Điển hình trong những cái chưa được đó, cần phải nhấn mạnh rằng, năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn yếu so với nhiều nước xuất khẩu khác trong khu vực như Trung Quốc, Hàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG Đ Ạ I HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
' ÍỆP" —
*'6rS2}T/Z
ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HÓC CẤP BỘ
N Â N G CAO N Ă N G Lực CẠNH TRANH CỦA H À N G DỆT MAY XUẤT KHAU
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
c/ỉỉỉ nhiệmr-đề-tắir^GS., TS Nguyễn Trung Vãn
iVgíròi tfỉữm gia : NCS Nguyễn Thanh Bình
NCS Phạm Thu Hương
CN Nguyễn Hoàng Giang
Trang 2M Ụ C L Ụ C Lòi mở đầu 4
Chương Ì - Căn cứ khoa học về xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam 6 1.1 Khái quát mức tiêu thụ, vai trò và đặc điểm của hàng dệt may trên
1.1.1 Nét chun% về mức tiêu thụ hàng dệt may trên thể giới ố
Ì 1.2 Nhóm nước phát triển 8
1.1.3 Nhóm nước đan ẹ phát triển ỉ 0
Ì 2 Vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế thế giới 14
1.2.1 Dệt may là nẹành truyền thống lâu đời trên thế giới 14
ỉ.2.2 Dệt may là nẹành kinh ĩ ế quan trọng của nhiều nước 15
1.2.3 Thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lĩ ươn (ì côn (Ị
nghiệp hoa 17 1.2.4 Tích lũy vốn và kỉnh nghiệm quản lý cho các nước đa nọ phái
triển 19
1.3 Tình hình xuất khẩuvà cạnh tranh của hàng dệt may thế giới trong
những năm qua 21
1.3.1 Khen quát chung 21
Ì 3.2 Tình hình xuất khẩu hàn° dệt may của thể ắ ới từ năm 1996 đến
1.4.1 Mức nhập khẩu hàng dệt và may của thị trườn? Bắc Mỹ 37
1.4.2 Mức nhập khẩu hàng dệt và may của thị trường EU và Nhật Bản 38
Chương 2 - Phân tích thực trạng xuất khẩu và năng lục cạnh
tranh của hàng dệt may Việt Nam trong nhũng năm qua 40
2.1 T ó m lược tình hình sản xuất - tiêu thụ trong nước 40
Trang 32.1.1 Nét chung của nẹành dệt may xuất khẩu Việt Nam 40
2.1.2 Đánh giá tổnẹ quát khả năng sản xuất trong nước 4ỉ
2.1.3 Tóm lược tình hình công nghệ của ngành dệt may Việt Nam 43
2.1.4 Cơ cấu sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam 44
2.1.5 Khái quát thị trường tiêu thụ trong nước 46
2.2 Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam những
năm qua 47
2.2.1 Kim nẹạcìĩ xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 47
2.2.2 Cơ cấu hànẹ dệt may xuất khẩu của Việt Nam 50
2.2.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu và kênh phân phối 52
2.2.4 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 58
2.3 Vấn đề năng lực cạnh tranh của hànơ dệt may xuất khẩu Việt Nam 61
2.3.1 Đồc diêm chủ yếu về cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu
Việt Nơm 61 2.3.2 Nănq lực cạnh tranh của hàn? dệt may xuất khẩu Việt Nam 65
2.3.3 Đánh qiá chun? về kết quở và tồn tại trong xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam vào thị trường Bắc Mỹ 73
Chương 3 - Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và năng lục cạnh tranh
của hàng dệt may Việt Nam những năm tới 75
3.1 Định hướng xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam 75
3.1.1 Những quan điểm cơ bản trong định hướnqxuất khẩu và ỉìủnq
cao năm* lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 75
3.1.2 Những định hướng chủ yếu cho xuất khẩu và nânẹ cao nânq lực
cạnh tranh xuất khẩu hànẹ dệt may của Việt Nam 79
3.2 Hệ thống các nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao
năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 84
3.2.1 Nhóm giải pháp Marketing nghiên cứu thị trường và hoạch đinh
3.2.2 Nhóm giải pháp về chiến lược sởn phẩm và nânẹ cao nã MỊ lực
cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam 89
3.2.3 Nhóm giải pháp về chiến lược đầu tư côn? n%hệ và nâng cao
Trang 43.2.4 Nhóm giải pháp về chiến lược chi phí xuất khẩu thấp và tăng
nhanh phương thức tự doanh trong xuất khẩu 100
3.2.5 Các giải pháp còn lại khác ỉ05
K i ế n nghị 109 Kết luận I U Tài liệu tham khảo 113
Trang 5LỜI M ỏ Đ Ẩ U
1 Tính cấp thiết của đê tài
N ă m 2002, Việt Nam đã đột phá thành công trong việc xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường M ỹ với kim ngạch đạt trên 900 triệu ƯSD, gấp trên 19 lần so với năm 2001, đưa k i m ngạch xuất khẩu dệt may lần đầu tiên lên trên 2,7 tỷ USD, tăng trên 3 8 % so với năm 2001, một mức tăng kỷ lục trong suốt nhiều năm qua Như vậy, k i m ngạch xuất khẩu dệt may nước ta chỉ đứng sau dầu thô và bảt đầu vượt tổng kim ngạch xuất khẩu gạo và các nông sản khác
Tuy nhiên, trong sự phát triển ngoạn mục đó, đến nay lại có không ít vấn đề bất cập, cần được đánh giá một cách nghiêm túc và toàn diện nhũng điểm mạnh yếu, những cái được và chưa được Điển hình trong những cái chưa được đó, cần phải nhấn mạnh rằng, năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn yếu so với nhiều nước xuất khẩu khác trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia
Nhiều câu hỏi đặt ra cần suy nghĩ tiếp theo mức tăng trưởng ngoạn mục
về kim ngạch xuất khẩu năm 2002 vừa qua Liệu có đúng năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn thấp so với các nước xuất khẩu khác? Tại sao trong khi kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục trong nhiều năm qua nhưng lại chưa khảc phục được sự yếu kém đó? Vậy có thể nhanh chóng khảc phục tình trạng đó bằng những giải pháp cụ thể nào? Với ý thức và phương pháp tiếp cận tình hình thực tiễn cấp bách đó, nhóm tác giả chúng tôi đã quyết định lựa
chọn đề tài: "Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất
khẩu Việt Nam trong thời gian tới"
Trang 6vực Tp Hồ Chí Minh Nhìn chung, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu
về "Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam"
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
• L à m rõ căn cứ khoa học cho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
• Phân tích rõ thực trạng xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam
• Đưa ra hệ thống giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam
4 Đ ố i tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đ ổ i tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam
• Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thể trường dệt may thế giới và vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt
Nam vào thể trường các nước phát triển trong giai đoạn 1995 - 2002
5 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu và kết luận, phần chính của đề tài được kết cấu theo 3
chương như sau:
Chương ỉ: Căn cứ khoa học về xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trong những năm qua
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam những năm tới
6 Do khả năng có hạn của nhóm tác giả cùng những hạn chế khác về thời
gian và tài liệu, nội dung đề tài khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của Hội đồng nghiệm thu đề tài cùng đông đảo Bạn đọc và xin chân thành cảm em
Chủ nhiệm đề tài PGS TS Nguyễn T r u n g Vãn
Trang 7FOREIQM TRHDE UMVERSITỴ
CHƯƠNG Ì
CĂN CỨ KHOA HỌC VỀ XUẤT KHAU
HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM
• •
Trang 81.1.1. Nét chung về mức tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới
Cùng với lương thực, hàng dệt - may là sản phẩm thuộc nhu cầu thiết yếu trước hết trong đời sống hàng ngày của toàn nhân loại Đ ể tồn tại, người ta không thể thiếu cái ăn và cái mặc, bất luận trong hoàn cảnh nào hay trong chế
độ chính trắ-xã hội nào Đặc biệt ở những khu vực thiên nhiên khí hậu hà khắc như những nước xứ lạnh, con người không thể thiếu cái tối thiểu để mặc ấm và bảo tồn sự sống
