1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nguồn lợi cá dìa (siganidae) tại vùng biển cù lao chàm thành phố hội an – tỉnh quảng nam

35 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ 1.1.1 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá trên thế giới Cùng với sự phát triển của loài người, con người đã có sự phân biệt các loài cá nhì

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƢ P M KHOA SINH

K ÓA LUẬN TỐT N ỆP ỌC

Nghiên cứu nguồn lợ D S n ) tại vùng biển

Cù Lao Chàm thành phố Hội An – Tỉnh Quảng Nam

Sinh viên thực hiện : Ngô Đức Thặng

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

MỞ ẦU

Trong những năm qua, ngành thủy sản đã phát triển nhanh chóng và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Tổng sản phẩm thủy sản không ngừng gia tăng, đặc biệt là sản lượng khai thác: năm 2000, sản lượng khai thác thủy sản đạt 1660,9 nghìn tấn trong đó khai thác biển đạt 1419,6 nghìn tấn Đến năm 2009 sản lượng khai thác thủy sản đã đạt 2280,5 nghìn tấn trong đó khai thác biển đạt 2091,7 nghìn tấn (Niên giám thống kê tóm tắt 2010) [14] Việc gia tăng cường lực khai thác cùng với sự cải tiến kĩ thuật, phương tiện khai thác ngày càng hiện đại, hiệu quả đánh bắt cao hơn đã làm nguồn lợi hải sản giảm sút nghiêm trọng, đặc biệt là ở vùng ven bở [11]

Quảng Nam là một tỉnh duyên hải miền trung, có nhiều tiềm năng, lợi thế

để phát triển kinh tế thủy sản, trong đó Cù Lao Chàm là một xã đảo thuộc tỉnh Quảng Nam có điều kiện rất tốt để phát triển nền kinh tế thủy sản Cù Lao Chàm

là một cụm gồm 8 đảo lớn nhỏ nằm về phía đông cách phố cổ Hội An khoảng 18

km, từ lâu được xem là một trong những khu vực quan trọng trong việc cung cấp chính các nguồn lợi thủy hải sản cho khu vực Sự hiện diện của các hệ sinh thái quan trọng gồm rạn san hô, thảm cỏ biển, vùng triều, bờ đá và sinh cảnh đáy mềm góp phần làm cho KBTB Cù Lao Chàm có tính đa dạng sinh học cao và là ngư trường quan trọng đối với hoạt động nghề cá của cộng đồng [5]

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của du lịch và việc xây dựng các công trình xung quanh đảo cũng làm ảnh hưởng đến rạn san hô xung quanh đảo, từ

đó làm ảnh hưởng đến các quần thể cá Dìa Theo Võ Sĩ Tuấn và cộng sự (2005), những năm gần đây không chỉ san hô mà các sinh vật sống trong rạn cũng giảm sút

số lượng nhanh chóng [15]

Cá dìa là một loài có giá trị kinh tế tương đối cao, được sử dụng để chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, đem lại nguồn thu nhập quan trọng của ngư dân nơi đây

Trang 3

Chính vì thế việc bảo vệ và duy trì phát triển nguồn lợi cá dìa (Siganidae) trở thành một vấn đề cấp thiết

Vì vậy, trước thực trạng trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nguồn lợi c

D ig nid e) tại vùng biển Cù Lao Chàm thành phố Hội An – Tỉnh Quảng

Nam”

Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm cung cấp dữ liệu về nguồn lợi cá Dìa tại vùng biển Cù Lao Chàm thành phố Hội An – Tỉnh Quảng Nam Từ đó làm cơ sở cho cơ quan quản lí có kế hoạch bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi cá Dìa tại vùng biển Cù Lao Chàm

Bổ sung thêm nguồn tư liệu khoa giúp cho cơ quan quản lí có kế hoạch bảo

vệ và khai thác bền vững nguồn lợi cá Dìa tại vùng biển Cù Lao Chàm, đồng thời cung cấp tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 4

C ƢƠN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá trên thế giới

Cùng với sự phát triển của loài người, con người đã có sự phân biệt các loài

cá nhìn có giá trị thấy trong tự nhiênNgười đầu tiên đã có công trình nghiên cứu về

cá được công bố là Aistote (384-332 TCN) , ông đã giới thiệu được 115 loài cá thông qua cuốn sách “Lịch sử động vật” của mình [1] đánh dấu bước ngoặc lớn trong lịch sử nghiên cứu cá

Tuy nhiên trong thời gian sau đó rất ít công trình nghiên cứu về cá được công bố mãi cho đến nữa sau thế kỷ XVI, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên khác, các công trình nghiên cứu về cá mới có những bước phát triển đáng kể

Vào thế kỷ XVIII, có rất nhiều công trình nghiên cứu về cá có giá trị đã được ra đời đánh dấu bước ngoặc lớn trong sự phát triển và nghiên cứu về nguồn lợi cá trên thế giới Công trình nghiên cứu có giá trị đầu tiên phải kể đến đó là công trình nghiên cứu về thành phần loài cá của hai nhà khoa học Thuỷ Điển là P.Artedi (1705-1754) và C.Linnaueus (1707-1778) với những cuốn sách nổi tiếng về phân loại cá Trong giai đoạn này cũng có những công trình nghiên cứu về vấn đề này nổi bật của một số tác giả khác như P.Bleeker (1817-1874) người Hà Lan với cuốn sách “Atlasichtyologiques Indes Orientales Neerlandaises”(Sưu tập nghiên cứu cá

ở phía đông Hà Lan) gồm 9 tập, G.Cuvier và A.Valenciennes với cuốn sách “Lịch

sử tự nhiên về cá”[1]

Trong những năm 1970, một nghiên cứu của FAO biên soạn bởi Gulland ước tính tiềm năng cá khai thác được của đại dương là gần 100 triệu tấn Tuy nhiên thực tế khả năng khai thác sẽ không đạt mức tối ưu chỉ đạt xấp xỉ 80 triệu [19]

Năm 1971, trong một cuốn sách của FAO tập hợp các nghiên cứu về nguồn lợi cá đại dương do J.A Gulland biên soạn và chỉnh sửa đã thống kê các nghiên

Trang 5

cứu về nguồn lợi cá Cuốn sách này bao gồm các nghiên cứu thống kê nguồn lợi cá phong phú, thành phần các loài là nguồn lợi và phân bố của chúng Các nghiên cứu

là tài liệu cung cấp thông tin, cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sau này [25]

Nghiên cứu của Edi Muljadi Amin, Duto Nugroho (1985) đã thực hiện các cuộc điều tra nguồn lợi cá ở phía đông biển Banda và tây bắc biển Arafura diện

đã đánh giá về sự phân bố và sự phong phú của các loài cá biển trong khu vực, mật

độ trung bình của các loài cá biển ở phía trên 100m dao động từ 5.38 (tấn/ngày) và 8,82 (tấn/đêm) mỗi hải lý trong tháng 8 và giữa 1.41 (tấn/ngày) và 2.46 (tấn/đêm) trong tháng 2 Tổng sinh khối cá, dựa trên ghi âm của ánh sáng ban ngày ở phía trên 100m đối với khu vực được khảo sát, có 570 000 tấn trong tháng 8 và 150 000 cho tháng 2 [18]

Geronimo T Silvestre, Len R Garces (1990) trong đề tài nghiên cứu của mình đã cung cấp thông tin về hiện trạng khai thác nguồn lợi cá ven biển ở Brunei Darussalam Nghiên cứu tiến hành khảo sát kéo cá trong vùng nước ven biển (độ sâu 10-100 m) của Brunei Darussalam từ 7/1989 đến 6/1990 Kết quả đề tài cho thấy 25 loài cá đã được khai thác hợp lý trong giai đoạn 1989 – 1990, cung cấp thông tin cơ bản như là tài liệu tham khảo liên quan đến đánh giá hiện trạng thủy sản hiện tại, công tác quản lý tại Brunei Darussalam và những nghiên cứu khác [21]

Năm 1994, trong nghiên cứu về “Nguồn lợi thủy sản biển của Sri Lanka”

G.H.P De Bruin; B.C Russell và A Bogusch đã cung cấp nhiều thông tin về

nguồn lợi cá xương, cá mập ở vùng biển Sri Lanka [22]

Trong báo cáo của FAO trong năm 2010, Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản lượng thủy sản, tiếp theo là các nước Peru, Indonesia, United States of America, Japan, India, Chile, Russian Federation, Philippines, Myanmar [20]

Trang 6

Năm 2010 một nghiên cứu của Robert Gillett được tiến hành với sự tài trợ của FAO đã công bố công trình nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản biển của quần đảo Thái Bình Dương Trong công trình này đã cập nhật và mở rộng một đánh giá trước đó của FAO về nguồn lợi thủy sản của quần đảo Thái Bình Dương (Gillett, 2005a) Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin quan trọng về tình trạng của những nguồn lợi, thống kê nghề cá và khả năng quản lý thủy sản trên 14 quốc gia

độc lập và 8 vùng lãnh thổ ở phía tây và trung tâm Thái Bình Dương [23]

Có thể nói, lịch sử nghiên cứu nguồn lợi cá có từ rất sớm và lâu đời, đây là lĩnh vực được các nhà nghiên cứu quan tâm và ngày càng có nhiều công trình được tiến hành, công bố góp phần vào nguồn dữ liệu nguồn lợi cá và tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này

1.1.2 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở tron nước

Những nghiên cứu đầu tiên về nguồn lợi cá biển Đông Dương đã được Pellegrin (1905) và Chabanaud (1926) công bố, trong đó chủ yếu ở Trung Bộ, Nam

Bộ Việt Nam và vịnh Thái Lan Cùng với sự ra đời của Viện Hải dương học (1923)

đã đánh dấu một mốc lớn trong lịch sử nghiên cứu cá ở biển Việt Nam [12]

Pháp tiến hành khảo sát nguồn lợi cá bằng lưới kéo đáy trên tàu De Lanessan trong những năm 1925 – 1935 tại vùng biển Việt Nam bao gồm cả khu vực quần đảo Trường Sa, các kết quả nghiên cứu đã được công bố trong các công trình của Krempf A (1926 – 1927) và Chevey P (1935)[13]

Năm 1927, Nhật Bản đã đưa tàu Hakuho Maru (333 BRT) đánh cá thực nghiệm ở Vịnh Bắc Bộ Ngay năm sau lại gửi tàu lưới kéo 361 BRT đến đánh cá ở vịnh Từ đó cứ tang dần lên cho đến năm 1937 đến 20 tàu Một số kết quả hiện nay cho thấy trong các công trình nghiên cứu của Shindo (1973) Năm 1935 – 1936, Đài Loan (Trung Quốc) đã đưa tàu nghiên cứu nghề cá Shonan (680 CV) nghiên cứu ở phía bắc biển Việt Nam Các hoạt động nghiên cứu đã đưa lại kết quả là đến thời kỳ trước đại chiến thế giới lần thứ hai các tàu đánh cá ngoại quốc đến biển

Trang 7

Việt Nam đánh cá rất nhiều và Nha Trang đã trở thành một căn cứ hậu cần cho nghề cá [12]

Ở miền Bắc Việt Nam ngay khi hòa bình được lập lại vào năm 1955, sau thời kì khôi phục kinh tế, năm 1959 – 1061 chính phủ Việt Nam đã hợp tác với Trung Quốc nghiên cứu hải dương học và nguồn lợi cá ở vịnh Bắc Bộ, các tài liệu thu thập được đã tạo điều kiện nắm được các quy luật cơ bản của vinh Gần như cùng lúc Việt Nam và Liên Xô hợp tác nghiên cứu vịnh Bắc Bộ và các vùng biển lân cận, phạm vi nghiên cứu gồm vịnh Bắc Bộ và khu vực Hoàng Sa, Trường Sa và xuống phía nam qua đường xích đạo Sau khi kết thúc hai chương trình nghiên cứu trên, ở Hải Phòng đã thành lập Trạm Nghiên cứu Cá biển (1961) và Trạm nghiên cứu Biển (1962) để tiếp tục đảm nhiệm và phát triển việc nghiên cứu nghề cá và hải dương học cho đến ngày nay, sau này trở thành Viện Nghiên cứ Hải sản Hải Phòng và Viện Nghiên cứu Biển Nha Trang [12]

Ở miền Nam Việt Nam với sự tài trợ của UNDP/FAO Chương trình nghiên cứu ngư nghiệp viễn duyên đã được thực hiện vào năm 1969 – 1971 Chương trình nghiên cứu đã sử dựng tàu Kyoshin Maru No-52 và tàu Hữu Nghị để nghiên cứu nguồn lợi cá vùng biển Việt Nam trừ vịnh Bắc Bộ [12]

Sau khi nước nhà thống nhất (1975), nhiều chương trình lớn cấp nhà nước, cấp ngành liên tục được triển khai:

Ở khu vực miền Trung vấn đề nghiên cứu khu hệ cá và nguồn lợi thuỷ sinh vật đã được các tác giả quan tâm thực hiện từ sau năm 1975 và chủ yếu các công trình nghiên cứu tập trung ở các đầm phá ven biển Từ năm 1976 - 1977 thì tại Phá Tam Giang có công trình nghiên cứu nổi bật như Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sy về

“Nguồn lợi thuỷ sản các đầm phá phía nam Sông Hương và những vấn đề khai thác hợp lý nguồn lợi đó” [6]

Năm 1977 Viện nghiên cứu Hải sản tiếp nhận tàu nghiên cứu biển Đông của

Na Uy Tàu được trang bị các thiết bị hiện đại Từ năm 1977 – 1981, Viện nghiên

Trang 8

cứu Hải sản tiến hành 24 chuyến điều tra nghiên cứu tổng hợp môi trường, nguồn lợi cá biển ở vịnh Bắc Bộ và vùng biển Thuận Hải – Minh Hải [13]

Việc nghiên cứu nguồn lợi cá biển của Việt Nam do Liên Xô và Việt Nam hợp tác đã được tiến hành từ năm 1979 – 1985, sau đó bổ sung đến năm 1987 đã tiến hành 33 chuyến khảo sát trên các loại tàu từ 800 – 3800 CV đã thu thập được

nguồn dữ liệu rất lớn Tiêu biểu như phát hiện ra nguồn lợi cá mối vạch (Saurida undosquamis), cá nục (Decapterus) với tiềm năng lớn [12]

Năm 1992 – 1995: Đề tài nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ ở biển Việt Nam (Kt.03.09) được tiến hành Kết quả đã đưa ra được các số liệu về thành phần loài khu hệ cá ngừ, phân bố và đánh giá nguồn lợi cá ngừ ở vùng biển xa bờ Việt Nam [13]

Năm 1994 – 1997: Dự án khảo sát nguồn lợi biển Việt Nam do JICA (Nhật Bản) tài trợ đã tiến hành điều tra nguồn lợi cá nổi Đại Dương (chủ yếu là cá ngừ,

cá thu ) ở vùng biển xa bờ từ Đồng Hới (Quảng Bình) đến Cà Mau [13]

Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Văn Long (1997) nghiên cứu về thành phần

loài, nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của quần xã cá rạn san hô ở Cù Lao Chàm Nghiên cứu này đã thống kê thành phần loài nguồn lợi cá rạn san hô ở Cù Lao Chàm và mô tả một số đặc điểm sinh học của cá [10]

Năm 1997 – 1998: Dự án “Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng gần bờ biển nước ta” đã sử dụng 2 đuôi tàu kéo lưới đôi: QN1150TS – QN1152TS - QN1153TS điều tra nguồn lợi cá ven bờ vịnh Bắc Bộ [13]

Năm 2000 – 2002: Dề tài nghiên cứu cá xa bờ tiếp tục kết hợp với dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV – II) điều tra, đánh giá tổng thể nguồn lợi hải sản vùng nước xa bờ biển Việt Nam [13]

Trang 9

Năm 2001: đề ài đánh cá xa bờ tiến hành chuyển biến kiểm tra các ngư trường trọng điểm vùng biển Đông Tây nam Bộ và năm 2002 ở vịnh Bắc Bộ (tháng

4 – 5/2002) phục vụ công tác dự báo cá [13]

Từ năm 2003 – 2005, đề tài Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ được thực hiện đã ước lượng trữ lượng cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ miền Trung và Ðông Nam Bộ ước tính vào khoảng 1.156.000 tấn và khả năng khai thác bền vững là 405.000 tấn, trong đó trữ lượng cá ngừ vằn khoảng 618.000 tấn, cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt

to vào khoảng 44.853 52.591 tấn và khả năng khai thác bền vững của cá ngừ vằn là 216.000 tấn, cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to khoảng 17.000 tấn (Đào Mạnh Sơn, 2005) [11]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam nói chung và nghiên cứu cá nói riêng đã được tiến hành từ sớm và tiến hành và công bố một cách liên tục Trong số đó đã góp phần tạo nên một dữ liệu hữu ích để phục vụ các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là lĩnh vực quản lý và khai thác thuỷ sản bền vững

1.2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ DÌA

1.2.1 Tình hình nghiên cứu cá Dìa trên thế giới

Loài cá Dìa thường được nhắc tới trong các nghiên cứu về rạn san hô hoặc rừng ngập mặn Những nghiên cứu này thường là về thành phần loài, hay những đặc điểm sinh học khi nuôi nhốt Chỉ một số ít công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, hay phân bố tự nhiên Chúng ta có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu về cá Dìa trên thế giới như sau:

Nghiên cứu Bryan, Patrick G (1975) đã tiến hành phân tích dạ dày và đưa ra những kết luận về thành phần thức ăn của loài cá Dìa tại đảo Guam Trong nghiên cứu này, đã thử nghiệm trên 62 loài tảo và đưa ra một thứ tự ưu tiên của các loài

tảo đó là (1) Enteromorpha compressa, (2) Murrqyella periclados, (3) Chondria

Trang 10

repens, (4) Boodlea composita, (5) Cladophoropsis membranacea, (6)

Acanthophora spicifera and (7) Centroceras clavulatum [17]

Trong nghiên cứu của N Gundermann và cộng sự (1983) đã nêu một số đặc điểm sinh học, sinh sản cũng như đời sống và phân bố của loài cá Dìa trong điều kiện ở đảo Fiji [24]

Kurriwa và cộng sự (2007), đưa ra một cách để phân chia các chi Trong nghiên cứu này, ông sử dụng phương pháp so sánh AND để phân loại chúng [26]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu cá Dìa ở Việt Nam

Năm 2005, Trung tâm Khuyến Ngư Thừa Thiên Huế đã thực hiện mô hình nuôi cá Dìa, tôm Sú và rong Câu kết hợp ở xã Phú An, kết quả cho thấy các đối tượng nuôi đều sinh trưởng tốt, lợi nhuận đạt khoảng 9 triệu đồng/0,5 ha ao nuôi

[9]

Năm 2006, Trung tâm khuyến ngư tiếp tục thực hiện mô hình nuôi kết hợp

cá Dìa, rong Câu, cá Đối , cá rô phi và trìa tại xã Phú Hải, kết quả mô hình đem lại lợi nhuận gần 26 triệu đồng/ha ao nuôi [7]

Theo Lê Văn Dân cùng cộng sự (2006) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh sản

của cá Dìa, ông cho rằng Cá Dìa (Siganus guttatus) là một đối tượng nuôi có giá trị

kinh tế ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá Dìa là từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau Cá Dìa con kích thước 1,5-5 cm xuất hiện ở đầm phá

Thừa Thiên Huế từ tháng 3 đến tháng 9, tập trung vào các tháng 3, 4, 5 tại khu vực

Tam Giang, Đầm Sam và cửa Tư Hiền [3]

Khi nghiên cứu Kỹ thuật nuôi thủy sản xen ghép, Trần Hưng Hải (2007) đã

cho thấy cá Dìa (Siganus guttatus) là loài cá nhiệt đới, phân bố từ đông Ấn Độ

Dương đến tây Thái Bình Dương Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của cá Dìa từ

sâu đến 6m Cá bột sống quanh quẩn cửa sông, riêng cá trưởng thành thường vào

và ra khỏi cửa sông theo thủy triều Thức ăn tự nhiên là tảo đáy, rong lá hẹ

Trang 11

Loài cá này được cho là hoạt động vào ban đêm Kích cỡ lớn nhất bắt gặp đạt 42

cm [4]

Nhìn chung, ở Việt Nam nghiên cứu về nguồn lợi cá Dìa trên biển còn ít, những thông tin cơ bản về loài này thường chỉ dừng lại ở việc thống kê danh sách loài và

đặc điểm sinh học của loài nằm trong các báo cáo tổng hợp của các đề tài, dự án

1.3 ẶC ỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.3.2 ặ đ ểm địa hình

Quần đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là vùng đồi núi thấp có dạng hình chóp cụt Hòn Lao là dãi núi chính lớn nhất và được xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam [8]

Cù Lao Chàm là một trong chuổi các khối đá hoa cương hình thành cánh cung Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà – Cù Lao Chàm – Hòn Ông Điểm nổi bật ở đây là tính đối xứng, hướng Tây Bắc- Đông Nam với sườn Tây Bắc hẹp và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn Bờ biển sườn Đông Bắc với các vách đứng, trơ

đá gốc còn bờ biển Tây Nam tạo thành các vịnh nhỏ với tích tụ cát lấp đầy tạo nên những bãi biển dài và đẹp [8]

Trang 12

1.3.3 ặ đ ểm khí hậu

Những kết quả nghiên cứu về địa sinh thái cho biết Cù Lao Chàm là một bộ phận hữu cơ trong đặc trưng sinh thái xứ Quảng

Sơn, phía tây được che chắn bởi khối núi bắc Kon Tum nên Quảng Nam nói chung

và Cù Lao Chàm nói riêng không có mùa đông lạnh Mùa khô kéo dài từ khoảng tháng đến tháng 8 Mùa mưa kéo dài từ tháng 9, tháng 10 đến tháng giêng năm sau trên 1 địa hình dốc và hẹp tạo nên nhiều dòng chảy xiết, đưa lượng phù sa vốn không nhiều ra xa, tạo nên những vùng biển sâu, hải lưu chảy nhanh hơn

Điều kiện khí hậu đó kết hợp với sự án ngữ của cụm đảo Cù Lao Chàm ở phía đông tạo nên những đặc tính khí tượng thủy văn biển của khu vực

a Chế độ gió, dòng chảy

Chế độ gió phân thành 2 mùa rõ rệt: gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng

2 năm sau với tốc độ 15-25m/s; gió mùa hè theo hướng đông và đông nam với những trận bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió rất cao (40m/s) Tốc độ gió trên biển luôn luôn lớn hơn trên đất liền và hầu như không có thời kỳ lặng gió

Phụ thuộc vào chế độ gió, chế độ song ở vùng cửa biển Hội An – Cù Lao Chàm cũng bao gồm 2 hệ thống: sóng mùa đông có hướng đông bắc và đông, cao

từ 1,5 - 3m (ngoài khơi) và khoảng 1,5m (ven bờ); song mùa hè nhỏ, có hướng tây nam (ngoài khơi) và hướng đông, nam (ven bờ)

Chế độ dòng chảy cũng chuyển đổi theo 2 mùa: dòng chảy mùa đông (tháng 2) có hướng đông bắc – tây nam; dòng chảy mùa hè theo hướng tây nam – đông bắc

b Nhiệt độ nước biển

C Nhiệt độ lớp nước mặt vùng nước

C và

Trang 13

tương đối ổn định, chênh lệch nhiệt độ giữa các khu vực chỉ trong khoảng trên

Cù Lao Chàm có khoảng 188 loài san hô, 61 giống và 13 họ Các giống

ưu thế được tìm thấy trong vùng này là Acropora, Motipora, Porites, Galaxea, Pachyseris, Lobophyton, Sinularia, Sarcophytum và Goniopora Các rạn san hô

còn trong điều kiện tốt được tìm thấy như Bắc Hòn Cô, Hòn Lá, Hòn Tai và vũng Cây Chanh - Tây Bắc Hòn Mồ [28]

1.4.2 Cá rạn san hô

Vùng biển Cù Lao Chàm có khoảng 200 loài cá rạn thuộc 85 giống, 36 họ

Họ cá Pomacentridae (39 loài), Labridae (33 loài) và họ Chaetodotidae (19 loài) khá phong phú Một số họ cá thông dụng khác như Acanthuridae (12 loài), Scaridae (12 loài), Siganidae (6 loài), Serranidae (6 loài) và Lutjanidae (5 loài) Trong số đó, một số loài bao gồm Labroides dimidiatus, Thalassoma lunare, Halichoeres marginatus, H.melanochir, Gomphosus varius (Labridae), Abudefduf sexfasciatus, Neoglyphidodon melas, Hemiglyphidodon plagiometopon, Pomacentrus chrysurus (Pomacentridae), Chaetodon kleinii, C trifascialis, C trifasciatus (Acanthuridae) và Sufflamen chrysoptera (Balistidae) phổ biến hầu

hết là cá rạn [28]

Trang 14

1.5 ẶC ỂM SINH HỌC CÁ DÌA

1.5.1 Phân loại

Vị trí phân loại của cá Dìa: Ngành: Chordata; Lớp: Actinopterygii; Bộ: Perciformes; Họ: Siganidae; Giống: Siganus

Cá Dìa còn gọi là tảo ngư là tên gọi chỉ các loài cá thuộc giống Cá Dìa (danh

pháp khoa học: Siganus), giống duy nhất của họ Cá dìa (Siganidae) Họ cá dìa với

khoảng 26 loài, trong đó 15 loài sống thành đàn, các loài còn lại sống thành đôi và

là cá rạn san hô có thân hình thoi, cao, dẹp bên Cá có miệng nhỏ, lưng xanh thẫm, bụng màu bạc Cá lớn nhất dạt 50 cm, thông thuờng 15 - 25cm

Tên tiếng Anh: Golden rabbit fish, Orange-spotted Spinefoot

1.5.2 Phân bố

Cá dìa (Siganus) phân bố rất rộng ở vùng Ấn Ðộ -Thái Bình Dương, từ

vùng biển phía Đông châu Phi tới Polynesia; phía Nam Nhật Bản tới bắc Australia

và vùng phía Đông Ðịa Trung Hải Ấu trùng cá dìa (Siganusspp) thường sống nổi ở

tầng nước mặt của các vùng nước phía ngoài rìa của rạn san hô, nhưng không trôi

xa bờ Cá con và cá trưởng thành thường chiếm giữ những vùng nước nông rất đa dạng kể cả rạn san hô, đáy cát và đáy đá có hoặc không có thực vật, các đầm phá

hoặc cửa sông và vùng đầm lầy rừng ngập mặn Chỉ có loài cá dìa (Siganus argentus) được bắt gặp ở ngoài khơi đại dương [4]

1.5.3 Sinh thái

loài rộng muối, có thể sống ở vùng nước lợ, mặn có độ sâu đến 6m Cá bột sống quanh quẩn cửa sông, riêng cá trưởng thành thường vào và ra khỏi cửa sông theo thủy triều Thức ăn tự nhiên là tảo đáy, rong Chất đáy là cát bùn hay rạn đá Cá ăn rong biển trên các tản đá như rong bún, và cỏ biển Cá dìa đuợc nuôi nhiều ở Ðài Loan, Indonesia, Philippines trong các bè hay ao dầm Ở nuớc ta, cá Dìa cũng đã đuợc nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công

Trang 15

Cá Dìa là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá Dìa là từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau Cá Dìa con kích thước 1,5-5 cm xuất hiện ở đầm phá Thừa Thiên Huế từ tháng 3 đến

tháng 9, tập trung vào các tháng 3, 4, 5 tại khu vực Tam Giang, Đầm Sam và cửa

Tư Hiền Có 4 loài cá Dìa ở đầm phá Thừa Thiên Huế nhưng cá Dìa sọc (Siganus Guttatus) là loài có giá trị hơn cả [2]

Có thể chia cá Dìa thành hai nhóm dựa vào các đặc điểm về tập tính, màu sắc và nơi sống Một nhóm bao gồm các loài sống thành cặp, có màu sáng là loại sống gắn bó với nơi có nhiều ánh sáng và liên quan chặt chẽ đến rạn san hô Những loài cá rạn san hô thường yếu, nhạy cảm với các thay đổi về lý -hoá và thường biểu

hiện tập tính hiếu chiến với các loài khác, điển hình là loài cá dìa (Siganus coralinus) Nhóm khác bao gồm các loài kết đàn một vài giai đoạn trong đời, di

chuyển qua những khoảng cách đáng kể, thường có màu xám hoặc màu xỉn Chúng thường khoẻ mạnh,có thể chống chịu được sự thay đổi đáng kể về độ mặn và nhiệt

độ Những loài sống thành đàn này là những thực phẩm quan trọng và hiện nay là

đối tượng của nhiều nghiên cứu về nuôi biển điển hình là loài cá dìa (Siganus argenteus) và loài cá dìa (Siganus canaliculatus) [27]

Trang 16

C ƢƠN 2 Ố TƢỢNG, THỜ AN, ỊA ỂM, NỘI DUNG

V P ƢƠN P ÁP N ÊN CỨU

2.1 Ố TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Nguồn lợi cá Dìa (Siganidae)

2.2 ỊA ỂM NGHIÊN CỨU

Vùng biển Cù Lao Chàm – TP Hội An – Tỉnh Quảng Nam

2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 5 năm 2013

2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Hiện trạng khai thác nguồn lợi cá Dìa ở vùng biển Cù Lao Chàm

2 Thành phần loài và phân bố cá Dìa ở vùng biển Cù Lao Chàm

3 Cấu trúc các nhóm kích thước

4 Đề xuất biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi cá Dìa tại vùng biển Cù Lao Chàm

2.5 P ƢƠN P ÁP N ÊN CỨU

2.5.1 P ƢƠN P ÁP ẾU TRA BẰNG HÌNH THỨC THAM VẤN CỘNG ỒNG

Theo phương pháp tham vấn cộng đồng chúng tôi tiến hành tổ chức tham vấn nhóm gồm 20 ngư dân chuyên khai thác nguồn lợi cá tại khu vực Cù Lao Chàm bằng các ngành nghề khác nhau, về các thông tin như tổng số tàu thuyền, công suất, cơ cấu ngành nghề, đối tượng thủy sản chính, năng suất sản lượng và mùa vụ khai thác, các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản Trong quá trình tham vấn

sử dụng bản đồ để ngư dân xác định khu vực khai thác cá Dìa

Đối tượng điều tra:

- Các ngư dân chuyên khai thác cá bằng nhiều hình thức khác nhau tại vùng biển Cù Lao Chàm

Trang 17

- Các chủ nậu

2.5.2 Phươn ph p thu mẫu thự đị

Tiến hành thu mẫu cá 2 tuần/1 lần bằng cách thu tại bến cá, chợ cá Nếu như mẫu cá thu được thuộc những mẫu cá lớn hoặc cá đắt tiền thì phân loại tại chỗ và chụp ảnh (không mua vì không đủ kinh phí )

Thời gian lấy mẫu từ tháng 3/2013 đến tháng 5/2013

2.5.3 Phươn ph p phân loại cá

Mẫu cá được tiến hành định loại theo tài liệu định loại của Vương Dĩ Khang (1958); Mai Đình Yên (1978 và 1992)

2.5.4 Phươn ph p xử lí số l ệu

Xử lý số liệu trên phần mềm Microsolf Excel

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Thị Phương Anh, Phan Thị Hoa (2009), Thành phần loài cá ở vùng biển n m b n đảo ơn Tr th nh phố Đ Nẵng, Tạp chí khoa học công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 1(36).2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài cá ở vùng biển n m b n đảo ơn Tr th nh phố Đ Nẵng
Tác giả: Đinh Thị Phương Anh, Phan Thị Hoa
Năm: 2009
2. Lê Văn Dân (2006), Một số chỉ tiêu sinh sản của cá Dìa (Siganus guttatus Bloch. 1787) ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, , Số: 11, Trang: 49-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu sinh sản của cá Dìa (Siganus guttatus Bloch. 1787) ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lê Văn Dân
Năm: 2006
4. Trần Hưng Hải (2007), Hướng dẫn kỹ thuật nuôi thủy sản xen ghép, Phòng Kinh Tế thị xã Hương Trà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kỹ thuật nuôi thủy sản xen ghép
Tác giả: Trần Hưng Hải
Năm: 2007
5. Nguyễn Văn Long, Võ Sĩ Tuấn, Hoàng Xuân Bền, Phan Kim Hoàng, Hứa Thái Tuyến, Nguyễn Xuân Vỵ và Dương Trọng Kiểm (2008), Đ dạng sinh học và chất lượng môi trường khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: 2004 – 2008, Viện Hải dương học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ dạng sinh học và chất lượng môi trường khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: 2004 – 2008
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Võ Sĩ Tuấn, Hoàng Xuân Bền, Phan Kim Hoàng, Hứa Thái Tuyến, Nguyễn Xuân Vỵ và Dương Trọng Kiểm
Năm: 2008
6. Nguyễn Đình Mão (1998), Cơ sở sinh học một số loài cá kinh tế ở c c đầm phá ven biển Nam Trung Bộ phục vụ cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi, Luận văn tiến sĩ sinh học, Viện Hải dương học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học một số loài cá kinh tế ở c c đầm phá ven biển Nam Trung Bộ phục vụ cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi
Tác giả: Nguyễn Đình Mão
Năm: 1998
7. Đặng Nguyễn Duy Ngọc (2006), Báo cáo tổng kết mô hình nuôi nuôi kết hợp c D , rong Câu, c Đối, cá rô phi và trìa tại xã Phú Hải, Trung tâm Khuyến Ngư Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết mô hình nuôi nuôi kết hợp c D , rong Câu, c Đối, cá rô phi và trìa tại xã Phú Hải
Tác giả: Đặng Nguyễn Duy Ngọc
Năm: 2006
8. Nguyễn Thị Ngọc, Nghiên cứu homst y, mô h nh lưu trú phù hợp công tác bảo tồn thiên nhiên tại cụm đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam. Luận văn tốt nghiệp, khoa Môi trường, Trường ĐH Khoa học tự nhiên, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu homst y, mô h nh lưu trú phù hợp công tác bảo tồn thiên nhiên tại cụm đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam
9. Châu Ngọc Phi (2005), Báo cáo thực hiện mô hình nuôi cá Dìa, tôm Sú và rong Câu kết hợp ở xã Phú An, Trung tâm Khuyến Ngư Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện mô hình nuôi cá Dìa, tôm Sú và rong Câu kết hợp ở xã Phú An
Tác giả: Châu Ngọc Phi
Năm: 2005
10. Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn văn Long (1997), Thành phần loài, nguồn lợi và một số dặc điểm sinh học của quần xã cá rạn san hộ ở vùng biển Cù Lao Chàm”, Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thứ nhất, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài, nguồn lợi và một số dặc điểm sinh học của quần xã cá rạn san hộ ở vùng biển Cù Lao Chàm
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn văn Long
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997
11. Đào Mạnh Sơn, Vũ Việt Hà, Đặng Văn Thi và ctv (2009), Nguồn lợi hải sản Việt N m gi i đoạn 2000 - 2005, Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh học biển và phát triển bền vững, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi hải sản Việt N m gi i đoạn 2000 - 2005
Tác giả: Đào Mạnh Sơn, Vũ Việt Hà, Đặng Văn Thi và ctv
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2009
12. Đặng Ngọc Thanh (2003), Biển Đông, Tập IV Sinh vật và sinh thái biển, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông, Tập IV Sinh vật và sinh thái biển
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
13. Phạm Thược (2009), Nguồn lợi sinh vật biển Việt N m v đề xuất một số phương hướng bảo vệ và phát triển bền vững, Tuyển tập hội nghị khoa học toàn quốc về sinh học biển và phát triển bền vững, trang 331 – 340 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi sinh vật biển Việt N m v đề xuất một số phương hướng bảo vệ và phát triển bền vững
Tác giả: Phạm Thược
Năm: 2009
15. Võ Sĩ Tuấn (Chủ biên), Nguyễn Huy Yết và Nguyễn Văn Long (2005), Rạn san hô biển Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, trang 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rạn san hô biển Việt Nam
Tác giả: Võ Sĩ Tuấn (Chủ biên), Nguyễn Huy Yết và Nguyễn Văn Long
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Vũ, Chu Mạnh Trinh (2009), Báo cáo kết quả logbook, Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả logbook
Tác giả: Nguyễn Văn Vũ, Chu Mạnh Trinh
Năm: 2009
18. Edi Muljadi Amin, Duto Nugroho (1985), Acoustic surveys of pelagic fish resources in the Banda Sea during August 1984 and February–March 1985, Research Institute for Marine Fisheries (BPPL), Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acoustic surveys of pelagic fish resources in the Banda Sea during August 1984 and February–March 1985
Tác giả: Edi Muljadi Amin, Duto Nugroho
Năm: 1985
20. FAO, (2010), The State of world Fisheries and Aquaculture 2010, FAO, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: The State of world Fisheries and Aquaculture 2010
Tác giả: FAO
Năm: 2010
21. Geronimo T. Silvestre, Len R. Garces (1990), Population parameters and exploitation rate of demersal fishes in Brunei Darussalam (1989–1990), WorldFish Center, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Population parameters and exploitation rate of demersal fishes in Brunei Darussalam (1989–1990)
Tác giả: Geronimo T. Silvestre, Len R. Garces
Năm: 1990
22. G.H.P. De Bruin; B.C. Russell and A. Bogusch (1994), The Marine Fishery Resources of Sri Lanka. FAO, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Marine Fishery Resources of Sri Lanka
Tác giả: G.H.P. De Bruin; B.C. Russell and A. Bogusch
Năm: 1994
25. J.A. Gulland (1971), The fish resources of the ocean, Fishing News (Books) Ltd. England Sách, tạp chí
Tiêu đề: The fish resources of the ocean
Tác giả: J.A. Gulland
Năm: 1971
3. Lê Văn Dân, Nguyễn Mạnh Thành (2006), Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của cá Dìa Bông (Siganus guttatus) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm