1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhu cầu của người khiếm thính trên địa bàn các quận thuộc thành phố đà nẵng

68 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu nhu cầu của người khiếm thính trên địa bàn các quận thuộc thành phố đà nẵng
Tác giả Lê Thị Lệ
Người hướng dẫn ThS. Tô Thị Quyên
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Cử Nhân Tâm Lý Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 825,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ănghen - tuy không phải là một nhà tâm lý học, nhưng khi nói về quan điểm của mình về nhu cầu ông khẳng định: “Người ta quy cho trí óc, cho sự mở mang và hoạt động của bộ óc tất cả công

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được đề khóa luận tập này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS Tô Thị Quyên cùng các thầy, cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục đã giúp đỡ, chỉ bảo thêm cho em

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Hội người khuyết tật TP Đà Nẵng, các anh chị là người khiếm thính cùng gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Em xin cam đoan những thông tin trong đề tài này là xuất phát từ quá trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của giảng viên chuyên môn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc khóa luận 3

NỘI DUNG 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về nhu cầu 4

1.2 Lý luận về nhu cầu 12

1.2.1 Định nghĩa 12

1.2.2 Đặc điểm của nhu cầu 14

1.2.3 Phân loại nhu cầu 15

1.2.4 Các mức độ của nhu cầu 16

1.2.5 Sự hình thành nhu cầu 18

1.2.6 Vai trò của nhu cầu 18

1.3 Người khiếm thính 19

1.3.1 Khái niệm người khiếm thính 19

1.3.2 Nguyên nhân gây ra khiếm thính 20

a Nguyên nhân trước sinh 20

b Nguyên nhân trong khi sinh 20

c Nguyên nhân sau khi sinh 20

1.3.3 Đặc điểm tâm lý của người khiếm thính 20

a Đặc điểm nhận thức cảm tính 20

b Đặc điểm nhận thức lý tính 21

c Đặc điểm ngôn ngữ 22

Trang 5

1.4 Nhu cầu của người khiếm thính 22

1.4.1 Khái niệm 22

1.4.2 Các nhu cầu của người khiếm thính 22

a Nhu cầu tìm kiếm việc làm 23

b Nhu cầu lập gia đình và có con 23

c Nhu cầu giao tiếp với những người nói được 24

d Nhu cầu tìm hiểu, học tập nâng cao kiến thức cho bản thân 25

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 QUY TRÌNH TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Khái quát quá trình nghiên cứu 27

2.1.1 Vài nét về địa bàn thành phố Đà Nẵng 27

2.1.2 Khách thể khảo sát 31

2.1.3 Tiến trình nghiên cứu 31

2.2 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài 32

2.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 32

2.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 32

Tiểu kết chương 2 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Nhu cầu tìm kiếm việc làm 36

3.1.1 Tỷ lệ có việc làm của người khiếm thính 36

3.1.2 Người giới thiệu công việc cho người khiếm thính 37

3.1.3 Mức độ hài lòng đối với công việc của người khiếm thính 38

3.1.4 Tỷ lệ muốn thay đổi công việc của người khiếm thính 38

3.1.5 Thực trạng học nghề của người khiếm thính 39

3.1.6 Mong muốn về công việc của người khiếm thính 40

3.2 Nhu cầu xây dựng gia đình và con cái 41

3.2.1 Tỷ lệ người khiếm thính đã lập gia đình và có con 41

3.2.2 Mức độ hạnh phúc trong đời sống vợ chồng của người khiếm thính 41

3.2.3 Tỷ lệ người khiếm thính còn độc thân mong muốn lập gia đình và có con 42

Trang 6

3.2.4 Mong muốn được tham gia các lớp học về xây dựng gia đình hạnh phúc và nuôi

dạy con 43

3.3 Nhu cầu giao tiếp với người nói được 43

3.3.1 Đối tượng giao tiếp của người khiếm thính 43

3.3.2 Cách thức giao tiếp của người khiếm thính với những người nói được 44

3.3.3 Chủ đề giao tiếp của người khiếm thính với những người nói được 45

3.4 Nhu cầu tìm hiểu, học tập nâng cao kiến thức bản thân 46

3.4.1 Tỷ lệ hoàn thành chương trình học phổ thông người khiếm thính 46

3.4.2 Tỷ lệ người khiếm thính muốn tham gia các khóa học nâng cao kiến thức cho bản thân 47

3.5 Tổng quan nhu cầu của người khiếm thính thuộc các quận trên thành phố Đà Nẵng 48

Tiểu kết chương 3 50

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51

1 Kết luận 51

2 Khuyến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng người khiếm thính tham gia khảo sát 31

Bảng 3.1 Tỷ lệ có việc làm của Người khiếm thính 36

Bảng 3.2 Người giới thiệu công việc cho người khiếm thính 37

Bảng 3.3 Mức độ hài lòng đối với công việc của người khiếm thính 38

Bảng 3.4 Tỷ lệ muốn thay đổi công việc của người khiếm thính 39

Bảng 3.5 Thực trạng học nghề của người khiếm thính 39

Bảng 3.6 Mong muốn về công việc của người khiếm thính 40

Bảng 3.7 Tỷ lệ người khiếm thính đã lập gia đình và có con 41

Bảng 3.8 Mức độ hạnh phúc trong đời sống vợ chồng của người khiếm thính 42

Bảng 3.9 Tỷ lệ người khiếm thính còn độc thân mong muốn lập gia đình và có con 42

Bảng 3.10 Mong muốn được tham gia các lớp học về xây dựng gia đình hạnh phúc và nuôi dạy con 43

Bảng 3.11 Đối tượng giao tiếp của người khiếm thính 44

Bảng 3.12 Cách thức giao tiếp của người khiếm thính với những người nói được 44

Bảng 3.13 Chủ đề giao tiếp của người khiếm thính với những người nói được 45

Bảng 3.14 Tỷ lệ hoàn thành chương trình học phổ thông của người khiếm thính 46

Bảng 3.15 Tỷ lệ người khiếm thính muốn tham gia các khóa học nâng cao kiến thức cho bản thân 47

Bảng 3.16 Tổng quan nhu cầu của người khiếm thính 48

Biểu đồ 3.1 Tổng quan nhu cầu của người khiếm thính 49

Trang 9

khác nhau Ngày nay, với sự phát triển mạnh của nền kinh tế, đời sống của con người

được cải thiện, chất lượng cuộc sống con người được nâng cao, do vậy, nhu cầu của con người ngày càng nảy sinh nhiều hơn, đặc biệt là các nhu cầu về tinh thần

Việc thỏa mãn các nhu cầu rất khác nhau ở mỗi người Có những điều tưởng như đơn giản, bình thường với người này, nhưng lại là điều mong ước của người khác Đặc biệt là những người khuyết tật trong đó có người khiếm thính Người khiếm thính

là những người bị khiếm khuyết thính giác, họ mất âm thanh một phần hay hoàn toàn, nên có những nhu cầu họ không thể nào thỏa mãn được hoặc nếu có thì gặp nhiều khó khăn

Do người khiếm thính bị mất ngôn ngữ nói hoặc nói được rất ít nên họ gặp rất nhiều khó khăn khi giao tiếp Vì vậy, có rất ít các công trình nghiên cứu về họ Họ cũng ít được tham gia vào các hoạt động dạy học nghề, các hoạt động vui chơi, giải trí Theo số liệu thống kê của Sở Lao động TBXH thành phố Đà Nẵng năm 2010, toàn thành phố có 182.915 người khuyết tật chiếm 20,62% tổng dân số, trong đó, khiếm thính chiếm 6,8% Đa số người khiếm thính trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có trình độ học vấn thấp, cao nhất là lớp 12 Họ ít được tham gia vào các hoạt động của

xã hội nói chung cũng như của người khuyết tật nói riêng Những chương trình họ được tham gia thì rất ít người trong số họ biết được mục đích, ý nghĩa, nội dung của chương trình

Giao tiếp hằng ngày là một điều không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người

và ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu để thực hiện giao tiếp Nó ảnh hưởng đến những nhu cầu của con người Với người khiếm thính, họ không thể dùng lời nói, vậy những nhu cầu của họ có khác gì so với những người có thể dùng ngôn ngữ nói hằng ngày?

Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu

nhu cầu của người khiếm thính trên địa bàn các quận thuộc thành phố Đà Nẵng”

Trang 10

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu của người khiếm thính trên địa bàn các quận thuộc TP Đà Nẵng

3.2 Khách thể nghiên cứu

Người khiếm thính trong độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi thuộc 6 quận trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Hải Châu, Sơn Trà, Thanh Khê, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Ngũ Hành Sơn

+ Nhu cầu tìm kiếm việc làm

+ Nhu cầu lập gia đình và có con

+ Nhu cầu giao tiếp với những người nói được

+ Nhu cầu tìm hiểu, học tập nâng cao kiến thức bản thân

4 Giả thuyết khoa học

Người khiếm thính có nhu cầu với các mức độ khác nhau về: việc làm, lập gia đình và có con, giao tiếp với những người nói được, tìm hiểu nâng cao kiến thức bản thân

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nhu cầu của người khiếm thính

- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu của người khiếm thính trên địa bàn 6 quận thuộc thành phố Đà Nẵng

Trang 11

3

- Đề xuất các khuyến nghị nhằm xây dựng các chương trình giúp đỡ người khiếm thính

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp lý thuyết

- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng Anket

Trên cơ sở xây dựng phiếu hỏi có trọng tâm, phù hợp với đối tượng là người khiếm thính, chúng tôi tiến hành điều tra nhu cầu của người khiếm thính trên địa bàn các quận thuộc thành phố Đà Nẵng Đây là phương pháp chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu thực tiễn

6.2.2 Phương pháp trò chuyện

Là phương pháp bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng Anket nhằm tìm hiểu sâu hơn về những nhu cầu của người khiếm thính và những yếu tố ảnh hưởng đến những nhu cầu của họ

6.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các công thức toán học nhằm xử lý các thông tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu trên

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Quy trình tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 12

4

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về nhu cầu

Đầu tiên phải kể đến chủ nghĩa hành vi do nhà TLH Mỹ J Watson (1878 – 1958) sáng lập Bài báo với tên gọi “TLH từ góc nhìn của nhà TLH hành vi” vào năm 1913 được coi là sự công khai công bố khai sinh dòng TLH này Theo ông, TLH không mô

tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi cơ thể Hành vi của con người được hiểu là tất cả các cử chỉ và lời nói đã hình thành trong cuộc sống hay bẩm sinh và là những gì con người đã làm từ lúc sinh ra cho đến chết Hành vi là tất cả các phản ứng (R) và sự đáp ứng các kích thích bên ngoài (S), gián tiếp qua đó cá thể được thích nghi

Theo TLH hành vi, mọi vấn đề tâm lý như ý thức, tư tưởng, tình cảm, nhu cầu, động cơ… đều là những khái niệm mơ hồ, không ai thấy được, đo được Vì thế, chúng đều là phi vật chất và không thể quyết định được một hiện tượng vật chất Nhưng mặt khác, ngay từ thế kỉ XIX, các tác giả như Ethorndike, NE Miller đã có những thí nghiệm nghiên cứu về nhu cầu ở động vật và khẳng định: các kiểu hành vi của con vật được thúc đẩy bởi nhu cầu, nhu cầu có thể quyết định hành vi Sau này, các đại biểu TLH hành vi mới đưa vào công thức S – R một biến số trung gian: đó là nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống,… Các tác giả này giải thích rằng biến số trung gian

có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích vào cơ thể Các nhà hành vi không coi nhu cầu là thuộc về tâm lý, nhưng trên thực tế, nghiên cứu của họ cho thấy các thực nghiệm đã chỉ ra rằng các nhà TLH hành vi nghiên cứu khá rõ và kỹ lưỡng về nhu cầu, đặc biệt là những nhu cầu sinh lý Điểm hạn chế của họ là quan niệm đồng nhất nhu cầu của con người và nhu cầu ở con vật Thiếu sót này do các thực nghiệm

mà các nhà hành vi dựa vào để đi đến kết luận thường là thực nghiệm trên động vật Clark Hull (1952), một lý thuyết gia tại Đại học tổng hợp Yale với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học, cho rằng: nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người, thúc đẩy hoạt động của con người Ông không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác nhưng theo ông, chúng kết hợp và bị chi phối bởi nhu cầu thể chất Về bản chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con người, xem nhu

Trang 13

5

cầu như là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, nước uống, không khí… qua đó phủ nhận tính XH, bản chất XH của nhu cầu, quy gán nhu cầu nội tâm và nhu cầu XH đều do yếu tố sinh vật tạo ra

Một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay là thuyết Phân tâm học Nó gắn liền với tên tuổi của thiên tài Sigmund Freud (1856 – 1939) và đã trở nên quen thuộc với nhiều người Trong quá trình nghiên cứu của mình, ông cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người” Ông khẳng định: Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt

là nhu cầu tình dục S Freud cho rằng, toàn bộ sức mạnh tác động ở phía sau những nhu cầu cấp bách của của cái ấy và biểu hiện những nhu cầu thuộc loại thể chất trong tâm thần là xung lực Theo ông, những xung lực này có bản chất sinh học và rất đa dạng Nói cách khác, xung lực bắt nguồn từ những nhu cầu cơ thể Trong tất cả xung lực vốn có của cá nhân, chỉ có hai xung lực cơ bản: tính dục (Eros) và phá hủy (Thanatos) Khi phân tích các xung lực Eros, ông cho rằng Eros mạnh hơn Thanatos;

từ đó Freud đi đến khẳng định, nó không phải là thứ nhu cầu tính dục nói chung, mà

đó là xung lực khát dục (Libido), tức là những khoái lạc tính dục của cá nhân Theo cách hiểu của S.Freud, Libido giống như sự đói ăn nói chung Con người đói, tức là nhu cầu tiêu thụ thức ăn cần phải được thỏa mãn, cũng vậy, con người khát dục khi có nhu cầu nhục dục cần được thỏa mãn Xung lực Libido chính là sự tạo ra khoái lạc nhục dục do nhu cầu tính dục được thỏa mãn Việc thỏa mãn nhu cầu tính dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người

Một trong những nhà TLH nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới là Erich Fromm (1901) E Fromm cho rằng cơ chế tự nhiên và XH trong con người là vô thức,

đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách Nó biểu hiện sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người Ông cho rằng nhu cầu tạo ra cái tự nhiên trong con người Những nhu cầu đó là: 1 Nhu cầu quan hệ giữa người và người; 2 Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người; 3 Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa; 4 Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, với giai cấp, với tôn giáo; 5 Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu Những nhu cầu này là thành phần tạo nên nhân cách

Trang 14

6

TLH nhân văn ra đời như là một khuynh hướng đối lập với TLH hành vi và Phân tâm học Trường phái TLH nhân văn là sự tổng hợp nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau với các đại diện tiêu biểu như: A Maslow, C Rogers, G Allport trong đó “Thuyết thứ bậc nhu cầu” của A Maslow (1908 – 1970)

có tầm ảnh hưởng rất lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự thứ bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn Ông đã đưa ra 5 nấc thang nhu cầu có nội dung bao hàm, được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần thiết đến nhu cầu tinh thần nâng cao như sau:

- Nhu cầu sinh lý (Hysiological needs)

- Nhu cầu về an toàn (Safety needs)

- Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được lệ thuộc (Love and Belongingness)

- Nhu cầu về được tôn trọng (Esteem needs)