Cũng như văn hoa ẩm thực, văn hoa sắc phục ngày xưa hay văn hoa thời trang ngày nay được phát triển nhanh và nó khẳng đắnh những bước tiến dài về trình độ văn minh của nhân loại Từ xa xưa, con người đã biết thông qua cách ăn,mặc để phân biệt giới tính, tuổi tác, ngôi thứ trong cộng đồng
Như vậy, ăn và mặc luôn là nhu cầu cấp thiết và nhạy cảm hàng đầu của nhân loại Trong tác phẩm "Tư Bản" của mình, Các-Mác đã nhấn mạnh điều đó như sau:
"Con người cần phải có ăn, mặc, ở trước khi lo đến chuyện làm chính trắ, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo v.v "[15]
Hiện nay, cùng với sự phát triển của dân số và kinh tế-xã hội, nhu cầu
về hàng dệt may ngày càng tăng nhanh về cả số lượng và chất lượng Hàng dệt may bao gồm nhiều chủng loại rất phong phú và đa dạng gồm hai nhóm lớn: hàng dệt và hàng may
Trang 9Hàng dệt gồm các nhóm nguyên liệu như: bông, xơ các loại, vải dệt (như vải bông,vải dệt xen-lu-lô, vải dệt silk), các loại sản phẩm quần áo dệt kim như T.shirt, PL shirt v.v
Hàng may cũng gồm các loại đa dạng như: sơ mi, quần âu, đồ lót, bộ vest hay complet, áo khoác, hàng may mặc trẻ em v.v
Xét trên tổng thể, toàn bộ hàng dệt may được tiêu thụ trên thế giới thường xuyên được mở rộng cả về sấ lượng và chủng loại
Do vậy, khi nói đến tình hình tiêu thụ, người ta thường đề cập tới con sấ tổng quát nhất đó là giá trị được tính bằng tiền cụ thể
Nhìn chung, giá trị tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới liên tiếp tăng trong những năm qua
Theo tài liệu thấng kê của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tổng giá trị tiêu thụ chung về hàng dệt may trên toàn thế giới năm 2001 đạt khoảng 1.100 tỷ USD Mức tiêu thụ hàng dệt may bình quân đầu người trên toàn thế giới năm 2001 gần 180 USD
Trên thực tế, mức bình quân đầu người trên toàn cầu về tiêu thụ hàng dệt may chỉ là con sấ rất khái quát bởi lẽ sức mua cụ thể giữa người giàu với người nghèo rất khác biệt Điều này là do sự chênh lệch rất lớn về GDP trên đầu người hay mức thu nhập thực tế Theo sấ liệu của Trung tâm Đào tạo Âu
- Á (INSEAT) của Liên hợp quấc, trong nửa đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, các nước phát triển chỉ chiếm gần 1/5 dân sấ thế giới nhưng lại sở hữu 4/5 GDP toàn cầu Như vậy, mức chênh lệch về GDP trên đầu người giữa hai nhóm nước này đã tới 16 lần, giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất có thể lên tới khoảng 50 lần [2] Vậy m à trong những năm gần đây, mức chênh lệch này không những không thu hẹp m à còn mở rộng hơn
Theo cách tiếp cận trên, có thể khái quát những nét chính về tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới theo các nhóm nước và các khu vực chủ yếu như
sau:
Trang 101.1.2 Mức tiêu thụ hàng dệt may của nhóm nước phát triển
Theo cơ cấu thị trường xuất khẩu chủ yếu hàng dệt may của Việt Nam hiện nay, đề tài tập trung nhiều vào ba khu vực lớn là Bắc Mỹ, Liên minh châu
Âu (EU) và Nhật Bản
- Một, nhóm nước phát triển Bắc Mỹ Trên thực tế, cùng với EƯ, đây là
khu vực thị trường có mức tiêu thụ và nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới Toàn bộ giá trị tiêu thụ hàng dệt may của Bắc Mỹ (gẫm M ỹ và Canada) trong năm 2001 đạt trên 193 tỷ USD Cụ thể hơn, mức tiêu thụ hàng dệt may của khu vực này chủ yếu vẫn là Mỹ Với mức GDP vượt cả 15 nước Liên minh Châu Âu (EU15), với dân số năm 2001 đạt 285 triệu người (chỉ đứng sau hai cường quốc dân sô là Trung Quốc và An Độ), sức tiêu thụ hàng dệt may năm
2001 của Mỹ lên tới 174,6 tỷ ƯSD, trong khi đó, Canada chỉ đạt 18,6 tỷ USD [30] và [31] Nếu tính mức tiêu thụ dệt may bình quân theo đầu người, thì năm
2001 Mỹ đã đạt 614USD/năm, Canada đạt gần 600 USD/năm; mức bình quân chung của nhóm nước phát triển Bắc Mỹ là 613 USD
Qua đây có thể thấy, Mỹ là thị trường quốc gia tiêu thụ khổng lẫ về hàng dệt may trên thế giới Trong phần tiếp theo, đề tài sẽ còn đề cập nhiều về thị trường này
- Hai, nhóm nước phát triển EU15 Tuy GDP cũng như mức thu nhập
quốc dân còn thấp hơn Bắc Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU) lại có dân số đông hơn Bấc Mỹ, năm 2001 đạt gần 380 triệu người, đông hơn Bắc Mỹ 64 triệu người [33] Trong tương lai gần đây, Liên minh Châu Au sẽ kết nạp thêm 10 nước thành viên mới và trở thành EU25 Do vậy thị trường khu vực này sẽ có bước ngoặt lớn trong việc mở rộng tiêu thụ và nhập khẩu hàng dệt may Còn hiện tại, mức tiêu thụ hàng dột may của EU15 cũng đã vượt Bắc Mỹ, năm
2001 đạt hơn 216 tỷ USD, bình quân trên đầu người đạt 568 USD/năm [3] Chúng ta có thể điểm cụ thể hơn mức tiêu thụ hàng dệt may của từng nước thành viên cá biệt qua bảng thống kê sau:
Trang 11Bảng 1- Tình hỉnh tiêu thụ hàng dệt may của EU 15 trong n ă m 2001
Sấn Nước Dân s ố
(triệu người)
Mức sống (100=EU15)
Mức tiêu thụ hàng dệt may (ty USD)
Mức tiêu thụ dệt may bình quân (USD/người/năm)
Nguồn: (ỉ) - Brochure "An Exciting Voyage through Europe" ịpages 5- 45) /33ĩ
(2) - Báo cáo xuất khẩu năm 2001 của Tổng công ty dệt may VN [31
Qua bảng thống kê trên, chúng ta thấy, 15 nước phát triển EU đang là
khu vực tiêu thụ rất lớn về hàng dệt may, vượt Bắc Mủ trên 23 tỷ ƯSD Tuy
mức tiêu thụ bình quân đầu người của cả 15 nước EU hiện còn thấp hơn so với
Bắc Mủ nhưng nếu xét cụ thể thì lại có những nước thành viên EU đang vượt
Mủ như Lucxembua, Anh, Ý, A i Len, Đức và Hà Lan Những nước có mức
tiêu thụ dệt may bình quân đầu người thấp hơn Mủ trước hết là Hy Lạp (330
USD/người/năm), thứ hai đến Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha
- Ba, Nhật Bản, đây là cường quốc kinh tế và công nghiệp đứng thứ hai
trên thế giới sau Mủ, nhưng lại có GDP bình quân trên đầu người vượt Mủ
Trang 12sau Trung Quốc, A n Đ ộ , Mỹ, Inđônêxia, Braxin, C H L B Nga và Pakistan (xem phụ lục ở phần cuối) Mức tiêu thụ dệt may năm 2001 của Nhật Bản đạt gần
79 tỷ Ư S D Mức tiêu thụ dệt may bình quân đầu người của Nhật Bản lên tới
621 USD/năm, vượt mức bình quân chung của Bằc M ỹ và EƯ Con số đó cũng cho thấy, sức mua hàng dệt may của thị trường Nhật Bản đạt mức rất cao Tuy quy m ô thị trường không lớn bằng E Ư và Bằc M ỹ do quy m ô dân số nhỏ hơn nhưng Nhật Bản vẫn là một thị trường tiêu thụ dệt may rất hấp dẫn
N h ư vậy, nội dung phân tích trên cho thấy, các nước phát triển thuộc ba khu vực chủ yếu là Bằc Mỹ, E U và Nhật Bản (chưa kể Ôxtrâylia, Thúy Sĩ, Na Uy ) đã đạt giá trị tiêu dùng dệt may 2001 tới mức 489,6 tỷ Ư S D , chiếm
4 4 , 5 % tổng giá trị tiêu dùng dệt may của toàn thế giới Các nước phát triển khác ngoài ba k h u vực trên chỉ đạt hơn 10 tỷ USD về hàng dệt may
Xét tổng thể, toàn thể nhóm nước phát triển hiện có gần 850 triệu người, chí chiếm gán 1 4 % dân số loàn cáu nhưng lại chiếm tói 4 4 , 5 % tổng giá trị tiêu thụ hàng dệt may của cả thế giới Phần còn lại (55,5%) là của các nước
0
đang phát triển
1.1.3 M ú c tiêu thụ hàng dệt may của nhóm nước đang phát triển
Theo cách phân chia của Ngân hàng T h ế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc
tế ( I M F ) , ngoài n h ó m nước phát triển nói trên, tất vả các quốc gia còn lại được xếp vào nhóm nước đang phát triển, gồm các nước châu Á - Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản, ú c và N i u Dilân), các nước Trung và Đông  u (kể ca Cộng hoa Liên bang Nga) các nước Châu M ỹ Latinh và các nước Châu Phi Toàn bộ các nước đang phát triển chiếm 86,4% dân số và 5 5 , 5 % về tổng giá trị tiêu thụ hàng dệt may toàn cầu Bảng số liệu thống kê sau khái quát cụ thể hơn tình hình này:
Trang 13Bảng 2 Tình hình tiêu thụ hàng dệt may (DM) của các nước ĐPT trong năm 2001
Dân số % dân % tiêu thụ Mức tiêu Mức tiêu thụ DM Các khu vực (triệu số của DM của thế thụ DM theo đẩu người
người) thế giới giới (tỷ USD) (USD/người/năm)
Toàn thê giới 5.137 100,0 100,0 1100,0 180
Nguồn: (ỉ) - 2001 World Population Data Slieet ơfPRB í32 ỉ
(2) - International Trade Statistics - WTO Annual Report [291 (3) - Report of International Textiỉe và Clothing Bureau [301
Bảng 2 trên, phản ánh khá rõ tình tiêu thụ hàng dệt may của các nước đang phát triển (ĐPT) so với các nước phát triển (PT) Từ đây có thể lúi ra những nét nổi bật sau:
Thứ nhất, mức tiêu thụ chung về hàng dệt may của các nước đang phát
triển năm 2001 đạt 600 tỷ USD, chỉ chiếm 55,5% tổng tiêu thụ hàng dệt may của thế giới, trong khi dân số nhóm nước này chiếm tới 86,4% dân số toàn cồu:
Thứ hai, mức tiêu thụ hàng dệt may của các nước đang phát triển tập
trung chủ yếu ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Trong năm 2001, riêng khu vực tiêu thụ lớn này đã đạt 380,8 Ư S D (trừ Nhật Bản), chiếm 34,6% tổng tiêu thụ hàng dệt may toàn cồu (trong khi đó về dân số, khu vực này chiếm 58,7%)
Khu vực các nước đang phát triển có mức tiêu thụ lớn thứ hai là Châu Phi đạt 80,1 tỷ USD, chiếm 7,3% tổng mức tiêu thụ dệt may toàn cồu Tuy nhiên, sức mua của khu vực này lại không cao vì đây là khu vực gồm nhiều
Trang 14Á - Thái Bình Dương (TBD), khu vực này chiếm tới 13,4% dân số thế giới nhưng chỉ chiếm 7,3% tổng giá trị tiêu thụ hàng dệt may toàn cầu
Đứng thứ 3 về mức tiêu thụ dệt may là khi vực Trung - Đông Âu, gồm
cả Cộng hoa Liên Bang Nga và các nước SNG Điều đáng chú ý trước hết là khu vực này tuy có dân số ít, chỉ bằng 4 2 % dân số Châu Phi nhưng mức tiêu thụ dệt may vẫn xấp xỉ với Châu Phi (79,4 tể USD chỉ thấp hơn Châu Phi 0,7
tể ƯSD) Khu vực Trung - Đông Âu đang chiếm 7,2% tổng mức tiêu thụ dệt may toàn cầu, trong khi con số này của Châu Phi cũng chỉ đạt 7,3%- Trong nhóm nước đang phát triển, Trung - Đông Âu là khu vực duy nhất trên thế giới
có tể trọng tiêu thụ dệt may cao hơn tể trọng dân số
Khu vực Châu Mỹ Latinh xếp thứ ba về dân số, sau Châu Á - TBD và Châu Mỹ Latinh N ă m 2001, khu vực này đạt mức tiêu thụ dệt may nhỏ nhất với 59,7 tể ƯSD, chiếm 5,4% lổng mức tiêu thụ dệt may toàn cầu
Trong khu vực Châu Á - TBD, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) hiện nay vẫn có mức tiêu thụ chưa lớn về hàng dệt may N ă m 2001, ASEAN mới chỉ đạt 56,6 tể USD, chiếm 5,1% tổng mức tiêu thụ của thế giới, thấp hơn cả khu vực Châu Mỹ Latinh Một số nước có sức tiêu thụ điển hình cao trong khối ASEAN như Singapore, Brunei, Malayxia Đặc biệt, Singapore
có mức liêu thụ bình quan dâu người về hàng dội may vượt cả Hy Lạp, Bồ Đào Nha ở Tây Âu Tuy nhiên, dân số của các nước này không đông (Singapore: 4,1 triệu dân, Brunây: 0,3 triệu dân) cho nên quy m ô thị trường ASEAN về dệt may nói chung chưa được mở rộng như mong muốn Mặt khác, nhiều nước thành viên ASEAN có đặc điểm giống nhau là đều nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Vì vạy việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ ASEAN và buôn bán nội khối không phái là nội dung quan lủm chính của dề lài này
Thứ ba, mức tiêu thụ hàng dệt may bình quân đầu người của các nước
đang phái triển nhìn chung rất khác biệt theo từng khu vực cụ thể ở đây, có thể nhấn mạnh một số điểm cơ bản là:
Trang 15- Mức tiêu thụ dệt may bình quân đầu người của các nước Đ P T đạt mức thấp, chỉ bằng 6 3 % so với mức bình quân của toàn thế giới Điều này phản ánh thực tế chung của các nước đang phát triển trong tiêu thụ hàng dệt may hiện nay
- Nếu so sánh các khu vực khác nhau thuộc nhóm nước đang phát triển, chúng ta thấy, nước tiêu thụ bình quân đầu người cũng lại có sự khác biệt rõ rệt Thật vậy, khu vực Trung - Đông Âu đạt cao nhất với mức 235 USD/người/năm, gấp 2,4 lần so với mức thấp nhất của Châu Phi với 99 Ư S D người/năm, gấp 2,2 lần mức trung bình khá của Châu Á - TBD với 106 USD/người/năm, đừng thời cũng gấp 2,0 lần mức khá cao của khu vực Châu
Mỹ Latinh với 114 USD/người/năm Trên thực tế, nền kinh tế và mức sống các nước Trung - Đông Âu đã có quá trình phát triển truyền thống từ sau Thế chiến thứ 2 thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây Khu vực này cũng là thị trường tiêu thụ truyền thống của nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua mà hiện nay chúng ta đang cần khôi phục Khu vực Châu Mỹ Latinh đạt mức tiêu thu bình quân khá cao bởi lẽ ở đây có nhiều nước công nghiệp mới (NICs), dân số đông, điển hình như Braxin (172 triệu người), Mêhicô (100 triệu người) [31] và do đó khả năng tiêu thụ hàng dệt may cũng khá lớn Tuy nhiên, ở đây lại có nhiều nước hiện đang tích cực đẩy mạnh xuất khẩu dệt may, điển hình trong số đó là Mêhicô, nước xuất khẩu lớn dệt may vào Mỹ trong khuôn khổ buôn bán nội bộ của Khối Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Khu vực Châu Phi có mức tiêu thụ dệt may bình quân đầu người thấp nhất là do phần lớn các nước ở đây vẫn là những nước nghèo, khả năng thanh toán thấp
- Điểm cơ bản muốn nói nhiều hơn là khu vực Châu Á - TBD Nhìn chung, đây là khu vực có mức tiêu thụ bình quân đạt trung bình khá o đây có những "con rừng" đạt mức tiêu thụ bình quân cao như Singapore, Hàn Quốc, lãnh thổ Hừng Kông, Đài Loan và trên thực tế không thua kém một số nước
Trang 16nghiệp m ớ i như Malaysia, Thái Lan, Iran hiện đang đạt mức tiêu t h ụ bình quân về hàng dệt may khá cao Những nền k i n h t ế m ớ i trỗi dậy (New Emerging Economies) điển hình như Trung Quốc cũng đạt mức tiêu t h ụ bình quân khá Đ ố i lập v ớ i những mức cao và khá cao khác biệt trên, những nước nghèo, điển hình như Aíganistan, Bangladesh chỉ đạt mức tiêu dùng bình quân rất thấp về hàng dệt may, khoảng 40 - 60 USD/người/năm Nhìn chung, Châu
Á - Thái Bình Dương là khu vực tiêu thụ l ớ n nhất của n h ó m nước đang phát triển, song cũng là k h u vực điển hình có nhiều mức thu nhập bình quân rất khác nhau theo tầng quốc gia cụ thể
1.2 VAI T R Ò CỦA NGÀNH DỆT MAY TRONG NEN KINH TẾ THẾ GIỚI
Trong quá trình phát triển k i n h tế của hàng loạt quốc gia, tầ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, ngành dệt may đã và đang đóng vai trò quan trọng nhằm thoa m ã n nhu cầu thiết yếu của con người V a i trò của ngành dệt may trong nền kinh tế thế giới thể hiện trên nhiều khía cạnh rất đa dạng Tuy nhiên, có thể tóm tắt vai trò của ngành dệt may qua một số điểm nổi bật sau đây:
1.2.1 Dệt may là ngành truyền thông lâu đời trên thê giói
Đ ể tồn tại, con người phải đảm bảo trước hết hai vấn đề cơ bản nhất, đó
là cái ăn và cái mặc Trong suốt quá trình phát triển, quá trình chinh phục tự nhiên và cải thiện đời sống, loài người phải quan tâm hàng đầu đến việc chăm
lo cái mặc Thực tiễn giản đơn đó cũng là quy luật khách quan m u ô n thuở trong bất kỳ thời đại nào, bất kỳ phương thức sản xuất xã h ộ i nào
Thực vậy, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của nhiều lĩnh vực như sử học, khảo cổ học, mỹ thuật học quá trình tìm k i ế m và sáng tạo cái mặc là cả một quá trình phát triển và tiến hoa lâu dài của nhân loại về vấn đề này, đã có nhiều bằng chứng còn để lại ở những nước có nền văn minh lâu đời của t h ế giới như nền văn m i n h A i Cập cổ đại, L a M ã cổ đại, nền văn m i n h cổ T r u n g Quốc, A n Đ ộ , Đông Nam A, Nhật Bản Tầ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, con người
Trang 17m ớ i chỉ biết c h ế tác ra cái mặc đơn giản từ những sợi cây tự nhiên Đ ế n thời
kỳ phong kiến, con người đã văn minh hơn trong trong việc sáng tạo những khung cửi dệt để chăm l o cho cái mặc Trong thời kỳ này, các khung cửi dệt thô sơ đã không ngừng được cải tiến và ngày càng đạt trình độ khá tinh xảo
Đ ể tạo ra các mặc ngày càng tốt hơn, con người từ chồ chỉ dùng những những loại sợi cây tự nhiên sẵn có như sợi dứa, gai, đay đã tiến t ớ i biết trồng bông, trồng đay Trên thực tế, những bước tiến của nền văn minh tơ lụa để tạo ra cái mặc cũng gắn liền với nền văn minh nông nghiệp trên t h ế giới Đ ể đánh giá những bước tiến đó, các nhà xã h ộ i học, các nhà sử học và mỹ thuật học thường căn cứ vào những mẫu sắc phục của vua chúa qua cấc vương triều xưa
ở các nước châu Âu, châu Á nói chung cũng như ở Việt N a m nói riêng Qua các hoa văn và m à u sắc, kỹ thuật chế tác và kiểu dáng cấu trúc, những mẫu sắc phục đó là bằng chứng sống động không thể phủ nhận được về văn hoa thời trang của ngành dệt may thời phong kiến N h ư vậy, cùng v ớ i nền văn minh nông nghiệp trên thế giới, ngành dệt may ngày nay đã có cả một truyền thống phát triển lâu đời ở hàng loạt quốc gia trên t h ế giới
1.2.2 Dệt may là ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước
Thực tiễn trong lịch sử kinh tế t h ế giới, công nghiệp dệt may đã từng là một ngành trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân ở nhiều nước phát triển Quả thật, ngay từ thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, dệt may đã trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng yếu của hàng loạt các nước tư bản Tây Âu Ớ Anh, ngành dệt may nổi lên sớm hơn so với các nước phát triển khác C ó thể nói, một trong những sự kiện nổi bật đánh dấu sự hình thành và phát triển của công nghiệp cơ khí l ớ n tư bản chủ nghĩa (TBCN) ở Anh, như M á c đã nhấn mạnh trong cuốn "Tư bản" (Tập ì), là việc m ở rộng mạnh mẽ quy m ô của ngành công nghiệp dệt may Sự phát triển mạnh mẽ của ngành dệt may k h i đó
đã thúc đẩy ngành chăn nuôi cừu nhằm cung cấp nguyên liệu (lông cừu) cho ngành dệt, thúc đẩy việc mở rộng diện tích đồng cỏ nuôi cừu và tước đoạt đất
Trang 18giới chủ, trong đó có các chủ xưởng dệt Trong cuốn "Tư bản", M á c gọi sự tước đoạt tàn khốc đó là tình trạng "cừu ăn thịt người" để chỉ sự kiện lịch sử
đã diễn ra ở nước Anh, quê hương của chủ nghĩa tư bản Sự phát triển ngành dệt may còn thúc đỷy nhiều ngành công nghiệp khác
Như vậy, theo quan điểm đầy đủ, trong lịch sử đại công nghiệp TBCN trước đáy, vai trò của ngành dệt may không chỉ thể hiện ở tỷ trọng của nó so với các ngành m à còn thể hiện trong mối quan hệ hữu cơ với các ngành kinh
tế khác, từ ngành nông nghiệp (cả trổng trọt và chăn nuôi) đến nhiều ngành công nghiệp hữu quan khác Nhiều nhà kinh tế hiện đại cho rằng, vai trò của ngành dệt may ở các nước phát triển trong thời kỳ đầu của CNTB cần được hiểu theo nghĩa rộng như vậy Với quan điểm đó, ngành dệt may ở Anh và hầu hết các nước TBCN đóng vai trò là một trong những ngành cồng nghiệp lớn Thật vậy, có Pháp, Đức, Ý, Hà Lan và nhiều nước Tây  u khác, trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp, vai trò và địa vị của ngành dệt may đều nổi lên như một ngành công nghiệp lớn ở Mỹ, Canada, từ thế kỷ 18 và thế kỷ 19, những ông chủ lớn của ngàng dệt may đã có tiếng nói cao trong giới công nghiệp của nước này ở Nhật Bản, kể từ cách mạng Minh Trị, đặc biệt là từ nửa cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, ngành dệt may cũng được phát triển mạnh Vai trò của ngành dệt may cũng được củng cố vững chắc trong hệ thống công nghiệp Nhật Bản và trong xuất khỷu
ở các nước phát triển, trong suốt thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh cho tói thời kỳ CNTB lũng đoạn và đến tận Thế chiến 2 (1939-1945), ngành dệt may vẫn được coi là một trong những ngành công nghiệp lòn Đ ể đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội, ngành dệt may liên tục được đổi mới công nghệ và hiện đại hoa cao Do mức sống ngày một tăng, nhu cầu được mở rộng, mức lợi nhuận hấp dẫn, cạnh tranh trong ngành dệt may cũng thường diễn ra gay gắt
Ớ các nước đang phát triển, trước hết là các nước công nghiệp mới (NICs), ngành dệt may được chú trọng phát triển kể từ cuối thập niên 50 của thế kỷ trước Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ 20, vai trò của ngành dệt
Trang 19may được chú trọng và nổi lên rất nhanh chóng ở Hongkong, Singapore, Hàn Quốc, Mêhicô Trong những nước đi tiên phong của nhóm NĨCs này, ngành dệt may suốt những năm đầu đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo đà cho nền "kinh tế cất cánh" Trên thực tế, công nghiệp dệt may theo hướng xuất khẩu của Hongkong, Singapore đã từng được xác định như mểt ngành kinh tế
"mũi nhọn" Tiếp đó, từ thập niên 70 và 80, vai trò của ngành dệt may cũng được chú trọng đối với mểt loạt các nền kinh tế khác như Đài Loan, Malayxia, Thái Lan, Thố Nhĩ Kỳ, A i cập, Braxin, Achentina, Ân Để Kể cả đối với Trung Quốc, mểt nền kinh tế mới trỗi dậy, trong suốt quá trình cải cách kinh
tế trên hai thập kỷ qua, vai trò ngành dệt may cũng được chú trọng
Nhìn chung, trên bình diện thế giới, hầu hết các nước đều quan tâm đến việc phát triển ngành dệt may và xác định rõ vai trò quan trọng của nó trong quá trình công nghiệp hoa và phát triển kinh tế đất nước Dường như điều đó
đã trở thành quy luật phổ biến đối với các nước phát triển trước đây và các nước đang phát triển hiện nay nhằm đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống dân sinh về nhu cầu thiết yếu may mặc
1.2.3 Thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoa
Thực tế cho thấy, phát triển ngành công nghiệp dệt may tất yếu thúc đẩy nhanh chóng việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoa - hiện đại hoa đất nước Đ ố i với tất cả các nước, hàng dệt may thuểc nhu cầu rất thiết yếu Do đó, sau khi giải quyết được cái ăn, việc phát triển công nghiệp dệt may là quy luật tất yếu nhằm tiếp tục giải quyết dứt điểm cái mặc, đảm bảo ổn định và nâng cao mức sống xã hểi Đ ó là cơ sở đảm bảo thành công cho mục tiêu công nghiệp hoa
Như trên đã nói, ngành công nghiệp dệt may có quan hệ hữu cơ đến nhiều ngành kinh tế khác với những mức để chi phối không giống nhau M ỗ i bước tiến trong sự phát triển công nghiệp dệt may đều có ảnh hưởng nhất định đến nhiều ngành khác T H ư V ỉ ầ fc:
ĩ Ru-bNũ DAI K ) C
Trang 20Trước hết, phát triển ngành dệt may thúc đẩy trực tiếp tình hình mở rộng nông nghiệp với cơ cấu phát triển toàn diện, đa dạng theo hướng công -nông nghiệp Trên thực tế, khi phát triển công nghiệp dệt may ở Anh hay nhiều nước phát triển khác, ngành chăn nuôi cừu sẽ được phát triển nhằm đảm bảo nguyên liệu lông cừu cho ngành dệt Ngành chăn nuôi cừu đến lượt nó lại đòi hỏi mở rộng diện tích đồng cỏ và do đó diện tích cây lương thực hay nông sản khác bị thu hắp Vậy là ngành dệt may một khi phát triển đã chi phối sâu sắc cơ cấu nông nghiệp giữa chăn nuôi với trồng trọt cũng như giữa các tiểu ngành trồng trọt với nhau theo hướng công nghiệp hoa Bên cạnh đó, ngành dệt may phát triển còn đòi hỏi cả việc mở rộng diện tích trồng bông, đay, dâu tằm ,, lại một lần nữa làm thay đổi sâu sắc cơ cấu ngành và tiểu ngành trong nông nghiệp
Phát triển công nghiệp dệt may còn kéo theo sự phát triển của các ngành hoa than, hoa dầu nhằm phục vụ trực tiếp các công nghệ nhuộm, tẩy, hấp.,, cho bản thân ngành dệt may Do vậy, ngành dệt may, một cách gián tiếp, lại kích thích ngành khai thác than va dầu mỏ phát triển
Công nghiệp dệt may phát triển cũng mở rộng nhu cầu máy móc thiết bị dệt may và do đó thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo thiết bị nhắ Theo xu hướng
đó, các ngành chế tạo thiết bị nặng được mở rộng Quá trình này kích thích nhu cầu tăng nhanh về máy móc thiết bị trong khu vực công nghiệp nặng và công nghiệp nhắ Do vậy, công nghiệp luyện k i m và khai khoáng được mở rộng Các hoạt động sản xuất được phát triển tất yếu sẽ thúc đẩy giao thông vận tải và hạ tầng cơ sở cũng thay đổi sâu sắc theo hướng gia tăng
Như vậy, ngành công nghiệp dệt may một k h i phát triển sẽ góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân một cách toàn diện và sâu sắc theo hướng công nghiệp hoa và diện đại hoa đất nước Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phát triển của ngành dệt may trong tiến trình công nghiệp hoa cũng thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch lao động xã hội từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp Trong mỗi khu vực nông nghiệp
Trang 21và công nghiệp, lao động còn được chuyển dịch một cách hợp lý theo từng tiểu ngành nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực cho việc thực hiện công nghiệp hoa Điều này rõ ràng có ý nghĩa thiết thực đối với các nước đang phát triển hiện nay, trong đó có Việt Nam N h ó m nước này đang tích cực tiến hành chiến lược phát triển kinh tế nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoa và hiện đại hoa đất nước (CNH - H Đ H ) Một lần nủa, công nghiệp dệt may lại được khẳng định rõ vai trò quan trọng và tính tất yếu của nó đối với các nước Đ P T trong thời kỳ C N H - H Đ H đất nước
1.2.4 Tích luỹ vốn và kinh nghiệm quản lý cho các nước Đ P T
Xu hướng phổ biến ở nhiều nước Đ P T hiện nay là tình trạng đói vốn, đói công nghệ và kỹ năng quản lý doanh nghiệp; nguồn lao động dồi dào về
số lượng song lại yếu kém về chất lượng do trình độ chuyên môn thấp
Quá trình phát triển công nghiệp dệt may ở các nước Đ P T đã và đang góp phần tích cực vào việc khắc phục xu hướng bất cập đó Bởi lẽ, ngành dệt may không chỉ thoa mãn nhu cầu trong nước để cải thiện đời sống dân sinh
mà còn hướng mạnh vào xuất khẩu như đã diễn ra điển hình ở Hongkong, Singapore, Hàn Quốc, Mêhicô từ nhủng thập niên 60-70 hay Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia, Đài Loan trong thập niên 80 và 90 vừa qua Hàng năm, nhủng nước này thường thu về hàng chục tỷ USD từ dệt may xuất khẩu, điển hình là Trung Quốc, Hongkong, Mêhicô, Hàn Quốc Các nước khác có thể đạt mức thấp hơn như Thái Lan, Malayxia, Philipin (sẽ trình bày cụ thể hơn trong phần sau ở chương này) Tuy kim ngạch xuất khẩu dệt may có thể đạt mức nhiều ít khác nhau đối với mỗi nước nhưng đó thực sự là nguồn vốn tích lũy rất đáng quý trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoa đất nước Kết quả đó cũng giải thích rõ thêm vai trò của ngành dệt may đối với các nước Đ P T và lý do tại sao họ thường chú trọng phát triển ngành công nghiệp có nhiều lợi thế này
Cũng như trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp dệt may, lực
Trang 22trình độ chuyên môn Đ ộ i ngũ công nhân, thông qua những lớp đàu tạo về kỹ thuật, sẽ không ngừng được bồi dưỡng tay nghề, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thể trường khó tính theo từng lớp khách hàng cụ thể Đ ộ i ngũ Marketing, nghiên cứu thể trường từng bước trưởng thành về trình
độ chuyên môn, nắm bắt được những thông tin thường xuyên thay đổi của thể trường trong và ngoài nước để có thể ứng xử năng động kểp thời trong kinh doanh, Bộ phận xuất nhập khẩu, thông qua đào tạo và hoạt động thực tế cũng
có được những chuyên gia giỏi trong đàm phán và ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, tận dụng được những cơ hội kinh doanh Nhìn chung, trong quá trình phát triển của ngành dệt may ở các nước đang phát triển, toàn bộ lực lương lao động được đào tạo và trưởng thành với trình độ chuyên môn hoa cao theo từng công việc, do đó tiếp cận được phong cách công nghiệp hiện đại, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn Như vậy, công nghiệp dệt may mở rộng theo hướng sản xuất lớn đã làm thay đổi sâu sắc nguồn nhân lực ở các nước ĐPT, từ yếu kém đến chất lượng tác nghiệp ngày càng cao, thích ứng kểp thời với cơ chế thể trường trong và ngoài nước
Trên thực tế, sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may theo hướng sản xuất lớn còn trang bể kểp thời kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp ở các nước đang phát triển trên cả hai lĩnh vực: quản lý vĩ m ô và quản lý vi mô
Về quản lý vĩ mô, lãnh đạo cấp Chính phủ cũng như cấp Bộ, Ngành,
thông qua việc điều hành thực tiễn, từng bước nhận thức được đầy đủ hơn quy luật vận động của cơ chế kinh tế thể trường ở trong và ngoài nước Họ hiểu rõ hơn vai trò của "bàn tay hữu hình" mà họ cần phải hành động trước những đòi hỏi thực tiễn của hoạt động kinh doanh trong ngành dệt may Chính thực tiễn sinh động đó đã giúp cho nhà quản lý vĩ m ô rút ra được những kinh nghiệm quý, những kỹ năng mới trong việc hoạch đểnh chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội thuộc lĩnh vực công nghiệp dệt may Chương trình chiến lược này thường bao gồm một hệ thống đồng bộ các chính sách vĩ mô: chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong nước, chính sách thương mại
Trang 23quốc tế với nước ngoài nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, chính sách khuyên khích đầu tư, chính sách công nghệ cho ngành dệt may
Về quản lý vi mô, lãnh đạo doanh nghiệp cũng từng bước được trưởng
thành trong thực tiễn hoạt động Một mặt, họ buộc phậi qua những lớp đào tạo lại hoặc đào tạo nâng cao, mặt khác, họ tiếp thu được thực tiễn kinh nghiệm quận lý của đối tác nước ngoài Như vậy, quá trình phát triển của ngành dệt may theo hướng công nghiệp hoa ở các nước Đ P T cũng là quá trình tạo nên những nhà kinh doanh mới, có tri thức và kỹ năng quận lý đủ mạnh trong việc
tổ chức điều hành doanh nghiệp, đậm bậo cho hoạt động kinh doanh ngày càng đạt hiệu quậ hơn Cũng từ cơ chế kinh tế - thị trường gắn liền với cạnh tranh khốc liệt trong ngành dệt may, lãnh đạo doanh nghiệp còn tích lũy được cho mình nhiều kinh nghiệm quận lý cần thiết về Marketing, về tài chính và nhân sự nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực trong kinh doanh Đ ó cũng là
điều mà các nước Đ P T hiện nay rất quan tâm
1.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHAU VÀ CẠNH TRANH CỦA H À N G DỆT MAY THÊ
GIỚI TRONG NHỮNG N Ă M QUA
1.3.1 Khái quát chung
Dệt may nói chung là ngành hàng rất phong phú về chủng loại, về mẫu
mã mặt hàng Trong thương mại quốc tế, từ lâu các nước xuất nhập khẩu thường chia ngành hàng này ra làm hai nhóm lớn là nhóm hàng dệt và nhóm hàng may Đ ể đậm bậo tính hệ thống và khái quát cho nội dung nghiên cứu, trước hết chúng ta có thể nêu tổng quát nhất tình hình xuất khẩu chung cho cậ hai nhóm lớn của ngành hàng dệt may như sau (bậng 3):
Bảng 3- Tổng quát chung về kim ngạch xuất khẩu dệt may của thế giới trong những năm qua
Đơn VỊ tính: Tỷ USD
hàng dệt và may
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
Kim ngạch xuất khẩu hàng may
Trang 24Nguồn: (ỉ) - Intemational Trade Statistics - WTO anmtal Report 1998-2002
(2) - Report of International Textile and Clothing Bureau (ỈTCB)
Qua bảng thống kê trên, có thể rút ra mấy nhận xét sau:
- Thứ nhất, từ năm 1990 đến năm 1996, kim ngạch xuất khẩu chung của
hai nhóm hàng dệt và may tăng với tốc độ nhanh, đạt mức trung bình là
5%/năm Nguyên nhân chính của tình hình này là do nền kinh tế thế giới nói
chung, cũng như ở châu Á và 3 trung tâm kinh tế thế giới nói riêng, được duy
trì ở mức khả quan, nhất là khu vực châu Á - Thái Bình Dương Mồt khác, dán
số tăng nhanh ở các nước đang phát triển châu Á, châu Mỹ Latinh, châu Phi
cũng là yếu tố thúc đẩy thêm cho nhu cầu về hàng dệt may mở rộng
- Thứ hai, từ cuối năm 1997, cuộc suy thoái tài chính ở châu A nô ra,
kéo theo tình hình kinh tế các khu vực cũng gồp khó khăn đã làm cho xuất
khẩu dệt may của thế giới có xu hướng chậm lại và giảm đáng kể với mức 4 %
vào năm 1998, đồng thời còn kéo dài sự trì trệ sang năm 1999 Đến năm 2000,
năm hội tụ điển hình những biến động của giai đoạn 1996 đến nay, xuất khẩu
dệt may có điều kiện tăng đáng kể với mức 7%/năm do kinh tế thế giới tăng
mạnh, nhất là kinh tế Mỹ tăng với mức kỷ lục trên 5% Tuy nhiên, bước vào
năm 2001, sự kiện 11-9 diễn ra ở Mỹ đã không chỉ ảnh hưởng xấu trực tiếp
đến kinh tế nước này m à còn lan nhanh sang nhiều quốc gia khác Do vậy
Trang 25kim ngạch xuất khẩu dệt may của thế giới lại một lần nữa bị chững lại, sau đó mới được cải thiện với mức tăng khiêm tốn, đạt 1,5% vào năm 2002
- Thứ ba, so sánh giữa xuất khẩu hàng dệt với xuất khẩu hàng may,
chúng ta thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng may có xu hướng tăng nhanh hơn rõ rệt Quả thực, từ năm 1990-2001, kim ngạch xuất khẩu hàng may tăng trên 84%, gần gấp đôi so với mức tăng của hàng dệt Nếu xét thởi gian gần đây hơn, giai đoạn 1996-2001, chúng ta càng thấy rõ k i m ngạch xuất khẩu hàng may tăng nhanh hơn nữa và gấp 3,4 lần so với mức tăng của hàng dệt
Để làm rõ hơn nét khái quát chung nói trên, chúng ta cần tiếp tục khảo sát cụ thể từng nhóm hàng này
1.3,2 Tình hình xuất khẩu hàng dệt của thế giới từ n ă m 1996 đến nay
1.3.2.1 Những luồng xuất khẩu chủ yếu hàng dệt của thế giới năm 2000
Như đã nêu ở mục "Khái quát chung " nói trên, năm 2000 là năm biến động tập trung điển hình của những biến động gần đây nhất Do vậy, về phương pháp tiếp cận, có thể chọn năm 2000 làm điểm nghiên cứu để khảo sát những năm vừa qua Bảng số liệu sau đây sẽ chỉ ra những luồng xuất khẩu chủ yếu hàng dệt theo các khu vực cụ thể trên thế giới
Bảng 4 - Những luồng xuất khẩu chủ yếu hàng dệt của thế giới trong năm 2000
Các luồng xuất khẩu chủ yếu Kim ngách xuất
Nguồn: WTO Annual Report, Table IV - 68 [29]
Trang 26Trong tổng k i m ngạch xuất khẩu hàng dệt toàn cầu năm 2000 nêu ở
bảng 4, luồng xuất khẩu nội bộ giữa các quốc gia châu Á là luồng lớn nhất,
đạt 42,8 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 27,2% Trong thời gian qua, đây vẫn là luồng xuất khẩu thường tăng nhanh và khá ổn định qua các năm Như vậy, với tất cả 71,4 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt cựa mình năm 2000, châu Á đã dành tới 6 0 %
cho xuất khẩu nội bộ (xuất khẩu tại chỗ) trong phạm vi khu vực mình Trong
luồng xuất khẩu nội bộ châu Á này, luồng xuất khẩu lớn nhất là hướng di chuyển từ Trung Quốc và Hongkong đến Nhật Bản (sẽ phân tích cụ thể sau) Châu Á vừa là khu vực đông dân nhất thế giới (trên 3,7 tỷ người, chiếm trên
6 0 % dân số toàn cầu), vừa là khu vực xuất khẩu lớn hàng dệt, trong đó luồng xuất khẩu nội bộ tại đây cũng lớn nhất Tình hình này có thể còn tiếp tục diễn
ra trong những năm tới
Luồng xuất khẩu lớn thứ hai là luồng xuất khẩu nội bộ giữa các quốc
gia khu vực Tây Âu, đạt 38,7 tỷ USD, chiếm 24,6% tổng k i m ngạch xuất khẩu hàng dệt toàn cầu, đồng thời cũng chiếm tới 6 5 % toàn bộ xuất khẩu hàng dệt cựa bản thân Tây Âu Cần chú ý rằng, luồng xuất khẩu này tập trung hầu hết ở
15 nước Liên minh châu Âu (EU15) hiện nay Trên thực tế, ngoài EU15, cả hai nước đáng kể nhất còn lại là Na Uy và Thúy Sỹ (với dân số gần 15 triệu người) cũng không đóng vai trò đáng kể vào việc xuất khẩu này Do vậy, nói luồng xuất khẩu nội bộ cựa khu vực Tây Âu cũng có thể coi là luồng xuất khẩu nội bộ cựa EU15 Tuy nhiên, luồng lớn thứ hai này đang liên tiếp giảm ngày càng mạnh trong những năm qua và cả sắp tới Nguyên nhân chính cựa tình hình này là ngành công nghiệp dệt cựa hàng loạt nước này thường xuyên
bị lép vế trong cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng chung cựa EU hiện nay Bởi lẽ, những ngành công nghiệp mới như ô tô, điện tử, viễn thông đang có những lợi thế hơn
Thứ đến là luồng xuất khẩu từ châu Á tới Bắc Mỹ và từ châu Á tới Tây
Âu, tuy đạt mức thấp hơn (mỗi luồng đạt gần 9 tỷ USD và chiếm tỷ trọng
5,5%) nhưng lại đang có triển vọng mở rộng Lý do chự yếu vẫn là chự trương
Trang 27thu hẹp ngành dệt truyền thống của các nước phát triển Tây  u và Bắc Mỹ nhằm phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, nhất là viễn thông, máy bay Đây cũng là hai chiến lược thị trường chủ đạo trong xuất khẩu hàng dệt và cỉ hàng may nói chung của nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam
- Thứ năm và thứ sáu là luồng xuất khẩu từ Tây Âu đến Đông  u và từ
Bắc Mỹ đến Nam Mỹ Cỉ hai luồng xuất khẩu này không chỉ nhỏ bé về tỷ trọng trong hiện tại mà còn về chiến lược lâu dài cũng không có nhiều hứa hẹn, trong đó việc thu hẹp ngành dệt may ở các nước phát triển chính là lý do
cơ bỉn nhất
ỉ32.2 Những nước xuất khẩu hàng dệt chủ yếu
* Đặc điểm chung
- Có rất nhiều nước trên thế giới tham gia vào xuất khẩu hàng dệt N ă m
2000, các nước đang phát triển chiếm 6 4 % tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt thế giới (năm 1996: 6 3 % ) , các nước phát triển chiếm 36% Phần xuất khẩu của các nước phát triển gồm các thiết bị dệt, các loại hoa chất ngành dệt (thuốc nhuộm, hồ, tẩy) và sỉn phẩm dệt chất lượng cao (như sỉn phẩm vỉi các loại); trong đó hai nhóm đầu chiếm tỷ trọng khá lớn trong kim ngạch xuất khẩu
- Hàng loạt nước xuất khẩu đạt mức lớn nhưng đồng thời lại là nước nhập khẩu lớn hàng dệt Nếu cân đối xuất và nhập khẩu thì kim ngạch xuất khẩu thực tế không nhiều, hơn thế nữa nhiều nước còn trong tình trạng nhập siêu (xem bỉng 5 dưới đây)
Bảng 5- Tình hình xuất khẩu hàng dệt của những nước chủ yếu năm 2000
Đơn VỊ: tỷ USD
S Ỏ T T Nước Kim ngạch
xuất khẩu
Kim ngạch nhập khẩu
Cân đôi xuất nhập
1 Trung quốc 6,140 12,830 3,390
2 Hongkong 13,440 13,720 - 0,720
3 Hàn quốc 12,780 3,250 9,530
Trang 28Nguồn: ỉnternational Trade Statistics 2001 - WTO Annual Report [20]
* Các nước xuất khẩu chủ yếu hàng dệt
Từ bảng 5, cột 5 cho thấy, các nước chủ yếu có khả năng thực sự trong xuất khẩu hàng dệt được xếp hống như sau:
Bảng 6 - Mười nước và lãnh thổ xuất khẩu hàng dệt đứng đầu thế giới
Trang 29Trong số 10 nước và lãnh thổ xuất khẩu hàng đầu trên (Tóp 10), có 3 nước phát triển (Ý, Nhật bản, Bỉ), xuất khẩu đáng kể vẫn là nhóm thiết bị dệt
và hoa chất nhuộm, tẩy đều thuộc hàng tư liệu sản xuất phục vụ ngành dệt, chủ yếu sang các nước đang phát triển châu Á
Đài loan và Hàn quốc là hai nhà xuất khẩu hàng dệt lớn nhất, tuy có xuất khẩu cả tư liệu sản xuất ngành dệt nhưng không lớn, phần sản phẩm dệt vẫn là chủ yếu Thị trưỹng xuất khẩu của họ trước hết là châu Á (trong đó có Nhật bản), sau đó là Bắc Mỹ, Tây Âu, thứ đến châu M ỹ Latinh và châu Phi
Hai nước tiếp theo là Ân độ, Pakistan xuất khẩu hầu hết là sản phẩm dệt
và dành phần lớn cho thị trưỹng châu Á, rồi Tây Âu, Bắc Mỹ và sau cùng là các thị trưỹng khác
Trung quốc, nước xuất khẩu thứ 7 hàng dệt, tập trung xuất khẩu chủ yếu vào thị trưỹng Mỹ, sau đó là Tây Âu, các thị trưỹng khác không đáng kể
Hai nước cuối cùng là Thổ nhĩ kỳ và Indonesia lại tập trung trước hết vào thị trưỹng Tây Âu, thứ đến thị trưỹng châu Á, Bắc Mỹ và một số thị trưỹng khác như Mỹ Latinh, châu Phi
1.3.23, Tỷ trọng và chủng loại xuất khẩu hàng dệt trong thương mại thê
giới
* Tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt trong thương mại thế giới
Khi xem xét vị trí của xuất khẩu hàng dệt trong thương mại thế giới, ngưỹi ta thấy nổi bật lên hai vấn đề sau:
- Thứ nhất là tỷ trọng của xuất khẩu hàng dệt trong tổng giá trị thương
mại thế giới của tất cả các hàng hoa nói chung Trên thực tế, tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt thế giới năm 2000 chiếm 2,5% tổng giá trị buôn bán các loại hàng hoa Theo đánh giá chung, con số này đạt mức khá cao nếu so với nhiều loại lương thực, thực phẩm thuộc cùng loại nhu cầu thiết yếu hiện nay trong
đó có gạo hay một số thúy sản khác như tôm, cá Tuy nhiên, tỷ trọnơ hàng
Trang 30dệt trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoa cũng rất khác nhau giữa các nhóm nước và các khu vực (xem bảng 7)
Bảng 7 - Tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt trong thương mại thế giới Thế giới và khu vực
Tỷ trong xuất khẩu hàng dệt trong tổng thương mại các loại hàng hoa (%)
Tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt trong thương mại nhóm hàng
Nguồn: WTO Annual Report, Table N - 69 [291
Về nhóm nước, các quốc gia đang phát triển châu Á đạt mức cao nhất (5,8%), gấp hơn 4 lần các quốc gia phát triển châu Á như Nhật Bản, úc, Niu Dilân, Cũng trong nhóm nước đang phát triển, các quốc gia châu Á gấp hơn 5 lần các quốc gia châu Phi Trong nhóm nước phát triển, khu vực Tây  u lại gấp gần hai lần khu vực Bắc Mủ
- Thứ hai là tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt trong giá trị thương mại thế
giới của nhóm hàng chế biến nói riêng Trong năm 2000, tỷ trọng này chiếm 3,4% (bảng 5) Con số này cũng không giống nhau ở các châu lục và ở các nhóm nước phát triển so với đang phát triển
Xét theo châu lục, châu Á đạt mức cao nhất (5,1%), rồi đến cháu Phi (3,6%) và Châu Âu, châu Mủ đạt mức thấp nhất
Xét theo nhóm nước, trên thực tế, nhóm nước đang phát triển ở cháu Á đạt tỷ trọng cao nhất (6,9%), gấp hơn 4 lần nhóm nước phát triển như Nhật Bản, Úc, Niu Dilân ở châu Âu, các nước phát triển Tây  u cũng thấp hơn các
Trang 31nước đang phát triển Đông Âu ở châu Mỹ, các nước phát triển Bắc M ỹ đạt tỷ trọng thấp nhất thế giới, còn các nước đang phát triển thuộc M ỹ Latinh cũng thuộc mức thấp vì chỉ cao hơn các nước phát triển Bắc M ỹ và vẫn thấp hơn các nước phát triển Tây Âu
* Các nhóm hàng dệt xuất khẩu chủ yếu
Thực tiễn trong thương mại thế giới, hàng dệt bao gốm nhiều chủng loại rất phong phú và đa dạng nhằm thoa mãn tốt nhất nhu cầu, thị hiếu của rất nhiều tầng lớp tiêu dùng khác nhau về giới tính, độ tuổi, thu nhập cho từng nhóm nước cụ thể Do vậy cơ cấu hàng dệt xuất khẩu trong những năm qua cũng được hình thành theo những nhóm chính như sau:
- Một, nhóm hàng nguyên liệu dệt: bông và xơ sợi các loại
Bông và xơ sợi các loại là yếu tố đầu vào quan trọng và cần thiết của ngành dệt, chi phối sâu sắc chất lượng và giá cả hàng dệt K i m ngạch xuất khẩu bông và xơ sợi là một bộ phận trong kim ngạch xuất khẩu hàng dệt Có nhiều nước xuất khẩu bông trên thế giới, trong đó phải kể đến A i cập, Mỹ, ựịebekistan, Trung quốc, Senegal
Về xơ sợi cũng có nhiều loại như sợi xe, sợi màu, sợi polyester Trong ngành dệt, người ta lại chia ra nhiều nhóm sợi kỹ thuật chuyên môn khác nhau Có thể đơn cử hai nhóm điển hình với các chỉ số kỹ thuật như:
Trang 32- Hai, nhóm sản phẩm dệt Có thể nêu mấy nhóm chủ yếu sau:
+ Vải bông 1 0 0 % và vải bông pha Pe/Co: có chất lượng cao với độ mảnh sợi cao (Ne 86-102 chải kỹ), được tiêu thụ nhiều ở các nước phát triển Bắc Mỹ, EU, Nhật bản để may sơ mi, quần âu, Jacket Loại này có giá bán cao gấp 1,5-2 lần so với sản phẩm không phải từ bông 1 0 0 % hay bông pha Pe/Co
-ứ- Vải DENIM: dùng để may quần Jean, quần váy ngắn Đây là loại vải được thế giới ưa chuộng, buôn bán nhiều nhất là thị trường Bắc Mỹ và Tây
Au, tăng trương xuất khấu thường cao với mức 3%/năm
+ Sản phẩm dệt kim bông cao cấp: thường chiếm khoảng 25-28% tổng lượng hàng dệt ở các nước phát triển Bắc Mỹ, Tây  u và Nhật bản Loại này đạt hiệu quả cao vì xuất khẩu Ì kg quần áo dệt kim bông cao cấp như T-shirt, Polo-shirt thường gấp 2,5-3 lần xuất khẩu một kg sợi
+ Vải sợi tổng hợp: để may áo Jacket và hàng thời trang phụ nữ Nguyên liệu thường từ sợi Pe Filamang hay sợi Pe siêu nhỏ, Pa Filamang Nhu cầu của các thị trường xuất khẩu đang đòi hỏi điều này
- Ba, nhóm thiết bị dệt Nhìn chung, các thiết bị dệt có nhiều loại đa
dạng như;
-í- Thiết bị kéo sợi (kéo sợi cotton chải kỹ, kéo sợi cotton OE, kéo sợi v i
xử lý )
+ Thiết bị dệt vải (dệt thoi, dệt kim, dệt tròn, dệt phang )
+ Thiết bị tẩy, hồ sợi, đánh bóng, sấy
+ Thiết bị nhuộm, in hoa
Những nước xuất khẩu chính nhóm thiết bị dệt vẫn là các nước phát triển EƯ, Bắc Mỹ và Nhật bản
- Bốn, nhóm hoa chất phục vụ ngành dệt: gồm nhiều loại như:
+ Thuốc nhuộm các loại
+ Hoa chất khử, tẩy
Trang 33+ Các loại keo, hồ kỹ thuật
Các nhà sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng này thường là những nước phát triển truyền thống như Thúy Sỹ, Đức, Ý, Nhật
1.3.3 Tình hình xuất khẩu hàng may của thê giới trong thời gian qua
1.3.3.1 Các luồng xuất khẩu chủ yêu hàng may trên thê giới
Nhìn tổng thể, các luồng xuất khẩu chủ yếu hàng may trên thế giới được khái quát ỷ bảng 8 dưới đây
Bảng 8 - Những luồng xuất khẩu chủ yếu hàng may của thế giới trong năm 2000
Đơn VỊ: tỷ USD và %
Các luồng xuất khẩu chủ yếu Kim ngách xuất
khẩu (tỷ USD)
Tỷ trong (%') % thay đổi theo một số năm
— N ă m
Khu vực " ——— _ 2000 2000 1900-2000 1996 1999 2000
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
Toàn thế giới 198,94 100,0 - • -
-1 Luồng xuất khẩu nội bộ Tây Âu 44,0 22,1 1 - 1 - 3 - 6
2 Luồng từ châu Á đến Tây Âu 28,8 14,5 5 4 5 10
3 Luồng xuất khẩu nội bộ Bắc Mỹ 35,8 17,9 5 2 - 2 15
4 Luồng xuất khẩu nội bộ châu Á 24,4 12,3 11 10 7 17
5 Luồng từ Mỹ Latinh đến Bắc Mỹ 21,3 10,6 23 11 10 21
6 Luồng từ Đông Âu đến Tây Âu 8,2 4,1 5 2 1 1
Nguồn: WTO Annual Report, Table N - 76 [291
Từ bảng thống kê trên, có thể rút ra những nét chủ yếu sau:
- Luồng xuất khẩu nội bộ Tây Âu đạt mức lớn nhất với 44 tỷ USD, chiếm 2 3 , 1 % tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may toàn cầu trong năm 2000 Như vậy, trong toàn bộ kim ngạch xuất khẩu hàng may của mình năm 2000 (đạt 57,2 tỷ USD, chiếm 28,8% tổng xuất khẩu toàn cầu), khu vực này đã dành tới 76,9% cho xuất khẩu tại chỗ Tuy nhiên, luồng này đang có xu hướns giảm
- Luồng xuất khẩu từ châu Á đến Bắc Mỹ lớn thứ hai, đạt mức 35,8 tỷ USD, chiếm 17,9% tổng xuất khẩu toàn cầu Trong năm 2000, luồng này tăng
Trang 34đáng kể với mức 17% Luồng này hiện chiếm tới 4 0 % toàn bộ xuất khẩu của châu A
- Luồng xuất khẩu lớn thứ ba là từ châu Á vào Tây  u đạt mức gần 29
tỷ ƯSD, chiếm 14,5 tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, đồng thời cũng thường xuyên tăng khá nhanh qua các năm Vậy là, trong năm 2000, với tỗng kim ngạch xuất khẩu hàng may 89,4 triệu USD, đứng đầu thế giới, chiếm 4 5 % xuất khẩu dệt may toàn cầu, châu Á đã dành phần xuất khẩu lớn nhất vào Bắc
Mỹ, thứ đến vào Tây Âu, tiếp đó là xuất khẩu tại chỗ Châu Á cũng đứng đầu
về xuất khẩu hàng dệt (71,4 tỷ USD), vị chi có tới 161 tỷ Ư S D xuất khẩu cả dệt và may, khu vực này đang được mệnh danh là kho hàng xuất khẩu dệt may
của thế g i ớ i
- Lớn thứ tư là luồng xuất khẩu nội bộ châu Á, đạt mức 24,4 tỷ USD, chiếm 12,3 tổng kim ngạch hàng may toàn cầu Trong nhiều năm qua, luồng này đều đạt mức tăng trưởng cao, trung bình 11%/nãm
• - Luồng xuất khẩu lớn thứ 5 là từ châu Mỹ Latinh đến Bắc M ỹ đạt trên
21 tỷ USD, đồng thời cũng đang có xu hướng tăng mạnh qua nhiều năm Như vậy, chỉ riêng 2 luồng chủ yếu từ châu Á và Mỹ Latinh đã xuất khẩu vào Bắc
1.3.3.2 Những nước xuất khẩu hàng may chủ yếu trên thế giới
