12
Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học12 1.2 Vai trò của GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất trong trường học đóng vai trò quan trọng trong nền giáo dục quốc dân, góp phần vào sự phát triển cân đối và đồng bộ của thể thao Việt Nam Nó hỗ trợ cho thể thao thành tích cao, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố và phát triển thể dục thể thao Việt Nam trong tương lai.
2020, đưa nền TDTT nước ta hòa nhập và tranh đua với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Kể từ khi thành lập chính quyền vào năm 1945, Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục con người, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển toàn diện và nâng cao năng lực cá nhân Con người được xem là tài sản quý giá của đất nước, và các văn bản pháp lý đều khẳng định thể dục thể thao (TDTT) là một công tác cách mạng, có tác động tích cực đến đời sống xã hội, đồng thời là một phần thiết yếu trong sự nghiệp giáo dục con người phát triển toàn diện.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác giáo dục thể chất trong trường học, nhằm đào tạo những thế hệ trẻ phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất và đạo đức Mục tiêu này không chỉ phản ánh ước nguyện của Bác Hồ mà còn là trách nhiệm của chúng ta trong việc chuẩn bị những con người sẵn sàng kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là Giáo dục thể chất (GDTC), được xây dựng trên nền tảng tư tưởng và lý luận của học thuyết Mác Những quan điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong việc phát triển con người toàn diện, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Lê Nin nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển con người toàn diện và giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội xã hội chủ nghĩa, cùng với các nguyên lý giáo dục thể chất Mác xít Tư tưởng của Hồ Chí Minh về thể dục thể thao (TDTT) và giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ cũng được coi trọng Những tư tưởng và cơ sở lý luận này đã được Đảng quán triệt trong đường lối phát triển TDTT trong thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay Đảng luôn đưa ra các chỉ thị, nghị quyết kịp thời nhằm thúc đẩy phong trào TDTT, với hàng loạt chỉ thị về công tác TDTT được ban hành bởi Đảng và Nhà nước.
Chỉ thị số 106/CT/TW ngày 02/01/1958 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục thể chất (GDTC) trong thể thao quốc phòng và sự phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, đặc biệt là trong môi trường học đường.
Chỉ thị số 131/CT/TW ngày 13/01/1960 và chỉ thị số 158/CT/TW của Ban Bí Thư TW Đảng đã xác định rõ vị trí và tầm quan trọng của thể dục thể thao (TDTT) trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, coi TDTT là nhu cầu thiết yếu của quần chúng Đại hội Đảng Lao động lần thứ III vào tháng 9/1960 đã định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất cho thanh thiếu niên, và chủ trương này được phát triển tại Hội nghị TW Đảng lần thứ VIII tháng 4/1963 Nghị quyết VIII BCHTW Đảng (khóa VIII) đã khẳng định việc giảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết sẽ được đưa vào chương trình học tập tại các trường phổ thông.
Chỉ thị 112/CT/TW ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ Trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học, đặc biệt là môn thể dục, trong các trường học Nhà trường cần có biện pháp hướng dẫn học sinh tham gia các hình thức tập luyện ngoài giờ để nâng cao sức khỏe và thể chất.
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ VII vào tháng 6/1991 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học, khẳng định rằng công tác thể dục thể thao (TDTT) cần được chú trọng.
35,36,41 hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ghi: “ GDTC là môn học bắt buộc trong các trường học”.
Chỉ thị 36/CT/TW của Ban bí thư TW Đảng ngày 24/03/1994 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải tiến chương trình giảng dạy và tiêu chuẩn rèn luyện thể chất trong các trường học, đồng thời yêu cầu đào tạo giáo viên thể dục và nâng cao cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc Đại hội lần thứ VII năm 1996 đã khẳng định vai trò quan trọng của con người trong giai đoạn mới, nhấn mạnh rằng sức khỏe thể chất và nhu cầu cá nhân là tài sản quý giá để phát triển trí tuệ và vật chất cho xã hội Việc chăm sóc sức khỏe thể chất cho con người là trách nhiệm chung của toàn xã hội, bao gồm tất cả các cấp, ngành và đoàn thể.
Báo cáo về chất lượng và hiệu quả trong trường học khẳng định rằng giáo dục thể chất (GDTC) là yếu tố quan trọng để phát huy nguồn lực con người, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững Chương trình GDTC hiện nay được quy định bởi chỉ thị số 34/CT/TW của Ban bí thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác GDTC trong giai đoạn mới.
Việc thực hiện giáo dục thể chất (GDTC) trong các trường học nhằm biến việc tập luyện thể dục thể thao (TDTT) thành thói quen hàng ngày của học sinh, sinh viên là rất cần thiết Công tác TDTT được nhấn mạnh trong các văn bản pháp luật như Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và luật chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, thể hiện trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội Theo Điều 15 của pháp lệnh TDTT ngày 25/09/2002, Bộ GD&ĐT cần phối hợp với Ủy ban TDTT để xây dựng, chỉ đạo và thực hiện chương trình GDTC theo tiêu chuẩn, đồng thời đánh giá kết quả rèn luyện thể thao của học sinh và quy định hệ thống thi đấu TDTT trong trường học.
Chăm sóc sức khỏe và phát triển thể chất cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ hàng đầu được Đảng và Nhà nước quan tâm, đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Mục tiêu này không chỉ giúp giáo dục con người phát triển toàn diện mà còn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
1.2 Vai trò của GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất (GDTC) là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước, nhằm đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ GDTC trong trường học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền thể thao quốc gia, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và bồi dưỡng phẩm chất cho học sinh Ngoài ra, thể dục thể thao trong trường học còn là môi trường tiềm năng để phát hiện và phát triển tài năng thể thao, đồng thời thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của thể thao nước nhà.
Giáo dục thể chất, giống như các hình thức giáo dục khác, là một quá trình sư phạm có vai trò quan trọng của nhà sư phạm trong việc tổ chức hoạt động phù hợp với học sinh theo nguyên tắc sư phạm Nó được chia thành hai khía cạnh độc lập: dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục thể chất gắn liền với các lĩnh vực giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.
Công tác GDTC trong các trường học hiện nay
Trong những năm qua, công tác giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao trong trường học đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Việc thực hiện chương trình môn học thể dục bắt buộc và tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa tự nguyện cho học sinh đã được chú trọng, góp phần nâng cao sức khỏe và phát triển toàn diện cho học sinh.
Theo số liệu của Bộ, hiện nay hơn 87% trường phổ thông trên cả nước dạy đủ tiết thể dục chính khóa theo chương trình đổi mới từ năm học 2005 – 2006, tập trung vào việc trang bị kiến thức và kỹ năng vận động cho học sinh nhằm phát triển thể chất và hình thành nhân cách Chương trình bao gồm phần bắt buộc và tự chọn, với các hoạt động như điền kinh, bơi lội, cầu lông, bóng đá, và nhiều trò chơi vận động khác Từ năm học 2008 – 2009, việc đánh giá thể lực học sinh từ 6 đến 20 tuổi được quy định cụ thể với 6 bài tập và 3 mức xếp loại Đội ngũ giáo viên thể dục đã được tăng cường với hơn 23.000 người, chiếm 80% tổng số cán bộ chuyên ngành thể dục thể thao, đa số có trình độ Đại học và nhiều người là thạc sỹ, tiến sỹ.
Hình thức tổ chức và nội dung tập luyện thể dục thể thao (TDTT) của học sinh, sinh viên ngày càng đa dạng và đi vào nền nếp, đặc biệt là sự phát triển của các câu lạc bộ TDTT trong trường học với sự hướng dẫn chuyên nghiệp Các hoạt động ngoại khóa hiện nay đã lồng ghép nhiều môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian, góp phần vào phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã thu hút sự tham gia của cán bộ, giáo viên và học sinh, khuyến khích mọi người chọn môn thể thao hoặc hình thức rèn luyện thường xuyên để nâng cao sức khỏe Chương trình “Phổ cập bơi lặn cứu đuối phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em” cùng với các hoạt động thể thao cho học sinh khuyết tật và có hoàn cảnh khó khăn đã được nhiều địa phương hưởng ứng, tạo khí thế mới trong các trường học và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ.
Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc được tổ chức 4 năm một lần, cùng với nhiều giải thể thao học sinh phổ thông hàng năm, đã trở thành sân chơi bổ ích cho hàng triệu học sinh Sự kiện này không chỉ giúp rèn luyện thân thể và nâng cao sức khỏe mà còn tạo cơ hội để học sinh thể hiện tài năng Nhiều vận động viên xuất sắc đã trưởng thành từ các sân chơi này.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Trong quá trình phát triển, cơ thể con người trải qua nhiều biến đổi về hình thái, cấu trúc và chức năng sinh lý, chịu ảnh hưởng từ di truyền và môi trường sống Tập luyện thể dục thể thao mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, nếu được thực hiện phù hợp với sự phát triển của cơ thể Lứa tuổi 17 là giai đoạn cơ thể phát triển tương đối hoàn chỉnh, với sự tăng trưởng chiều cao mạnh mẽ ở lứa tuổi THCS và sự phát triển chiều ngang nổi bật ở lứa tuổi THPT.
1.4.1 Về mặt tâm lý: Ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là người lớn, đã đòi hỏi mọi người xung quanh tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn nên các em tiếp thu cái mới rất nhanh, nhưng cũng rất nhanh nhàm chán khi bị môi trường bên ngoài tác động tạo nên sự đánh giá cao về bản thân, trái lại chỉ thất bại một là là tạm thời tự ti, rụt rè và dễ bỏ cuộc Ở lứa tuổi này các em bắt đầu muốn tự lập và có quan hệ đặc biệt đến sự phát triển ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là lứa tuổi lãng mạn, có nhiều mơ ước độc đáo và mong cho tương lai tốt đẹp hơn.
Sự hưng phấn của trẻ em trong độ tuổi này thể hiện sự năng động và đa dạng, tuy nhiên cũng đi kèm với cảm giác mệt mỏi Các em thường tập trung vào những lĩnh vực tri thức yêu thích và có xu hướng bỏ qua những môn học không thu hút Do đó, trong công tác giáo dục thể chất, cần có sự uốn nắn, nhắc nhở và động viên để giúp các em hoàn thành tốt bài tập, đặc biệt khi các em tiếp thu chậm Việc này không chỉ giúp các em tránh cảm giác chán nản mà còn định hướng đúng đắn, nâng cao hiệu quả học tập và tăng cường sự tự tin trong quá trình học.
Hệ thần kinh phát triển, cải thiện khả năng tư duy, phân tích và trừu tượng hóa, giúp hình thành phản xạ có điều kiện nhanh chóng Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên, những bài tập đơn điệu, thiếu hấp dẫn có thể khiến trẻ mệt mỏi nhanh chóng Do đó, cần đa dạng hóa hình thức tập luyện để giữ cho trẻ luôn hứng thú.
Sự hoạt động mạnh mẽ của tuyến giáp, tuyến sinh dục và tuyến yên tạo ra sự hưng phấn cho hệ thần kinh, dẫn đến sự chiếm ưu thế của hưng phấn và ức chế, ảnh hưởng đến hoạt động thể chất.
Vòng ngực của học sinh THPT nam trung bình từ 67,30 – 72,22 cm và nữ từ 69,5 – 74,84 cm Diện tích tiếp xúc không khí của phổi đạt khoảng 100 – 120 m2, gần bằng lứa tuổi trưởng thành Thể tích phổi tăng nhanh, với thể tích khoảng 2 – 2,5 lít ở tuổi 15, và từ 3 – 4 lít ở độ tuổi 16 – 18, cho thấy khả năng hoạt động của phổi được cải thiện rõ rệt Ở lứa tuổi 12 – 14, thành phần khí thở ra chứa 17,6% oxy và 3,3% khí cacbonic, trong khi từ 16 – 18 tuổi, thành phần này thay đổi với 17,6% oxy và 4% khí cacbonic, cho thấy khả năng hấp thụ oxy và thải khí cacbonic cao hơn Tần số thở của học sinh THPT tương tự như người lớn, khoảng 10 – 20 lần/phút.
Nhịp thở yếu dẫn đến khả năng co giãn của lồng ngực hạn chế, khiến học sinh chủ yếu thở bằng bụng Để cải thiện chức năng hô hấp trong tập luyện thể thao, cần chú ý đến việc thở bằng ngực và thở sâu chậm Việc luyện tập các động tác phát triển cơ ngực, cơ lườn, cơ lưng và tham gia các môn thể thao như bơi lội, chạy cự ly trung bình, và chạy việt dã sẽ có tác động tích cực đến hệ hô hấp.
Hệ tuần hoàn ở lứa tuổi học sinh THPT đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện, với trọng lượng và sức chứa của tim đạt mức tương đối hoàn chỉnh Tim của nam giới đập khoảng mỗi phút, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của hệ tuần hoàn trong giai đoạn này.
Tần suất tim đập ở nam giới là 70 – 80 lần/phút và ở nữ giới là 75 – 85 lần/phút, cung cấp lượng máu tương đương với người trưởng thành Ở lứa tuổi THPT, phản ứng của hệ tuần hoàn trong hoạt động thể chất rất rõ rệt, với mạch đập và huyết áp hồi phục nhanh chóng sau khi vận động Do đó, thanh thiếu niên ở độ tuổi này có thể thực hiện các bài tập chạy dài sức và các bài tập với cường độ và khối lượng lớn hơn so với lứa tuổi THCS.
Tuyến sinh dục, tuyến giáp và tuyến yên hoạt động mạnh trong giai đoạn dậy thì, dẫn đến sự rối loạn trong điều phối của hệ thần kinh đối với nội tạng, gây ra hiện tượng cao huyết áp tạm thời Do đó, cần thận trọng khi thiết kế các bài tập có cường độ cao hoặc bài tập phát triển sức bền, nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển ở lứa tuổi THPT, với nữ cao thêm 0,5 – 1cm và nam từ 1 – 3cm mỗi năm Nếu không rèn luyện thể chất, nữ sau 20 tuổi và nam sau 25 tuổi sẽ không cao thêm nữa Tập luyện thể dục thể thao giúp xương phát triển chiều dài và chiều ngang Các xương nhỏ như cổ tay và bàn tay đã kết thành xương, cho phép các em thực hiện các động tác như trèo chống mà không gây tổn hại Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng vẫn dễ bị cong vẹo, do đó việc tập luyện tư thế chính xác là rất cần thiết Nữ sinh có xương xốp hơn, lỗ tủy rộng hơn, và bắp thịt nhỏ yếu hơn nam, nên thường không cao thêm sau 20 tuổi Xương chậu nữ lớn nhưng yếu hơn, dễ bị ảnh hưởng bởi chấn động, vì vậy cần có sự lựa chọn phù hợp trong việc tập luyện.
Trong quá trình phát triển cơ thể, các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương, với giai đoạn từ 13-15 tuổi ở nữ và 14-16 tuổi ở nam là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất Ở lứa tuổi THPT, cơ co vẫn còn yếu, trong khi các bắp cơ lớn như cơ đùi và cơ cánh tay phát triển nhanh hơn so với các cơ nhỏ như cơ bàn tay và ngón tay Cơ co phát triển sớm hơn cơ duỗi, đặc biệt là ở nữ, trong khi các cơ duỗi vẫn tương đối yếu Đến khoảng 16 tuổi, sự phát triển mạnh mẽ của tổ chức mỡ dưới da ở nữ có thể ảnh hưởng đến sức mạnh tổng thể của cơ thể.
Ở lứa tuổi học sinh THPT, việc tập trung vào các bài tập phát triển sức mạnh là rất quan trọng để tăng cường sự phát triển của các cơ Các bài tập nên bao gồm những động tác hỗn hợp kết hợp giữa treo và chống, nhằm phát triển đồng đều cả cơ co và cơ duỗi, đồng thời giảm thiểu sức chịu đựng của cơ khi tập luyện lâu dài Mỗi bài tập cần phải phù hợp với sức chịu đựng của cơ thể, đảm bảo rằng tất cả các cơ, từ cơ lớn đến cơ nhỏ như cơ bàn tay và bắp tay, đều được phát triển Đối với nữ, cần có những yêu cầu riêng biệt với tính chất hoạt động toàn diện, mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo, phù hợp với tâm lý yêu thích cái đẹp và sự mềm mại.
Đặc điểm môn cầu lông
Cầu lông, hay còn gọi là Vũ cầu, là môn thể thao sử dụng vợt thi đấu giữa hai vận động viên (đấu đơn) hoặc hai cặp vận động viên (đấu đôi) trên sân cầu hình chữ nhật, được phân cách bởi một tấm lưới Người chơi ghi điểm bằng cách đánh quả cầu qua lưới và để nó chạm đất trong phần sân của đối thủ Mỗi bên chỉ được phép chạm cầu một lần trước khi đưa sang sân đối phương Lượt cầu kết thúc khi quả cầu chạm đất hoặc có lỗi được trọng tài xác định; nếu không có trọng tài, người chơi sẽ tự quyết định lỗi trong quá trình thi đấu.
Quả cầu lông, được làm từ lông hoặc nhựa không dùng trong thi đấu, có những tính chất khí động học đặc trưng khiến cách bay và đường bay của nó khác biệt so với các quả bóng trong các môn thể thao dùng vợt khác Lông cầu tạo ra lực cản lớn, làm giảm tốc độ của quả cầu lông nhanh hơn nhiều so với bóng Mặc dù quả cầu lông có vận tốc cực đại cao, nhưng do trọng lượng nhẹ, nó dễ bị ảnh hưởng bởi gió, vì vậy các vận động viên thường thi đấu trong nhà Cầu lông có thể chơi ngoài trời, nhưng chủ yếu để vận động, thường diễn ra ở các khu vực như vườn, công viên hoặc bãi biển.
Kể từ năm 1992, cầu lông đã trở thành một môn thể thao Olympic với năm hạng mục thi đấu: đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ Môn thể thao này, đặc biệt ở cấp độ chuyên nghiệp, đòi hỏi vận động viên có thể lực tuyệt vời, bao gồm sự dẻo dai, nhanh nhẹn, sức khỏe tốt, tốc độ và độ chính xác Cầu lông cũng yêu cầu kỹ thuật cao, sự kết hợp tốt và khả năng thực hiện các di chuyển phức tạp với cây vợt.
Cầu lông có nguồn gốc từ giữa thế kỷ 18 tại British India, do một sĩ quan quân đội Anh sáng tạo Trò chơi này kết hợp giữa lưới và các yếu tố từ ball badminton và Hanetsuki Tại đơn vị quân đội ở Poona, cầu lông trở nên phổ biến và được gọi là Poona Năm 1867, luật chơi bắt đầu được ghi lại, với quả bóng len được ưa chuộng trong điều kiện thời tiết xấu, nhưng phần lớn người chơi thích sử dụng cầu lông Trò chơi sau đó được một sĩ quan về hưu mang về Anh, nơi nó được phát triển và hoàn thiện luật chơi.
Ngôi nhà Badminton House ở Gloucestershire, thuộc sở hữu của Duke of Beaufort, là nguồn gốc của tên gọi môn thể thao cầu lông, nhưng vẫn chưa rõ khi nào và tại sao tên này được chấp nhận rộng rãi Vào đầu năm 1860, Isaac Spratt đã xuất bản cuốn sách nhỏ "Badminton Battledore – a new game", nhưng không còn bản lưu nào tồn tại Một bài viết năm 1863 trong tạp chí The Cornhill Magazine mô tả cầu lông là trò chơi "battledore and shuttlecock" với đội chơi và sợi dây treo cao khoảng 5 feet Mặc dù có nhiều nghi ngờ về nguồn gốc từ Ấn Độ, trò chơi đã trở nên phổ biến tại đây vào thập niên 1870 và bộ luật đầu tiên được lập ra ở Poonah năm 1873 Vào năm 1877, tại Karachi, Ấn Độ, có những nỗ lực xây dựng bộ luật hoàn chỉnh Đến năm 1875, các cựu binh từ Ấn Độ đã thành lập một câu lạc bộ ở Folkestone, và đến năm 1887, môn thể thao này đã được chơi ở Anh theo các luật phổ biến ở British India Câu lạc bộ cầu lông xứ Bath đã tiêu chuẩn hóa bộ luật, phù hợp với tư tưởng của người Anh, và J.H.E Hart đã xem xét lại các thay đổi cơ bản vào năm 1887, cùng với Bagnel Wild vào năm 1890.
Năm 1893, Hiệp hội cầu lông Anh đã công bố bộ luật đầu tiên dựa trên những chỉnh sửa, tương tự như bộ luật hiện đại ngày nay, và tổ chức giải đấu cầu lông trong nhà chính thức đầu tiên tại địa điểm "Dunbar", số 6 Waverley Grove, Portsmouth, Anh vào ngày 13 tháng 9 cùng năm.
Hiệp hội cầu lông quốc tế, ban đầu lấy tên là International Badminton Federation (IBF) hiện nay đổi thành Badminton World Federation (BWF), được thành lập năm
Năm 1934, Canada, Đan Mạch, Anh, Pháp, Hà Lan, Ireland, New Zealand, Scotland và xứ Wales đã trở thành các thành viên sáng lập của BWF Ấn Độ gia nhập với tư cách là một chi nhánh vào năm 1936 Hiện nay, BWF quản lý tất cả các hoạt động cầu lông toàn cầu và tổ chức các giải đấu quốc tế.
Cầu lông hấp dẫn bởi sự cạnh tranh công bằng giữa nam và nữ trong hạng mục đôi nam nữ Giải đấu này lần đầu tiên xuất hiện tại Olympic Sydney 2000, đánh dấu bước tiến quan trọng trong thể thao.
Hơn một thế kỷ sau khi cầu lông được giới thiệu ra toàn cầu, nước Anh đã giành được huy chương đồng ở nội dung đôi nam nữ với sự tham gia của Simon Archer và Jo Goode.
Cầu lông, mặc dù có nguồn gốc từ Anh, nhưng các vận động viên hàng đầu ở châu Âu chủ yếu đến từ Đan Mạch Trong khi đó, châu Á lại chiếm ưu thế với các quốc gia như Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc và Malaysia, trong đó Trung Quốc hiện đang dẫn đầu trong môn thể thao này Kỹ thuật động tác là yếu tố quan trọng khi bắt đầu luyện tập cầu lông.
Kỹ thuật cầu lông đóng vai trò quan trọng trong quá trình tập luyện, từ những bước cơ bản đến nâng cao Có nhiều kỹ thuật cầu lông cần được nắm vững, bao gồm kỹ thuật giao cầu thấp tay, giao cầu cao tay, đánh cầu cao sâu thuận tay, đánh cầu cao sâu trái tay, đập cầu và bỏ nhỏ Việc học và luyện tập những kỹ thuật này giúp người chơi phát triển kỹ năng và sự khéo léo trong môn cầu lông.
Kỹ thuật cơ bản trong cầu lông rất phong phú, bao gồm các bước di chuyển chân và động tác đánh cầu tay Sự phối hợp hài hòa giữa chân và tay là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả mỗi lần đánh cầu Để luyện tập và thi đấu cầu lông hiệu quả, người chơi cần hoàn thiện các bài tập kỹ thuật, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho việc áp dụng chiến thuật thi đấu hợp lý.
Bài tập bổ trợ được định nghĩa bởi nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép, Harre, Nguyễn Văn Trạch và Lê Văn Lẫm là phương tiện giảng dạy và huấn luyện thể thao, bao gồm các bài tập chuẩn bị, dẫn dắt, chuyển đổi và tăng cường tố chất thể lực Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập đặc thù cho từng môn thể thao và kỹ thuật riêng, nhằm phối hợp các yếu tố động tác thi đấu và biến thể của chúng Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đồng quan điểm rằng bài tập bổ trợ chuyên môn giúp nâng cao kỹ năng và phát triển tố chất thể lực của vận động viên trong chính môn thể thao đó.
Các khái niệm của tác giả, dù khác nhau về cách trình bày và ngôn ngữ, đều đồng nhất về nội dung Bài tập bổ trợ chuyên môn có thể được hiểu là những bài tập chuẩn bị, dẫn dắt, chuyển đổi và nâng cao thể lực chuyên biệt, nhằm giúp vận động viên nắm vững và hoàn thiện kỹ thuật cho từng môn thể thao cụ thể.
Sân thi đấu tennis hình chữ nhật được chia đôi bởi một tấm lưới, với các vạch kẻ cho cả nội dung thi đấu đơn và đôi Dù bộ luật tiêu chuẩn chỉ yêu cầu kẻ vạch cho một nội dung, sân đánh đôi có diện tích rộng hơn so với sân đánh đơn, mặc dù chiều dài của cả hai sân là giống nhau Sự khác biệt chính, có thể gây nhầm lẫn cho người mới chơi, là phạm vi phát cầu trong nội dung đánh đôi ngắn hơn.
Quá trình phát triển môn cầu lông trên thế giới
Với sự phát triển nhanh chóng của môn cầu lông, vào năm 1874, luật thi đấu đầu tiên đã được biên soạn tại Anh Đến năm 1877, những quy định này được hoàn thiện và giới thiệu đến người chơi Năm 1893, Hội cầu lông nước Anh ra đời, trở thành tổ chức xã hội đầu tiên của môn thể thao này trên thế giới, nhằm quản lý và tổ chức phong trào cầu lông Đến năm 1899, hội đã tổ chức Giải cầu lông toàn nước Anh lần thứ nhất, và từ đó, giải đấu này được tổ chức hàng năm cho đến ngày nay.
Cầu lông đã được phổ biến rộng rãi từ cuối thế kỷ XIX, bắt đầu từ nước Anh và lan sang các nước trong khối liên hiệp Anh, Pháp và nhiều nước châu Âu khác Đến đầu thế kỷ XX, môn thể thao này đã có mặt tại châu Á, châu Mỹ, châu Đại Dương và cuối cùng là châu Phi Để quản lý môn thể thao này, Liên đoàn cầu lông thế giới (IBF) được thành lập vào ngày 5/7/1934 tại Luân Đôn Năm 1939, IBF đã thông qua luật thi đấu cầu lông quốc tế, yêu cầu tất cả các quốc gia hội viên phải tuân thủ.
Từ những năm 20 đến 40 của thế kỷ XX, cầu lông phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và châu Mỹ, đặc biệt là tại Anh, Đan Mạch, Mỹ và Canada Tuy nhiên, từ cuối thập kỷ 40 trở đi, các nước châu Á đã chiếm ưu thế, với vận động viên từ Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan và gần đây là Hàn Quốc dần giành được thứ hạng cao trong các giải đấu lớn.
Năm 1988, cầu lông lần đầu tiên được giới thiệu trong chương trình biểu diễn tại Olympic Seoul, Hàn Quốc Đến năm 1992, môn thể thao này chính thức trở thành một phần thi đấu tại Đại hội thể thao Olympic ở Barcelona, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lịch sử thể thao toàn cầu.
* Một số giải thi đấu cầu lông của thế giới:
Cho đến nay Liên đoàn cầu lông thế giới vẫn thường xuyên tổ chức theo định kỳ một số giải thi đấu quốc tế lớn như sau.
Cúp Thomas là Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam thế giới, được thành lập vào năm 1939 nhờ sự hiến tặng của Công tước Thomas, Chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn Cầu lông Cúp có chiều cao 71cm, được làm bằng bạc và có giá trị khoảng 3000 bảng Anh vào thời điểm đó Do ảnh hưởng của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, giải đấu đầu tiên chỉ được tổ chức vào năm 1948.
Cúp này trước đây được qui định 3 năm tổ chức 1 lần, hiện nay đổi lại 2 năm tổ chức
1 lần và tổ chức vào giữa 2 năm Nội dung gồm đánh đơn 3 trận và đánh đôi 2 trận.
Cup Uber là do một nữ VĐV cầu lông ưu tú của nước Anh tên là Uber tặng, cúp này bắt đầu tổ chức thi đấu từ năm 1956
Phương pháp thi đấu cơ bản giống thi đấu Cup Thomas
- Giải cầu lông vô địch thế giới
Giải cầu lông Thế giới là một sự kiện thể thao lớn, bao gồm 5 nội dung thi đấu: đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ hỗn hợp Giải đấu này được khởi xướng từ năm 1977 và được tổ chức định kỳ 3 năm một lần.
Từ năm 1983, giải đấu được tổ chức hai năm một lần vào các năm lẻ Đây là một sự đổi mới, trong đó các vận động viên được mời tham gia là những người có thành tích xuất sắc trong năm và được Liên đoàn cầu lông thế giới mời trực tiếp.
Cúp Xudiman là giải đấu cầu lông đồng đội hỗn hợp quốc tế, ra đời từ năm 1980 và được tổ chức hai năm một lần vào các năm lẻ Giải đấu bao gồm năm nội dung thi đấu: đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ hỗn hợp.
Quá trình phát triển môn cầu lông Việt Nam
Cầu lông được du nhập vào Việt Nam qua hai con đường chính: thực dân hóa và Việt kiều trở về Môn thể thao này xuất hiện muộn hơn so với nhiều môn khác, chỉ đến năm 1960 mới có vài câu lạc bộ được thành lập tại các thành phố lớn như Hà Nội và Sài Gòn Đặc biệt, vào năm 1961, Hà Nội đã tổ chức giải đấu giao hữu đầu tiên tại vườn Bách Thảo, đánh dấu bước phát triển quan trọng của cầu lông tại Việt Nam.
Hà Nội, mặc dù số người tham gia cầu lông còn ít và trình độ chuyên môn thấp, nhưng sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, phong trào tập luyện cầu lông đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng Từ năm 1977 đến 1980, phong trào chủ yếu nở rộ ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, An Giang, Bắc Ninh và Lai Châu Để định hướng phát triển phong trào, vào năm 1977, UB TDTT đã thành lập Bộ môn cầu lông, đồng thời Trường đại học TDTT cũng chính thức đưa môn cầu lông vào chương trình đào tạo, nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho các huấn luyện viên, giáo viên và trọng tài trên toàn quốc.
Năm 1980, Giải vô địch cầu lông toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của cầu lông Việt Nam Từ đó, giải đấu được tổ chức hàng năm tại các địa phương trên toàn quốc, góp phần nâng cao phong trào thể thao Ngoài giải vô địch toàn quốc, Ủy ban Thể dục Thể thao còn tổ chức nhiều giải đấu khác như Giải vô địch trẻ và thiếu niên, giải cho người cao tuổi, giải học sinh và giải sinh viên, tất cả đều được đưa vào chương trình thi đấu chính thức trong Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc và Hội khỏe Phù Đổng.
Ngày 14 tháng 8 năm 1990 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam được thành lập để phối hợp với bộ môn cầu lông của UB TDTT lãnh đạo môn thể thao này theo hướng chiến lược phát triển phong trào và thành tích thể thao đỉnh cao, phấn đấu trong những năm tới vị trí xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.
* Tên viết tắc của liên đoàn Cầu lông Việt Nam (VBF)
Năm 1993 Liên đoàn cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn cầu lông châu Á (ABC)
Năm 1994, Liên đoàn cầu lông Việt Nam chính thức gia nhập Liên đoàn Cầu lông thế giới (IBF), đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của môn cầu lông tại Việt Nam Sự kiện này đã tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển cầu lông Việt Nam theo xu hướng hội nhập khu vực và toàn cầu.
Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Thể dục Thể thao, Liên đoàn Cầu lông Việt Nam đã cử những tay vợt xuất sắc đại diện cho quốc gia tham gia Đại hội Thể thao Đông Nam Á (Sea Games).
Tại các kỳ SEA Games 17 ở Malaysia, 18 ở Thái Lan và 19 ở Indonesia, đoàn thể thao Việt Nam chưa giành được huy chương nào Tuy nhiên, những năm gần đây, các vận động viên trẻ của chúng ta đã có sự tiến bộ rõ rệt.
Việt Nam đã tổ chức nhiều giải đấu cầu lông trong nước và khu vực, nổi bật là giải cầu lông giao hữu Việt Nam - Nhật Bản, giải cầu lông Challenge Hà Nội - Ciputra 2011, và giải cầu lông Singapore mở rộng.
Logo Liên Đoàn cầu lông
đồng đội toàn quốc 2011 - Cúp ProAce lần thứ 10 Giải đồng đội cầu lông quốc tế khu vực châu Á
Trước tình hình mới của ngành thể dục thể thao, các chuyên gia đã xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho môn cầu lông, với mục tiêu chuẩn bị cho SEA Games 22 tại Việt Nam vào năm 2003 Để đạt thành tích cao trong khu vực và thế giới, cầu lông Việt Nam cần đổi mới quy trình đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ huấn luyện viên theo hướng chuyên môn hóa, đồng thời chuyển dần việc đào tạo vận động viên theo hướng chuyên nghiệp hóa.
33
Mục đích nghiên cứu
Dựa trên nghiên cứu lý luận và thực trạng môn cầu lông tại trường THPT Nguyễn Trãi, bài viết đề xuất một số bài tập nhằm khắc phục sai lầm trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay Mục tiêu là nâng cao chất lượng học tập và phát triển phong trào môn cầu lông cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1 tập trung vào việc đánh giá thực trạng giảng dạy bộ môn cầu lông tại trường THPT Nguyễn Trãi, đồng thời chỉ ra những sai lầm phổ biến mà học sinh thường gặp phải trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay Việc này nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao kỹ năng chơi cầu lông cho học sinh.
Nhiệm vụ 2 yêu cầu lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả của một số bài tập nhằm sửa chữa những sai lầm thường gặp trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay trong môn cầu lông Hoạt động này được thực hiện cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi để nâng cao kỹ năng và cải thiện phương pháp chơi cầu lông.
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, tôi sẽ chọn lựa sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu khoa học Đây là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu, nhằm tiếp thu các nguồn thông tin khoa học có trong các tài liệu đã được công bố Bằng phương pháp này, chúng tôi đã thu thập, phân tích, được nhiều tài liệu, các văn kiện nghị quyết của Đảng và nhà nước có liên quan đến vấn đề giáo dục thể chất, phát triển phong trào TDTT, tài liệu có liên quan đến môn cầu lông trong các trường học Xác định được hiện trạng chương trình GDTC ở cấp phổ thông trung học, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển phong trào TDTT trong nhà trường… để từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu thích hợp Qua đánh giá ưu điểm, tồn tại những vấn đề chưa phù hợp của chương trình giáo dục thể chất hiện hành Từ đó, định ra được hiệu quả của GDTC đối với việc nâng cao sức khoẻ, hoàn thiện thể chất và phát huy tài năng thể thao trong học sinh.
2.3.2 Phương pháp quan sát Sư phạm
Quan sát sư phạm là một phương pháp nghiên cứu quan trọng, trong đó các nhà nghiên cứu trực tiếp tiếp cận đối tượng nghiên cứu Trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào việc quan sát hình thức, nội dung và phương pháp tổ chức các hoạt động giảng dạy và tập luyện.
Quan sát các buổi học nhằm đánh giá lượng vận động trong buổi học thể dục trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng.
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp để thu thập thông tin liên quan đến mục đích nghiên cứu Cụ thể, chúng tôi đã phỏng vấn các thầy cô giáo dạy bộ môn thể dục tại trường THPT Nguyễn Trãi, các giảng viên thuộc trung tâm Giáo dục thể chất Đại học Đà Nẵng, cũng như các học sinh của trường THPT Nguyễn Trãi để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu.
Phỏng vấn gián tiếp có mục đích thu thập thông tin cần thiết cho nghiên cứu Nội dung phỏng vấn bao gồm các câu hỏi liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phỏng vấn trực tiếp là một phương pháp nghiên cứu hiệu quả, trong đó người nghiên cứu sử dụng hệ thống câu hỏi để trao đổi trực tiếp với đối tượng phỏng vấn Mục tiêu của phương pháp này là tìm hiểu một cách sâu sắc và rõ ràng hơn về vấn đề cần nghiên cứu.
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm Để kiểm nghiệm, đánh giá tính hiệu quả của bài tập ứng dụng, tiến hành kiểm tra ban đầu, làm cơ sở để phân nhóm tập luyện trong thời gian 6 tuần.
- Nhóm đối chứng (A): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh tập theo các bài tập thường được sử dụng trong giảng dạy
- Nhóm thực nghiệm (B): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh và cho tập luyện theo bài tập đã lựa chọn
2.3.5 Phương pháp toán học thống kê
- Sử dụng phương pháp toán học thống để xử lý số liệu thu được;
- Tính toán các tham số:
* Số trung bình ( X ): là tổng lượng trị số các cá thể với tổng số cá thể của tập hợp mẫu
Trong đó: n: tổng số đối tượng quan sát x i : giá trị từng đối tượng quan sát
: là ký hiệu tổng cộng
* Phương sai ( 2 ) : là tổng độ lệch phương của các giá trị so với số trung bình
Cách đánh giá: - C V 10%: các số liệu phân bổ phân tán quanh số trung bình
Trong đó: W%: nhịp độ phát triển
X 1 : thành tích kiểm tra lần 1
X 2 : thành tích kiểm tra lần 2
* Chỉ số so sánh T student :dùng để so sánh hai số trung bình
Trong đó: X A , 2 A : giá trị trung bình và phương sai của nhóm A
X B , 2 B : giá trị trung bình và phương sai của nhóm B n : Tổng số cá thể được quan sát tương ứng
T student sẽ được so sánh với T bang (1,96)
+ T student < T bang (1,96) thì hai số so sánh khác biệt không có giá trị thống kê với xác xuất P 5% ;
+ T student > T bang (1,96) thì hai số so sánh khác biệt là có giá trịthống kê với xác xuất P 5%
Tổ chức nghiên cứu
- Các em học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Trãi,Tp Đà Nẵng
- Số lượng nghiên cứu gồm 60 học sinh lớp 11/6 và 11/10:
+ Nhóm đối chứng: 30 học sinh
+ Nhóm thực nghiệm: 30 học sinh
-Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng.
- Trung tâm Giáo dục thể chất - Đại học Đà Nẵng.
- Trường THPT Nguyễn Trãi, TP Đà Nẵng
2.4.3 Thời gian nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014; được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014:
Để nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực thể dục thể thao, cần tham khảo các tài liệu quan trọng như văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, cũng như các tạp chí khoa học chuyên ngành và sách chuyên môn Ngoài ra, việc xem xét các đề tài của các tác giả trước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn.
+ Tham khảo ý kiến của các thầy cô để lựa chọn đề tài cho phù hợp.
+ Lập đề cương nghiên cứu.
+ Thông qua đề cương nghiên cứu.
+ Chuẩn bị biểu mẫu, phiếu hỏi và các phương tiện phục vụ việc nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014:
+ Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 3 năm 2014: giải quyết nhiệm vụ 1.
+ Từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014: giải quyết nhiệm vụ 2.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014:
+ Tổng hợp phân tích các số liệu nghiên cứu và viết đề tài hoàn chỉnh.
+ Hoàn chỉnh và báo cáo đề tài nghiên cứu.
- Máy ghi âm; ghi hình; chụp ảnh;
- Sân bãi, vợt cầu lông và trái cầu lông;
- Các dụng cụ hỗ trợ khác.
38
Thực trạng về công tác giảng dạy bộ môn cầu lông
Để nắm được chương trình môn học GDTC của trường THPT Nguyễn Trãi – TP Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành điều tra và thu được kết quả:
Bảng 3.1: Nội dung chương trình học môn GDTC của trường THPT Nguyễn
Kết quả điều tra mức độ hứng thú học các môn thể thao tự chọn GDTC của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi Đà Nẵng
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn mức độ hứng thú tập luyện các môn thể thao tự chọn của học sinh khối 11, trường THPT Nguyễn Trái Đà Nẵng
TT Môn thể thao Số học sinh đồng ý Tỷ lệ
Kết quả phỏng vấn từ bảng 3.2 cho thấy rằng trong số các môn thể thao tự chọn, Cầu lông là môn được học sinh lựa chọn nhiều nhất với tỷ lệ trung bình.
Dựa trên các số liệu thu thập được, có thể thấy rằng việc giảng dạy môn Cầu lông tại trường THPT Nguyễn Trãi đã nhận được sự quan tâm và khuyến khích đáng kể Môn học này không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng cơ bản, mà còn góp phần xây dựng phong trào thi đua trong các kỳ đại hội thể dục thể thao ở trường và địa phương.
Bộ môn cầu lông, mặc dù không thuộc chương trình học giáo dục thể chất bắt buộc, đã trở nên phổ biến và trở thành nhu cầu thiết yếu trong hoạt động thể dục thể thao Môn thể thao này không chỉ giúp học sinh nâng cao sức khỏe mà còn hỗ trợ sự phát triển toàn diện của các em.
Trong mỗi năm học, số tiết tự chọn cho các môn thể thao chỉ có 20 tiết, chia đều cho 2 kỳ, mỗi kỳ 10 tiết, điều này không đủ để đáp ứng nhu cầu tập luyện của học sinh Với thời gian hạn chế như vậy, giáo viên chỉ có thể giới thiệu động tác mà không thể hình thành kỹ năng cho học sinh Việc chỉ có 02 tiết học thể dục mỗi tuần không đủ để phát triển các môn thể thao, đặc biệt là cầu lông, đồng thời không đáp ứng nhu cầu tập luyện của học sinh và không tạo điều kiện tốt cho sự phát triển toàn diện về thể chất Do đó, cần tăng cường số tiết học chính khóa cho môn thể thao tự chọn, nhằm giúp học sinh nắm bắt kiến thức chuyên môn và hình thành kỹ năng, từ đó phát huy năng khiếu và ý nghĩa của việc đưa môn thể thao tự chọn vào chương trình giáo dục thể chất.
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và tập luyện môn cầu lông trong trường THPT Nguyễn Trãi TP Đà Nẵng
Bảng 3.3 : Thực trạng cơ sở vật chất trong trường THPT Nguyễn Trãi , Đà Nẵng
Sân học tập và tập luyện thể thao
Chất lượng Hiệu quả sử dụng
Tốt Trung bình Kém Tốt Không tốt
Trường THPT Nguyễn Trãi tại Đà Nẵng đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho môn cầu lông, với 04 sân đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên, cần nâng cấp nền và thực hiện vệ sinh hàng ngày để đảm bảo an toàn cho học sinh trong quá trình học tập và luyện tập.
Nhu cầu tập luyện và hoạt động phong trào bộ môn cầu lông của học sinh trường
Bảng 3.4: Nhu cầu tập luyện và hoạt động phong trào bộ môn cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng năm học 2013-2014.
Yêu thích Tập luyện Thi đấu cấp tích thành phố
Phong trào cầu lông tại TP Đà Nẵng đang phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên tại trường THPT Nguyễn Trãi, số lượng học sinh tham gia tập luyện và thi đấu vẫn còn hạn chế Dù có nhiều học sinh yêu thích môn cầu lông, nhưng do cơ sở vật chất chưa đảm bảo và thời gian cũng như nội dung tập luyện chưa hợp lý, nhiều em đã không tham gia.
Thực trạng học sinh trường THPT học tập và thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay bộ môn cầu lông
Bảng 3.5: Thực trạng học sinh trường THPT Nguyễn Trãi học tập và thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu
Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu
Theo thống kê, tỷ lệ học sinh thực hiện kỹ thuật đánh cầu lông thuận tay đạt yêu cầu rất thấp Việc tập luyện và học tập môn cầu lông tại trường THPT Nguyễn Trãi chưa được cải thiện, trong khi giáo viên chưa chuyên sâu về kỹ thuật, dẫn đến học sinh không nắm rõ các chi tiết kỹ thuật và thực hiện sai động tác đã học.
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện kỹ thuật cầu lông của học sinh trường
3.1.5.1 Nhận thức của học sinh
Trong giáo dục thể chất, nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tính tự giác tích cực của học sinh Để nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, việc bồi dưỡng nhận thức của người học cần được chú trọng Nhu cầu vui chơi, giải trí, giao lưu, kết bạn và cải thiện vẻ đẹp hình thể của học sinh xuất phát từ nhận thức về môn thể thao mà các em lựa chọn Để phát triển phong trào tập luyện và thi đấu cầu lông cho học sinh, cần thực hiện các hoạt động giáo dục phù hợp.
Những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Cơ sở vật chất trong tập luyện và thi đấu cầu lông đóng vai trò quan trọng, vì nếu đáp ứng tốt nhu cầu của học sinh, sẽ kích thích hứng thú và thúc đẩy phong trào phát triển Ngược lại, sân bãi không đủ và không đảm bảo chất lượng sẽ gây khó khăn cho học sinh, làm giảm hứng thú và đam mê tập luyện.
3.1.5.3 Số lượng và trình độ của giáo viên chuyên môn cầu lông Để phát triển phong trào TDTT nói chung và phong trào cầu lông nói riêng thì đội ngũ giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức tập luyện và thi đấu Đội ngũ giáo viên chuyên môn là lực lượng cốt cán thúc đẩy sự phát triển của phong trào Việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện các kỹ năng của các em phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của giáo viên Nếu giáo viên có chuyên môn cao và phương pháp giảng dạy và huấn luyện tốt thì người tập sẽ nhanh chóng hình thành kỹ năng, kỹ xảo và nâng cao thành tích tập luyện, thi đấu cho học sinh.
3.1.6 Những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Qua việc phân tích và tổng hợp tài liệu, cùng với phỏng vấn các thầy cô và chuyên gia có kinh nghiệm trong giảng dạy cầu lông, cũng như quan sát thực tế tại các lớp 11/4, 11/6, 11/8, 11/10 trường THPT Nguyễn Trãi, TP Đà Nẵng, chúng tôi đã xác định được những sai lầm phổ biến trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay Đồng thời, chúng tôi cũng làm rõ nguyên nhân dẫn đến những sai lầm này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn cầu lông.
Kết quả từ phương pháp quan sát sư phạm cho thấy đây là cách hiệu quả để nhận diện những sai lầm cơ bản của học sinh Trong quá trình thực hành, chúng tôi đã theo dõi sát sao từng kỹ thuật động tác của người tập Qua việc quan sát nhiều buổi tập trong thời gian dài và tham khảo tài liệu liên quan, chúng tôi đã xác định được 7 sai lầm phổ biến mà người tập thường gặp phải.
1 Điểm tiếp xúc cầu với mặt vợt
2 Khả năng phối hợp lực khi đánh cầu
3 Cánh tay không thẳng khi thực hiện động tác
5 Chọn điểm rơi cầu không chính xác
6 Khả năng phối hợp các bước khi thực hiện
7 Cách cầm vợt không chính xác Với 7 sai lầm mà người tập thường mắc phải sau khi quan sát lần thứ nhất các giờ học của các lớp 11/4,11/6,11/8,11/10 trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng, chúng tôi đã xác định được những sai lầm mà người tập thường mắc phải nhất
Bảng 3.6 Kết quả quan sát sư phạm lần 1 (Tính theo tỷ lệ %, n0)
Kết quả ở trên cho ta thấy:
- Ở sai lầm 1 có 130 người tập mắc phải chiếm tỷ lệ 87%
- Ở sai lầm 2 có 140 người tập mắc phải 93%
- Ở sai lầm 3 có 100 người tập mắc phải 67%
- Ở sai lầm 4 có 95 người tập mắc phải 63%
- Ở sai lầm 5 có 50 người tập mắc phải 33%
- Ở sai lầm 6 có 135 người tập mắc phải 90%
- Ở sai lầm 7 có 127 người tập mắc phải 85%
Chúng tôi đã tiến hành quan sát lần thứ hai các giờ học của các lớp 11/4, 11/6, 11/8 và 11/10 tại trường THPT Nguyễn Trãi - Tp Đà Nẵng, từ đó xác định những sai lầm phổ biến mà người học thường gặp phải.
Bảng 3.7 Kết quả quan sát sư phạm lần 2 (Tính theo tỷ lệ %, n0)
Kết quả ở trên cho ta thấy:
- Ở sai lầm 1 có 128 người tập mắc phải chiếm tỷ lệ 85%
- Ở sai lầm 2 có 135 người tập mắc phải 90%
- Ở sai lầm 3 có 120 người tập mắc phải 80%
- Ở sai lầm 4 có 100 người tập mắc phải 67%
- Ở sai lầm 5 có 45 người tập mắc phải 30%
- Ở sai lầm 6 có 140 người tập mắc phải 93%
- Ở sai lầm 7 có 125 người tập mắc phải 83%.
Bảng 3.8 So sánh kết quả của 2 lần quan sát sư phạm
Kết quả từ hai lần quan sát cho thấy có sự trùng lặp đáng kể, với các sai lầm 1, 2, 3, 4, 6 và 7 chiếm tỷ lệ cao hơn trong số những người mắc phải.
Kết quả phỏng vấn các giáo viên tại các trường THPT Nguyễn Trãi, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thượng Hiền và Thái Phiên ở thành phố Đà Nẵng đã được tiến hành nhằm đảm bảo tính khách quan Thông tin chi tiết về kết quả phỏng vấn được trình bày trong bảng.
Bảng 3.9 Kết quả phương pháp phỏng vấn (Tính theo tỷ lệ %, n )
Kết quả ở bảng trên cho ta thấy:
- Ở sai lầm 1 có 17/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 85%
- Ở sai lầm 2 có 20/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 100%
- Ở sai lầm 3 có 15/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 75%
- Ở sai lầm 4 có 15/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 75%
- Ở sai lầm 5 có 7/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 35%
- Ở sai lầm 6 có 18/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 90%
- Ở sai lầm 1 có 17/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 85%
Qua phương pháp phỏng vấn chúng tôi thấy các sai lầm 1,2,3,4,6,7 chiếm tỷ lệ cao hơn, còn sai lầm 5 chiếm tỷ lệ ít hơn.
Bằng phương pháp sư phạm và phỏng vấn, chúng tôi đã xác định được 7 sai lầm cơ bản trong giảng dạy Qua quan sát và phỏng vấn giáo viên tại các trường THPT, chúng tôi nhận thấy rằng các sai lầm 1, 2, 3, 4, 6, và 7 xuất hiện với tỷ lệ cao hơn, trong khi sai lầm 5 có tỷ lệ thấp hơn Điều này cho thấy các sai lầm 1, 2, 3, 4, 6, và 7 là những lỗi phổ biến mà người tập thường gặp Để khắc phục và sửa chữa những sai lầm này, cần tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chúng và áp dụng các biện pháp phù hợp.
Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong khi thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Dựa trên những cơ sở lý luận đã nêu, bài viết sử dụng phương pháp quan sát sư phạm và phỏng vấn thực tế trong quá trình thực tập giảng dạy tại trường THPT Nguyễn Trãi.
Tp Đà Nẵng, mà chúng tôi đã tìm ra được nguyên nhân dẫn đến 7 sai lầm thường mắc của học sinh.
Trong quá trình chơi cầu lông, có một số sai lầm phổ biến mà người chơi thường mắc phải Sai lầm đầu tiên là không xác định đúng điểm tiếp xúc cầu với mặt vợt, điều này ảnh hưởng đến độ chính xác của cú đánh Sai lầm thứ hai liên quan đến khả năng phối hợp lực khi đánh cầu, khiến cú đánh không đạt được sức mạnh tối ưu Thứ ba, cánh tay không thẳng khi thực hiện động tác có thể làm giảm hiệu suất và kiểm soát cú đánh Cuối cùng, điểm đặt chân trụ cũng rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến sự ổn định và khả năng di chuyển trên sân.
Sai lầm 5: Chọn điểm rơi cầu không chính xácSai lầm 6: Khả năng phối hợp các bước khi thực hiệnSai lầm 7: Cách cầm vợt không chính xác
- Khái niệm về kỹ thuật không chính xác
- Mắt không quan sát kỹ khi đánh cầu lông
- Cảm giác cơ bắp và phối hợp toàn thân không tốt
- Quá căng thẳng khi thực hiện
- Sức mạnh cơ tay còn yếu
Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường
sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi.
3.2.1 Lựa chọn, ứng dụng các bài tập
3.2.1.1 Cơ sở lựa chọn bài tập
Việc áp dụng các bài tập phát triển chung và chuyên môn như bài tập phát cầu, di chuyển, cầm vợt, cùng với các bài tập thể lực và bổ trợ, tạo nền tảng vững chắc cho việc hoàn thiện kỹ thuật phức tạp trong quá trình tập luyện, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn trong bộ môn cầu lông.
Dựa trên nguyên tắc chung của giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, việc hình thành kỹ năng vận động đánh cầu cần tuân thủ các nguyên tắc cụ thể để thiết kế bài tập hiệu quả.
- Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa
- Nguyên tắc tăng dần yêu cầu
- Nguyên tắc nâng cao sức khỏe
Khi đánh giá nội dung bài tập từ góc độ sư phạm, cần chú trọng đến tác dụng tổng hợp của các bài tập trong việc phát triển năng lực vận động và khéo léo của cơ thể Các bài tập được lựa chọn phải nhằm hoàn thiện kỹ thuật và phát triển thể lực cho người chơi cầu lông, từ đó tạo nền tảng để sửa chữa những sai lầm thường gặp trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay và nâng cao trình độ kỹ thuật ở mức độ cao hơn.
Dựa trên điều kiện thực tế, lý luận, tài liệu tham khảo, và kiến thức lý thuyết cũng như thực tập tại trường THPT Nguyên Trãi, bài viết này sẽ đề xuất một số bài tập nhằm sửa chữa những sai lầm phổ biến trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay trong môn cầu lông, theo hai phương pháp cơ bản.
Phương pháp trực quan giúp học sinh tiếp cận kiến thức thông qua việc quan sát các động tác mẫu của giáo viên hoặc vận động viên chuyên nghiệp Học sinh có thể xem video, hình ảnh để hiểu rõ hơn về kỹ thuật và động tác cần thực hiện.
Phương pháp giảng giải bao gồm việc phân tích và thị phạm lại toàn bộ kỹ thuật chi tiết ở từng giai đoạn, giúp học sinh nắm vững và xây dựng biểu tượng kỹ thuật cùng động tác chính xác Để đảm bảo độ tin cậy và khách quan cho bài tập, chúng tôi đã phỏng vấn 20 giáo viên trường THPT, với số phiếu phát ra và thu về đều là 20.
Bảng 3.10 Kết quả phỏng vấn để lựa chọn các bài tập
TT TÊN BÀI TẬP Tỷ lệ đánh giá (%)
1 Tay cầm vợt xoay vợt hình số 8 30 45 25
3 Bật nhảy hình chữ thập 100
4 Tay tập kéo dây thun 60 40
5 Treo trái cầu trên không đứng tại chỗ thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu 80 20
6 Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ không có vợt 85 15
7 Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ có vợt 70 30
8 Di chuyển thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu có vợt 60 40
II Bài tập kỹ thuật
1 Một người giao cầu và một người thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lưới và đổi lại 80 20
2 Hai người cách cự ly 10m thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lại 90 10
3 Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào ô vuông đã quy định 75 20 5
4 Vừa di chuyển lên xuống, trái, phải thực hiện kỹ thuật động tác đánh cầu cao sâu 100
5 Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào nhiều vị trí trên sân 45 55
Dựa vào kết quả phỏng vấn thì chúng tôi tìm ra được:
8 bài tập bổ trợ cho kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay là:
Tay cầm vợt xoay vợt hình số 8.
Bật nhảy hình chữ thập.
Tay tập kéo dây thun
Treo trái cầu trên không đứng tại chỗ thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu
Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ không có vợt
Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ có vợt
Di chuyển thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu có vợt
5 bài tập kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay:
Một người giao cầu và một người thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lưới và đổi lại.
Hai người cách cự ly 10m thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lại.
Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào ô vuông đã quy định.
Vừa di chuyển lên xuống, trái, phải thực hiện kỹ thuật động tác đánh cầu cao sâu.
Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào nhiều vị trí trên sân.
3.2.1.3 Ứng dụng bài tập đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông:
Trong giai đoạn chuẩn bị, việc phán đoán chính xác hướng và điểm rơi của cầu từ đối phương là rất quan trọng Người chơi cần nghiêng người lùi lại, đảm bảo cầu ở vị trí phía trên lệch về phía vai phải Vai trái nên đối diện với lưới, chân trái ở phía trước và chân phải ở phía sau, với trọng tâm dồn vào chân phải Tay trái co khuỷu và giơ lên tự nhiên, trong khi tay phải cầm vợt, cánh tay co khuỷu cũng ở vị trí tự nhiên, đưa vợt lên phía trên vai phải, đồng thời hai mắt luôn chú ý nhìn theo cầu.
Giai đoạn đánh cầu bắt đầu với động tác chuẩn bị, trong đó cánh tay phải đưa ra sau và khuỷu tay nâng cao hơn vai để đưa vợt ra sau đầu Cổ tay duỗi tự nhiên với lòng bàn tay hướng lên Tiếp theo, phối hợp nhịp nhàng giữa sức mạnh chân, quay người, hóp bụng, và lấy vai làm trục, cánh tay kéo theo cẳng tay nhanh chóng vẩy cổ tay ra trước để đánh cầu ở điểm cao nhất khi tay đã vươn thẳng.
Giai đoạn kết thúc trong đánh cầu là khi tay cầm vợt vung ra theo quán tính về phía trước và xuống dưới bên trái, sau đó thu vợt về trước thân người Đồng thời, chân phải bước ra trước, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân sau sang chân trước Để thực hiện cú đánh cầu cao sâu thuận tay, người chơi có thể bật nhảy, nhanh chóng quay người trên không và hoàn thành động tác vung vợt đúng lúc cầu ở độ cao nhất chuẩn bị rơi xuống.
3.2.2 Test kiểm tra đánh giá thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
3.2.2.1 Cơ sở lý luận để đưa ra test kiểm tra kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay là một trong những kỹ thuật cơ bản và quan trọng nhất trong cầu lông, mà mọi người, từ người mới học đến những tay chơi đã thành thạo, đều cần phải nắm vững Theo thống kê, khoảng 80% người chơi cầu lông, bao gồm cả chuyên nghiệp và nghiệp dư, sử dụng kỹ thuật này để phục vụ cho chiến thuật trong trận đấu.
* Các giai đoạn thực hiện kỹ thuật:
Giai đoạn 1: Xác định điểm rơi của cầu
Giai đoạn 2:Đặt chân trụ (thuận chân phải)
- Chân phải lui về sau một bước rộng bằng vai
- Mũi chân trái và phải hướng về trước, chếch về 1 góc 5 độ
- Đầu gối khuỵu, toàn bộ trọng tâm dồn vào chân trụ
Gian đoạn 3: Tiếp xúc cầu
Để thực hiện cú đánh cầu hiệu quả, cánh tay phải cần đưa ra sau với khuỷu tay nâng cao hơn vai, trong khi cổ tay được duỗi tự nhiên Sử dụng sức mạnh từ chân sau để đạp đất, người chơi quay người, hóp bụng và lấy vai làm trục Cuối cùng, cánh tay sẽ kéo theo cẳng tay, nhanh chóng vẫy cổ tay ra trước để đánh cầu ở điểm cao nhất khi tay đã vươn thẳng.
Giai đoạn 4: kết thúc động tác
Sau khi đánh cầu, tay cầm vợt sẽ theo quán tính vung ra phía trước và xuống dưới bên trái, sau đó thu vợt về trước thân người Đồng thời, chân trái lùi ra sau trong khi chân phải bước ra trước, giúp chuyển trọng tâm từ chân sau sang chân trước.
- Thực hiện các giai đoạn của động tác đánh cầu: Rút vợt; lăng vợt; tiếp xúc cầu; dừng cầu; về động tác chuẩn bị.
Học sinh sẽ thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay, nhằm mục tiêu đánh trái cầu vào vị trí quy định trên sân Mỗi học sinh có 10 lần thực hiện để kiểm tra khả năng.
Chỉ tiêu Đánh giá xếp loại
Giỏi Khá Trung bình Yếu
- Giỏi: Đánh cầu chính xác vào vị trí quy định 8/10 quả
- Khá: Đánh cầu chính xác vào vị trí quy định 6/10 quả
- Trung bình: Đánh cầu vào vị trí quy định 4/10 quả
- Yếu: Đánh cầu không vào vị trí
Người phục vụNgười thực hiện
3.2.2.2 Đánh giá độ tin cậy của test: Để đánh giá độ tin cậy của test kiểm tra kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay sao cho đánh trái cầu vào vị trí đã quy định trên sân, chọn ngẫu nhiên 20 em học sinh tại cùng thời gian, địa điểm giống nhau để thực hành bài test.
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra độ tin cậy của Test (n )
Tính giá trị độ biến thiên chung Q C
= 136,775 Tính giá trị biến thiên giữa các nhóm Q G
= 0,025 Tính giá trị biến thiên trong các nhóm Q T
Giá trị biến thiên dư thừa Q D
Tính phương sai trong các nhóm:
Tính phương sai hợp của biến thiên giữa các nhóm và biến thiên dư thừa:
Tính hệ số bên trong các nhóm R tt :
Kết quả hệ số tương quan bên trong là 0,95 như vậy test kiểm tra có độ tin cậy tốt.
3.2.3 Đáng giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn
Để đánh giá hiệu quả của các bài tập sửa chữa sai lầm trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay trong môn cầu lông, chúng tôi đã tiến hành tính toán số liệu qua phương pháp thực nghiệm Nghiên cứu này được thực hiện với 60 học sinh lớp 11 trường THPT Nguyễn Trãi, được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 30 học sinh.
- Nhóm đối chứng (A): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh tập theo các bài tập thường được sử dụng trong giảng dạy
- Nhóm thực nghiệm (B): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh và cho tập luyện theo bài tập đã lựa chọn