Nhưng không phải ngay từ khi ra đời những nhà làm luật đã thiết kế công ty TNHH với cả hai loại như ngày nay mà lúc đầu chỉ có công ty TNHH hai thành viên trở lên, tuy nhiên trong thực t
Trang 1NGÀNH LUẬT KINH TẾ
W X
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TÁC GIẢ: HUỲNH THỊ PHƯỢNG
GVHD : TH.S – GVC NGUYỄN THỊ THANH LÊ
BIÊN HÒA, THÁNG 6 NĂM 2011
Trang 2WX YZ
Trước tiên, bằng sự chân thành sâu sắc, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả mọi người đã giúp đỡ, hỗ trợ Tôi thực hiện bài nghiên cứu này, một điểm mốc rất quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Tôi Bài nghiên cứu này sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
Th.S – GVC Nguyễn Thị Thanh Lê, người hướng dẫn của Tôi Tôi xin chân
thành biết ơn về những chỉ bảo, định hướng nghiên cứu thực hiện, hỗ trợ, tạo những điều kiện tốt nhất cho Tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba Mẹ những bậc sinh thành đã chịu thương, chịu khó nuôi dưỡng, hỗ trợ, động viên, ủng hộ con trong những lúc khó khăn để con có được như ngày hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô trong Khoa Quản trị kinh
tế quốc tế đã tận tình chỉ bảo, rèn luyện, truyền đạt những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm quý báu cho Tôi trong suốt 4 năm ở giảng đường đại học Đây là những hành trang quý giá để Tôi vững bước vào đời
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các anh chị, bạn bè, đã nhiệt tình động viên, ủng hộ, chia sẻ những kinh nghiệm, kiến thức quý báu, tài liệu, hỗ trợ không những trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu mà còn trong suốt thời gian học tập dưới mái trường này
Trang 3Mặc dù đã hết sức nỗ lực và cố gắng, nhưng bài nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự cảm thông và tận tình chỉ bảo, góp ý của quý Thầy Cô và các bạn Một lần nữa xin gửi đến
tất cả mọi người lời cảm ơn chân thành nhất Xin cảm ơn !
Biên Hòa, tháng 06 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị Phượng
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh sách các bảng
Danh sách các hình
Danh sách các sơ đồ
Danh sách các biểu đồ
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
PHẦN MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề 1
Mục đích và ý nghĩa của đề tài 1
Tình hình nghiên cứu 2
Pham vi và phương pháp nghiên cứu 2
Kết cấu của Luận văn 3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN 1.1 Sự ra đời và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn 4
1.2 Vị trí, vai trò của công ty trách nhiệm hữu hạn trong nền kinh tế thị trường 6
Trang 51.4.1 Vốn góp 15
1.4.1.1 Thực hiện góp vốn 15
¾ Tăng, Giảm vốn điều lệ 16
Tăng vốn điều lệ 16
Giảm vốn điều lệ 16
Gửi đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh 17
Điều kiện chia lợi nhuận 18
1.4.1.2 Mua lai vốn góp 19
1.4.1.3 Chuyển nhượng vốn 19
1.4.1.4 Xử lý phần vốn góp trong các trường hợp khác 20
1.4.1.5 Thu hồi phần vốn góp đã hoàn trả hoặc lợi nhuận đã chia 21
1.4.2 Quy chế thành viên công ty 21
1.4 2.1 Xác lập tư cách thành viên 21
1.4.2.2 Quyền và nghĩa vụ của thành viên 22
1.4.2.3 Chấm dứt tư cách thành viên 23
Kết luận chương 1 25
Chương 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 2.1 Định nghĩa 28
2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý 28
2.2.1 Hội đồng thành viên 31
2.2.1.1 Thành phần 31
2.2.1.2 Chế độ làm việc 34
2.2.1.3 Triệu tập họp Hội đồng thành viên 34
2.2.1.4 Điều kiện họp hợp lệ của Hội đồng thành viên 36
Trang 62.2.1.7 Giám Đốc công ty (Tổng Giám Đốc) Điều 55 Luật Doanh Nghiệp 43
2.2.1.8 Ban kiểm soát 46
Kết luận chương 2 49
Chương 3:THỰC TIỄN TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH TẠI CÔNG TY TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 3.1 Giới thiệu sơ lược về công ty 50
3.1.1 Thành lập công ty 50
3.1.2 Sản phẩm công ty và chủng loại phục vụ, tiêu thụ và đối tượng phục vụ 51
3.1.3 Sơ đồ tổ chức công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 53
3.2 Tổ chức nội bộ công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 55
3.3 Hội đồng thành viên và Ban Giám Đốc 56
3.4 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan 56
3.5 Mối quan hệ giữa các cơ quan 63
3.6 Định hướng phát triển 64
3.7 Tổ chức lực lượng lao động quản lý ở công ty 65
3.8 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức của bộ máy công ty TNHHFOAM HWA CHING DONG NAI 65
3.8.1 Đặc điểm về nhiệm vụ sản xuất 65
3.8.2 Đặc điểm về công nghệ sản xuất 66
3.8.3 Đặc điểm về nguồn vốn của công ty 67
3.8.4 Đặc điểm về thị trường, về đối thủ cạnh tranh 67
3.8.5 Đặc điểm về lao động của công ty 71
3.8.6 Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 74
Trang 7CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH CÔNG TY TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI
4.1 Bổ sung thêm phòng Marketing 78
4.2 Xây dựng cơ chế hoạt động 80
4.3 Xây dựng mối quan hệ hợp lý giữa các bộ phận 81
4.4 Tuyển và đào tạo đội ngũ cán bộ 82
4.5 Bố trí cơ cấu nhân lực trong công ty 86
4.6 Một số biện pháp khác 87
Kết luận chương 4 89
KẾT LUẬN 90
KIẾN NGHỊ 91
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 8Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
Director, manager Sales manager Gross dometic product Production manager Financial manager Member Assembly Accounts department Personel department Purchaser department Import-export department Managing director Limited liability Member Vietnam Close corporation Private corporation
Ban kiểm soát Công ty Công nghiệp hóa- hiện đại hóa Đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp Giám đốc Giám đốc kinh doanh Tổng sản phẩm nội địa Giám đốc sản xuất Giám đốc tài chính Hội đồng thành viên Phòng kế toán Phòng nhân sự Phòng thu mua Phòng xuất nhập khẩu Tổng giám đốc Trách Nhiệm Hữu Hạn
Thành viên Việt Nam Công ty khép kín, công ty đóng
Công ty cá nhân
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu cán bộ, nhân viên quản lý và điều hành công ty TNHH
FOAM HWA CHING DONG NAI 73 Bảng 3.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh công ty TNHH FOAM
HWA CHING DONG NAI NĂM 2010 75
WTO
VPA
Shares Common law Warsaw treaty organization
Cổ phiếu Thông luật
Tổ chức thương mại thế giới Hiệp hội nhựa việt nam
Trang 10Hình 2.1 Hội đồng thành viên công ty TNHH FOAM HWA CHING
DONG NAI 32
Hình 2.2 Cổng vào khu công nghiệp Nhơn Trạch II 48
Hình 2.3 Công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 48
Hình 3.1 Văn phòng công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 51
Hình 3.2 Sản phẩm và chủng loại phục vụ, tiêu thụ và đối tượng phục vụ 52
Hình 3.3 Bộ phận Tổng vụ công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 57
Hình 3.4 Bộ phận Kế toán công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 59
Hình 3.5 Bộ phận Sản xuất công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 62
Hình 3.6 Máy móc công nghệ sản xuất của công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 66
Hình 4.1 Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ 85
Trang 11trở lên 29
Sơ đồ 3.1 Công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 53
Sơ đồ 3.2 Tổ chức nội bộ công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG
NAI 55
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức phòng Marketing 79
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thể hiện cơ cấu nguồn nhân lực của công ty TNHH FOAM
HWA CHING DONG NAI 72 Biểu đồ 3.2 Biểu thị cơ cấu cán bộ, công nhân viên quản lý và điều hành
công ty TNHH FOAM HWA CHING DONG NAI 74
Trang 12số chính sách cũ nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cản trở quá trình hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh [12].
Xuất phát từ thực tế trên đồng thời đứng trước những thách thức của quá trình hội nhập khu vực và thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)) phải mạnh để có thể đủ sức cạnh tranh và phát triển Từ
nhận thức trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tổ chức quản lý và điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên – Những vấn đề
lý luận và thực tiễn.”
Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Đề tài đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa lớn về lý luận cũng như thực tiễn trong quá trình nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường và mở cửa để hội nhập với khu vực và thế giới hiện nay Nội dung nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Đề tài sẽ làm rõ những vấn đề tổ chức quản lý và điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên theo Luật Doanh Nghiệp 2005
Trang 13- Thực tiễn tổ chức quản lý và điều hành tại công ty trách nhiệm hữu hạn FOAM HWA CHING DONG NAI
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và điều hành tại công ty trách nhiệm hữu hạn FOAM HWA CHING DONG NAI
Các bài viết chỉ dừng lại ở việc đánh giá các quy định về cơ cấu tổ chức công
ty, khoa học pháp lý chưa xây dựng được các lý luận về cơ cấu tổ chức và điều hành công ty Đồng thời chưa có báo cáo về tình hình thực tiễn của vấn
đề này
Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: tên đề tài là “Tổ chức quản lý và điều hành công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên – những vấn đề lý luận và thực tiễn” Vì vậy tác giả đề cập đến tổ chức quản lý và điều hành công ty
trên cả hai phương diện là lý luận và thực tiễn, nhưng chỉ dừng lại ở loại hình doanh nghiệp: công ty TNHH hai thành viên trở lên
Phương pháp nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu trên nền tảng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac-Lênin Ngoài ra còn các phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp cũng được sử dụng để đánh giá các quan điểm cũng như các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời tác giả nêu lên quan điểm cá nhân của mình
Trang 14 Kết cấu của Luận văn
Trang 15Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
1.1 Sự ra đời và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn
Tìm hiểu lịch sử ra đời của công ty TNHH cho thấy những nét đặc thù của loại hình này ngay từ khi ra đời và trong ý tưởng của những nhà làm luật Châu Âu thiết kế ra nó Đây là loại hình ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của công ty đối nhân và chọn lọc những ưu điểm của công ty đối vốn, nó được xem như là loại hình trung gian giữa hai loại hình này Vì thế công ty TNHH mang những đặc điểm của một công ty đối nhân đồng thời cả những đặc điểm của công ty đối vốn: tính chất đối nhân là số lượng thành viên hạn chế và thường là có quan hệ quen biết nhau còn tính chất đối vốn chính là sự tách bạch về tài sản giữa thành viên công ty với tài sản của công ty, là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các thành viên góp vốn Đó là điểm đặc trưng của loại hình công ty này Nhưng không phải ngay từ khi ra đời những nhà làm luật đã thiết kế công ty TNHH với cả hai loại như ngày nay mà lúc đầu chỉ có công ty TNHH hai thành viên trở lên, tuy nhiên trong thực tế kinh doanh và nhu cầu của nhà đầu tư mà công ty TNHH một thành viên ra đời [6- trang 169] (không phải tất cả các nước trên thế giới đều chấp nhận mô hình này) Mặc dù không còn giữ tính chất liên kết vốn nhưng công ty TNHH một thành viên vẫn giữ bản chất của công ty TNHH là: thành viên hạn chế, chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của thành viên công ty và vấn đề tách bạch tài sản giữa công ty và thành viên công ty vì vậy mà hiện nay đa số các nước trên thế giới chấp nhận mô hình công ty TNHH một thành viên Việt Nam cũng quy định
mô hình này bắt đầu từ Luật Doanh Nghiệp 1999 và hoàn thiện dần trong
Luật Doanh Nghiệp 2005
Trang 16Về tên gọi của công ty thì không được sử dụng thống nhất ở tất cả các nước mà mỗi nước lại có những thuật ngữ khác nhau: ở Hoa Kỳ dùng thuật ngữ close corporation, ở Singapore dùng thuật ngữ private corporation Những thuật ngữ này khi dịch ra cùng một ngôn ngữ thì không giống nhau nhưng có thể nhận thấy được nét đặc trưng mà mỗi thuật ngữ nói đến Ở Việt Nam dùng thuật ngữ công ty TNHH, tuy nhiên công ty Cổ Phần thì cũng có chế độ trách nhiệm hữu hạn vậy, chế độ trách nhiệm hữu hạn không phải tính chất riêng có của loại hình công ty này Giáo trình Luật Thương Mại của Đại học Luật Hà Nội giải thích vấn đề này như sau: do công ty TNHH vừa mang tính chất của công ty đối nhân và công ty đối vốn vì vậy mà dễ nhầm lẫn với công ty đối nhân nên phân biệt rõ ràng ngay từ khi đặt tên [2- trang 239] Như vậy thuật ngữ công ty TNHH không hẳn là thuật ngữ chính xác nhưng chúng đã được hình thành và sử dụng phổ biến và cũng không gây nhiều tranh cãi trong các nhà làm luật
Để đưa ra một khái niệm chung về công ty TNHH không hề đơn giản Luật Doanh Nghiệp cũng không đưa ra khái niệm về công ty TNHH, mà quy định tại Điều 38 về những dấu hiệu của công ty TNHH từ hai thành viên trở lên, ở Điều 63 đưa ra khái niệm về công ty TNHH một thành viên Dựa trên những điểm chung cơ bản giữa hai công ty và hai điều luật có thể đưa ra khái
niệm chung về công ty TNHH như sau: công ty TNHH là doanh nghiệp có
số lượng thành viên hạn chế, thành viên của công ty chịu trách nhiệm về những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi vốn góp và công ty không được phát hành cổ phần
Về bản chất của công ty thì chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu và pháp luật của các nước Ngay trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa thì có quan điểm khác nhau về bản chất của công ty TNHH Hầu hết các luật gia Đức cái nôi của pháp luật công ty TNHH thì cho rằng bản chất của
Trang 17công ty TNHH là công ty đối vốn còn các luật gia nước Pháp lại cho rằng đây
là một loại hình của công ty đối nhân Pháp luật Việt Nam quy định về công ty TNHH ngay từ khi có văn bản pháp luật đầu tiên về công ty là Luật Công Ty
1990, và sau mỗi lần sửa đổi, ban hành luật về công ty mới thì các quy định về công ty TNHH đều có sự thay đổi Sự thay đổi những quy định về công ty TNHH phản ánh sự thay đổi quan niệm của các nhà lập pháp Việt Nam về công ty TNHH Theo đó nhận thấy rằng pháp luật Việt Nam ngày càng nới rộng tính “mở” của loại hình công ty có tính chất “kín” này, nói cách khác đi tính chất “kín” hay tính đối nhân của công ty TNHH ngày càng thu hẹp mà thay vào đó là tính chất “mở” thường thấy của loại hình công ty đối vốn Thêm vào đó nhiều tài liệu chuyên khảo nghiên cứu về loại hình công ty này cũng khẳng định bản chất của công ty TNHH là công ty đối vốn, mối liên hệ giữa các thành viên công ty cơ bản dựa trên phần vốn góp tuy không thể loại
bỏ tính chất đối nhân trong quan hệ giữa các thành viên công ty đây là một đặc trưng và là một thực tế kinh doanh [6 – trang 178]
1.2 Vị trí, vai trò của công ty trách nhiệm hữu hạn trong nền kinh tế thị trường
Doanh nghiệp (Công ty TNHH) có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết
có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo
Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương
Trang 18Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là DN ngành công nghiệp tăng nhanh
là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập
Có thể nói vai trò của DN không chỉ quyết định sự phát triển bền vững
về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề
xã hội
Cùng với phát triển nhanh về số lượng doanh nghiệp và tăng trưởng cao
về sản xuất, thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp tuy còn rất khiêm tốn nhưng bước đầu có những tiến bộ mang tính đột phá quan trọng
Do chất lượng của nhiều loại hàng hoá và dịch vụ được nâng lên rõ rệt, mặt hàng phong phú đa dạng, phong cách tiếp thị hấp dẫn, nên nhiều nhóm sản phẩm đã dần dần chiếm lĩnh được thị trường trong nước như: Hàng may mặc, thực phẩm tiêu dùng, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, các nhóm sản phẩm phục vụ xây dựng, dịch vụ vận tải và nhiều dịch vụ khác Khối lượng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu tăng nhanh về số lượng, phát triển thêm mặt hàng và thị trường ngày càng mở rộng, trong đó khu vực doanh nghiệp chiếm
tỷ trọng quyết định (trên 70% tổng trị giá xuất khẩu), mà vai trò quan trọng là khu vực có đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp Nhà Nước
1.3 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một loại hình công ty, một mô hình tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như các loại hình tổ chức kinh doanh khác
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân được pháp luật thừa nhận (Luật Doanh Nghiệp) Chủ sở hữu công
ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt Trước pháp luật, công ty là
Trang 19pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty
Thành viên công ty không nhiều nhưng nó thường bị giới hạn ở mức tối đa và thường là những người quen biết nhau Do nó mang đặc điểm của công ty đối nhân nên mô hình công ty này có số lượng thành viên không quá lớn Bên cạnh đó, các thành viên của mô hình công ty này thường có mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ, gia đình hay bạn bè, thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ Tính chất của các mối quan hệ này gần giống như của công ty đối nhân (mà điển hình là các hợp danh - partnership)
Bản chất của loại công ty này mang tính đóng chứ không mở như công
ty Cổ Phần Đặc tính này có liên quan chặt chẽ đến việc huy động vốn từ công chúng của loại công ty này trong sự so sánh với công ty Cổ Phần Các loại công ty này thường không được quyền huy động vốn từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng một cách công khai Tuy nhiên, vấn đề cụ thể của việc phát hành chứng khoán có khác nhau ở các quốc gia
Có quốc gia cấm công ty TNHH phát hành mọi loại chứng khoán, có quốc gia cho phép nó phát hành giấy nhận nợ - trái phiếu (debenture) để vay vốn từ bên ngoài Tuy nhiên, tất cả các nước đều không cho nó phát hành cổ phiếu (Shares) để huy động vốn từ công chúng vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu, khi đó nó sẽ trở thành công ty Cổ Phần Dù khả năng huy động vốn từ công chúng đến đâu, tất cả đều không thể làm thay đổi tư cách và số lượng thành viên bằng việc phát hành chứng khoán Về cơ bản, chứng khoán có hai loại: các chứng chỉ đầu tư ở dạng cổ phiếu để trở thành cổ đông công ty và loại thứ hai là các trái phiếu ghi nợ, ai là chủ sở hữu thì họ là chủ nợ của công
ty Tính khép kín, tính đóng của loại công ty này không cho phép nó phát
Trang 20hành cổ phiếu vì phát hành cổ phiếu là huy động thêm vốn điều lệ, người mua
nó sẽ trở thành chủ sở hữu, trở thành thành viên của công ty
Khả năng thay đổi thành viên của loại hình công ty này khó khăn hơn so với công ty Cổ Phần Nếu các cổ đông trong công ty Cổ Phần có thể chuyển nhượng cổ phần một cách dễ dàng thì điều đó lại bị hạn chế hơn trong công ty TNHH Như đã phân tích, công ty TNHH là mô hình công ty "nằm giữa" công ty Cổ Phần và công ty đối nhân, các thành viên công ty thường là những người quen biết, tin cậy nhau, vì vậy nếu các thành viên được tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác thì sẽ có khả năng công ty sẽ tiếp nhận những thành viên mới hoàn toàn xa lạ, không quen biết Vì thế, thông thường điều lệ của công ty TNHH có các quy định mang tính hạn chế việc tự do chuyển nhượng vốn cho người bên ngoài Chẳng hạn như việc chuyển nhượng vốn ra bên ngoài phải được ¾ thành viên đồng ý, hay thành viên muốn chuyển nhượng phải ưu tiên chào bán phần vốn của mình cho các thành viên công ty, nếu các thành viên còn lại không mua hoặc mua không hết, lúc đó mới có thể bán cho người bên ngoài Đây cũng là đặc điểm thể hiện tính khép kín của loại hình công ty này Tuy nhiên, xu hướng pháp luật Thế Giới và Việt Nam hiện nay có sự thay đổi theo hướng dễ dàng hơn đối với việc chuyển nhượng vốn góp của các thành viên công ty TNHH Pháp luật của nhiều nước theo truyền thống Common Law như Anh, Australia để việc xác định điều kiện chuyển nhượng cho các thành viên công ty thông qua bản điều
lệ của họ Ở Việt Nam, Luật DN 1999 và Luật DN 2005 cũng thể hiện sự dễ dàng hơn đối với việc chuyển nhượng vốn góp của các thành viên công ty TNHH so với Luật Công Ty 1990
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây :
Trang 21- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi
- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của công ty
- Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên công ty
- Công ty không được quyền phát hành cổ phần
¾ Đặc điểm thứ nhất: Công ty TNHH có số lượng thành viên hạn chế
Vấn đề này được quy định cụ thể trong Luật Doanh Nghiệp Theo đó công ty TNHH có ít nhất là hai thành viên và nhiều nhất là năm mươi thành viên Như vậy, số lượng thành viên là một trong những điều kiện để xem xét thành lập doanh nghiệp, và trong suốt quá trình thành lập, hoạt động thì phải đáp ứng được yêu cầu này Nếu vượt quá số lượng thành viên thì nó trở thành loại hình khác mà không phải là công ty TNHH Quy định số lượng thành viên có thể thấy là khá giống nhau ở một số nước, pháp luật của Hoa Kỳ, Singapore đều quy định số lượng thành viên tuy không giống nhau về các con
số Số lượng thành viên trong close corporation của Hoa Kỳ không quá ba mươi lăm (các bang khác nhau quy định khác nhau) [7 – trang 58], Singapore
là không quá hai mươi, Malaysia không quá năm mươi thành viên [5 – trang 57] Như vậy câu hỏi đặt ra là tại sao lại quy định số lượng thành viên hạn chế? Vấn đề này có thể giải thích xuất phát từ mục đích xây dựng mô hình công ty TNHH của các nhà làm luật và một số đặc trưng của công ty này Như ta đã biết công ty TNHH ra đời từ hoạt động lập pháp, khi các nhà làm luật nhận ra những ưu điểm và khuyết điểm của công ty đối nhân và công ty đối vốn Trong đó đặc điểm của công ty đối vốn (công ty Cổ Phần) là mô hình cồng kềnh, thích hợp với kinh doanh lớn, đòi hỏi phải có mô hình quản trị
Trang 22điều hành phức tạp, vì vậy nó không thích hợp trong kinh doanh vừa và nhỏ Với mục đích tạo ra mô hình hợp lý cho loại hình kinh doanh vừa và nhỏ mà các nhà làm luật Châu Âu đã đưa ra mô hình công ty TNHH Để thích hợp với mô hình kinh doanh vừa và nhỏ thì không thể có số lượng thành viên quá đông, vì vậy cần giới hạn số lượng thành viên công ty nhằm phát huy những
ưu điểm của loại hình này Vấn đề quy định một con số cụ thể thì tùy thuộc vào quan niệm đánh giá của mỗi nước về tính vừa và nhỏ
Riêng mô hình công ty TNHH một thành viên, khi mới ra đời gặp phải
sự phản ứng của những luật gia theo quan điểm truyền thống cho rằng công ty phải là sự liên kết giữa các thành viên [8 - trang 29], trong khi đó đây
là mô hình một thành viên tương tự như doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên thực tế nó lại khá phổ biến và được nhà đầu tư đón nhận chính vì vậy mà dù không còn giữ tính chất truyền thống nhưng nó đã được chấp nhận trên nhiều nước Công ty TNHH một thành viên đúng như tên gọi chỉ có một thành viên, nếu có những sự kiện làm tăng số lượng thành viên lên thì nó phải chuyển đổi
mà không còn là công ty TNHH một thành viên
¾ Đặc điểm thứ hai: công ty TNHH có tư cách pháp nhân
Tư cách pháp nhân của công ty TNHH được quy định tại Điều 84 Bộ Luật Dân Sự 2005 và đặc điểm này cũng được quy định cụ thể trong khoản 2 Điều 38 và khoản 2 Điều 63 Luật Doanh Nghiệp 2005 Tư cách pháp nhân có
ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình kinh doanh, và những vấn đề pháp lý nói chung Công ty có tư cách pháp nhân tức là nó có tư cách pháp lý độc lập như một nhà đầu tư hay thương nhân tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của nó trong quá trình hoạt động kinh doanh Đây là một lợi thế của công ty đối vốn Những thay đổi về thành viên, vốn của công ty không ảnh hưởng đến
sự tồn tại của công ty Có được tư cách này là do công ty TNHH sở hữu tài sản Khi đăng ký kinh doanh thì thành viên góp vốn phải chuyển quyền sở
Trang 23hữu tài sản sang cho công ty [1 – trang 14] Đó chính là vốn của công ty, thuộc sở hữu công ty và công ty chịu trách nhiệm về hoạt động của mình bằng
Như vậy không thể nói là chủ sở hữu công ty mà là chủ sở hữu phần vốn của công ty Nếu như là chủ sở hữu công ty như doanh nghiệp tư nhân thì người này hoàn toàn có quyền bán công ty, hoặc sử dụng các hoạt động kinh doanh khác với tư cách là chủ sở hữu, mà lại với chế độ trách nhiệm hữu hạn thì sẽ rủi ro như thế nào cho những nhà đầu tư giao dịch với công ty này? Vì vậy theo tác giả cần phải sử dụng thuật ngữ chính xác để thấy rõ được tư cách pháp nhân của công ty TNHH một thành viên
¾ Đặc điểm thứ ba: là thành viên công ty TNHH hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn
nghĩa vụ tài sản khác của công ty
Đúng như tên gọi của nó, thành viên công ty TNHH chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty, tức là khi các nhà đầu tư góp một số vốn để thành lập một công ty TNHH thì có thể có những rủi ro, có lợi nhuận hoặc phải chịu lỗ
Trang 24Nhưng vấn đề đặt ra là giới hạn chịu lỗ đến đâu? Ở các công ty đối nhân khi
mà chế độ tách bạch tài sản của công ty và thành viên công ty không rõ ràng nên đặt ra chế độ trách nhiệm vô hạn đối với các thành viên để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư khác và chủ thể khác Trong công ty TNHH thì khi các thành viên thỏa thuận góp vốn vào công ty để kinh doanh thì số vốn họ góp là giới hạn trách nhiệm Khi công ty hoạt đông kinh doanh bị lỗ, thì tổng số tài sản lớn nhất mà họ có thể thua lỗ chính là phần vốn mà họ đã góp vào công ty Đối với công ty TNHH một thành viên thì thành viên duy nhất cũng có chế độ trách nhiệm cũng giống như thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên Như vậy tỷ lệ vốn góp cũng chính là tỷ lệ phân chia trách nhiệm giữa các thành viên công ty Có thể thấy rõ ràng mối liên hệ giữa tỉ lệ vốn góp đến lợi ích cũng như trách nhiệm mà mỗi thành viên sở hữu Đó chính là đặc trưng của những loại hình công ty đối vốn Chính vì vậy, có thể nói vấn đề cam kết thỏa thuận góp vốn và định giá vốn góp rất quan trọng Không những khi thành lập, góp vốn vào công ty mà khi chuyển nhượng vốn góp thì định giá phần vốn góp và thỏa thuận được về giá cũng là vấn đề đáng phải lưu tâm Tranh chấp về định giá vốn góp là tranh chấp thường thấy trong loại hình công
Trang 25chặt chẽ, thích hợp dành cho mô hình kinh doanh lớn, đòi hỏi có số vốn lớn và
có chế độ tài chính rõ ràng minh bạch So sánh những điều này trong công ty TNHH thì không có được những lợi thế như vậy [4 - trang 310]
Ngay từ đầu chúng ta đã nói đây là mô hình kinh doanh vừa và nhỏ, vấn
đề điều hành quản trị chưa quy mô, kiểm soát một cách chặt chẽ Mặt khác vốn trong công ty này không chia thành các cổ phần mà cơ cấu vốn chia theo
tỉ lệ vốn góp giữa các thành viên Chính vì vậy trong quá trình hoạt động không thể phát hành cổ phần để huy động vốn Và một đặc trưng quan trọng khiến cho công ty TNHH không có được quyền phát hành cổ phần là mối quan hệ giữa các thành viên trong công ty là quan hệ quen biết Như vậy, nếu công ty này được quyền phát hành cổ phần thì vấn đề tất nhiên là sẽ huy động vốn trong công chúng hệ quả là đặc trưng về mối quan hệ quen biết giữa các thành viên công ty sẽ bị phá vỡ và số lượng thành viên công ty không kiểm soát được lúc đó công ty TNHH sẽ không còn là nó với những đặc trưng vốn
có, truyền thống nữa
Trong công ty TNHH một thành viên thì quy định không phát hành cổ phần là đương nhiên vì đây là loại hình công ty một thành viên, không có sự liên kết vốn nên không thể phát hành cổ phần để huy động vốn Tìm hiểu những quy định của pháp luật các nước thì nhiều nước cũng có quy định tương
tự như pháp luật Việt Nam Như trong Luật Công Ty của Singapore quy định, đối với loại hình private corporation (tương tự như loại hình công ty TNHH) không được phát hành cổ phần ra công chúng để huy động vốn Tuy nhiên, cũng không nên coi đó là điểm hạn chế của loại hình này mà mỗi loại hình kinh doanh đều có những đặc trưng của nó và nhà đầu tư với những điều kiện
và khả năng khác nhau có quyền chọn cho mình loại hình kinh doanh phù hợp
Kết luận về công ty TNHH như sau: Đây là chủ thể kinh doanh độc lập mang tính ổn định, và khép kín, thích hợp với mô hình kinh doanh vừa và nhỏ
Trang 26Bản chất là công ty đối vốn bên cạnh đó mang một số đặc điểm của công ty đối nhân Công ty TNHH có tính chất “đóng” [3 – trang 120], kể cả đối với
mô hình công ty hai thành viên trở, tuy có sự liên kết, hùn hạp của nhiều người nhưng mối quan hệ giữa các thành viên công ty, vấn đề về điều hành công ty, quy định tăng giảm vốn điều lệ, chuyển nhượng vốn và những quy định khác thì việc gia nhập vào công ty không phải đơn giản
Cùng với việc thống nhất về bản chất kinh tế và pháp lý của công ty TNHH thì những điều quy định về công ty TNHH cũng được sửa đổi cho phù hợp Quy định về chuyển nhượng vốn là một trong số đó Chuyển nhượng vốn dễ dàng hay khó khăn tùy thuộc vào quan niệm về công ty TNHH như thế nào
Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thông báo bằng văn bản tiến
độ góp vốn đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn và phải chịu trách nhiệm cá nhân về các thiệt hại cho công ty và người khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không chính xác, không trung thực, không đầy đủ (Điều 39.1 Luật DN 2005)
- Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ
và đúng hạn số vốn đã cam kết (Điều 39.2 Luật DN 2005)
Trang 27- Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn
đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cách sau đây: Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp; huy động người khác cùng góp vốn vào công ty; các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty Sau khi số vốn còn lại được góp đủ theo quy định tại khoản này, thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty và công ty phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này (Điều 30.3 Luật DN 2005)
¾ Tăng, giảm vốn điều lệ
- Trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc tiếp nhận thêm thành viên phải được
sự nhất trí của các thành viên, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác [11]
Giảm vốn điều lệ
Theo quyết định của Hội đồng thành viên, công ty có thể giảm vốn điều
lệ bằng các hình thức sau đây:
Trang 28Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm, kể từ ngày đăng ký kinh doanh; đồng thời vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên; mua lại phần vốn góp theo quy định của luật này; điều chỉnh giảm mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản giảm xuống của công ty [11]
Gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, công ty phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan đăng ký kinh doanh Thông báo phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
Tên, địa chỉ trụ sở chính, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nơi đăng ký kinh doanh; họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với thành viên là tổ chức; phần vốn góp của mỗi thành viên; vốn điều lệ; số vốn dự định tăng hoặc giảm; thời điểm, hình thức tăng hoặc giảm vốn; họ, tên, chữ ký của chủ tịch Hội đồng thành viên, người đại diện theo pháp luật của công ty
- Đối với trường hợp tăng vốn điều lệ, kèm theo thông báo phải có quyết định của Hội đồng thành viên Đối với trường hợp giảm vốn điều lệ, kèm theo thông báo phải có quyết định của Hội đồng thành viên và báo cáo tài chính gần nhất; đối với công ty có phần vốn sở hữu nước ngoài chiếm trên 50% thì báo cáo tài chính phải được xác nhận của kiểm toán độc lập
Cơ quan đăng ký kinh doanh đăng ký việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo
• Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp thuận
Trang 29Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Hội đồng thành viên chấp thuận:
Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty; người có liên quan của những người quy định tại Điểm a khoản này; Người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ; người có liên quan của người quy định tại Điểm c khoản này Người đại diện theo pháp luật của công ty phải gửi đến các thành viên Hội đồng thành viên, đồng thời niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành Trường hợp Điều lệ không quy định thì Hội đồng thành viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết; trong trường hợp này, hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự đồng ý của số thành viên đại diện ít nhất 75% tổng số vốn có quyền biểu quyết Thành viên có liên quan trong các hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết
Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được giao kết không đúng quy định Người đại diện theo pháp luật của công
