1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về dân chủ trong giáo dục và vận dụng phát huy dân chủ ở trường đại học sư phạm đại học đà nẵng

86 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận về vấn đề dân chủ trong giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng và phát triển thích ứng với điền kiện của đất nước và thời đại, cũng như nghiên cứu

Trang 1

Người hướng dẫn : TS Dương Anh Hoàng

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Di Lớp : 10SGC

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Trang 2

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng; Khoa lý luận Chính trị, Kinh tế Chính trị, trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đã dạy cho em kiến thức trong những năm học đại học Cảm ơn những người bạn đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Đà Nẵng, ngày 18 tháng 05 năm 2014

Người thực hiện Nguyễn Thị Thuý Di – Lớp 10SGC

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài 10

7 Kết cấu đề tài 10

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 11

1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục 11

1.1.1 Hồ Chí Minh sớm tiếp thu những yếu tố và hình thức dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam 11

1.1.2 Ảnh hưởng của văn hoá dân chủ phương Đông đến Hồ Chí Minh 14

1.1.3 Hồ Chí Minh tiếp nhận giá trị tư tưởng và hình thức dân chủ tư sản phương Tây 19

1.1.4 Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin và hình thức dân chủ Xôviết 23

1.2 Nội dung cơ bản của quan điểm Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục 25 1.2.1 Dân chủ trong dạy và học 27

1.2.2 Dân chủ trong hoạt động quản lý trường học 37

1.2.3 Dân chủ trong tự phê bình và phê bình 42

Kết luận chương I 51

Trang 5

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỂ DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC NHẰM PHÁT HUY DÂN CHỦ Ở TRƯỜNG ĐẠI

HỌC SƯ PHẠM - ĐHĐN 52

2.1 Khái quát về Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN 52

2.2 Thực trạng thực hành dân chủ ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN 56

2.2.1 Những kết quả đạt được 56

2.2.2 Những khuyết điểm tồn tại, hạn chế 63

2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng 65

2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục.67 2.2.1 Giải pháp đối với người học 63

2.2.2 Giải pháp đối với người dạy 66

2.2.3Giải pháp đối với Nhà trường, các đoàn thể 69

Kết luận chương II 75

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại, nhà tư tưởng lớn của cách mạng Việt Nam Lúc sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến vấn đề dân chủ Hồ Chí Minh không chỉ để lại những kiến giải sâu sắc về dân chủ và thực hành dân chủ mà Người còn trực tiếp nêu gương về lối ứng xử dân chủ đối với con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh định hướng cho việc xây dựng mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám thắng lợi đến nay Trong hệ thống tư tưởng về dân chủ của Hồ Chí Minh tư tưởng “trong trường cần có dân chủ” là một trong những di sản quý báu mà chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân ta Người đã nhiều lần nhắc nhở các cấp lãnh đạo, thầy giáo, học sinh, sinh viên, cán bộ phục vụ, luôn ý

thức về dân chủ và thực hành dân chủ để đưa nhà trường tiến lên về mọi mặt

Vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ là một nội dung lớn, quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng ta, là kết quả của một quá trình đổi mới, tiến hành tổng kết thực tiễn - phát triển lý luận của Đảng Nước ta là nước dân chủ thì nền giáo dục của ta cũng là nền giáo dục dân chủ Thực hiện dân chủ trong giáo dục là thực hiện mục tiêu cao cả vì hạnh phúc, tiến bộ và bình đẳng cho tất cả mọi người.Trong tiến trình đổi mới giáo dục, ngành giáo dục – đào tạo đã đạt được những thành tựu rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, một số người học, người dạy, cán bộ quản lý giáo dục

đã đánh mất quyền làm chủ ngay trong nhà trường, trong đó có nhiều nguyên nhân khác nhau

Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận về vấn đề dân chủ trong giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng và phát triển thích ứng với điền kiện của đất nước và thời đại, cũng như nghiên cứu thực tiễn để đánh giá đúng thực trạng, thấy được những nguyên nhân và tìm ra những giải pháp đúng đắn nhằm phát huy dân chủ ở trường học hiện nay nói chung,trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn to lớn Góp

Trang 7

phần phát huy dân chủ trong trường học, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa

Với tất cả những lý do trên, trong quá trình nghiên cứuđược sự giúp đỡ,

định hướng của giảng viên hướng dẫn, tôi chọn đề tài:Tư tưởng Hồ Chí Minh về

dân chủ trong giáo dục và vận dụng phát huy dân chủ ở trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN làm hướng nghiên cứu chính

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ lâu vấn đề dân chủ đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạt động chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở trong nước và trên thế giới

Ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua, thành tựu nghiên cứu những vấn đề lý luận về dân chủ và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được thể hiện ở những công trình, tác phẩm, bài viết của nhiều tác giả và các tập thể tác giả dưới nhiều góc độ, nhiều nội dung khác nhau

Về giáo trình: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh do hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia; Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội của bộ giáo dục và đào tạo xuất bản năm 2003; Giáo

trình Tư tưởng Hồ Chí Minh Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội của bộ giáo dục và

đào tạo xuất bản năm 2009….đã trình bày một số nội dung liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Về sách tham khảo, chuyên khảo của các tác giả trong nước nghiên cứu

về dân chủ như: Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa (1991), Nxb Sự thật của tác giả Thái Ninh và Hoàng Chí Bảo; Dân chủ - Di sản văn hoá Hồ Chí

Minh (1997), Nxb Lao động Hà Nội của tác giả Nguyễn Khắc Mai; Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh (2008), Nxb Chính trị quốc gia của Phạm Văn Bính; Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục (2011), Nxb

chính trị quốc gia của tác giả Võ Văn Lộc; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước

kiều mới: Sự hình thành và phát triển (1995), Nxb Chính trị quốc gia của Hoàng

Văn Hảo; Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới (2007),

Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội của Hoàng Chí Bảo; Nguyễn Văn Sáu – Hoàng

Trang 8

Văn Thông (2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay,

Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Các tác phẩm trên ít nhiều đã đề cập đến những nôi dung khác nhau của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Một số bài báo, tạp chí có liên quan như: Những lực cản đối với quá trình

dân chủ hoá ở Việt Nam – Báo Nhân Dân, số ra ngày 22/4/1998 của Hoàng Chí

Bảo; Dân chủ trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, tạp chí Thông tin lý luận số 7/1989 của Hoàng Chí Bảo; Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ:

quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu, Tạp chí Thông tin lý luận số

9/1992 của Hoàng Chí Bảo; Để thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, Tạp chí Cộng sản số 2/1999 của Trần Quang Nhiếp; Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực

hiện quyền dân chủ, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1/1999 của Lê Minh Châu; Về dân chủ trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6/1998 của

Hoàng Trang; Thực hiện dân chủ ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của

Đảng, Tạp chí Triết học số 8/2012 của Đỗ Thị Kim Hoa; Dân chủ và phát huy dân chủ theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trường chính trị Lê Duẩn,

1/1/2013, Lê Quang Thế

Ngoài ra, còn rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh và vấn đề dân chủ, dân

chủ hoá ở nước ta như: Đỗ Thị Hạnh, Vân dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân

chủ vào việc thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn tỉnh Thái Bình (từ năm 1998-2010), luận văn thạc sĩ Chính trị học, Trường Đại học khoa học xã hội và

nhân văn Hà Nội năm 2012; Hoàng Văn Vượng, Quan niệm Mác – xít về dân

chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cấp cơ sở ở nước ta hiện nay,(2006) Luận

văn trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Chúng tôi nhận thấy xung quanh vấn đề dân chủ có nhiều đề tài đề cập tới

và đã giải quyết được các vấn đề lý luận về dân chủ Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề cập một cách cụ thể, chi tiết vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục nhằm phát huy dân chủ ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN Đây là động lực để chúng tôi tiếp tục nghiên

cứu và hoàn thành đề tài

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu, hệ thống hóa tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân

chủ trong giáo dục Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủtrong giáo dục

vào việc phát huy dân chủ trong trường học Qua việc tìm hiểu thực trạng thực hành dân chủ ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN, thấy được những kết quả đạt được và một số hạn chế, bất cập đề tài tìm ra nguyên nhân và mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có một số nhiệm vụ sau:

1 Làm sáng tỏ quan niệm về dân chủ trong lịch sử phát triển của nhận thức, nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủtrong giáo dục và thấy được vai trò nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục

2 Điều tra, đánh giá thực trạng và tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến việc

thực hành dân chủ ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN

3 Đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủtrong giáo dục

4 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục và vận dụng phát huy dân chủ ở trường Đại học Sư phạm -

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước XHCN Việt Nam

Đồng thời với các tài liệu, các công trình nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa

Trang 10

học giáo dục phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh của các nhà lý luận chính trị, các giáo viên giảng dạy….Các luận văn, luận án, các bài báo, các báo cáo khoa học và một số tài liệu khác có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụngphương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Về phương pháp nghiên cứu lý luận, chúng tôi có sử dụng các phương

pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hóa, trừu tượng hóa…

Với phương pháp nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi sử dụng tổng hợp các

phương pháp sau:Phương pháptrò chuyện, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, quan sát, lấy ý kiến chuyên gia

6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt lý luận

Sau khi hoàn thành, đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận của các quan niệm về dân chủ trong lịch sử phát triển của nhận thức, đề tài làm sáng tỏ

hơn nội dung cơ bảnvề dân chủtrong giáo dục của Hồ Chí Minh và vận dụng

vào việc phát huy dân chủ, đặc biệt là phát huy dân chủ trong trường học hiện nay Đồng thời, đề tài còn chỉ rõ thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thực hành dân chủ trong trường học hiện nay.Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở trường học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến mảng đề tài tư tưởng Hồ Chí Minh Góp phần bồi dưỡng cho cán bộ, giảng viên, sinh viên có cơ sở lý luận và thực tiễn về dân chủ trong quá trình học tập và giảng dạy Đồng thời cung cấp những biện pháp nhằm giáo dục nâng cao ý thức cho mọi người

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài gồm

2 chương, 5 tiết

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC THEO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục

Tư tưởng về dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Do đó, cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục không nằm ngoài các yếu tố đã hình thành nên

hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh tiếp thu văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại là một quá trình, vừa tiếp thu vừa vận dụng và phát triển Qúa trình

đó diễn ra liên tục từ khi Người còn là một thanh niên cho tới khi đã là người đứng đầu Đảng, Nhà nước cách mạng của nhân dân ta, nghĩa là diễn ra trong suốt cuộc đời của Người Do vậy, có thể hiểu một cách khái lược cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục như sau:

1.1.1 Hồ Chí Minh sớm tiếp thu những yếu tố và hình thức dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam

Yếu tố dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam, thực chất và chủ yếu là dân chủ nông dân Dân chủ của những người tiểu nông đấu tranh cho chủ nghĩa bình quân về quyền lợi Đồng thời, ở Việt Nam tồn tại khá sớm hình thức dân chủ công xã dựa trên sự bảo tồn quan hệ công xã nông thôn, lấy quan hệ láng giềng làm sợi dây ràng buộc tập thể, chỗ dựa tinh thần là bầu không khí hoà đồng, bệ đỡ kinh tế là chế độ công điền, công thổ làng xã

Nhà nước sơ khai ở Việt Nam là kiểu thiết chế làng xã phóng đại trên quy

mô siêu làng do yêu cầu trị thuỷ chống xâm lược đã tạo quan hệ truyền thống làng – nước trong lúc quan hệ giai cấp chưa gay gắt Khi nhà nước Việt Nam phát triển, các chuẩn mực quốc gia được biểu hiện thành các bộ luật bằng văn thì thiết chế làng – xã vẫn tồn tại dưới dạng hương ước Hương ước là một hình thức dân chủ truyền thống Việt Nam, đó là lệ làng thành văn Hương ước không

kể do ai soạn thảo nhưng các nội dung phải được mọi thành viên trong làng thảo luận, tham gia ý kiến và tự giác thi hành Ngoài hương ước còn có tộc ước, tộc lệ

ít nhiều phản ánh tính chất dân chủ công xã với mặt tích cực của nó trong đời

Trang 12

sống xã hội lúc đó, nhưng cũng gắn liền với tính cục bộ, địa phương và sự hẹp hòi của hình thức dân chủ công xã

Ở Việt Nam, lễ hội và các phong tục, tập quán tốt cũng là các hình thức dân chủ truyền thống Đây là những bộ luật không thành văn đã được cụ thể hoá theo đặc điểm từng vùng, từng địa phương được cộng đồng thừa nhận Mỗi thành viên coi đó là của mình và tự giác chấp nhận Tính dân chủ trong hoạt động lễ hội là mọi người không chia đẳng cấp, không kể sang hèn, từ vua đến thứ dân, từ phú gia đến kẻ ăn xin đều có quyền và được phép đến lễ hội để giải bày tâm tư, nguyện vọng thông qua những lời cầu nguyện, câu ca, tiếng hát Hoạt động lễ hội và các phong tục tập quán tốt của địa phương là trường học dung dưỡng ý thức tập thể, ý thức làm chủ của con người

Bên cạnh tư tưởng và hình thức dân chủ của nông dân, ở Việt Nam cũng tồn tại một số biện pháp và hình thức thân dân của các vương triều tiến bộ Trong điều kiện phân hoá giai cấp chưa gay gắt, nhất là trước yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ giữ nước Nhà Lý, nhà Trần được xây dựng trên một thiết chế tập

quyền thân dân lấy dân làm gốc, lo giữ lòng dân bằng nhiều hình thức dân chủ

Nhà Lý cho đặt chuông kêu oan, nhà Trần mở hội nghị Diên Hồng để cùng bô lão cả nước bàn kế đánh giặc Trần Quốc Tuấn chủ trương “khoan thư sức dân

để làm kế sâu rễ bền gốc”, sau này Nguyễn Trãi ước mong “nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu thảm” Đó là những yếu tố thân dân, trọng dân gắn liền với sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc Thực tế lịch sử đã chứng minh một phong trào dân tộc rộng lớn bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố dân chủ nhất định Rõ ràng, các yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam còn trong truyền thống Việt Nam còn thấp và yếu so với trình độ dân chủ của thời đại Song cũng chứng minh được ở người Việt Nam đã từng có tập quán dân chủ Người Việt Nam không xa lạ với ý tưởng về một xã hội công bằng, bác ái, tự do nhưng họ lại rất ngỡ ngàng với những phương thức, thiết chế bảo đảm quyền dân chủ

Một hiện tượng đặc biệt hiếm thấy trong lòng các xã hội phong kiến chuyên chế phương Đông lấy Nho giáo làm quốc đạo, là ở Việt Nam đã có bộ

Trang 13

Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức) xây dựng vào cuối thế kỷ XV với 721 điều Trong đó có rất nhiều điều nêu cao tinh thần dân chủ, bảo vệ quyền sống, phẩm giá của con người, giữ gìn cuộc sống yên bình của dân, bảo vệ quyền lợi của phụ

nữ và những người thấp hèn trong xã hội Ví như luật Hồng Đức quy định việc

vợ có quyền kiện chồng và bỏ chồng, điều 308 là hiện tượng hiếm hoi, khác

thường so với tư tưởng tam tòng, trọng nam khinh nữ của Nho giáo

Trong lịch sử nước ta chưa bao giờ những từ dân trí, dân khí, dân sinh, dân quyền, dân chủ, những vấn đề liên quan đến người dân được nhắc đi nhắc lại nhiều như đầu thế kỷ XX Nhưng dân là ai? Dân được hình dung trong tập hợp như thế nào? Dưới con mắt của các Nho gia Việt Nam, dù là duy tân, cải cách, trước và cùng thời với Hồ Chí Minh, thì dân thường vẫn là dân đen, vẫn là dân ngu, cần được giáo hoá Điều khác trước là các nhà Nho duy tân nhấn mạnh dân quyền cũng tức là dân chủ Tư tưởng dân chủ của các nhà Nho duy tân đầu thế

kỷ XX đã làm men say, kích thích phong trào quần chúng yêu nước, duy tân rộng rãi từ Bắc chí Nam, trong đó có gia đình Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh

Thực ra, Nguyễn Tất Thành đã có quan hệ với cả hai lãnh tụ của phòng trào yêu nước đầu thế kỷ XX được mọi người Việt Nam tôn sùng, kính nể, đó là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Nguyễn Tất Thành cũng đã phát hiện ra cái bất hợp lý trong quan điểm cứu nước của hai cụ Yêu nước, thương dân, cả cuộc đời lăng lộn đấu tranh vì nước, vì dân, nhưng hai cụ Phan không thấy rõ giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân là sự nghiệp của toàn dân và phải do chính dân làm Dù sao hai cụ vẫn là hình ảnh sáng ngời về lòng yêu nước thương dân trong tâm khảm Hồ Chí Minh Những tư tưởng tiến bộ của các cụ là những gợi ý cho việc xây dựng nền dân chủ cộng hoà Việt Nam sau này của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã hiểu được thực chất của dân chủ truyền thống Việt Nam

để vận dụng và phát huy tập quán dân chủ và dân chủ truyền thống như một động lực trong tiến trình đấu tranh cho dân chủ, vì dân chủ cách mạng Đồng thời, Hồ Chí Minh đã biết khắc phục những yếu kém, khiếm khuyết trong dân

Trang 14

chủ truyền thống bằng sự kế thừa có chọn lọc, kết hợp với tiếp thu những tinh hoa dân chủ của thời đại trong quá trình dân chủ hoá Việt Nam

1.1.2 Ảnh hưởng của văn hoá dân chủ phương Đông đến Hồ Chí Minh

Sự hấp thụ văn hoá phương Đông mà đại diện là Nho học và Phật học đã được bản địa hoá ở Việt Nam và có sự giao thoa với nhau, sớm hình thành ở Hồ Chí Minh một nhân cách văn hoá, một tư duy của nhà dân chủ Đông phương thiết tha với độc lập, tự do của dân tộc và cuộc sống yên bình của nhân dân Hồ Chí Minh còn tiếp tục cũng cố và phát triển kiến thức văn hoá Đông phương của mình ngay ở chính trung tâm, nơi khởi nguồn của Nho giáo, đó là Trung quốc Đặc biệt, Người đã chứng kiến việc Khổng giáo và Khổng tử bị phê phán gay gắt

ở Trung Quốc Trong bầu không khí đó, Hồ Chí Minh có nhận xét riêng của mình Người viết: “Khổng Tử vĩ đại khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản”[17;35]

Hồ Chí Minh tiếp xúc với văn hoá phương Đông ngay từ thưở nhỏ, nhất là hai dòng văn hoá Nho giáo và Phật giáo Tuy thời gian để dùi mài kinh sử là ít, song Người lại thâu tóm được nhiều giá trị tinh tuý, tiến bộ của văn hoá phương Đông Thông minh và hiếu học, lại được nhiều thầy giáo có tài, có đức hướng dẫn, giảng dạy càng làm phát triển ý thức ham hiểu biết, muốn khám phá những cái lạ, cái mới trong văn hoá phương Đông của Nguyễn Sinh Cung Người không chỉ học chữ ở các thầy giáo mà còn học được ở họ tinh thần yêu nước, tư tưởng cách tân, cách mạng Suốt thời niên thiếu – thời kỳ hình thành nhân cách

Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng rất lớn ở người cha vừa là người thầy vừa là một nho sĩ Bài học nhập môn khai tâm ái quốc mà cậu Cung được cha đẻ truyền dạy:

“Quốc dĩ dân lập Dân dĩ quốc tồn Vô dân tắc quốc hà do thành Vô quốc tắc dân hà sở ty” đã nhập tâm và theo suốt cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh Chính người cha đã định hướng cho Hồ Chí Minh là học để biết cái nhục mất nước mà tìm đường rửa nhục cho nước, cứu dân, cứu nước, và đã gửi Hồ Chí Minh đến học ở những thầy giáo tài, đức, có tinh thần yêu nước Và cũng chính người cha đã định hướng cho Người không chỉ học chữ Nho, chữ quốc ngữ mà còn phải học cả chữ Tây để hiểu người Tây xâm lược suy nghĩ gì, nói viết gì để

Trang 15

mà tìm cách đánh thắng họ Học mà thuộc được nhiều châm ngôn Nho giáo, giáo

lý nhà Phật là rất tốt, nhưng cái cơ bản của sự học đối với Hồ Chí Minh là phải nắm được cái hồn, cái bản chất ẩn giấu sau các ngôn từ, câu chữ Đặc biệt, sự học là phải xem giáo lý sách vở thể hiện trong đời sống thường ngày như thế nào, và biết giải thích cuộc sống đời thường qua các giáo lý được học Vì vậy, thời gian học theo trường, theo lớp của Hồ Chí Minh là không nhiều, nhưng sự hiểu biết của Người lại rất sâu sắc

Có thể thấy rõ sự tiếp nhận và hoàn chỉnh vốn văn hoá, tư tưởng, hình thức dân chủ phương Đông của Hồ Chí Minh ở ba khoảng thời gian không liên tục như sau:

Thứ nhất là thời gian trước tháng 6/1911 Thời kỳ này tuy chưa có đóng

góp giá trị gì cho lý luận dân chủ của Hồ Chí Minh, song đây là thời kỳ đầu cực

kỳ quan trọng với ý nghĩa là cơ sở, đặt nền tảng cho lâu đài tri thức đồ sộ và sự nghiệp cách mạng vĩ đại sau này Phong thái, cốt cách phương Đông trong văn hoá ứng xử, trong phương pháp tư duy và hành động hình thành song trùng với tinh thần yêu nước, với sự tiếp nhận truyền thống thương người, thương dân, ý chí tự lực tự cường của dân tộc trong con người Hồ Chí Minh Chính sự học tập, nghiên cứu văn hoá phương Đông đã được bản địa hoá, đã có sự giao thoa giữa hai dòng Nho học và Phật học trên cơ sở của nền văn hoá dân tộc không bị đồng hoá, dưới sự hướng dẫn của những người thầy có tâm, có đức đã sớm hình thành

ở Hồ Chí Minh một nhân cách văn hoá điển hình, một tư duy của nhà dân chủ phương Đông thiết tha với độc lập, tự do của dân tộc và cuộc sống yên bình của nhân dân Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh nghiên cứu Nho học, Phật học và cả Tây học Chính vốn tri thức Nho học và Phật học ban đầu này đã làm cơ sở để Người tiếp nhận các dòng văn hoá khác nhau

Thứ hai, có thể từ những năm 20 đến những năm đầu thập niên 30 của thế

kỷ XX Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh có nhiều năm sống và làm việc ở Trung Quốc và một số nước châu Á Người có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với dòng văn hoá Nho học ngay trên mảnh đất khởi nguồn của nó và cũng chính thời đoạn này, Khổng giáo và Khổng Tử đang bị phê phán ngay trên đất Trung Quốc Hồ

Trang 16

Chí Minh theo dõi và cũng có bài viết thể hiện quan điểm của mình Năm 1921, nhận xét về Khổng Tử và Mạnh Tử, Hồ Chí Minh viết: “Khổng Tử vĩ đại, khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Ông từng nói: thiên

hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều, bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn….Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởng của thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghĩ ngơi của người già không có điều gì đề án của ông không đề cập đến Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất

cả mọi người, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết”[17,35] Nếu không am hiểu học thuyết Khổng – Mạnh, Hồ Chí Minh không thể tìm thấy cái tiến bộ, tinh tuý của học thuyết mà người ta đang phê phán để khẳng định: đây là một trong những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn châu Âu

Hồ Chí Minh đã tìm thấy sự tương đồng về hình thức giữa thế giới đại đồng của Khổng Tử và xã hội xã hội chủ nghĩa theo học thuyết Mác – Lênin Song, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra tính không tương hợp của học thuyết Khổng – Mạnh đối với thời đại “giống như cái nắp tròn làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp vuông” Theo Hồ Chí Minh, “nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng

ta và nếu ông khăng khăng giữ quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng” Vì “ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức”[18,453] Bằng một thái độ nghiêm túc và cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”[18,454]

Trong thời kỳ này, những tư tưởng và hình thức dân chủ kiểu Trung Quốc, kiểu phương Đông đương đại cũng được Hồ Chí Minh nghiên cứu và tiếp nhận Đáng chú ý là tư tưởng dân chủ tư sản của Tôn Trung Sơn với nội dung cơ bản là thuyết Tam Dân của ông được Hồ Chí Minh đánh giá cao Hồ Chí Minh

Trang 17

cho rằng: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc phù hợp với điều kiện Việt Nam hơn Những hoạt động của Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc những năm 1924-1927 và ở Hương Cảng 1930-1933 cũng quan trọng đối với việc hình thành tư tưởng và phương pháp dân chủ của Người

Thứ ba, những năm 40 của thế kỷ XX trở về sau khi Hồ Chí Minh đi sâu

tìm hiểu thực chất của các học thuyết và chắt lọc cái tinh tuý nhất để phục vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người So sánh Nho giáo, Phật giáo, Kitô giáo với chủ nghĩa Mác – Lênin, so sánh các nhà sáng lập ra những học thuyết đó với nhau, Hồ Chí Minh thấy cái cần phải học ở họ, cần phải đề cao hơn tình yêu thương con người, tư tưởng vị tha, cứu khổ mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi sau này Do vậy, từ khi mới là người cộng sản đến khi là một lãnh tụ xuất sắc của phong trào cộng sản, trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, chúng ta bắt gặp những câu chữ, mệnh đề giáo lý của Nho giáo, Phật giáo, những lời răn của Chúa được

Hồ Chí Minh giải thích, hoặc Người đưa những nội dung mới làm cao đẹp hơn nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc theo lập trường vô sản của mình

Hồ Chí Minh đánh giá: “Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó người ta đưa

ra khái niệm về thế giới đại đồng” [17,477] Song, Người cũng chỉ ra tính không tương hợp của học thuyết Khổng – Mạnh đối với thời đại Xét dưới góc độ dân chủ, học thuyết Khổng – Mạnh không tương hợp ở những điểm cơ bản sau:

Một là, biết trọng ý dân nhưng không biết làm thế nào để thực hiện được ý dân

Hiểu được ý dân, thậm chí đề cao ý dân là ý trời, nhưng không có cơ chế hay có

một chế độ nào để thực hiện ý dân Vì vậy, kẻ nắm chính quyền thường làm trái

ý dân, gây sự phẫn nộ trong dân chúng và họ nổi dậy chống lại

Hai là, coi dân là gốc (dân vi bản) nhưng không phải là dân chủ Dân là gốc

nhưng vua là chủ chứ không phải dân là chủ Đặc điểm của chế độ dân vi bản là quyền lực ở nơi vua Đặc điểm quan trọng của chế độ dân chủ là những người đứng đầu chính quyền do dân bầu ra và những người đó buộc phải chịu trách nhiệm trước dân, nghĩa là quyền lực ở nơi dân Trong chế độ dân vi bản thì dân ở

Trang 18

vị trí bị động, luôn nhờ vào sự ban ơn của vua quan Còn trong chế độ dân chủ, dân tự đứng lên quyết định vận mệnh của mình Điều này không hề có trong tư tưởng của Nho gia, thậm chí dân là gốc cũng chỉ có trong ý thức của họ, còn trong thực tế dân có được là gốc hay không còn tuỳ thuộc vào đạo đức của người cầm quyền

Ba là, hiểu không đầy đủ về tự do Nho giáo lấy đạo đức là trọng, cho nên các

Nho gia hiểu tự do chủ yếu là ý chí tự do trong lĩnh vực đạo đức Nghĩa là không

ai ngăn cản việc rèn luyện đạo đức của người khác và ai cũng có thể trở thành thánh nhân (không kể sang hèn, quý tiện) nếu quyết tâm rèn luyện, giữ gìn đạo đức cá nhân thật tốt theo thuyết đạo đức của các thánh hiền Còn tự do dân chủ, chủ yếu là tự do dân chủ chính trị và tự do dân chủ kinh tế thì trong tư tưởng của các Nho gia không có Chính trị Nho giáo theo tông pháp, cha truyền con nối, lấy đức trị nước; kinh tế thì theo chế độ tỉnh điền, phát canh thu tô, người dân không có quyền sở hữu tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Tự do dân chủ đòi hỏi được bảo vệ bằng pháp luật Còn tự do trong lĩnh vực đạo đức theo các Nho gia thì pháp luật không thể khống chế mà cũng không thể bảo vệ Có ý chí tự do trong lĩnh vực đạo đức, không có nghĩa là con người được hưởng mọi quyền lợi

về chính trị Vì vậy, tự do trong lĩnh vực đạo đức không thể làm cơ sở cho chế

độ dân chủ, nhưng trong một chế độ dân chủ phải có ý chí tự do về đạo đức, tự

do tư tưởng

Bốn là, có tư tưởng bình quân nhưng chưa phải là bình đẳng Trong tư tưởng của

các Nho gia đã tồn tại một quan điểm phân phối quân bình rất nổi tiếng của Khổng Tử: “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạn bần nhi hoạn bất an”, nghĩa là không sợ ít chỉ sợ không đều, không sợ nghèo chỉ sợ không yên Thậm chí, Khổng Tử còn đề cao vai trò quân bình trong phân phối đến mức: “Cái quân

vô bần, hoà vô quả, an vô khuynh”, nghĩa là bình quân thì không nghèo, hoà thì không thiếu, yên thì không nghiêng đổ Tư tưởng quân bình của Khổng Tử dựa trên cơ sở chủ nghĩa đạo đức, chia đều miếng cơm, có cơm cùng ăn chứ không hiểu cơm ở đâu mà có Vì lẽ Khổng, Mạnh đều coi thường lao động chân tay,

chủ trương cần đạo hơn cần ăn Tuy vậy, các ông cũng thấy được mầm mống

Trang 19

của loạn lạc là không có tài sản, “người không có tài sản thì không yên tâm, nếu không yên tâm thì sẽ làm điều xằng bậy, không trừ một điều gì” (Khổng Tử) Như vậy, tư tưởng quân bình của Nho giáo trong phân phối là hiện tượng bao cấp, nhằm bảo đảm ổn định xã hội chứ không phải là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, về chính trị và kinh tế, về chính sách và công bằng xã hội

Đi sâu tìm hiểu thực chất các học thuyết và chắt lọc cái tinh tuý nhất để phục vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp và con người, Hồ Chí Minh tự cho mình là học trò nhỏ của các vị sáng lập ra các học thuyết đó để học hỏi, hình thành nên hệ tư tưởng của mình

1.1.3 Hồ Chí Minh tiếp nhận giá trị tư tưởng và hình thức dân chủ tư sản phương Tây

Nói đến dân chủ tư sản, người ta nghĩ ngay đến tư tưởng dân chủ của các nhà văn hoá phục hưng, các nhà tư tưởng Pháp thế kỷ XVIII (thế kỷ ánh sáng), cùng với nó là Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 Dù rằng đã có các cuộc cách mạng tư sản nổ ra sớm hơn như ở Hà Lan, Anh, Mỹ nhưng đạt tới đỉnh cao của thắng lợi thì phải kể đến Đại cách mạng Pháp 1789-1799 Đó là một cuộc cách mạng tư sản triệt để, có ảnh hưởng to lớn và lâu dài trong lịch sử nhân loại Những kinh nghiệm, bài học lịch sử của Đại cách mạng Pháp không những bổ ích cho các cuộc cách mạng tư sản dân chủ tiếp theo, mà còn vô cùng cần thiết cho các cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở các nước thuộc địa phong kiến, nửa phong kiến nói chung, kể cả những cuộc cách mạng này do giai cấp vô sản lãnh đạo Lênin nhận xét: “cách mạng Pháp, tuy đã bị đè bẹp, nhưng vẫn thắng, vì nó

đã xây dựng cho toàn thế giới, những cơ sở của nền dân chủ tư sản, của nền tự

do tư sản” [43;441]

Cùng với các giá trị về tư tưởng văn hoá, văn minh và khoa học khác, tư tưởng dân chủ là một thành tựu mới của thế kỷ Ánh sáng, gắn liền với tên tuổi của Giăng Mêliê (1644-1792), của Sacslơ Lui Môngtexkiơ (1689-1755), của Vônte (1694-1778), của Giăng Giắccơ Rútxô (1712-1778), của Giăng Pôn Mara (1743-1793)

Trang 20

Sáclơ Lui Môngtexkiơ, một trong những ngôi sao sáng chói của nước Pháp thế kỷ Ánh sáng với tác phẩm lớn nhất và nổi tiếng khắp thế giới là Tinh thần pháp luật được công bố năm 1748, được tái bản tới 22 lần và dịch ra nhiều thứ tiếng Trong tác phẩm, ông viết rằng xã hội loài người phát triển có quy luật khách quan, không phải tuỳ theo ý muốn của thượng đế Tổ chức xã hội phụ thuộc vào hình thức chính quyền nhà nước và có ba loại hình chính quyền nhà nước phổ biến: chế độ chuyên chế, chế độ quân chủ lập hiến và chế độ cộng hoà Ông đề ra việc phân quyền và hạn chế quyền hành trong chính quyền nhà nước

để đảm bảo cho quyền tự do của con người Ông khẳng định, phải triệt để phân lập ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp và ba quyền này được độc lập với nhau Dù có thừa nhận sự cần thiết của một nền quân chủ tư sản, song ông vẫn coi bình đẳng đúng nghĩa của nó là bình đẳng trước pháp luật và lòng yêu nước đồng nghĩa với lòng yêu sự bình đẳng

Người tiến xa nhất về mặt tư tưởng dân chủ trong thế kỷ ánh sáng và cũng

là nhà tư tưởng tiêu biểu nhất thời đại này là Giăng Giắccơ Rútxô Toàn bộ các tác phẩm của Rútxô dẫn mọi người đến một học thuyết cách mạng dân chủ tiên

tiến nhất đương thời Trong số đó có tác phẩm Khế ước xã hội (1762) được nhắc tới nhiều và phổ biến rộng rãi Khế ước xã hội đã trình bày chi tiết mô hình của

một chính quyền nhân dân Nhân dân bao gồm hầu hết những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất của xã hội Vì vậy, nền dân chủ theo tư tưởng của Rútxô

là dân chủ của đa số, là dân chủ thực sự của nhân dân Dù quan niệm của Rútxô còn những điều chưa hoàn chỉnh, có thể ảo tưởng nữa (như việc ông coi các đại biểu của nhân dân, thậm chí nhà nước lúc nào cũng trung thành với quyền lợi nhân dân), nhưng ông là một nhà tư tưởng cách mạng dân chủ xuất sắc nhất, quan điểm của ông đã trở thành hệ tư tưởng chủ đạo của phái Giacôbanh trong thời kỳ Đại cách mạng Pháp 1789-1799

Hồ Chí Minh từng nói: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái Và từ thưở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” [17,477] Qua đó chúng ta thấy khát vọng tìm hiểu nội dung của dân chủ tư

Trang 21

sản, của tự do, bình đẳng, bác ái đã có ở Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu niên, tuổi học trò Dù Hồ Chí Minh có bỏ Nho học sang học trường Tây, tiếng Tây thì cũng chỉ nghe được và biết được người Pháp đã nói thế, chứ chưa hiểu được nội dung của

nó là gì, những gì ẩn đằng sau những chữ ấy Vì nội dung đó không được dạy trong nhà trường Chính nền giáo dục ngu dân và sự đụng độ của hai dòng văn hoá Đông, Tây thông qua chế độ thuộc địa, đã kích thích tính ham hiểu biết, phương pháp so sánh để hiểu đến tận cùng sự việc trong người thiếu niên Nguyễn Tất Thành Và đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy anh sang Pháp năm

1911

Chưa có tài liệu nào xác định Hồ Chí Minh đã đọc các nguyên tác của Môngtexkiơ hay Rútxô trước năm 1911, nhưng cũng có thể Người đã tiếp xúc với tư tưởng dân chủ tư sản bằng những con đường khác, như việc tiếp cận với những thầy giáo người Pháp tiến bộ, qua phong trào Đông kinh nghĩa thục, qua các sách Tân văn, Tân thư của Trung Quốc Song, tất cả những sự tiếp cận ấy đã không giải đáp một cách rõ ràng, cặn kẽ tự do, bình đẳng, bác ái là gì? Tại sao nước Pháp có những khẩu hiệu đẹp đẽ như thế lại đi áp bức, nô dịch người Việt Nam một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo, đặt ách nô lệ lên cổ một dân tộc tự do, có nền văn hiến lâu đời Hồ Chí Minh quyết định tìm câu trả lời ngay trên đất Pháp Cuộc hành trình viễn dương gần như vòng quanh thế giới của Nguyễn Tất Thành thật kỳ thú và bổ ích Đây là một khảo nghiệm thực tiễn những giá trị của

tự do, bình đẳng, bác ái trên đất Pháp, Anh, Mỹ những nước tự coi là tự do, văn minh, đã làm cách mạng dân chủ tư sản ở thế kỷ XVIII nhưng đã trở thành thực

dân đế quốc đang thực hiện công cuộc khai hoá cho các dân tộc nhược tiểu Nhờ

cuộc khảo nghiệm này mà Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ được cả mặt giá trị và mặt trái của nền dân chủ tư sản phương Tây

Có thể nói Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người dân thuộc địa sớm nhận rõ những giá trị cơ bản của cách mạng dân chủ tư sản, đó là nhân quyền và dân quyền Đây không chỉ là giá trị riêng của cách mạng Mỹ 1776 hoặc của cách mạng Pháp 1789 mà là giá trị chung của nhân loại Do vậy, trong lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc

Trang 22

lập của cách mạng Mỹ 1776 và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1789 Không phải ngẫu nhiên mà có sự tương đồng giữa khẩu hiệu của cách mạng dân chủ tư sản Pháp chống chế độ quân chủ chuyên chế là

tựdo, bình đẳng, bác ái và khẩu hiệu cách mạng Việt Nam chống đế quốc, phong

kiến là độc lập, tự do, hạnh phúc Đó là việc Hồ Chí Minh tiếp thu và kế thừa có

chọn lọc thành quả Đại cách mạng Pháp cho Cách mạng Tháng tám năm 1945 ở Việt Nam

Tiếp thu lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản đối với Hồ Chí Minh là quan trọng, song qua cuộc sống thực tế ở những trung tâm văn hoá tư sản như Luân Đôn, Pari và trực tiếp hoạt động trong Hội dân quyền và nhân quyền Pari và Đảng xã hội Pháp, đã giúp Người có điều kiện tìm hiểu về nền dân chủ tư sản và các thiết chế dân chủ phương Tây Tại Pari, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà khai sáng: Môngtexkiơ, Rútxô, Vônte, những lý luận gia của Đại cách mạng Pháp 1789 Theo báo cáo của mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc vào đầu tháng 3 năm

1920 “hiện thời Quốc đang dịch một đoạn L Esprit des Lois (tinh thần pháp luật) của Môngtexkiơ sang quốc ngữ” Có thể thấy ý tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp đã ảnh hưởng trực tiếp tới tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh

Nhưng có lẽ Nguyễn Ái Quốc đã hấp thụ được tư tưởng dân chủ và biến

nó thành phong cách sống của mình chủ yếu từ trong cuộc sống Rõ ràng là ở nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của mình Người có thể tự do hội họp, tham gia đảng phái, lập hội, ra báo, phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm của mình trước dư luận Pháp Người đã viết bài phê bình bọn quan lại, vua chúa nước mình, phê phán cả thống sứ, toàn quyền ở thuộc địa, như đã làm với A.Xarô, Liôtây, Varen…Điều này sẽ là phạm thượng, không xảy ra ở Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc học và rèn luyện được tác phong dân chủ ngay trong cách sinh hoạt khoa học ở câu lạc bộ Phôbua, trong sinh hoạt chính trị của Đảng

xã hội Pháp, tiêu biểu là không khí tranh luận ở Đại hội Tua (tháng 12/1920)

Trang 23

Nguyễn Ái Quốc còn vào hội du lịch để đi thăm nước Pháp và các nước lân cận như Italia, Thuỵ Sĩ, Đức, Toà thánh Vaticăng, mục đích không phải chỉ để đi du lịch mà muốn biết những nước ấy tổ chức và cai trị như thế nào Tìm hiểu những kinh nghiệm tổ chức và quản lý nhà nước của giai cấp tư sản, Hồ Chí Minh thấy các nhà nước tư sản tồn tại được trong bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, trong sự bất công và bất bình đẳng xã hội là do nó đã tạo được sự ổn định chính trị trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, một nền kinh tế phát triển, một mức sống được bảo đảm, một trình độ dân trí cao và một bộ máy chuyên chính mạnh Đây chính là những điều Hồ Chí Minh sẽ gạn lọc, tham khảo trong quá trình xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam sau này

1.1.4 Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin và hình thức dân chủ Xôviết

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin trước hết và trên hết là vì mục tiêu giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự nô dịch, sau

đó sẽ xây dựng một xã hội như Mác – Ăngghen khẳng định trong tuyên ngôn đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển

tự do của tất cả mọi người” Tư tưởng cho rằng “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” [11;404], là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết Mác – Lênin về giải phóng xã hội, về giải phóng con người, là điểm xuất phát cho cách đặt vấn đề xây dựng một chế độ xã hội mới, công bằng, không có áp bức, bóc lột, mọi người đều bình đẳng, tự do (dân chủ xã hội chủ nghĩa)

Tiếp thu sâu sắc tư tưởng giải phóng con người về xây dựng xã hội tương lai không có áp bức, bóc lột trong học thuyết của C.Mác, Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa cộng sản phải trải qua một thời kỳ dài mới có thể thiết lập được ở Việt Nam sau khi cách mạng thành công Bởi vì, theo Mác và Ăngghen, việc giải phóng con người một cách toàn diện và phát huy hết mọi tiềm năng của con

người chỉ có thể thực hiện được với tiền đề là những lực lượng sản xuất hiện đại

đã phát triển Nhưng ở Việt Nam, vào thời điểm năm 1946, Hồ Chí Minh cho

rằng “những điều kiện ấy chưa có đủ” [4,272]

Trang 24

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa cho cách mạng Việt Nam, bắt nguồn trước hết từ đức tin vào Lênin, tin vào sự bênh vực và ủng hộ tích cực của Lênin đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Người khẳng định: Lênin đã phát triển và đã thực hiện chủ nghĩa Mác bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và mở đầu “thời đại mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã thành lý trí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới” Nói đến Lênin là nói đến cách mạng Tháng Mười Nga, một cuộc cách mạng vô sản, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới

Khảo sát cách mạng Tháng Mười Nga và thực tế được sống trong không khí sôi động của công cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga những năm 1934-1938, Hồ Chí Minh nhận thức và tâm đắc với quan điểm của Lênin cho rằng: Không có chế độ dân chủ thì không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội và giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu không tiến hành cuộc đấu tranh cho dân chủ, cũng như chủ nghĩa xã hội sẽ không duy trì được thắng lợi nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ Thể hiện quan điểm này, Lênin viết: “Cũng giống như không thể có chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản cũng không thể nào chuẩn bị để chiến thắng giai cấp tư sản được nếu nó không tiến hành một cuộc đấu tranh toàn diện, triệt để và cách mạng để giành dân chủ” [42;324] Hồ Chí Minh đã tiếp thu trong tư tưởng của Lênin đấu tranh cho dân chủ và đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, không thể tách rời nhau

Theo dõi quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga, Hồ Chí Minh đã nhận thức được những đặc điểm của nó là:

Một là, cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà trước hết là sở

Trang 25

hưởng lương ngang nhau, tất cả đều tham gia quản lý, tham gia kiểm soát việc sản xuất và phân phối lao động sản phẩm

Ba là, các cơ quan đại biểu nhân dân do phổ thông đầu phiếu bầu ra là các cơ

quan đại diện quyền lực nhân dân, vừa lập pháp, vừa hành pháp, tức là thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công chứ không phân lập Nhân dân trực tiếp bầu những đại biểu của mình, trực tiếp kiểm tra và có quyền bãi miễn tư cách đại biểu

Bốn là, chế độ tập trung dân chủ kết hợp với quyền tự trị, tự quyết rộng rãi của

các địa phương, nhất là các vùng dân tộc có những điều kiện riêng về kinh tế và lối sống

Năm là, lực lượng lãnh đạo là Đảng của giai cấp công nhân và có các tổ chức

quần chúng làm chỗ dựa cho nền dân chủ Các tổ chức này cùng với nhà nước hợp thành hệ thống chính trị

Sáu là, đối tượng chuyên chính của nó là tất cả những phần tử, lực lượng thù

địch với chủ nghĩa xã hội

Như vậy, Hồ Chí Minh tìm thấy ở Mác, Ăngghen và Lênin không chỉ những tư tưởng, quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn tìm thấy hệ phương pháp để thực hiện một nền dân chủ toàn diện (không chỉ về mặt chính trị), trực tiếp, cụ thể (cả trong quản lý hằng ngày) của tuyệt đại đa số nhân dân

Nó là một nền dân chủ thật sự và ngày càng đầy đủ, nó sẽ dân chủ “gấp triệu lần” nền dân chủ tư sản (Lênin) Đây là những điều kiện Hồ Chí Minh rất tâm đắc và đã tích cực vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam

1.2 Nội dung cơ bản của quan điểm Hồ Chí Minh về dân chủtrong giáo dục

Nước ta là nước dân chủ thì nền giáo dục của ta cũng là nền giáo dục dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục ý thức dân chủ và thực hành dân chủ trong toàn ngành giáo dục Nền giáo dục dân chủ của nước ta, theo Hồ Chí Minh là một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực có sẵn của người học Đó là nền giáo dục dành cho mọi người, bắt đầu từ việc xoá mù chữ, từng bước phổ cập giáo dục từ thấp lên cao, đem lại học vấn phổ thông làm cơ sở cho những hiểu

Trang 26

biết chuyên sâu sau này Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc

mở mang dân trí, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Người đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại

là nâng cao dân đức, mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển, đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu

Trong bài Dân vận viết năm 1949, Hồ Chí Minh khẳng định NƯỚC TA

LÀ NƯỚC DÂN CHỦ, nên mọi lợi ích đều vì dân, mọi quyền hành đều của dân, công việc đổi mới xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân, chính quyền do dân cử ra, đoàn thể do dân tổ chức nên, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Có thể nói thực hiện dân chủ

Hồ Chí Minh trong trường học hiện nay cũng chính là thực hiện mục tiêu cao cả

vì hạnh phúc, tiến bộ và bình đẳng cho tất cả mọi người và là biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục – đào tạo hiện nay Trên cơ sở ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo cán bộ, Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở việc thực hành dân chủ Vì vậy tính dân chủ trong giáo dục được thể hiện ở: Quyền được đi học hoặc tự học nâng cao; Quyền được bình đẳng, công bằng trong học tập và đánh giá, xếp loại; Quyền được phát biểu ý kiến để xây dựng lớp, xây dựng nhà trường và xây dựng ngành giáo dục

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến nguyên lý “Nhà trường gắn liền với xã hội”, “Giáo dục phải phục vụ lao động sản xuất, phục vụ chính trị” [23;456], cho nên việc thực hiện dân chủ trong giáo dục còn mở rộng đến quyền lợi và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với giáo dục Đây là một nội dung chủ yếu của việc xã hội hoá giáo dục Vì vậy, việc tìm hiều tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục không tách rời nhận thức mục tiêu chiến lược chung của cách mạng là giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội để thực hiện được một mục tiêu cơ bản của giáo dục mà Hồ Chí Minh hằng ham muốn tột bậc, đó là ai cũng được học hành

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới việc giáo dục ý thức dân chủ và thực hành dân chủ trong toàn nghành giáo dục Dạy và học là hoạt động chính

Trang 27

trong nhà trường Vì vậy, dân chủ trong nhà trường chính là dân chủ trong dạy

và học, trong quản lý nhà trường, dân chủ trong tự phê bình và phê bình

1.2.1 Dân chủ trong dạy và học

Trong một chế độ dân chủ, ngành giáo dục dân chủ, lẽ tất nhiên việc dạy

và học cũng được vận động trong một môi trường dân chủ, phục vụ cho thể chế dân chủ và thông qua đối tượng đào tạo mà làm phát triển lý tưởng dân chủ trong

xã hội Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp cho nền giáo dục nước nhà, vì vậy trong dạy và học Người đã để lại những quan điểm mang tính hệ thống

Trong nền giáo dục dân chủ, việc dạy và học được diễn ra trong không khí hiểu biết và tôn trọng nhau, cả thầy và trò cùng làm việc để đạt được mục tiêu dạy và học Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19 tháng 1 năm 1955, Bác đã căn dặn: “Trong trường cần có dân chủ Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt” [23;456] Những dấu hiệu liên kết nhau: thầy và trò – thảo luận – ý kiến – phát biểu – thông suốt…có thể xem như những phần tử của một tập hợp dân chủ Thảo luận để đi đến thông suốt là hoạt động chủ đạo và xuyên suốt trên mọi vấn đề và đối với mọi người học Sự thông suốt không chỉ là kết quả của nắm bắt sáng tỏ lý luận mà còn là kỹ năng, thao tác vận dụng thực hành, là kết quả của tri – hành hợp nhất ở người học

Điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt Muốn hỏi, bàn cho thông suốt thì người học phải vượt qua cái mặc cảm yếu kém vốn có của mình, tập trung ý chí để chiếm lĩnh và thông suốt mọi vấn đề trong học tập Có thể phân biệt hai mức độ tiếp thu học tập theo cách thức hướng dẫn của Bác như sau:

Ai có ý kiến gì Đều thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt thì hỏi

bàn cho thông suốt

Ai cũng có Những người có ý chí

Trang 28

Cái ý và cái tâm thì ai cũng có, nhưng cái chí thì có ở mức độ khác nhau, thậm chí có người không có (thiếu ý chí) Vì vậy, đạt được sự thông suốt như trên là điều kiện đầu tiên để tiếp cận với mục tiêu của sự học Chỉ dẫn cho người học cách thức học tập độc lập và tự chủ trên cơ sở có sự giúp đỡ của người thầy, giải phóng mọi tâm thế mặc cảm hoặc gò ép; gợi mở những quan hệ nhằm chủ động hỏi, bàn cho thông suốt, biết “độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng” [24;500] Đó

là ý thức và thái độ làm chủ sự học của người học Người học phải thực sự là chủ thể chứ không phải là khách thể của sự học Người học được khuyến khích và tạo điều kiện để có cơ hội đi đến tận cùng của sự khám phá và sáng tạo, có nghị lực “Hướng tới phía trước, tiến lên không ngừng Gian lao chẳng quản, khó khăn không sờn”[26;112] và có bản lĩnh “quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”[21;102] Đó cũng chính là cốt lõi của phẩm chất nhân cách mà nhà trường dân chủ mong muốn ở người học

Theo Hồ Chí Minh học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới: “Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới – trước hết là tổ chức nền sản xuất mới”[26;103] Dân chủ trong học tập, trước hết là tạo ra ở người học một cái nhìn bao quát về ý thức tự chủ học tập, điều mà ngày nay gọi là quyền học tập, gắn liền với quyền sống cũng như quyền căn bản khác của con người Trong bài báo Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng, với lời lẽ sảng khoái, tự hào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc: “Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà”[26;103] Chính vì làm là người lao động làm chủ nước nhà nên muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ

Với yêu cầu học tập như vậy, Bác mong muốn người học cần có thái độ phù hợp: “Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình”[26;103] Con người sống học tập, để làm chủ bản thân, làm chủ thiên nhiên, làm chủ đất nước: “Chúng ta làm chủ cuộc sống mới

do chúng ta xây dựng lên Chúng ta làm chủ tương lai của mình và của con cháu mình”[26;111] Đã làm chủ thì càng phải học để có đủ năng lực làm chủ và có

Trang 29

đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới Học để làm chủ chẳng những là quyền mà còn là nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc

Dân chủ trong học tập thực chất là điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt Cả hai yếu tố người dạy và người học đều liên quan xoay quanh cái trục dân chủ Người dạy hướng dẫn thảo luận, giải đáp Người học thảo luận, phát biểu, không còn bị nhồi sọ, tiếp thu những gì mà không biết, không hiểu hoặc vì nhiều lý do mà không dám thật thà phát biểu Người học được giải phóng khỏi cái tâm thế gò bó, bị động hoặc cái mặc cảm yếu kém, dốt nát của mình

Nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá I, trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 21-7-1956, Bác nhắc lại: “Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý Đó là quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”[24;261] Tự bày tỏ ý kiến của mình, theo Bác là một nghĩa vụ của người học Điều này cho thấy Bác yêu cầu rất cao ở người học Chỉ

có cách đó mới giúp người học được thông suốt mọi vấn đề Một khi đã thông suốt vấn đề, người học mới làm chủ được tri thức, làm chủ được chân lý, là tiền

đề của hành động Bác nói: “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân

lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý”[24;216]

Ở chỗ khác, Bác còn căn dặn người học phải hết sức khiêm tốn cầu thị: “Cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”[24;499] Và để đạt đến mục tiêu của sự học, Bác nói:

“Làm sao cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là hơn 500 người chỉ hiểu lờ mờ”[20;64]

Vai trò làm chủ và ý thức làm chủ đối với người học đã được Bác quan tâm nhắc nhở và đặt ở vị trí thích đáng Trong điều kiện hoà bình, độc lập, mọi người có quyền làm chủ vận mệnh đất nước mình thì có hàng loạt vấn đề đặt ra

về giáo dục, về sự học Một trong những vấn đề đó là phương pháp học tập, ngày nay gọi là đổi mới phương pháp học tập nhằm giúp người học thật sự làm chủ tri thức Về điều này, Bác đã lưu ý: “Muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng”[28;94] Trong sự học phải “tuyệt đối tránh cách

Trang 30

nhồi sọ”[23;393] Muốn tránh nhồi sọ, phải làm theo lời Bác là thầy trò cùng

thảo luận Cùng thảo luận với học trò của mình, người thầy dạy đã đi từ quan hệ

giao tiếp thân mật đến phương pháp làm việc, phương pháp dạy học tương tác, chủ động, giúp người học phát hiện chân lý Người thầy dạy như thế không chỉ vững về kiến thức mà còn phải đủ bản lĩnh và kinh nghiệm trong tổ chức hoạt

động, điều khiển để dẫn dắt người học tìm ra tri thức, trong khi thảo luận ai có ý

kiến thì thật thà phát biểu Bác không chỉ chú ý đến sự bình đẳng trong quyền lợi

học tập mà còn chú ý đến những trường hợp chênh nhau về kiến thức của người học Với những người học có kiến thức vững hoặc thuộc loại học giỏi, khá thì việc thảo luận ít gặp trở ngại, còn đối với người học trung bình hoặc yếu kém thì

việc thảo luận không tránh khỏi sự hạn chế do trình độ hoặc do mặc cảm Câu Ai

có ý kiến đều thật thà phát biểu còn có giá trị của một lời khuyên, lời động viên

người học nhằm phá tan mọi mặc cảm để vươn lên, chủ động tìm kiếm và làm chủ tri thức Trên cơ sở thầy trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì thì thật thà phát biểu mà đi đến cái đích của sự học Cái đích đó là điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt

Hỏi, bàn cho thông suốt là thái độ tự trọng – khoa học của người học, của người khiêm tốn và có chí cầu tiến Để tin và làm bất cứ điều gì thì cũng phải trên cái nền của sự thông suốt, của sự sáng tỏ Sự thông suốt, như thế trở thành một điều kiện cần đối với người học Trong bài viết Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin Bác đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao”[26;127] Phải trên cơ sở sự sáng tỏ mới đi đến

sự tin tưởng, đó là nhân sinh quan cách mạng Song song với yêu cầu hỏi, bàn cho thông suốt Bác còn yêu cầu thái độ độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng ở người học: “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên

Trang 31

nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều Phải suy nghĩ chín chắn”[24;500]

Tư tưởng điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt có giá trị tiêu biểu cho bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong học tập Hăng hái

và thông suốt là dấu hiệu bản chất của đời sống dân chủ trong giáo dục Làm cho học trò thêm hăng hái là một biểu hiện của đời sống dân chủ trong giáo dục Hăng hái là một dấu hiệu tích cực trong đời sống tâm lý của con người và do đó cũng là dấu hiệu tích cực của đời sống dân chủ trong giáo dục, một dấu hiệu được nhìn ngắm từ phía người học, nhân vật trung tâm của nhà trường Trong

Đời sống mới viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ tích

cực giữa dạy và học, mối quan hệ được xác lập trên cơ sở nhận thức đúng đắn về thi đua trong giáo dục

Đối với thầy giáo, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Trong mỗi trường học, các thầy nên thi nhau tìm cách dạy sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, nhanh chóng và thiết thực”

Đối với học sinh: “Các trò nên đua nhau học Đồng thời biết tiết kiệm giấy bút, biết giữ kỷ luật”

Đối với các lớp, các trường: “Lớp này nên thi đua với lớp khác, trường này với trường khác, làm cho học trò thêm hăng hái”[21;102-103]

Vậy là hai nhân tố trong dạy và học đã được đề cập: thầy giáo và học sinh Thầy giáo thì nên thi nhau tìm cách dạy, học sinh thì nên đua nhau học Từ đó dẫn tới mục đích của nhà trường là làm cho học trò thêm hăng hái Cái mà ngày nay đã trở thành xương sống của toàn ngành giáo dục – phong trào thi đua hai tốt – thì hơn 50 năm trước Bác Hồ là người đầu tiên đã chỉ ra phong trào này Đọc

kỹ nội dung những lời dạy trên, chúng ta thấy Hồ Chí Minh chỉ ra bản chất đích thực của thi đua trong giáo dục, tức là thi đua để làm gì: Thầy giáo thì thi nhau tìm cách dạy sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, nhanh chóng và thiết thực Học sinh thì thêm hăng hái Mối quan hệ giữa dạy và học ở đây là: Học trò chỉ có thể thêm hăng hái trên cơ sở thầy giáo thi nhau tìm cách dạy sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, nhanh chóng và thiết thực Thêm hăng hái là đích đến của thi đua dạy và học

Trang 32

Thi đua để tạo ra tâm thế hăng hái, môi trường hăng hái, không gian hăng hái

Có hăng hái mới vươn lên, xốc tới chiếm lĩnh mục tiêu của dạy và học

Muốn thêm hăng hái , nhất định người dạy phải khơi dậy nhu cầu và đáp ứng nhu cầu của người học bằng cách áp dụng các phương pháp gợi mở, hỏi đáp trên cơ sở xây dựng một môi trường học tập thân thiện, tin cậy lẫn nhau Một môi trường áp đặt, nhồi nhét, mất dân chủ sẽ không có chỗ cho hăng hái phát sinh Dân chủ ở đây có thể hiểu là tiền đề của hăng hái: Mất dân chủ sẽ không có hăng hái

Tư tưởng làm cho học trò thêm hăng hái được ra đời trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện sự quan tâm rất lớn của lãnh tụ đối với nhiệm vụ giáo dục, xây dựng con người mới, đời sống mới trong nhà trường Đây là một nội dung nằm trong tổng thể mục đích giáo dục, xây dựng nhân cách

và bản lĩnh của học sinh Từ núi rừng Việt Bắc, mơ ước về ngày độc lập thống nhất non sông, xây dựng nền dân chủ mới, Hồ Chí Minh tha thiết căn dặn những

người làm công tác giáo dục hãy chú ý điều này: Cốt nhất là phải dạy cho học

trò biết yêu nước, thương nòi Phải dạy cho họ cái ý chí tự lập, tự cường,quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ Đạt được cái cốt nhất như

vậy, chính là đạt được cái nhân cách văn hoá dân chủ để xứng đáng làm người

Thông suốt là biểu hiện cao nhất của đời sống dân chủ trong giáo dục, trong hoạt động quản lý giáo dục.Thông suốt là mức cao của hiểu biết, là thấu suốt, giác ngộ Thông suốt không chỉ là kết quả của nắm bắt sáng tỏ lý luận mà còn là kỹ năng, thao tác vận dụng thực hành, là kết quả của tri – hành hợp nhất ở người học Thống suốt là một mục tiêu hàng đầu của nền giáo dục chân chính, nền giáo dục dân chủ Có thông suốt mới có điều kiện thực hiện quyền làm chủ trong nghiên cứu, học tập, tiến tới khám phá, sáng tạo, mới thể hiện đầy đủ năng lực làm chủ và hoài bão trong cuộc sống Thông suốt phải trên cơ sở của sự trung thực, thật thà; không bóp méo sự thực lịch sử của đất nước, của nhân vật lịch sử, của sự kiện lịch sử và của lãnh tụ Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, chúng dạy rằng Nos Ancêtes sont des Gaulois (Tổ tiên chúng ta thuộc dòng Gaulois), ai dám phản đối? Điều này, một lần nữa cho chúng ta biết vì sao sau

Trang 33

Cách mạng tháng Tám, rất nhiều lần Bác Hồ nhắc nhở Thanh niên, thiếu niên nhi đồng nước ta rằng chúng ta là con cháu của Phù Đổng Thiên Vương, của Bà Trưng, Bà Triệu, của Hưng Đạo Vương (chớ không phải thuộc dòng Gaulois) Làm cho mọi người, nhất là người học được thông suốt mọi vấn đề như lời Bác nói, chính là sứ mạng của nhà trường dân chủ Những điều này hoàn toàn khác với một nền giáo dục xảo trá, đồi bại mà thực dân Pháp áp đặt cho dân ta trong thời gian nước ta là thuộc địa của chúng

Thông suốt không chỉ là cửa ngõ để dân chủ đi vào đời sống học tập, rèn luyện của học sinh mà thông suốt còn là cửa ngõ để dân chủ đi vào hoạt động quản lý, lãnh đạo ngành giáo dục, lãnh đạo nhà trường, qua đó khơi dậy động lực thi đua yêu nước, yêu ngành, làm trong sạch và lành mạnh môi trường giáo dục, giúp ngành giáo dục làm tròn sứ mạng, đào tạo ra sản phẩm cao cấp cho xã hội Ngày 17-8-1962, nói chuyện tại Trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hoà Bình, Người nhắc lại mục tiêu thông suốt trong giáo dục: “Phải bàn bạc dân chủ Có công việc gì, ban phụ trách trường bàn bạc với anh em, làm cho tư tưởng mọi người thông suốt, động viên mọi người cùng làm, chứ không nên ban phụ trách định kế hoạch rồi bắt mọi người làm, nếu phụ trách có sáng kiến, có dân chủ thì trường tốt, nếu ban phụ trách lại quan liêu, mệnh lệnh, bớt xén, trường sẽ

ko ra gì hết”[26;589]

Như vậy, Hồ Chí Minh đã nêu ra ba vấn đề quan trọng và có cùng nền tảng dân chủ: 1) Hoạt động thi đua nhằm tạo ra sự hăng hái cho người học Dân chủ là tiền đề làm phát sinh lòng hăng hái, 2) Dạy và học cần hướng đến mục tiêu làm cho người học thông suốt, coi đó là tiêu chí hàng đầu của dân chủ hoá giáo dục 3) Hoạt động quản lý giáo dục, quản lý nhà trường cũng phải trên cơ sở bàn bạc dân chủ, làm cho tư tưởng mọi người thông suốt, không nên định kế hoạch rồi bắt mọi người làm

Muốn đạt được thông suốt phải có dũng cảm, có lý tưởng: dũng cảm vượt qua mặc cảm dốt nát, rụt rè của mình để mạnh dạn hỏi, bàn cho ra lẽ, cho thấu đáo từng vấn đề để có thể áp dụng, thực hành, mưu lợi cho bản thân và cho cộng đồng Đây chính là ý chí, là quyết tâm của người học, là chỉ tiêu phân biệt người

Trang 34

học bình thường với người học có ý chí, có lý tưởng Sự thông hiểu đòi hỏi một quá trình, hơn nữa là sự khổ luyện Nguyễn Tất Thành đọc đi đọc lại Luận cương Lênin mới hiểu, Người tham gia tranh luận nhiều vấn đề chính trị - xã hội ở các câu lạc bộ, ở phòng trọ bên Pháp, khảo sát nhiều nơi, đọc nhiều sách báo…mới trở thành người uyên bác, lịch lãm Ba mươi năm ở nước ngoài là 30 năm khổ luyện mới giúp chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành Nguyễn

Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Dân chủ trong học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh là ý thức và thái độ thường trực hướng tới phía trước, tiến lên không ngừng Gian lao chẳng quản, khó khăn không sờn Qúa trình làm chủ học tập đòi hỏi sự phấn đấu từ cả hai phía người dạy và người học Về phía người dạy, ngay từ năm 1947 tại chiến khu Việt Bắc, Bác đã căn dặn điều này: “cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nói Phải dạy cho họ cái ý chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”[21;102] Đây là một trong những mục tiêu quan trọng, thiết yếu mà bất cứ người dạy học nào cũng phải quan tâm để giáo dục cho học sinh của mình Đạt được những điều đó là đạt được cái đạo làm

thầy, đạt được cái cốt nhất của nghề dạy học Cũng có thể gọi đó là tư tưởng tiến

công phòng thủ nhanh như chớp hoặc tư tưởng thân thể tại ngục trung, tinh thần tại ngục ngoại, dục thành đại sự nghiệp, tinh thần cánh yếu đại Về phía người

học với sự trải nghiệm của mình, Bác Hồ luôn luôn dành cho những người đi sau bài học của người đi trước Ngay trong những ngày tháng bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép khi Người đi công tác sang Trung Quốc, Người đã hạ bút những dòng sau đây: “Mới, không ngừng tiến thủ, cần có bản lĩnh độc lập Tự mình làm lấy, tự giác, tự động, tự chủ Lao động, sáng tạo, quyết đoán Mỗi ngày một mới”[19;430] Có thể xem đó là lời lẽ tâm huyết, nhiệt thành của một người yêu đời, sống có lý tưởng, luôn khát khao chiến đấu và chiến thắng vì lý tưởng cao đẹp của cuộc sống Nói chuyện với sinh viên đại học chào mừng tổng thống Xucácnô ngày 26 tháng 6 năm 1959, Bác căn dặn thanh niên sinh viên học sinh hãy “Vượt mọi khó khăn để mà chiến thắng,

Trang 35

để hưởng thụ tất cả những khoa học, những hiểu biết của thời đại thế kỷ thứ XX”[25;471]

Vì vậy người học cần có cái tâm trong sáng, nhiệt thành và cái chí kiên

định, theo cách gọi của người xưa là có hùng tâm dũng chí trong sự học Đời

sống mỗi ngày một mới, nên cả người dạy lẫn người học cần có tinh thần lạc quan yêu đời, sống có lý tưởng cao cả, luôn “hướng tới phía trước, tiến lên không ngừng Gian lao chẳng quản, khó khăn không sờn”[26;112] Vượt mọi khó khăn để chiến thắng, để làm chủ tri thức thời đại Những điều đó đòi hỏi người dạy, nhất là người học một khí phách không kém khí phách của người anh hùng ra trận Mà đó cũng chính là những yêu cầu về phẩm chất của năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống mới như ý Bác mong muốn

Để làm chủ trong học tập, người học phải có động cơ nhận thức đúng đắn: Học tập để có đủ năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống mới Trong học tập phải đảm bảo tốt quan hệ dân chủ giữa thầy và trò: Dân chủ nhưng thầy phải quý trò, trò phải kính thầy, chứ không phải cá đối bằng đầu.Có thể nói đây là một phương pháp luận chung nhất trong quan hệ dân chủ giữa thầy và trò Thầy quý trò, trò kính thầy không phải chỉ riêng trong việc học tập kiến thức trên lớp,

mà còn mở rộng cả mọi quan hệ giao tiếp giữa thầy và trò trong nhà trường hoặc ngoài xã hội Thầy có quý trò, thầy mới tôn trọng trò và không ngừng tìm cách giảng dạy ngày một tốt hơn Trò có kính thầy, trò mới giữ được kỷ cương trường

học và giúp cho việc học ngày một tốt hơn Thái độ cá đối bằng đầu trong quan

hệ thầy trò là thái độ không nên có và không thể chấp nhận có trong trường học

Trong mối quan hệ giữa thầy và trò nếu vượt quá giới hạn dân chủ cho phép thì quan hệ cả thầy lẫn trò đều có thể rơi vào tình trạng xấu đi Chính vì vậy, Bác Hồ từng căn dăn người lớn: “Làm việc phải có dân chủ bàn bạc, nhưng chú ý dân chủ phải có tổ chức kỷ luật”[24;365] và căn dặn học sinh: “Phải tôn trọng kỷ luật nhà trường”[26;589] Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong quan hệ thầy trò một mặt kế thừa truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta, mặt khác có sự tiếp thu, chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của thế giới; vừa đề cao

vị trí của người thầy, đòi hỏi tính gương mẫu và đạo đức của họ; vừa yêu cầu

Trang 36

người học sự kính trọng đối với thầy cô và thái độ tích cực hỏi, bàn cho thông suốt mọi vấn đề trong học tập

Bên cạnh quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ giữa học và tập Hồ Chí Minh từng dạy phải biết tự động học tập Mà tự động là tự mình làm chủ hoạt động Nghĩa là không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ, tự mình tự giác tự nguyện hoạt động chính là tự học Học là tập, tự học bao hàm cả tập

luyện Trong Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh có bài thơ Tân xuất ngục, học

đăng sơn dịch là mới ra tù, tập leo núi Chữ học ở đây chỉ có nghĩa là tập – là tự

rèn luyện Cùng logic này, trong bài Ngục trung, học dịch kỳ (trong tù tập đánh

cờ) chữ học cũng là tập – là tự rèn luyện Ngôn ngữ Việt Nam có hai từ ghép rất

có ý nghĩa về học tập – rèn luyện – tự học đó là HỌC HÀNH, mà bước khởi đầu

là học tập – Học bằng cách làm – hành động Chúng ta đều biết: kỹ năng, kỹ xảo

là kết quả của quá trình tập luyện bền bỉ Nó là phần thưởng chỉ dành cho những

ai biết kiên trì luyện tập Mặt khác, kiến thức chỉ thực sự là tri thức cá nhân khi

và chỉ khi kiến thức ấy đã được cá nhân kiểm nghiệm bằng chính đôi bàn tay của mình Vì vậy, học là sự tái-khái-niệm-hoá kiến thức-nội tại Đây là cơ sở tâm lý

để tổ chức việc dạy và học hướng tập trung vào hoạt động của người học Quan niệm này khá hiện đại đối với thế giới Song khi ôn lại tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, nhiều người giật mình khi nhận ra Người đã đề cập quan điểm hiện đại này từ năm 1945 Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày Khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi rõ:

“Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”[20;32] Thật là tuyệt vời với tầm nhìn đi trước thời đại của Hồ Chí Minh

Tập là tiến bộ, là để thay đổi bản thân Để đạt được mục tiêu làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em thì nhà giáo dục cần giúp các em nhận ra tiềm năng, nội lực ở bản thân mình và tự bộc lộ mình, tự thể hiện và tự khẳng định mình Muốn vậy các em phải không ngừng thay đổi bản thân, phải tự

Trang 37

vượt lên chính mình Hồ Chí Minh hay dùng từ TIẾN BỘ Người thường dạy: Thế giới ngày một phát triển, nhân dân ngày một tiến bộ mới theo kịp nhân dân, theo kịp thế giới

Để không ngừng tiến bộ thì phải không ngừng học hỏi và tập luyện, học tập phải có phương pháp Hồ Chí Minh chỉ rõ để học tốt bên cạnh thái độ tốt, cần

có phương pháp tốt “Phương pháp giáo dục thì nguyên tắc tự nguyện tự giác,

giải thích, bàn bạc, thuyết phục chứ không gò bó”[24;216] Như rửa mặt hàng

ngày Cũng vậy, hàng ngày ta phải tự kiểm điểm, tự phê bình để không ngừng tiến bộ Và người khuyên mọi người phải biết tự động học tập “Phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi”[25;289]

Để cho việc học và tập được tiến hành thường xuyên, liên tục, Người thường khuyên và gương mẫu thực hiện các giải pháp đồng bộ sau:

Tuyên truyền: Dùng lý lẽ để thuyết phục đối tượng, làm cho đối tượng nghe theo,

làm theo một cách tự giác Tức là tấn công vào nhận thức trí tuệ, gọi là TRÍ CÔNG

Vận động: dùng thái độ, xúc cảm, tình cảm để chuyển hoá thái độ của đối tượng

Tức là tấn công vào tình cảm, vào trái tim, gọi là TÂM CÔNG

Tổ chức thi đua: cổ vũ và tổ chức sự đua sức đua tài có tổng kết, biểu dương

khen thưởng Tức là tấn công vào tâm – vận động, vào ý chí hành động, gọi là CHÍ CÔNG

Đối với ngành giáo dục, Hồ Chí Minh thường dạy phải tổ chức thành phong trào thi đua HAI TỐT: Thầy thi đua DẠY TỐT, trò thi đua HỌC TỐT

Tóm lại, bằng cả ba mũi giáp công: Trí công, Tâm công và Chí công sẽ giúp người học có nhận thức đủ, thái độ đúng và ý chí hành động, học tập vững

Và để đạt được tính dân chủ trong dạy và học cần thực hiện dân chủ trong hoạt động quản lý trường học

1.2.2 Dân chủ trong hoạt động quản lý trường học

Quản lý trường học là một trong những nhiệm vụ bao trùm của người lãnh đạo nhà trường Một trong những biện pháp tốt nhất để tác động vào sự phát triển nhà trường chính là thực hành dân chủ Nói chuyện với Trường Thanh niên

Trang 38

lao động xã hội chủ nghĩa Hoà Bình ngày 17 tháng 8 năm 1962, Bác Hồ căn dặn thầy giáo và học sinh nhà trường: “Phải bàn bạc dân chủ Có công việc gì, ban phụ trách trường bàn bạc với anh em, làm cho tư tưởng mọi người thông suốt, động viên mọi người cùng làm, chứ không nên ban phụ trách định kế hoạch rồi

bắt mọi người làm…”[26;589]

Lời phát ngôn trên của Bác có giá trị khẳng định một chân lý, một mệnh

lệnh ngắn gọn mà có sức khái quát lớn Sau khi nêu yêu cầu Phải bàn bạc dân

chủ, Bác tiếp tục giải thích rõ hơn ý kiến của mình Có công việc gì, ban phụ trách trường bàn bạc với anh em Trong mỗi trường học đều có rất nhiều công

việc, những công việc đó dù lớn hay nhỏ đều đòi hỏi người lãnh đạo phải quan tâm giải quyết Nếu với một tinh thần bàn bạc dân chủ thì khi có công việc gì, ban phụ trách trường bàn bạc với anh em Cách nói của Bác cho thấy hầu như việc gì trong trường cũng cần phải được đem ra bàn bạc dân chủ

Vì sao việc gì cũng cần phải đem ra bàn bạc dân chủ?

Một- Vì dân là chủ, tập hợp được dân là tập hợp được sức mạnh vô địch Điều này đã được Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Phải nhớ rằng dân là chủ Dân như nước, mình như cá Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”[20;101]

Hai- Có bàn bạc dân chủ mới phát huy được sáng kiến của quần chúng: “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”[21;244]

Ba- Có bàn bạc dân chủ mới làm cho tư tưởng mọi người thông suốt để cũng làm Ở đây dân chủ có thể hiểu như là một hình thức của công tác tư tưởng Thông suốt không chỉ là một dấu hiệu dân chủ đối với người lớn, người làm công tác quản lý mà còn là một dấu hiệu dân chủ đối với người học Bác chỉ ra một yếu tố tâm lý rất cần quan tâm trong việc trao đổi, bàn bạc để thông suốt:

“Mọi người đều hiểu mới vui lòng làm Có người chưa hiểu, chưa vừa lòng, mà bắt họ làm thì hỏng việc”[23;540]

Bốn- Bản thân người làm công tác quản lý cũng có giới hạn về hiểu biết và kinh nghiệm, nên cần lắng nghe ý kiến của quần chúng để bổ sung hiểu biết và kinh nghiệm của mình: “Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn

Trang 39

phải dùng kinh nghiệm của Đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”[21;285]

Năm- Dân chủ, theo như Bác khẳng định là chiếc chìa khoá vạn năng có thể giúp giải quyết trong những tình huống xấu nhất

Việc gì trong trường học cũng cần phải được đem ra bàn bạc dân chủ Không đưa ra bàn bạc dân chủ là một dấu hiệu của bệnh chủ quan Chủ quan là một con đường ngắn dẫn đến quan liêu, mệnh lệnh, bớt xén Bác Hồ kết luận:

“Cũng ví như ở đây, nếu ban phụ trách có sáng kiến, có dân chủ thì trường tốt, nếu ban phụ trách lại quan liêu, mệnh lệnh, bớt xén, trường sẽ không ra gì hết”[26;591] Bác dùng cách nói đối xứng làm rõ sự khác nhau giữa dân chủ và quan liêu: Nếu có sáng kiến, có dân chủ thì trường tốt Ngược lại quan liêu, mệnh lệnh, bớt xén thì trường sẽ không ra gì hết Để trường tốt thì lãnh đạo, quản lý nhà cần có những kế hoạch dân chủ

Kế hoạch dân chủ là kế hoạch được tập hợp, chọn lọc và thống nhất từ nhiều người, nhiều nguồn khác nhau, theo một trình tự hợp lý, tối ưu, đảm bảo tính ăn khớp giữa kế hoạch của trung ương với kế hoạch của địa phương, giữa tập thể và cá nhân, nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Nói chuyện tại Lễ phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm, ngày 17 tháng 3 năm 1952, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính chất dân chủ trong việc xây dựng kế hoạch: “Kế hoạch sản xuất

và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, và địa phương căn cứ theo kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương mình, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người sẽ có kế hoạch riêng của mình, ăn khớp với kế hoạch chung

Vì vậy, từ khu đến tỉnh, huyện, cho đến xã phải làm thế nào cho kế hoạch

đó thiết thực và nhất định phải làm cho kỳ được Làm kế hoạch một cách dân chủ như vậy, chúng ta nhất định thành công”[22;434]

Đoạn trích trên cho thấy ý nghĩa và tính chất của kế hoạch dân chủ Đi từ trên xuống và đi từ dưới lên trên là tính chất hai chiều, thường thấy trong xây dựng kế hoạch Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện dân trí, trình độ nhận thức của cán

Trang 40

bộ mà tính dân chủ sẽ được thể hiện đậm, nhạt ở mỗi chiều với mức độ khác nhau Kế hoạch dân chủ cần đảm bảo tính thiết thực, làm cho kế hoạch trở thành thiết thực, đáp ứng được thực tế cuộc sống và đón đầu xu thế của cuộc sống Bác dạy từ khu đến tỉnh, huyện, cho đến xã phải làm thế nào cho kế hoạch đó thiết thực và nhất định phải làm cho kỳ được

Tính thiết thực, tỉ mỉ, đầy đủ của kế hoạch đòi hỏi cán bộ phải: Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân Do đó mà đề xuất được

những vấn đề đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của dân Trong tác phẩm Sửa

đổi lối làm việc, Bác viết: “Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà

viết kế hoạch, ra mệnh lệnh”[21;285]

Có đảm bảo được tính thiết thực, tỉ mỉ, đầy đủ của kế hoạch mới đảm bảo phản ánh đúng trình độ và tâm tư nguyện vọng của quần chúng Kế hoạch cần mang tính dân chủ ngay từ khi lập kế hoạch và trong suốt cả thời gian thực hiện Đây là đặc trưng bản chất của một kế hoạch dân chủ Qúa trình xây dựng một kế hoạch bao giờ cũng đi từ khởi điểm nghiên cứu, nắm bắt thực trạng xuất phát điểm của tình hình Thực trạng đó là những tiền đề hết sức quan trọng, làm cơ sở

phác thảo phương án hành động Trong bài báo Cái Chìa khoá vạn năng, Bác Hồ

sau khi đúc kết những điều dạy về dân chủ nhấn mạnh: “Trong mọi công việc, ngay từ khi lập kế hoạch và suốt cả thời gian thực hiện, phải mạnh dạn phát động quần chúng, làm cho mọi người thấm nhuần tinh thần làm chủ tập thể”[28;249]

Như vậy trong quá trình lập kế hoạch, tính dân chủ cần phải được thể hiện xuyên suốt ngay từ khi lập kế hoạch và trong suốt cả thời gian thực hiện Có thể coi đây là bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng kế hoạch trường học nói riêng, hay kế hoạch quản lý nói chung

Bên cạnh đó để quản lý tốt trường học cần có tư tưởng dân chủ trong lề lối làm việc Lề lối làm việc là một trong những vấn đề được chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm Với hiểu biết và những kinh nghiệm tổng kết từ trong quá

trình hoạt động cách mạng, Người đã viết quyển sách Sửa đổi lối làm việc vào

tháng 10 năm 1947 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w