Nhìn chung, các nước xuất khẩu chủ yếu hàng may tập trung hầu hết ở châu Á Thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước này là Bắc Mỹ, thứ đến Tây Âu, rồi Nhật Bản, sau nữa là các thị trường khác Bảng 9 dưới đây phản ánh cụ thể hơn các nước xuất khẩu chủ yếu hàng may trong năm 2000
Trang 35Bảng 9 - Mười nước và lãnh thổ xuất khẩu hàng may lớn nhất thế giới năm 2000
S Ố T T Nước Kim ngách xuất khẩu
(tỷ USD)
% trong X K hàng may thế giói
Nguồn: International Trade Statistics - WTO Annual Report [29]
Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, 10 nước và lãnh thổ xuất khẩu hàng may lớn nhất này đều là những nước sau khi đã trừ toàn bộ k i m ngạch nhập khẩu và chỉ còn lại phần xuất khẩu tịnh, do vậy phản ánh rõ khả năng xuất khẩu thợc tế Đơn cử trường hợp Hongkong, nếu chưa trừ phần nhập khẩu để tái xuất thì kim ngạch xuất khẩu tổng cộng lên tới 24,2 tỷ USD
Trong số 10 nước/lãnh thổ xuất khẩu hàng may lớn nhất này, chỉ có duy
nhất Ì nước phát triển là Ý (danh mục Tóp 10 xuất khẩu hàng dệt nêu trên có
3 nước phát triển), số còn lại đều là các nước ĐPT Trong số 9 nước Đ P T này, chỉ có duy nhất Ì nước (Mê hi cô) thuộc châu Mỹ Latinh, còn lại đều là các nước Đ P T châu Á Có thể tóm tắt một vài nét chính về đội ngũ xuất khẩu này:
- Trung quốc là nước xuất khẩu đứng đầu thế giới về hàng may hiện
nay, năm 2000 đạt trên 36 tỷ USD, chiếm trên 1 8 % thị phần xuất khẩu hàng may toàn cầu Với con số này, Trung quốc đã khẳng định chắc chắn vị trí vượt trội hơn hẳn của mình và bỏ xa tất cả các nước xuất khẩu chủ yếu khác, kể cả nhà xuất khẩu lấm thứ 2 là Hongkong Trong suốt thập kỷ 90 vừa qua, xuất
Trang 36khẩu dệt may của Trung quốc thường xuyên tăng nhanh, đạt mức trung bình
15%/năm, riêng năm 2000 lại đạt mức kỷ lục 20% Chiến lược thị trường xuất
khẩu Trung quốc trước hết là Bắc Mỹ, sau đó là Tây Âu và châu Á, trong đó
có Nhật bữn, thứ đến các thị trường khác
- Hongkong hiện đang là nhà xuất khẩu lớn thứ hai thế giới, đạt trên 8
tỷ Ư S D và chiếm trên 4 % thị phần toàn cầu Xuất khẩu của Hongkong được
ưu tiên cho hai thị trường chiến lược là Bắc Mỹ và Tây Âu So với Trung quốc,
Hongkong có cữ quá trình truyền thống từ lâu trong xuất khẩu hàng may và do
đó cũng có hệ thống bạn hàng khá vững chắc
, ọ '
- Đứng vị trí thứ ba hiện nay trong trong xuất khâu hàng may lả Y với
trên 7 tỷ USD, chiếm gần 3,6% thị phần thế giới Nước này xuất khẩu chủ yếu
là hàng may các loại chất lượng cao, đữm bữo cạnh tranh có hiệu quữ trong
thượng trường thế giới Hầu hết hàng may xuất khẩu của Ý được tiêu thụ tại
thị trường các nước thành viên EU và được người tiêu dùng tin cậy
- Thổ nhĩ kỳ là nước xếp vị trí thứ tư thế giới về xuất khẩu hàng may,
đạt trên 6,5 tỷ USD và chiếm 3,3% thị phần toàn cầu Do khoững cách địa lý
và quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng may của nước này ưu tiên đặc biệt vào
trường Tây Âu, sau đó mới đến Bắc Mỹ
- Giữ vị trí thứ 5, thứ 6 và thứ 7 về xuất khẩu hàng may là Mêhicô, An
độ và Hàn quốc với mức kim ngạch sát nút nhau, đều đạt trên 5 tỷ USD và đều
chiếm trên 2,5% thị phần toàn cầu An độ tập trung xuất khẩu nhiều hon vào
thị trường EƯ, sau đó là Bắc Mỹ và Nhật Bữn Trong khi đó, Hàn quốc lại ưu
tiên xuất khẩu vào Bắc Mỹ, thứ đến là Nhật Bữn và EU, sau đó là các thị
trường khác
- Indonesia và Thái lan là hai nước đang duy trí vi trí thứ 8 và 9 tronơ
xuất khẩu hàng may hiện nay và đều hướng nhiều vào ba thị trườnơ chủ yếu là
Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật bữn
Trang 37- Cuối cùng, giữ vị trí thứ 10 trên thế giới là Đài loan trong xuất khẩu
hàng may với kim ngạch gần 3 tỷ USD, chiếm 1,5% thị phần thế giới Hàng
may xuất khẩu của nước này được ưu tiên hàng đầu vào thị trường Bắc Mỹ,
thứ đến Tây Âu và Nhật Bản
1.33.3 Tỷ trọng và chủng loại xuất khẩu hàng may trên thế giới
* Tỷ trọng xuất khẩu hàng may trong mậu dịch quốc tế
- Một là, tỷ trọng xuất khẩu hàng may trong mậu dịch quệc tế các loại
hàng hoa Thực tế trên thế giới, tỷ trọng xuất khẩu hàng may năm 2000 chiếm
3,2% tổng giá trị mậu dịch các loại hàng hoa nói chung (bảng 10), cao hơn so
với hàng dệt như đã nói trên Nếu so sánh giữa các khu vực, các nước Đ P T
châu Á hiện đạt tỷ trọng cao nhất với mức 8,1%, tiếp đó là Mỹ Latinh với mức
Tỷ trọng xuất khẩu hàng may trong mậu dịch quốc tế nhóm
Nguồn: International Trade Statistics - WTO Annuaỉ Report, Table IV.77 [291
Các nước phát triển giữ mức thấp, điển hình là Nhật bản với mức 0,2%,
Bắc Mỹ: 1,0%
Trang 38- Hai là tỷ trọng xuất khẩu hàng may trong mậu dịch quốc tế nhóm
hàng chế biến nói riêng Trên thế giới, tỷ trọng này hiện đang chiếm 4,3%, cũng cao hơn so với hàng dệt Tuy nhiên tỷ trọng nay có sự khác nhau giữa
các nhóm nước và khu vực Cụ thể, châu Phi đang đạt mức cao nhất với 19%,
sau đó châu Mỹ Latinh và các nước Đ P T châu Á giữ mức trên dưới 10%
Ngược lại, nhóm nước phát triển lại có tỷ trọng thấp, điển hình là Nhật, úc với
mức 0,2%, Bủc Mỹ là 1,3% (bảng 10)
* Chủng loại xuất khẩu hàng may trên thế giới
Trong buôn bán quốc tế, cơ cấu hàng may thường được phân loại thành
nhiều nhóm theo các chủng loại rất đa dạng Thực tế hàng may có hàng trăm
chủng loại (categories) thường được gọi tủt là "CÁT" và được quy định chuẩn
hoa quốc tế theo các mã số trong một hệ thống danh mục thống nhất nhằm
đảm bảo tính chính xác trong thông tin và giao dịch Có thể đơn cử một số
chủng loại (CÁT) điển hình như:
Bảng 11 - Đơn cử một vài chủng loại hàng may trong thương mại quốc tế
S Ố T T Tên chủng loại hàng M ã số C Á T chuẩn hoa
Nguồn: Report of ỉnternational Textile and Clothing Bureau (ĨTCB) [30]
Tính phong phú và đa dạng của hàng may không chỉ về các chủng loại theo những C Á T (như sơ mi - C Á T 8, jacket - C Á T 21, quần - C Á T 6 ) m à
Trang 39còn bao gồm nhiều tiêu thức khác như tiêu thức về giới tính, tuổi tác, kích cỡ Một trong những yếu tố phức tạp nhất là chất lượng sản phẩm Bản thân chất lượng này lại phụ thuộc vào hàng loạt tiêu thức như chất lượng vải may, kiểu may (mode), màu sắc Trên thủc tế, một bộ vest bình dân có thể bán với giá
leo ƯSD, nhưng một vest cao cấp có thể tới 1000 - 1500 USD hoặc hơn nữa
1.4 NGHIÊN CỨU MỨC NHẬP KHẨU DỆT VÀ MAY CỦA CÁC THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHỦ YÊU
Các nội dung nghiền cứu của ba phần trên đã đề cập:
- Mức tiêu thụ hàng dệt may của toàn thế giới và các thị trường khu vủc chủ yếu
- Vai trò của ngành dệt may ở các nước phát triển và ĐPT
- Tổng lượng xuất khẩu dệt may của thế giới và các luồng xuất khẩu
chủ yếu của các khu vủc, một cách gián tiếp cũng đã đề cập tới các khu vực
nhập khẩu
Vậy phần còn lại của chương này chỉ tóm tắt mức nhập khẩu cụ thể của thị trường mục tiêu theo 3 khu vủc nhập khẩu chủ yếu là Bắc Mỹ, E Ư và Nhật Bản
Tình hình nhập khẩu của thị trường này được phản ánh ở Bảng 12
Bảng 12 • Kim ngạch nhập khẩu dệt và may của thị trường Bắc Mỹ những năm qua
Năm Nhập khẩu hàng dệt Nhập khấu hàng may Tống đét và may
Trang 402000 13,46 57,23 70,69
Nguồn: Report oỷĩTCB [30]
Như vậy, trong những năm qua, nhập khẩu dệt may của Mỹ tăng trung
bình 5%/năm Nguyên nhân chủ yếu do kinh tế Mỹ tăng trưởng suốt thập kỷ
90 với mức khá cao, đồng thời dân số cũng tăng nhanh hơn tất cả các nước
phát triển EU và Nhật Bản
1.4.2 Mức nhập khẩu dệt may của thị trường E U và Nhật Bản
Bảng 13 - Tình hình nhập khẩu hàng dệt và may của EU 1995 - 2002
Năm NK hàng dệt NK hàng may Tổng NK dệt và may
Nguồn: Report o/ỈTCB [30]
Bảng 13 nói rõ mức nhập khẩu dệt may ngoài khối (cầt 3 và 7) vẫn có
xu hướng tăng trong thời gian 1995 - 2002, riêng năm 1999 bị giảm gần 3%
Từ năm 2000 đến nay vẫn tăng rõ rệt
Về nhập khẩu hàng dệt may của Nhật bản, có thể dẫn cụ thể qua bảnơ
14 sau đây: