Từ đó đã thôi thúc trong tôi tìm kiếm và tìm hiểu ra một phương pháp mới phù hợp với việc dạy học Lịch sử, và cũng qua việc tìm hiểu các phương pháp dạy học ở một số nước tiên tiến như S
Trang 1ỌC N N
ỌC SƯ P M
K OA LỊC SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ X X (S K lớp 10 – chương trình chuẩn) ở các trường phổ thông trên địa bàn
thành phố à Nẵng
Sinh viên thực hiện : Tôn Thất Tùng
Người hướng dẫn : Trương Trung Phương
Đà Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2MỞ ẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử là một môn học có vị trí quan trọng trong việc thực hiện giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh THPT Học lịch sử sẽ giúp học sinh hiểu được quy luật phát triển của xã hội loài người cũng như tính tất yếu lịch sử của sự nghiệp giải phóng dân tộc Học Lịch sử góp phần giáo dục lòng yêu nước, giáo dục thái độ đối với các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc.Với những vai trò quan trọng như vậy nhưng thực tế vẫn còn những nhận thức không đúng về vị trí, vai trò của môn lịch sử Trong nhận thức của phụ huynh, học sinh và ngay cả giáo viên, lịch sử vẫn bị coi là môn phụ Học sinh không thích học lịch sử, dẫn đến kết quả học tập của môn lịch sử rất thấp
Từ lâu, dạy học theo kiểu “thầy đọc trò chép” được coi là một phương pháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước Ngành Giáo dục và Đào tạo của nước ta cũng đã có nhiều cuộc hội thảo, tham khảo nhiều phương pháp dạy học của các nước tiên tiến trên thế giới và cũng đã tự mình đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực khác nhau… nhưng hiện tại một bộ phận lớn giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọc – chép” và
“nhìn - chép” Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạy học, dễ
có tư tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng tạo trong việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu Người học theo cách này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhận kiến thức một chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở nên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “ dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Qua đó ta thấy vai trò của bộ môn lịch sử như thế nào đối với học sinh và
đối với những ai là công dân Việt Nam Ở một số nước phát triển như Mỹ, Nhật, Trung Quốc…những đứa trẻ khi mới bắt đầu đi học từ những lớp Tiểu học thì môn học đầu tiên và quan trọng đối với những đứa trẻ này là môn lịch sử Vì chỉ có qua môn học Lịch sử, những đứa trẻ mới biết quý giá những giá trị truyền thống mà ông
Trang 3cha nó đã tạo dựng, biết được chiều dài lịch sử từ lúc hình thành đến quá trình phát triển của đất nước mà mình đang sống
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX nằm trong phần lịch sử Việt Nam của sách giáo khoa Lịch sử 10 chương trình chuẩn, vậy mà các em học sinh thường không cảm thấy thích thú khi tiếp nhận kiến thức này, vì đây là những kiến thức rất khó hiểu và phức tạp Vì vậy, để kích thích sự thích thú và tìm tòi nghiên cứu của các em trong việc học lịch sử giai đoạn từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX thì giáo viên không thể sử dụng phương pháp “đọc – chép” và “nhìn – chép” Từ đó đã thôi thúc trong tôi tìm kiếm và tìm hiểu ra một phương pháp mới phù hợp với việc dạy học Lịch sử, và cũng qua việc tìm hiểu các phương pháp dạy học ở một số nước tiên tiến như Singapo, Nhật Bản… về giáo dục thì tôi nhận thấy rằng việc áp dụng và sử dụng
sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT là phù hợp với việc tiếp nhận kiến
thức của học sinh và chỉ thị của bộ giáo dục và đào tạo là “không đọc – chép ; không nhìn – chép”
Với ý nghĩa thực tiễn và khoa học đó, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (SGK lớp 10 – chương trình chuẩn) ở các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
Phan Ngọc Liên với tác phẩm Đổi mới nội dung phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông (2008) Đã trình bày rất nhiều nội dung kiến thức lịch sử cần phải
đổi mới, đồng thời với đó là sự thay đổi về phương dạy học lịch sử ở trường phổ thông Trong nội dung viết về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông thì có đề cập đến phương pháp mới là sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch
sử nhưng cũng chỉ dưới dạng sơ lược
Trong một số bài viết “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT” (2012) của tác giả Nguyễn Chí Thuận đã trình bày Những thuận lợi và khó
Trang 4khăn trong việc dạy học Lịch sử ởTHPT hiện nay và tầm quan trọng của việc sử dụng
sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Tuy nhiên, tác phẩm chỉ dừng lại
ở mức khái quát, chung chung chưa đi sâu vào từng giai đọan cụ thể của lịch sử Việt Nam như từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX cũng như các giai đoạn lịch sử Việt Nam
và lịch sử thế giới khác
Ngoài ra, trong tác phẩm “ Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT” (2007) của Nguyễn Thị Côi, có đề cập đến nhiều con đường
và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường THPT trong đó có giới thiệu
và trình bày về phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử ở trương THPT, Tuy nhiên tác phẩm cũng không đi sâu và trình bày đầy đủ các khía cạnh của vấn đề
Nhìn chung, số công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử là không ít Tuy nhiên, đa số các công trình đều trình bày một cách tổng thể, mang tính chất khái quát, một số tác phẩm mang tính chất chủ quan của tác giả
Từ trước tới nay chưa có công trình nghiên cứu nào, bài viết nào đi sâu vào việc sử dụng sơ đồ tư duy trong một bài học, một giai đoạn lịch sử cụ thể Chính vì vậy, công trình nghiên cứu này sẽ giúp cho chúng tôi có một cách nhìn chi tiết cụ thể về vấn đề dạy học Lịch sử ở Trường THPT và việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử
từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX
3 ối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giới thiệu và soạn giảng môn Lịch sử 10, phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX theo phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trang 5Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng tài liệu từ các sách chuyên khảo, một số công trình nghiên cứu, các tư liệu liên quan trên các trang Web, Báo điện tử, tạp chí
nghiên cứu khoa học, cũng như một số tài liệu tham khảo khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử từ nguồn gốc đến giữa thế
ra đươc một phương pháp học tập mới đó là phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy cho tất
cả các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng vì qua nghiên cứu về sơ đồ tư duy, chúng ta có thể thấy sơ đồ tư duy có thể áp dụng cho nhiều môn học khác nhau có hiệu quả cao và ít tốn kém thời gian đối với học sinh Còn đối với giáo viên, việc sử dụng
sơ đồ tư duy trong giảng dạy giúp họ có được hiệu quả cao nhất trong việc truyền tải kiến thức đến học sinh, tạo cho học sinh một niềm đam mê, sự hứng thú các môn học nói chung và môn lịch sử nói riêng
Bên cạnh đó, đề tài sẽ tập hợp tư liệu phục vụ cho việc học tập, giảng dạy sau này, đồng thời rèn luyện kĩ năng viết cũng như kĩ năng tổng hợp, đối chiếu, so sánh các nguồn tài liệu
Chương 2: Hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (SGK lớp 10 - CT chuẩn) ở các trường THPT
Trang 6Chương 3: Một số hình thức và biện pháp sư phạm tạo sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX ( SGK lớp 10- CT chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn TP.Đà Nẵng
NỘ DUN
C ƯƠN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN V T ỰC T ỄN CỦA V ỆC SỬ DỤN SƠ
Ồ TƯ DUY TRON D Y ỌC P ẦN LSVN TỪ N UỒN ỐC ẾN ỮA
T Ế KỶ X X (S K LỚP 10 - CT C UẨN) Ở CÁC TRƯỜN P Ổ TRUN
ỌC T ÔN TRÊN ỊA B N T N P Ố N N
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm Sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy (Mindmap) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề [3; tr43] Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để
phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não
Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa bao giờ được hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các mùa thi
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng
1.1.1.1 Cách tạo sơ đồ tư duy
Sử dụng những từ chính hoặc những hình ảnh cần thiết Bắt đầu từ trung tâm và triển khai ra (nên dùng hình ảnh) Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng
Trang 7phấn hơn Bên cạnh đó, Chúng ta phải luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Vì vậy, cần tạo cho trung tâm một hình ảnh rõ ràng và “mạnh” miêu tả được nội dung tổng quát của toàn bộ mind map
Sau đó, tạo các trung tâm nhánh và các chi tiết nhánh Sau đó nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,… bằng các đường kẻ Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng
ta làm việc bằng sự liên tưởng Mỗi từ, hình ảnh, mỗi ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ.Đặt những từ trọng tâm vào những hàng mà làm tăng kết cấu của các ghi chú Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều Ngoài ra, khi vẽ, những trường hợp sau phải phân biệt rõ hơn những trường hợp trước Những gì không
có trong trình bày thì không nên đưa vào mind map Chúng ta phải có cách tư duy hai chiều (phản biện), Sử dụng mũi tên, biểu tượng hoặc những hình ảnh để chỉ ra sự liên kết Nếu cạn kiệt suy nghĩ thì chuyển sang nhánh khác Ghi ngay ý tưởng vào nơi hợp
lý ngay khi nghĩ ra nó Cần sử dụng câu từ ngắn gọn để làm cho những hình vẽ ngắn gọn, dễ nhìn tạo cho người dùng có thể phát huy mọi khả năng của bộ não để tư duy và ghi nhớ bài học Quan trọng là chúng ta nên tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (kiểu đường kẻ, màu sắc,hình ảnh, )
In ra giấy hơn là viết tay vì làm cho dễ đọc và dễ nhớ hơn Bên cạnh đó, nên sử dụng màu sắc để làm nổi bật vấn đề, tạo những ấn tượng ngay từ ban đầu khi mắt vừa tiếp xúc với sơ đồ Đối với những bạn mới tiếp xúc với cách học sơ đồ tư duy nên vẽ
sơ đồ tư duy bằng tay trước, để tạo cho mình một thói quen tư duy mới, khi đã thành thạo với cách tạo sơ đồ tư duy thì có thể sử dụng những phần mềm để tạo sơ đồ tư duy Điều quan trọng nhất là cho dù bạn sử dụng bất kì phần mềm nào không quan trọng vì những phần mềm chỉ vẽ ra những cái mà chúng ta đã tư duy và định hình sẵn trong đầu chứ không làm tất cả mọi việc cho chúng ta, những phần mềm sơ đồ tư duy chỉ tạo những hình ảnh, hình thức bên ngòai về sơ đồ tư duy Đặc biệt chú ý, khi hết giấy để trình bày thì đừng nên thay một tờ giấy khác to hơn mà sử dụng thêm các tờ khác ghép vào Chính vì vậy, quan trọng chúng ta biết tư duy, biết tự tạo ra sơ đồ tư duy bằng tay trước đó, còn việc sử dụng các phần mềm tạo sơ đồ tư duy thì có thể tìm hiểu sau cũng không sao
1.1.1.2 Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy
Trang 8Trước khi áp dụng phương pháp Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở Trường THPT (lớp 10 - Chương trình chuẩn) giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một số đoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD hoặc USB) cho học sinh thấy hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy khi ghi bài, học bài và hướng dẫn học sinh cách vẽ
sơ đồ tư duy gồm nội dung cả bài học trên một trang giấy rất dễ học, dễ thực hiện và
học sinh sẽ rất thích thú với mỗi tác phẩm sơ đồ tư duy của mình
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm và viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm Bằng cách tập trung vào những ý tưởng chủ chốt được viết bằng từ ngữ của học sinh, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kết nối giữa những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một sơ đồ tư duy Tương tự, nếu học sinh lập một sơ đồ kiến thức, nó sẽ giúp học sinh hiểu và nhớ những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn
Hướng dẫn học sinh sử dụng những đường thẳng, màu sắc, mũi tên, nhánh rẽ hoặc những cách khác để thể hiện kết nối giữa những ý tưởng được đưa ra trong bản đồ tư duy của học sinh Những mối quan hệ này sẽ quan trọng khi học sinh đang tìm hiểu những thông tin mới hoặc xây dựng cấu trúc của một bài học Bằng cách cá nhân hoá
sơ đồ với những ký hiệu và thiết kế riêng của mỗi học sinh, học sinh sẽ xây dựng được những mối quan hệ trực quan và có ý nghĩa giữa những ý tưởng; điều này sẽ hỗ trợ học sinh rất nhiều trong việc gợi nhớ và hiểu
Ý tưởng của bản đồ tư duy là suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một cách thức phi tuyến tính Có rất nhiều thời gian để chỉnh sửa thông tin sau này nhưng ở bước đầu tiên, việc đưa mọi khả năng vào bản đồ là rất quan trọng Đôi khi một trong những khả năng tưởng như là không thể ấy lại trở thành ý tưởng chủ chốt đưa học sinh đến kiến thức đó
Vài học sinh phát hiện rằng sử dụng những kí tự viết hoa sẽ thu hút các em chỉ chú
ý vào những điểm chính Chữ viết hoa cũng dễ đọc hơn trong một sơ đồ Tuy nhiên, học sinh có thể viết vài ghi chú, giải thích bằng chữ viết thường Một số học sinh làm thế để khi cần xem lại bản đồ tư duy một thời gian sau, trong lúc số khác lại dùng để ghi lại những đánh giá, phê bình
Hầu hết học sinh đều thấy tiện dụng khi lật ngang trang giấy và vẽ sơ đồ tư duy của các em theo chiều ngang Đặt ý tưởng hoặc chủ đề chính vào chính giữa trang giấy, ta sẽ có có không gian tối đa cho những ý khác tỏa ra từ trung tâm
Vài sơ đồ tư duy hữu dụng nhất thường được học sinh bổ sung hoàn chỉnh trong một khoảng thời gian dài tiếp tục sau nầy trong quá trình học tập của các em Sau lần
Trang 9vẽ ban đầu, học sinh có thể muốn làm nổi bật vài thứ, thêm thông tin hoặc thêm vài câu hỏi Vì vậy, để trống nhiều chỗ trên bản đồ là một ý hay để sau đó học sinh có thể thêm vào những ý tưởng mới
Hướng dẫn học sinh làm sơ đồ tư duy
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức thông qua việc vẽ sơ
đồ tư duy tại lớp học như sau:
- Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh của chủ đề, sử dụng ít nhất 3 màu
- Sử dụng hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong bản đồ tư duy của bạn
- Chọn những từ khoá và viết chúng ra bằng chữ viết hoa
- Mỗi từ/hình ảnh phải đứng một mình và trên một dòng riêng
- Những đường thẳng cần phải được kết nối, bắt đầu từ bức ảnh trung tâm
- Những đường nối từ trung tâm dày hơn, có hệ thống và bắt đầu nhỏ dần khi toả
ra xa
- Những đường thẳng dài bằng từ/hình ảnh
- Sử dụng màu sắc – mật mã riêng của bạn – trong khắp sơ đồ
- Phát huy phong cách cá nhân riêng của học sinh
- Sử dụng những điểm nhấn và chỉ ra những mối liên kết trong sơ đồ tư duy của mỗi học sinh
- Làm cho sơ đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tự hoặc dàn ý để bao quát các nhánh của sơ đồ tư duy
- Sơ đồ tư duy của học sinh là tài sản riêng của học sinh: một khi học sinh hiểu cách tạo ra những ghi chú trong sơ đồ tư duy, học sinh có thể phát huy các quy tắc của riêng mình để làm cho nó tốt hơn Những đề nghị sau đây có thể giúp học sinh tăng hiệu quả của việc đó:
Sử dụng những từ ngữ đơn giản thể hiện thông tin: Hầu hết các từ trong cách viết bình thường đều là nhồi nhét, bởi vì chúng đảm bảo rằng thông tin được chuyển tải đúng ngữ cảnh và trong một dạng thức dễ đọc Trong sơ đồ tư duy của học sinh, những
từ khóa có ý nghĩa có thể chuyển tải cùng ý nghĩ như thế một cách rõ ràng hơn Những
từ dư thừa chỉ làm sơ đồ lộn xộn
Chữ in: Cách viết dính nhau hoặc không rõ ràng sẽ khó đọc hơn
Sử dụng màu sắc để tách các ý khác nhau: Điều này sẽ giúp học sinh tách các ý ra khi cần thiết Nó cũng giúp học sinh làm sơ đồ trực quan hơn để gợi nhớ lại Màu sắc cũng giúp cho việc sắp xếp các chủ đề
Trang 10Sử dụng những ký hiệu và hình ảnh: Khi một ký hiệu hoặc hình ảnh có ý nghĩa gì
đó với học sinh, hãy sử dụng chúng Hình ảnh có thể giúp học sinh nhớ thông tin hiệu quả hơn là từ ngữ
Sử dụng liên kết đan chéo: Thông tin trong một phần của sơ đồ có thể liên quan đến phần khác Khi đó, học sinh có thể vẽ những đường thẳng để chỉ ra sự liên quan đan chéo Việc này sẽ giúp cho học sinh thấy mức ảnh hưởng một phần trong chủ đề đến các phần khác
Chú ý: Lập sơ đồ tư duy là một cách thức cực kỳ hiệu quả để ghi chú Các bản đồ
tư duy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc tổng thể của một chủ
đề và mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó đối với nhau Nó giúp học sinh liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối với các ý khác
Sau khi giáo viên đã giới thiệu qua sơ đồ tư duy bằng lời nói, hình ảnh và video thì giáo viện có thể thực hiện tiến trình dạy học bằng sơ đồ tư duy như sau:
Kiểm tra bài cũ: Giáo viên gọi học sinh lên bảng thuyết trình sơ đồ tư duy của bài
học cũ trước lớp Giáo viên và các bạn khác có thể đặt thêm câu hỏi để học sinh trả lời Bắt buộc 100% học sinh phải có sơ đồ tư duy bài học cũ và các sơ đồ tư duy được học sinh lưu trong bìa giấy hoặc một túi hồ sơ để sử dụng khi ôn tập và khi giáo viên kiểm tra thay cho vở ghi bài Học sinh cũng có thể có một tập nháp vẽ sơ đồ tư duy ngay tại lớp trong giờ học Về nhà học sinh sẽ tự chỉnh sửa sơ đồ tư duy bằng hình vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm vẽ sơ đồ tư duy và lưu trên máy tính cá nhân để ôn tập các kì thi
Dạy bài mới: Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng
bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp mà không ghi bài theo kiểu cũ và giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các bạn trong nhóm
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số 1
và gọi học sinh học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn
Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2 tương tự học sinh đã hoàn thành nội dung
sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá nhân
Củng cố: Giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày nội dung sơ đồ tư duy mà các
em đã thực hiện Gọi một vài em đã vẽ sơ đồ tư duy bằng phần mềm để tạo sơ đồ tư duy dùng USB gắn vào máy tính trình chiếu và thuyết trình trước lớp cho các bạn theo
Trang 11dõi nội dung bài học Giáo viên nhận xét đánh giá cho điểm và dặn dò học sinh chuẩn
bị bài học lần sau
Đặc biệt, hết sức lưu ý khi đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, giáo viên nên hỏi những câu liên quan đến sự thông hiểu để học sinh vận dụng khi làm bài bài kiểm tra Khi học sinh trả lời giáo viên nên động viên khuyến khích và có thể hỏi tiếp những câu
có liên quan đến kiến thức của bài học cũ để học sinh vừa học kiến thức mới, vừa ôn tập kiến thức cũ đã học
Như vậy, sau khi học sinh đã thiết kế sơ đồ tư duy và tự “ghi chép” phần kiến thức như trên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ sách giáo khoa theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình Từ đó, giúp các em đạt những hiệu quả cao trong việc học tập và thi cử
1.1.1.3 Cách ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử
Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra kiến thức cũ
Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh…để trả lời câu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáo viên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra phần nhớ mà cần chú trọng đến phần hiểu Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụng sơ đồ tư duy vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với
từ khoá trung tâm
Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc giảng bài mới
Sử dụng sơ đồ tư duy là một gợi ý cho cách trình bày mới Giáo viên thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng sơ đồ tư duy để thể hiện được một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tích cực hơn Giáo viên vừa giảng bài
Trang 12vừa thể hiện trên sơ đồ tư duy hoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành sơ đồ tư duy Học sinh được nghe giảng, nhìn bản đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép…sự tập trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh, học sinh học tập tích cực hơn
Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học
Đây là việc làm rất có hiệu quả Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm Học sinh sử dụng sơ đồ tư duy để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp
Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ tư duy Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học
Sử dụng sơ đồ tư duy để ra bài tập về nhà
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh) trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian, kinh tế…) Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh Bài tập về nhà nên thiên
về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cách cung cấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác
Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học
Đây là việc làm rất có hiệu quả Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm Học sinh sử dụng sơ đồ tư duy để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp
Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ tư duy Các thông tin còn thiếu này sẽ
Trang 13bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học
Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập
Việc ôn tập lịch sử, chuẩn bị kiến thức cho các kì thi như học kì, cuối kì, các kì thi lớn như tốt nghiệp và Đại học rất là khó khăn đối với các em học sinh Vì những kiến thức lịch sử nó trải dài và rộng, bên cạnh đó còn có những khái niệm hết sức là trừu tượng và khái quát đòi hỏi người học bên cạnh phải có lòng đam mê với lịch sử thì người học lịch sử cũng cần phải có một phương pháp ôn tập phù hợp Chính vì vậy, để tiết kiệm thời gian đồng thời hệ thống hóa được các kiến kiến thức để ôn tập thì việc ứng dụng và sử dụng sơ đồ tư duy là phù hợp và mang lại hiệu quả nhất đối với học sinh Nó giúp học sinh hệ thống hóa được kiến thức của một chương, một giai đoạn lịch sử, một sự kiện lịch sử, một nhân vật lịch sử hay là bản chất của những sự kiện lịch sử để từ đó học sinh có thể thâu tóm các nội dung kiến thức lịch sử một cách đơn giản, ngắn gọn và dễ học Từ đó mang lại nhưng hiệu quả cao trong việc ôn tập và thi
cử môn lịch sử
Như vậy, không thể phủ nhận sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy
và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên
và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, tích cực và độc lập Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức Nhìn chung, có thể sử dụng sơ đồ tư duy trong tất cả các khâu của quá trình lên lớp từ kiểm tra bài cũ, triển khai bài mới đến củng cố kiến thức, giao bài về nhà; từ việc thể hiện lượng kiến thức nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp; từ việc học cá nhân đến nhóm, tập thể… Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình, nội dung bài học, lựa chọn ra những phần, những bài có khả năng áp dụng sơ đồ tư duy Sau đó, giáo viên phân tích nội dung bài dạy, tìm ra những vấn đề, những biểu tượng, khái niệm cần hình thành và truyền đạt cho học sinh, xác định các dạng bài tập với sơ đồ tư duy phù hợp với đối tượng học sinh, quỹ thời gian, điều kiện trường lớp, trang thiết bị dạy học Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào, bài học nào cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy và cũng không phải sử dụng một cách áp đặt cho mọi giờ học Cũng như các thiết bị dạy học khác, sơ đồ tư duy cũng có những ưu điểm và hạn chế riêng của mình, do đó sử dụng sơ đồ tư duy cần đúng lúc, đúng cách, phù hợp với đối tượng học sinh và quan trọng là đảm bảo việc
Trang 14truyền tải nội dung bài học Do đó, giáo viên cần có sự linh hoạt trong sử dụng sơ đồ
tư duy, cần xác định một số căn cứ để sử dụng sơ đồ tư duy cho phù hợp, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị dạy học cho tương xứng
1.1.1.4 Một số phần mềm dùng để tạo sơ đồ tư duy
Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra sơ đồ tư duy Một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind mapping” (mind mapping
software)
Phần mềm Buzan’s imindmap
Phần mềm Buzan’s iMindmap™: một phần mềm thương mại, tuy nhiên có thể tải bản dùng thử 30 ngày Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd thực hiện Trang chủ tại http: // www.imindmap.com
Phần mềm Visual Mind
Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind t echnologies Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa từ khóa Có thể dùng thử 30 ngày Trang chủ tại http: //www.visual-mind.com
Phần mềm FreeMind
Phần mềm FreeMind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập trình trên Java Các icon chưa được phong phú, tuy nhiên chương trình có đầy đủ chức năng để thực hiện mind mapping Trang chủ tại:
http://www.freemind.sourceforge.net/wiki/index.php/Main Page
Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo một danh sách các phần mềm loại mind
mapping tại địa chỉ sau:
http://www.wikipedia.org/wiki/List of mind mapping software
1.1.2 Ý nghĩa, vai trò của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử
1.1.2.1.Về mặt giáo dưỡng
Dạy học Lịch sử cũng như dạy bất cứ môn học nào trong nhà trường đều nhằm cung cấp kiến thức, hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, định hướng nghề nghiệp, phát triển học sinh nắm được những quy luật tự nhiên, xã hội, con người vận dụng một cách sáng tạo những hiểu biết đó vào cuộc sống Tuy nhiên, so với môn học khác, môn Lịch sử có đặc điểm là tri thức lịch
sử mang tính quá khứ; lịch sử là những gì đã xảy ra từ khi con người và xã hội hình thành cho đến ngày nay Chính vì thế, để tái tạo những hình ảnh, những kiến thức lịch
Trang 15sử một cách chính xác, lôgic thì giáo viên cần trang bị cho các em kiến thức mang tính khoa học, cơ bản, phù hợp với thực tiển đất nước, trang bị cho các em tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm giúp học sinh biết lựa chọn những sự kiện lịch sử cơ bản, để ghi nhớ trong cái mênh mông rộng lớn của không gian và thời gian, làm sao tái tạo được lịch sử thông qua sơ đồ tư duy, nắm được các khái niệm ở mức độ khá cao, làm sao có thể nêu quy luật, rút ra được bài học quá khứ cho hiện tại
Trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay, có nhiều biện pháp và phương pháp để thực hiện việc học tập và nhận thức lịch sử một cách hiệu quả Tuy nhiên việc dạy học theo lối truyền thống “đọc-chép và nhìn-chép” vẫn được sử dụng phổ biến ở các trường THPT nên việc truyền tải kiến thức của giáo viên và việc tiếp thu kiến thức của học sinh chưa đạt hiệu quả cao nhất trong việc dạy học lịch sử
Như vậy, việc áp dụng và sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học lịch sử sẽ mang lại làn gió mới, một làn gió tích cực trong học tập và giảng dạy lịch sử Nếu áp dụng và triển khai sơ đồ tư duy sẽ mang lại hiệu quả tích cực sau:
Đối với học sinh
Học sinh thường xuyên tự lập sơ đồ tư duy sẽ phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc, các đường nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý
tưởng khoa học, súc tích… Và đó chính là để học sinh học cách học: Học sinh được
học để tích lũy kiến thức, nhưng từ trước đến nay học sinh chưa biêt cách học cách để lĩnh hội những kiến thức bộ môn lịch sử một cách hiệu quả
Với việc sử dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp cho học sinh Sáng tạo hơn trong cách suy nghĩ và trong cách học, tiết kiệm thời gian trong việc học tập mà việc học tập và ghi nhớ kiến thức vẫn đạt hiệu quả cao
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm và viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm Bằng cách tập trung vào những ý tưởng chủ chốt được viết bằng từ ngữ của học sinh, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kết nối giữa những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một sơ đồ tư duy Tương tự, nếu học sinh lập một sơ đồ kiến thức, nó sẽ giúp học sinh hiểu và nhớ những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn, chi tiết về sự kiện đó, bởi vì, ý chính
sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng làm cho học sinh nhanh chóng nắm bắt những
sự kiện, nội dung cần trình bày của bài Ngoài ra, quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính Vì vậy, làm cho học sinh nhanh chóng phát hiện và phân tích các ý kiến từ những ý chính đó Đồng thời, học sinh với thị giác phần lớn còn rất tốt Vì vậy, các khái niệm then chốt sẽ được
Trang 16tiếp nhận ngay lập tức bằng thị giác Đặc biệt, việc ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn khi được tái hiện bằng sơ đồ tư duy Mỗi giản đồ sẽ phân biệt nhau, tạo ra
sự so sánh, phân biệt rõ ràng làm cho người học dễ dàng cho việc gợi nhớ những kiến thức cũ
Ngoài ra, Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng
và linh hoạt cho việc ghi nhớ Ngoài ra, đối với những học sinh thành thạo về công nghệ thông tin thì có thẻ tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính
Đối với giáo viên
Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức cho học sinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động Với việc giảng dạy bằng sơ đồ
tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách tự vẽ, tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổ sung những phần còn thiếu Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm của bài học Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ cho học sinh trong việc học tập môn Lịch sử Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khai đến từng trường Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học
Bên cạnh đó, việc giảng dạy lịch sử bằng sơ đồ tư duy sẽ giúp giáo viên truyền đạt cho học sinh cách ghi chép hiệu quả nhất, ngắn gọn và xúc tích nhưng hiệu quả vẫn tốt hơn nhiều cho với các phương pháp truyền thống khác
Ngoài ra, việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy Lịch sử tạo điều kiện cho giáo viên có thể tóm tắt và truyền đạt tốt nhất cho học sinh trong những tiết ôn tập thi một tiết
và thi học kì
Đặc biệt sơ đồ tư duy cũng có thể tạo được trên máy tính nhờ các phần mềm tạo sơ đồ
tư duy như Phần mềm Buzan’s iMindmap, Phần mềm Inspiration, Phần mềm Visual Mind làm cho bài học thêm phong phú, đa dạng, giáo viên có thể tiết kiệm thời gian hơn trong việc soạn giao án giảng dạy, đồng thời việc truyền tải kiến thức một cách
Trang 17trực quan như vậy sẽ làm cho học sinh thích thú, ưa thích và tập trung vào bài giảng của giáo viên, từ đó làm cho học sinh ngày càng yêu thích môn lịch sử
Có ý kiến và nhiều học sinh cho rằng, việc học tập lịch sử là quá khô khan và chủ yếu là học thuộc lòng, thuộc các sự kiện lịch sử, không có bất kì một sự sáng tạo nào, thực ra họ đã quá sai lầm và quá nhầm lẫn trong việc đưa ra ý kiến đó, nếu họ tiếp xúc với sơ đồ tư duy, chúng tôi nghĩ họ sẽ thay đổi tất cả những ý kiến đó, học lịch sử có rất nhiều điều thú vị, người học lịch sử cần phải có một tư duy về lịch sử tốt, biết kết nối, liên kết các sự kiện để rút ra nhận định, kết luận, đánh giá
1.1.2.2 Về mặt giáo dục
Việc tạo sơ đồ từ duy trong dạy học lịch sử góp phần tạo nên những hứng thú trong học tập, giúp học sinh có được phương pháp nắm vững nội dung bài học sâu hơn, nhớ kĩ hơn, đặc biệt, với việc tạo sơ đồ tư duy về nhân vật lịch sử, về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, về một giai đoạn lịch sử, sự kiện lịch sử, về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm sẽ giúp giáo dục truyền thống, tư tưởng chính trị, đạo đức, tình cảm yêu ghét, niềm tự hào tốt đẹp của dân tộc cho học sinh
THPT Góp phần hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh “Việc giáo dục tư tưởng qua bộ môn lịch sử bao giờ cũng được coi trọng, càng coi trọng hơn trong tình hình hiện nay khi có nhiều biến động chính trị sâu sắc trên thế giới Lịch sử quá khứ làm cơ sở vững chắc cho việc hiểu sâu sắc hiện tại, chẩn đoán quy luật phát triển của tương lai” [23; tr21] Do đó, lịch sử không chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh mà
còn có tác dụng quan trọng về mặt tư tưởng, nhận thức, tình cảm
Ví dụ khi dạy bài “Những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm ở các thế kỉ XV”, giáo viên hướng dẫn và gợi ý cho học sinh vẽ các sơ đồ tư duy về cuộc kháng chiến chống Tống thời, cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý, các cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên ở các thế kỉ XIII, phong trào dấu tranh chống xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn Sau khi học sinh hoàn thành xong sơ đồ tư duy, giáo viên hướng dẫn cho các em trình bày đồng thời bổ sung và chỉnh sửa sơ đồ tư duy cho các em học sinh Giáo viên nhận xét, kết luận lại nội dung Qua đó, học sinh sẽ hình thành cho mình lòng tự hào dân tộc, yêu thương quê hương đất nước, đồng thời giáo dục cho các em truyền thống yêu nước, tinh thần quyết tâm chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta, tạo cho các em động lực học tập để xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh
X-Chẳng hạn, khi dạy bài “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc Việt Nam cuối thế kỉ XVIII” giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy về
Trang 18Quang Trung (Nguyễn Huệ), Nguyễn Ánh, Lê Chiêu Thống, sau khi học sinh trình bày xong các sơ đồ tư duy, giáo viên hướng dẫn, bổ sung và nhận xét và hoàn chỉnh nội dung sơ đồ tư duy cho các em học sinh Qua đó, học sinh sẽ hình thành tình cảm yêu, ghét ngay từ ban đầu qua hoạt động của nhân vật, đồng thời giáo dục cho các em truyền thống yêu nước, qua tinh thần chống giặc ngoại xâm của Quang Trung; hay đó
là sự căm ghét, bất bình với những con người phản bội dân tộc, đi ngược lại với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta với hành động “cõng rắn cắn cả nhà”, rước voi về giày mồ” để giày xéo lên nhân dân ta vì lợi ích cá nhân như Nguyễn Ánh, Lê Chiêu Thống
1.1.2.3 Về mặt phát triển
Việc vận dụng sơ đồ tư duy hiểu được bản chất của các sự kiện lịch sử, hình thành cho các em lòng yêu nước, biết ơn các vị anh hùng giải phóng dân tộc , đồng thời, việc học tập thông qua phương pháp sơ đồ tư duy tăng cường cho học sinh tích cực lao động và học tập, tránh hiện tượng thụ động trong học tập, đồng thời tăng tính năng động và sáng tạo cho các em học sinh
Học tập theo phương pháp sơ đồ tư duy, học sinh có cơ hội phát triển tư duy, thực hành các kĩ năng trí tuệ bậc cao như kĩ năng sáng tạo, đánh giá nhân vật, sự kiện, rút ra được nhận xét, tổng hợp hay phân tích từng vấn đề, hành động, bản chất lịch sử Đồng thời, trong dạy học lịch sử việc học tập theo phương pháp sơ đồ tư duy thường kết hợp với các hình thức hoạt động nhóm giúp các em phát triển và thực hành kĩ năng làm việc cùng nhau, hợp tác, giao tiếp lẫn nhau trong việc giải quyết các nhiệm vụ chung, hay phát triển năng lực trình, thuyết trình trước đám đông cho học sinh Giúp các em mạnh dạn hơn trong mọi hoạt động Chẳng hạn, khi học sinh tạo sơ đồ tư duy về sự kiện năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, thông qua đó, học sinh phát triển được năng lực tập hợp, đánh giá vấn đề khi tìm ra điểm mới giúp các em suy nghĩ được nguyên nhân vì sao lại như vậy, phát triển tư duy học sinh tìm ra vấn đề ý nghĩa, bản chất sự kiện đó
Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, phương pháp sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập lịch sử ở trường THPT Tuy nhiên người giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp, phượng tiện dạy học khác nhau và lựa chọn các hình thức nhóm như thế nào cho phù hợp với từng bài học cụ thể để đem lại hiệu quả cao Không nên vận dụng một cách hình thức, máy móc, rập khuôn, gây ra sự nhàm chán cho người học Phải phát huy được ưu điểm của phương pháp nhằm đảm bảo tốt mục tiêu giáo dục theo hướng
Trang 19phát triển học sinh một cách tích cực, năng động, sáng tạo toàn diện cả về tri thức, phẩm chất đạo đức cũng như năng lực tư duy
1.1.3 Các loại sơ đồ tư duy được sử dụng trong việc giảng dạy các lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (lớp 10- chương trình chuẩn) ở trường THPT
Có nhiều cách để phân loại sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử Trong đó, nếu dựa vào việc soạn giáo án trong từng bài học cụ thề thì chúng ta có thể vẽ ứng dụng sơ đồ
tư duy theo từng bài học, theo từng mục lớn nhỏ trong nội dung của một bài học cụ thể Đây là loại sơ đồ tư duy mà các giáo viên ở các trường trung học phổ thông thường xuyên ứng dụng và sử dụng trong các tiết dạy học lịch sử vì nó trải dài và đi xuyên suốt như một tiết dạy học học lịch sử, điểm khác ở đây chỉ là việc thể hiện kênh chữ và kênh hình bằng các sơ đồ tư duy Tuy nhiên việc ứng dụng và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử không thể ứng dụng một cách rập khuôn, tràn lan, không phải nội dung bài học nào của chương trình lịch sử cũng có thể ứng dụng sơ đồ tư duy vào việc giảng dạy lịch sử
Vì vậy, Dựa vào nội dung và đặc điểm của phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (lớp 10- chương trình chuẩn) ở trường THPT Thì có thể phân thành 4 nhóm: sơ đồ tư duy về nhân vật lịch sử, sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa lí, sơ đồ
tư duy về một triều quốc gia, đại lịch sử, sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa Cụ thể:
Sơ đồ về nhân vật lịch sử
Theo đặc thù và đặc điểm của bộ môn lịch sử thì bất kì phần lịch sử Việt Nam hay lịch sử thế giới thì các nhân vật luôn là trung tâm, luôn đóng một vai trò quan trọng
trong các bài học lịch sử Theo từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: “Nhân vật lịch sử
là người có một vai trò nhất định trong một sự kiện lịch sử, một thời kì lịch sử” [21;tr301] Nhân vật lịch sử cũng là những con người với những đặc điểm tâm, sinh lí,
là tổng hòa của các mối quan hệ Họ cũng có cuộc sống, có sở thích, đam mê như những người bình thường Song chỉ khác rằng hành động của họ có thể hiện tinh thần dân tộc hay đi theo lợi ích cá nhân, phản bội lợi ích dân tộc làm tổn hại và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất nước và nhân dân
Vì vậy, nhân vật lịch sử trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX bao gồm hai nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, nhân vật chính diện đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam như Lý Công Uẫn, Lý thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung
Trang 20Đây là nhóm nhân vật đại diện cho một quá trình lịch sử gắn với những sự kiện, những mốc thời gian cụ thể, từ đó giúp học sinh cụ thể thể hóa được sự kiện lịch sử, từ
đó hiểu bản chất chất của sự kiện Thông qua đó, có thể đánh giá vai trò, bản chất của các nhân vật lịch sử đối với giai đoạn lịch sử của đất nước
Ví dụ: khi vẽ sơ đồ tư duy về Quang Trung (Nguyễn Huệ), Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày toàn bộ về thân thế, sự nghiệp và vai trò của Quang Trung đối với sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ tổ quốc cuối thế kỷ XVIII Từ đó giúp học sinh thấy được vai trò Quang Trung trong việc thống nhất non sông, và đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập tổ quốc
- Nhân vật phản diện, đi ngược lại lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân dân: Lê Chiếu Thống, Nguyễn Ánh
Cùng với nhân vật chính diện thì nhân vật phản diện tiêu biểu thể hiện một giai đoạn phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, các nhân vật phản diện này một phần làm cho đất nước ngày càng rối ren, gây nên nỗi uất hận trong nhân dân đồng thời làm cho lịch sử dân tộc thêm phần trì trệ
Nguyễn Ánh, Lê Chiêu Thống, đi ngược lại với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta với hành động “cỏng rắn cắn cả nhà”, “rước voi về giày mồ” để giày xéo lên nhân dân
ta vì lợi ích cá nhân Từ đó hình thành cho các em khả năng nhìn nhận, đánh giá các vấn đề lịch sử một cách chính xác, khách quan
Sơ đồ về hoàn cảnh địa lí: không gian và thời gian xảy ra sự kiện
Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện có thể là một khu vực lớn, hoặc diễn ra trong một phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa Vì tạo sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa lí là yêu cầu bắt buộc trong dạy học lịch sử để xác định chính xác nơi xảy ra sự kiện lịch sử Nếu như học sinh không có những thông tin về hoàn cảnh địa lí nơi xảy ra
sư kiện lịch sử thì những hiểu biết về sự kiện lịch sử đó trở nên mơ hồ và không thể khắc sâu trong đầu học sinh, việc tạo sơ đồ tư duy chắc chắn sẽ không mang lại hiệu quả cho người dạy và người học
Tiến trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX luôn gắn liền với những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, những cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại triều đình phong kiến thối nát, khủng hoảng và nó chỉ diễn ra ở các địa bàn khu vực của đất nước Việt Nam
Ví dụ: khi dạy bài “Thời Bắc Thuộc Và Các Cuộc Đấu Tranh Giành Độc Lập Dân Tộc” (tiếp theo) Giáo viên có thể tạo sơ đồ tư duy về chiến thắng Bạch Đằng và sau
Trang 21đó giáo viên có thể treo lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938 Thông qua lược đồ, học sinh có thể thấy được vị trí quan trọng của sông Bạch Đằng trong việc chiến thắng
và đánh đuổi quan Nam Hán giành lại độc lập dân tộc
Sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa
Để học sinh nắm một cách toàn diện về mọi mặt lịch sử dân tộc ta, bên cạnh vẽ sơ
đồ tư duy về các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa nông dân thì sách giáo khoa hiện nay cũng đã trình bày cụ thể về các ngành nghề kinh tế của xã hội nước ta lúc bấy giờ như nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, các thành tựu về văn hóa như tư tưởng tôn giáo, giáo dục, văn học, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật,
Đồng thời, nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn, giáo viên có thể áp dụng phương pháp sơ đồ tư duy kết hợp với các phương tiện, hình ảnh trực quan để các em hiểu sâu
về các lĩnh vực Qua đó, học sinh có thể hình dung, nhận biết một cách dễ dàng về các lĩnh vực và thành tựu đó
Sơ đồ tư duy về một triều đại, quốc gia lịch sử
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX luôn gắn liền với các triều đại phong kiến và các quốc gia, từ giai đoạn Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỉ X,
xã hội Việt Nam có những bước phát triển, tuy nhiên trong quá trình phát triển vẫn tồn tại những quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam chẳng hạn như quốc gia Văn Lang -
Âu Lạc, quốc gia cổ Cham - pa, quốc gia Phù Nam, hay là trong thời phong kiến Việt Nam tồn tại với nhiều triều đại phong kiến khác nhau có lúc phát triển đỉnh cao và cũng có lúc suy thoái, với việc sử dụng sơ đồ tư duy trong việc trình bày quá trình hình thành phát triển và suy thoái của một quốc gia, một triều đại, giúp học sinh có thể nắm chắc kiến thức về mọi mặt của một quốc gia, triều đại đó
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của bộ giáo dục và đào tạo, nhằm hướng học sinh tới việc học tập chủ động, sáng tạo, phát huy tính độc lập, chống lại thói quen học tập thụ động Hiện nay, ở các trường THPT đã áp dụng đổi mới phương pháp dạy học trong đó sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong đã được từng áp dụng
ở nhiều trường trung học phổ thông trên toàn quốc
Song, việc sử dụng sơ đồ trong dạy học nói chung và trong dạy học Lịch sử nói riêng đã đáp ứng yêu cầu dạy và học hiện nay chưa? Những điều rút ra từ lí luận đã giúp chúng tôi tìm hiểu thực tế của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, lớp 10 (chương trình chuẩn) ở trường
Trang 22THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Việc điều tra này nhằm tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử của giáo viên và tình hình nhận thức, lĩnh hội kiến thức của học sinh thông qua sơ đồ tư duy
Về phía học sinh, chúng tôi xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục 1) để kiểm tra 138 học sinh ở Trương THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là: Nguyễn
Hiền, Nguyễn Thượng Hiền và Thanh Khê năm học 2012-2013 với các mục đích sau:
- Tìm hiểu xem học sinh có nhớ các sự kiện liên quan tới lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (chương trình chuẩn-lớp 10) hay không? (Câu 1, 6, 8, 9 phụ lục 1)
- Tìm hiểu xem học sinh có nhớ các sự kiện gắn liền với các nhân vật lịch sử hay không? (Câu 3, 4,7 phụ lục 1)
- Thông qua câu trả lời của học sinh để kiểm tra phương pháp của giáo viên có phù hợp với đặc trưng của bộ môn hay không? (Câu 2, 5, 10 phụ lục 1)
Sau khi điều tra, chúng tôi tiến hành xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học và kết quả thu được như sau: ( số liệu cụ thể xem ở phụ lục 2,3,4)
Học sinh chưa nắm được các sự kiện cơ bản trong khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, chưa hiểu rõ bản chất của các sự kiện gắn liền với các nhân vật lịch sử cũng như vận mệnh của đất nước, chưa nhận thức được sâu sắc tầm quan trọng của các nhân vật lịch sử đối với lịch sử dân tộc Do đó, ta nhận thấy rằng quá trình dạy học lịch sử chưa đúng với đặc trưng bộ môn lịch sử
Về phía giáo viên, chúng tôi xây dựng 8 câu hỏi vừa trắc nghiệm vừa tự luận (xem
ở phụ lục 5) để thăm dò ý kiến của 14 giáo viên tại một số trường theo nội dung như sau:
- Tìm hiểu quan điểm của các giáo viên về việc tạo sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử
- Thầy (cô) đã ứng dụng dụng sơ đồ tư duy vào hình thức nào là chủ yếu trong quá trình dạy học Lịch sử
- Thăm dò các ý kiến của giáo viên về nguyên nhân tại sao việc giảng dạy sơ đồ tư duy vẫn chưa đạt hiệu quả trong việc dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX
- Tìm hiểu đề xuất của giáo viên về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch
sử từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy học lịch sử Việt Nam
Trang 23Thông qua việc xử lí và tổng hợp các phiếu điều tra thu được, Chúng tôi nhận thấy rằng: các thầy (cô) đều cho rằng việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX là rất cần thiết có ý nghĩa rất quan trọng giúp học sinh tái tạo lại những hình ảnh của những sự kiện lịch sử xảy ra trên tất cả các lĩnh vực đời sống vật chất, đời sống xã hội - chính trị , tạo nên sự nhận thức cụ thể về thời gian diễn ra các sự kiện lịch sử, sự phát triển đi lên của lịch sử dân tộc Các thầy (cô) muốn tạo sơ đồ tư duy về lịch sử, đặc biệt là sơ đồ tư duy về nhân vật lịch sử và hoàn cảnh địa lí nhưng do những điều kiện vừa chủ quan và vừa khách quan nên việc tạo sơ
đồ tư duy trong dạy học lịch sử chưa đạt hiệu quả cao Theo thầy (cô) thì việc tạo sơ
đồ tư duy trong dạy học lịch sử hiện nay chưa đạt được hiệu quả cao là thời gian trên lớp quá ít nhưng kiến thức lịch sử thì quá nhiều, bên cạnh đó, các thiết bị về công nghệ thông tin phục vụ cho việc dạy học lịch sử còn thiếu rất nhiều ở các trường THPT nên việc dạy học bằng sơ đồ tư duy vẫn chưa đạt được những yêu cầu đề ra
Sở dĩ có tình trạng này là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng một vấn đề đáng nói và đáng lên án nhất đó là do quan điểm xã hội, chưa đánh giá đúng vai trò của bộ môn lịch sử lịch sử được xem như một môn phụ nên chưa được chú trọng nhiều trong học tập cũng như trong việc đầu tư giảng dạy Chính những sai lầm đó làm cho chất lượng học lịch sử ngày nay giảm sút nghiêm trọng
Trang 24C ƯƠN 2: SỬ DỤN SƠ Ồ TƯ DUY TRON D Y ỌC P ẦN LSVN TỪ NGUỒN ỐC ẾN ỮA T Ế KỶ X X (S K LỚP 10 - CT C UẨN) Ở CÁC TRƯỜN P Ổ T ÔN TRÊN ỊA B N T N P Ố N NG
2.1 Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX.( SGK lớp 10- CT chuẩn) ở trường T PT
Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (SGK lớp 10- CT chuẩn), là sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy đến chế chế độ phong kiến, đây là thời kì đất nước ta có nhiều biến động và có ảnh hưởng quan trọng đến các giai đoạn sau:
Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ hơn 4000 năm trước đây Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời kỳ Đồ đá cũ Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổ sông Hồng - Văn minh sông Hồng và sông Mã này đã khai hóa đất để trồng trọt, tạo ra một
hệ thống đê điều để chế ngự nước lụt của các sông, đào kênh để phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã
Đến thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ VII trước công nguyên, sau hàng chục vạn năm sinh sống và mở rộng vùng cư trú, các dân tộc việt cổ trên Bắc Việt Nam đã hợp nhất lại, dựng nên quốc gia đầu tiên: Văn Lang và sau đó là Âu Lạc Một nền văn minh lúa nước hình thành với nhiều thành tựu văn hóa đặc sắc
Đầu thế kỉ II TCN, Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc và phải trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc trong đấu tranh kiên cường để tự giải giải phóng và gìn giữ nền văn hóa tổ tiên
Trong khoảng những thế kỉ đầu công nguyên, ở Nam Trung Bộ ngày nay, quốc gia Lâm Ấp – Cham-pa ra đời và phát triển: ở vùng Tây Nam Bộ, quốc gia Phù Nam hình thành Tuy nhiên, trong lúc Cham-pa phát triển với chế độ quân chủ với một nền văn minh độc đáo, mang nặng ảnh hưởng của Ấn Độ thì vào thế kỷ VI, quốc gia Phù Nam suy sụp
Sau 1000 năm chịu ách đô hộ thống tri của thực dân phương Bắc thì đầu thế kỷ X, người Việt lật đổ được chế độ đô hộ của nhà Đường, giành lại quyền tự chủ, độc lập Năm 968, hiệu Đại Cồ Việt được xác lập Tiến thêm một bước, năm 1054, quốc hiệu
Trang 25được đổi thành Đại Việt và chính thức đổi tên nước từ đó cho đến cuối thế kỷ XVIII Nhà nước quân chủ ra đời, từng bước được sửa đổi và đến đến cuối thế kỷ XV thì hoàn chỉnh từ triều đình trung ương đóng ở Thăng Long (kinh đô của đất nước) - đến các địa phương Xã là đơn vị hành chính cơ sở
Nền kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển, ruộng đồng ngày càng mở rộng, hệ thống trị thủy, thủy lợi hoàn chỉnh Nhà nước và nhân dân cùng quan tâm đến sản xuất Công thương nghiệp phát triển đa dạng Sản phẩm như tơ lụa, gốm sứ, đồ vàng bạc, vv có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, thu hút cả thương nhân nước ngoài Mạng lưới chợ làng rộng khắp kinh thành Thăng Long trở thành một đô thị phồn thịnh với 36 phố phường Thuyền buôn Trung Quốc và các nước phía Nam thường xuyên qua trao đổi buôn bán
Năm 1070, nền giáo dục Đại Việt chính thức ra đời ngày càng phát triển, vừa đào tạo các bậc “hiền tài” cho đất nước vừa nâng cao dân trí, phật giáo phát triển Nho giáo từng bước được đề cao và chiếm vị trí độc tôn vào thế kỉ XV
Văn học, nghệ thuật dân tộc hình thành và không ngừng phát triển với hàng loạt tác phẩm và công trình quý giá mang đậm bản sắc dân tộc
Tuy nhiên, sự phát triển và thống trị của những quan hệ sản xuất phong kiến đã dẫn đến sự suy thoái của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, cuộc sống khó khăn của nhân dân và sự hình thành các thế lực phong kiến riêng rẽ Chiến tranh phong kiến bùng nổ và kéo dài trong nhiều thập kỷ, cuối cùng đã tạo nên sự chia cắt đất nước thành hai miền: đàng trong và đàng ngoài với hai chính quyền khác nhau Nền quân chủ không còn vững chắc như trước Nền kinh tế sau một thời gian khủng hoảng, đến thế kỷ XVIII thì phục hồi Nông nghiệp đàng ngoài từng bước ổn định, trong lúc đó ở Đàng Trong, do lãnh thổ được mở rộng dần vào phía Nam, nông nghiệp phát triển nhanh chóng Đất Gia Định (Nam Bộ) trở thành một “vựa thóc lớn”
Từ đầu thế kỷ XVII, kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng với việc mở rộng ngoại thương Số lượng sản phẩm thủ công ngày càng gia tăng và trở thành những mặt hàng hấp dẫn thương nhân nước ngoài Sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã tạo cơ sở cho
sự hình thành và hưng khởi của các đô thị như Kẻ Chở (Thăng Long), Phố Hiến, Hội
An, văn hóa dân gian phát triển mạnh
Tuy nhiên, từ thế kỉ XVIII, Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ, trong lúc các chính quyền ở cả hai miền thiếu quan tâm đến đời sống nông dân Cuộc khủng hoảng xã hội hội diễn ra vào giữa thế kỉ XVIII với những phong trào nông dân rộng lớn ở Đàng Ngoài và phong trào Tây Sơn ở Đàng Trong
Trang 26Nhà nước phong kiến ở cả hai miền đều sụp đổ trước sự tấn công của phong trào Tây Sơn, đất nước bước đầu thống nhất lại nhưng các vương triều Tây Sơn, đượcthành lập sau thắng lợi, không đủ sức duy trì
Đất nước nửa sau đầu kỉ XIX, thừa hưởng những công lao to lớn của phong trào Tây Sơn, nhà Nguyễn đã làm chủ được cả nước với một chính quyền quân chủ chuyên chế phong kiến Nhà nước được củng cố nhưng lại chủ trương “đóng cửa” trong hoàn cảnh thế giới đã đổi thay Một số chính sách kinh tế đã được ban hành nhưng không giải quyết được tình trạng khủng hoảng xã hội Cuộc sống của nhân dân vẫn khổ cực, khó khăn, nhà Nguyễn vẫn khẳng định sự độc tôn nho giáo Văn học chữ Nôm lại phát triển mạnh mẽ Các cuộc khởi nghĩa nông dân nối tiếp nhau bùng lên
Năm 1858, thực dân pháp nổ súng xâm lược, đất nước bước sang một thời kì mới Nói đến lịch sử Việt Nam là nói đến những chiến công hiển hách của ông cha ta và phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX cũng không thể không nhắc đến những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nền độc lập dân tộc
Từ đầu thế kỷ III TCN, nhân dân Lạc Việt và Tây Âu (Âu Việt) đã phải hợp lực chiến đấu lâu dài chống cuộc xâm lược của quan Tần Tiếp đó, sau thất bại trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Triệu, nhân dân Việt cổ rơi vào cảnh Bắc thuộc và suốt
1000 năm phải nối tiếp nhau nổi dậy chống chế độ đô hộ, giành lại độc lập Sự nghiệp chiến đấu kiên cường, không mệt mỏi và liên tục đó đã đạt thắng lợi cuối cùng Thế kỉ
X - kỉ nguyên độc lập theo hướng phong kiến hóa bắt đầu Năm thế kỉ đầu thời phong kiến cũng là những thế kỉ liên tục nhân dân cùng các vương triều Tiền Lê, Lý, Trần hợp sức, đồng lòng cầm vũ khí chống lại những cuộc xâm lược lớn của nhà Tống, nhà Nguyễn, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Đầu thế kỉ XV, cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, quân Minh thiết lập nền đô
hộ Không chấp nhận cảnh mất nước, hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt
đã nổ ra từ miền xuôi cho đến miền núi, cuối cùng, hợp nhất lại trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đánh bại quân đô hộ nhà Minh, giành lại độc lập cho đất nước Nguy cơ ngoại xâm tạm lắng xuống trong vài thế kỉ Những cuộc nội chiến của các thế lực phong kiến đã dẫn đến sự chia cắt đất nước làm hai miền, giai cấp phong kiến thống trị suy thoái dần, đẩy nhân dân đến chỗ nổi dậy đòi cuộc sống, đòi tự do Vì quyền lợi giai cấp, các tập đoàn thống trị ở Nam, ở Bắc đã “rước voi về giày mồ” và những người nông dân một lần nữa, dưới sự lãnh đạo của người “anh hùng áo vải” Nguyễn
Trang 27Huệ, đứng lên kháng chiến cứu nước Quân xâm lược Xiêm và sau đó là quân xâm lược Thanh đã bị đánh bại Nền độc lập dân tộc được giữ vững
Như vậy, công cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc diễn ra hết đời này sang đời khác, đã
để lại biết bao kì tích anh hùng rất đáng tự hào, biết bao truyền thống cao quý, tươi đẹp, mãi mãi khắc sâu vào lòng của những người Việt Nam yêu nước
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX (CT chuẩn- lớp 10) Tất cả gồm có 16 bài, từ bài 13 “Việt Nam thời nguyên thủy” đến bài 28 “Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến Đề cập một giai đoạn dài trong lịch sử nước ta gồm 4 chương, Chương I: Việt Nam từ thời kì nguyên thủy đến thế kỉ X (4 bài
4 tiết), Chương II: Việt Nam từ thế kỉ thế kỉ X đến thế Kỉ XV (4 bài 4 tiết), Chương III: Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (4 bài 4 tiết), Chương IV: Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX (2 bài 2 tiết)
Phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX nêu lên hiện thực lịch sử nước
ta qua một giai đoạn lịch sử, được dạy trong 16 tiết, phần sơ kết dạy 2 tiết Trung bình mỗi bài dạy trong một tiết Phân phối chương trình như vậy là tương đối hợp lí, phù hợp với bố cục từng bài bởi những kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn này học sinh
đã được học đầy đủ ở cấp THCS, các em đã có những hiểu biết, nhận định nhất định
về lịch sử dân tộc Hơn nữa, trong phân phối chương trình môn Lịch sử được áp dụng (năm học 2012-2013), Đã được quy định giảm tải ở một số nội dung, do đó kiến thức lịch sử ở chương trình lớp 10 không đi vào chi tiết những sự kiện, không gây cho học sinh cảm giác nặng nề về nhiều sự kiện, khó nhớ về ngày tháng năm, mà trên cơ sở những sự kiện đó nâng cao lí thuyết, rút ra những nhận xét, bản chất của sự kiện lịch
sử
Như vậy, So với chương trình sách giáo khoa cũ thì chương trình Lịch sử của sách giáo khoa mới ở lớp 10 (chương trình chuẩn) có nhiều điểm tiến bộ, điểm mới, không nặng nề đề cập đến những cuộc kháng chiến, các trận đánh lớn như sách giáo khoa cũ
mà tập trung lựa chọn những trận đánh tiêu biểu, có tính thiết thực, có ý nghĩa thể hiện được tính chất giáo dục cho học sinh Đồng thời, cũng phản ánh một cách sinh động, toàn diện mọi mặt của xã hội của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị đến văn hóa - xã hội,
từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần Ngoài ra, những kiến thức cơ bản của sách giáo khoa còn có phần chữ nhỏ để bổ sung, tham khảo cho kiến thức cơ bản Đặc biệt,
có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí giữa kênh chữ và kênh hình Kênh hình của sách giáo khoa mới có màu đẹp hơn giúp học sinh hứng thú hơn, dễ nhìn hơn sách giáo khoa cũ
Trang 28Nhìn chung, nội dung chương trình Lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) như vậy
là phù hợp với học sinh Qua đó, các em có thể hiểu được lịch sử phát triển của dân tộc từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX Từ đó, giúp các em có những nền tảng vững chắc cho các em giải thích và tiếp thu những kiến thức lịch sử của giai đoạn cận đại và hiện đại của lịch Việt Nam
2.2 Các loại sơ đồ tư duy được sử dụng trong giảng dạy phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ X X ( SGK lớp 10- CT chuẩn) ở trường T PT Tên Bài Những nội dung có thể
- Mục 2: Sự hình thành
và phát triển của công xã thị tộc
- Mục 3: Sự ra đời của thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước
- Vận dụng sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa lí Giúp học sinh nắm được thời gian, không gian, đặc điểm của người tối cổ trên đất nước ta
- Vận dụng sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa lí Giúp cho học sinh biết được thời gian, sự hình thành của công xã thị tộc (văn hóa Sơn Vi) và sự phát triển của công xã thị tộc (văn hóa Hòa Bình),
Trang 29Việt Nam - Mục 2: Quốc gia cổ
Cham-pa
- Mục 3: Quốc gia cổ Phù Nam
hình thành, thời gian, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia Văn Lang-Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam Từ
đó, học sinh có thể dễ dàng rút ra được những điểm giống nhau và khác nhau trong đời sống kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng của cư dân Văn Lang - Âu Lạc,
cư dân Lâm Ấp - Cham-pa và cư dân Phù Nam
và xã hội
Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy
về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa Qua sơ đồ tư duy, học sinh nắm được những chuyển biến
về kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam dưới ảnh hưởng của chính sách cai trị phong kiến phương Bắc
Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa lí trình bày về 4 cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền, Giúp học sinh thấy được nguyên nhân đưa đến khởi nghĩa, những biểu hiện của tính tiêu biểu đó thành phần, địa bàn, thời gian diễn ra các cuộc khởi nghĩa, đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Bạch Đằng đối với việc kết thúc hoàn toàn thời Bắc thuộc
Sử dụng sơ đồ tư duy về quốc gia, triều đại lịch sử Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV, trải qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê,
Vì vậy, để tìm hiểu tường tận về việc tổ chức bộ máy nhà nước, luật pháp và
Trang 30Mục 2: Phát triển thủ công nghiệp
Mục 3: Mở rộng thương nghiệp
Sử dụng sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa giúp học sinh có thể thấy rõ quá trình phát triển kinh tế nông nghiêp, sự phát triển của thủ công nghiêp gồm có thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp tư nhân, đồng thời giúp các em thấy được hoàn cảnh của sự phát triển
và những biểu hiện của sự phát triển thương nghiệp, từ đó, học sinh rút ra nhận xét về sự phát triển kinh tế trong các thế kỉ X-V
- Mục II: Các cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông-Nguyên ở thế kỉ XIII
- Mục III: phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn
Cả 3 mục đều sử dụng sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa lí Giúp học sinh biết được nguyên nhân, diễn biến, địa điểm, kết quả, ý nghĩa đồng thời biết được tinh thần chiến đấu dũng cảm của nhân dân
ta trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm
Bài 20: xây
dựng và phát
triển văn hóa
- Mục I: tư tưởng, tôn giáo
- Sử dụng sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa Giúp các em nắm được tình hình tư
Trang 31tưởng, tôn giáo của nước ta trong các thế kỉ X-XV, giải thích được sự thay đổi
tư tưởng thống trị về Phật giáo và Nho giáo
- Sử dụng sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa Giúp học sinh nhận thức được nước ta trải qua các triều đại phong kiến ở các thế kỉ X-XV, công cuộc xây dựng văn hóa được tiến hành đều đặn, nhất quán Đây cũng là giai đoạn hình thành và phát triển của văn hóa Đại Việt Đồng thời giáo dục cho các em truyền thống văn hóa, lòng tự hào dân tộc
- Mục 4: Chính quyền phong kiến ở Đàng Trong
Sử dụng sơ đồ tư duy về quốc gia triều đại lịch sử Giúp học sinh biết được quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của tập đoàn phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong, giúp học sinh có thể nhận biệt và phân biệt cách tổ chức bộ máy, quân đội, luật pháp, hoạt động đối nội, đối ngoại của phong kiến ở Đàng Ngoài
- Mục 2: Sự phát triển của thủ công nghiệp
Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa để trình bày nội dung của 3 mục trên
- Giúp học sinh nắm được tình hình nông nghiệp ở Đàng Trong và Đàng Ngoài ở các thế kỉ kỉ XVI-XVIII, những điểm tích cực và hạn chế của nông nghiệp trong giai đoạn này
- Giúp học sinh thấy được thế mạnh của nền thủ công nghiệp đương thời, những
Trang 32- Mục 3: Sự phát triển của thương nghiệp
biểu hiện của sự phát triển thủ công nghiệp đàng trong và đàng ngoài ở các thế kỉ XVI- XVIII
- Giúp học sinh biết được tình hình buôn bán và ngoại thương nước ta giai đoạn này
kỉ XVIII
- Mục III: Vương triều Tây Sơn
Sử dụng sơ đồ tư duy về hoàn cảnh địa
lí Giúp các em hiểu được nguyên nhân, thời gian, địa điểm diễn ra những cuộc kháng chiến chống xâm lược Xiêm (1785) và kháng chiến chống Thanh (1789) Từ đó, thấy được tinh thần chiến đấu kiên cùng bất khuất và truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta
- Bên cạnh đó, giáo viên có thể tạo sơ
đồ tư duy về nhân vật lịch sử Quang Trung (Nguyễn Huệ) giúp học sinh biết được thân thế, vai trò của Quang Trung đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà
và bảo vệ tổ quốc
Ngoài ra giáo viên cũng có thể tạo biểu tương về nhân vật lịch sử Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh để giúp học sinh thấy được đây là những kẽ bán nước cầu vinh
- Sử dụng sơ đồ tư duy về quốc gia, vương triều lịch sử.giúp học sinh biết sự hình thành phát triển cũng như thời gian gian kết thúc của vương triều Tây Sơn năm 1802
Cả 3 mục giáo viên chỉ cần sử dụng một
sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa Giúp các em nắm được những nét chính của tình hình
Trang 33- Mục 2: Phát triển giáo dục và văn học
- Mục 3: Nghệ thuật và khoa học - kỹ thuật
tư tưởng, tôn giáo ở nước ta trong thời
kì này, Nho giáo suy thoái, sự nhu nhập của đạo thiên chúa
- Giúp các em hiểu biết về tình hình giáo dục Đàng Trong, Đàng Ngoài, thời Quang Trung: sự phát triển của Văn học chữ Nôm và văn học dân gian
- Giúp học sinh tìm biết được các thành tựu khoa học - kỹ thuật trong các thế kỉ XVI-XVIII, những ưu điểm và hạn chế của nó
- Mục 3: Tình hình văn hóa - giáo dục
Chỉ cần Sử dụng một sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa để tạo chung cho cả 2 mục, giúp học sinh thấy được những nét chính trong nông nghiêp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Đồng thời, giúp các em học sinh biết được tình hình văn hóa - giáo dục nước ta nữa đầu thế
kỉ XIX, giúp học sinh rút ra những điểm tích cực và hạn chế của triều Nguyễn đối với đất nước
Bài 26 Tình
hình xã hội ở
nửa đầu thế kỉ
XIX và phong
trào đấu tranh
của Nhân dân
- Mục 1: Tình hình xã hội và đời sống nhân dân
Sử dụng sơ đồ tư duy về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, các thành tựu văn hóa Giúp học sinh nắm được tình hình xã hội nước ta nửa đầu thế kỉ XIX, biết được nguyên nhân gây nên tình trạng khổ cực của nhân dân thời Nguyễn
Trang 34C ƯƠN 3: MỘT SỐ ÌN T ỨC V B ỆN P ÁP SƯ P M T O SƠ Ồ
TƯ DUY TRON D Y ỌC LỊC SỬ V ỆT NAM TỪ N UỒN ỐC ẾN
ỮA T Ế KỶ X X (S K LỚP 10- CT C UẨN) Ở TRƯỜN T PT TRÊN
ỊA B N TP N N 3.1 Nguyên tắc chung của tạo sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử
3.1.1 Nắm vững kiến thức, yêu cầu và nội dung môn học
Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc giảng dạy Lịch sử nói chung và việc tạo
sơ đồ tư duy trong học Lịch sử nói riêng
Một giáo viên mà không nắm vững kiến thức cơ bản khoa Lịch sử thì không thể
dạy tốt lịch sử.“Không biết sử thì không thể dạy sử, nhưng không phải ai biết sử đều cũng có thể dạy tốt, cũng như không phải ai biết nhạc lí đều có thể sáng tác nhạc và hát hay”[19;tr32] Nắm vững được kiến thức, từ đó giáo viên mới tái hiện những sự
kiên lịch sử, những diễn biến lịch sử đã xãy ra trong quá khứ đúng như nó được tồn tại
Bên cạnh đó, việc nắm vững được kiến thức, giáo viên mới có thể đặt đúng sự kiện lịch sử, đúng thời gian mà nó từng diễn ra, đúng với từng bài học và với khóa trình học tập của học sinh Từ đó giáo viên xác định được trình độ tiếp thu kiến thức của học sinh Từ đó, đưa ra những kiến thức phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh và phù hợp với nội dung cần nắm mà bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra
3.1.2 Đảm bảo tính khoa học
Ngoài việc nắm vững kiến thức trong quá trình dạy học Lịch sử nước ta từ nguồn gốc đến nữa đầu thế kỷ XIX thì người giáo viên phải đảm bảo những kiến thức đúng đắn và đảm bảo tính khoa học, kiến thức phải đảm bảo dễ nhớ, dễ hiểu nhưng đi sâu vào trí nhớ của các em học sinh
Tạo sơ đồ tư duy cho học sinh và cho giáo viên, tính khoa học phải được đặt lên hàng đầu Tạo sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX, phải đảm bảo đúng sự kiện xảy ra Đồng thời cho các em thấy đúng bản chất và sự kiện lịch sử đó
Ngoài ra, kết hợp với các biện pháp sư phạm, tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh,
sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử Giúp học sinh có thể hình dung ra bức tranh lịch sử một cách chân thực, tránh việc hiện đại hóa lịch sử
Tạo sơ đồ tư duy về sự kiện lịch sử, về nhân vật lịch sử, giúp học sinh đánh giá đúng bản chất của sự kiện, vai trò của các nhân vật lịch sử Rút ra quy luật lịch sử, bài học kinh nghiệm