1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết đoàn lê (cuốn gia phả để lại, tiền định)

69 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Trần Thuật Trong Tiểu Thuyết Đoàn Lê (Cuốn Gia Phả Để Lại, Tiền Định)
Tác giả Phạm Thị Tý
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Phong Nam
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 828,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, sức lôi cuốn của những trang văn Đoàn Lê ngoài nguyên nhân nội dung được đề cập đến trong tác phẩm còn có một nguyên nhân không thể phủ nhận, đó là cách trần thuật của nhà văn..

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

PHẠM THỊ TÝ

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ

(CUỐN GIA PHẢ ĐỂ LẠI, TIỀN ĐỊNH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ

(CUỐN GIA PHẢ ĐỂ LẠI, TIỀN ĐỊNH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Phong Nam

Người thực hiện

PHẠM THỊ TÝ

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phong Nam Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Phạm Thị Tý

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Phong Nam đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, các thầy cô trong ban quản lý Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Phạm Thị Tý

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Bố cục khóa luận 9

CHƯƠNG 1 “CUỐN GIA PHẢ ĐỂ LẠI” VÀ “TIỀN ĐỊNH” – TỪ PHƯƠNG DIỆN TỔ CHỨC TRẦN THUẬT 10

1.1 Đoàn Lê và tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại”, “Tiền định” 10

1.1.1 Đoàn Lê – nữ nhà văn đa tài, đa đoan 10

1.1.2 “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định” – hai tiểu thuyết đặc sắc của Đoàn Lê 12

1.2 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định” 15 1.2.1 Trần thuật từ ngôi thứ nhất xưng “tôi” 16

1.2.2 Trần thuật “nhập vai” vào nhân vật 19

1.2.3 Thủ pháp “dịch chuyển” và “luân phiên” các điểm nhìn trần thuật 23

1.3 Một số cách thức trần thuật tiêu biểu trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định” 26

1.3.1 Trần thuật theo lối ngắt quãng, cắt khúc 26

1.3.2 Trần thuật theo lối đồng hiện 29

1.3.3 Trần thuật theo lối lồng ghép 32

CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT “CUỐN GIA PHẢ ĐỂ LẠI” VÀ “TIỀN ĐỊNH” 36

2.1 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định” 36

2.1.1 Ngôn ngữ đối thoại 37

Trang 6

2.2 Đặc điểm giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và

“Tiền định” 48

2.2.1 Giọng hoài nghi, chất vấn 49

2.2.2 Chất trữ tình sâu lắng trong giọng điệu tiểu thuyết 53

2.2.3 Tính chất triết lí, chiêm nghiệm 55

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đoàn Lê là một cây bút nữ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Bà khởi nghiệp bằng nghề diễn viên điện ảnh rồi sau đó chuyển sang viết kịch bản phim, làm đạo diễn, vẽ tranh, viết văn Đến với văn chương, Đoàn Lê không ngừng sáng tạo và tự đổi mới mình Bà viết cả truyện ngắn và tiểu thuyết Trong đó, tiểu thuyết được xem là một bộ phận đặc sắc, đã góp phần quan trọng vào sự thành công của nhà văn trên bước đường văn nghiệp Bắt đầu từ năm 1988, lần lượt các tiểu thuyết ra đời ghi đậm dấu ấn tên tuổi

của bà: Cuốn gia phả để lại (1988), Người đẹp và đức vua (1991), Lão già

tâm thần (1993), Tiền Định (2009) Tuy số lượng không nhiều nhưng ở cuốn

tiểu thuyết nào Đoàn Lê cũng đều hoàn thành sứ mệnh của một người viết tiểu thuyết và kết quả mà nhà văn đạt được là trong bốn cuốn tiểu thuyết có

tới hai cuốn được Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam là Cuốn gia phả để lại (1988) và Tiền định (2009)

Cũng như rất nhiều nhà văn có tên tuổi cùng thời khác như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân,… trong quá trình sáng tác, Đoàn Lê rất biết vận dụng một cách tài tình và sáng tạo bất kỳ phương tiện nào có thể phục vụ cho kỹ thuật viết Vì thế, sức lôi cuốn của những trang văn Đoàn Lê ngoài nguyên nhân nội dung được đề cập đến trong tác phẩm còn có một nguyên nhân không thể phủ nhận, đó là cách trần thuật của nhà văn Chính nghệ thuật trần thuật đã tạo nên sự sâu sắc trong nội dung tư tưởng của từng tác phẩm

Từ trước đến nay, đã có nhiều nhà phê bình quan tâm và lấy tiểu thuyết Đoàn Lê làm đối tượng nghiên cứu cho một số công trình khoa học Tuy nhiên, hướng tìm hiểu, nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của nhà văn từ góc độ

Trang 8

tự sự học vẫn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức Cho nên, chúng tôi muốn được trực tiếp đi vào tìm hiểu và làm rõ vấn đề này Cụ thể, ở đây chúng tôi sẽ khảo sát nghệ thuật trần thuật trong hai cuốn tiểu thuyết đã đạt

giải thưởng của Đoàn Lê là Cuốn gia phả để lại và Tiền định trên các phương

diện: điểm nhìn, cách thức trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật Thông qua đó, chúng tôi muốn khám phá sâu sắc hơn những nét đặc sắc trong sáng tạo tiểu thuyết của nhà văn Đoàn Lê Đồng thời xác định vị trí, diện mạo riêng và sự đóng góp về thể loại tiểu thuyết của nhà văn trong quá trình phát tiển của nền văn học hiện đại

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Đoàn Lê có lần tâm sự: “Cuộc đời giản dị nên không việc gì phải đao to búa lớn cả Trong sáng tạo, tôi làm việc cật lực, thậm chí lao lực, nhưng xét cho đến cùng đó cũng chỉ là những cuộc rong chơi trong thế giới này mà thôi Theo tôi, sáng tạo nghệ thuật đó cũng là một cách chơi của tôi Tôi lựa chọn một thái độ sống như thế này” [6] Đó chính là phương châm sống, phương châm làm việc và cũng là quan niệm sáng tác của nữ nhà văn đất Cảng Ở ngay trong tiềm thức của mình, nhà văn luôn xem công việc sáng tạo nghệ thuật như một trò chơi nên chẳng bao giờ đua chen trong sự bề bộn xoay chiều của cuộc đời Có lẽ cũng chính vì lý do ấy mà nhà văn tuy bước vào con đường sáng tác văn chương từ những năm 60 thế kỷ trước, nhưng mãi đến khoảng 25 năm gần đây, tên tuổi của bà mới thực sự nổi lên trên văn đàn Hàng loạt các tác phẩm được in và xuất bản, trong đó gồm cả truyện ngắn tiểu thuyết, đạt được nhiều giải thưởng văn học và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng Và cho đến nay, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn và các sáng tác của bà ở một số phương diện khác nhau

Trang 9

Từ trước đến nay, Đoàn Lê luôn được người đọc biết đến là một người phụ nữ vừa đa tài, vừa đa đoan Và “Trong đời sống lao động nghệ thuật, Đoàn Lê là người không chịu ngồi yên, không bằng lòng ngắm nhấm hả hê với cái mình đã có… Chị làm thơ, làm diễn viên, chị làm thiết kế mỹ thuật điện ảnh, chị vẽ tranh, làm biên kịch, làm đạo diễn rồi cầm bút viết văn, luôn chung thủy với lý tưởng này và bù lại, dường như ở lĩnh vực nào Đoàn Lê cũng giành được ít nhiều thành công nhất là văn xuôi” [37] Nhận xét ấy của

Vũ Quốc Văn trong bài viết “Đoàn Lê – một nữ sĩ đa tài” đã phần nào khái quát được quá trình lao động nghệ thuật của Đoàn Lê với các nghành nghề, các công việc khác nhau, thể hiện tài năng bẩm sinh trong chính bản thân của người nghệ sĩ, chính nó đã làm nên cái “đa tài” của nữ nhà văn đất Cảng này Cũng quan tâm đến tài năng và cuộc đời của nhà văn Đoàn Lê, tác giả

Nguyễn Hồng Lĩnh trong bài viết có nhan đề “Tình riêng bỏ chợ tình người

đa đoan” trên trang http://vietbao.vn đã chỉ ra cho chúng ta thấy cuộc đời và

tài năng nhiều mặt của Đoàn Lê: “dựng được bức chân dung thơ từ nguyên mẫu một nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn điện ảnh” Bên cạnh đó, bài viết còn nói đến một cách cụ thể sự nghiệp sáng tác của bà Từ thơ đến các “ham muốn nghệ thuật khác”, trợ lí thiết kế mỹ thuật cho hãng phim truyện Việt Nam, diễn viên, biên kịch – “một người của điện ảnh”, “một họa sĩ tung hoành cây cọ trên giá vẽ”, một nhà văn của những tác phẩm có chỗ đứng trong làng văn Tác giả đã đi đến khẳng “nghiệp viết văn của chị Đoàn Lê là

có duyên nhất và gặt hái được nhiều mùa vui nhất”

Trong bài viết ‘“Tiền định” khắc khoải phận người” trên trang

http://vnca.cand.com.vn, tác giả Việt Hà cũng có viết “Đoàn Lê là một nghệ

sĩ đa tài” Bà từng làm thơ, là diễn viên, biên kịch điện ảnh rồi họa sĩ Ở lĩnh

vực nào, các sáng tạo của bà đều đạt được thành công đáng kể và được ghi nhận Song, nhiều người yêu mến bà đều có chung nhận định là Đoàn Lê phù

Trang 10

hợp nhất khi ở lại với văn chương và chính văn chương mới là nơi bà thể hiện được mình một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất” Và “có lẽ những nếm trải của cuộc đời với đầy đủ những cung bậc hạnh phúc và bất hạnh đã qua của người đàn bà đa đoan này đã làm nên những trang viết mang màu sắc Đoàn Lê” [8] Tác giả Bùi Thanh Truyền khi đi vào nghiên cứu sáng tác của Đoàn Lê,

đã đưa ra những nhận xét khái quát cả về mặt nội dung lẫn nghệ thuật trên cơ

sở so sánh với sáng tác của các nhà văn khác Những điều này được tác giả thể

hiện trong bài viết “Tự truyện trong văn xuôi Đoàn Lê” trên http://tapchinhavan.vn

Cụ thể như sau: “Tác phẩm của Đoàn Lê không làm người đọc “choáng” vì không gian ngột ngạt, chật hẹp và triền miên trong tâm tưởng Trên những trang viết, tác giả đã thể hiện chân thực cái tôi cảm xúc của chính mình Những hệ lụy đời riêng đã được bà vận dụng một cách khéo léo trong văn chương và đằng sau đó là cả những nỗi đau âm ỉ của người phụ nữ”

Đặc biệt đáng chú ý nhất là nhóm bài viết của nhà văn Hồ Anh Thái Ông là người có số lượng bài viết về Đoàn Lê nhiều hơn cả, dường như đó là kết quả của cả một quá trình dài mà nhà văn dõi theo bước đường sáng tác của người nữ sĩ đa tài Trong các bài viết của mình, nhà văn đặc biệt giành cho văn xuôi Đoàn Lê những lời khen đầy ưu ái: “Nhưng rốt cục, văn xuôi mới là

sở trường của người đàn bà thành phố cảng,… Đoàn Lê đã có những thành tựu thật sự với văn chương Một giọng văn được nhớ, nền nã dung dị nhưng bao giờ cũng kèm theo chất hài hước ngầm”, nhận xét ấy trong bài viết

“Người đàn bà “đa đoan”’ được đăng trên http://vietbao.vn là vị dụ đầu tiên

chứng minh cho điều đó

Và một điều đặc biệt hơn cả là dù không xuất hiện trực tiếp trong các bài viết của mình, nhưng những nhận xét xác đáng của Hồ Anh Thái về văn xuôi Đoàn Lê cũng được ghi lại trong các bài viết của nhiều tác giả khác: "Không biết gọi Đoàn Lê là "nhà" gì cho đúng? Nhà biên kịch, đạo diễn, họa sĩ? Nhà

Trang 11

thơ, thiết kế phim trường, nhà văn? Ở vị trí nào, chị cũng có đóng góp và thử sức Nhưng với tôi, chị xuất sắc nhất ở vai trò một nhà văn" [3]; “Lối viết của Đoàn Lê như một người đi ở trung đạo, giữa một bên là văn chương theo kiểu truyền thống và một bên là văn chương cách tân Có thể vì vậy mà tác phẩm của Đoàn Lê khó rơi vào sự lỗi mốt, cũng không thời thượng, mà khá dễ thưởng thức với độc giả các lứa tuổi” [11]

Có thể nói rằng, các nhận định, đánh giá nêu trên của các nhà nghiên cứu

đã cho ta hiểu được phần nào về văn xuôi Đoàn Lê nhìn trên phương diện tổng quát, đầy đủ nhất Tuy nhiên, với đề tài này, chúng tôi xin đưa ra một số công trình khác nghiên cứu về tiểu thuyết Đoàn Lê một cách cụ thể hơn để có thể định hướng quá trình thực hiện đề tài của mình

Trong quá trình khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Đoàn Lê

ở bài viết “Đoàn Lê – một nữ sĩ đa tài”, tác giả Vũ Quốc Văn cũng kèm vào

đó những nhận định không kém phần khái quát về sự nghiệp viết tiểu thuyết của người nữ sĩ: “Sau gần hai mươi năm có chùm truyện ngắn xuất hiện trên

văn đàn, năm 1988 Đoàn Lê mới lại công bố thiên tiểu thuyết đầu tay Cuốn

gia phả để lại Không lâu sau là những tiểu thuyết Người đẹp và đức vua

1991; Thành hoàng làng xổ số, tập truyện ngắn 1992; Lão già tâm thần, tiểu

thuyết 1993 lần lượt ra đời”

Tìm hiểu Đoàn Lê trên khía cạnh tiểu thuyết, nhà văn Hồ Anh Thái sau

khi đọc Cuốn gia phả để lại cũng đã có những lời tâm sự bộc bạch và những đánh giá cụ thể trong bài viết “Đoàn Lê “chị tôi”’ in trên http://giaitri.vnexpress.net:

“Mãi cho đến đầu năm 1988, đọc cuốn tiểu thuyết mới xuất bản của chị, Cuốn gia phả để lại, Cuốn sách chứng tỏ một tay nghề tiểu thuyết chững chạc Tổ chức ngăn nắp các đường dây nhân vật, khéo léo lách qua cái mê cung nhân vật chằng chịt ấy để tới được cái đích của mình… Một điều đáng kể nữa ở

Trang 12

Cuốn gia phả để lại là ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ dịu dàng nền nã mà hóm hỉnh,…”

Trên http://giaitri.vnexpress.net, bài viết “Tiền định nghiệt ngã trong tiểu

thuyết Đoàn Lê” của tác giả Hà Linh, có viết: “Có thể nói, Tiền định là sự hư

cấu hóa cuộc đời của chính nhà văn… Tiền định được viết theo lối hồi ức,…

Điểm hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết là giọng kể chuyện tình cảm, những đối thoại hấp dẫn và sự thú vị của từng chi tiết được nhà văn chọn lọc” Qua những lời nhận xét ấy, tác giả Hà Linh đã cho người đọc bước đầu thấy được, khái quát được một số nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Đoàn Lê về lối kể và giọng kể

Trong lời cuối sách của cuốn tiểu thuyết Tiền định (2010), NXB Hội

nhà văn, nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: “Vừa là tự truyện, vừa là hư cấu, cuốn sách không có khám phá mới mẻ gì về phong cách Tác giả kể chuyện nhẩn nha và hấp dẫn Nhưng cái đáng để ta quan tâm: Nhà văn viết cho độc giả đọc… Trên những chất liệu thực, tác giả đã thổi vào đó trí tưởng tượng, để câu chuyện như thực, lại như một giấc mơ về cuộc đời đa truân của người đàn bà” [15, tr.315]

Có thể nói, sự ra đời của cuốn tiểu thuyết Tiền định đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu phê bình, trong đó có cả những nhà văn nổi tiếng Cùng với Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng đi vào nghiên cứu Đoàn Lê Trên góc độ thi pháp, tác giả đã phân tích sự đổi mới cách viết

của Đoàn Lê trong cuốn tiểu thuyết Tiền định với bài viết “Đọc tiểu thuyết

Tiền định của nhà văn Đoàn Lê” trên http://vietvan.vn Tác giả khẳng định:

“Đổi mới nổi bật nhất của cuốn sách là vấn đề cốt truyện Cuốn sách vẫn xoay quanh nhân vật cô Chín mà tác giả khi viết lúc thì ngôi thứ nhất, lúc thì ở ngôi

thứ ba”; “Về phương diện cấu trúc tiểu thuyết, tiểu thuyết Tiền định là cuốn

tiểu thuyết gồm nhiều truyện ngắn gộp lại”…

Trang 13

Trên http://vnca.cand.com.vn, bài viết ‘“Tiền định” khắc khoải phận

người” của tác giả Việt Hà, khẳng định: “Tiền định là một tiểu thuyết luận đề

mang màu sắc tự truyện của nhà văn Đoàn Lê - một nữ nhà văn có giọng văn

dí dỏm mà sâu sắc; tinh tế, duyên dáng mà đầy khắc khoải, u buồn”… “Tiểu thuyết để lại cảm giác xót xa cho những thân phận má đào truân chuyên khi bị cuộc đời vùi dập giữa những éo le, ngang trái và ngợi ca sự kiên cường, nỗ lực chống trả định mệnh để kiếm tìm hạnh phúc Giản dị, chân thực mà lại chập chờn hư ảo trong những cơn mộng mị nên "Tiền định" tạo được hấp dẫn, tuy nó không có sự bứt phá nào trong phong cách thể hiện tiểu thuyết của Đoàn Lê”

Luận văn Thạc sĩ “Đặc trưng tiểu thuyết Đoàn Lê”, Mai Thị Ánh Tuyết,

Đại học Vinh (2011) đã chỉ ra được những nét đặc trưng cơ bản nhất về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê Và tác giả đã đi đến kết luận cuối cùng: “… Sự cách tân nghệ thuật của Đoàn Lê không phải để tạo ra sự đột phá, chuyển mình có tính chất bước ngoặt mà nó nằm trong xu hướng của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới”

Như vậy, có thể nói, những bài viết, những công trình nghiên cứu đã nêu trên cung cấp cho ta những kiến thức, những cách hiểu cụ thể nhất về văn xuôi Đoàn Lê nói chung và tiểu thuyết Đoàn Lê nói riêng Tuy nhiên, xét một cách khách quan thì trong số đó chưa có một công trình nào có cái nhìn tổng quát, toàn diện, có hệ thống, chuyên sâu trong việc nghiên cứu nghệ thuật trần

thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê Vì vậy, việc tìm hiểu về Nghệ thuật trần

thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê là một hướng nghiên cứu mới, giúp chúng tôi

có thêm cơ sở lý luận để giải mã giá trị tác phẩm của nhà văn và các tác phẩm tự sự nói chung Và chúng tôi sẽ lấy lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trên làm cơ sở cho quá trình tìm hiểu của mình

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê, bao gồm một số phương diện sau: điểm nhìn,

kết cấu, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đoàn Lê có vị trí khá vững chắc trong lòng bạn đọc bởi quá trình sáng tác tương đối dày với hàng loạt tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau Nhưng

do hạn chế về mặt thời gian cũng như khả năng nghiên cứu nên người viết chỉ

tập trung khảo sát hai cuốn tiểu thuyết: Cuốn gia phả để lại (1988) và Tiền

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi có sử dụng một số dẫn chứng để minh họa cho lập luận của mình Do đó phương pháp phân tích được vận dụng để trình bày cặn kẽ vấn đề hoặc bình giá các vấn đề cụ thể trong khóa luận

Trang 15

4.3 Phương pháp thống kê

Trong chừng mực nhất định của quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê xem trong mỗi yếu tố nghệ thuật, tần số xuất hiện của hiện tượng nào là cao, hiện tượng nào là thấp và nó có báo hiệu điều gì không

4.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Trong quá trình tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê, chúng tôi có liên hệ, so sánh với một số tác phẩm của các tác giả khác để làm

rõ được nét đặc sắc, nổi bật trong cách viết cũng như sự vận động của tiểu thuyết Đoàn Lê trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định” – Từ phương diện tổ chức trần thuật

Chương 2: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định”

Trang 16

CHƯƠNG 1 “CUỐN GIA PHẢ ĐỂ LẠI” VÀ “TIỀN ĐỊNH” – TỪ PHƯƠNG DIỆN

TỔ CHỨC TRẦN THUẬT

1.1 Đoàn Lê và tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại”, “Tiền định”

1.1.1 Đoàn Lê – nữ nhà văn đa tài, đa đoan

Nhà văn Đoàn Lê, tên đầy đủ là Đoàn Thị Lê, khi viết văn lấy bút danh

là Hạ Thảo, sinh năm 1943 Là con gái cụ đồ Nho đất Cảng, gia đình làm nghề thuốc đông y gia truyền

Sinh ra vốn là một người phụ nữ vừa đa tài, vừa đa đoan, thuở nhỏ, Đoàn

Lê đã nuôi trong mình lòng đam mê Điện ảnh sân khấu nên mặc dù phụ thân

bà hướng cho bà theo nối nghiệp nhà nhưng bà không chịu Năm 17 tuổi, Đoàn Lê quyết tâm theo đuổi ước mơ của mình, bà nộp đơn thi vào khoa Điện ảnh, trường Sân khấu điện ảnh Hà Nội Khi có giấy báo trúng tuyển, Đoàn Lê

bỏ mặc sự ngăn cấm của cha, rời gia đình, trốn lên Hà Nội học Rời xa quê hương, xa gia đình, Đoàn Lê bắt đầu bước vào những năm tháng truân chuyên của cuộc đời Sau vài năm rèn nghiệp, Đoàn Lê được điều về Hãng phim truyện Việt Nam Những ngày đầu làm diễn viên ở hãng phim, Đoàn Lê có tham gia đóng một vài vai nhưng rồi vì chuyện gia đình nên bà bị chuyển sang bộ phận thiết kế, vẽ cảnh giả của xưởng phim Công việc này khiến cho cuộc sống của bà chịu nhiều áp lực Tuy nhiên, trong khoảng thời gian làm thiết kế, vẽ cảnh giả ở xưởng phim, bà vẫn đi học hội họa Bà đã vẽ được hàng trăm bức tranh sơn dầu khổ lớn, mang đến cho người xem những niềm cảm xúc tươi mới cùng rất nhiều ngẫm ngợi với vẻ đẹp tao nhã, đằm thắm và sức cuốn hút, mê hoặc của nó Năm 1959, Đoàn Lê bắt đầu viết văn xuôi Trước đó, khi còn là học sinh lớp 9, trường cấp 3 Phan Chu Trinh ở Hà Nội,

bà đã làm thơ và được đăng báo, bài thơ “Bói hoa” được sáng tác khi bà 18

Trang 17

tuổi đã thu hút đông đảo bạn đọc Có lẽ vì thế nên khi đến với văn xuôi, Đoàn

Lê như muốn khẳng định mình hơn trong sự nghiệp cầm bút Và bà đã đạt

được những thành công đáng kể ngay từ những truyện ngắn đầu tay: Đôi mắt

hoa nhài, Trương Viên, Cây xoan non Bước sang những năm 70 - 80, Đoàn

Lê lại chuyển sang viết kịch bản phim truyện, và bà đã thành danh với những

bộ phim: Bình minh xôn xao, Cha và con, Làng Vũ Đại ngày ấy Từ năm 1988

trở đi, sự nghiệp viết văn của Đoàn Lê được bà đầu tư hơn cả

Công việc cứ diễn ra theo thời gian, từ nghề này sang nghề khác, Đoàn

Lê như chạy đua với số phận, với cuộc đời bằng chính cái đa tài vốn có của mình Thế nhưng, trời đã cho bà sự đa tài thì ắt phải kèm theo đó sự đa đoan, khiến cho cuộc đời bà luôn gặp những khó khăn, trắc trở Giống như Nguyễn

Du đã từng nói: “tài mệnh tương đố”, “tài hoa bạc mệnh” Mang trong mình tâm hồn của một người phụ nữ đa đoan, cuộc đời của nhà văn Đoàn Lê luôn bộn bề những lo toan, suy nghĩ Cuộc sống hôn nhân gia đình không trọn vẹn

và luôn đỗ vỡ Kết hôn hai lần nhưng cả hai cuộc hôn nhân đều không đem lại cho bà niềm vui và hạnh phúc Bà đã có lần tâm sự với phóng viên rằng: “Ai cũng có người đàn ông lý tưởng của đời mình, chỉ có điều nó không thuộc về mình thôi, tôi có viết trong kịch bản phim Hồ Xuân Hương, đại ý rằng: Hồ Xuân Hương luôn đi một mình một lối, thì tôi cũng vậy Vì thế tôi không gặp được người đàn ông mình có thể chung sống và gửi gắm cả cuộc đời mình Phải nói cho công bằng rằng tôi cũng có mối tình sâu nặng nhiều luyến tiếc nhưng cuối cùng cũng chẳng đi đến đâu” [6]

Có thể nói rằng, cuộc đời của nhà văn Đoàn Lê đúng như những câu thơ trong bài thơ “Chị tôi” mà em gái Đoàn Thị Tảo đã làm tặng bà:

Thế là chị ơi

Rụng bông hoa gạo

Ô hay, trời không nín gió

Trang 18

Cho ngày chị sinh

Ngày chị sinh trời cho làm thơ

Cho hết buồn vui bốn mùa trăn trở

Cho làm một câu hát cổ

Để người lý lơi

Vấn vương sợi tơ trời

Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan

Và đôi khi, nhà văn tự an ủi mình rằng: “Tôi thấy mình tham lam bởi ai cũng thế, ông trời cho mình chút tài, sao không sử dụng hết Tôi quan niệm cuộc sống muôn màu: vui có, buồn có, thậm chí có cả khổ đau và có lúc chúng ta vẫn phải cần những cảm giác để tự đánh lừa, để đi qua những nỗi buồn ấy, để tìm đến với những điều đẹp đẽ hơn Nhiều lúc tôi coi nghệ thuật như một sự cứu cánh để giải tỏa những suy nghĩ trong lòng Với mỗi loại hình nghệ thuật tôi tham gia, tôi đều tìm thấy những cứu cánh cho bản thân” [2]

1.1.2 “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định” – hai tiểu thuyết đặc sắc của Đoàn Lê

“Đoàn Lê là một nghệ sĩ đa tài Bà từng làm thơ, làm diễn viên, biên kịch điện ảnh rồi họa sĩ Ở lĩnh vực nào, các sáng tạo của bà đều đạt được thành công đáng kể và được ghi nhận Song, nhiều người yêu mến bà đều có chung nhận định là Đoàn Lê phù hợp nhất khi ở lại với văn chương và chính văn chương mới là nơi bà thể hiện mình một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất” [5]

Từ những trang truyện ngắn đến những cuốn tiểu thuyết dài mấy trăm trang luôn thấm đẫm những cung bậc cảm xúc của chính cuộc đời nhà văn Nhưng, nếu như ở truyện ngắn, do sự hạn chế về dung lượng nên chỉ tái hiện được từng khoảnh khắc, từng lát cắt của cuộc đời, thì ở tiểu thuyết, vì dung lượng lớn gấp hàng trăm lần truyện ngắn nên tác giả có thể tái hiện được cuộc đời và con người mình một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn cả Chính vì thế, người đọc

Trang 19

chỉ có thể tìm thấy bức chân dung tự họa của nhà văn Đoàn Lê một cách rõ nét nhất khi họ đến với tiểu thuyết của bà

Trong lĩnh vực sáng tác văn chương, nếu chỉ xét về khía cạnh tiểu thuyết

thì Đoàn Lê được người đọc biết đến với những cuốn tiểu thuyết như: Cuốn

gia phả để lại (1988), Người đẹp và đức vua (1991), Lão già tâm thần (1993), Tiền định (2009) Trong đó có 2 cuốn được tặng giải thưởng Hội nhà văn Việt

Nam là Cuốn gia phả để lại (1988) và Tiền định (2009) Có thể nói, chính hai

cuốn tiểu thuyết này đã làm nên tên tuổi của nhà văn Đoàn Lê, giúp nhà văn khẳng định vị trí của mình trên văn đàn

Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại ngay sau khi ra đời đã được độc giả

hoan nghênh, được Hội nhà văn Việt Nam tặng giải A và nó đã giúp Đoàn Lê bước đầu “phát hiện lại mình”, “chứng tỏ một tay nghề viết tiểu thuyết chững chạc”, với tài năng “tổ chức các đường dây nhân vật, cùng với thứ ngôn ngữ dịu dàng, nền nã mà hóm hỉnh” [22]

Toàn bộ cuốn tiểu thuyết kể về cuộc đời của nhân vật Mỗ sau khi về làm dâu dòng họ Trần và được chứng kiến những cuộc xung đột xảy ra giữa những người trong dòng họ này để tranh giành quyền làm trưởng, tranh giành đất đai, tranh giành nhà thờ họ và tranh giành danh nhân cho riêng mình Nhân vật Mỗ cùng với chồng mình – nhân vật Tự và mẹ chồng là những người đứng ở giữa chịu trận kể từ khi Tự lên làm trưởng nghành đại tông họ Trần rồi cùng mẹ thực hiện sứ mệnh thiêng liêng hương khói tổ từ dòng họ ở ngôi miếu ngay bên cổng tổ từ Xung quanh những xung đột, xô xát, những cuộc kiện tụng lên tận cấp trên là những suy nghĩ của nhân vật Mỗ Đứng trước nguy hiểm, Mỗ vẫn luôn giữ được bình tĩnh để khuyên răn chồng, đồng thời với trí thông minh của một nhà biên kịch, cô đã đề ra những biện pháp và tìm đủ mọi cách để chống lại những việc làm xấu xa, bảo vệ chồng con, bảo

vệ gia đình Nhưng, nếu xét một cách khái quát nhất thì trong cuốn tiểu thuyết

Trang 20

này, Đoàn Lê đã xây dựng nên một hệ thống nhân vật đông đúc gồm cả một dòng họ Ngòi bút của nhà văn chấm phá vào đó những màu sắc có khi là truyền thuyết và huyền thoại, có khi là hiện đại đến từng chi tiết sống động của đời thường Đúng như nhà văn Hồ Anh Thái đã nhận xét: “Chẳng dễ dàng

gì mà làm cho cái nhân vật, tập thể này ra hồn ra vía một nhân vật, gây được

ấn tượng là nhân vật có số phận và khúc quanh phát triển số phận khá phức tạp”

Sang đến Tiền định, ta thấy ngòi bút của Đoàn Lê đã bước sang một

bước hoàn toàn mới Cuốn tiểu thuyết này kể về cuộc đời của nhân vật Chín, sinh ra trong một gia đình làm nghề thuốc Đông y gia truyền, cha cô là cụ lang Chi Lan Trong nhà có mười người con, Chín là đứa con thứ chín Tám đứa con lớn, cụ Chi Lan đã xếp đặt đời của họ đâu vào đấy, trong tầm kiểm soát của ông, còn với Chín thì ông có ý hướng cho cô theo nối nghiệp nhà Thế nhưng Chín đã không theo sự sắp đặt của cha mà cô trốn nhà lên Hà Nội

để học khoa Điện ảnh và trở thành một diễn viên Nhưng sự nghiệp làm diễn viên của cô kéo dài không được bao lâu vì do chuyện tình yêu và gia đình cản trở Trong khoảng thời gian làm diễn viên, cô phải lòng một chàng trai tên là Thân và cô đã kết hôn với anh ta khi cô tròn 17 tuổi Dù đã có với nhau được hai con nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên đã quyết định ly hôn Sau khi ly hôn chồng, Chín đến với một người khác và trót dại mang thai, cái thai được bốn tháng tuổi nhưng cô vẫn phải dứt lòng chấp nhận bỏ đi

Từ đó cuộc đời Chín sống trong những tháng ngày thường xuyên bị người ta trù dập và khả năng giữ được công việc hết sức bấp bênh Mặc dù vậy, với ý chí, nghị lực của mình, Chín đã vượt qua tất cả để tìm đến thành công trong công việc khiến cho những người trước đó đã từng khinh thường, trù dập cô cũng phải quay lại hỏi thăm với một thái độ hoàn toàn khác Và, trên con đường chạy đua với công việc để kiếm sống, Chín cũng đã tìm được người

Trang 21

đàn ông tri kỷ của cuộc đời mình Đó là một anh nhà báo, Chín và người đó

đã tìm thấy niềm hạnh phúc ở trong nhau Hai người quyết tâm để đến được với nhau nhưng số phận đã không cho phép họ Trên con đường trở về ngôi nhà của Chín ở Hải Phòng, một tai nạn bất ngờ ập đến khiến cho hai người

âm dương cách biệt mãi mãi Toàn bộ câu chuyện được kể theo dòng hồi ức của nhân vật Chín, sự việc diễn ra theo diễn biến tâm lý của nhân vật Có thể nói rằng, với cuốn tiểu thuyết này, nhà văn Đoàn Lê dường như đã vượt qua chính mình, mang đến cho người đọc những trăn trở, suy tư và chiêm nghiệm

về cuộc đời con người một cách sâu sắc nhất Nếu như ở cuốn trước, tác giả thiên về miêu tả sự việc thì cuốn này tác giả thiên về miêu tả tâm trạng và số phận nhân vật Từ tên cuốn sách cho đến nội dung câu chuyện đều thể hiện tính triết lí sâu sắc Thông qua đó để lí giải về mối quan hệ giữa chữ tài và chữ mệnh trong cuộc đời mỗi con người Về phương diện này, có lẽ nhà văn Đoàn Lê đã đi theo cụ Nguyễn Du thời trước

Như vậy, có thể khẳng định rằng, tiểu thuyết là một bộ phận tiêu biểu, đặc sắc cho phong cách Đoàn Lê Từ tiểu thuyết, người ta biết đến Đoàn Lê

và hiểu rõ hơn về con người của bà

1.2 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và

“Tiền định”

Nghệ thuật trần thuật gồm nhiều yếu tố, trong đó điểm nhìn trần thuật là yếu tố quan trọng hàng đầu Bởi lẽ, trong quá trình trần thuật, “người kể chuyện chỉ có thể kể được những điều họ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy trong không gian, thời gian, trong trạng thái cảm xúc, trình độ văn hóa, tuổi tác, quan điểm, tư tưởng, giá trị Vì thế, điểm nhìn trần thuật thể hiện vị trí người kể dựa vào để quan sát, cảm nhận, trần thuật, đánh giá các nhân vật và

sự kiện” [39, tr.104] Từ đó người đọc nói chung và người nghiên cứu tác

Trang 22

phẩm nói riêng có thể bước đầu xác định được hướng đi của nội dung tác phẩm đó

“Hiểu một cách khái quát nhất, điểm nhìn là vị trị điểm quan sát mà người kể chuyện lựa chọn để kể lại câu chuyện của mình cho người đọc Nếu một văn bản tự sự (truyện kể) bao gồm nhiều yếu tố như: tác giả, người kể chuyện, nội dung tự sự, người kể chuyện, người đọc thì điểm nhìn chính là yếu tố then chốt liên kết tất cả các yếu tố kia thành một hệ thống chặt chẽ Đây là một khái niệm có ý nghĩa thế giới quan, thể hiện quan điểm, sự đánh

giá, có tính tư tưởng, tính thẩm mỹ” [13, tr.23-24] Trong Dẫn luận thi pháp

học, Trần Đình Sử cũng đã xác định điểm nhìn trần thuật là “phương thức

phát ngôn trình bày miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả” [38, tr.149] Như vậy, trước khi bắt đầu sáng tác một tác phẩm tự sự, nếu người nghệ sĩ không xác định cho mình một một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng thì sẽ không thể nào miêu tả, trần thuật về các sự vật, hiện tượng đó được Riêng với Đoàn Lê, để có được những cuốn tiểu thuyết như

Cuốn gia phả để lại và Tiền Định, bà cũng đã chọn/xác định cho mình một

điểm nhìn trần thuật riêng đầy sức sáng tạo và độc đáo

1.2.1 Trần thuật từ ngôi thứ nhất xưng “tôi”

“Nổi bật như một ưu thế đặc biệt trong các tiểu thuyết của thời đại là loại tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn bản tự sự, trong phạm vi trần thuật” [41, tr.430] Sử dụng phương thức trần thuật ở ngôi thứ nhất, người trần thuật là người kể chuyện, tham gia vào mọi biến cố sự kiện của câu chuyện đồng thời cũng là nhân vật trong truyện Đây chính là điểm nhìn bên trong, điểm nhìn của nhân vật “tôi” – người dẫn đường, dẫn truyện, đưa độc giả đi vào một thế giới mới

Trong tiểu thuyết Đoàn Lê, toàn bộ diễn biến câu chuyện được tái hiện thông qua hồi ức của nhân vật “tôi” Ở đó, nhân vật “tôi” làm chủ toàn bộ câu

Trang 23

chuyện, dẫn người đọc đến với từng chi tiết, từng sự kiện của câu chuyện ấy

Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại xoay quanh những mối quan hệ, những cuộc

xung đột xảy ra trong dòng họ Trần qua cái nhìn và sự chứng kiến của nhân vật “tôi” Bởi nhân vật “tôi” cũng là người trực tiếp tham gia vào những cuộc xung đột dòng tộc đó Vì là một nhân vật trong câu chuyện nên nhân vật tôi hiểu tường tận về nguyên nhân sự việc và các động cơ hành động của các nhân vật khác Chọn điểm nhìn trần thuật từ nhân vật này, mọi sự kiện trong diễn biến câu chuyện đều được nhìn nhận, đánh giá bằng con mắt chủ quan của người trong cuộc nên tính chính xác và tính cụ thể cao

Mở đầu tác phẩm, nhân vật “tôi” xuất hiện với lời tự giới thiệu về mình hết sức khéo léo: “Chính tôi cũng một lần bất ngờ chết lâm sàng Lần ấy may mắn tôi được cấp cứu kịp, nếu không hôm nay, đôi ba người quen chỉ còn nhớ

về tôi: Lê Thị Mỗ, nữ biên kịch loại chân đất ở xí nghiệp phim Thị đã viết vào kịch bản gì gì đó Theo hồ sơ, Thị có chiều cao trung bình, có nốt ruồi ở mặt, nặng 47 kí” [14, tr.448] Nhận viết một kịch bản phim, nhân vật “tôi” về tỉnh N để lấy tài liệu, trong khoảng thời gian đó, nhân vật tôi nhớ lại những sự kiện đã xảy ra trong dòng họ Trần kể từ khi cô về làm dâu Đứng ở thời điểm hiện tại, nhân vật “tôi” nhớ về quá khứ, bắt đầu từ giấc mộng bước vào khu lâu đài cổ kính toàn đá xanh xám và nhìn thấy cụ Chí Đạo – cụ tổ danh nhân của chồng, nhìn thấy Ngọc Đường, lão Ty Từ vị trí đó, điểm nhìn của nhân vật “tôi” lần lượt xuất hiện những sự kiện nối tiếp nhau, đó là những sự kiện trong một “thời kỳ nguy hiểm đã qua lâu” – cái thời kỳ mà mọi người trong cùng một dòng tộc cấu xé, đấu đá, hành hạ lẫn nhau chỉ vì quyền lợi cá nhân Thông qua đó, bộ mặt của từng người, từng thành viên trong dòng họ ấy hiện lên một cách rõ nét Và trong tác phẩm, nhân vật tôi đã chứng minh sự hiểu biết của mình về các nhân vật khác Trước hết là hình ảnh Ngọc Đường, con trai mợ Phán ba: “Ông cháu ấy hơn chúng tôi hai chục tuổi, có chức quyền

Trang 24

hẳn hoi Bề ngoài ông cháu bệ vệ, ra phó giám đốc một nhà máy lớn” [14, tr.496] Nhưng bên trong thực chất là một con người hết sức ti tiện: “Tao đã đánh dấu rồi Đúng có đứa nào ăn trộm đường trong lọ của tao Gạo cũng mất

Ai lấy? Ai lấy?” [14, tr.496]; mưu mô xảo quyệt, lòng dạ thâm hiểm, độc ác theo như lời nói của nhân vật tôi: “Trong lúc đó, Ngọc Đường vẫn tìm cách tống cổ ông cậu bằng được Hắn có mưu mô chước quỷ lạ lắm” [14, tr.502] và còn tham lam quá mức, muốn chiếm đoạt hết toàn bộ gia sản mà ông cụ Thừa

để lại, từ nhà thờ họ đến mảnh vườn ao Về phía Ngọc Đường, có một số nhân vật cũng mang trong mình tâm địa độc ác, tham lam, muốn hãm hại hai vợ chồng Tự Mỗ Những người này thường xuyên tụ tập lại với nhau, âm mưu bàn kế từ việc gửi đơn kiện lên tận xã, tận huyện đến việc tổ chức các cuộc thách đấu, phóng hỏa… khiến cho hai vợ chồng Tự Mỗ xoay như chong chóng, chẳng biết phải đối phó như thế nào trước những hành động tấn công bất ngờ của chúng Thế nhưng, nhân vật Mỗ với bản tính của một nhà biên kịch, cô luôn giữ được bình tĩnh, tĩnh tâm để khuyên nhủ chồng, bàn những

kế sách để giải quyết công việc ổn thỏa một cách chính nghĩa: “Anh Tự từ ủy ban về, tôi bàn với anh: Thôi mình đưa hai ngàn cúng vào quỹ họ cho xong chuyện đi” [14, tr.574]; “Tôi vội trấn an gia đình Bằng bộ mặt bình tĩnh, thoải mái, tôi ép mẹ tôi cùng hai đứa trẻ đi ngủ” [14, tr.614]; “Tôi buột miệng bảo anh Tự: Em ngấy lắm rồi, hay ta cứ mặc họ hoành hành, mình bỏ quách đây, đi nơi khác ở cho xong chuyện” [14, tr.615] Đứng về phía vợ chồng Tự

Mỗ, có anh Quyết làm trong ủy ban xã luôn đứng ra giúp đỡ mỗi khi hai vợ chồng gặp nguy với những trận hăm dọa, thách đấu của kẻ thù

Trần thuật từ điểm nhìn nhân vật xưng “tôi”, nhà văn đã để cho nhân vật của mình tự cất tiếng nói, tự giải bày những nỗi niềm riêng tư trong lòng một cách trung thực, chân thật và sâu sắc: “Tôi nghe bực lắm Mình lo việc toát

mồ hôi chứ sung sướng gì” [14, tr.524]; “Tôi mơ hồ cảm thấy điều kinh

Trang 25

khủng nhất đang đến gần” [14, tr.641]; “Tôi thực sự muốn nện và mặt những

gã trâng tráo đó” [14, tr.625] Như vậy, việc sử dụng ngôi thứ nhất đã đáp ứng được khát vọng giãi bày của con người Ở đó, con người sống trong tự do, sống hồn nhiên trong trạng thái “con người tự nhiên”, phù hợp với “quyền tự nhiên”, tức là con người tự mình và vì mình, có thể tự do bộc lộ cảm xúc, những suy nghĩ bên trong theo ý mình

Có thể nói, nhà văn Đoàn Lê đã tạo ra hình thức tồn tại của nhân vật trong tác phẩm, từ đó cho nhân vật hồi sinh và gắn nhân vật với quãng đời đã qua của chính họ thông qua cách trần thuật từ ngôi thứ nhất, nhân vật xưng

“tôi” Cũng chính vì thế, câu chuyện được kể trong tác phẩm trở thành câu chuyện về một cái tôi cá nhân cụ thể - cái tôi của nhân vật Mỗ, bởi lẽ cái tôi rất riêng ấy chính là nhân chứng duy nhất của tất cả những sự kiện mà nhân vật kể ra trong tác phẩm Quan đó, tiểu thuyết của Đoàn Lê đã phần nào khẳng định được vai trò của cách trần thuật theo ngôi thứ nhất trong quá trình sáng tác một tác phẩm văn học

1.2.2 Trần thuật “nhập vai” vào nhân vật

Bên cạnh kiểu trần thuật theo ngôi thứ nhất, nhân vật xưng “tôi”, tiểu thuyết thế kỷ XX còn sử dụng khá phổ biến kiểu trần thuật “nhập vai” vào nhân vật Nói chung, cả hai kiểu trần thuật trên đều được bắt đầu từ điểm nhìn chủ quan, song ở kiểu thứ hai, câu chuyện không phải do một nhân vật cụ thể xưng “tôi” hay là một nhân vật trong truyện kể lại mà là do một người trần thuật không xuất hiện, chỉ đứng phía sau nhân vật, “tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể” bằng chính ngôn ngữ của nhân vật ấy, tức là mượn điểm nhìn của nhân vật, giọng nhân vật để kể chuyện và “anh ta đã hòa vào nhân vật đến mức ta khó phân biệt được giọng kể của nhân vật” [38, tr.140] Ở đây, người trần thuật đứng từ điểm nhìn bên ngoài với vai trò toàn năng có thể biết hết tất

cả mọi việc liên quan đến diễn biến câu chuyện từ những mối quan hệ của các

Trang 26

nhân vật đến tâm tư tình cảm của nhân vật mặc dù người trần thuật vẫn luôn

ẩn mình, hoàn toàn không lộ diện Anh ta cố gắng thâm nhập vào ý thức lẫn tiềm thức của nhân vật, từ đó điểm nhìn trần thuật dường như được trao hoàn toàn cho nhân vật đó Cách trần thuật như thế này mang lại hiệu quả nghệ thuật cao Bởi khi câu chuyện được trần thuật từ điểm nhìn nhân vật thì hiện thực của câu chuyện được thể hiện, giải bày một cách đầy đủ, chính xác Đồng thời khi nhập vai vào nhân vật, tác giả (người kể chuyện) có cơ hội dễ dàng thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật với tất cả những cung bậc tình cảm, mọi rung động tinh tế, nhạy cảm của tâm hồn nhân vật Do đó, đôi khi trong tác phẩm, cái tôi cá nhân của nhân vật còn được bộc lộ rõ hơn khi trần thuật từ điểm nhìn nhân vật xưng “tôi”

Đoàn Lê là một nhà văn biết cách vận dụng những lợi thế ấy vào việc xây dựng tác phẩm Ta bắt gặp lối trần thuật này trong tiểu thuyết của bà Ở

Tiền định với sự “nhập vai” vào nhân vật, tác giả đã từng bước đi vào khám

phá dòng chảy nội tâm bên trong nhân vật này Toàn bộ diễn biến, sự việc diễn ra trong câu chuyện dần được tái hiện nhưng không phải do nhân vật chính xưng “tôi” trực tiếp kể lại mà là do một người trần thuật ẩn mình kể lại bằng chính giọng của nhân vật Đọc tác phẩm ta thấy rõ điều này

Tiền định là cuốn tiểu thuyết tự truyện Để định dạng nó, Đoàn Lê đã sử

dụng thủ pháp kể chuyện ở ngôi thứ nhất: “Đoàn phim về Huế đã một tuần lễ Tôi quay tranh thủ từng giờ để tránh gió” [15, tr.153] nhưng chỉ có ở một phần nhỏ trong tác phẩm (phần “Chuyện phụ thứ hai”) còn lại phần lớn trong tiểu thuyết Tiền định, Đoàn Lê sử dụng thủ pháp kể chuyện ở ngôi thứ ba Bởi, ở đây nhà văn gọi nhân vật bằng các đại từ xưng hô: “nàng – anh” Tuy nhiên, về thực chất, lời văn trong tác phẩm hoàn toàn không phải là lời kể chuyện ở ngôi thứ ba mà là lời của nhân vật Nhà văn đã hòa nhập vào nhân vật để khám phá những tâm tư thầm kín của nhân vật và cho nhân vật tự nói

Trang 27

ra những suy nghĩ của mình: “Nàng rất muốn biết anh nghĩ gì trước khi lên đường” [15, tr.7]; “Rõ trẻ con! Nàng im lặng siết tay vòng quanh cái thân thể vừa thân thuộc vừa xa lạ ấy Cảm giác thương mến xâm chiếm nàng rất dễ chịu” [15, tr.10] Việc sử dụng lời văn trần thuật như thế này được các nhà nghiên cứu gọi là “lời văn nửa trực tiếp”, tức là trong quá trình trần thuật, người trần thuật (tác giả) khéo rút lui, không trực tiếp nói lên suy nghĩ của mình mà cố gắng thâm nhập vào suy nghĩ của nhân vật, thông qua lời của nhân vật để nói lên những suy nghĩ bị dồn nén trong một thời gian dài Đây là cảm giác của nhân vật Chín khi cô lần đầu tiên đi trên một chuyến tàu hỏa qua cây cầu Long Biên (lúc ấy cô mới mười sáu tuổi): “cô run rẩy và khiếp sợ bởi tiếng ầm ầm rú rít của những bánh xe sắt siết trên đường ray” [15, tr.11];

“lần đầu tiên cô bé hoảng hồn bấn loạn trước tiếng rú rít của đoàn tàu khi nó

đi lên cầu Long Biên Cái thứ tiếng quái đản cuồng nộ tưởng như không bao giờ chấm dứt Trái tim cô đập thình thịch muốn vỡ tung ra Cô thấy mình đang bị cuốn phăng vào một dòng thác lạ, nguy hiểm chết người bắt nguồn từ tiếng rầm rầm mãnh liệt không thể cưỡng lại này…” [15, tr.17] Đó là tất cả những cảm giác trong quá khứ được hồi sinh lại trong tâm hồn nhân vật sau hơn ba mươi năm cô rời quê xa gia đình lên Hà Nội học và bắt đầu cuộc đời

tự thân lập nghiệp Những hồi ức về những cảm giác ban đầu đó trở thành cái mốc cho hàng loạt những sự kiện nối tiếp nhau trong quá khứ nhân vật được người trần thuật kể lại bằng chính giọng nhân vật và người đọc có cảm giác như chính nhân vật đang tự kể về mình Bởi một lẽ, khi người trần thuật nhập thân vào nhân vật sẽ trao toàn bộ quyền trần thuật cho nhân vật ấy, để nhân vật tự quyết định hướng đi của câu chuyện, nên toàn bộ diễn biến câu chuyện

cứ thế diễn ra theo dòng ý thức nhân vật Từ lúc nhân vật mới sinh ra cho đến khi cô lên mười sáu tuổi trốn nhà lên Hà Nội học, sống cuộc đời đầy bi kịch, mãi tới lúc cô gặp “anh” và cả hai người đã tìm thấy hạnh phúc ở trong nhau,

Trang 28

quyết định đến với nhau trên con đường trở về ngôi nhà nhỏ của cô ở Hải Phòng Tác giả đã cố gắng thâm nhập vào trong ý thức lẫn tiềm thức của nhân vật để khai thác hết những tâm tư, tình cảm sâu kính bên trong nhân vật của mình Do đó, tất cả những gì mà nhân vật đang suy nghĩ đều được bộc lộ ra bên ngoài, thể hiện một cái tôi cá nhân đầy rẫy những bi kịch tâm hồn

Đọc tác phẩm ta thấy rằng, ngoài nhân vật Chín (nàng) là nhân vật trung tâm, trong quá trình trần thuật, tác giả còn “nhập vai” vào những nhân vật khác khi cần thiết để các sự kiện trong diễn biến câu chuyện được tái hiện một cách đầy đủ nhất Những sự việc nào nhân vật Chín không trực tiếp được chứng kiến thì nhà văn liền nhập vai vào nhân vật nào được chứng kiến trực tiếp cụ thể để kể lại Chẳng hạn như câu chuyện về anh chàng Thạch Nhân thực hiện “bộ tiểu thuyết năm tập trên ba ngàn trang, một kiểu tấn trò đời hiện đại…” [15, tr.26] được nhân vật “anh” chứng kiến và thấu hiểu thì nhà văn

“nhập vai” và dùng lời của nhân vật này để kể lại Đến đoạn “cô gái Chín kết hôn với Thân” thì câu chuyện “Thảo – một anh chàng nhà thơ điên” cũng say

mê Chín đã cùng “anh” thực hiện chiến thuật tiếp cận gần gũi Chín cũng được nhà văn dùng lời của nhân vật “anh” kể lại Rồi khi Hải Phòng tiêu thổ kháng chiến, cả gia đình Chín tản cư, lúc đó Chín mới lên ba, chẳng nhớ rõ sự việc này nên tác giả mượn lời nhân vật “chị Bảy” – người nhớ rõ mọi chuyện để kể lại quá trình tản cư ấy Phải nói rằng, Đoàn Lê đã rất khéo léo trong việc chọn cách trần thuật như thế này Dưới con mắt của những người trực tiếp chứng kiến sự việc, câu chuyện được thuật lại chính xác hơn Đồng thời, trong lúc mượn lời nhân vật kể chuyện, nhà văn luôn chú tâm đến việc khai thác cách nghĩ, cách đánh giá của nhân vật đối với sự việc ấy Nên những gì mà nhân vật đánh giá về câu chuyện luôn mang tính chủ quan Ví dụ, khi nhân vật Thảo phẫn nộ trước sự việc “thằng Thân đã tiêu xong cô bé” [15, tr.63] thì nhân vật “anh” buồn cười trước sự phẫn nộ đó Rồi vào thời kỳ nàng (Chín)

Trang 29

qua một đam mê mới với Hòa, anh “chỉ theo dõi nàng bằng ánh mặt ái ngại, buồn rầu Đôi khi, những suy nghĩ của nhân vật lại mang quan điểm của tác giả: “Nhưng sao trời bắt tội những vẻ đẹp cứ phải lầm cát bụi? Nếu là nghiệp chướng, là nhân quả, những cô gái kia đã làm gì kiếp trước để bị trừng phạt khốn khổ đến vậy ở kiếp này” [15, tr.296]; “Một nỗi lo âu thắc thỏm bỗng xâm chiếm nàng Họ lại một lần nữa mất nhau ư? Sự lỡ này có phải cũng nằm trong tiền định?” [15, tr.312] Một khi lời văn trần thuật không phải là lời của tác giả, lời của người trần thuật mà là lời của nhân vật sẽ dẫn đến việc người trần thuật không thể trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, quan điểm của mình Nên thông qua lời của nhân vật, người trần thuật (tác giả) gửi gắm những quan điểm, tư tưởng của mình vào trong đó

Có thể nói rằng, thủ pháp trần thuật “nhập vai” vào nhân vật đã làm cho ngôn ngữ trần thuật giàu sắc thái cảm xúc, làm mờ ranh giới giữa đối tượng trần thuật và người trần thuật Qua đó, mối quan hệ giữa ngôn ngữ người trần thuật và ngôn ngữ nhân vật trở nên gắn bó mật thiết và hòa phối với nhau tạo nên một chất giọng riêng Do vậy, khi đọc tác phẩm, ta luôn có cảm giác như đang được nghe chính nhân vật kể về mình Mặt khác, với kiểu trần thuật này, nhà văn Đoàn lê đã đi sâu khám phá nội tâm con người, tìm hiểu thế giới tinh thần phức tạp ở bên trong nhân vật và làm cho nhân vật hiện lên với nhiều cung bậc cảm xúc phong phú, đa dạng

1.2.3 Thủ pháp “dịch chuyển” và “luân phiên” các điểm nhìn trần thuật

Văn xuôi sau 1975 có nhiều đổi mới về quan niệm nghệ thuật từ quan niệm về hiện thực, con người đến quan niệm trần thuật Trong đó, sự trần thuật từ nhiều điểm nhìn là bằng chứng quan trọng Chính việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn và mỗi điểm nhìn là một ý thức hoạt động độc lập đã tạo nên

sự luân phiên điểm nhìn trong tác phẩm Qua đó, sự việc, con người sẽ được nhận thức từ nhiều phía Theo các tác giả Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Phùng

Trang 30

Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam thì: “Sự luân phiên điểm nhìn làm cho người đọc vừa trông thấy theo điểm nhìn bên ngoài, vừa nhìn thấu vào tâm can nhân vật; khi thì theo mắt nhân vật này, khi thì theo mắt nhìn của nhân vật kia, tham gia vào cuộc đối thoại ngầm với văn bản” [39, tr.106] Trong một tác phẩm, các điểm nhìn trần thuật không tách biệt nhau, không đứng riêng lẻ mà

có sự chuyển dịch, phối hợp luân phiên nhau trong một hệ thống trần thuật phức tạp, đa dạng Điểm nhìn có thể dịch chuyển từ người kể chuyện sang nhân vật hoặc từ nhân vật này sang nhân vật khác nhằm phát triển, mở rộng khả năng bao quát, chiếm lĩnh, phản ánh hiện thực một cách đầy đủ

Trong tiểu thuyết Đoàn Lê, dường như sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật diễn ra một cách liên tục Trước hết là sự dịch chuyển ngay chính trong

điểm nhìn của một nhân vật Đặc biệt là ở tiểu thuyết Tiền định, mặc dù người

trần thuật ẩn mình phía sau nhân vật, không lộ diện, chỉ mượn lời nhân vật để

kể lại câu chuyện nhưng người đọc vẫn nhìn thấy rõ trong lời trần thuật của nhân vật có sự thay đổi điểm nhìn Mở đầu truyện, nhân vật “nàng” đang ở thời điểm hiện tại, trên con đường trở về Hải Phòng cùng “anh” trên một chiếc xe máy, lúc này, trong lòng nàng chỉ có “anh”, trái tim nàng ngập tràn cảm giác hạnh phúc khi được ngồi phía sau xe và ôm siết lấy anh Nhưng khi chiếc xe lên cầu Chương Dương, từ xa xa, nàng nhìn thấy hình ảnh cây cầu Long Biên hiện ra, ngay lúc đó, trong trí nhớ của nàng hiện lên những sự kiện cách đó ba chục năm, khi nàng còn là một cô gái mười sáu tuổi Đó là lần đầu tiên nàng đi qua cây cầu này Nàng nhớ lại nó với một cảm giác như chuyện mới vừa xảy ra, như mình vừa thoát khỏi một cơn bấn loạn tinh thần ghê gớm

và “giờ đây, sau hơn ba chục năm nàng vẫn thương cô bé thuở ấy Đó là cái nhìn của nhân vật đối với quá khứ đã qua Cứ như thế, trong tác phẩm , điểm nhìn của nhân vật này được thay đổi theo hai khoảng thời gian, từ hiện tại cô nhìn về quá khứ, sau đó quay lại hiện tại, đứng ở thời điểm đó để để bộc lộ

Trang 31

những cảm nhận, những suy nghĩ của mình về sự việc đã qua Trong Cuốn gia

phả để lại, điểm nhìn của nhân vật Mỗ cũng được thay đổi như vậy, cũng di

chuyển từ điểm nhìn hiện tại sang điểm nhìn trong quá khứ và xuyên suốt tác phẩm hai điểm nhìn này cứ luân phiên, xen kẽ nhau Nhân vật Mỗ ở hiện tại đang loay hoay với công việc đi tìm tài liệu để viết kịch bản phim nhưng trong đầu cô vẫn luôn nghĩ đến ngôi đền họ và mỗi ngày trong khách sạn, cô ngẩn ngơ, miên man trong những dòng hồi tưởng Cô nhìn về quá khứ, nhìn

về cái “thời kỳ bị đe dọa thủ tiêu ấy” với một sự rùng mình đến kinh tởm Cô kinh tởm trước tất cả những việc mà Ngọc Đường, lão Ty, ông Kim đã làm, khiến cho gia đình cô phải sống cới trạng thái lo âu, bù đầu tìm cách giải quyết mọi chuyện trong một khoảng thời gian dài

Ngoài sự dịch chuyển ngay chính trong điểm nhìn của một nhân vật, đọc tiểu thuyết Đoàn Lê ta thấy còn có sự luân phiên điểm nhìn giữa các nhân vật

với nhau, từ nhân vật này sang nhân vật khác Trong Tiền định, từ điểm nhìn

của nhân vật “nàng” (Chín), tác giả chuyển điểm nhìn trần thuật sang các nhân vật “anh”, “chị Bảy” Ở chương hai, lúc đầu là thời điểm hiện tại được nhìn bởi nhân vật Chín (nàng), đến khi kể về câu chuyện của anh Thạch Nhân thì điểm nhìn được chuyển sang cho nhân vật “anh” sau đó trở ngược lại, chuyển sang cho nhân vật “nàng”, nhân vật “nàng” lại tiếp tục những hồi ức

về câu chuyện tình giữa anh Thạch Nhân với chị Tám mình Ở chương bốn, nhân vật Chín từ điểm nhìn hiện tại trở về quá khứ với cuộc tản cư của gia đình, nhưng khi đi vào miêu tả chi tiết cuộc tản cư đó thì điểm nhìn trần thuật được chuyển sang cho nhân vật chị Bảy Cũng tiếp tục như thế ở các chương khác, điểm nhìn giữa các nhân vật này được luân phiên cho nhau, nhưng phần lớn trong tác phẩm là điểm nhìn của nhân vật Chín

Việc dịch chuyển và luân phiên điểm nhìn trần thuật như vậy đã tạo ra được cách nhìn đa chiều đối với sự việc, khiến cho câu chuyện trở nên chân

Trang 32

thật, gần gũi, sống động và lôi cuốn hơn Hơn nữa, sự chuyển đổi linh hoạt điểm nhìn trần thuật còn tạo được cho người đọc cảm giác thoải mái, đi sâu khám phá tác phẩm mà không gây sự nhàm chán, lặp lại

1.3 Một số cách thức trần thuật tiêu biểu trong tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại” và “Tiền định”

Mỗi tác phẩm văn học đều có những cách thức trần thuật riêng Tiểu thuyết của Đoàn Lê cũng vậy Khi sáng tác, nhà văn đã tinh tế và linh hoạt trong việc chọn cho tác phẩm một cách thức trần thuật phù hợp, khiến cho tác phẩm của mình dễ dàng đi sâu vào tâm hồn bạn đọc thời đại Cụ thể ở đây, Đoàn Lê đã thực hiện quá trình trần thuật theo các lối kể chuyện: ngắt quãng, cắt khúc; đồng hiện và lồng ghép

1.3.1 Trần thuật theo lối ngắt quãng, cắt khúc

Lối trần thuật ngắt quãng, cắt khúc là lối trần thuật gắn liền với văn chương hậu hiện đại Do được xây dựng dựa trên tính chia cắt của trần thuật hậu hiện đại nên chúng ta có thể hiểu lối trần thuật ngắt quãng, cắt khúc là lối trần thuật mà trong đó nhân vật, cốt truyện, diễn ngôn, không gian và thời gian nghệ thuật đều bị chia cắt thành từng quãng, từng khúc hay có thể gọi là từng mảnh vụn rời rạc, lỏng lẻo Đây là lối trần thuật đối lập với lối trần thuật của truyện kể truyền thống Nếu trong lối trần thuật liền mạch, các sự kiện trong cốt truyện móc xích chặt chẽ với nhau thì theo lối trần thuật này, các sự kiện trong cốt truyện không liền mạch mà rời rạc như những quãng, những khúc, những mảnh ghép đặt lên nhau một cách lộn xộn

Chọn lối trần thuật này, nhà văn Đoàn Lê trong cuốn tiểu thuyết Cuốn

gia phả để lại và Tiền định đã phá vỡ lối kể chuyện của cốt truyện truyền

thống dẫn đến sự tan vỡ và phân rã cốt truyện thành từng mảnh không gian, thời gian nghệ thuật khác nhau ứng với từng mảnh tâm trạng, dòng hồi ức của nhân vật Đặc biệt, ở đây nhà văn sử dụng ký ức như một thành tố chủ đạo

Trang 33

trong quá trình trần thuật Thời gian và không gian trong hai tác phẩm gắn liền với dòng ý thức nhân vật, không tuân theo một trật tự tuyến tính mà nó bị đứt quảng và có sự đảo lộn, từ hiện tại quay về quá khứ, sau đó trở về hiện tại hoặc hướng tới tương lai Do đó, các sự kiện, thời gian, không gian bị chia vụn ra thành từng mảnh nhỏ

Ở Cuốn gia phả để lại, câu chuyện được kể lại theo dòng hồi ức của

nhân vật Mỗ Ở đây, dòng tâm trạng của nhân vật chính là cái mốc của toàn

bộ diễn biến câu chuyện Nhà biên kịch Mỗ luôn sống trong những khoảng thời gian khác nhau là quá khứ và hiện tại Hiện tại nhà biên kịch đang đi công tác để thực hiện một kịch bản phim còn quá khứ là những cuộc xung đột, những mâu thuẩn trong dòng họ Trần cách đó sáu năm Hai mảng hiện tại

và quá khứ đan xen nhau Sau mỗi thời điểm ở hiện tại, nhân vật nhớ đến một khoảnh khắc của câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ Chẳng hạn, trong ngày thứ hai ở khách sạn Kinh Môn, nhân vật nhớ lại câu chuyện mà cô đã từng đọc trong truyện ngắn của em gái Tảo Liên hệ với câu chuyện ấy, cô nhớ về người mẹ chồng và bắt đầu những ký ức về dòng họ Trần với những tên tuổi của các cụ Thủy Tổ và câu chuyện tình giữa bố mẹ chồng cho đến khi bố chồng mất đi, mấy mẹ con phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác Sau đó, tác phẩm quay trở lại hiện tại với ngày thứ ba nhà biên kịch ở khách sạn Kinh Môn Hôm ấy, ký ức của nàng tràn về với hình ảnh của Ngọc Đường, Lão Ty, khi hai vợ chồng Mỗ Tự sống chung với gia đình bà Phán ba cho đến khi phải cắn răng rời khỏi ngôi nhà đáng lẽ ra mình được thừa hưởng Câu chuyện cứ thế bị phân thành từng mảnh nhỏ Điều ấy khiến cho người đọc phải sâu chuỗi, lắp ráp các mảnh đó lại với nhau thì mới hiểu được câu chuyện

Ở Tiền định, câu chuyện cũng được tác giả trần thuật theo cách như vậy Tuy nhiên, so với nhân vật Mỗ trong Cuốn gia phả để lại, dòng tâm trạng của

nhân vật Chín trong tác phẩm này có phần phức tạp hơn Nếu trong quá khứ

Trang 34

của nhân vật Mỗ chỉ tập trung xoay quanh một câu chuyện là những mối xung đột, mâu thuẩn trong dòng họ để giành cụ tổ danh nhân với những nhân vật là những thành viên trong dòng họ đó Thì ở đây, trong ký ức của nhân vật tồn tại nhiều câu chuyện khác nhau với những nhân vật khác nhau, có khi nhân vật này lại không biết những nhân vật khác, các nhân vật chỉ xuất hiện theo từng mối quan hệ với nhân vật Chín Chẳng hạn, xoay quanh chuyện tình yêu của Chín có những nhân vật Thân, Hòa, Thảo, xoay quanh mối quan hệ của Chị Bảy có anh Thạch Nhân Chính điều này đã tạo cho tác phẩm từng mảnh ghép chằng chịt, các câu chuyện không thể liên kết được với nhau khiến cho người đọc đôi khi cũng cảm thấy đó là một sự vô lí, tuy nhiên, xét về diễn biến tâm trạng của nhân vật thì nó lại có lí vô cùng

Trong tác phẩm, dòng tâm trạng của nhân vật có sự chuyển biến với sự đan xen giữa hai mảng hiện thực và quá khứ Mở đầu tiểu thuyết, nhân vật đang sống trong thời điểm hiện tại với tình yêu của anh nhà báo Sau đó, dòng hồi ức đã đưa nhân vật trở về những quãng thời gian với những sự kiện đã xảy

ra trong quá khứ cách đó hơn ba chục năm Trước hết là ký ức khi cô mười sáu tuổi trốn nhà lên Hà Nội học, rồi những ký ức về anh Thạch Nhân, về chị Bảy, về mẹ, bố, bà ngoại, về những mối tình và những lần kết hôn của cô trong khoảng thời gian làm trong xưởng phim, cả những ký ức về cuộc chạy loạn của gia đình… Sau từng sự kiện, từng mảnh ký ức về quá khứ ấy, nhân vật lại quay về hiện tại và có khi hướng đến tương lại Đặc biệt xen lẫn trong những sự kiện mà nhân vật Chín nhớ lại đôi khi có cả những hồi ức của nhân vật “anh” Tất cả tạo nên những mảnh vỡ chằng chịt, câu chuyện không diễn

ra theo trật tự thời gian tuyến tính nữa mà bị đứt đoạn thành từng khúc, có khi

nó chỉ được diễn tả trong một vài câu văn nhưng có khi là cả đoạn văn dài Chính sự chuyển biến trong dòng tâm trạng của nhân vật ở hai tác phẩm

như đã nói ở trên đã góp phần tạo ra những mảng không gian Ở Cuốn gia

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Thủy Chi, “Nữ sĩ Đoàn Lê tâm sự về Tiền Định”, nguồn http://www.tin 247.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sĩ Đoàn Lê tâm sự về Tiền Định
3. Đông Dương, “Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa”, nguồn http://vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa
4. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 2), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 2)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
5. Việt Hà, ‘“Tiền định” khắc khoải phận người”, nguồn http://vnca.cand. com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền định” khắc khoải phận người
6. Việt Hà, “Nhà văn Đoàn Lê: một mình một lối”, nguồn http://vnca.cand. com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Lê: một mình một lối
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2007), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Ngọc Hiền, “Đoàn Lê và những cung bậc cuộc đời”, nguồn http://vietvan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Lê và những cung bậc cuộc đời
9. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, NXB Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao
Năm: 1992
10. Nguyễn Văn Học, “Vẽ lại Đoàn Lê”, nguồn http://www.baophuyen.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẽ lại Đoàn Lê
11. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đền thi pháp của truyện, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đền thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
12. Vũ Thị Hương (2009), “Thủ pháp dòng ý thức trong một số tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ pháp dòng ý thức trong một số tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Vũ Thị Hương
Năm: 2009
13. Phạm Thị Thu Hương (2011), Bài giảng Tự sự học, Trường Đại học sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Tự sự học
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Năm: 2011
14. Chu Lai, Đoàn Lê (2004), Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Tác giả: Chu Lai, Đoàn Lê
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2004
15. Đoàn Lê (2010), Tiền Định, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền Định
Tác giả: Đoàn Lê
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2010
16. Đoàn Lê (2010), …Và sex, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: …Và sex
Tác giả: Đoàn Lê
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2010
17. Tam Lệ, “Nghệ thuật đồng hiện”, nguồn http://www.tienve.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nghệ thuật đồng hiện
18. Nguyễn Hồng Lĩnh, “Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan”, nguồn http://vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan
19. Hà Linh, “Tiền định nghiệt ngã trong tiểu thuyết Đoàn Lê”, nguồn http://giaitri.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền định nghiệt ngã trong tiểu thuyết Đoàn Lê
20. Nguyễn Văn Long (chủ biên, 2007), Giáo trình Văn học hiện đại Việt Nam (tập 2), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học hiện đại Việt Nam (tập 2)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w