1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển nhận thức luận

72 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 873,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức có ý nghĩa rất quan trong đối với sự phát triển nhận thức luận, nhờ nó mà lý luận nhận thức của con người không ngừng cải thiện và

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô khoa Giáo dục – Chính trị Đặc biệt là thầy giáo ThS Dương Đình Tùng, người đã tạo điều kiện và giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua

Do bước đầu làm quen với việc nghiên cứu với khóa luận nên kiến thức, trình độ chuyên môn còn hạn chế, vì thế khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Đà nẵng, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Tống Thị Thương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

NỘI DUNG 9

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ NGUYÊN TẮC NĂNG ĐỘNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC 9

1.1 Các quan điểm triết học ngoài mác-xít về nguyên tắc năng động của hoạt động nhận thức 9

1.1.1 Một số quan điểm cơ bản của các nhà triết học phương Đông 9

1.1.2 Một số quan điểm cơ bản của các nhà triết học phương Tây trước Mác 12

1.1.3 Một số quan điểm cơ bản của các trường phái triết học phương Tây hiện đại 17

1.2 Nội dung cơ bản về nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức của triết học Mác 20

1.2.1 Nguồn gốc và bản chất của ý thức 20

1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nhận thức biện chứng 26

1.2.3 Nguyên tắc năng động – yêu cầu tất yếu để phát hiện bản chất của khách thể 34

Chương 2 Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC NĂNG ĐỘNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC 37

2.1 Triết học Mác ra đời là một cuộc cách mạng về lý luận nhận thức 37

2.1.1 Những hạn chế cơ bản của các nhà triết học duy vật trước Mác về lý luận nhận thức 37

2.1.2 Những hạn chế cơ bản của các nhà triết học duy tâm lý luận nhận thức 41

2.1.3 Cuộc cách mạng trong nhận thức luận của triết học Mác 43

Trang 4

2.2 Giá trị của nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức đối với sự phát triển nhận thức luận hiện nay 562.2.1 Không được tuyệt đối hóa vai trò của ý thức cũng như không được đánh giá thấp tác dụng của ý thức 56 2.2.2 Nhận thức phải dựa trên thực tại khách quan 59 2.2.3 Phát huy tính năng động chủ quan của con người trong quá trình nhận thức 61

KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khác với con vật chỉ có thể thích nghi thụ động với hoàn cảnh, con người không chỉ biết sử dụng những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên mà còn biết tác động ngược trở lại với hoàn cảnh làm thay đổi hoàn cảnh, trong quá trình làm thay đổi ấy con người đồng thời làm thay đổi cả bản thân mình Sự khác biệt đó có nguyên nhân trực tiếp trong hoạt động phản ánh giữa con người và con vật, nếu phản ánh của con vật là quá trình sao chép, thì phản ánh của con người là quá trình cải biến

có tính mục đích với sự tham ra của hoạt động lý tính

Trong tồn tại vận động và phát triển, nhận thức của con người xét về phương diện cá nhân và thời đại là có giới hạn Tuy nhiên, không vì thế mà con người bất lực trước tự nhiên mà trong quá trình đó con người không ngừng biến đổi thế giới vật tự nó thành vật cho ta, hay là quá trình con người mở rộng thân thể vô cơ của mình Quá trình đó có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc vào cách thức con người sử dụng tư duy và trong hoạt động thực tiễn Nhờ có sự năng động trong hoạt động nhận thức mà nó cho phép nhận thức con người vượt ra khỏi những thước khuôn của tri thức cũ mà trước đó nhận thức của con người chưa thể vượt qua, giúp con người ngày càng hiểu hơn về giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên theo mục đích của mình Vì vậy, nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức có ý nghĩa rất quan trong đối với sự phát triển nhận thức luận, nhờ nó mà lý luận nhận thức của con người không ngừng cải thiện và phát triển

Nguyên tắc năng động hay vai trò của tư duy trong hoạt động sống của con người đã được các nhà triết học bàn rất sớm Tuy nhiên, với những hạn chế mang tính thời đại và phương pháp nhận thức nên về cơ bản những nhà triết học trước Mác không lột tả đúng bản chất và vai trò vận động của tư duy Kế thừa những thành tựu về lý luận và sự phát triển về khoa học tự nhiên Mác đã xây dựng nguyên tắc năng động của tư duy dựa trên thế giới quan và phương pháp khoa học, qua đó khắc phục được những hạn chế của những nhà triết học trước đó Do vậy, nghiên cứu về nguyên tắc năng động để thấy được vai trò của nó trong sự phát triển của

Trang 6

Những thành tựu khoa học to lớn mà loài người đạt được trong thế kỷ XX đã làm đảo lộn hiểu biết vốn có của chúng ta Tiến bộ công nghệ đã và đang ngày càng

in đậm dấu ấn lên mọi mặt cuộc sống Những hiểu biết mới trong các lĩnh vực khác nhau dần dần đã hình thành nên quan điểm mới, tư duy mới về thiên nhiên cũng như về xã hội, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với nhiều biến động dồn dập những định hướng cho tư duy mới ngày càng trở nên cần thiết hơn trong thực tiễn Vì vậy, hơn lúc nào hết nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức ngày càng trở nên cần thiết hơn đối với xã hội

Với ý nghĩa đó, cùng sự định hướng của giáo viên hướng dẫn, chúng tôi lựa

chọn đề tài “Nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức và ý nghĩa của nó

đối với sự phát triển nhận thức luận”, làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở quan điểm của triết học Mác về nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức, đề tài làm rõ đóng góp của nó đối với sự phát triển của nhận thức luận trong lịch sử tư duy nhân loại

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Phân tích và luận giải các quan điểm ngoài mácxit về nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức, bước đầu chỉ ra những đóng góp và hạn chế của những quan điểm ấy trong vấn đề tư duy và nguyên tắc năng động của tư duy

- Làm rõ quan điểm của triết học Mác về nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức

- Rút ra những ý nghĩa của nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức đối với sự phát triển nhận thức luận

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình hoàn thành đề tài, chúng tôi quán triệt những nguyên tắc trong nhận thức của phép biện chứng duy vật, đồng thời kết hợp, sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: diễn giải, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, lôgíc và lịch sử

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu 2 chương (4 tiết)

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nghiên cứu về nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức là vấn đề đã được Mác, Ăngghen và Lênin quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Trong các tác phẩm của mình các ông đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức

Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học, Mác đã chỉ ra rằng: hoạt động sinh

sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức, con người nhận thức được hoạt động sinh sống của chính mình, con người điều khiển hoạt động sinh sống của mình bằng ý thức, ý chí của mình Ông cho rằng con người khác với con vật là ở chỗ: Con người biến bản thân hoạt động sinh sống của mình thành đối tượng của ý chí và ý thức của mình Con người có một hoạt động sinh sống có ý thức…hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của

con vật Tiếp đó trong Luận cương về Phoiơbắc khi vạch ra hạn chế của quan điểm

duy vật trước, Mác chỉ ra rằng: con người không phải là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh theo kiểu ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

Ý thức con người không phải là phản ánh thụ động của tồn tại Thậm chí, ý thức của những cá nhân tiên tiến có thể vượt lên trên trước tồn tại Trong xã hội tư bản với sự phát triển của sức sản xuất đã xuất hiện nhưng tư tưởng của xã hội tiến bộ trong tương lai – xã hội cộng sản chủ nghĩa Nhờ có tư duy mà con người mới có thể là chủ thể cải tạo hoàn cảnh họ đang sống và sáng tạo ra hoàn cảnh mới

Ăngghen trong tác phẩm Chống Duyrinh của mình đã viết: khi người ta hiểu

“tư duy” theo kiểu hoàn toàn tự nhiên của chủ nghĩa, coi đó là….không mâu thuẫn

Trang 8

mà lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên Trong khi bác bỏ quan niệm siêu hình của Đuyrinh về chân lý tuyệt đối, Ăngghen cho rằng tư duy của con người cũng tuân theo quy luật biện chứng, nghĩa là tư duy của con người trong nhận thức đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện nhiều đến hoàn thiện, không có các con người không thể nhận thức được chỉ có các con người chưa nhận thức được Chân lý tuyệt đối được xây dựng từ chân lý tương đối và sự thành công của nó phụ thuộc vào vai trò năng động của chủ thể

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của V.I.Lênin là một

tác phẩm mẫu mực trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác trên cả hai phương

diện nội dung và phương pháp, với tựa đề: lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh

nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật biện chứng V.I.Lênin đã xem xét các vấn đề

về nhận thức, trả lời câu hỏi: con người có thể nhận thức được thế giới không, nếu

có thì nhận thức như thế nào? V.I.Lênin đã chứng minh quan điểm của triết học

Mác về tính có thể nhận thức được thế giới bằng quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người Ông đã nêu ra ba kết luận cơ bản của nhận thức luận, trình bày tường tận về thế giới khách quan, chân lý tương đối, chân lý tuyệt đối và

vấn đề thực tiễn Bản tóm tắt và phân tích Lôgíc học của Hêghen trong tác phẩm

Bút ký triết học, với việc đưa ra 16 yếu tố của phép biện chứng Lênin đã phê phán

cơ sở thể giới quan và tính không triệt để của Hêghen đồng thời làm tỏ phép biện chứng như là một khoa học triết học Trong đó yếu tố thứ 11 của phép biện chứng: quá trình vô hạn của sự đi sâu của nhận thức của con người về các sự vật, hiện tượng, quá trình…nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Có thể hiểu rằng, yếu tố này của phép biện chứng vạch ra quá trình đào sâu không ngừng của việc nhận thức bản chất của sự vật Vận động của nhận thức khoa học bắt đầu từ chỗ tìm thấy bản chất của các sự vật, hiện tượng

ở ngay thực tiễn

Khi luận bàn về tư duy và nguyên tắc năng động của tư duy, những nhà nghiên cứu mác-xít đã có những phân tích, kiến giả sâu sắc trên tinh thần của phép biện chứng duy vật

Trang 9

Trong Những nguyên lý lôgíc biện chứng [24] và Những vấn đề về phép biện

chứng trong bộ Tư bản của Mác [25], Rôdentan cho rằng, tư duy là công cụ mạnh

mẽ của con người dùng để nhận thức và cải tạo thế giới Tư duy không phải là dạng cấu trúc cơ học mà nó tồn tại và hoạt động dưới sự tác động của các quy luật Sự vận động và phát triển của nhân loại hướng tư duy con người phát triển thành tư duy biện chứng và theo ông đây là hình thức tư duy khoa học và đúng đắn nhất, phải sử dụng tư duy biện chứng mới phát hiện ra được biện chứng của thực tiễn

Trong Lịch sử phép biện chứng, Các tác giả thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã phân tích sự phát triển của biện chứng gắn liền với sự phát triển của tư

duy biện chứng, đã chỉ ra phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của tư duy biện chứng Bên cạnh đó sự đấu tranh giữa phương pháp tư duy biện chứng và phương pháp tư duy siêu hình, sự chiến thắng của phương pháp tư duy biện chứng duy vật đã được trình bày một cách hệ thống Các tác giả cũng chỉ rõ tính chất phản khoa học của phép biện chứng duy tâm, làm sáng tỏ sự phụ thuộc của

tư duy biện chứng duy vật vào điều kiện kinh tế-xã hội và các thành tựu khoa học, đồng thời công trình đã khẳng định tính đúng đắn, khoa học cách mạng của tư duy biện chứng duy vật trong việc lý giải vấn đề thực tiễn đặt ra

Trong cuốn sách Lôgíc học [8] Gorki cho rằng, chỉ có thể tư duy đúng đắn khi

chúng ta vận dụng tư tưởng có nội dung chân thực đã được chứng minh phù hợp với những quy luật của logíc học Ông khẳng định rằng, các quy luật của lôgíc biện chứng có vai trò quan trọng trong tư duy và nhận thức khoa học, nó giúp các chủ thể nhận thức khắc phục được sai lầm để nâng cao trình độ và năng lực tư duy, phản ánh chính xác hiện thực khách quan

A.P.Séptulin trong Phương pháp nhận thức biện chứng [26] Đã đi sâu phân

tích chức năng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin; khẳng định và lý giải phép biện chứng với tư cách là phương pháp luận nhận thức và cải tạo thế giới Ông

đã phân tích và tập trung luận giải bản chất, những nguyên tắc của tư duy biện chứng duy vật; trên cơ sở đó đề ra những yêu cầu, định hướng đối với chủ thể nhận thức trong quá trình nghiên cứu khách thể; đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa phương pháp biện chứng với phương pháp của các khoa học cụ thể Ông khẳng định rằng,

Trang 10

phương pháp nhận thức biện chứng là kết quả của lịch sử phát triển nhận thức, các quy luật của hoạt động nhận thức được thể hiện qua các quy luật, phạm trù của phép biện chứng, trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới chủ thể tư duy phải tuân thủ các nguyên tắc của phép biện chứng

Trong bài báo “Ý thức có tồn tại không?” [34], Vưgốtxki đã giải thích rằng, toàn bộ sự khác biệt giữ ý thức và thế giới (giữa phản xạ đối với phản xạ và phản xạ đối với các tác nhân kích thích) chỉ là trong ngữ cảnh của hiện tượng Trong ngữ cảnh của các tác nhân kích thích – đó là thế giới, trong ngữ cảnh của các phản xạ của mình – đó là ý thức Ý thức chỉ là phản xạ của phản xạ Ông khẳng định ý thức không phải là một phạm trù xác định, một phương thức tồn tại đặc biệt Nó là một cấu trúc phức tạp của hành vi, một phần tăng cường của hành vi nói chung

Khi bàn về nguyên tắc năng động của tư duy, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam

đã có những kiến giả khoa học về vấn đề này ở góc độ lý luận cũng như vai trò của

nó trong thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay

Đào Duy Tùng trong Bàn về đổi mới tư duy [30], đã phân tích sự cần thiết phải

đổi mới tư duy, tư duy lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là do sự lạc hậu

về kinh tế, chính trị, xã hội, sự yếu kém về nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội, chỉ ra phương hướng, biện pháp để đổi mới tư duy, đồng thời khẳng định, đổi mới tư duy là yêu cầu bức thiết là mệnh lệnh của cuộc sống và là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Nguyễn Ngọc Long trong bài “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới

tư duy” [14], đã phân tích bản chất và những yếu tố cấu thành năng lực tư duy lý

luận, sự cần thiết phải phát triển năng lực tư duy trong thời kỳ đổi mới đất nước Tác giả khẳng định quá trình đổi mới tư duy phải gắn chặt với quá trình đổi mới và nâng cao năng lực tư duy lý luận, phải khắc phục những sai lầm của chúng ta trong thời gian qua

Tác giả Hồ Bá Thâm trong bài: “Bàn về năng lực tư duy” [27], đã khẳng định

3 yếu tố cấu thành năng lực tư duy đó là: năng lực ghi nhớ, tái hiện những hình ảnh

do cảm tính đem lại; năng lực trừ tượng hóa, khái quát hóa trong phân tích và tổng hợp, tức là có khả năng tách bản chất khỏi hiện tượng, cái chung khỏi cái riêng và

Trang 11

từ đó đi đến kết luận; tưởng tượng và liên tưởng để tìm bản chất của vấn đề từ chưa biết đến đã biết, vạch ra cái mới Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra định nghĩa về năng lực tư duy và phân tích những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới năng lực tư duy

Các tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải trong cuốn: Tư duy khoa học trong

giai đoạn cách mạng khoa học – công nghệ [18], đã tập trung phân tích làm sáng tỏ

vấn đề tư duy, bản chất, đặc điểm chủ yếu của tư duy khoa học cũng như một số những đặc trưng của tư duy khoa học trong giai đoạn mới của cách mạng khoa học công nghệ, trên cơ sở đó, các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò quan trọng của việc phát huy tư duy khoa học trong giai đoạn hiện nay

Nguyễn Mạnh Cường trong bài: “Về bản chất tư duy”, đã phân tích, làm rõ nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển tư duy biện chứng duy vật; khẳng định tư duy biện chứng mácxit là hình thức tư duy phát triển cao nhất trong lịch sử Tác giả đã phân tích sự phụ thuộc của tư duy vào hệ thống tri thức và hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể, thiếu vốn tri thức chủ thể nhận thức sẽ không còn tư duy sáng tạo Đặc biệt, tác giả đã phân tích mối quan hệ biện chứng,

sự khác nhau giữa tư duy chính xác và tư duy biện chứng duy vật trong quá trình nhận thức

Nguyễn Bá Dương trong bài: “Về đặc trưng của tư duy biện chứng duy vật”

Theo tác giả, chỉ có tư duy biện chứng duy vật mới đem lại “chìa khóa vàng” để giúp con người mở cửa tiến lên phía trước Muốn nhận thức và cải tạo hiện thực hiệu quả thì con người phải có tư duy biện chứng duy vật Nó là “la bàn” dẫn đường chỉ lối giúp người ta không bao giờ lạc hướng, bước nhầm đường

Vũ Văn Viên trong công trình nghiên cứu khoa học: Tư duy lôgíc bộ phận hợp

thành của tư duy khoa học [32], đã luận giải một cách khoa học để làm rõ tư duy

lôgíc là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học Tác giả đã khẳng định, tư duy khoa học chính là sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư duy lôgíc, trong đó tư duy biện chứng đóng vai trò là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duy lôgíc là tổng hợp các thao tác lôgíc vào giải quyết chính xác các vấn đề cụ thể Trên cơ sở đó làm

rõ bản chất của tư duy khoa học, tác giả đã đi sâu phân tích các yếu tố hợp thành tư duy khoa học và khẳng định vai trò to lớn của tư duy lôgíc trong tư duy khoa học

Trang 12

Những công trình trên tuy chưa trực tiếp luận giải về nguyên tắc năng động trong tư duy một cách hệ thống, và cũng chưa trực tiếp chỉ ra những đóng góp của

nó trong sự phát triển của nhận thức luận, nhưng đã gợi mở cho chúng tôi rất nhiều

vấn đề trong quá trình thực hiện đề tài đặc biệt là những vấn đề lý luận

Trang 13

1.1.1 Một số quan điểm cơ bản của các nhà triết học phương Đông

Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học của Ấn độ và Trung Hoa đã thấy được vai trò của tư duy trong hoạt động sống của con người, và các ông đề cao vai trò của

tư duy trong hoạt động giáo dục

Trong quá trình dạy học, Khổng Tử coi trọng phương pháp giảng dạy Ông chú ý dẫn dắt học trò từng bước một để họ có thể suy nghĩ rút ra kết luận Ông đã lấy kinh nghiệm của bản thân mình để nêu gương cho học trò: “Ta không phải là người sinh ra đã hiểu biết mà là người thích nền văn hóa cổ xưa rồi cần cù học hỏi

đó thôi” [19, Tr.67] Khổng Tử còn khuyên học trò phải hết sức khiêm tốn tranh thủ mọi điều kiện để học hỏi: “Không hổ hẹn khi hỏi người kém hơn mình”[19, tr.68]

“Ba người cùng đi đường với ta thế nào cũng có người để cho ta học tập: lựa chọn mặt tốt của họ để noi theo, nhận xét mặt không tốt của họ để sửa chữa” [19, tr.68], phải thành thật trong việc nhìn nhận khả năng của mình “biết thì nói biết, không biết thì nói là không biết, như vậy mới là người biết”[19, tr.68]

Theo ông giáo dục là nhân tố không thể thiếu được, một dân tộc dốt không thể mạnh được Khổng Tử đã nhận ra rằng: “Giáo dục, phát triển trí đức là chìa khóa để phát triển kinh tế, đồng thời phát triển kinh tế là cơ sở cho phát triển giáo dục và dân trí” [5, tr.45]

Khổng Tử quan niệm giáo dục không chỉ để cải tạo nhân tính ở chỗ mở mang trí thức, giải thích vũ trụ mà ông chú trọng đến nhân cách đầy đủ, lấy giáo dục để

mở mang cả trí, tình lẫn ý cốt sau dạy người ta trở thành con người đạo lý Với Khổng Tử thì bất cứ một cá nhân có thiên tài lỗi lạc như thế nào nếu không để cho giáo dục uốn nắn thì không có thể thành một nhân cách hoàn toàn được Khổng Tử

Trang 14

có phương pháp dạy học hết sức đúng đắn mà người đời sau vẫn thực hiện khá phổ biến, đó là: “Người nào ôn lại những điều đã học, do nơi đó mà biết thêm những điều mới, người đó có thể làm thầy thiên hạ đó - Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỹ” [29, tr.20-21] Ông đặc biệt chú ý gợi mở trí phán đoán độc lập của học trò, không nhồi nhét, áp đặt Phương pháp dạy học của ông luôn nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo và khoa học, khả năng tư duy của người học Ông nói: “Kẻ nào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến mình, thì ta chẳng khai phát cho được Kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn ba góc kia, thì ta chẳng dạy

kẻ ấy nữa - Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát Cử nhứt ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã” [29, tr.100-101]

Có thể nói Khổng Tử đã thấy rằng tư duy, tính năng động của tư duy có vai trò quan trọng trong quá trình con người nhận thức về thế giới

Vấn đề năng động, sáng tạo của ý thức còn là vấn đề quan trọng trong triết học Phật giáo nó được thể hiện trong nhận thức luận Phật giáo và quan điểm của Phật giáo về giáo dục

Giáo dục Phật giáo là để tạo nên một con người tự do, có đạo đức, có trí tuệ, sống có lý tưởng, suy nghĩ hợp lý, thích ứng được với bối cảnh xã hội Giáo dục Phật giáo cũng được hiểu là một quá trình “nuôi lớn thánh thai” “Thánh thai” được trưởng thành trong bao lâu điều đó tùy thuộc vào sự nỗ lực của mỗi người Giáo dục Phật giáo trước hết là dạy cho người khác biết và hiểu kinh điển Phật Do đó, mục tiêu đầu tiên của giáo dục Phật giáo là học những kinh sách này và sử dụng chúng như là một thấu kính để hiểu ý nghĩa của lời Phật dạy Học kinh như là một phần của tiến trình tu tập Do vậy, mục tiêu thứ hai của giáo dục Phật giáo là để chuyển đổi bản thân, tức là việc học giáo pháp nhằm làm cho chúng ta trở thành những con người tốt hơn, có phẩm hạnh và đạo đức hơn, trở thành những con người tử tế, chân thật, từ bi và biết kính trọng người khác Giáo dục Phật giáo là để phát triển trí tuệ, hiểu thấu bản chất thật sự của các pháp, hiểu được những điều luôn chân thật và có giá trị Học Phật là đi theo con đường đức Phật đã dạy để nhận chân sự thật, để qua

đó loại bỏ những quan điểm sai lầm, đào luyện tâm và có thể nhận ra được sự thật

Trang 15

Giáo dục Phật giáo đào tạo nên những con người có thể đem pháp giáo của đức Phật truyền trao lại cho những người khác Học phật pháp là để đem lại lợi ích cho cuộc đời này, để cho nó có nhiều người được hưởng lợi ích từ việc thực hành theo giáo pháp ấy Giáo dục Phật giáo là đào tạo nên những con người biết phụng sự người khác Nền tảng của sự tu tập trong Phật giáo chính là Giới, Định và Tuệ

Giới là những nguyên tắc đạo đức do đức Phật chế định để giúp con người tự giác kiềm chế sự phóng túng của hành động, lời nói và ý nghĩ Từ đó mà tâm đạt tới trạng thái tập trung, an trụ để sẵn sàng cho sự khai mở tuệ giác

Trí tuệ là mục đích và thiền định là tiến trình thiết yếu để đạt đến trí tuệ Tuân giữ giới luật là phương pháp giúp tâm yêu ổn, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình thiền định Khi tâm được định thì trí tuệ sẽ thể hiện một cách tự nhiên

Giá trị của giáo dục Phật giáo là hướng đến sự phát triển toàn diện của con người qua các mặt của đời sống, đặc biệt là tâm thức, nhằm kiến tạo một đời sống trí tuệ và hạnh phúc thật sự ngay tại con người này và cuộc đời này

Tóm lại, mục tiêu của giáo dục Phật giáo là đạt đến trí tuệ cứu cánh hay trí tuệ chân thật, giúp con người thoát khỏi sự đau khổ, mục đích tối hậu của cuộc sống Với Phật giáo, khổ là vì không hiểu biết Vì vậy, muốn thoát khổ thì phải có trí tuệ, tức là có sự hiểu biết Khổ bớt dần với mức độ hiểu biết tăng dần Khi “cái biết” đạt đến chỗ toàn diện thì khổ cũng hoàn toàn chấm dứt “Cái biết” của Phật giáo là biết

về bản chất, về ý nghĩa chân thật của đời sống, của vũ trụ Nội dung cốt lõi của “cái biết” đó là nhận rõ tính chất vô thường và duyên khởi của tất cả hiện tượng, hết thảy chúng sinh Cái biết cứu cánh là cái biết rốt ráo, toàn thể, không thiên lệch Nó cân xứng và hài hòa của cái tổng trí, tình và ý

Những nhà triết học phương Đông đã thấy được vai trò của tư duy trong đời sống xã hội được thể hiện qua nhận thức và hành động thực tiễn nhưng hạn chế đó

là không thấy được nguồn gốc thực tiễn của tư duy Đối với khổng tử thì bản tính năng động, sáng tạo của ông còn thiên về mệnh trời, còn phật giáo thì lại ảnh hưởng của tư tưởng nghiệp báo về nguồn gốc tư duy

Trang 16

1.1.2 Một số quan điểm cơ bản của các nhà triết học phương Tây trước Mác

Nói về vấn đề tính năng động của tư duy trong triết học phương Tây trước hết phải nói về Arixtốt Theo ông, năng lực tư duy con người là để khám phá ra chân lý đích thực về bản chất của sự vật chứ không phải dừng lại ở các trò chơi trí uẩn Chân lý là sự phù hợp giữa quan niệm của chủ thể với đối tượng đang thực tồn chứ không phải là kết quả của đánh tráo khái niệm

Khác với Platon, ông không quan niệm nhận thức là sự hồi tưởng của linh hồn

mà nhận thức là một quá trình, quá trình đó được khởi đầu bằng cảm giácbiểu tượngkinh nghiệmnghệ thuậtkhoa học

Mặc dù ông thấy được nhận thức là một quá trình đi từ cảm tính đến lý tính nhưng Arixtốt lại không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính

và lý tính Biến những khái niệm, những cái chung thành sản phẩm thuần túy của lý tính nên quan niệm về nhận thức của ông chưa thoát khỏi sự bao phủ của chủ nghĩa duy tâm Arixtốt khẳng định sự gắn bó hữu cơ giữa linh hồn và thể xác, mặc dù trong con người thì linh hồn đóng vai trò chủ đạo Khẳng định “các trạng thái của linh hồn đều có cơ sở trong vật chất”, ông coi linh hồn là căn nguyên của sự sống Điểm tiến bộ của Arixtốt đó là: Ông khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người, ông coi quá trình nhận thức là quá trình khám phá ra chân lý đích thực về bản chất sự vật nhưng ông lại đặc biệt đề cao vai trò của tri thức cảm tính vì ông cho rằng nó đem lại cho ta những hiểu biết xác thực và sinh động về các sự vật đơn nhất, đối lập với tư tưởng của Platôn coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại Arixtốt coi nhận thức cảm tính là gia đoạn đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình nhận thức Như vậy, ông đã đề cao thái quá vai trò của nhận thức cảm tính và coi nhẹ nhận thức lý tính Với việc đề ra lôgíc nhằm định hướng, phát triển tư duy đúng đắn Lôgíc học của Arixtốt là minh chứng rõ nhất trong quan niệm của ông về vai trò năng động của tư duy trong hoạt động nhận thức

Nếu như Arixtốt coi nhận thức cảm tính sẽ đem đến cho con người những hiểu biết chân thực về sự vật, thì Bêcơn lại cho rằng để nhận thức đúng đắn bản chất của

sự vật trước hết phải chỉ ra khả năng và giới hạn của nhận thức con người Một trong những ảnh hưởng đến quá trình nhận thức chân lý, theo Bêcơn đó là những sai

Trang 17

lầm vốn có trong tư duy của con người Nguyên nhân của những sai lầm bắt nguồn không những từ cảm giác của chúng ta mà còn từ bản thân, bản chất của lý tính con người Lý tính luôn luôn quan niệm tất cả theo thước đo của mình, chứ không theo thước đo của vũ trụ và qua đó trở nên giống với cái gương mặt không phẳng

Những sai lầm do lý tính tạo ra, Bêcơn gọi đó là những ảo tưởng, ảo ảnh Theo Bêcơn, những ảo ảnh là cái vốn có sẵn trong bản chất trí tuệ của con người, lại được

bổ xung thêm trong quá trình nhận thức, trong sinh lý và nhân cách của mỗi con người Vì vậy, chúng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan Việc khắc phục được những hạn chế khách quan này cũng chính là quá trình con người hoàn thiện bản thân mình Cùng với việc tiếp thu các quan điểm của Arixtốt về con người, Bêcơn chia linh hồn thành các linh hồn cảm tính và linh hồn lý tính Linh hồn cảm tính trong con người chúng ta là một dạng chất lỏng được pha loãng trong cơ thể Chúng vận động theo các dây thần kinh tựa như các đường ống tác động lên các giác quan, điều khiển chức năng sống của cơ thể Bộ phận cảm tính của linh hồn này có thể bị hủy hoại cùng với cơ thể, khi con người chết Còn phần linh hồn lý trí thì có nguồn gốc từ thượng đế Đó là một khả năng kỳ diệu mà Chúa ban cho con người, và do vậy mang tính thần thánh Tuy nhiên, Bêcơn lại là người đánh giá cao vai trò của tri thức lý luận trong việc cải tạo xã hội, Bêcơn khẳng định “tri thức là sức mạnh” Từ

đó, ông đi đến một kết luận hết sức cách mạng đối với đương thời, coi “hiệu quả và

sự sáng chế thực tiễn là người bảo lãnh và ghi nhận tính chân lý của các triết học” Muốn chinh phục tự nhiên thì con người phải nhận thức được các quy luật của nó, vận dụng và tuân theo chúng

Phê phán các quan điểm vật hoạt luận duy tâm thừa nhận mọi sự vật đều có

“linh hồn”, Đềcáctơ khẳng định sự sống có những đặc tính riêng của nó mà các vật

vô cơ không có được Đi xa hơn theo quan niệm đúng đắn này, Đềcáctơ cho rằng,

sở dĩ con người có khả năng tư duy là do cấu trúc vật chất trong cơ thể anh ta phức tạp và hoàn thiện hơn so với động vật và mọi vật khác Cơ thể con người không phải là một cỗ máy như ở động vật, mà là “cỗ máy-hệ thống” đã chứa sẵn mọi cơ chế phản xạ đáp lại các tác động từ môi trường bên ngoài Hơn thế nữa, chỉ riêng

Trang 18

con người là có trí tuệ, “lý tính là một vũ khí vạn năng có thể sử dụng trong mọi tình huống ở bất kỳ dạng nào

Từ những suy nghĩ đúng đắn trên đây, nhà tư tưởng Pháp đi đến khẳng định chính cơ thể con người là khí quan vật chất của linh hồn, còn linh hồn không có cái

gì khác, mà là chức năng hoạt động của cơ thể con người Bản thân con người có khả năng suy nghĩ nhờ một chất liệu đặc biệt mà ông gọi là tuyến tùng trong bộ não

Vì vậy, “tinh thần phụ thuộc vào tính khí, và sự sắp xếp các cơ quan trong cơ thể tới mức nếu như có thể tìm được một cộng cụ làm cho con người trở nên thông thái hơn, thì tôi nghĩ rằng cần phải tìm công cụ đó trong y học

Theo quan niệm truyền thống, ông khẳng định con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác Trên cơ sở nhị nguyên luận trong siêu hình học, ông hoàn toàn tách biệt linh hồn với thể xác, coi chúng xuất phát từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn toàn tách biệt Ông coi linh hồn con người “là một thực thể mà toàn bộ bản chất hay bản tính của nó là tư duy, mà để tồn tại không cần đến và không phụ thuộc vào bất kỳ một sự vật, vật chất nào Như vậy, cái “tôi” của tôi, linh hồn của tôi, cái mà làm cho tôi như tôi đang có, hoàn toàn khác với thể xác, và nhận thức nó nhẹ nhàng hơn so với thể xác Vì thế, linh hồn là bất diệt nó không bị phân hủy khi con người chết Con người có được là do thượng đế “ghép” linh hồn vào thể xác

Cơ thể con người chỉ là chỗ trú chân tạm thời của linh hồn trong thời gian anh ta sống

Cũng giống như Bêcơn bắt đầu nghiên cứu lý luận nhận thức bằng việc loại bỏ những ảo ảnh Đềcáctơ cũng đòi hỏi phải thanh tẩy khỏi trí tuệ của chúng ta những

ám ảnh đang ngăn cản tính linh hoạt và nhạy bén của tư duy trong sự phát triển của

nó Để có được những tri thức chân thực thì không chỉ giải thoát tư duy ra khỏi những ảo ảnh do chủ nghĩa giáo điều tạo ra mà còn phải biết phê phán niềm ngây thơ vào những dữ kiện trực tiếp của cảm tính Nhà triết học không nên coi một cái

gì là chân lý thiếu phê phán, nếu thiếu phê phán mà ông ta tin tưởng cảm tính thì ông tin tưởng trí tượng tượng của trẻ con nhiều hơn ánh sáng trí tuệ của người lớn Cảm tính lừa dối chúng ta trong nhiều trường hợp Tuy nhiên, không có nghĩa là Đềcáctơ phủ nhận vai trò của tưởng tượng Vấn đề là ở chỗ, phải đặt đúng vào trong

Trang 19

mối liên hệ của nó Sở dĩ không nên tin tưởng tuyệt đối vào cảm tính vì theo ông cái chúng ta thu được chưa qua sự phân tích và kiểm soát của ánh sáng lý tính, vì vậy

đã đem con người là trung tâm của các vấn đề triết học, lý tính, là chuẩn mực và thước đo của chân lý Tuy vậy, câu này cũng biểu hiện sai lầm của Đềcáctơ là đã chứng minh sự tồn tại của con người bằng tư duy Tư duy, tồn tại hoàn toàn tách biệt với chủ thể

Tính năng động của ý thức được nâng lên thêm một bước tiến nữa trong quan niệm của Hêghen về tinh thần tuyệt đối Ông cho rằng tinh thần tuyệt đối là điểm xuất phát và nền tảng trong quan niệm về hiện thực Hêghen coi nền tảng thế giới quan triết học của mình là tinh thần tuyệt đối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra thế giới và con người Mọi sự vật, hiện tượng xung quanh ta, từ những sự vật tự nhiên cho đến những sản phẩm họat động của con người, chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối được hiểu như là thực thể sinh ra mọi cái trên thế gian Con người là sản phẩm, và cũng là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệt đối Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người cũng chính là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình Tinh thần tuyệt đối của Hêghen được hiểu như là sự hợp nhất giữa thực thể tự nhiên và cái “tôi tuyệt đối” tự ý thức Nó là sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất, chủ thể và khách thể Nền

Trang 20

tảng quan niệm của Hêghen về tinh thần tuyệt đối là luận điểm khẳng định: “chân lý không là thực thể, mà còn là chủ thể đầy sống động”

Đối với nhà triết học Đức, tư duy tinh thần, là nguồn gốc duy nhất của mọi cái đang tồn tại Thế giới tự nhiên là tư duy đã tha hóa, là tư duy tồn tại dưới dạng vật chất Tư duy (hay còn gọi là tinh thần tuyết đối) khi suy tư về chính bản thân mình thì nó đã tự nhân đội, tự phân chia thành chủ thể và khách thể, thành cái chủ quan

và cái khách quan

Tư duy không phải là cái bản nguyên bất động, mà là một quá trình nhận thức không ngừng phát triển từ thấp đến cao Vì vậy, nó không chỉ là khởi nguyên, mà còn là chính cái nội dung phát triển của tất cả những cái hiện tồn Giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyêt đối trên đây là ý niệm tuyệt đối, là tư duy con người, là lịch sử nhân loại Theo Hêghen nội dung của tư duy là cái nội dung vốn chỉ thuộc về riêng bản thân một mình tư duy mà thôi, nó không phải là nhận được từ bên ngoài, mà là cái được tư duy sản sinh ra Trên quan điểm này mà xét thì hóa ra nhận thức chẳng phải là quá trình phát hiện ra những gì tồn tại bên ngoài tư duy, bên ngoài chúng ta, mà nhận thức là phát hiện là bộc lộ, là ý thức được về nội dung của chính tư duy của khoa học Và như vậy, tư duy của loài người là một trong những biểu hiện của tư duy tuyệt đối nào đó bên ngoài con người

Hêghen coi con người vừa là chủ thể, đồng thời lại là kết quả của quá trình

hoạt động của mình, tư duy trí tuệ con người hình thành và phát triển trong chừng

mực mà con người nhận thức và cải biến ngoại giới đối lập với bản thân mình thành cái của mình Theo con mắt của Hêghen, lịch sử luôn mang tính kế thừa, nhân cách

và ý thức con người là sản phẩm của quá trình lịch sử xã hội Vì vậy, hoạt động của con người càng phát triển bao nhiêu thì ý thức của nó càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu Nhận thức chân lý là một quá trình Lịch sử triết học là bản thân triết học được xem xét trong tiến trình vận động theo những quy luật tất yếu của nó

Như vậy, quan niệm của các nhà triết học phương Tây trước Mác đều có những hạn chế và sai lầm nhất định Học thuyết triết học duy tâm khách quan và chủ quan có quan niệm khác nhau về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ

Trang 21

tách ý thức ra khỏi vật chất, lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên, không thấy được nguồn gốc vật chất của sự hình thành tư duy

Các nhà duy vật trước Mác đã đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của chủ nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, đã chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức Nhưng do khoa học chưa phát triển, do ảnh hưởng của quan niệm siêu hình - máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức, họ bước đầu thấy được vai trò của tư duy trong đời sống xã hội, thấy được nguồn gốc vật chất của sự hình thành tư duy nhưng chưa

lý giải đúng về bản chất năng động, sáng tạo của tư duy

1.1.3 Một số quan điểm cơ bản của các trường phái triết học phương Tây hiện đại

Một lý thuyết hóa học hay vật lý có thể được chứng minh hay bác bỏ những phương pháp kỹ thuật trong phòng thí nghiệm, nhưng đối với giá trị của một lý thuyết tâm lý học, có thể không sao chứng minh được một cách minh bạch, cho nên nhiều cuộc tranh luận bão táp đã nổi lên xung quanh Sigmund Freud và khoa học phân tâm học suốt sáu chục năm ròng

Freud so sánh tâm lý con người với một tảng băng, mà tới tám, chín phần tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong cõi vô thức Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó, những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản thân mình nữa

Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người Freud tuyên bố là chúng

ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức Theo Freud tâm lý con người được cấu tạo bởi ba khối: vô thức , tiền ý thức, ý thức Tương ứng với ba khối này, Freud đã đưa ra ba thành phần cấu trúc nhân cách: Tự ngã (id); Bản ngã (ego) và cái Siêu ngã (superego) gọi là bộ máy tâm thần

Trang 22

Nói về vai trò của vô thức và ý thức, Freud đã nhiều lần mượn hình ảnh tảng băng trôi trên biển để nói về vai trò của hai yếu tố này Phần nhỏ bé nổi trên mặt nước được ví là tầng ý thức, phần giáp gianh là tiềm thức, còn toàn bộ khối băng chìm trong lòng biển là vô thức Phần nằm dưới nước lớn hơn nhiều lần phần nổi, qui định trọng tâm, phương hướng vận động và số phận của cả tảng băng ấy

Mối quan hệ giữa hệ thống vô thức - ý thức với bộ máy tâm thần cá nhân: Freud ví ý thức như một chiếc máy chiếu quét sáng trên sân khấu, những gì nằm ngoài vùng chiếu sáng nhưng vẫn trong tầm chiếu của nó sẽ trở thành tiền ý thức, việc điều khiển máy chiếu là trách nhiệm của cái tôi Nhưng cơ chế này được cái ấy nuôi dưỡng, được cái siêu tôi quản lý Cái tôi chỉ điều khiển được nó khi có sự trợ giúp của cái nó và cái siêu tôi Dù hợp lực của những lực ấy như thế nào, thì bao giờ cũng có những khu vực nằm ngoài tầm của máy chiếu Trong trạng thái bình thường những khu vực này không bao giờ được chiếu sáng, đó chính là vô thức Freud không tách rời hai lĩnh vực riêng: vô thức - ý thức và bộ máy tâm thần Nói cách khác, ông không quan niệm trong đời sống tinh thần của cá nhân một bên gồm vô thức - ý thức và bên kia là cái ấy - cái tôi - cái siêu tôi Thực ra, chúng thể hiện các góc độ nhìn, trong thế đối lập giữa các mặt- một cách nhìn đặc trưng của Freud Chủ nghĩa thực dụng là một trào lưu triết học tiêu biểu của triết học phương Tây hiện đại theo dòng triết lý nhân sinh, bàn về cuộc sống sôi nổi nhất Chủ nghĩa thực dụng cho rằng chức năng của trí tuệ không phải ở chỗ chép lại các sự vật của hoàn cảnh xung quanh, mà nói đúng hơn là ở chỗ tính toán xem dùng phương pháp nào để có thể đặt ra những mối quan hệ có hiệu quả hơn và có lợi hơn với những sự vật đó trong tương lai

Chủ nghĩa thự dụng hạ thấp vai trò của lý trí, nên tư duy không phải là tính từ biểu thị lý trí hay ý thức mà là tình cảm, là kinh nghiệm và thức giác của cá nhân – chủ thế nhất định

Ý chí có vai trò không nhỏ trong cuộc sống của cá nhân, trong hoàn cảnh nhất định nó có thể đưa con người ta đến những thành công hoặc thất bại Chủ nghĩa thực dụng đã khuếch trương công hiệu của ý chí theo chiều hướng thứ nhất và cực đoan cho rằng xã hội là do những cá nhân kiệt xuất có ý chí cao quyết định Trong

Trang 23

cuộc sống, chủ nghĩa thực dụng rất đề cao sức mạnh của ý chí, của giá trị vật chất

và xem đó là căn nguyên của mọi thành công Đạt được nhiều thành công là đạt được chân lý, và ngược lại, chân lý chính là sự thành công

Chủ nghĩa hiện sinh lấy con người làm đối tượng Nhưng không phải là con người phổ quát, cũng không phải là cá nhân như trong triết học truyền thống Con người lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu là một kinh nghiệm làm thành nhân vị của mình Hiện sinh chỉ có ở nơi con người chứ không có ở bất kỳ sự vật nào Hiện sinh là một khả thể đi trước bản chất, hiện sinh trở thành bản chất nhưng đó là bản chất cụ thể Hữu thể chỉ có những thuộc tính chung, con người phải là hiện thể, là hiện sinh hàng ngày Hiện sinh đó là cuộc sống nội tâm, cuộc sống của tâm linh mang tính thứ nhất, tính ưu tiên Con người cảm nghĩ bằng thân xác Tư duy thân xác là tư duy vô thức hoàn thiện Chính sự kiện tiền lôgíc đó, những sống động sâu lắng của tâm thức đó làm cho con người khác nhau, độc đáo trở thành một nhân vị, con người nhận thức về mình, tự tạo nên mình, làm cho mình trở thành mình Đó là tính chủ thể của con người

Trong chủ nghĩa hiện sinh thì lý trí luôn bất lực khi đề cập đến chiều sâu của con người, những người theo chủ nghĩa hiện sinh cho rằng lý trí của con người thường mềm yếu và bất toàn, trong đời sống con người có những khoảng tối mang đặc tính phi lý trí Và vì thế mà lý trí không thể nào sâm nhập

Đối với chủ nghĩa hiện sinh do coi vấn đề bản thể luận là trung tâm của triết học là sự cảm thụ chủ quan và thái độ ứng xử của cá nhân nên họ không chú trọng nghiên cứu nhận thức khoa học Trái lại, chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, những tri thức thu được bằng khoa học dựa trên lý tính là hư ảo Người ta càng dựa vào lý tính khoa học thì càng khiến mình bị chi phối, từ đó bị tha hóa Theo họ, để đạt đến hiện sinh chân chính thì chỉ có thể dựa vào trực giác phi lý tính Chỉ có trong cuộc sống đau khổ, cô đơn, tuyệt vọng, sợ hãi con người mới có thể trực tiếp cảm nhận được sự tồn tại của mình

Trang 24

1.2 Nội dung cơ bản về nguyên tắc năng động trong hoạt động nhận thức của triết học Mác

1.2.1 Nguồn gốc và bản chất của ý thức

Nguồn gốc của ý thức

Nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Kế thừa những thành tựu, phê phán những hạn chế của các nhà triết học trước, Mác đã đưa ra được quan điểm khoa học về vấn đề của ý thức và tư duy Dựa trên

cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất như các nhà thần học và duy tâm đã khẳng định mà ý thức là sản phẩm và một dạng thuộc tính của vật chất, nhưng không phải

là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao

là bộ óc người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của

bộ óc con người Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc Ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc

Khoa học đã xác định, con người là sản phẩm cao nhất của quá trình phát triển

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của vật chất vận động, đồng thời xác định

bộ óc của con người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi và phức tạp gồm khoảng 14 – 15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này có liên hệ với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận, điều khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ không điều kiện và

có điều kiện Quá trình ý thức và quá trình sinh lý trong bộ óc không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặt của quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức Khi khoa học – kỹ thuật tạo ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con người thì không có nghĩa là máy móc có ý thức như con người Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do con người tạo ra, còn con người là một thực thể xã hội Máy móc không thể thay thế cho hoạt động trí tuệ của

Trang 25

con người, không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người Do đó, chỉ có con người với bộ óc của nó mới có ý thức

Nhưng tại sao bộ óc của con người – một tổ chức vật chất cao lại có thể sản sinh ra được ý thức? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghiên cứu mối liên hệ vật chất giữa bộ óc với thế giới khách quan Chính mối liên hệ vật chất ấy hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào óc con người

Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng Kết quả cho sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai (vật tác động và vật nhận tác động) Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động Đây là điều quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc vật chất của ý thức

Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất Các vật thể càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh là những phản ánh vật

lý, hóa học Những hình thức phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn Hình thức phản ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên sống là bước phát triển mới về chất trong sự tiến hóa của các hình thức phản ánh Hình thức phản ánh của các cơ thể sống đơn giản nhất là biểu hiện ở tính kích thích, tức là phản ứng trả lời tác động của môi trường ở bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của chúng Hình thức phản ánh tiếp theo của các động vật chưa có hệ thần kinh là tính cảm ứng, tính nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường Hình thức phản ánh của các động vật có hệ thống thần kinh là các phản xạ Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện là tâm lý Như vậy, phản ánh sinh học trong các cơ thể sống đã có sự định hướng, sự lựa chọn, nhờ đó các sinh vật thích nghi với môi trường để duy trì sự tồn tại của mình Phản ánh sinh học được thực hiện thông qua các hình thức kích thích ở thực vật, các phản xạ ở động vật có hệ thống thần kinh và tâm lý ở động vật cấp cao Tâm lý động vật chưa phải ý thức, nó mới chỉ là sự phản ánh có tính chất bản năng

do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy định sinh học chi phối

Trang 26

Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực Ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người Ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người Ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất – thuộc tính phản ánh – phát triển thành Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người Bộ óc người là

cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động

ý thức không thể sảy ra

Như vậy, bộ óc người [cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh] cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc – đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Những điều đã trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó ra, sự đối lập đó tương đối Ý thức chính là đặc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao mà thôi Nguồn gốc xã hội

Để cho ý thức ra đời, thì nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội

Lao động theo Mác, là một quá trình diễn biến giữa người và tự nhiên, một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò mô giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi chất giữa người và tự nhiên Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại Lao động cung cấp cho con người những phương tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người Nhờ có lao động, con người tách ra khỏi giới động vật Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con người với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong

Trang 27

giới tự nhiên, còn con người thì nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phục tùng mục đích của mình Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó

Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là kết quả hoạt động chủ động của con người Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ấy tác động vào bộ óc người, hình thành dần những tri thức về tự nhiên

và xã hội Nếu không có lao động thì hoàn cảnh vẫn bí ẩn, vẫn xa lạ đối với con người, con người không có cách nào khác ngoài lao động để phản ánh đúng đắn thế giới khách quan Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người, làm biến đổi thế giới đó Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động làm biến đổi thế giới xung quanh Vì thế, có thể nói khái quát rằng nguồn gốc

cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người

Lao động ngay từ đầu nó đã mang tính tập thể xã hội Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau xuất hiện Chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ

Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành Ngôn ngữ

là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được

Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được

Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức phản ánh hiện thực khách quan

Trang 28

vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội

Bản chất của ý thức

Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất Còn các nhà triết học duy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sự phản ánh sự vật đó Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm siêu hình – máy móc nên họ đã coi

ý thức là sự phản ánh một cách thụ động, giản đơn, máy móc, mà không thấy được tính năng động, sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh

Khác với quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo

Để hiểu bản chất của ý thức, trước hết, chúng ta thừa nhận cả vật chất và ý

thực đều là hiện thực nghĩa là đều tồn tại Nhưng, giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh – tức vật chất – tồn tại khách quan, ở bên ngoài và độc lập với cái phản ánh tức là ý thức Cái phản ánh – tức là ý thức – là hiện thực chủ quan,

là hình ảnh chủ quan của sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất Vì vậy, không thể đồng nhất, phản ánh – tức ý thức – là hiện tượng vật chất thì sẽ lẫn lộn giữa cái được phản ánh và cái phản ánh – tức lẫn lộn giữa vật chất và ý thức, làm mất đi ý nghĩa đối lập giữa vật chất và ý thức, từ đó dẫn đến làm mất đi sự đối lập giữa chủ nghĩa duy tâm với chủ nghĩa duy vật

Thứ hai, khi nói cái phản ánh – tức ý thức – là hình ảnh chủ quan của thế giới

khách quan, thì đó không phải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật Ý thức là của con người, mà con người là một thực thể năng động, sáng tạo Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội

Trang 29

Theo Mác: ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó

Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng

và khái quát cao Những khả năng ấy ngày càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lý – ý thức của con người mà khoa học còn tiếp tục phải đi xâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tương ấy

Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động, sáng tạo, thống nhất ba mặt sau:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này

mang tính chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết

Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần

Thực chất, đây là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất

Ba là, chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình

hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực Trong giai đoạn này, con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình

Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sáng tạo của

ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức Ý thức là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp năng động, sáng tạo của bộ óc

Ý thức là một hiện tượng xã hội Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liến với hoạt động thực tiễn lịch sử, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh học mà chủ yếu

Trang 30

là quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định, ý thức mang bản chất xã hội

1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nhận thức biện chứng

Nguyên tắc toàn diện

Yêu cầu xem xét khách quan đòi hỏi quá trình nhận thức phải coi đối tượng là thực tại tồn tại độc lập bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể, là vật

tự nó, trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nó Nhưng những điều kiện tất yếu tồn tại hiện thực của sự vật lại chính là những mối liên hệ đa dạng của sự vật đó với các sự vật khác, là một hệ thống nhất định bao gồm các quan hệ của sự vật đó với các sự vật khác Trong quá trình tác động qua lại đó, các thuộc tính tương ứng của

sự vật bộc lộ rõ bản tính bên trong của sự vật, sự vật được định tính và tự khẳng định mình là một thực tại tương đối độc lập Chỉ có một hệ thống nhất định các tác động qua lại của sự vật này với các sự vật khác mới làm cho sự vật đó trở thành bản thân nó, nghĩa là một thành tạo vật chất, ổn định, nhất định, có một số thuộc tính thích hợp Sự thay đổi hệ thống các tác động qua lại tất yếu dẫn đến sự thay đổi của

sự vật, của các thuộc tính khác của nó, và trong những điều kiện thích hợp còn làm cho sự vật mất đi, biến thành các sự vật khác Như vậy, các thuộc tính của sự vật lại chính là kết quả các mối tác động qua lại của nó với các sự vật khác, là hậu quả của các mối liên hệ đã có Liên hệ của sự vật với các sự vật khác có thể trực tiếp nếu nó tác động qua lại trực tiếp với các sự vật khác, là gián tiếp nếu nếu mối quan hệ qua lại xuyên qua một loạt các khâu, cũng chính là các sự vật khác Như vậy, phải quan niệm mối liên hệ của sự vật với các sự vật khác không chỉ với ý nghĩa sự vật có liên

hệ với một số sự vật nào bao quanh nó và có tác động qua lại với nó, mà phải với ý nghĩa sự vật có liên hệ với tất cả các sự vật, và mối liên hệ này là phổ biến

Yêu cầu về tính toàn diện khi xem xét một đối tượng, đòi hỏi chủ thể nhận thức phải xem xét lại ý thức đã có về đối tượng, bổ xung những luận điểm mới, làm cho nó chính xác hơn, đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn và bằng cách đó mà chuyển từ chỗ giải thích bản chất ở bậc này đến chỗ giải thích bản chất ở bậc khác cao hơn Nguyên tắc xem xét toàn diện cho phép phát hiện các thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, nguyên lý đó tác động trong cả những giai đoạn phát triển tiếp theo

Trang 31

trong sự phát triển của nhận thức: nhận thức tính chất, các mối liên hệ nhân quả bên trong, tách biệt tất yếu với ngẫu nhiên, thâm nhập vào bản chất và tái hiện nó trong

hệ thống khái niệm Nhưng ở các giai đoạn này tất yếu cũng phải vận dụng cả các nguyên tắc khác của phương pháp biện chứng Như vậy, nguyên tắc toàn diện không chỉ có liên hệ hữu cơ với nguyên tắc khách quan mà còn có quan hệ với các nguyên tắc khác, các nguyên tắc này phản ánh yêu cầu của những tính quy luật biện chứng khác trên những giai đoạn phát triển cao hơn của nhận thức

Nguyên tắc mâu thuẫn

Muốn xem xét khách thể trong sự vận động và phát triển, phát hiện ra các quy luật quyết định sự chuyển hóa từ trạng thái chất này sang trạng thái chất khác, từ giai đoạn phát triển này sang giai đoạn khác, cần phải vạch ra nguồn gốc những sự biến đổi xảy ra trong khách thể Nguồn gốc vận động và phát triển của những thành tạo vật chất là những khuynh hướng mâu thuẫn bên trong mà chúng vốn có và những mâu thuẫn giữa chúng với nhau, là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập

Nguyên tắc này của phép biện chứng có một vai trò quan trọng không chỉ trong việc nhận thức mà cả trong việc giải thích tính đa dạng của các thuộc tính, các trạng thái về chất khác nhau và đối lập nhau mà sự vật vốn có, trong việc vạch rõ mối liên hệ qua lại tất yếu giữa chúng với nhau, sự chuyển hóa cái này thành cái kia

và thành mặt đối lập của mình

Mâu thuẫn sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là hình thức tồn tại phổ biến của vật chất, của mỗi thành tạo vật chất, chúng quy định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của thành tạo đó Nhưng, mâu thuẫn thực hiện vai trò là hình thức tồn tại phổ biến, động lực phổ biến, nguồn gốc vận động và phát triển thông qua tác động qua lại, như ta đã biết, là nguyên nhân cuối cùng gây ra mọi sự biến đổi, Tác động qua lại – đó là mâu thuẫn tồn tại và hoạt động thực tế Nó là một quan

hệ bao gồm cả tác động và phản tác động Mỗi mặt của tác động qua lại tác động vào mặt kia đồng thời chống lại tác động của mặt kia Đây là một quan hệ trong đó các thành phần đều là những thực tại tương đối ổn định, độc lập, có xu hướng đối lập, tiến hành đấu tranh lẫn nhau và vẫn có liên hệ qua lại hữu cơ với nhau, tạo thành thể thống nhất của những mặt đối lập

Trang 32

Vì mỗi sự vật là một hệ thống nhất các yếu tố tác động qua lại với nhau và chỉ tồn tại trong một hệ thống nhất định các tác động qua lại với các sự vật khác, cho nên bản tính bên trong của nó và những hình thức tác động bên ngoài mâu thuẫn với nhau Mâu thuẫn là cơ sở để cho sự vật hình thành, tồn tại, phát triển và tiêu vong Những hình thức tồn tại phổ biến của mâu thuẫn là: liên hệ qua lại giữa tác động và phản tác động, biến đổi và ổn định, tính tuyệt đối của vận động và tính tương đối của tính tại, tính liên tục và tính đứt đoạn của tồn tại, tính hữu hạn và tính

vô tận trong mỗi sự vật, mỗi thành tạo vật chất

Để tái tạo trong nhận thức tính mâu thuẫn của sự vật, cần phải sử dụng những khái niệm, phán đoán đối lập, đặt chúng trong mối liên hệ qua lại nhất định Và nếu như thế thì sự tồn tại của mâu thuẫn trong nhận thức là điều kiện tất yếu để đạt tới chân lý

Thế nhưng vấn đề đó lại bị một số tác giả bỏ qua, họ thừa nhận có mâu thuẫn biện chứng trong hiện thực khách quan nhưng phủ nhận mâu thuẫn trong nhận thức, trong tư duy Họ đối lập như sau: Cái chung chỉ tồn tại thực sự trong cái riêng, thông qua cái riêng biệt Vì vậy, mâu thuẫn chỉ có thể tồn tại thực sự trong những thành tạo vật chất và quá trình cụ thể dưới dạng những mặt, những khuynh hướng đối lâp tác động lẫn nhau Trong quá trình nhận thức mâu thuẫn đã bị chia cắt, và được diễn đạt thông qua các khái niệm chung, các phán đoán, nó đã mất đi tính hiện thực của nó và trở thành hư ảo, thành mâu thuẫn giả tạo

Lôgíc phản ánh quá trình lịch sử hiện thực nhưng nó có thể ăn khớp và cũng

có thể không ăn khớp với lịch sử Lôgíc ăn khớp với lịch sử nếu quá trình nhận thức, tư duy, mối liên hệ qua lại giữa các khái niệm, phán đoán và kết luận tái hiện được lịch sử hiện thực của khách thể nghiên cứu Nếu tiến trình tư duy phù hợp với quá trình hiện thực hình thành và phát triển của khách thể

Trang 33

Lôgíc không ăn khớp với lịch sử nếu những mối liên hệ giữa các khái niệm, các phán đoán, tiến trình của tư tưởng không phản ánh lịch sử hiện thực, không tái hiện quá trình hình thành và phát triển của khách thể Đây là đặc trưng của các tư duy chỉ tuân theo các quy luật và các nguyên tắc lôgíc hình thức Mối liên hệ lôgíc xây dựng trên cơ sở quy nạp và diễn dịch thường không phản ánh được mối liên hệ lịch sử, không tái hiện được sự phát triển của đối tượng tư duy, không có sự phù hợp giữa lôgíc và lịch sử trong các quá trình tư duy đi từ cụ thể cảm tính đến trừu tượng, từ cái đơn nhất đến cái chung

Điểm xuất phát trong sự vận động của nhận thức là những khái niệm chung, trừu tượng, phản ánh những mặt hoặc quan hệ cơ bản, quyết định của chỉnh thể được nghiên cứu Người ta xem xét các mặt đó trong sự vận động, phát triển của chúng, và trên cơ sở đó tiến từ trừu tượng đến cụ thể, tái hiện ra mối liên hệ tất yếu hiện thực giữa các mặt của thành tạo vật chất được nghiên cứu Nếu đúng như vậy, thì tiến từ trừu tượng đến cụ thể chính là tái hiện cái lịch sử trong cái lôgíc

Trong thực tế, sau khi tìm thấy những mặt hoặc quan hệ chung quy định tất cả các mặt khác của thành tạo vật chất cần nghiên cứu, và theo dõi sự phát triển, biến đổi của chúng, thì trong nhận thức, trong lôgíc tư duy dường như chúng ta diễn lại lịch sử phát triển của thành tạo vật chất đó Và vì các thành tạo vật chất phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ nội dung kém phong phú đến nội dung phong phú hơn, nên vận động của nhận thức chúng ta từ trừu tượng đến cụ thể chính là tấm ảnh chụp sự vận động hiện thực của các hiện tượng trong thế giới bên ngoài Đương nhiên tấm ảnh đó là gần đúng, đã được uốn nắn lại, gạt bỏ được những cái ngẫu nhiên, nhưng về tổng thể, về cơ bản nó phản ánh tiến trình phát triển lịch sử hiện thực của các hiện tượng được nghiên cứu Nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và lôgíc đòi hỏi phải bắt đầu việc nghiên cứu khách thể từ các mặt, các quan hệ đã đi trước những mặt khác trong lịch sử

Chỉ có cái nào xuất hiện đầu tiên trong lịch sử đồng thời lại là cái cơ bản, cái quyết định trong khách thể cần nghiên cứu mới là cái đầu tiên trong lôgíc bởi vì chỉ

có cái xuất hiện đầu tiên trong lịch sử ấy mới giúp ta tái hiện được quan hệ giữa các

Trang 34

mặt của chỉnh thể cần nghiên cứu trong quá trình tiến từ trừu tượng đến cụ thể và hiểu được vị trí và ý nghĩa của mỗi mặt

Như vậy, việc tiến từ trừu tượng đến cụ thể trong quá trình nhận thức bản chất của khách thể nghiên cứu tiên định sự thống nhất lịch sử và lôgíc, ước định phải tái hiện mối liên hệ lịch sử tất yếu giữa các mặt vốn có của khách thể, tái hiện lôgíc xuất hiện hình thành và phát triển của khách thể trong lôgíc vận động của các khái niệm

Nguyên tắc phủ định biện chứng

Đặc trưng của phủ định biện chứng là ở chỗ nó bắt nguồn từ sự phát triển của các khuynh hướng đối lập bên trong, nó là sự tự phủ định, một sự phủ định không chỉ đơn thuần thủ tiêu cái bị phủ định mà duy trì phần tích cực, phù hợp với trình độ phát triển mới, nó là sự thống nhất giữa thủ tiêu và duy trì, một hình thái kiên hệ giữa cái thấp và cái cao trong quá trình phát triển Do đó, một trạng thái về chất hoặc một thành tạo vật chất nảy sinh trong quá trình phủ định biện chứng có quan

hệ với trạng thái hoặc thành tạo đã bị phủ định, không phải ngẫu nhiên mà là tất yếu, cái trước là nền tảng nảy sinh ra cái sau, cái sau là tồn tại khác của cái trước Hơn thế, trong bản thân nó, trong bản chất của nó, nó vẫn bao hàm cái bị phủ định dưới dạng đã giải trừ

Lênin trong Bút ký triêt học vạch ra bản chất đặc thù của phủ định biện chứng:

không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng-dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố quan trọng nhất của nó, - không, mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của sự liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định, tức

là không có một sự do dự nào, không có một sự chiết trung nào

Trong các sách báo mác-xít, thành ngữ “sự vật tự phủ định bản thân” biểu thị

sự phủ định của khách thể xảy ra trên cơ sở các quy luật bên trong của nó, do kết quả phát triển các khuynh hướng đối lập bên trong gắn liền với nó, chứ không phải

do tác động của lực lượng nào bên ngoài Mác, Ăngghen và Lênin đặc biệt nhấn mạnh rằng, phủ định là một quá trình khách quan, là sự biến đổi thực sự, là sự

Trang 35

chuyển hóa về chất từ sự vật này sang sự vât khác chứ không phải là kết quả một quyết định nào đó của chủ thể

Phủ định biện chứng trước hết mang tính khách quan, đó là một quy luật được thực hiện do kết quả đấu tranh của các mặt đối lập mà sự vật vốn có, nó là kết quả giải quyết một mâu thuẫn nhất định Trong tiến trình phủ định, diễn ra sự cải tạo sự vật, chất này mất đi và chất mới xuất hiện, cũng tức là sự vật chuyển từ một giai đoạn phát triển này lên một giai đoạn phát triển khác, phù hợp với các quy luật tự nhiên khách quan Phủ định biện chứng và quy luật của phủ định của phủ định tác động trong hiện thực khách quan và cũng biểu hiện trong nhận thức, tư duy, nhưng

sự biểu hiện này với tư cách là quy luật lôgíc không có tính quyết định tính thứ nhất, còn ở đây, trong nhận thức, tư duy, chúng chỉ là phản ánh của phủ định biện chứng trong hiện thực khách quan Ăngghen chỉ rõ: biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên của sự vận động, thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt đã quy định sự sống của giới tự nhiên thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa lẫn nhau cuối cùng của chúng sang những hình thức cao hơn

Từ những nét đặc trưng của phủ định biện chứng nảy sinh ra những yêu cầu thích hợp đối với chủ thể nhận thức Thực chất của những yêu cầu đó như sau: trong quá trình nhận thức khi lấy một luận điểm này phủ định một luận điểm khác, cần kết hợp việc làm rõ sự khác biệt giữa luận điểm khẳng định và luận điểm phủ định, với việc làm rõ mối quan hệ giữa hai phía, với việc tìm kiếm cái bị phủ định trong cái được khẳng định

Một biểu hiện đặc thù của nguyên tắc phủ định biện chứng vận dụng vào sự phát triển các lý thuyết khoa học là nguyên lý tương ứng do N Bo-rơ trình bày năm

1913 Nguyên lý tương ứng đòi hỏi trong khi xây dựng lý thuyết mới phải chú ý không chỉ đến chỗ nó khác với lý thuyết cũ, mà còn phải chú ý đến mối liên hệ của

nó với lý thuyết cũ, làm rõ nội dung nào đó của lý thuyết cũ, trong nội dung của lý thuyết mới

Trang 36

Nguyên tắc phủ định biện chứng dựa vào quy luật phổ biến trong sự phát triển của hiện thực khách quan và của nhận thức Về mặt phương pháp luận, nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể, khi xây dựng một luận điểm mới liên quan đến khách thể nghiên cứu, phải lý giải một cách có phê phán luận điểm hiện có, vạch rõ cái mới khác với cái hiện có ở chỗ nào, rút ra từ cái hiện có tất cả những gì đã được linh nghiệm và thực tiễn khẳng định và giành cho những cái đó một vị trí thích đáng trong quan niệm mới Như thế nó đã hướng dẫn chủ thể theo một hướng nhất định trong hoạt động nhận thức

Nguyên tắc năng động

Ý thức không phản ánh hiện thực một cách đơn giản mà phản ánh hiện thực một cách chủ quan, không thụ động mà năng động, có những sự biến đổi và cải tạo nhất định, không phải một cách máy móc mà là một cách có sáng taọ

Ở đây cần lưu ý rằng sự tác động của chủ thể lên khách thể trong quá trình nhận thức nó không phải nhằm vào mục đích tạo ra đối tượng mới, không biến nó thành tư liệu sinh hoạt mà nhằm vạch ra những mối liên hệ và những thuộc tính tất yếu vốn có của đối tượng, phát hiện ra bản chất thực tại của nó Thậm chí ngay cả những khách thể được nghiên cứu trong tiến trình biến đổi có mục đích biến thành một vật có công dụng thực tế thì những thuộc tính và những mối liên hệ tất yếu, những quy luật nào đó, được khám phá trong quá trình tác động đó cũng không liên quan đến những vật mới xuất hiện do kết quả của sự biến đổi mà liên quan đến vật xuất phát ban đầu, được lấy làm khách thể của sự nghiên cứu

Nguyên tắc năng động của nhận thức đòi hỏi có sự biến đổi khách thể cốt để vạch ra những thuộc tính và những mối liên hệ tất yếu, vốn có của khách thể, vạch

ra bản chất của nó chứ không nhằm mục đích cải tạo nó

Yêu cầu biến đổi khách thể trong quá trình nhận thức nó là nhân tố quan trọng nhất của nguyên tắc năng động, song điều đó chưa nói hết nội dung của nó Trong nội dung của nguyên tắc năng động cũng bao hàm cả yêu cầu làm biến đổi một cách tương ứng những hình tượng lý tưởng nảy sinh trong quá trình nhận thức khách thể, những hình tượng phản ánh như thế này hay như thế khác những thuộc tính và những mối liên hệ của khách thể

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Hữu Ái, Triết học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
[2]. Lê Khánh Bằng, Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học
[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lịch sử triết học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[5]. Doãn Chính, quan điểm kinh tế trong hệ thống tư tưởng của Khổng Tử, tạp chí Triết học, số 6/1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: quan điểm kinh tế trong hệ thống tư tưởng của Khổng Tử
[6]. Nguyễn Mạnh Cường, Về bản chất tư duy, Tạp trí triết học, số 1/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất tư duy
[7]. Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩn, Tâm lý học đại cương, Viện Đại học Mở Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
[9]. Phạm Minh Hạc, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[10]. Nguyễn Sinh Huy, Giáo hục học đại cương, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hục học đại cương
[11]. Nguyễn Thanh Hưng, Góp phần rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng cho học sinh thông qua dạy học hình học ở trường trung học phổ thông, Luận án thạc sỹ khoa học Giáo dục, Trường Đại học Vinh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng cho học sinh thông qua dạy học hình học ở trường trung học phổ thông
[12]. E.V.IIencôv trong cuốn Lôgic học biện chứng, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic học biện chứng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
[13]. Hoàng Thúc Lân, Triết học Mác – Lênin với việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên. Tạp trí Giáo dục, số 96/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác – Lênin với việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên
[14]. Nguyễn Ngọc Long, Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy, Tạp trí cộng sản, số 10/1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy
[15]. Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn, Từ điển tâm lý học, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
[16] C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập (tập 3), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (tập 3)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[17] C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập (tập 1), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (tập 1)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[18]. Lê Hữu Nghĩa. Phạm Duy Hải, Tư duy trong giai đoạn cách mạng khoa học- công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy trong giai đoạn cách mạng khoa học-công nghệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[19]. Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Duy Quý, Lịch sử Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[21]. Trần Viết Quang, Phát triển năng lực tư duy lý luận cho học sinh thông qua giảng dạy triết học Mác-Lênin, Luận văn thạc sỹ Triết học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tư duy lý luận cho học sinh thông qua giảng dạy triết học Mác-Lênin
[26]. P. Séptulin, Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb sách giáo khoa Mác- Lênin, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nhận thức biện chứng
Nhà XB: Nxb sách giáo khoa Mác-Lênin

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w