- Nhu cầu được thể hiện mình (Self – actualizing needs)

Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao:

- Nhu cầu cấp cao:

+ Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được lệ thuộc

+ Nhu cầu được tôn trọng

+ Nhu cầu được thể hiện mình

- Nhu cầu cấp thấp:

+ Nhu cầu an toàn

+ Nhu cầu sinh lý

Bốn mức nhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt Còn ở mức thứ năm, ông chia thành các nhu cầu nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo và nhu cầu hiểu biết, ông gọi là nhóm các nhu cầu phát triển Sự phân chia này tùy theo thang bậc nhưng nó không phải là cố định mà chúng linh hoạt, thay đổi tùy theo điều kiện cụ thể Ông cho rằng nhu cầu sinh lý là mạnh nhất, còn nhu cầu được thể hiện mình là nhu cầu yếu nhất Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được lệ thuộc là nhu cầu vừa cấp thấp vừa cấp cao Các nhu cầu cấp thấp thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao

Trang 15

là những nhu cầu đặc trưng cho giống người Tính người của các nhu cầu được hình thành trong quá trình phát sinh loài người Mọi nhu cầu trong hệ thống nhu cầu đều có liên quan với cấu trúc cơ thể của con người và đều dựa trên một nền tảng di truyền nhất định

Sau Cách mạng tháng Mười, nền TLH ở Liên Xô đã có bước phát triển mạnh mẽ, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận của TLH Các nhà TLH Liên

Xô khi nghiên cứu về con người, đời sống tâm lý người đã khẳng định: nhu cầu là yếu

tố bên trong quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người

Ngay trong triết học, F Ănghen - tuy không phải là một nhà tâm lý học, nhưng khi nói về quan điểm của mình về nhu cầu ông khẳng định: “Người ta quy cho trí óc, cho sự mở mang và hoạt động của bộ óc tất cả công lao làm cho xã hội phát triển được nhanh chóng, và đáng lẽ người ta phải giải thích rằng hoạt động của mình là do nhu cầu của mình quyết định (mà những nhu cầu đó quả thật đã phản ánh vào trong đầu óc con người, làm cho họ có ý thức đối với những nhu cầu đó) thì người ta lại quen giải thích rằng hoạt động của mình là do tư duy của mình quyết định” (F Ănghen – Phép biện chứng của tự nhiên, Nhà xuất bản Sự thật, trang 280)

D.N Uzantze đã chú ý tới khái niệm nhu cầu và ý nghĩa của nó đối với hoạt động của cơ thể ngoài nhu cầu của con người Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực,

Trang 16

8

không có nhu cầu thì không có tính tích cực Như vậy, quan điểm của ông về khái niệm nhu cầu rất rộng, nó liên quan tới tất cả những gì cần thiết đối với cơ thể sống Hơn nữa, theo ông nhu cầu con người ở mức phát triển như hiện nay đã tập hợp được nhiều nhu cầu cho bản thân Trong trường hợp nhu cầu đang trên đường thỏa mãn mà gặp khó khăn trở ngại, tức là nó không được thực hiện một cách trực tiếp, nhu cầu sẽ xuất hiện trong ý thức của chủ thể và có nội dung đặc biệt Từ phía chủ thể, nó được thể nghiệm ở dạng cảm xúc không được thỏa mãn, lúc này con người ở trạng thái hưng phấn và căng thẳng, còn ở phía khách thể ở dạng nội dung đối tượng đã được xác định

và nó đang kích thích hành động Khi xuất hiện nhu cầu với cường độ lớn, con người bắt đầu hoạt động để thỏa mãn

Trong các công trình nghiên cứu của mình, X.L Rubinstein đã bàn về nhiều vấn

đề khác nhau trong đó có khái niệm nhu cầu Dựa trên quan điểm triết học Mác – Lênin, ông đã tạo ra một hệ thống tri thức phong phú trong đó có lý thuyết về nhu cầu Theo ông, con người có nhu cầu sinh vật nhưng bản chất con người là sản phẩm của

XH loài người, vì vậy cần xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách Chính vì vậy, ông đã nhấn mạnh mối quan hệ lẫn nhau của con người với

tự nhiên, đó là mối quan hệ nhu cầu, nghĩa là sự cần thiết của con người về một cái gì

đó nằm ngoài cơ thể con người X.L Rubinstein cho rằng TLH không nên xuất phát từ nhu cầu mà phải tiến dần và khám phá ra nhiều biểu hiện đa dạng của nó Ông chính là người đầu tiên khám phá ra quá trình nảy sinh nhu cầu Trong nhu cầu, con người xuất hiện sự liên kết với thế giới xung quanh và xuất hiện sự phụ thuộc của cá nhân đối với thế giới

A.N Leonchiev (1903 – 1979) cho rằng nhu cầu có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông, nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng Trong mối quan

hệ giữa đối tượng thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu, ông cho rằng đối tượng tồn tại một cách khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thỏa mãn nhu cầu mới xuất hiện

và lộ diện ra Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới có tính đối tượng

Với tính chất là một cá nhân, chủ thể sinh ra đã có nhu cầu nhưng với tính chất là sức mạnh nội tại thì nhu cầu được thực hiện trong hoạt động Nói cách khác, lúc đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như là một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động, thì lập tức xảy

Trang 17

9

ra sự biến hóa của nhu cầu, không còn là nhu cầu trước nữa Sự biến đổi nội dung cụ thể của đối tượng nhu cầu cũng kéo theo sự biến đổi các phương thức để thỏa mãn các nhu cầu Ông phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì như vậy sẽ coi nhu cầu

là điểm xuất phát của hoạt động Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô

tả bằng sơ đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động Theo A.N Leonchiev, cuộc sống là

hệ thống các hoạt động thay thế nhau Mặt khác, nếu nhìn nhận khởi thủy nhu cầu làm nảy sinh hoạt động thì sẽ không giải thích được nguồn gốc của nhu cầu Bởi vì nhu cầu của con người về cơ bản có nguồn gốc từ thế giới khách quan, nó nảy sinh thông qua hoạt động của mỗi người Tất nhiên đến lượt mình, nhu cầu lại phát huy tính tích cực trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu Luận điểm này đáp ứng được quan niệm Mác xít về nhu cầu, cho rằng nhu cầu con người cũng được sản xuất ra Đó là luận điểm có ý nghĩa đối với TLH

A.N Dernhitrenko và N.V Gontrancov khi nghiên cứu về nhu cầu cho rằng nhu cầu là cốt lõi của nhân cách Hai ông đã nghiên cứu vấn đề nguồn năng lượng của nhu cầu và nhấn mạnh rằng khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể phụ thuộc vào sự chuẩn bị hành động của cá nhân Cụ thể nó được thể hiện ở dạng chủ thể đã được trang

bị thông tin đầy đủ ở mức độ nhất định về khả năng thỏa mãn nhu cầu Thông tin này chỉ rõ mối quan hệ giữa những thông báo với trạng thái của cá nhân (tâm thế xác định) Tâm thế này sẽ làm giảm tính không xác định của hoàn cảnh, kết quả làm tăng năng lượng của nhu cầu Nguồn năng lượng của nhu cầu không chỉ phụ thuộc vào mức

độ đạt được đối tượng của nhu cầu mà còn phụ thuộc vào sự thỏa mãn Lúc này năng lượng nhu cầu bắt đầu quy định phản ứng của cảm xúc thông qua kết quả hoạt động hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu Nếu như hoàn cảnh cuối cùng không thuận lợi cho việc thỏa mãn nhu cầu, năng lượng của nhu cầu giảm xuống do tác động của hoàn cảnh không xác định đang lớn mạnh Nhưng theo P.V Ximonov, nếu nhu cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin sẽ dẫn đến cảm xúc âm tính Điều này làm phát triển năng lượng của nhu cầu, mặc dù kết quả hành vi không thuận lợi Trong trường hợp ngược lại, cảm xúc dương tính làm tập hợp hành động Như vậy, sự thay đổi tập hợp cảm xúc của năng lượng nhu cầu được quy định bởi thông tin về khả năng thỏa mãn nhu cầu và phụ thuộc vào mức độ ý nghĩa của nhu cầu Sau khi phân tích sự chuyển tải năng lượng của nhu cầu, P.V Ximonov đã có lý khi kết luận rằng đặc điểm

Trang 18

và phát triển của cá thể và loài Trong các hình thức sinh học ban đầu, nhu cầu xuất hiện là sự đòi hỏi của cơ thể đối với một cái gì đó nằm ngoài cơ thể và cần thiết cho hoạt động sống của cơ thể Các nhu cầu của cơ tính có tính chất nội cân bằng: Hoạt động mà nó thúc đẩy luôn hướng tới việc đạt được mức độ thực hiện chức năng tối ưu của các quá trình sống, nhu cầu tiếp tục xuất hiện khi các chức năng đi chệch khỏi mức

độ này và dừng lại khi đạt được mức độ đó Nhu cầu của động vật tập trung vào việc duy trì cá thể và tiếp tục giống loài: trao đổi chất với môi trường xung quanh, phát triển và hoàn thiện các kỹ xảo định hướng Đa số các nhu cầu ở động vật có hình thức bản năng, trong các bản năng bẩm sinh không chỉ ghi dấu những thuộc tính của nhu cầu liên quan đến đối tượng mà cả tiến trình (sự tuần tự, kế tiếp) cơ bản của các hành động thích ứng cần thiết để chiếm lĩnh đối tượng

Nhu cầu của con người và con vật không đồng nhất Thậm chí những nhu cầu tồn tại sinh lý của con người được quy định bởi các đặc điểm cơ thể cũng khác với các nhu cầu tương tự ở con vật Bởi lẽ ở con người, chúng không quy định các hình thức hoạt động của họ mà ngược lại chúng có khả năng chuyển đổi phục thuộc vào hình thức hoạt động sống cao cấp đặc trưng của con người và chịu sự chi phối của các hoạt động

đó Đặc trưng của nhu cầu con người được quy định ở chỗ con người không đối diện với thế giới như là một cá thể đơn độc mà là thành viên của các hệ thống xã hội khác nhau và là thành viên của nhân loại nói chung Những nhu cầu của con người ở các mức độ khác nhau, do vậy, sự phản ánh mối liên hệ của con người với cộng động xã hội ở các mức độ khác nhau, cũng như những điều kiện tồn tại và phát triển của chính bản thân hệ thống xã hội Điều này liên quan đến cả nhu cầu của nhóm xã hội và xã hội nói chung trên tổng thể, cả nhu cầu của mỗi cá nhân riêng lẻ, trong các nhu cầu đó

có bản chất xã hội Vấn đề bản chất của con người vẫn đang để mở, một số nhà nghiên cứu cho rằng chúng bẩm sinh Những nhà nghiên cứu khác lại cho rằng tính xã hội của

Trang 19

11

tất cả các nhu cầu của con người - không có ngoại lệ - được thể hiện trong nội dung, trong diễn biến và phương thức thỏa mãn chúng Nhu cầu của con người đa số không phải bẩm sinh, chúng được hình thành trong quá trình con người lĩnh hội hoạt động xã hội và hình thành nhân cách Sự phát triển nhu cầu của con người diễn ra thông qua sự

mở rộng và thay đổi phạm vi đối tượng của nhu cầu nên sản xuất tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần quy định sự phát triển của các nhu cầu xã hội được cá nhân lĩnh hội trong quá trình gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nên văn hóa tinh thần và vật chất của loài người Tính chất của hoạt động do nhu cầu thúc đẩy chủ thể thực hiện

là cơ sở cơ bản để phân loại nhu cầu Dựa trên cơ sở này, người ta phân thành các nhu cầu sau: tự vệ, dinh dưỡng, tình dục, nhận thức, giao tiếp, vui chơi, sáng tạo Trong số

đó, phân biệt các nhu cầu thực thể: nhu cầu mà ý nghĩa của nó được xác định bởi các hình thức tác động qua lại với đối tượng (ăn uống, nhận thức) và những nhu cầu chức năng: những nhu cầu thức đẩy con người hoạt động vì chính bản thân quá trình hoạt động (vui chơi, sáng tạo) Còn có hàng chục các tiêu chí khác để phân loại nhu cầu của con người Trong số các cách phân loại đó, có một số cách phân loại tương đối phổ biến và chỉ ra được bản chất của nhu cầu: theo nguốn gốc (nhu cầu tạo sự sống, tạo tâm lý và xã hội); theo chủ thể (cá nhân, nhóm, xã hội); theo khách thể (vật chất và tinh thần); theo chức năng (nhu cầu tồn tại sinh học và xã hội, nhu cầu duy trì và nhu cầu nhu cầu phát triển) Nhiều nhu cầu khó có thể phân loại một cách thuần nhất theo các tiêu chí trên, tức là có nhu cầu kết hợp cả vật chất và tinh thần, cả đạo đức và nhận thức Nhu cầu của con người hình thành trong quá trình phát triển của cá nhân trên cơ

sở những tiền đề bẩm sinh, những tiền đề này tạo ra tạo ra những khả năng tác động qua lại khác nhau (của chủ thể) với thế giới và tạo ra sự cần thiết trong các hình thức khác nhau của tính tích cực được xác định bới các chương trình của hoạt động sống sinh học và xã hội Kinh nghiệm hoạt động trong giai đoạn sớm của sự phát triển được thực hiện với sự cộng tác của người lớn, là điều kiện cơ bản cho sự hình thành nhu cầu trong hoạt động và trở thành phương tiện thỏa mãn nhu cầu khác Ví dụ, nhu cầu uống rượu phát triển trong quá trình sử dụng rượu, ban đầu là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, tự khẳng định, nhu cầu thuộc về một nhóm hay là hậu quả của việc bắt chước người lớn Nhu cầu được thể hiện trong hành vi của con người khi nó ảnh hưởng tới sự lựa chọn động cơ, các động cơ này xác định xu hướng hành vi trong mỗi

Trang 20

12

tình hướng cụ thể Nhu cầu của con người là một hệ thống thứ bậc động, trong đó vị trí nổi trội lúc là nhu cầu này, lúc là nhu cầu khác phụ thuộc vào việc nhu cầu nào được thỏa mãn, nhu cầu nào đang là cấp thiết Trong đó, sự lựa chọn động cơ được xác định không chỉ là nhu cầu nổi trội trong thời điểm đó mà cả nhu khác ít bức thiết hơn Một cách chủ quan, nhu cầu được chủ thể trải nghiệm dưới dạng mong muốn có màu sắc xúc cảm, sự hấp dẫn, mong muốn thỏa mãn chúng, sự đánh giá dưới hình thức xúc cảm, chính bản thân nhu cầu khi đó có thể không được nhận thấy Những nhu cầu cấp thiết cũng tạo ra dòng các quá trình nhận thức bằng cách nâng cao tính sẵn sàng của chủ thể tiếp nhận những thông tin có liên quan Những đặc điểm quan trọng của nhu cầu là đặc điểm về tính đối tượng, tính chu kỳ, tính bền vững, nội dung và phương thức thỏa mãn

1.2 Lý luận về nhu cầu

Theo Henry Murray (1893 – 1988) thì nhu cầu được hiểu là một tổ chức động cơ,

nó tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức, tưởng tượng, hành vi Nhờ nhu cầu

mà hoạt động của con người mang tính chất có mục đích Do đó, con người hoặc là đạt được sự thỏa mãn nhu cầu, hoặc là ngăn ngừa sự đụng độ khó chịu với môi trường Murray cho rằng: sự xuất hiện nhu cầu dẫn đến những thay đổi hóa học trong não và

do tác động của chúng mà diễn ra hoạt động tư duy và tình cảm Bất kỳ nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thể sự căng thẳng nhất định, mà việc giải tỏa nó chỉ bằng cách thỏa mãn nhu cầu Như vậy nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất định, mang lại sự thỏa mãn cần tìm [8,319]

A.G Covaliop tiếp cận khái niệm nhu cầu với tư cách là nhu cầu của nhóm XH Ông cho rằng: Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của nhóm XH khác nhau

Trang 21

13

muốn có những điều kiện nhất định để sống và để phát triển Nhu cầu quy định sự hoạt động XH của cá nhân, các giai cấp và tập thể Như vậy, dù là nhu cầu cá nhân hay nhu cầu XH, nó vẫn là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của con người đối với hoàn cảnh sống

Theo A.N Leonchiev (1903 – 1979), nhu cầu là một trạng thái của con người, cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng, con người nói chung sống và hoạt động Nhu cầu luôn có đối tượng, đối tượng của nhu cầu là vật chất hoặc tinh thần, chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò định hướng đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người

Theo Giáo sư – Viện sĩ Phạm Minh Hạc: Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó Nhu cầu chỉ có được chức năng hướng dẫn khi có sự gặp gỡ giữa chủ thể và khách thể Nhu cầu là thành tố quan trọng tạo nên xu hướng nhân cách của cá nhân, cùng với các thành tố khác như hứng thú, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng nhu cầu là sự bộc lộ ra bên ngoài của xu hướng

Nhìn chung, các quan niệm về nhu cầu đã trình bày ở trên đều có sự tương đồng

ở nhiều điểm:

- Khẳng định nhu cầu của con người và XH là một hệ thống đa dạng, bao gồm nhu cầu tồn tại (ăn uống, duy trì nòi giống, tự vệ…), nhu cầu phát triển (học tập, giáo dục, văn hóa…), nhu cầu chính trị, tôn giáo…

- Nhu cầu là hình thức tồn tại của mối quan hệ giữa cơ thể sống và thế giới xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực Mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác động vào đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó Do vậy, nhu cầu được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại và phát triển của mình Nhu cầu khi được thỏa mãn sẽ tạo ra những nhu cầu mới ở mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thỏa mãn nhu cầu thì phát triển, và nảy sinh ra nhu cầu cao hơn nữa Và như vậy, nhu cầu vừa được coi là tiền đề, vừa được coi là kết quả của hoạt động Nhu cầu là tiền đề của sự phát triển

Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các khái niệm khác nhau về nhu cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của GS.TS Nguyễn Quang Uẩn:

“Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”

Trang 22

14

1.2.2 Đặc điểm của nhu cầu

Nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản sau:

- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Khi chủ thể gặp đối tượng được ý thức là

có giá trị để thỏa mãn nhu cầu của mình và có điều kiện thực hiện phương thức thỏa mãn thì nhu cầu đó trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằm vào đối tượng Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với đời sống cá nhân và đời sống XH càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng nhanh chóng được nảy sinh, củng cố và phát triển Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể tiến hành hoạt động Khi đối tượng của nhu cầu được chủ thể ý thức thì nhu cầu thực sự là một sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý kích thích và hướng dẫn hoạt động

Tính đối tượng của nhu cầu được xuất hiện trong hoạt động có đối tượng của chủ thể Nhu cầu với tư cách là một năng lực hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động khi được

“đối tượng hóa” là điều kiện nảy sinh tâm thế Với ý nghĩa đó, nhu cầu thực sự là một cấp độ của phản ánh tâm lý, ở cấp độ này, nhu cầu được phát triển thông qua sự phát triển nội dung đối tượng của nhu cầu Đây chính là đặc điểm đặc trưng của nhu cầu ở con người

Quá trình phát triển của con người thực chất là quá trình phát triển nội dung đối tượng của các nhu cầu và ở mức độ cao hơn của thế giới đối tượng, là sự phát triển của các động cơ hoạt động cụ thể của con người Như vậy, sự phát triển các nhu cầu diễn

ra theo con đường phát triển các hoạt động tương ứng với một phạm vi đối tượng ngày càng phong phú và đa dạng

- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định Kết quả nghiên cứu của Đacuyn cho thấy: Nếu chỉ dùng một loại lá cây để nuôi một loại sâu thì sau này con sâu đó không ăn loại lá cây khác, mặc dù loại lá cây đó rất thích hợp cho việc nuôi sống nó Trong phòng thí nghiệm của Pavlov, Xitovit cũng đã dùng sữa bò để nuôi một con chó ngay từ khi nó mới lọt lòng mẹ đến khi lớn Về sau con chó này chỉ biết ăn sữa bò mà “dửng dưng”, “cự tuyệt” với bánh mì và thịt Như vậy: chính điều kiện sống đã quy định nội dung đối tượng của nhu cầu Nói cách khác,

Trang 23

15

mọi nhu cầu đều là hình thức đặc biệt của sự phản ánh những điều kiện sống bên ngoài

Nội dung của nhu cầu còn phụ thuộc vào phương thức thỏa mãn nó C Mác viết:

“Đói là cái đói song cái đói được thỏa mãn bằng thịt chín với cách dùng dao và nĩa thì khác hẳn với cái đói bắt buộc phải nuốt bằng thịt sống với cách dùng tay, móng và răng”

Nhu cầu của con người cũng phụ thuộc vào những điều kiện và phương thức sinh hoạt của gia đình và XH Cho nên, muốn cải tạo những nhu cầu xấu xa ở con người trước hết phải cải tạo cơ sở XH đã làm nảy sinh ra nó Muốn làm nảy sinh những nhu cầu tốt phải tạo ra những điều kiện và phương thức sinh hoạt tương ứng với nó

- Nhu cầu có tính chu kì: khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn không có nghĩa

là nhu cầu ấy đã chấm dứt mà nó chỉ tạm thời lắng xuống sau một thời gian lại tiếp tục tái diễn, nếu người ta vẫn còn sống và phát triển trong điều kiện và phương thức sinh hoạt kiểu cũ, sự tái diễn đó thường có tính chất chu kì Tính chất chu kỳ này là do sự biến đổi có tính chất chu kỳ của hoàn cảnh xung quanh và của cơ thể gây ra

- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật: nhu cầu của người mang bản chất xã hội Điều này được thể hiện ở đối tượng, phương thức thỏa mãn nhu cầu, tính ý thức trong việc thỏa mãn nhu cầu

1.2.3 Phân loại nhu cầu

Có nhiều cách phân loại nhu cầu:

- Nhu cầu cá nhân và nhu cầu XH:

+ Nhu cầu cá nhân là một hiện tượng tâm lý cá nhân, nó xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định nào đó để đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho bản thân mình

+ Nhu cầu XH là hiện tượng tâm lý XH tồn tại ở nhiều con người cụ thể khác nhau nhưng có tính phổ biến và đồng nhất Đó là nhu cầu chung của nhóm có nhiều cá nhân là thành viên giống nhau về những điều kiện nhất định, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của nhóm

- Người ta còn chia nhu cầu thành hai loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần:

Trang 24

Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối

- A Masslow (1908 - 1970) chia nhu cầu của con người thành 5 loại được xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao: nhu cầu sinh lý của cơ thể, nhu cầu an toàn, nhu cầu được yêu thương, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được thể hiện mình

Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chọn cách phân loại của A Masslow làm cơ

sở nghiên cứu

1.2.4 Các mức độ của nhu cầu

Mức độ nhu cầu là độ gay gắt đòi hỏi về một đối tượng nào đó thể hiện ở việc chủ thể ý thức được trạng thái thiếu thốn của chủ thể, đối tượng và phương thức thỏa mãn nó

Nhu cầu có thể tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi tác giả lại có cách phân chia mức độ nhu cầu khác nhau

Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (Love and Belongingness)

Nhu cầu về được tôn trọng ( esteem needs )

Nhu cầu về an toàn ( safety needs )

Nhu cầu sinh lý (Physiological needs )

-Nhu cầu được thể hiện mình ( self – actualizing

Trang 25

17

- Theo X.L Rubinstein sự phát triển của nhu cầu trải qua ba mức độ: ý hướng, ý muốn, ý định

+ Ý hướng: là bước khởi đầu của nhu cầu Ở mức độ này nhu cầu chưa được phản

ánh đầy đủ, rõ ràng vào trong ý thức của con người Ở ý hướng, chủ thể mới ý thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó nhưng chưa ý thức được nó là

gì Nói cách khác, lúc này chủ thể đang trải nghiệm sự thiếu hụt nhưng chưa xác định được đối tượng gây ra sự thiếu hụt đó Khi chủ thể đã ý thức được đối tượng nhu cầu, nghĩa là sự trả lời được câu hỏi “thiếu hụt cái gì” thì nhu cầu chuyển sang mức độ cao hơn đó là ý muốn

+ Ý muốn: ở mức độ ý muốn, chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa đựng khả

năng thỏa mãn nhu cầu Mục đích của hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu, nghĩa là lúc này chủ thể ý thức được đối tượng của nhu cầu và cả về mục đích động cơ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu Tuy nhiên, chủ thể vẫn tiếp tục tìm kiếm cách thức và các điều kiện để thỏa mãn nhu cầu Ở mức độ này, chủ thể xuất hiện những trạng thái rung cảm khác nhau biểu hiện sự mong muốn

+ Ý định: là mức độ cao nhất của nhu cầu Lúc này, chủ thể đã ý thức đầy đủ cả

về đối tượng cũng như cách thức điều kiện nhằm thỏa mãn nhu cầu; xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hành động Ở mức độ ý định, nhu cầu đã có hướng và đã được động cơ hóa, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hành động Lúc này, nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm thỏa mãn

nó Đồng thời, chủ thể cũng có khả năng hình dung về kết quả của hoạt động Ở mức

độ cao nhất của nhu cầu, chủ thể không chỉ ý thức rõ về mục đích động cơ mà còn cả

về những phương thức để đạt tới mục đích đó

- Căn cứ vào tính tích cực, nhu cầu biểu hiện ở ba mức độ: lòng ham muốn, lòng say mê, đam mê

- Ngoài ra, nhu cầu còn được biểu hiện ở hai mức độ cao, thấp khác nhau:

+ Mức độ thấp: chủ thể nhận thức được đối tượng của nhu cầu nhưng nhu cầu chưa đủ mạnh để thúc đẩy con người hoạt động

+ Mức độ cao: nhu cầu đã đủ mạnh, trở thành nội lực thúc đẩy con người hoạt động

Trang 26

A.N Leonchiev và các nhà TLH Macxit khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu và hoạt động: Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực của hoạt động, nhưng bản thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động

A.N Leonchiev đã đưa ra sơ đồ giải thích mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động: Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động Theo ông, thoạt đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động Nhưng, ngay khi chủ thể bắt đầu hành động thì lập tức xảy ra sự biến hóa của nhu cầu và sẽ không còn giống như khi nó tồn tại một cách tiềm tàng, tồn tại “tự nó” nữa Sự phát triển của hoạt động này đi xa bao nhiêu thì cái tiền đề này của hoạt động (tức là nhu cầu) cũng chuyển hóa bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động Ông cho rằng: bởi vì bản thân thế giới đối tượng đã hàm chứa tiềm tàng những nhu cầu, nên trong quá trình chủ thể hoạt động tích cực, tất yếu

sẽ nhận thức được những yêu cầu, đòi hỏi phải được đáp ứng để tồn tại và phát triển, tức là xuất hiện nhu cầu mới Thông qua hoạt động lao động sản xuất, loài người một mặt thỏa mãn nhu cầu hiện tại, đồng thời lại xuất hiện nhu cầu mới, vì thế con người không ngừng tích cực hoạt động lao động sản xuất qua đó thúc đẩy XH phát triển

Để hình thành nhu cầu về một đối tượng nào đó, chúng ta phải làm cho chủ thể

có cơ hội làm quen với đối tượng, thực hiện hoạt động với đối tượng Chính trong quá trình trải nghiệm đó chủ thể sẽ có cơ hội và điều kiện để thấy được vai trò, ý nghĩa của đối tượng đối với cuộc sống của bản thân Từ đó mà hình thành mong muốn về đối tượng và nhu cầu sẽ dần dần xuất hiện

1.2.6 Vai trò của nhu cầu

Nhu cầu có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người Con người không thể tồn tại mà thiếu nhu cầu, trước hết là những nhu cầu vật chất tối thiểu

Trang 27

19

như ăn, mặc, ở Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới làm ra lịch sử Nhưng, muốn sống được trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo Sự thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và tập thể Nhu cầu quy định

xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm và ý chí của con người Mặt khác, nhu cầu quy định và tích cực hóa hoạt động của con người

Nhu cầu chính là nguồn gốc, động lực thúc đẩy hoạt động và là một trong những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động nói chung và thực hiện các hành vi ý chí nói riêng Nhu cầu này được thỏa mãn, kích thích bị dập tắt, đồng thời xuất hiện nhu cầu mới với những kích thích mới Trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu Nhu cầu nào lớn hơn sẽ chi phối các nhu cầu khác và “đòi” con người phải đáp ứng nhu cầu đó Trong cùng một thời điểm, con người không thể thỏa mãn được đầy

đủ các nhu cầu Nhu cầu bao gồm những thang bậc, trình độ khác nhau làm cơ sở cho

sự tồn tại, phát triển của con người Có nhu cầu tích cực, thúc đẩy con người phát triển theo hướng tích cực Nhu cầu tiêu cực kìm hãm sự phát triển, đưa con người đến sự suy thoái

Nhu cầu thể hiện xu hướng có sự lựa chọn, các ý nghĩ, các rung cảm, và ý chí của con người Nó quy định các hoạt động XH của cá nhân và các nhóm XH Nhu cầu sống và phát triển của cá nhân và các nhóm XH là một tất yếu Nhu cầu xuất hiện, con người “đòi” phải được thỏa mãn Quá trình “đòi” thỏa mãn nhu cầu là quá trình thôi

thúc con người hành động hướng tới sự phát triển toàn diện

1.3 Người khiếm thính

1.3.1 Khái niệm người khiếm thính

Trong quan niệm dân gian, người khiếm thính được gọi là “người điếc”, thường được hiểu là người mất hoàn toàn khả năng nghe hoặc nghe không được chính xác, nghe không rõ (nghễnh ngãng)

Y học quan niệm, người khiếm thính là người có suy giảm một phần hoặc mất hoàn toàn sức nghe Theo Tổ chức y tế Thế giới, nếu độ mất thính lực trung bình từ 50

dB trở lên, hay nói một cách khác người không nghe được trọn vẹn câu nói (nói chuyện bình thường) ở khoảng cách 1m là người khiếm thính Nếu người có độ mất thính lực trung bình trên 80dB, nghĩa là chỉ nghe được những tiếng động mạnh, kề sát tai, thường gọi là điếc, đi kèm theo điếc là bị mất ngôn ngữ - câm

Trang 28

20

Như vậy, khiếm thính là tình trạng suy giảm một phần hoặc mất hẳn toàn bộ khả năng nghe Theo cách nói phổ thông, người khiếm thính bao gồm người điếc và người lãng tai (nghễnh ngãng) Những người khiếm thính ngay sau khi sinh hoặc rất sớm trong những năm đầu đời thường không có khả năng phát triển ngôn ngữ bình thường

và kết quả là không nói được (“câm” là hệ quả thứ phát của “điếc”)

1.3.2 Nguyên nhân gây ra khiếm thính

Khuyết tật về thính giác ở người có thể gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, người ta có thể chia ra làm ba nguyên nhân chính theo các giai đoạn phát triển

a Nguyên nhân trước sinh

- Những bệnh do virut gây nên như: Bệnh quai bị, cúm…

- Mất hoặc giảm khả năng hoạt động của các bộ phận của tai như ống tai ngoài bị bịt kín, chuỗi xương con bị xơ cứng,…

- Nhiễm độc thuốc khi mẹ mang thai

b Nguyên nhân trong khi sinh

- Đẻ ngạt

- Thai ngược, khi đẻ phải dùng dụng cụ trợ giúp (fooc – xép)

- Đẻ thiếu tháng

c Nguyên nhân sau khi sinh

- Bệnh tật: Viêm màng não, sởi, các bệnh do virut (cúm, quai bị, viêm tai giữa)

- Chấn thương

- Tiếng động quá mạnh hay áp suất lớn tác động

- Sử dụng thuốc quá liều lượng cho phép hoặc sai chỉ định

- Suy dinh dưỡng

Ngoài ra, còn do một số nguyên nhân khác như di truyền,…

1.3.3 Đặc điểm tâm lý của người khiếm thính

a Đặc điểm nhận thức cảm tính

Cảm giác và tri giác nhìn của người khiếm thính:

Ở người khiếm thính, do mất cảm giác tri giác nghe nên cảm giác, tri giác nhìn

và vận động trở nên đặc biệt quan trọng Đây là nền tảng để hình thành tiếng nói cho người khiếm thính Người khiếm thính tiếp nhận bằng mắt cấu tạo âm, cách phát âm trong việc tri giác hình tượng chữ viết

Trang 29

21

Cảm giác và tri giác vận động của người khiếm thính

Cảm giác vận động là phương thức duy nhất giúp người khiếm thính kiểm tra lại

sự phát âm của mình

Ngôn ngữ hình miệng, ngôn ngữ chữ cái ngón tay, ngôn ngữ điệu bộ của người khiếm thính đều hình thành trên cơ sở cảm giác vận động và cảm giác nhìn

Cảm giác và tri giác xúc giác ở người khiếm thính

Xúc giác hỗ trợ đắc lực cho thị giác, ngược lại thị giác hỗ trợ cho xúc giác, giữa chúng có mối quan hệ trực tiếp và tác động qua lại Nghiên cứu của I.M.Xôlôviep đã chỉ ra rằng, trẻ khiếm thính nhỏ tuổi xúc giác phát triển kém chỉ sau một quá trình

luyện tập lâu dài trẻ mới sử dụng đúng xúc giác trong việc làm quen với khách thể mới

b Đặc điểm nhận thức lý tính

- Đặc điểm tư duy của người khiếm thính

+ Tư duy trực quan - hành động

Tư duy trực quan - hành động phát triển mạnh ở người khiếm thính nhờ vào khả năng quan sát nhanh nhạy của thị giác

Người khiếm thính có khả năng tiến hành các thao tác thuận nghịch trong tư duy trực quan - hành động Tuy nhiên, khả năng đó chỉ thể hiện khi gặp các bài toán đơn giản

+ Tư duy trực quan - hình tượng

Loại tư duy này được phát triển mạnh ở người khiếm thính Nhiều nghiên cứu cho rằng, người khiếm thính ở thời kỳ trước khi tiếp thu ngôn ngữ và trong quá trình thu nhận còn có một thời gian dài dừng lại ở tư duy trực quan - hình tượng, nghĩa là họ không suy nghĩ bằng lời mà bằng hình ảnh Người khiếm thính khó hiểu những câu thành ngữ, những câu nói mang nghĩa ẩn dụ

+Tư duy trừu tượng

Người khiếm thính tiếp thu ngôn ngữ chậm hơn vì thế hạn chế đáng kể so với người nghe rõ trong việc hình thành tư duy trừu tượng và làm giảm khả năng nhận thức của họ Đối với người khiếm thính, khi họ viết một từ chỉ tên gọi một vật do người khác đặt ra thì ở họ chỉ hình thành một từ biểu thị cho một sự vật đơn nhất mà chưa biết khái quát thành khái niệm

Trang 30

22

- Đặc điểm tưởng tượng của người khiếm thính

Sự phát triển ngôn ngữ chậm ở người khiếm thính đã gây nhiều khó khăn cho việc hình dung ra những điều mà họ chưa được tri giác, khiến cho quá trình tưởng tượng ở người khiếm thính trở nên khó khăn và ít phát triển như người bình thường

- Đặc điểm trí nhớ của người khiếm thính

Do những hạn chế về thính giác nên việc tiếp nhận và ghi nhớ của người khiếm thính chủ yếu qua thị giác

Người khiếm thính có trí nhớ tốt khi lấy cử chỉ làm điểm tựa và hiểu nhanh khi

từ được thể hiện qua cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu và nhớ dựa vào hình ảnh

Họ rất khó khăn khi nhớ những từ không được thể hiện bằng cử chỉ tương đương, mà

phải ghi nhớ bằng các “điểm tựa” âm vị

c Đặc điểm ngôn ngữ

Do khả năng nghe bị hạn chế nên sự phát triển ngôn ngữ nói của người khiếm thính bị ảnh hưởng Sự phá huỷ chức năng nghe càng sớm, càng nặng thì sự phá huỷ ngôn ngữ càng nặng nề hơn Sự phá huỷ này thể hiện trên một loạt lĩnh vực thiếu sót

về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nghèo nàn hạn chế Trong trường hợp bị khiếm thính nặng, họ không thể tự lĩnh hội được ngôn ngữ Hệ thống tín hiệu thứ hai của họ chỉ hình thành trong trường hợp được giáo dục tốt dưới sự hướng dẫn của cha mẹ, giáo viên hoặc chuyên gia

Khả năng giao tiếp của người khiếm thính phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cũng như phương pháp giáo dục ngôn ngữ ở những giai đoạn đầu đời

1.4 Nhu cầu của người khiếm thính

1.4.1 Khái niệm

Nhu cầu của người khiếm thính là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà người khiếm thính thấy cần được thỏa mãn

để tồn tại và phát triển

1.4.2 Các nhu cầu của người khiếm thính

Qua quá trình nghiên cứu sơ lược về tâm lý của người khiếm thính và so sánh với người nói được bình thường, chúng tôi rút ra được bốn nhu cầu có sự khác biệt lớn giữa người khiếm thính và người nói được, đó là: Nhu cầu tìm kiếm việc làm; Nhu cầu

Trang 31

23

lập gia đình và có con; Nhu cầu giao tiếp với người nói được trong cộng đồng; Nhu cầu tìm hiểu, học tập nâng cao kiến thức bản thân

a Nhu cầu tìm kiếm việc làm

Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân, Điều 55 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động” Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng

xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Do đó, việc làm có vai trò hết sức quan trọng

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của

cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định Bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội

Đối với bản thân người lao động, có việc làm sẽ tạo cơ hội để người lao động có thu nhập, đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình đồng thời đóng góp cho xã hội Đối với mỗi quốc gia, giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ tạo điều kiện và cơ sở để triển khai các chính sách xã hội khác như phát triển văn hóa, y tế, giáo dục… góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội

Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất

Về mặt xã hội, giải quyết việc làm có mục tiêu hướng vào sử dụng lao động, chống thất nghiệp và khắc phục tình trạng thiếu việc làm bảo đảm thu nhập

Người khiếm thính cũng có cuộc sống như người bình thường, cũng có những khoảng chi tiêu cho cuộc sống như người bình thường, nhưng không thể nói được nên

cơ hội tìm kiếm việc làm của họ rất ít Và họ rất cần một công việc để có được những khoảng thu nhất định chi trả cho cuộc sống hằng ngày, và nhất là họ không để mình trở thành gánh nặng cho gia đình và cho xã hội Cũng như những người khác, họ cũng muốn đóng góp sức lao động của mình cho sự phát triển của xã hội

b Nhu cầu lập gia đình và có con

Mỗi người sinh ra và lớn lên, khi đến tuổi trưởng thành đều mong muốn sẽ tìm được nữa thứ hai của mình để sống chung cả đời, rồi sinh ra những đứa con xinh xắn

Trang 32

24

Nhưng để có được một cuộc sống gia đình hạnh phúc, mỗi người phải tự tìm hiểu, bổ sung cho mình những kiến thức về cuộc sống hôn nhân, cách nuôi dạy con cái Những kiến thức này, chúng ta thường được tiếp thu qua những lời dạy bảo của cha

mẹ, sách báo, hoặc qua các lớp học Dù bằng con đường nào thì phương tiện chủ yếu

để tiếp thu được cũng là ngôn ngữ Đây là rào cản lớn nhất đối với người khiếm thính

Vì vậy, do những khó khăn trong giao tiếp nên việc họ tìm được một nữa kia của mình cũng không hề dễ dàng, cuộc sống hôn nhân và cách nuôi dạy con cái càng khó khăn hơn Hành động của họ cơ bản là bản năng, chỉ có một phần học được qua nhìn theo, bắt chước người khác

c Nhu cầu giao tiếp với những người nói được

Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của cộng đồng xã hội nhất định Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia đình, bạn bè, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội Trong quá trình sống và hoạt động, con người luôn gắn liền với các mối quan hệ Giao tiếp là một hoạt động không thể thiểu trong xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định

Giao tiếp và điều kiện để tâm lý, nhân cách phát triển bình thường, về bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Nhờ có giao tiếp, con người có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, gia nhập cộng đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và chuyển chúng thành tài sản riêng cho mình Trong giao tiếp, nhiều phẩm chất của con người, nhất là những phẩm chất đạo đức được hình thành và phát triển Qua quá trình giao tiếp với những người xung quanh, ta nhận thức được chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, tồn tại trong xã hội, tức là những nguyên tắc ứng

xử Chúng ta biết được cái gì tốt, xấu, đẹp và không đẹp, cái gì cần nói và cần làm Giao tiếp giúp thỏa mãn nhiều nhu cầu khác của con người như: nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được những người xung quanh quan tâm, chú ý, nhu cầu được hòa nhập vào một nhóm xã hội nhất định

Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu bẩm sinh của mỗi người Nếu thiếu giao tiếp sẽ gây

ra ở con người thuộc bất kỳ lứa tuổi nào những rung động tiêu cực: lo âu, chờ đợi một điều gì đó không may xảy ra mặc dù không có điều gì đe dọa họ cả Hạn chế về giao tiếp gây ra trì trệ sự phát triển trí tuệ Với người khiếm thính bị hạn chế về ngôn ngữ

Trang 33

25

nói - ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp - nên bị hạn chế rất nhiều trong quá trình giao tiếp với những người nói được Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm lý của họ

d Nhu cầu tìm hiểu, học tập nâng cao kiến thức cho bản thân

Con người luôn muốn bản thân mình ngày càng hoàn thiện hơn về bề ngoài cũng như tri thhức Vì vậy, chúng ta luôn muốn tìm hiểu về các vấn đề xã hội xung quanh

và những kiến thức mà mình quan tâm Đây là nhu cầu cao trong bậc tháp nhu cầu của con người Ở người khiếm thính, do gặp nhiều khó khăn trong đọc viết nên việc thỏa mãn được nhu cầu này cũng là một điều khó khăn

Bốn nhu cầu được đề cập ở trên có thể xếp vào tháp nhu cầu của Masslow theo

sơ đồ sau:

Như vậy, bốn nhu cầu được nghiên cứu trong đề tài, có nhu cầu ở bậc cao nhất của tháp nhu cầu - nhu cầu tìm hiểu, học tập nâng cao kiến thức bản thân - cũng có những nhu cầu thuộc các bậc thấp hơn như: Nhu cầu giao tiếp với những người nói được, nhu cầu lập gia đình và có con Có nhu cầu vừa là nhu cầu bậc cao, vừa là nhu cầu bậc thấp (nhu cầu tìm kiếm việc làm)

Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (Love and Belongingness)

Nhu cầu về được tôn trọng ( esteem needs )

Nhu cầu về an toàn ( safety needs )

Nhu cầu sinh lý (Physiological needs )

-Nhu cầu được thể hiện mình ( self – actualizing needs )

Nhu cầu tìm kiếm

Trang 34

sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển

- Người khiếm thính là những người bị mất một phần hay toàn bộ thính giác Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ quá trình tâm lý của họ Các quá trình tâm

lý của người khiếm thính phát triển chậm hơn và gặp nhiều khó khăn hơn người bình thường Mặc dù vậy, người khiếm thính vẫn có những nhu cầu cơ bản giống như những người khác

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Nguyễn Ngọc Chinh (2008), Giáo dục học sinh khiếm thính tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt thành phố Đà Nẵng – thực trạng và giải pháp, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học sinh khiếm thính tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt thành phố Đà Nẵng – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chinh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2008
[4]. James Clyde Woodward, Nguyễn Thị Hạ (2003), Những vấn đề về giáo dục và giao tiếp với người điếc – ngôn ngữ ký hiệu, trường Đại học Sư phạm Hà Nội [5]. Dương Phương Hạnh (2009), Thế giới người khiếm thính, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về giáo dục và giao tiếp với người điếc – ngôn ngữ ký hiệu", trường Đại học Sư phạm Hà Nội [5]. Dương Phương Hạnh (2009), "Thế giới người khiếm thính
Tác giả: James Clyde Woodward, Nguyễn Thị Hạ (2003), Những vấn đề về giáo dục và giao tiếp với người điếc – ngôn ngữ ký hiệu, trường Đại học Sư phạm Hà Nội [5]. Dương Phương Hạnh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2009
[6]. Lê Thị Hằng (2008), Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thính, khoa Tâm lý – Giáo dục, Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thính
Tác giả: Lê Thị Hằng
Năm: 2008
[7]. Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc, Giáo trình tâm lý học phát triển, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học phát triển
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
[12]. Nguyễn Văn Lũy - Lê Quang Sơn (đồng Chủ biên), Từ điển Tâm lý học, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[14]. Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật (1994), Giáo dục trẻ khuyết tật thính giác, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ khuyết tật thính giác
Tác giả: Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
[15]. Dự án giáo dục Đại học cho người điếc Việt Nam thông qua sự phân tích, giảng dạy và phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu, Ngôn ngữ kí hiệu TP Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ kí hiệu TP Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
[1]. Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lí học nhân cách - một số vấn đề lí luận, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2000 Khác
[3]. PGS. TS. Trần Ngọc Khuê (Chủ biên), Giáo trình tâm lý học lãnh đạo quản lý, Khoa Tâm lý xã hội - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 Khác
[8]. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Các lý thuyết phát triển tâm lí người, Nxb Đại học Sư phạm, 2003 Khác
[9]. Đào Thị Oanh (chủ biên), Vấn đề nhân cách trong tâm lí học ngày nay, Nxb Giáo dục, 2007 Khác
[10]. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển tâm lí học, Nxb Thế Giới, 2007 Khác
[11]. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình tâm lí học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm, 2006 Khác
[13]. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở tiểu học (tài liệu bồi dưỡng giáo viên tiểu học), (2006), NXB Bộ Giáo dục và Đào tạo (dự án phát triển giáo viên tiểu học – lưu hành nội bộ) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm