Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tung ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng với khẩu hiệu “hãy sản xuất ra cái mà khách hàng th
Trang 1Lời mở đầu
Trong những năm qua, khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mỗi doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể kinh tế của quá trình tái sản xuất xã hội Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế như được tiếp thêm sức mạnh mới, không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng, số lượng cũng như quy mô hoạt động Trải qua những hoàn cảnh hết sức khó khăn và thử thách các doanh nghiệp từng bước khẳng định vị thế của mình trên thương trường, đóng góp một phần to lớn vào sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế nước nhà
Thị trường luôn luôn biến động, luôn có sự đào thải theo quy luật vốn có của nó
Và một điều cốt lõi, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trên thị trường bắt buộc phải có: vốn, lao động và trình độ quản lý, đó là điều kiện hết sức cơ bản nhưng không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng áp dụng và tận dụng nó một cách triệt để vào công việc kinh doanh của đơn vị mình Vấn đề đặt ra là doang nghiệp sẽ đứng vững và phát triển trên thị trường, các hoạt động kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả tốt hay giậm chân tại chỡ, hay thậm chí làm ăn thua lỗ và đi đến phá sản? Câu trả lời hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức năng lực và khả năng nắm bắt thị trường của các nhà quản lý
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mỗi doanh nghiệp vừa là người sản xuất, đồng thời vừa là người trực tiếp tiêu thụ sản phẩm của mình làm ra, doanh nghiệp phải đảm bảo mục tiêu cuối cùng của mình là lợi nhuận Thị trường luôn thay đổi và nhu cầu ngày càng cao Thị trường đã trở thành một vấn đề quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tung
ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng với khẩu hiệu “hãy sản xuất ra cái mà khách hàng thích, bán và sản xuất cái mà khách hàng cần”, thêm vào đó chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến nó đồng thời cố gắng giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm để phù hợp với thu nhập của
Trang 2người tiêu dùng Từ những cơ sở đó xây dựng chiến lược lâu dài nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Điều đó tạo được chữ tín với khách hàng, mà chữ tín trong kinh doanh
là tài sản vô hình lớn nhất của doanh nghiệp, nhờ tài sản này mà doanh nghiệp sẽ phát huy được thế mạnh riêng, phát triển liên tục và bền vững để vươn lên chiếm lĩnh thị trường
Qua lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy con người là yếu tố quan trọng, tất yếu cần phải có trong mỗi doanh nghiệp, yếu tố con người quyết định sự thành công của doanh nghiệp Vì vậy việc thu hút lao động, bố trí lao động mới, sắp xếp lại lao động, giải quyết các quan hệ lao động là những yếu tố quan trọng của chức năng quản trị Bất kỳ một doanh nghiệp nào đều muốn chiến thắng trong cạnh tranh, có uy tín chỗ đứng trên thị trường Muốn vậy không có cách nào khác là phải duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có vị thế ổn định, đảm bảo cho việc tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả tốt nhất Điều đó phụ thuộc vào trình độ chiếm được thị phần lớn trên thị trường vai trò của các nhà quản lý, mặt khác giúp cho doanh nghiệp có thể tận dụng đến mức cao nhất các ưu thế về nguồn lực, hạn chết được nhiều rủi ro nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong kinh doanh
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào cơ bản tạo nên hệ thống kinh tế quốc dân của mỗi nước Doanh nghiệp có phát triển kinh doanh tốt mới giúp cho đất nước phồn vinh và phát triển Vì vậy các chủ doanh nghiệp phải biết cách kinh doanh để làm giàu cho bản thân, cho doanh nghiệp và cho đất nước Muốn có được kết quả như vậy các doanh nghiệp phải tìm cho mình một thị trường tiêu thụ sản phẩm thích hợp Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để duy trì thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới
Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt là điều tất yếu Để tồn tại và phát triển, tất cả mọi doanh nghiệp đều vừa phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh, vừa phải tìm mọi cách thuyết phục và lôi kéo khách hàng Trước thực tế đó cùng với những kiến thức tích luỹ trong quá trình hoc tập tại Công Ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai (FUTURE STAR CORP), tôi đã nghiên
Trang 3cứu tìm hiểu, phân tích và đi sâu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty Và đó là lý
do thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài:
Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của Công ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai (Taxi Future)
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, dịch vụ Taxi đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội Hoạt động dịch vụ Taxi ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt và trở thành một ngành kinh tế rất quan trọng ở nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trong những năm gần đây, dịch vụ Taxi nói riêng và Việt Nam nói chung đang trong tình trạng cạnh tranh rất gay gắt Chỉ riêng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã
có khoảng trên 30 công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Taxi, tổ chức hoạt động, có kinh nghiệm trong việc tổ chức, thu hút vốn đầu tư, thu hút nguồn khách Dưới những áp lực và cạnh tranh đó, để có vị thế lớn mạnh trên thị trường các công ty kinh doanh lĩnh vực dịch vụ Taxi đã không ngừng đổi mới, phát triển công ty nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh
Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai được thành lập từ năm 2007, trải qua ba năm hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh, còn nhiều vấn đề vướng mắc cần được giải quyết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Sau khi nghiên cứu tình hình cạnh tranh của Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai, tôi
quyết định chọn đề tài: " Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của Công ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai ( Taxi Future)"
1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu
Trong năm 2008 và 2009 vừa qua mặc dù nền kinh tế Việt Nam bị khủng hoảng nhưng các đơn vị kinh doanh taxi vẫn phát triển tốt bằng chứng là các hãng taxi vẫn tăng đầu xe và nâng cao chất lượng dòng xe của mình nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng taxi ngày càng cao tại TP.HCM và các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai
Vào năm 2010 khi nền kinh tế ổn định hơn các dự án đầu tư của nước ngoài đang tăng mạnh đặc biệt các dự án về bất động sản ( toà nhà văn phòng, căn hộ cao cấp, các khu du lịch nghĩ dưỡng,…) đang được đầu tư mạnh sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng taxi ngày càng cao
Trang 5Bên cạnh đó do chủ trương siết chặt quản lý đối với xe taxi dù, đây cũng là cơ hội
để taxi chính hãng phát triển Do đó việc cạnh tranh để giành thị trường, thu hút khách hàng của các hãng taxi sẽ ngày càng lớn Nếu như không hiểu rõ đổi thủ thì khả năng giành thị trường là rất khó khăn
1.3 Quan điểm chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt là điều tất yếu Hiện nay, ngành công nghiệp không khói đem lại nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, góp phần bảo tồn và phát triển nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc Nhận thức được điều này, dich vụ Taxi phát triển mạnh mẽ, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp kinh doanh dịch vu taxi ra đời hàng loạt Sự phát triển về quy mô cũng như số lượng các doanh nghiệp taxi một mặt đã tạo ra bước ngoặt trưởng thành của ngành dịch vụ Taxi, mặt khác tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn giữa các công ty trong cùng lĩnh vực Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển được các công ty kinh doanh dịch vụ luôn luôn phải tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác
Nhận thức được vấn đề này, sau khi thực tập tại Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai, thấy được áp lực cạnh tranh của các công ty kinh doanh dịch vụ Taxi trên địa bàn TP.HCM là rất lớn Đồng thời thấy được những lợi thế, điểm mạnh của Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai Tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của Công ty Cổ
Phần Ngôi Sao Tương Lai ( Taxi Future)” để góp phần giảm bớt áp lực cạnh tranh của công ty so với các công ty khác trên địa bàn TP.HCM
1.4 Những tư liệu được sử dụng (liệt kê)
Sử dụng các tư liệu, thông tin trên internet
Các tư liệu do công ty cung cấp và tư liệu thu thập trong quá trình thực tập
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Thiết lập đề cương chi tiết cho đề tài nghiên cứu khoa học
Trang 6Phương pháp phân tích, thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan Phân tích cơ
sở lý luận đề ra giải pháp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh, đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty
Sử dụng phương pháp so sánh, đánh giá khả năng cạnh tranh so với các công ty khác
Sử dụng phương pháp khảo sát phỏng vấn khách hàng
Trang 7CHƯƠNG 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỨC CẠNH
TRANH CỦA CÔNG TY
2.1 Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Trong mọi phương diện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo, hướng suy nghĩ và hành động của con người Hoạt động sản xuất kinh doanh là một mảng quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vươn lên không đơn thuần là trở thành người đứng đầu mà có thể là sự thành công trong một lĩnh vực nào đó hay là đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh luôn bị chi phối bởi tính kinh tế khắc nghiệt nhất là cạnh tranh Cạnh tranh luôn gắn liền với thị trường vì cạnh tranh được hình thành và phát triển trong lòng thị trường Vậy cạnh tranh là gì?
2.1.1 Quan niệm về cạnh tranh [ 7 ]
Khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội Vấn đề cạnh tranh kinh tế, về mặt lý luận, từ lâu đã được các nhà kinh tế học trước C.Mác và chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã đề cập đến
Khi đi nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là : Quy luật điều chỉnh
tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá cả và chi phí sản xuất và khả năng
có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận
Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực trong nền kinh tế thị trường Trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng cũng đã ghi rõ: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn
Trang 8tính lẫn nhau” Trong mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001-2005 Đảng ta khẳng định cần phải: “Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được dùng ở đây là cách gọi tắt của cụm từ cạnh tranh kinh tế – một dạng cụ thể của cạnh tranh
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các quy luật thị trường, như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu…
Do cách tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong thực
tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: cạnh tranh là quan hệ nhằm phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa Đó
là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành được những điều kiện thuận lợi nhất để thu được lợi nhuận siêu ngạch về phía mình Cạnh tranh còn là phương thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội Tính chất cạnh tranh bị chi phối bởi bản chất kinh tế - xã hội của những chế độ xã hội đó
Tính cạnh tranh đơn thuần là khả năng sinh lợi trong kinh doanh Một gánh bún riêu vỉa hè làm ăn có lãi là có tính cạnh tranh cao hơn một nhà hàng 5 sao nhưng làm ăn thua lỗ Cái gì quyết định tính cạnh tranh của doanh nghiệp? Là khả năng cung cấp được cái gì thị trường đang cần, với một giá hợp lý với cái chất lượng của sản phẩm được cung cấp và làm ăn có lãi Ai là người xác định tính cạnh tranh của doanh nghiệp? Là doanh nhân, từ sự đam mê, khả năng và những cơ hội kinh doanh đặc thù của họ Vì mỗi người có một đam mê (làm giàu và làm cái gì mình thích thú), khả năng và cơ hội khác nhau, cho nên bản chất của mỗi doanh nhân và hoàn cảnh đặc thù của họ cho họ một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, hoàn toàn không giống với ai Vì vậy, chỉ có doanh nhân mới chính là người khẳng định được lợi thế của riêng mình và biết lợi dụng thời thế để tạo anh hùng Nếu họ làm ăn có lãi, doanh nghiệp họ có tính cạnh tranh Nếu họ không thành công thì chính họ hoặc người khác sẽ lấy bài học thất bại đó để làm tốt hơn Nếu
Trang 9cơ hội kinh doanh có thực và khả thi, thì chắc chắn người sau sẽ làm hay hơn người trước, cầu sẽ có cung
Luật cạnh tranh là một bộ luật được ban hành nhằm qui định các hành vi cạnh tranh và các hành vi khác liên quan Tại nước Việt Nam, luật cạnh tranh được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và ban hành ngày 03 tháng 12 năm
2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2005 Luật gồm 6 Chương, 123 Điều, áp dụng với mọi tổ chức cá nhân doanh nghiệp, mọi hiệp hội, ngành nghề hoạt động ở Việt Nam và quy định các hành vi của các cơ quan tổ chức, cơ quan quản lý Nhà nước liên quan Điều 1 chương 1 của luật chỉ rõ phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định
về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh Sứ mệnh cơ bản của luật cạnh tranh là:
• Khẳng định và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của doanh nhân
• Duy trì và ổn định trật tự cạnh tranh
• Góp phần hình thành ý thức cạnh tranh lành mạnh
• Góp phần khơi thông dòng chảy và điều tiết cạnh tranh
Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại
Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận trong mọi hoạt động kinh tế đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng
Trang 10làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội Một trong những khó khăn là không có một sự đồng nhất trong quan niệm về cạnh tranh Lý do là thuật ngữ này được sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia Khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay của một ngành công nghiệp chỉ cần xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hoá hay dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải có trợ cấp
Với các quan niệm về cạnh tranh như trên, có thể rút ra khái niệm về cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: “ Cạnh tranh của doanh nghiệp là một quá trình trong đó các doanh nghiệp luôn phải ganh đua với nhau, tìm mọi biện pháp – cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn – để đạt được mục tiêu kinh doanh của mình, thông thường chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích”
Cạnh tranh là cuộc chạy đua kinh tế liên tục không hề có đích đến Đó chính là quá trình mà các chủ thể luôn luôn phải vươn lên, mọi sự cải tiến ở một bên đều là đối trọng cho bên thứ hai (đối thủ cạnh tranh) Cạnh tranh luôn đi đôi với mạo hiểm, nhưng không mạo hiểm, không cạnh tranh là mạo hiểm với chính bản thân mình Sự đứng yên hay thụt lùi là tự sát, là phá sản đối với doanh nghiệp Vậy sự cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường Không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường Trong kinh tế thị trường, khả năng (năng lực) cạnh tranh cao là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
2.1.2 Phân loại cạnh tranh. [ 5 – trang 3 ]
Phân loại cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu về cạnh tranh Phân loại cạnh tranh nhằm nhận thức rõ về từng loại hình cạnh tranh để từ đó có những phản ứng thích hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể
2.1.2.1.Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt Những người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua có tham vọng mua được hàng hoá với giá rẻ nhất Giá cuối cùng là
Trang 11sự cân bằng và thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình thương lượng
và tạo nên giá cả thị trường
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Chỉ xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu Tức khi lượng hàng hoá dịch vụ cung ứng trên thị trường khiến cho hàng hoá trên thị trường trở nên khan hiếm và người mua sẽ chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần, điều này khiến cho giá cả hàng hoá leo thang không ngừng Kết quả cuối cùng là người bán thu lợi nhuận tối đa còn người mua thì chịu thiệt hại
Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường, mang tính chất gay go và quyết liệt nhất quyết định tính chất sống còn của doanh nghiệp Cuộc cạnh tranh này thường trong trường hợp cung lớn hơn cầu và khi đó người bán sẽ cạnh tranh với nhau làm tăng thêm lượng hàng hoá tiêu thụ cho công ty mình; tăng tỷ lệ thị phần cung (tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất) Quy luật cạnh tranh khắc nghiệt sẽ lần lượt đào thải ra khỏi thị trường những doanh nghiệp nào không có chiến lược kinh doanh thích hợp và giữ lại các doanh nghiệp nào không có chiến lược kinh doanh thích hợp và giữ lại các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hơn hẳn các đối thủ trên thị trường
2.1.2.2 Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay thuần tuý: Là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoa là không thay đổi trong toàn bộ địa danh của thị trường, bởi
vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường.Trong điều kiện đó không có công ty (nhà kinh doanh) nào có đủ sức mạnh có thể ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm của mình trên thị trường Do đó, cả hai bên mua bán đều phải chấp nhận giá cả đang phổ biến trên thị trường thông qua quan hệ cung cầu
Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền
• Độc quyền nhóm: Tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có it người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được giá cả của các sản phẩm của mình không phụ
Trang 12thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh quan trọng trong ngành
• Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là một hình thức cạnh tranh mà ở đó người bán
có thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau trong các sản phẩm của mình
về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác Trong rất nhiều trường hợp người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá Trong hình thức cạnh tranh này
có nhiều người bán về cơ bản là giống nhau, có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo, hay nói cách khác độ co giãn của cầu theo giá là cao nhưng không phải vô cùng Trong ngành cạnh tranh kiểu này, quy
mô cạnh tranh của các doanh nghiệp có thể lớn, vừa hoặc nhỏ nên các doanh nghiệp mới gia nhập ngành tương đối dễ và các doanh nghiệp trong ngành rời bỏ cũng dễ dàng nếu việc kinh doanh của họ trở nên không có lãi
2.1.2.3 Căn cứ vào phạm vi ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất ra một loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, cùng phục vụ một tập khách hàng trọng điểm, kết quả là hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn bị hấp dẫn bởi các ngành có lợi nhuận cao nên có sự dịch chuyển vốn
từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận hơn Sự chuyển dịch này sau một thời gian vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất để rồi kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau cùng một số vốn chỉ thu được lợi nhuận như nhau, tức là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận chung cho tất cả các ngành
2.1.2.4 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Hay còn gọi là cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế Cạnh tranh quốc tế
có thể diễn ra ở ngay thị trường nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước sản xuất với hàng ngoại nhập (nhất là hàng nhập lậu)
Trang 132.1.3 Những tác động tích cực và tiêu cực của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Cạnh tranh, làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật,
áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội
2.2 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
2.2.1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. [7]
Khả năng cạnh tranh, sức cạnh tranh, hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
đã được nói tới nhiều khi chúng ta bàn luận về sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay Vậy chúng ta phải hiểu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như thế nào?
Quan điểm tân cổ điển (dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống): Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm thể hiện qua lợi thế so sánh vầ chi phí sản xuất và năng suất Theo đó khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty được đánh giá cao hay thấp
Trang 14tuỳ thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì ci phí sản xuất vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh
Quan điểm tổng hợp của Vardwer, E.Martin và R.Westgren: Khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước Như vậy, lợi nhuận và thị phần là hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, lợi nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của công ty càng cao Ngược lại, lợi nhuận và thị phần càng giảm hoặc nhỏ phản ánh khả năng cạnh tranh của công ty hạn chế hoặc chưa cao
Từ các quan điểm trên có thể rút ra kết luận: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng tạo ra, duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu chi phí sản xuất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và tạo sự khác biệt cho sản phẩm làm ra”
2.2.2 Phân biệt khái niệm lợi thế cạnh tranh và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. [8]
2.2.2.1 Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để
“nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, chúng ta nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm cho doanh nghiệp, có tính vi mô chứ không phải có tính vĩ mô ở cấp quốc gia Như vậy không có cái gọi là “lợi thế Việt Nam” mà chỉ có lợi thế của doanh nghiệp A hoặc doanh nghiệp B
Theo quan điểm của Michael Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững Theo Michael Porter lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được
2.2.2.2 Vị thế cạnh tranh
Trang 15Vị thế cạnh tranh là việc xác định cách thức công ty làm khác biệt hoá cái mà công ty cung cấp và giá trị công ty đem đến thị trường Điều này sẽ đánh dấu vị trí của công ty trong cuộc cạnh tranh và thúc đẩy công ty đưa ra chiến lược cạnh trạnh phù hợp
“Ưu thế cạnh tranh lâu dài duy nhất của doanh nghiệp chính là có được năng lực học tập nhanh hơn đối thủ cạnh tranh” Những doanh nghiệp thành công nhất của thế kỷ 21 sẽ là những công ty xây dựng nền móng trên tổ chức mô hình học tập Trong nền kinh tế lấy tri thức làm chủ đạo, trong các doanh nghiệp hiện đại theo mô hình tập trung tri thức, thì năng lực học tập trở thành năng lực cơ bản của doanh nghiệp, là nguồn gốc để doanh nghiệp dành ưu thế cạnh tranh
Vị thế cạnh tranh được Michael E.Porter định nghĩa là làm theo một cách khác để đạt đến một mục tiêu khác
2.3 Các tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty
2.3.1 Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Những giá trị nào quyết định lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp? Đó là sự thôi thúc, đam mê, khả năng và bản chất đặc thù của người doanh nhân cộng với điều kiện hoàn cảnh cá nhân, tài nguyên sẵn có, nhu cầu của thị trường mà họ tiếp cận được, tạo ra những cơ hội kinh doanh đặc thù để doanh nhân có thể nắm bắt Như vậy mỗi doanh nhân có mỗi lợi thế khác nhau
2.3.2 Một số tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.[ 5 – trang 20]
Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, bao gồm
cả chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng Một số chỉ tiêu định tính thường được sử dung là : chỉ số về chất lượng, sự khác biệt của sản phẩm, mức độ cải tiến sản phẩm, phát triển và cung ứng sản phẩm mới, sự linh hoạt về giá, mức độ mềm dẻo trong quyết định điều chỉnh giá, mức độ hoàn thiện, liên kết trong hệ thống phân phối, sự phù hợp,
đa dạng của các biện pháp xúc tiến thương mại, mức độ tin tưởng của khách hàng, người cung ứng, kỹ năng của nhân viên…Các chỉ tiêu định lượng bao gồm thị phần, lợi nhuận
và tỷ suất lợi nhuận, năng suất lao động,…
Chúng ta chỉ đi xem xét một vài chỉ tiêu sau:
Trang 162.3.2.1 Thị phần
Thị phần hay tỷ lệ thêm nhập thị trường được hiểu là phần chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành Thực chất nó là phần thị trường mà doanh nghiệp có được trong một thời kỳ nhất định Có thể chia thị phần làm hai: Phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối và phần chiếm lĩnh thị trường tương đối
• Phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối: Là phần trăm kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với kết quả tiêu thụ sản phẩm cùng loại của tất cả các doanh nghiệp bán trên cùng một thị trường
QDN
Thị phần của doanh nghiệp = Q x100(%)
Trong đó:
- MDN là doanh thu doanh nghiệp thực hiện được trên thị trường
- M doanh thu của toàn ngành hiện có trên một thị trường
• Phần chiếm lĩnh thị trường tương đối: Là tỷ lệ giữa phần chiếm lĩnh thị trường một cách tuyệt đối của doanh nghiệp so với phần chiếm lĩnh thị trường một cách tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành
MDN
Thị phần tương đối =
MĐT
x100(%)
Trang 17Trong đó:
- MDN doanh thu của doanh nghiệp trên thị trường
- MĐT doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành trên cùng một thị trường
Vậy, thị phần tuyệt đối là chỉ tiêu có thể dùng so sánh giữa các đối thủ cạnh tranh cới nhau và với doanh nghiệp nhưng thị phần tương đối chỉ có thể được dùng so sánh giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành Đây là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thị phần được coi là một công cụ để đo lường vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp càng cao đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh cao của doanh nghiệp Bởi thực chất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và phát triển thị phần Nếu daonh nghiệp có phạm vi thị trường nhỏ hẹp, điều đó có nghĩa doanh nghiệp đang bị chèn ép, thị phần bị thu hẹp bởi các đối thủ cạnh tranh
2.3.2.2 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận: Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu cua doanh nghiệp và tổng chi phí trong một thời kì nhất định
Lợi nhuận = Tổng doanh
thu
-Tổng chi phí -
Các khoản phải nộp
Lợi nhuận không chỉ là thu nhập mặc nhiên của vốn đầu tư mà còn là phần thưởng cho những ai dám chấp nhận rủi ro và mạo hiểm Do đó, lợi nhuận phản ánh khả năng sử dụng các công cụ cạnh tranh cũng như khả năng cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp càng lớn
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là tỷ lệ so sánh giữa lợi nhuận và doanh thu thuần thu được trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định, doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp càng cao, khả năng cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp càng lớn
Trang 18LN
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = M x100(%)
Trong đó:
- LN: Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ (lợi nhuận trước thuế)
- M: Doanh thu thuần đạt được trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí, chỉ tiêu này phản anh mức lợi nhuận trên một đồng chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này càng lớn, khả năng cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp càng lớn Tuy nhiên, với mức lợi nhuận cao, chi phí thấp sẽ lôi kéo các doanh nghiệp khác thâm nhập thị trường dễ dàng Do đó, doanh nghiệp phải chia sẻ thị phần với đối thủ mới Thậm chí doanh nghiệp có nguy cơ bị đẩy ra khỏi thị trường nếu không biết tận dụng lợi thế đi trước của mình Vì vậy, với mức chi phí cao, lợi nhuận hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp có được lợi nhuận ổn định hơn trong tương lai
LN
Tỷ suất lợi nhuận trên
tổng chi phí = GV + F x100(%)
Trong đó:
- GV: Trị giá vốn của hàng hoá bán ra
- F: Chi phí bỏ ra để đạt doanh thu
2.3.2.3 Năng suất lao động
Năng suất lao động là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động là giá trị sản lượng được sản xuất ra bởi một đơn
vị lao động hay vốn Năng suất lao động càng cao, khả năng tạo ra lượng giá trị trên một đơn vị thời gian của một đơn vị lao động hay vốn càng lớn Đây là điều kiện hạ thấp giá thành sản phẩm, hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại thì năng suất lao động được hiểu là mức tiêu thụ hàng hoá bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian
Trang 19Mức tiêu thụ hàng hoá Năng suất lao động của một
nhân viên bán hàng = Số nhân viên bán hàng
Số nhân viên bán hàng hoặc =
Mức tiêu thụ hàng hoá
Tăng năng suất lao động luôn gắn liền với giảm hao phí lao động, giảm giá thành sản xuất kinh doanh Tăng năng suất lao động chính là một yếu tố làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều đó được thể hiện:
• Tăng năng suất lao động là một yếu tố để không ngừng mở rộng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp, tạo điều kiện để phục vụ tốt khách hàng
• Tăng năng suất lao động là điều kiện để các doanh nghiệp tiết kiệm hao phí lao động, tiết kiệm chi phí, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp và cho
xã hội, cải thiện đời sống của người lao động trong doanh nghiệp
Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao doanh nghiệp càng có nhiều điều kiện tiết kiệm chi phí, mở rộng kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, từ
đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
2.3.2.4 Tỷ suất chi phí và chi phí Marketing
Tỷ suất chi phí là tỷ lệ giữa tổng chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được từ chi phí
đó Tỷ suất chi phí phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 202.3.3 Phương pháp và công cụ đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.[5 – trang 10]
2.3.3.1 Cạnh tranh giá cả
Trước hai loại hàng hoá có cùng công dụng, chức năng như nhau, người tiêu dùng
sẽ lựa chọn hàng hoá nào có giá cả thấp hơn Giá cả hàng hoá là thuộc tính căn bản của một sản phẩm, thực tế nó là một phần của sản phẩm Trong kinh doanh, giá cả là một yếu tố nhạy cảm, một tề bào thần kinh của thị trường Người ta có thể thay đổi giá nhanh hơn bất cứ yếu tố nào khác của Marketing –mix và đặc tính này góp phần quan trọng cho việc tăng hay giảm giá chiến thuật của nó
Giá cả của hàng hoá được quyết định bởi giá trị hàng hoá, mặt khác phụ thuộc vào khả năng thanh toán (mức sống) của người tiêu dùng thông qua quan hệ cung – cầu trên thị trường Với mức sống còn thấp, người tiêu dùng thông thường tìm mua hàng hoá
có giá rẻ, phù hợp với khả năng thanh toán của họ Vì vậy người sản xuất khôn ngoan trong trường hợp này sẽ làm hàng hoá với chất lượng bình thường nhưng giá cả thấp để thu hút khách hàng có khả năng thanh toán thấp về mình Ngược lại khi mức sống cao, người tiêu dùng sẽ quan tâm đến hàng hoá có chất lượng tốt, chấp nhận giá cao
Với một doanh nghiệp sử dụng chiến lược cạnh tranh dẫn đầu về giá nhằm phân phối đại trà sản phẩm ra thị trường, để có thể định giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh khi vẫn muốn duy trì một mức lợi nhuận mong muốn, đòi hỏi doanh nghiệp phải có thiết
bị sản xuất hiệu quả, tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và đường kinh nghiệm, giảm thiểu chi phí nghiên cứu phát triển, dịch vụ khách hàng và quảng cáo – nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm Nhờ việc duy trì được giá thành thấp nên doanh nghiệp có thể han chế được sự thâm nhập thị trường của các thành viên mới, duy trì lợi nhuận trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt; đồng thời, với thị phần cao, doanh nghiệp có vị thế thương lượng cao với nhà phân phối Từ đó doanh nghiệp có thể duy trì mức lợi nhuận trên trung bình Tuy nhiên, không phải lúc nào giảm giá cũng có thể bán được hàng vì trên thực tế giảm giá
có thể dẫn tới các hành động trả đũa của đồi thủ, có thể dẫn tới giảm giá lâu dài của tất
cả mọi người bán, mặt khác còn gây nghi ngờ cho khách hàng về chất lượng sản phẩm
Trang 21Giá cả là một công cụ rất linh hoạt, được dùng phổ biến trong cạnh tranh nhưng không phải lúc nào nó cũng là một công cụ hữu hiệu để giành chiến thắng Do đó, doanh nghiệp cần phải căn cứ vào tập khách hàng mục tiêu của mình cũng như điều kiện thị trường để có thể đưa ra quyết định về giá và chất lượng phù hợp nhất nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
2.3.3.2 Cạnh tranh bằng chất lượng
Chất lượng sản phẩm từ lâu đã trở thành công cụ cạnh tranh sắc bén đối với các doanh nghiệp Từ khi mới gia nhập thị trường, các doanh nghiệp phải ý thức được rằng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một phương thức hữu hiệu Bởi chất lượng là động lực kích thích người tiêu dùng mở hầu bao mua sản phẩm của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà khách hàng bị choáng ngợp trong vô vàn những sản phẩm cùng loại thì chất lượng là yếu tố quyết định đến lực chọn sản phẩm của khách hàng Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm còn nâng cao uy tín doanh nghiệp trên thị trường
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp không còn cách lựa chọn nào khác là phải kinh doanh hướng vào chất lượng, coi chất lượng là một trong những mục tiêu hàng đầu Nếu doanh nghiệp nào không coi trọng chất lượng thì coi như doanh nghiệp đang tự loại mình ra khỏi cuộc chơi
Ngày nay, khách hàng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Hầu hết khách hàng đều mong đợi người cung ứng cung cấp cho họ những sản phẩm hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của họ Vì vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa hết sức to lớn đối với doanh nghiệp Các doanh nghiệp coi
“ Hệ thống quản lý chất lượng” như là một nội dung cơ bản của mỗi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Nói đến chiến lược là nói đến vấn đề mang tính khoa học, đòi hỏi có sự nỗ lực và kết hợp rất cao của nhiều nhân tố khác nhau như: con người, thiết bị, nguyên vật liệu
Thực tiễn cho thấy rằng, chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm hoàn toàn có thể được bù đắp bằng một hiệu quả kinh doanh do một hệ thống quản lý chất lượng hữu hiệu mang lại Và những tổn thất do chất lượng kém, không phù hợp, hoàn toàn có thể điều
Trang 22chỉnh được và giảm thiểu Rõ ràng, nâng cao chất lượng sản phẩm làm tối thiểu hoá các chi phí vô ích trong sản xuất Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh rất lớn cho doanh nghiệp
2.3.3.3 Hệ thống kênh phân phối
Kênh phân phối của doanh nghiệp là một tập cấu trúc lựa chọn có chủ đích giữa các nhà sản xuất, các trung gian phân phối với người tiêu dùng cuối cùng để tổ chức phân phối và vận động hàng hoá hợp lý nhất cho tập khách hàng tiềm năng, trọng điểm, trực tiếp và cuối cùng của doanh nghiệp Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi nó hạn chế tình trạng ứ đọng hàng hoá trong khâu lưu thông, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng, tiết kiệm chi phí, tăng nhanh vòng quay vốn
Tính phức tạp ngày càng tăng của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần trong giai đoạn đổi mới kinh tế - xã hội đẩy người sản xuất ngày càng tách xa người tiêu dùng cuối cùng hiện tại và trong tương lai Tuy nhiên các kênh phân phối đã tạo ra được mối liên hệ và những nhà sản xuất ngày càng phụ thuộc vào các trung gian để điều hành các mối liên hệ với người tiêu dùng Và vì thế doanh nghiệp cần phải có biện pháp điều hành quản trị kênh phân phối sao cho có hiệu quả nhất Điều hành hiệu quả phải luôn tìm được một quyết định thực hiện đầy đủ các thời cơ có thể có Doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình kênh phân phối phù hợp sao cho có hiệu quả kinh doanh lớn nhất
Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải quan trị kênh phân phối như thế nào
để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Một trong những yếu tố cấu thành nên kênh đó
là thành viên kênh Đây có thể coi là yếu tố trọng điểm quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về hệ thống kênh phân phối Chính vì thế, việc quản trị kênh phân phối đòi hỏi sự lựa chọn và kích thích từng thành viên và đánh giá hoạt động của
họ theo thời gian
Với mạng phân phối của mình, doanh nghiệp thường đặt ra định mức doanh số cho cơ sở trực thuộc sau mỗi thời kỳ Doanh nghiệp có thể cho lưu hành một danh sách mức doanh số đạt được của từng thành viên, đồng thời có so sánh tỷ lệ tăng trưởng trung bình của cơ sở, thị phần đạt được để làm tiêu chuẩn đánh giá
Trang 23Nhìn chung, hệ thống phân phối đòi hỏi những thay đổi thường kỳ để đáp ứng với điều kiện mới trong thị trường mục tiêu Sự thay đổi trở thành cần thiết khi những khuôn mẫu mua hàng của người tiêu dùng thay đổi, thị trường gia tăng, cạnh tranh mạnh hơn và những kênh phân phối mới xuất hiện
Ngày nay, các doanh nghiệp không thể không quan tâm tới hệ thống kênh phân phối hàng hoá dịch vụ khi mà tác động của nó tới hiệu quả kinh doanh là vô cùng to lớn Thậm chí nó còn là yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh mạnh mẽ cho doanh nghiệp Chính vì thế doanh nghiệp có thể lựa chọn một hệ thống kênh phân phối tối ưu để làm một trong các vũ khí cạnh tranh hữu hiệu
2.3.3.4 Dịch vụ khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường phát triển, dịch vụ là một tronh những khâu được các nhà kinh doanh chú ý đến nhì6u nhất bởi vì người tiêu dùng sẽ lựa chọn những doanh nghiệp có những hoạt động dịch vụ thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ Dịch vụ thường là những hoạt động đánh vào tâm lý người tiêu dùng rất hiệu quả Vì thế, mỗi doanh nghiệp muốn cuốn hút khách hàng, muốn tạo ra ưu thế so với các doanh nghiệp khác thì phải đầu tư và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ của mình Các hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp có thể được thực hiện trước, trong và sau khi bán hàng tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh
Như vậy, các hoạt động dịch vụ cũng là vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả Mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu để tìm cho mình những cách thức phục vụ tối ưu để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nói riêng đến các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ta thấy rằng họ đã bắt đầu chú
ý đến những khâu dịch vụ bởi vì họ đã nhận ra rằng hoạt động dịch vụ hỗ trợ rất đắc lực cho các hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn Chính vì vậy trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đã nổi trội hơn hẳn các doanh nghiệp khác trên thị trường đôi khi không phải là do chất lượng sản phẩm của họ tốt hơn mà là họ đã biết sử dụng những hoạt động dịch vụ đi kèm rất hiệu quả
Cạnh tranh trong nền kinh tế chủ yếu là ở hoạt động dịch vụ Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường nói chung đều giống nhau ửo chất
Trang 24lượng Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp thể hiện ưu thế của mình đều bằng các hoạt động dịch vụ Dịch vụ sẽ là nam châm thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp
2.3.3.5 Các hoạt động xúc tiến thương mai
Quảng cáo, đó là hoạt động thông qua các phương thức tuyên truyền để tuyên truyền một cách rộng rãi các loại hàng hoá, các thông tin dịch vụ nhằm đạt mục đích và mở rộng ảnh hưởng, đi vào lòng người và tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tất nhiên, sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu tuỳ thuộc vào chất lượng của sản phẩm Nhưng một sản phẩm có chất lượng tốt, nếu được quảng cáo thì hiệu quả tiêu thụ sẽ lớn hơn nhiều Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá phát triển, phần lớn hàng hoá, dịch vụ đều phải được quảng cáo, đặc biệt là những sản phẩm mới vì chúng chưa được mọi người biết đến Trong điều kiện đảm bảo chất lượng hàng hoá dịch vụ thì việc cố gắng nâng cao hiệu quả tuyên truyền quảng cáo dịch vụ cũng là biên pháp để doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong kinh doanh Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ các cách quảng cáo, dùng phương thức gì để quảng cáo, áp dụng những kỹ xảo quảng cáo nào, lợi dụng những dịp nào để quảng cáo sao cho mang lại hiệu quả cao nhất
Khuyến mại: Doanh nghiệp có thể sử dụng phiếu mua hàng, bao gói theo giá ưu đãi,
thưởng phiếu lĩnh thưởng Đây là những phương tiện cơ bản làm cơ sở cho hoạt động nhằm kích thích người tiêu dùng được hưởng quyền ưu đãi giảm giá khi mua một loại hàng cụ thể, thường là một loại hàng hoá được bán với giá thấp hay thậm chí được cho không để khuyến khích khách hàng Phiếu lĩnh thưởng là một loại hình lĩnh thưởng đặc biệt mà người tiêu dùng có thể nhận được khi mua hàng hoá và có thể đem những phiếu đó để đổi lấy hàng ở những điểm đổi phiếu riêng.Với những loại hàng hoá mới gia nhập thị trường, doanh nghiệp thường sử dụng phương thức phát hành hàng dùng thử nhằm làm cho khách hàng có những tiếp cận với hàng hoá một cách nhanh nhất Doanh nghiệp cũng sử dụng hình thức tặng kèm quà khuyến mại vào sản phẩm hàng hoá bán ra nhằm kích thích khả năng mua sắm của khách hàng, đẩy mạnh bán ra, qua đó tăng doanh thu tăng lợi nhuận
Tham gia hội chợ: Hội chợ là nơi trưng bày sản phẩm của doanh nghiệp trong khu
vực hoặc trong và ngoài nước Hội chợ là nơi gặp gỡ các nhà sản xuất với nhau, giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng Hội chợ cũng là nơi doanh nghiệp tham quan để tìm kiếm mặt
Trang 25hàng mới, ký kết hợp đồng mua bán kỹ thuật
Nói tóm lại, việc lựa chọn hình thức quảng cáo và xúc tiến như thế nào phải dựa vào những nhân tố như tính năng, đặc điểm của loại hàng hoá, dịch vụ , giá sử dụng cũng như phạm vi sử dụng và khả năng chi phí cho quảng cáo Hiệu quả của quảng cáo và xúc tiến bán hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường nói riêng và việc thực hiện các mục tiêu trong kinh doanh của doanh nghiệp nói chung trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh khác
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty [7]
2.4.1 Các nhân tố nội tại công ty
2.4.1.1 Các yếu tố bản thân doanh nghiệp
Bao gồm các yếu tố về con người (chất lượng, kỹ năng); các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường); các yếu tố về vốn… các yếu tố này chia làm 2 loại:
• Loại 1: các yếu tố cơ bản như: môi trường tự nhiên, địa lý, lao động;
• Loại 2: các yếu tố nâng cao như: thông tin, lao động trình độ cao…
Trong đó, yếu tố thứ 2 có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chúng quyết định lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công nghệ có tính độc quyền Trong dài hạn thì đây là yếu tố có tính quyết định phải được đầu tư một cách đầy
đủ và đúng mức
2.4.1.2 Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh
Sự phát triển của hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu được quản lý và tổ chức trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của nó Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và thay đổi nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ
2.4.2 Các nhân tố bên ngoài công ty
2.4.2.1 Nhu cầu của khách hàng:
Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này thì có hạn chế về mặt
Trang 26khác Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt nhất những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của mình Nhu cầu khách hàng còn có thể gợi mở cho doanh nghiệp để phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ mời Các loại hình này có thể được phát triển rộng rãi ra thị trường bên ngoài và khi đó doanh nghiệp là người trước tiên có được lợi thế cạnh tranh
2.4.2.2 Các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ:
Sự phát triển của doanh nghiệp không thể tách rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ như: thị trường tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin… Ngày nay, sự phát triển của công nghệ thông tin, các ngân hàng có thể theo dõi và tham gia vào thị trường tài chính 24/24 giờ trong ngày
Ngoài ra, còn hai yếu tố mà doanh nghiệp cần tính đến là những cơ hội và vai trò của Chính Phủ Vai trò của Chính Phủ có tác động tương đối lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là trong việc định ra các chính sách về công nghệ, đào tạo
và trợ cấp
Trang 27CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY
3.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai được thành lập từ ngày 01/02/2007 với chức năng và nhiệm vụ là: mua bán hàng điện tử, hạt nhựa Kinh doanh vận tại hàng bằng ô tô Kinh doanh vận chuyển hàng khách công cộng bằng xe taxi, xe buýt Đại lý bán vé máy bay Sửa chữa ô tô
Thời kỳ mới thành lập công ty do ông Võ Văn Ba làm tổng giám đốc và có trụ sở chính đặt tại 397B Võ Văn Tần,
Hình 3.1: 800 xe Ford Focus ra quân
Trải qua hai năm hoạt động đến năm 2009, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, công ty đã có nhiều sự thay đổi đáng kể Công ty đã sát nhập với Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Ô tô Phương Trang, trở thành một công ty con của Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Ô tô Phương Trang, được đăng ký chính thức thay đổi từ ngày 12/05/2009 Công ty có sự thay đổi về cổ đông trong đó Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc
Ô tô Phương Trang ( đại diện: bà Nguyễn Thị Như Mai) chiếm tỷ lệ góp vốn là 50%, bà Nguyễn Thị Như Mai với tỷ lệ góp vốn là 35% và ông Võ Văn Ba có tỷ lệ góp vốn là 15% Công ty vẫn do ông Võ Văn Ba làm tổng giám đốc Có tổng số vốn điều lệ là
Trang 2890.000.000.000 (90 tỷ đồng)
Hiện tại:
• Tên công ty bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN NGÔI SAO TƯƠNG LAI
• Tên công ty viết bằng tiếng Anh: FUTURE STAR CORPORATION
• Tên công ty viết tắt: FUTURE STAR CORP
3.1.2.1 Cơ cấu tố chức của công ty
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức của công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai
Đại hội đồng cổ đông
Phòng
kỹ thuật
Phòng hành chính – nhân sự
Phòng điều hành
Phòng tổng đài
Phòng
kế toán
Ban kiểm soát
Trang 293.1.2.2 Mục đích và nhiệm vụ hoạt động của công ty
Mục đích và nội dung hoạt động của công ty
Công ty cổ phần Ngôi Sao Tương Lai là một công ty chuyên kinh doanh dịch vụ taxi, được liên doanh, liên kết với mọi thành phần kinh tế khác trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi theo pháp luật quy định
Công ty thực hiện hạch toán kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, đảm bảo có lãi để hoạt động, mở rộng quy mô kinh doanh, đồng thời giải quyết thoả đáng, hài hoà lợi ích cá nhân người lao động, của công ty và nhà nước theo kế hoạch đạt được trong khuôn khổ luật pháp quy định
Ngoài những khách hàng vãng lai thì đối với các khách hàng là khách hàng cứng công ty trực tiếp ký hợp đồng với các khách hàng, đối tác trong nước cũng như nước ngoài Đảm bảo phục vụ nhu cầu của khách hàng Ngoài ra công ty còn tham gia vào các hoạt động kinh doanh khác như: bán ô tô, cho thuê ô tô, …
Nhiệm vụ kinh doanh
Nâng cao hiệu quả và mở rộng kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường
Thực hiện phân phối lao động và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình
độ văn hóa, nghề nghiệp cho cán bộ công nhân viên
Mở rộng liên doanh, hợp tác, kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài
Đẩy mạnh và phát triển dịch vụ taxi để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong nước và nước ngoài
3.1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận trong công ty
Đại hội đồng cổ đông:Đại hội cổ đông là hội đồng cao nhất hoạch định chiến lược kinh doanh, nghiên cứu và phát triển của toàn công ty Kể từ khi thành lập công ty cổ phần tới nay, Đại hội đồng cổ đông đã tiến hành họp 6 tháng một lần, đã bầu cử ra các cơ quan
chức năng, các chức vụ chủ chốt của Công ty như Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát
Hội đồng quản trị:Hội đồng Quản trị do Đại hội đồng cổ đông tín nhiệm bầu ra Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị toàn bộ mọi hoạt động của công ty, các chiến lược, kế hoạch sản xuất và kinh doanh trong nhiệm kỳ của mình Đây cũng là đại diện pháp lý
Trang 30của Công ty trước pháp luật
Ban kiểm soát:
Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên
Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông
Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trong thời hạn mười lăm ngày,kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu
Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại Hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông, Tổng Giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm
và có giải pháp khắc phục hậu quả
Tổng giám đốc:
Tổng giám đốc công ty là người quản lí công ty theo chế độ một thủ trưởng có quyền quyết định việc điều hành các hoạt động của công ty theo đúng chính sách pháp luật của nhà nước, chịu trách nhiềm trước nhà nước và tập thể lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 31Tổng giám đốc là người đại diện toàn quyền của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có quyền quyết định bộ máy quản lý, bảo đảm hoạt động có hiệu quả
- Xây dựng các phương án kinh doanh trình giám đốc, nếu được phép thì tiến hành thực hiện các doanh vụ thông qua hợp đồng kinh tế với khách hàng trên cơ sở đem lại hiệu quả kinh tế
- Phối hợp chặt chẽ với các phòng ban khác trong công ty nhằm đạt được hiệu quả kinh tế chung cao nhất
Phòng tổng đài:
Chức năng : giải quyết yêu cầu, thắc mắc khiếu nại cho khách hàng hiểu
Nhiệm vụ:
- Thông báo giá nếu khách hàng hỏi
- Giải quyết khiếu nại của khách hàng
- Thực hiện hạch toán kế toán mọi thành phần kinh tế của công ty theo đúng chế
độ, chính sách của nhà nước quy định
- Xác định hiệu quả kinh tế dự án kinh doanh của công ty, theo dõi giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các nghiệp vụ về tài chính kế toán của công ty và nộp nghĩa vụ đối với nhà nước
Trang 32- Lập kế hoạch tài chính của công ty, huy động và quản lí các nguồn vốn
- Hướng dẫn các nghiệp vụ về tài chính và theo dõi giám sát công tác tài vụ của các đơn vị trực thuộc
- Tư vấn cho giám đốc các thông tin có liên quan đến tài chính
- Giải quyết tai nạn, va quẹt
- Thu hồi công nợ
- Các vấn đề liên quan đến pháp luật
Phòng kỹ thuật:
Chức năng : Sửa chữa xe
Nhiệm vụ :
- Sửa chữa xe có vến đề về kỹ thuật
- Sơn sửa xe, trang trí xe
Phòng hành chính – nhân sự:
Chức năng: giúp đỡ cho giám đốc trong lĩnh vực quản lí lao động, quản lí hành chính để đảm bảo các điều kiện về làm việc, sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng lao động cho công ty
Nhiệm vụ:
- Xây dựng các phương án tổ chức lao động và bộ máy quản lí, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, điều lệ hoạt động, mối quan hệ công tác của các phòng ban trong công ty
Trang 33- Tham mưu cho giám đốc về các chế độ tuyển dụng, đào tạo và bố trí lao động của công ty, hưỡng dẫn khách dến cơ quan giao dịch
- Lập kế hoạch lao động tiền lương, mua sắm, sửa chữa, quản lý, bảo dưỡng các tài sản của công ty
- Theo dõi giám sát các chế độ làm việc, tạo điều kiện lao động, an toàn lao động, đảm bảo vệ sinh y tế trong khu vực làm việc, tổ chức thi đua khen thưởng, kỷ luật lao động, thực hiện chế độ chính sách về lao động, giải quyết các chế độ hưu trí
và bảo hiểm xã hội cho người lao động
- Quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên, tổ chức công tác dân quân tự vệ, phòng cháy chữa cháy của đơn vị và thường trực cơ quan 24/24 giờ
- Giám sát việc giao dịch với khách hàng nước ngoài, thực hiện thông tin quảng cáo, phiên dịch, biên dịch
- Quản lí các thông tin đến và đi
3.1.3 Lĩnh vực kinh doanh của công ty
Mua bán hàng điện tử, hạt nhựa Kinh doanh vận tải hàng bằng ô tô Kinh doanh vận chuyển hàng khách công cộng bằng xe taxi, xe buýt Đại lú bán vé máy bay Sửa chữa ô tô ( không hoạt động tại trụ sở) Bán buôn ô tô Bán buôn mô tô, xe máy Cho thuê ô tô Bán lẻ ô
tô con
Tuy nhiên lĩnh vực chủ yếu của công ty là kinh doanh dịch vụ taxi
3.2 Tổng quan về kinh doanh taxi
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực taxi là một hoạt động phối hợp của một tập thể con người và phương tiện nhằm khai thác tối đa về hiệu suất vận hành, thời gian kinh doanh,
để đạt được lợi nhuận cao nhất Thông qua việc cung cấp một dịch vụ taxi tốt nhất cho khách hàng với giá cả hợp lý nhất, thời gian ngắn nhất và đảm bảo lợi ích của khách hàng được tối ưu hoá
Với quan điểm không chỉ quan tâm đếm việc tìm khách hàng mới, tạo ra khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềm năng, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc lưu giữ khách hàng cũ
và tìm kiếm trở lại khách hàng đã mất
Do đặc tính kinh doanh của taxi là một hoạt động kinh doanh có phương thức đặc thù
Trang 34riêng Các lái xe là người cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng, là bộ mặt cùa công ty Nên trong kinh doanh taxi không chỉ đòi hỏi bộ phận kinh doanh tiếp thị phải có chuyên môn, có kinh nghiệm mà còn yêu cầu cả lái xe, tổng đài đều phải biết vận dụng kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, khả năng giao tiếp, sự hiểu biết vể đặc tính của từng đối tượng khách hàng, thói quen của từng khách hàng, để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, thu hút tối đa khách hàng, tạo uy tín cho công ty
Trong giai đoạn 1 và 2: Khi khách hàng phát sinh nhu cầu nào có nghĩa họ cần được
thoả mãn nhu cầu đ1o của họ, ví dụ: nhu cầu đi du lịch, nhu cầu đi taxi, nhu cầu mua sắm,… Và đề thoả mãn nhu cầu trước tiên họ sẽ tìm kiếm thông tin các nơi có thể cung cấp dịch vụ về nhu cầu mà họ cần
Như vậy về phía các nhà cung cấp để tạo được sự chú ý, sự quan tâm, lựa chọn
Phát sinh nhu cầu
Tìm kiếm thông tin
Hành vi thái độ của khách hàng trong khi và sau khi sử dụng
dịch vụ Quyết định sử dụng Đánh giá thông tin để lựa
Trang 35của khách hàng Trong giai đoạn này các nhà cung cấp nên có nhưng chương trình quảng cáo mang tính giới thiệu về thương hiệu của mình Quảng cáo tiếp thị sao cho nổi bật được nhưng ưu điểm về dịch vụ của mình, nhằm tạo ra ấn tượng cho khách hàng Quảng cáo nhằm mục tiêu định vị thương hiệu trong trí nhớ của khách hàng Thông thường để định vị thương hiệu các đơn vị thường áp dụng các phương pháp quảng cáo gây ấn tượng thông qua thị giác và thính giác của khách hàng bằng số lần lặp lại
Giai đoạn 3 và 4: Sau khi đã có các thông tin về nhà cung cấp, khách hàng sẽ cân nhắc
đánh giá các sản phẩm nào? dịch vụ nào? thương hiệu nào? họ cảm thấy sử dụng tốt, phù hợp với nhu cầu họ cần
Như vậy các doanh nghiệp cần có nhưng chương trình quảng cáo thuyết phục đưa
ra những ưu điểm của mình Như quảng cáo giới thiệu mang tính so sánh nhằm làm cho khách hàng bị thuyết phục bởi những ưu điểm về dịch vụ của mình Đồng thời đưa ra những hoạt động xúc tiến bán hàng trực tiếp với khách hàng nhằm thuyết phục khách hàng chọn sản phẩm dịch vụ của mình, như hoạt động tiếp thị trực tiếp với khách hàng, tặng phiếu sử dụng thử dịch vụ, tổ chức các chiến dịch cho nhân viên tiếp thị đến tận nơi
để giới thiệu, thuyết phục, đối với FUTURE chúng ta, cần nhấn mạnh đến ưu thế về chất lượng xe, sự sang trọng, tiện nghi, an toàn của dịch vụ
Giai đoạn 5: Hành vi thái độ của khách hàng trong khi sử dụng, sau khi sử dụng, đây là
giai đoạn mà khách hàng sẽ nhận xét và đánh giá về chất lượng dịch vụ, sản phẩm mà họ
sử dụng Giai đoạn này họ sẽ đánh giá việc quảng cáo của doanh nghiệp có đúng không
và họ sẽ quyết định có sử dụng lại thương hiệu đó nữa hay không Và để thành công trong giai đoạn này các nhà cung cấp phải làm cho khách hàng cảm nhận được những lợi ích, sự khác biệt đặc trưng từ dịch vụ mà họ đã cung cấp cho khách hàng, thậm chí phải làm cho khách hàng cảm thấy tự hào và hãnh diện khi sử dụng dịch vụ Ví dụ: Như khi
sử dụng taxi FUTURE khách hàng sẽ cảm thấy hãnh diện khi đi trên một chiếc xe đẹp đời mới, chất lượng cao Về đặc điểm trong kinh doanh taxi giai đoạn này rất quan trọng, những yếu tố khách hàng đánh giá là thời gian cung cấp dịch vụ, thái độ tác phong phục
vụ của tài xế có lịch sự tận tuỵ không, hành lý bỏ quên có được gửi lại không
Do nhân viên lái xe là người trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách hàng, nên
Trang 36ngoài khả năng lái xe giỏi, an toàn, thì người lái xe cũng phái có kiến thức về kinh doanh, tiếp thị, giao tiếp, cũng như cung cách phục vụ khách hàng Ví dụ: khi khách hàng đã chọn và yêu thích đi xe FUTURE nhưng khi khách hàng yêu cầu xe, chúng ta đã kịp thời cung cấp dịch vụ cho họ chưa? và chúng ta cũng không biết được chính xác số lượng khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ chúng ta một lần rồi không sử dụng nữa, do rất nhiều nguyên nhân như: thái độ phục vụ của lái xe, thời gian cung cấp dịch vụ, …
Trong kinh doanh taxi, bộ phận xử lý giải quyết khiếu nại, phàn nàn của khách hàng, nắm vai trò hết sức quan trọng có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề có thể gây mất khách hàng, thực hiện nhiệm vụ chắm sóc, lôi kéo và ngăn chặn việc mất khách hàng đồng thời có những ghi nhận về thông tin phản hồi từ phía khách hàng giúp công ty kịp thời điều chỉnh
Trong một chu trình phục vụ khách hàng của dịch vụ taxi ta thấy có hai thành phần tham gia trực tiếp với khách hàng đó là tổng đài và lái xe, và có mối quan hệ tương tác qua lại như sau:
Sơ đồ 3.2: Mối quan hệ giữa khách hàng với công ty
3.2.2 Các đối tượng khách hàng trong thị trường taxi
Có thể phân thành 3 nhóm sau:
Nhóm 1: Là những khách hàng cá nhân, gia đình, khách du lịch, khách nuớc ngoài… đối
Khách hàng
Tổng đài Lái xe
Trang 37tượng khách hàng này có nhu cầu không thường xuyên và cũng không theo quy luật thời gian nhất định nào Khi có nhu cầu thì họ trực tiếp gọi đến những đơn vị taxi mà họ biết, nhớ số, hoặc là họ bắt một loại taxi nào đó đang đứng gần đó mà họ cũng hiểu rõ về uy tín công ty, về giá cả, chất lượng dịch vụ
Về đặc tính của nhóm khách hàng này là không trung thành dễ thay đổi, khi có dịch vụ nào mới, tốt hơn, giá cả hợp lý hơn thì họ sẽ sử dụng dịch vụ đó
Nhóm 2: Nhóm khách hàng này là nhóm khách hàng của các khách sạn, nhà hàng, vũ
trường, bệnh viện, …Khi có nhu cầu khách hàng thường thông qua tiếp tân, bảo vệ của các đơn vị trên để gọi xe Do đó các đơn vị này sẽ có ảnh hưởng đến việc yêu cầu và sự lựa chọn dịch vụ của họ Lượng khách này tương đối lớn cần khai thác mạnh
Đặc điểm của nhóm khách hàng này là: tương đối dễ hợp tác và việc chăm sóc đối tượng khách hàng này cũng thuận lợi hơn, tuy nhiên phải có mức trích hoa hồng cho các điểm tiếp thị, các nơi trực tiếp gọi xe dùm
Về đặc tính phục vụ: nhóm khách hàng này thường đòi hỏi phải đáp ứng được thời gian phục vụ nhanh nhất
Nhóm 3: Đối tượng khách hàng này là những công ty, công ty nước ngoài, văn phòng
đại diện, các đơn vị hành chánh sự nghiệp,… Những nơi này có lượng cán bộ công – nhân viên thường xuyên đi công tác bằng phương taxi theo đánh giá của các đơn vị taxi lượng khách này là lượng khách lớn thường xuyên và ổn định Là khách hàng mục tiêu của các đơn vị kinh doanh taxi Về đồi tượng khách hàng này trong thời gian qua chúng
ta chưa khai thác triệt để do chưa triển khia được hình thức thanh toán, chưa thực sự tiện lợi, ví công ty chủ yếu hoạt động ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai, chưa mở rộng qua các tỉnh thành khác
Đặc điểm của nhóm khách hàng này là: có nhu cầu thường xuyên ổn định và tương đối trung thành với dịch vụ đã chọn Về phía đơn vị cung cấp dịch vụ đối với nhóm khách hàng này cũng thuận lợi hơn hai nhóm khách hàng trên do chúng ta có thể tiếp xúc trực tiếp được với các đội tượng khách hàng này, tuy nhiên đối tượng khách hàng này thường khó tính đòi hỏi xe phải có chất lượng cao, tài xế phục vụ tốt, có nghiệp
vụ giói, đôi khi phải biết ngoại ngữ
Trang 38Về phương thức bán hàng cho nhóm đối tượng khách hàng này cần có các phương thức trả chậm như thanh toán theo kỳ (theo tháng, theo quý hoặc năm), thẻ hội viên,… và cũng phải có mức chiết khấu ưu đãi để khuyến khích họ ký hợp đồng dài hạn
3.3 Thực trạng về cạnh tranh và môi trường cạnh tranh của công ty
3.3.1 Sự cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn của Công ty là những Công ty không trong ngành có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai, những đối thủ này thường rất khó xác định để có biện pháp hạn chế ảnh hưởng đến những mục tiêu của Công ty trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn của công ty FUTURE STAR CORP có thể là những Công ty đang hoạt động ở những lĩnh vực khác nhảy vào cạnh tranh cùng Công ty hoặc có thể là những Công ty tư nhân mà sự tồn tại của nó là không bền vững Nó có thể tồn tại trong một thời gian thuận lợi sau đó giải thể, khi nào thấy có điều kiện thuận lợi nó lại hình thành và chiếm lĩnh thị trường của Công ty Những Công ty loại này thường không có nhiều nhân viên, họ không phải lo lắng đến chế
độ cho nhân viên khi Công ty khó khăn… chính điều này là một thuận lợi khá lớn cho họ trong việc cạnh tranh giá cả cùng các Công ty trong ngành Cách thức làm việc này chỉ mang tính cơ hội, chất lượng hàng hoá không đảm bảo và đồng đều; cách thức kinh doanh này có thể gây ảnh hưởng không tốt về cảm nhận của khách hàng về Công ty FUTURE STAR CORP tại thị trường đó Mặt khác, các đối thủ tiềm ẩn của công ty còn có thể là các
tổ chức thương mại quốc tế kinh doanh trong nước, họ có thể sẽ chiếm thị phần trong nước của Công ty
3.3.2 Sự cạnh tranh của các công ty trong ngành
Đây thực sự là mối đe doạ đối với sự tồn tại và phát triển của công ty trong tương lai Cùng tồn tại và kinh doanh trong ngành Taxi ở nước ta, có rất nhiều các Công ty khác nhau nên sức cạnh tranh của các Công ty trong cùng ngành là rất lớn Họ có thể thu hẹp thị phần trong nước của Công ty Các công ty trong ngành có sức cạnh tranh như : Mai Linh, Vinasun, Vinataxi, taxi Hoàng Long, Dầu khí taxi, Happy taxi,… Ngành Taxi là ngành phân tán, không có một Công ty nào thực sự có vai trò chi phối trong toàn ngành nên các Công ty hoạt động trong ngành phải chấp nhận một cách tương đối giá của thị trường Chính vì vậy mức độ lợi nhuận của Công ty phụ thuộc nhiều vào việc giảm chi phí hoạt động