồn gây ra rủi

ro, tổn thất, mối hiểm hoa cho doanh nghiệp Tuy nhiên, bản thân hai nhóm rủi ro này khác nhau, đối với nhóm nguyên nhân khách quan người ta khó hạn chế, loại

bỏ nó bời nó phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài m à chủ quan của con người rất khó kiểm soát nổi Còn đối với nhóm nguyên nhân chủ quan, tuy rất phức tạp nhưng lại xuất hiện từ hành v i của con người Cho nên có thể kiểm soát bằng nhiều biện pháp khác nhau Thực tế trong kinh doanh, những rủi ro, tổn thất có nguyên nhân chủ quan chiếm đa số về cả tồn số và cả mức độ nghiêm trọng của rủi ro, tổn thất

1.4.2 Các nhân tố làm gia tăng mức độ rủi ro

Doanh nghiệp có thể gặp nhiều loại rủi ro nhưng không phải mọi rủi ro cũng

có nguy cơ xảy ra giống nhau Cùng một loại rủi ro nhưng trong những tình huống khác nhau có thể có xác suất xảy ra khác nhau Việc xác định các nhân tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro chính vì thế cũng là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản trị Đ ể giúp cho việc xác định các nhân tố ảnh hường được chính xác, phồn này sẽ trình bày một cách hệ thống các nhân tố có thể ảnh hưởng tới xác suất xảy ra rủi ro Tuy nhiên, cũng cồn lưu ý là ranh giới giữa nguyên nhân gây ra rủi ro

và nhân tố gia tăng nguy cơ rủi ro không phải lúc nào cũng rõ ràng vì có sự kiện là nguyên nhân của một rủi ro nhưng đồng thời lại là nhân tố làm gia tăng rủi ro khác Chang hạn, điều kiện làm việc kém sẽ là nguyên nhân làm giảm năng suất làm việc đồng thời là nhân tố làm tăng rủi ro xảy ra sai sót trong công việc

Khái quát lại, các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro có thể chia thành 4 nhóm sau:

1.4.2.1 Các nhân tố mang tính vật chất ịPhysical hazard)

Đây là các nhân tố phản ánh tình trạng về mặt vật chất như kết cấu của khu nhà, kho xưởng, vị trí của chúng, số người làm việc trong đó hay tình trạng hoạt

20

Trang 31

động của máy móc Nếu khu nhà xưởng ờ vào vị trí chật hẹp, làm bằng những

vật liệu dễ cháy thì nguy cơ cháy nổ sẽ cao, máy móc đòi hỏi điều kiện khô ráo lại

phải vận hành trong điều kiện ẩm ưắt thì rủi ro hỏng hóc sẽ tăng lên

1.4.2.2 Các nhăn tố có tính đạo đức (Moral hazard)

Đây là nhóm nhân tố liên quan đến thái độ không trung thực của con người

Việc giao dịch vắi các đối tác ở xa, không nắm rõ thông tin sẽ làm tăng nguy cơ

gặp rủi ro lừa đảo; các điều khoản hợp đồng không chặt chẽ cũng làm tăng nguy cơ

này; tình trạng trộm cắp ở khu vực cũng là một nhân tố làm tăng rủi ro mất trộm

là các ví dụ về nhóm nhân tố này

1.4.2.3 Các nhăn tố thuộc về tình thần (Morale hazard)

Đây cũng là các nhân tố liên quan đến thái độ, hành v i của con người như

thái độ vô trách nhiệm, tính cẩu thả, nóng vội, chủ quan Rõ ràng sự coi nhẹ,

thiếu quan tâm thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ xảy ra rủi ro Điểm phân

biệt giữa các nhân tố này vắi các nhân tố có tính đạo đức là hành vi vô thức hay có

ý thức Các nhân tố có tính đạo đức phản ánh những hành vi có ý thức, có tính làm

tăng nguy cơ rủi ro trong khi các nhân tố thuộc về tinh thần thuộc về những hành

vi không ý thức được hậu quả làm tăng rủi ro của những hành vi đó

1.4.2.4 Các nhân tố có tính chất môi ừường hay pháp lý (Environmental or legal hazard)

Nhóm nhân tố này liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp,

hệ thống luật pháp chi phối các hoạt động đó Một hệ thống pháp luật thiếu ổn

định, không nhất quán; môi trường cạnh tranh không bình đẳng, nặng về các quan

hệ ngầm là những ví dụ về các nhân tố này

1.5 Cấc loại rủi ro thường gặp ương kinh doanh quốc tế

K i n h doanh quốc tế bao gồm các hoạt động sản xuất hàng hoa, dịch vụ

bên ngoài quốc gia hoặc mua bán trao đổi hàng hoa, dịch vụ giũa các quốc gia

vắi nhau Nói một cách khác, hoạt động kinh doanh quốc tế bao gồm các hoạt

động đầu tư trực tiếp ra nưắc ngoài và các hoạt động kinh doanh thương mại giữa

các quốc gia

Việc mở rộng kinh doanh ra ngoài biên giắi quốc gia, bên cạnh cơ hội gia

tăng lợi nhuận cũng đồng thời tạo ra những rủi ro mắi cho doanh nghiệp Đ ể hiểu

tại sao các doanh nghiệp lánh doanh quốc tế thường phải đối mặt vắi những rủi ro

không giống vắi những rủi ro hay gặp trong kinh doanh nội địa cũng như nguồn

gốc tạo những rủi ro đó, cần phải hiểu những điểm đặc thù của hoạt động kinh

doanh quốc tế

21

Trang 32

1.5.1 Những đặc trung cơ bản của hoạt động kinh doanh quốc tế

Những đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ được xem xét

dưới góc độ quản trị rủi ro, do vậy chỉ những những đặc trưng nào GÒ ảnh hưởng

tới tình hình rủi ro của doanh nghiệp mới được đề cập

1.5.1.1 Hoạt động kỉnh doanh quốc tế diễn ra ương môi trường đa dạng và phức tạp

Hoạt động kinh doanh quốc tế liên quan đến một hay nhiều thị trường bên

ngoài quốc gia Những kinh nghiệm từ thị trường trong nước không thỏ áp dụng

sang các thị trường ngoài nước do sự khác biệt về điều kiện văn hóa, xã hội, chính

trị Sự khác biệt này đòi hỏi doanh nghiệp phải thu thập thông tin không chỉ về nhu

cầu, sờ thích, thói quen., của khách hàng, về tình hình đối thủ cạnh tranh ở thị

trường nước ngoài m à cả các đặc điỏm về môi trường tự nhiên, văn hóa, chính trị ở

đó Nhu cầu phải xử lý một khối lượng thông tin nhiều như vậy không thỏ tránh

khỏi tình trạng thông tin sai lệch hay thiếu hụt Đây là chính là nguồn gốc tạo ra

những loại rủi ro m à các doanh nghiệp kinh doanh trong nước có thỏ không hoặc ít

khi gặp phải

1.5.1.2 Hoạt động kỉnh doanh quốc tế chịu sự điều tiết của đồng thời nhiều nguồn luật

Một doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh quốc tế không chỉ chịu sự

điều tiết của pháp luật trong nước m à còn cả pháp luật tại các nước m à mình có

hoạt động kinh doanh, các công ước, tập quán quốc tế vấn đề này không chỉ đòi

hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững luật pháp nước sở tại, các luật và tập quán

quốc tế m à còn phải xử lý những xung đột giữa các nguồn luật này Đây chính là

nguồn gốc dẫn đến những quan niệm khác nhau trong việc xử lý tranh chấp, khiến

cho việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh quốc tế dễ rơi vào tình trạng bị

kéo dài Hơn thế nữa, khi tham gia vào thị trường một quốc gia với tư cách là một

doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp có thỏ sẽ gặp những rủi ro do hành vi bảo

vệ doanh nghiệp nội địa của quốc gia đó

1.5.1.3 Các đối tác ương kinh doanh quốc tể có quốc tịch khác nhau

Một đặc trưng trong kinh doanh quốc tế là các giao dịch chính sẽ được tiến

hành với một hay nhiều đối tác có quốc tịch nước ngoài Đặc điỏm này có thỏ dẫn

đến những bất đồng về ngôn ngữ, tập quán buôn bán, văn hóa là nguồn gốc gây

ra rủi ro Mặt khác, trong nhiều trường hợp do ở cách xa nhau nên các doanh

nghiệp khó nắm bắt thông tin đầy đủ và kịp thời về tình hình kinh doanh của đối

tác, dễ dẫn đến rủi ro như đối tác bị phá sản hay bị đối tác lừa đảo Ngoài ra, trong

Trang 33

trường hợp xảy ra tranh chấp, việc thực hiện các phán quyết của tòa án với các đối

tác nước ngoài cũng không dễ dàng

1.5.1.4 Phương thức giao dịch gián tiếp và từ xa đóng vai trò chủ yếu

Giao dịch trong kinh doanh quốc tế chủ yếu thông qua các hình thức gián

tiếp như: thư tín, điện thoại, fax, thư điện tử, mạng Internet Các hình thức này

giúp giảm đáng kể chi phí và tăng nhanh tốc độ liên lạc Tuy nhiên việc sử dừng

các hình thức giao dịch gián tiếp cũng dễ gây ra những rủi ro do tính hạn chế của

các giao dịch này Thông tin không đến đúng nơi, kịp thời, có thể bị giả mạo là

những nguyên nhân làm tăng độ rủi ro cho các giao dịch Đặc biệt với xu hướng gia

tăng các giao dịch thương mại điện tử, mức độ rủi ro cũng sẽ tăng theo khi m à khả

năng kiểm soát rủi ro từ công nghệ không theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ

1.5.1.5 Hàng hoa và chứng từ liên quan phải chùy ổi giao ương thời gian dài và

cự ly xa

Trong kinh doanh quốc tế, đặc biệt là hoạt động thương mại quốc tế, hàng

hóa được chuyển giao từ người bán sang người mua qua những không gian địa lý

rất xa Những rủi ro như bị mất trộm, cướp, bị đắm chìm, bị chậm trễ trong quá

trình vận chuyển sẽ luôn rình rập và những rủi ro này hầu như nằm ngoài tầm kiểm

soát của người chuyên chở Cho dù hang hóa được mua bảo hiểm hay rủi ro có

được kiểm soát hay dự báo đi chăng nữa thì việc thất thoát, tổn hại đến quyền lợi

của các bên Hen quan là điều không thể tránh khỏi Tiếp đến, việc lưu chuyển

chứng từ thanh toán bàng hình thức trực tiếp qua thuyền trưởng đến thẳng người

mua hay gián tiếp qua hệ thống ngân hang cũng thường gặp phải không ít rủi ro

Có thể kể đến những rủi ro trong trường hợp này như: động đất, bão lừt, nội chiến,

đảo chính, cải cách của hệ thống chính trị của các quốc gia hay thậm chí là sự thiếu

trách nhiệm của các bên Hen quan trong giao dịch chứng từ

1.5.1.6 Hoạt động thanh toán hay di chuyển vốn, lọi nhuận trong kinh doanh

quác tê phải trải qua bước chuyên đôi từ đông tiên này sang đồng tiền khác

Mỗi quốc gia đều có một đồng tiền riêng, do vậy khi thực hiện các hoạt động

di chuyển tiền, vốn tù nước này sang nước khác cho các mừc đích đầu tư, thanh

toán, các doanh nghiệp đều phải trải qua việc chuyển đổi từ đồng tiền nước này sang

đồng tiền nước khác Những nguy cơ tỷ giá hối đoái biến động bất thường hoặc giá

trị đồng tiền mình nắm giữ bị suy giảm nghiêm ừọng là những rủi ro thường gặp

ương kinh doanh quốc tế Ngoài ra, những quy định kiểm soát về di chuyển vốn vào

ra của các quốc gia cũng có thể làm tăng rủi ro cho các hoạt động này

1.5.2 Các rủi ro thường gặp trong kinh doanh quốc tế

23

Trang 34

Qua phân tích trên, có thể thấy những đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh quốc tế là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro cho các hoạt động này Trên cơ

sở phân tích trên cùng với những khảo sát thực tế, nhóm nghiên cứu liệt kê các nhóm rủi ro chủ yếu trong kinh doanh quốc tế như sau:

1.5.2.1 Nhóm rủi ro từ môi trường kinh doanh

Nhóm rủi ro từ môi trường kinh doanh là những rủi ro ảnh hưởng đến điều kiện kinh doanh nói chung đối với tất cả các ngành N h ó m rủi ro này bao gầm những loại như: rủi ro từ môi trường tự nhiên, rủi ro kinh tế, rủi ro chính trị, chính sách, rủi ro pháp lý, rủi ro văn hoá.v.v

ạ) Rủi ro từ môi triròĩig tư nhiên

Các thảm họa tự nhiên như: động đất, sóng thần, núi lửa, bão, l ũ lụt, hạn hán thường gây ra những tổn thất to lớn về người và tài sản, làm cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế bị tổn thất nặng nề Điều đáng lo ngại là những thảm họa thiên nhiên trên thế giới có xu hướng gia tăng cả

về vụ việc lẫn mức độ thiệt hại về người và của

Theo thống kê của các cơ quan bảo hiểm trên thế giới, nếu tổn thất do tự nhiên gây ra từ những năm 1970 -1988 hiểm khi có tổn thất trên Ì tỷ Ư S D , thì kể

từ năm 1988 trở lại đây hằng năm ít nhất có một vụ tổn thất lên tới Ì tỷ Ư S D , đặc biệt một số năm gần đây có một số vụ điển hình là:

- Trận động đất ngày 17-8-1999 tại Thổ Nhĩ Kỳ làm thiệt mạng trên 20.000 người, phá hủy 76.000 ngôi nhà, ước thiệt hại khoảng 40 tỷ USD

- Trận động đất ngày 21-9-1999 tại Đài Loan làm thiệt mạng trên 2.000 người, ước thiệt hại khoảng 3,2 tỷ USD

- N ă m 2004, có 5 cơn bão lớn trên thế giới đã làm thiệt hại khoảng 30 tỷ USD (Bão Ivan 2/9: 11 tỷ USD; Bão Charley 11/8: 7 tỷ USD; Bão Frances 26/8: 5

tỷ Ư S D ; Bão Jeane 13/9: 4 tỷ Ư S D ; Bão Songda 6/9: 2,5 tỷ USD) Nhất là đạt

sóng thần (tháng 8/2004) tại các nước Nam Á làm thiệt mạng trên 200.000 người ước thiệt hại hàng trăm tỷ USD

- Cơn bão Katrina năm 2005 tại M ỹ đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người, ước thiệt hại đến 25 tỷ USD và trận động đất ở Yogyakarta-Indonesia cuối tháng 5-2006 vừa qua đã cướp đi sinh mạng của 5.600 người, ước thiệt hại đến trên

20 tỷ USD Gần đây nhất là cơn bão Xangsen kinh hoàng (tháng 11/2006) đã đổ bộ vào Philippừie và Biển đông Việt Nam làm thiệt mạng hơn 6.000 người và làm đắm hàng nghìn tàu thuyền trên biển, ước thiệt hại hàng chục tỷ USD

b) Rủi ro kinh tế

Trang 35

Rủi ro kinh tế bao gồm những rủi ro nảy sinh do những thay đổi trong môi trường phát triển kinh tế tại quốc gia m à doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan như: suy thoái - khủng hoảng kinh tế, sự biến động về tỷ giá hối đoái hay lãi suất, giá cả

Trong các loại rủi ro về kinh tế, phải kể đến rủi ro về tỷ giá hối đoái, rủi ro

về lãi suất và rủi ro về giá cả hàng hoa là những rủi ro m à các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế rất hay gặp phải

Rủi ro về tỷ giá hối đoái

Hoạt động thanh toán, di chuyển vốn, lợi nhuớn trong kinh doanh quốc tế liên quan đến việc chuyển đổi từ đồng tiền quốc gia này sang đồng tiền quốc gia khác Trong điều kiện đó, giá trị của các dòng tiền di chuyển sẽ phải chịu rủi ro tò những biến động bất thường về tỷ giá hối đoái Điều không may là xu hướng biến động liên tục và bất thường của các đồng tiền sử dụng chủ yếu trong kinh doanh quốc tế như USD, JPY, DEM (và hiện nay là EUR) ngày càng phổ biến và không

có dấu hiệu suy giảm Những tổn thất do biến động bất ngờ của tỷ giá có thể tìm thấy trong rất nhiều thương vụ trên thế giói và Việt Nam

Rủi ro về lãi suất

Cũng như mọi hoạt động kinh doanh khác, kinh doanh quốc tế không thể tránh khỏi việc phải dựa vào các nguồn tài trợ từ bên ngoài Những thay đổi ngoài tầm kiểm soát về lãi suất sẽ khiến cho các doanh nghiệp phải đối mặt với những biến động về chi phí vay vốn Nhất là trong những trường hợp phải sử dụng các khoản túi dụng quốc tế (điều rất phổ biến trong kinh doanh quốc tế), doanh nghiệp

sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc nắm bắt chiều hướng biến động của lãi suất bên ngoài quốc gia mình và do vớy, các khoản vay từ bên ngoài quốc gia sẽ phải đối mặt nhiều hơn với rủi ro về lãi suất

Rủi ro về giá cả hàng hoa

Biến động giá cả hàng hoa cũng là một rủi ro m à các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải quan tâm đến Biến động giá cả của các mặt hàng m à doanh nghiệp xuất khẩu hay nhớp khẩu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng hoặc chi phí sản xuất của doanh nghiệp Đặc biệt với nhóm mặt hàng nông sản và năng lượng, nguy cơ này lại càng cao

c) Rủi ro chính tri

Rủi ro chính trị bao gồm những rủi ro nảy sinh từ tình hình chính trị của nước

sở tại như: sự mất ổn định của chính quyền, những thay đổi trong chính sách vĩ m ô như các chính sách về kinh tế (thuế, hạn ngạch, giấy phép, di chuyển kiều hối ),

25

Trang 36

các hình sách về lao động (chế độ lương, tuyển dụng ), các chính sách về môi trường (an toàn sức khỏe, môi trường), các chính sách về sở hữu (quốc hữu hóa, sung công ) Những thiệt hại của các tập đoàn dầu mỏ và khí đốt của Nga trong các hợp đồng dầu mỏ ký kết vịi chính phủ Iraq là một minh họa trong rủi ro này

d) Rủi ro pháp lý

Rủi ro pháp lý là những rủi ro liên quan đến những thay đổi về quy định pháp luật (như quy định về nhãn hiệu hàng hoa, môi trường, lao động ), rủi ro phát sinh từ sự thiếu hiểu biết về luật pháp nưịc sở tại, thiếu chặt chẽ ương các hợp đồng lành tế và đầu tư, hay vi phạm luật của quốc gia (như luật chống độc quyền, luật chống bán phá giá ) Các công ty sản xuất nưịc ngọt như Pepsi, Coca Cola đã gặp phải rủi ro như vậy tại Việt Nam khi phải tuân thủ Quy chế ghi nhãn hàng hóa theo quyết định 178/QĐ -TTg của Thủ tưịng chính phủ Chi phí m à các công ty này phải bỏ ra để hủy mẫu chai cũ và đàu tư bao bì mịi ưịc tính lên tịi 1.400 tỉ đồng

e) Rủi ro văn hóa

Rủi ro văn hóa nảy sinh do thiếu am hiểu về phong tục tập quán địa phương, quốc gia; do không nắm vững ngôn ngữ, lối sống, cách sống gây ra những hiểu lầm đáng tiếc Quảng cáo sản phẩm, quản trị nhân lực, quan hệ công chúng là những lĩnh vực dễ gặp phải những rủi ro này nhất

1.5.2.2 Nhóm rủi ro mang tính ngành nghề kinh doanh

Đây là những rủi ro liên quan đến ngành nghề kinh doanh, đến các đối tác cũng như đối thủ cạnh tranh và mối quan hệ giữa doanh nghiệp vịi những đối tác hay đối thủ này N h ó m rủi ro ngành bao gồm những rủi ro cạnh tranh, đạo đức, rủi

ro ứanh chấp, kiện tụng, rủi ro chuyên chở hàng hoa, rủi ro thanh toán

ạ) Rủi ro tranh chấp, kiên tung

Hoạt động kinh doanh quốc tế không thể tránh khỏi các vụ tranh chấp, kiện tụng Tính chất phức tạp về nguồn luật áp dụng, về quan điểm khác nhau của các bên về cách thức xử lý tranh chấp là nguyên nhân của những vụ kiện tụng kéo dài gây thiệt hại cho các bên Bên cạnh đó những khó khăn khi phải theo kiện ở nưịc ngoài cũng làm tăng rủi ro cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Vụ thua kiện của VietNam Airlines liên quan đến các thương vụ ở Italia là một minh chứng cho điều này Chính vì xử kiện ở Italia, trong điều kiện thiếu kiến thức về luật pháp nưịc sờ tại, chậm trễ trong tiếp nhận thông tín m à Vietnam Airlines phải gánh chịu tổn thất không đáng có Vụ kiện cá basa tại Mỹ và gần đây là vụ kiện bán phá giá

Trang 37

mặt hàng giày dép tại EU cũng là những minh chứng cho những rủi ro từ tranh chấp, kiện tụng

b) Rủi ro canh tranh

Rủi ro cạnh tranh thường xuất hiện trong những tình huống thiếu thông tin

về những thay đổi trong nhu cầu thị trường quốc tế, thiếu thông tin về sản phẩm,

công nghệ của đối thủ cạnh tranh, do tình ữạng hàng giả, hàng nhái Bài hửc "ngủ

quên trong chiến thắng" của Sony để cho các tập đoàn điện tử của Hàn Quốc như

LG, Samsung vượt lên là một ví dụ cụ thể cho loại rủi ro này

Các hành vi lừa đảo trong giao dịch, ký kết hợp đồng bao gồm các hành vi mạo danh để ký kết, tạo dựng uy tín giả, đưa ra các điều khoản trong hợp đồng để tạo thuận lợi cho việc lừa đảo sau này Hành vi lừa đảo chủ yếu thường gặp trong thanh toán là do chứng từ giả mạo Trong giao hàng là cung cấp hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng sai chủng loại hoặc thậm chí là không giao hàng Trong vận chuyển thì thường thấy các hành vi sử dụng tàu ma, đánh chìm tàu

d) Rủi ro chuyên chở

Chuyên chờ hàng hoa trong kinh doanh quốc tế gặp nhiều rủi ro hom so với kinh doanh trong nước do quãng đường vận chuyển dài, khối lượng vận chuyển thường lớn

Các rủi ro liên quan đến hoạt động chuyên chờ hàng hoa bao gồm từ những rủi ro liên quan đến việc thuê phương tiện chuyên chờ, cho đến những rủi ro trong quá trình chuyên chở hàng hoa đến với người mua (nhưng bị lừa đảo, trộm cướp )-

Do năng lực chuyên chở lớn, chi phí chuyên chở thấp nên vận tải bằng đường biển chiếm đến gần 9 0 % trong các phương thức chuyên chở hàng hoa xuất nhập khẩu Đ ề tài tập trung nghiên cứu những rủi ro liên quan đến phương thức vận chuyển này

Trước sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên chuyên chở hàng hóa bằng đường biển luôn đối mặt với rủi ro, tai nạn bất ngờ gây ra biết bao những vụ thảm

27

Trang 38

họa khôn lường, đây chính là rủi ro thường gặp trong kinh doanh Rủi ro, tai nạn,

sự cố trên biển không chỉ gây thiệt hại cho chủ tàu, hãng bảo hiểm m à còn gây ra tổn thất cho các chủ hàng, làm tăng chi phí kinh doanh quốc tế

Theo thống kê của các nhà hàng hải và bảo hiểm, tò năm 1850 đến nay, bình quân cứ 30 giờ thì có một tàu, thuyền chìm dưới đáy biển Tổng cộng biển cả đã

"nuốt" tới 200.000 con tợu lớn nhỏ với đợy của cải châu báu Chỉ tính riêng ở eo biển Malacca, thuộc tuyến giao thông quan trọng của Châu Á, ngoài hàng trăm con tàu nhỏ, số tàu có trọng tải lớn đi qua eo biển Malacca hem 200 lượơngày, do đó sẽ không thể tránh được các vụ tai nạn xảy ra ở khu vực này Trong khoảng thời gian

5 năm, tính từ 1989 đến 9/1993, tại khu vực này đã xảy ra 490 vụ tai nạn, trung bình gợn 100 vụ/ năm N ă m 1996 tai nạn lên tới 149 vụ, trung bình cứ 2,5 ngày có một vụ đắm tàu Đặc biệt là vụ đụng tàu giữa tàu chở dợu Orapin Global của Thái Lan và Evoikos của Síp vào 15/10/1997 làm 25.000 tấn dợu loang ra biển; dự tính thiệt hại của vụ tai nạn này lên tới khoảng 100 triệu USD

e) Rủi ro thanh toán

Thanh toán quốc tế là một khâu rất quan trọng trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc biệt là kinh doanh xuất nhập khẩu Những rủi ro m à các doanh nghiệp có thể gặp phải là khả năng không thu được hoặc không thu đủ, đúng hạn tiền hàng

Rủi ro thanh toán thường nảy sinh từ việc áp dụng các phương thức thanh toán quốc tế Trên thực tế cho thấy, ngay cả với phương thức thanh toán được xem

là an toàn hơn cả và được sử dụng phổ biến nhất trong buôn bán quốc tế là phương thức thanh toán túi dụng chứng từ thì cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho cả hai bên do tính chất phức tạp của nó Theo thống kê của Phòng thương mại quốc tế cho thấy: những sai sót về nội dung bộ chứng từ, về xuất tình chậm trễ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được yêu cợu của thư tín dụng đã gây ra 72,73% trường hợp rủi ro trong thanh toán bàng phương thức này V ớ i những phương thức thanh toán đơn giản thì rủi ro lại phụ thuộc rất nhiều về thiện chí, về khả năng tài chính của bên thanh toán

Ngoài ra, cùng vói sự phát triển của thương mại điện tử, các giao dịch chuyển tiền thanh toán được thực hiện chủ yếu qua mạng lại càng làm tăng rủi ro cho các hoạt động thanh toán Chính sự thiếu hoàn thiện của các thiết bị phục vụ cho thanh toán điện tử đã làm giảm mức độ an toàn của thanh toán điện từ, làm tăng nguy cơ không thu được tiền hoặc gặp lừa đảo trong thanh toán điện tử

1.5.2.3 Nhóm rủi ro từ nội bộ doanh nghiệp

Trang 39

N h ó m rủi ro từ nội bộ doanh nghiệp gắn với những yếu tố của từng doanh nghiệp, nó liên quan đến hoạt động, nhân sự, thông tin của mỗi một doanh nghiệp, ừong đó chúng ta có thể kể đến những rủi ro chủ yếu sau:

ạ) Rủi ro thông tin

Rủi ro thông tin là loại rủi ro phát sinh tò sự thiếu thông tin hoặc thông túi không chính xác Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp do thiếu thông tin hoặc có những thông tin không chính xác về giá cả, thị trưỏng, đối thủ cạnh tranh dẫn đến việc làm chậm bỏ lỡ thỏi cơ hoặc bị đối tác lừa đảo, ép giá, ép phẩm cấp hàng hoá.v.v gây ra những tổn thất nặng nề cho doanh nghiệp Đây là loại rủi ro m à các doanh nghiệp mới bước ra thương trưỏng quốc tế như các doanh nghiệp Việt Nam thưỏng phải đối mặt

b) Rủi ro do thiểu năng lúc canh tranh

Đây là loại rủi ro xuất hiện do doanh nghiệp thiếu năng lực hoạt động như vốn ít, công nghệ lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực thấp kém.v.v

Trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp do quy m ô vốn nhỏ, số lượng lao động

ít, nên doanh nghiệp đã không đủ năng lực để sản xuất hay thu gom đủ nguồn hàng cho những hợp đồng đã ký dẫn đến bị khách hàng phạt, hoặc bỏ lỡ nhiều các hợp đồng thương mại có giá trị lớn, lợi nhuận cao Cũng có nhiều doanh nghiệp do công nghệ thấp kém nên máy móc thiết bị hay có sự cố, sản phẩm làm ra bị hư hỏng nhiều bị khách hàng trả lại hoặc từ chối thanh toán.v.v

c) Rủi ro quản tri

Rủi ro quản trị là loại rủi ro có nguyên nhân từ sự yếu kém về tình độ quản trị của lãnh đạo doanh nghiệp

Thực tế cho thấy, do trình độ quản trị doanh nghiệp kém, nhiều bộ phận trong doanh nghiệp không nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mình hoặc trình độ của cán bộ không đáp ứng đủ yêu cầu công việc nên dẫn đến tình trạng: làm mất quan hệ với khách hàng dẫn đến khách hàng đòi huy hợp đồng, gây rối loạn tổ chức làm cản trở việc ra quyết định quản lý Cũng có nhiều cán bộ lãnh đạo do thiếu năng lực đàm phán, ký kết hợp đồng nên dễ bị đối tác chèn ép, lừa đảo đưa doanh nghiệp vào tình thế bất lợi gây ra những thiệt hại, tổn thất nghiêm trọng cho doanh nghiệp

d) Rủi ro về nhân sư

Thực ra rủi ro về nhân sự là một loại rủi ro nằm trong nhóm rủi ro về quản trị doanh nghiệp nhưng do tính chất xảy ra thưỏng xuyên và mức độ trầm trọng của của loại rủi ro này nên chúng ta có thể tách riêng để nghiên cứu

Loại rủi ro này thể hiện ở tình trạng khủng hoảng về nhân sự, chảy máu chất

29

Trang 40

xám, người lao động đình công, nổi loạn phá nhà máy, làm hỏng sản phầm.v.v những rủi ro này đã gây ra những tổn thất nặng nề cho doanh nghiệp

2 Quản trị r ủ i ro trong kinh doanh quốc tế

Thuật ngữ "quản tri rủi ro" bắt đầu xuất hiện phổ biến tợ những năm 50 của thế kỷ trước, tuy nhiên khái niệm về nó đã tợng được đề cập trước đó khá lâu, vào năm 1916 trong tác phẩm của Henri Fayol, một nhà quản trị học nổi tiếng người Pháp12

Tuy xuất hiện sớm như vậy, nhưng cho đến nay quan niệm về quản trị rủi

ro vẫn chưa hoàn toàn thống nhất Đó là bởi vì bản thân quản trị rủi ro là một khái niệm rộng và có những chức năng gần tương tự quản trị nói chung Trong kinh doanh, mọi quyết định quản trị đều được đặt trong điều kiện tồn tại rủi ro và do vậy mỗi quyết định quản trị nói chung cũng phải tính đến việc quản trị các rủi ro liên quan đến quyết định đó Ranh giới giữa quản trị rủi ro và quản trị nói chung chính vì vậy không rõ ràng, gây khó khăn cho việc phân biệt chức năng quản trị rủi

ro và quản trị nói chung trong doanh nghiệp

Quản trị học hiện đại phân biệt quản trị nói chung và quản trị rủi ro ở phạm

vi xử lý rủi ro Nếu như quản trị nói chung phải xử lý mọi rủi ro m à doanh nghiệp gặp phải bao gồm cả những rủi ro thuần tuy lẫn rủi ro đầu cơ thì quản trị rủi ro chỉ giới hạn ở các rủi ro thuần tuy

Hơn nữa, việc sử dụng phổ biến các hợp đồng bảo hiểm để đối phó với rủi

ro trong các doanh nghiệp hiện đại đã đưa đến những quan niệm coi quản trị rủi ro chỉ giới hạn ở các rủi ro có thể bảo hiểm, thậm chí coi chức năng của hoạt động mua bảo hiểm cho các rủi ro của doanh nghiệp trùng với chức năng quản trị rủi ro của doanh nghiệp Nói cách khác là hoạt động quản trị rủi ro của doanh nghiệp thực chất là xác định các rủi ro cần bảo hiểm và lựa chọn hợp đồng bảo hiểm thích hợp Thực tế, hoạt động quản trị rủi ro không chỉ giới hạn công cụ, kỹ thuật của mình ở các hoạt động mua bảo hiểm m à còn bao gồm cả các biện pháp, kỹ thuật nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và trong nhiều tình huống phải chuẩn bị cho doanh nghiệp gánh chịu những tổn thất của những rủi ro không thể tránh khỏi

Tán đồng quan điểm về quản trị rủi ro nêu ợên, nhóm nghiên cửu đưa ra định nghĩa về quản trị rủi ro như sau:

1 2

Henri FayoI, General and Industrial Management (New York: Pitman Publishing Corp., 1949), p.4 (Đây là bàn

dịch tiếng Anh của cuốn sách gốc xuất bản tại Pháp năm 1916)

Ngày đăng: 10/12/2013, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. David Bland, Bảo hiểm - Nguyên tắc và thực hành, Học viện Bảo hiểm Hoàng gia Anh (NXB Tài chính, Hà nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm - Nguyên tắc và thực hành
Nhà XB: NXB Tài chính
2. David w. Pearce, Từ điển Kinh tế học hiện đại (NXB Chính trị quốc gia, Hà nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Kinh tế học hiện đại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. Đ ề án "Chương trình phát triển thương mại" do UNDP và WB tài trợ. Trích báo cáo quốc gia: "Việt Nam - những chính sách chuyển sang nền kinh tế mở", tháng 12/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển thương mại" do UNDP và WB tài trợ. Trích báo cáo quốc gia: "Việt Nam - những chính sách chuyển sang nền kinh tế mở
8. Luất thuế xuất khẩu, thuế nhấp khẩu ngày 14 tháng 6 năm 2005 9. Luất Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luất thuế xuất khẩu, thuế nhấp khẩu
Nhà XB: Luất Thương mại
Năm: 2005
12. Nguyễn Hữu Thân, Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh (NXB Thông tin, Hà nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
Nhà XB: NXB Thông tin
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật về kinh doanh bảo hiểm, số 24/2000/QH10 ngày 9 tháng 12 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật về kinh doanh bảo hiểm
17. V ũ Thị Bạch Tuyết, "Các rào cản thương mại quốc tế", Tạp chí Tài chính- 11/2003* Tài liệu tiếng A n h Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các rào cản thương mại quốc tế
19. Alan c. Shapiro: "Defining Exchange Risk", The journal of Business Voi. 50, No. M a n . 1977, p 37-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Defining Exchange Risk
Tác giả: Alan C. Shapiro
Nhà XB: The Journal of Business
Năm: 1977
20. Business Wire, Fitch Risk Management Acquires NetRisk, lúc. &amp; OpVantage LLC, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fitch Risk Management Acquires NetRisk
Tác giả: Business Wire, lúc., OpVantage LLC
Năm: 2002
21. Close, D.B (1974), "An Organiiatìon Behaviour Approach to Risk Management", The Journal of Risk and Insurance, Voi. 41. No. 3, pp. 435-450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Organiiatìon Behaviour Approach to Risk Management
Tác giả: Close, D.B
Năm: 1974
22. Cristina McEachern, ING gets ahead oỷthe curve with opertional risk solution, Wall Street &amp; Technology; Jan 2002; 20, Ì Sách, tạp chí
Tiêu đề: ING gets ahead oỷthe curve with opertional risk solution
23. David B. Houston, Risk, Insurance, and Samplừig, The Journal of Risk and ỉnsurance, Voi. 31, No.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Risk and ỉnsurance
24. Edward ì. Altman, Anthony Saunders (1998), "Credit risk measurement: Developments over the ỉast 20 years". Journal of Banking &amp; Finance 21 1721+1742 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Credit risk measurement: Developments over the ỉast 20 years
Tác giả: Edward ì. Altman, Anthony Saunders
Năm: 1998
25. Elizabeth Sheedy, Corporate risk management in Hông Rong and Singapore, Managerial Finance. Patrington: 2006.Vol.32, Iss.2; pg.85-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elizabeth Sheedy," Corporate risk management in Hông Rong and Singapore
26. Elton G. McGoun, History of risk measurement, Critical Perspectives ôn Accounting (1995) 6, 511-532 Sách, tạp chí
Tiêu đề: History of risk measurement
Tác giả: Elton G. McGoun
Nhà XB: Critical Perspectives on Accounting
Năm: 1995
27. Emmett J. Vaughan, Risk Management (New York: John Wiley &amp; Sons, toe.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk Management
28. Frame, J.D (2003), Managing Risk in Organizations - A Guide for Managers, NXB Jossey - Bass Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing Risk in Organizations - A Guide for Managers
Tác giả: Frame, J.D
Nhà XB: NXB Jossey - Bass
Năm: 2003
29. George L. Head, An Alternative to Deýining Risk as Uncertainty, The Journal of Risk and Insurance, Voi. 34, No.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Alternative to Deýining Risk as Uncertainty
Tác giả: George L. Head
Nhà XB: The Journal of Risk and Insurance
30. EMF, Worỉd economics outlook, 9/2005 &amp; 1/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Worỉd economics outlook
31. John c. Hull, Options, Futures and Other Derivatives, 5 t h edition, Prentice Hau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Options, Futures and Other Derivatives
Tác giả: John C. Hull
Nhà XB: Prentice Hall

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng ỉ: Khả năng đo lường của một sổ rủi ro - Nghiên cứu   phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
ng ỉ: Khả năng đo lường của một sổ rủi ro (Trang 47)
Bảng 4: Be dày hoạt động của các doanh nghiệp khảo sát - Nghiên cứu   phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 4 Be dày hoạt động của các doanh nghiệp khảo sát (Trang 92)
Bảng 5: Các loại rủi ro thường gặp của các doanh nghiệp Việt Nam - Nghiên cứu   phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 5 Các loại rủi ro thường gặp của các doanh nghiệp Việt Nam (Trang 94)
Bảng 9: xếp loại trung bình (Mean Ranks) mức độ ảnh hưởng của các rủi ro - Nghiên cứu   phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 9 xếp loại trung bình (Mean Ranks) mức độ ảnh hưởng của các rủi ro (Trang 115)
BẢNG CÂU HỎI - Nghiên cứu   phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
BẢNG CÂU HỎI (Trang 199)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w