ty, thành viên có liên quan và người có liên quan của thành viên đó phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó [11]
Điều kiện chia lợi thuận
Căn cứ Điểm d và Điểm đ khoản 1 Điều 41 Luật DN 2005 qui định công
ty chỉ được chia lợi nhuận cho các thành viên khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản Đồng thời vẫn phải bảo đảm thanh toán
đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả khác sau khi chia lợi nhuận
Trang 301.4.1.2 Mua lại vốn góp
- Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó bỏ phiếu không tán thành đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây:
+ Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên; tổ chức lại công ty; Các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn mười lăm ngày,
kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề quy định
+ Khi có yêu cầu của thành viên, nếu không thỏa thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
1.4.1.3 Chuyển nhượng vốn
Trừ trường hợp quy định, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:
Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày chào bán (Xem thêm Điều 44 Luật DN 2005)
Trang 311.4.1.4 Xử lý phần vốn góp trong các trường hợp khác
- Trong trường hợp thành viên là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty
- Trong trường hợp có thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân
sự thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người giám hộ
- Phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định trong các trường hợp sau đây:
Người thừa kế không muốn trở thành thành viên; người được tặng cho theo quy định không được Hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên; thành viên là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản
- Trường hợp phần vốn góp của thành viên là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự
- Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác
-Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ
ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty
-Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận
- Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai cách sau đây:
Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận; chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định
Trang 321.4.1.5 Thu hồi phần vốn góp đã hoàn trả hoặc lợi nhuận đã chia
Trường hợp hoàn trả một phần vốn góp do giảm vốn Điều lệ trái với quy định hoặc chia lợi nhuận cho thành viên trái với quy định thì các thành viên phải hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản khác đã nhận hoặc phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty cho đến khi các thành viên đã hoàn trả đủ số tiền, tài sản khác đã nhận tương đương với phần vốn đã giảm hoặc lợi nhuận đã chia
1.4.2 Qui chế thành viên
1.4 2.1 Xác lập tư cách thành viên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình DN rất được ưa chuộng hiện nay Muốn thành lập Công ty TNHH phải có tối thiểu hai thành viên, tư cách thành viên Cty được xác lập kể từ khi thành viên cam kết góp vốn vào Công ty căn cứ Điều 39.1 Luật DN 2005
Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết [1]:
- Trường hợp thành viên thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết thì phải được sự nhất trí của các thành viên còn lại; công ty thông báo nội dung thay đổi đó đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể
từ ngày chấp thuận sự thay đổi Việc góp đủ hay chưa đủ vốn theo cam kết
không phải là yếu tố quyết định trong việc xác lập tư cách thành viên
- Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì
số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với Cty tại Điều 39.2 Luật DN 2005
Trang 33Nếu sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn
đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cách trong điều 39.3 Luật DN
1.4.2.2 Quyền và nghĩa vụ của thành viên
- Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có các quyền sau đây:
Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên; có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp; kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ đăng ký thành viên, sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm, sổ biên bản họp Hội đồng thành viên, các giấy tờ
và tài liệu khác của công ty; được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản; được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ; được quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp theo quy định của Luật này; khiếu nại hoặc khởi kiện Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi không thực hiện đúng nghĩa vụ, gây thiệt hại đến lợi ích của thành viên hoặc công ty theo quy định của pháp luật; định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty; các quyền khác theo quy định của Luật này và điều lệ công ty
- Thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu trên 25% vốn điều lệ hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do điều lệ công ty quy định, trừ trường hợp quy định,
Trang 34có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn
đề thuộc thẩm quyền
- Trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 75% vốn điều lệ và điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định thì các thành viên thiểu số hợp nhau lại đương nhiên có quyền như quy định
- Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty; không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định
- Tuân thủ Điều lệ công ty
- Chấp hành quyết định của Hội đồng thành viên
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này
- Chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện các hành
vi sau đây:
Vi phạm pháp luật; tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công
ty
1.4.2.3 Chấm dứt tư cách thành viên
Tư cách thành viên chỉ chấm dứt khi:
Căn cứ Điều 44.1 và Điều 44.2 Luật DN 2005 thì thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác Căn cứ theo Điều 45 Luật DN 2005,
tư cách thành viên chấm dứt trong trường hợp thành viên là cá nhân chết hoặc
bị tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty và người kia đương nhiên
Trang 35không còn là thành viên của công ty nữa Trường hợp thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền và nghĩa vụ của hành viên đó trong công ty được thực hiên thông qua người đại diện (giám hộ) [12]
Phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định tại Điều 43 và Điều 44 của Luật này căn cứ Điều 45.3 Luật DN
2005
Sổ thành viên
¾ Lập sổ đăng ký thành viên
Công ty phải lập sổ đăng ký thành viên ngay sau khi đăng ký kinh doanh
Sổ đăng ký thành viên phải có các nội dung chủ yếu sau:
a Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty
b Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân Tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết đinh thành lập hoặc
số đăng ký kinh doanh với thành viên là tổ chức
c Gía trị vốn góp tại thời điểm góp vốn và phần vốn góp của từng thành viên, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn
d Chữ ký của thành viên là cá nhân hoặc của người đại diện theo pháp luật của thành viên là tổ chức
e Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp của từng thành viên
¾ Nơi lưu giữ sổ thành viên
Sổ đăng ký thành viên được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ở chương 1, đề tài tập trung làm rõ một số đặc trưng cơ bản về công ty TNHH, tìm hiểu về lịch sử ra đời và phát triển của công ty TNHH Đây là loại hình công ty ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của công ty đối nhân và chọn lọc những ưu điểm của công ty đối vốn, vì vậy công ty TNHH mang đặc điểm của cả hai loại hình công ty này Nhưng không phải ngay từ khi ra đời
đã có cả loại hình công ty TNHH hai thành viên và công ty TNHH một thành viên, mà chỉ có một loại hình đó là công ty TNHH hai thành viên Do trong thực tế kinh doanh và nhu cầu của nhà đầu tư nên loại hình công ty TNHH một thành viên đã ra đời Mặc dù nhiều nước khác nhau trên thế giới có tên gọi khác nhau về loại hình công ty này Nên thật là khó mà đưa ra một khái niệm chính xác cho loại hình công ty này, chính vì thế mà Luật Doanh Nghiệp
2005 không đưa ra khái niệm về công ty TNHH, mà nó chỉ qui định những dấu hiệu nhận biết về công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Điều 38 và Điều
63 đối với công ty TNHH một thành viên Từ hai khái niệm này, ta có thể đưa
ra khái niệm chung về công ty TNHH như sau:
Công ty TNHH là công ty có số lượng thành viên hạn chế, thành viên công
ty chịu trách nhiệm về những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình, công ty không được quyền phát hành cổ phần
Công ty TNHH có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo sản phẩm trong nước (GDP)
Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định đến chuyển dịch cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân
Trang 37Ngoài ra chương 1 cũng đề cập tới chế độ tài chính của công ty TNHH, quy chế thành viên công ty “làm thế nào để trở thành thành viên của công ty”, quyền và nghĩa vụ của thành viên, chấm dứt tư cách thành viên.
Trang 38Chương 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH
CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ mười một thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát (BKS); trường hợp có ít hơn mười một thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát
do Điều lệ công ty quy định
Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty [1- trang22]
Cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên theo quy định của pháp Luật Doanh Nghiệp;
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ mười một thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát; trường hợp có ít hơn mười một thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn,
Trang 39điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định
Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty [1 – trang 22]
Về mặt pháp lý, từ ý tưởng đi đến hiện thực trong kinh doanh phải trải qua một giai đoạn được gọi là đăng ký kinh doanh Khi pháp luật công nhận một thực thể pháp lý đủ điều kiện tiến hành hoạt động kinh doanh thì khi đó ý tưởng mới thật sự được triển khai Vậy, thực thể pháp lý đó là gì? Trong bài viết này, tôi xin được giới thiệu về Công ty trách nhiệm hữu hạn, một trong các loại hình công ty khi đăng ký kinh doanh hiện nay
Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần
2 2 Cơ cấu tổ chức quản lý
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Công ty TNHH có từ mười một thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát; trường hợp có ít hơn mười một thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện
Trang 40và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công
Cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể được minh họa bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên
HĐTV
BAN KIỂM SOÁT GIÁM ĐỐC (TỔNG
GIÁM ĐỐC) CHỦ TỊCH HĐTV