Hát phường vải là những câu hát giao duyên, đối đáp, là tiếng nói đầy tình cảm trong quá trình lao động sản xuất của con người nơi đây; một trong những nét cơ bản của hát phường vải là đ
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Nguyễn Trí Tân
Người thực hiện
NGUYỄN THỊ DUNG
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 3Tôi tên là Nguyễn Thị Dung, sinh viên lớp 10CVH1, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng xin cam đoan rằng: Công trình này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc Sĩ Nguyễn Trí Tân
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học trong công trình này
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Dung
Trang 4Luận văn được hoàn thành ngoài sự cố gắng, nỗ lực của cá nhân, tôi còn nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn nghiêm túc, khoa học của thầy giáo Nguyễn Trí Tân và sự góp ý, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Ngoài ra còn có sự khích lệ động viên của gia đình, bạn bè
Qua đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới thầy hướng dẫn Nguyễn Trí Tân, các thầy cô trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm, các thầy
cô trong thư viện trường Đại học Sư phạm, các cô chú trong thư viện tỉnh Hà Tĩnh cũng như gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014
Người thực hiện
Nguyễn Thị Dung
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Giới thuyết thuật ngữ 7
1.1.1 Đại từ 7
1.1.2 Đại từ xưng hô 7
1.1.3 Các tiểu loại của đại từ xưng hô 8
1.2 Nghệ Tĩnh - vùng đất của những làn điệu dân ca 11
1.2.1 Giới thiệu về vùng đất Nghệ Tĩnh 11
1.2.2 Nghệ Tĩnh - cái nôi của những làn điệu dân ca 13
1.3 Hát phường vải 14
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của hát phường vải 14
1.3.2 Nội dung của hát phường vải 17
1.3.3 Quá trình của một hội hát phường vải 19
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH 24
2.1 Khảo sát tần số xuất hiện của các đại từ trong hát phường vải 24
2.1.1 Đại từ xưng hô gốc chỉ người nói 24
2.1.2 Đại từ xưng gốc chỉ người nghe 24
Trang 62.1.4 Tiểu kết 25
2.2 Khảo sát tần số đại từ lâm thời trong hát phường vải 26
2.2.1 Đại từ xưng hô chỉ người nói 26
2.2.2 Đại từ xưng hô chỉ người nghe 26
2.2.3 Đại từ xưng hô lâm thời chỉ người, vật được nói đến 27
2.2.4 Tiểu kết 27
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH 30
3.1 Giá trị của việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh 30
3.1.1 Đại từ xưng hô gốc 30
3.1.2 Đại từ xưng hô lâm thời 36
3.2 Tác dụng của các đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh 45
3.2.1 Sự thay đổi cách xưng hô 45
3.2.2 Sử dụng cách xưng hô mang tính địa phương 48
3.3 So sánh việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phường vải với các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh khác 51
3.3.1 Đại từ xưng hô trong hát phường vải với hát giặm 51
3.3.2 Đại từ xưng hô trong hát phường vải với vè 55
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, dù hợp nhất hay tách ra thì Nghệ Tĩnh
vẫn được gọi với cái tên hết sức thân mật “Xứ Nghệ”, có chung dãy Thiên
Nhẫn, Giăng Màn, uống chung dòng sông Lam, chung giọng nói và có chung những câu hò, điệu ví mang đặc trưng của quê hương đất Lam Hồng Nghệ Tĩnh là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca như hò, ví, giặm, đồng dao, hát ru, hát xẩm, hát ca trù
Cùng với hát giặm, hát phường vải là một trong những làn điệu đặc trưng, một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người Nghệ Tĩnh Hát phường vải là những câu hát giao duyên, đối đáp, là tiếng nói đầy tình cảm trong quá trình lao động sản xuất của con người nơi đây; một trong những nét cơ bản của hát phường vải là đại từ xưng hô Vì vậy chúng
tôi chọn: “Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh” làm đề tài
nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về đại từ xưng hô đã có nhiều công trình nghiên cứu như:
Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục, 2001,
chương ba bàn về các từ loại ông đã khái quát các từ loại trong đó có đại từ Trong phần này ông nói rõ về các đặc trưng của đại từ và phân ra các tiểu loại đại từ Theo Lê Biên đại từ bao gồm đại từ xưng hô, đại từ chỉ định, đại từ để
hỏi, đại từ chỉ khối lượng tổng thể, đại từ phiếm chỉ, đại từ “thế, vậy”
Ông cho rằng: “Đại từ tiếng Việt không có phạm trù ngôi như các ngôn ngữ Âu châu; có những đại từ xưng hô ở tiếng Việt không đơn thuần chỉ một
ngôi xác định (ta, chúng ta, chúng mình, mình )”[3.Tr.123] Khi viết về đại
từ xưng hô, ông chia làm hai lớp: các đại từ xưng hô gốc và các từ lâm thời
Trang 8làm đại từ xưng hô Các đại từ xưng hô gốc thường rất ít: tao, ta, mày, nó,
hắn chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự; những từ lâm
thời làm đại từ xưng hô là những từ nguyên là danh từ như: tôi, tớ, mình,
chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta , hay từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc
như cụ, ông, bà, cô, dì
Ngoài ra, những từ dâu, rể, vợ, chồng, từ chỉ học hàm, học vị, chức
danh nghề nghiệp, tên riêng của người cũng không được dùng làm từ xưng
hô Khi lập bảng tóm tắt đại từ xưng hô Lê Biên chia đại từ xưng hô theo ngôi thứ nhất (người nói), ngôi thứ hai (người nghe), ngôi thứ ba (người,vật được nói đến) Các đại từ bao gồm đại từ số ít, ngôi gộp hỗn số, số nhiều, các biến thể
Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt NXB Từ điển bách
khoa, 2001 đã chia đại từ ra nhiều nhóm nhỏ theo ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp Theo Nguyễn Hữu Quỳnh đại từ bao gồm: đại từ xưng hô, đại từ chỉ định sự vật, đại từ chỉ định không gian, thời gian, đại từ chỉ trạng thái, đại từ chỉ số lượng, đại từ để hỏi Ông cũng chia đại từ xưng hô thành đại từ chuyên dùng để xưng hô và đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan
hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội
Nguyễn Chí Hòa trong Ngữ pháp tiếng Việt thực hành, NXB ĐHQG
Hà Nội, 2006 đã có phần nói về đại từ; ông nêu ra các đặc điểm của đại từ và các loại đại từ gồm: đại từ chỉ ngôi, đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn, đại từ
nghi vấn phiếm chỉ, đại từ thế, vậy Trong phần nói về đại từ chỉ ngôi - đại từ
xưng hô, tác giả đưa ra nhận xét “Đại từ xưng hô dùng để thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp Đại từ chỉ ngôi có thể dùng ở ngôi xác định hoặc ở nhiều ngôi khác nhau [12.tr.85] Ông chỉ rõ đại từ chỉ ngôi
bao gồm: ngôi thứ nhất (người nói) tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tao ; ngôi thứ hai (người nghe) mày, mi, cậu, chúng mày, chúng bay ; ngôi thứ ba
Trang 9(người vật được đề cập đến) hắn, y, nó, chúng nó, họ, chúng Theo Nguyễn
Chí Hòa ngoài những đại từ chỉ người trên thì tiếng Việt còn hệ thống đại từ
lâm thời được mượn danh từ như: tớ, mình, anh, chị, ông, bà, ông ấy, bà ấy
Cũng trong cuốn này ông đã cho rằng có những đại từ xưng hô được dùng ở
nhiều ngôi như: mình, ta, chúng ta, chúng mình , đại từ tương hỗ nhau
Trong Ngữ pháp tiếng Việt do Bùi Minh Toán (chủ biên) NXB Sư
phạm 2007, ông chia các tiểu loại đại từ căn cứ vào chức năng thay thế và mục đích sử dụng Theo Bùi Minh Toán các đại từ xưng hô bao gồm người
nói tự xưng (tôi, tao, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, mình, chúng tớ), người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi, người ), hoặc chỉ người được nói tới (nó, hắn, y, thị, chúng nó, họ, chúng ) Ông cũng phân biệt các đại từ
xưng hô theo ngôi và số, còn các danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình và trong xã hội thì không phân biệt theo ngôi
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt tập 1,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp”[1.tr.127] Có thể phân biệt đại từ dùng ở một ngôi xác định và đại từ có thể dùng ở nhiều ngôi khác nhau Ông cũng chia ra các cương vị ngôi của người nói, người nghe, người được nói tới theo số ít và số nhiều Nhóm đại từ có thể dùng nhiều ngôi linh
hoạt bao gồm: đại từ thường dùng nhiều ngôi (mình), đại từ dùng chỉ gộp nhiều ngôi (ta, chúng ta, mình, chúng mình ), đại từ dùng với ý nghĩa “phản thân” (mình), đại từ dùng chỉ ngôi gộp “tương hỗ” (nhau) đại từ dùng chỉ ngôi “phiếm chỉ” (ai, ai ai)
Qua một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy rằng đa số các nhà nghiên cứu đều có chung quan niệm về đại từ xưng hô: Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế, chỉ trỏ đối tượng tham gia giao tiếp Dù mỗi người đều có một cách đưa ra khái niệm và
Trang 10giải thích riêng, phân loại riêng về đại từ cũng như đại từ xưng hô nhưng họ đều cho rằng bên cạnh những đại từ xưng hô gốc thì trong tiếng Việt còn có các lớp từ lâm thời được sử dụng để xưng hô
Nghiên cứu về Hát phường vải Nghệ Tĩnh đã có một số công trình:
Ninh Viết Giao, (1993), Hát phường vải, NXB Nghệ An, trong quyển này tác
giả phát triển thành hai phần: phần một là bài tiểu luận về hát phường vải, phần hai là hơn 1000 câu hát phường vải được tác giả sưu tầm và biên soạn
Hát phường vải ở Trường Lưu của Vi Phong đã giới thiệu về hát
phường vải làng Trường Lưu, Can Lộc; cùng với đó là những bài hát phường vải được sưu tập như: Thác lời gái phường vải, Thác lời trai phường nón, Ví phường vải Can Lộc, Ví phường vải Đức Thọ
Trong Dân ca Nghệ Tĩnh của Vi Phong, Thu Hiền, Đức Duy các tác giả
đã giới thiệu về các loại hình dân ca Nghệ Tĩnh trong đó có hát ví, cụ thể là ví phường vải “Ví phường vải là một điệu ví của phường quay xe, dệt vải; nói chính xác hơn là điệu ví của những người kéo sợi”[21.tr.45]
Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa của
Hoàng Trọng Canh, (2009) NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; trong chương ba, chương bốn tác giả đã bàn về những dấu ấn văn hóa của người Nghệ Tĩnh qua tên gọi và cách gọi tên, xét trên một số nhóm từ; từ địa phương trong hoạt động sáng tạo thơ dân gian Nghệ Tĩnh Trong quyển này tác giả đã đề cập đến nhóm từ xưng hô trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, cách xưng hô trong tiếng địa phương Nghệ Tĩnh Tác giả cũng đã khảo sát những đại xưng hô địa phương trong các tác phẩm thơ dân gian Nghệ Tĩnh trong đó có hát phường vải Theo Hoàng Trọng Canh “Cách xưng gọi trong gia đình cũng như ngoài xã hội ở Nghệ Tĩnh có sự kết hợp của hai cách xưng gọi: trân trọng nghi thức và mộc mạc bình dân, song nhìn chung rất đậm tình cảm Dấu ấn về một thói quen trong xưng gọi chú ý nhiều đến yếu tố giới tính, đề cao tính tiếp nối, đề cao
Trang 11gia đình và quan hệ gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình, duy trì yếu tố truyền thống trong xưng gọi – đó là những nét sắc thái văn hóa riêng của người xứ Nghệ trong xưng hô”[4.tr.257]
Nguyễn Thị Mai Hoa với đề tài Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát
phường vải Nghệ Tĩnh (2010), trong Luận văn tiến sĩ này tác giả tập trung
nghiên cứu về hát phường vải qua ngôn ngữ giới tính thể hiện qua từ xưng hô, hành động nói giới tính vai giao tiếp thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ Theo Nguyễn Thị Mai Hoa “Việc phân định vị thế vai giao tiếp vẫn bị chi phối khá nhiều bởi yếu tố giới tính Là môi trường tương tác phi quy thức, trong hoạt động giao tiếp của hát phường vải, cách xưng hô của các vai nam/nữ khá phong phú, đa dạng, thể hiện sự chi phối của đặc trưng giới tính”[11.tr.194]
Những công trình nghiên cứu về hát phường vải Nghệ Tĩnh trước đây chủ yếu là nói về từ địa phương nếu có nói về đại từ trong hát phường vải thì cũng chỉ mang tính chung chung chưa có công trình nào nghiên cứu về đại từ một cách hệ thống
Việc nghiên cứu “Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh" sẽ
đưa lại một cái nhìn hệ thống về cách xưng hô trong hát phường vải, đồng thời góp phần gìn giữ và lưu truyền một làn điệu dân ca đặc sắc của vùng quê Nghệ Tĩnh Ngoài ra việc nghiên cứu sẽ mở ra những cách nhìn nhận, hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứu về loại hình dân ca độc đáo này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: “Hát phường vải” do Ninh Viết Giao
sưu tầm và biên soạn, NXB Nghệ An, 1993
4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh” chúng
Trang 12tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp khảo sát thống kê: thống kê tần số xuất hiện của các đại
từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh Từ việc thống kê chúng tôi đưa
ra một số nhận xét về việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phương vải Nghệ Tĩnh
Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phường vải với các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh khác như hát giặm, vè
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích từng đại từ xưng hô được xuất hiện trong hát phương vải, từ việc phân tích đưa ra những nhận xét về giá trị của việc sử dụng các đại từ xưng hô ấy
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của bài khóa luận gồm các chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
Chương 3: Giá trị và tác dụng của đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Giới thuyết thuật ngữ
1.1.1 Đại từ
Theo Từ điển tiếng Việt Nguyễn Như Ý chủ biên, đại từ là từ dùng để
xưng gọi hoặc dùng để thay thế cho thực từ
Trong Ngữ pháp tiếng Việt Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Đại từ không
phải là từ loại dùng để nêu lên một khái niệm chung về sự vật, về hành động,
về tính chất như danh từ, động từ, tính từ mà là một loại dùng để chỉ trỏ vào một sự vật, một hành động hay một tính chất nào đó, đã được xác định rõ ràng bằng cách này hay cách khác ở trước đó”.[5.tr.339]
Bùi Minh Toán trong Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng đại từ có chức năng
để xưng hô, để trỏ hoặc để thay thế (thay thế cho các từ loại danh từ, động từ, tính từ, số từ) Khi thay thế cho từ loại nào thì đại từ đó mang đặc điểm cơ bản của loại từ loại đó
Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đưa ra khái niệm
về đại từ “Đại từ là những từ dùng để chỉ sự vật, để xưng hô, để thay thế cho danh từ, động từ, tính từ, số từ và cụm từ trong câu.” [23.tr.150]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
nói: Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Đại từ không trực tiếp biểu hiện thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động từ, tính từ Đại từ chỉ biểu thị các ý nghĩa một cách gián tiếp Đại từ không chỉ thay thế cho thực
từ mà còn dùng để thay thế cho cụm từ, câu, đoạn văn Đại từ có thể đảm nhận các chức năng cú pháp của từ loại mà nó thay thế
1.1.2 Đại từ xưng hô
Trong các giáo trình về ngữ pháp tiếng Việt nhiều tác giả đưa ra một số
Trang 14nhận định về đại từ xưng hô, mỗi người lại đưa ra những nhận xét và đưa ra những cách lí giải khác nhau Tuy nhiên đa số các tác giả đều cho rằng đại từ xưng hô bao gồm đại từ xưng hô gốc và đại từ xưng hô lâm thời
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (tập
1) 2012, NXB Giáo dục Việt Nam “Đại từ xưng hô dùng biểu thị và thay thế các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (được phản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay tổ hợp thực từ tương ứng) [1.Tr.127]
Ngữ pháp tiếng Việt, 2001, Nguyễn Hữu Quỳnh NXB Từ điển bách
khoa “Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế và chỉ người Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng
hô và các đại từ xưng hô lâm thời mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội”[23.tr.151]
Trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên chia đại từ xưng hô thành
hai lớp là đại từ xưng hô gốc và yếu tố được đại từ hóa làm đại từ xưng hô
Trong luận văn của mình, chúng tôi theo quan điểm của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung về những đặc điểm của đại từ xưng hô về ngôi Đại từ xưng hô bao gồm đại từ gốc là những đại từ xưng hô và những đại từ xưng hô lâm thời (gốc là danh từ, đại từ chỉ định ) nhưng được sử dụng như đại từ; đại từ xưng hô bao gồm đại từ ở những ngôi cố định và đại từ dùng ở những ngôi linh hoạt, tùy vào hoàn cảnh giao tiếp Tuy nhiên, dù dùng ở ngôi xác định hay linh hoạt thì đại từ xưng hô cũng được chia theo vai người nói, người nghe, người, vật được nói tới
1.1.3 Các tiểu loại của đại từ xưng hô
Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt của Bùi Minh Toán, đại từ xưng hô gồm: người nói tự xưng (tôi, tao, chúng tôi, chúng mình, mình, chúng tớ), người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi, ngươi ), hoặc chỉ người được nói tới (nó, hắn, y, thị, chúng nó, họ, chúng ) Ngoài ra trong tiếng Việt
Trang 15nhiều danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô: ông, bà,
anh, chị, em, cô, dì, chú, bác (dùng rộng trong quan hệ xã hội) Theo ông
“Các danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình và ngoài xã hội thì không phân biệt theo ngôi, cũng một từ có thể dùng ở cả ba ngôi tùy theo tình huống giao tiếp”.[25.tr.46]
Theo Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, đại từ xưng hô tiếng
Việt có thể chia thành hai lớp:
Các đại từ xưng hô gốc đích thực trong tiếng Việt rất ít: tao, ta, mày,
nó, hắn và chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự
Lớp đại từ hóa để xưng hô gồm những từ nguyên là danh từ đã trở
thành đại từ thực sự: tôi, tớ, mình, hoặc còn dấu ấn danh từ khá rõ: chàng,
nàng, thiếp, người, ngài, người ta Danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại
từ đó là danh từ chỉ người thuộc quan hệ gia tộc thân thuộc như: cụ, ông, bà,
cha, mẹ, chú, bác, cậu, cô, dì, mợ, thím, anh, chị, em, con, cháu
Theo Lê Biên đại từ xưng hô có thể tóm tắt theo bảng sau:
Ta
chúng ta
chúng mình
chúng tao chúng tôi chúng tớ chúng mình chúng ta
tau (tao) tui (tôi) tôi = choa, min, qua
Ngôi thứ hai
(người nghe) Mày, mi
Chúng mày chúng bay
mi (mày) bây (bay) mày: bậu Ngôi thứ ba
(người, vật
được nói tới)
Nó, hắn, y, thị
chúng nó
họ chúng
(nó)= va, nghỉ
Trang 16Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt đã chia đại từ xưng hô gồm đại từ chuyên dùng để xưng hô như: ta, tôi, mình, chúng ta, chúng tôi
Theo ông các đại từ ta, mình, chúng ta, chúng mình dùng ở ngôi thứ
nhất song bao hàm cả người nói lẫn người nghe
Chúng ta là con một cha, nhà một nóc (Tố Hữu)
Đại từ nhau chỉ những người và vật có tác động qua lại trong một hoạt
chỉ để nói đến người đã được nói đến trước đó
Các đại từ xưng hô lâm thời mượn danh từ gồm: anh, chị, em, ông, bà,
chú, các đại từ xưng hô là các danh từ có thể được dùng ở nhiều ngôi khác
nhau
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt đã phân
biệt đại từ xưng hô theo ngôi bao gồm đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định và đại từ xưng hô dùng ở những ngôi linh hoạt
Đại từ xưng hô dùng ở ngôi xác định được thể hiện rõ qua bảng sau: Cương vị ngôi của các đối tượng
trong quan hệ giao tiếp
Ý nghĩa đối tượng số lượng giao tiếp theo ngôi
đơn thể) chúng tôi
chúng tao
chúng tớ
chúng mày chúng bay bay
chúng nó chúng
họ
Số nhiều (tập thể hay tổng thể)
Trang 17Theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, đại từ xưng hô dùng ở những ngôi linh hoạt bao gồm:
- Đại từ dùng nhiều ngôi “mình”
Ví dụ: Hãy tin mình, mình không bao giờ để Sự phải khổ đâu
Mình xem bức tranh này có đẹp không?
- Đại từ dùng để chỉ ngôi gộp tương hỗ “nhau”
Ví dụ: Như anh đã biết đấy chúng ta phải dựa vào nhau mà sống
Có ngày hai đứa chúng em nằm dài nhìn nhau
- Đại từ chỉ ngôi phiếm định “ai, ai ai”
Ví dụ: Ai ở gần cửa đạp kêu tụi nó coi
Ai còn lạ gì tài đi thúng của vợ chồng anh
1.2 Nghệ Tĩnh - vùng đất của những làn điệu dân ca
1.2.1 Giới thiệu về vùng đất Nghệ Tĩnh
Nghệ Tĩnh - vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, bao gồm hai tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam là Nghệ An và Hà Tĩnh Từ khi nhà Hán bành trướng xuống phía Nam lập nên bộ Giao Chỉ đứng đầu là một viên thủ sứ đóng đô ở Mê Linh (Mê Linh, Hà Nội) trông coi 9 quận trong đó có 3 quận thuộc nước ta là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Lúc bấy giờ, Nghệ Tĩnh có tên là Hàm Châu thuộc huyện Cửu Chân
Trang 18Năm 271 theo lời xin của thủ sứ Đào Hoàng nhà Ngô tách hẳn bộ phận phía nam Cửu Chân ngang với huyện Hàm Hoan cũ đặt thành quận Cửu Đức Dưới triều nhà Tấn, nhà Tống thì Nghệ Tĩnh vẫn được gọi là Cửu Đức Năm
523 Lương Vũ Đế chia Giao Châu cũ ra nhiều châu huyện mới, đổi Cửu Chân thành Ái Châu và Cửu Đức thành Đức Châu Nhưng đến thời nhà Tùy lại đổi Đức Châu thành Hoan Châu
Đến năm 607, Tùy Dưỡng Đế bỏ các châu cũ và đặt lại các châu, quận Đến nhà Đường các quận được đổi lại các châu như cũ Năm 628 châu Nam Đức đổi thành Đức Châu sau đó lại được đổi tên thành Hoan Châu Đến năm
679 nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ thống trị nước ta, tách Hoan Châu thành hai châu là Diễn Châu và Hoan Châu Diễn Châu tương đương với các huyện bắc xứ Nghệ: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành và vùng núi tây bắc Nghệ Tĩnh, Hoan Châu bao gồm các huyện phía nam Nghệ An và bắc Hà Tĩnh ngày nay
Sang thời kì nhà nước Đại Việt, thời Tiền Lê, Nghệ Tĩnh vẫn còn gọi là Hoan Châu và Diễn Châu Đến thời Lý các khu vực hành chính được chia nhỏ xuống cơ sở thành lộ, phủ, huyện, hương Dưới thời nhà Lý năm 1010 chia Nghệ Tĩnh thành hai lộ là Hoan Châu và Diễn Châu Vào năm Thông Thụy thứ 3 năm 1036, Lý Thái Tổ đổi tên Hoan Châu thành châu Nghệ An Vào năm 1428, Lệ Lợi chia nước ta thành năm lộ thì Nghệ An và Diễn Châu thuộc đạo Hải Tây Đến đời Lê Thánh Tông năm 1469, khi định lại bản đồ Nghệ Tĩnh được gọi là Nghệ An thừa tuyên Triều Nguyễn Quang Trung đổi Nghệ
An thành trấn Nghĩa An Giai đoạn đầu nhà Nguyễn các đơn vị hành chính trên đất Nghệ Tĩnh vẫn được giữ nguyên cho tới năm Minh Mạng thứ 12 (1831) nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa của Nghệ An thành lập tỉnh mới là Hà Tĩnh
Sau hơn 20 năm sau (1852) Tự Đức lại bỏ Hà Tĩnh đem Đức Thọ nhập
Trang 19vào Nghệ An và lấy phủ Hà Hoa làm thành đạo Hà Tĩnh gồm 3 huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà Đến năm 1875, Tự Đức lại bỏ đạo Hà Tĩnh, lập lại tỉnh Hà Tĩnh gồm các phủ huyện như trước
Ngày 27/12/1975 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 5, kì họp thứ 2 Nghị quyết hợp nhất Nghệ An và Hà Tĩnh thành một tỉnh mới gọi là Nghệ Tĩnh
Ngày 18/12/1991 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 8 kì họp thứ 9 Nghị quyết chia Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh là Nghệ An và
Hà Tĩnh
1.2.2 Nghệ Tĩnh - cái nôi của những làn điệu dân ca
Lịch sử phát triển của vùng đất Nghệ Tĩnh gắn với bao thăng trầm, biến
cố lịch sử của dân tộc Việt Nam Nghệ Tĩnh là nơi khởi đầu cho cuộc khởi nghĩa nông dân Xô Viết Nghệ Tĩnh, đánh dấu mốc son trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nước ta, nơi đây tự hào là vùng đất của những con người yêu nước, dũng cảm, gan dạ Đặc biệt, đây là vùng đất có truyền thống hiếu học, có các nhà khoa bảng văn chương danh tiếng và nhiều làng văn nghệ nổi tiếng, nơi sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, danh nhân, nhiều nhà văn hóa, nhà khoa học lớn
Vùng đất Nghệ Tĩnh không chỉ biết đến với những cuộc đấu tranh nông dân, vùng đất hiếu học, đó con là nơi sản sinh, cái nôi của nhiều làn điệu dân
ca Nghệ Tĩnh là mảnh đất của nhiều làn điệu dân ca như: hò, ví, giặm, đồng giao, hát ru, xẩm, ca trù Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau một lần về thăm Nghệ Tĩnh được nghe Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh biểu diễn năm 1986 đã từng nói: “Tôi đã đi nhiều nơi ở trong nước và trên thế giới, nghe nhiều dân ca, nhưng dân ca Nghệ Tĩnh là hay nhất, hay nhất thế giới ”[21.tr.14]
Nghệ Tĩnh là vùng đất của nhiều làn điệu dân ca như: hát giặm, hát phường vải, ca trù Cổ Đạm, hò Mỗi làn điệu dân gian gắn với phong tục tập
Trang 20quán, đấu tranh chống ngoại xâm cũng như đời sống tinh thần, gắn với quá trình lao động của bà con nơi đây Những câu hò điệu ví đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nơi đây, nó góp phần nuôi dưỡng cốt cách, tâm hồn người Nghệ Tĩnh qua từng kỳ lịch sử
Tuy nhiên, một trong những làn điệu đặc trưng nhất ở vùng quê xứ Nghệ đó là hát ví, hát giặm Nghệ Tĩnh Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về nội dung, phong phú về thể loại, ví bao gồm ví phường vải, ví đò đưa sông Lam,
ví đò đưa chuyển phường vải Hát giặm là một loại hình sinh hoạt giữa hai bên nam và nữ được tổ chức trong những ngày hội hè, đình đám Hát giặm không thành phường thành hội nhưng là một hình thức giao duyên trong mọi sinh hoạt của người nông dân
Gần đây, hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã và đang được hoàn thành hồ sơ để trình lên UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2014 này
Ngoài hát ví, giặm thì Nghệ Tĩnh còn là cái nôi của các làn điệu dân ca như: hò, vè, hát ru, hát sắc bùa, hát nói
1.3 Hát phường vải
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của hát phường vải
Người xưa có câu “buôn có hội, bán có phường”, đây cũng chính là
một trong những nét đặc trưng của con người Xứ Nghệ Ở Nghệ Tĩnh, họ làm việc có hội, có phường; đó là một trong những truyền thống lâu đời Mỗi nghề, mỗi việc lại có những hội, phường khác nhau: phường đan, phường nón, phường buôn, phường vàng, phường vải, phường cấy, phường gặt Trong quá trình lao động của từng phường hội lại xuất hiện những điệu ví mang đặc trưng của từng nghề ví phường vải, ví phường cấy, ví phường củi,
ví đò đưa
Hát phường vải còn gọi là hát ví phường vải gắn với công việc của
Trang 21những người dệt vải
Tấn Tần rắp ranh
Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường
Nguyệt dạ canh trường
Dăm ba o ngồi lại, dăm ba dì ngồi lại
Trước là nghề canh cửi – sau đàn hát vui cười
Theo nhịp của con thoi, tay quay của chị em phường vải trong quá trình làm việc là những câu ví, họ hát để động viên nhau cho quên sự mệt nhọc lúc làm việc, những câu hát đối, hát tình với sự tham gia của nhóm nam (có thể là trai phường vải hay phường củi, phường nón )
Tuy nhiên không phải hễ nơi nào có nghề dệt vải là có hát phường vải
Ở Thanh Hóa, nghề dệt vải cũng có lối hát giao duyên giữa nam và nữ nhưng lại gọi là hát ghẹo Hát phường vải Nghệ Tĩnh được biết đến với những vùng như: Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch Hà, Can Lộc, Đô Lương, Thanh Chương, Quỳnh Lưu Hát phường vải được biết đến là một làn điệu dân ca độc đáo của nhiều địa phương ở Nghệ Tĩnh mà đặc biệt là làng dệt vải ở Trường Lưu
và Nam Đàn, đây là hai địa chỉ mà hát phường vải phát triển và có lịch sử từ lâu đời
Trang 22Không thơm cũng thể hoa lài Dẫu không lịch sự cũng ngài Tràng Lưu
Làng Trường Lưu, xưa gọi là Tràng Lưu, có lúc gọi là Lam Kiều thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh Dân làng chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề bông vải Sản phẩm phục vụ trong làng, trong tổng bao gồm các loại vải mộc, vải thô may mặc gia đình, có cả tơ lụa cho các cô gái Trong quá tình lao động, hoạt động kéo vải đã hình thành nên điệu ví phường vải, nó trở thành sản phẩm nghệ thuật mang tính tinh thần giúp chị em trong phường lấy lại tinh thần trong những giờ làm việc
Hát phường vải không chỉ là những câu hát của các chị em trong khi quay tơ, kéo vải mà còn là những câu hát đối đáp giữa các chị em kéo vải với những chàng trai trong phường kéo vải hay những chàng trai đi qua Hát phường vải ngoài việc để trai gái thổ lộ tình cảm với nhau còn là sự thử thách trong cách nói, cách ví, cái cách đối đáp qua lại giữa bên nam và bên nữ Hát phường vải là cách mà đằng trai thể hiện sự hiểu biết, tài văn chương đối đáp cũng như sự linh hoạt trong cách nói của mình, điều này giúp tạo ấn tượng cho bên nữ Đồng thời với bên nữ, có khi thể hiện sự mạnh bạo trong chuyện tình cảm với câu đáp thông minh Bằng những câu đối đáp qua lại mà nhiều đôi trai gái có điều kiện tìm hiểu và quen biết nhau Buổi đầu, hát phường vải chỉ là những câu hát đố, họ đố nhau về sự vật, sự việc; đố nhau về những hiểu biết hằng ngày trong quá trình sản xuất, đấu tranh nhưng về sau khi có sự xuất hiện của các nhà Nho tham gia vào quá trình hát phường vải thì đã có nhiều thay đổi
Hiện tượng các nhà nho tham giao vào quá trình hát phường vải bắt đầu
từ khi các nhà nho chỉ cho đằng trai, sau một thời gian bên nữ cũng nhờ những nhà nho khác giúp Những người này được gọi là “thầy gà” “thầy bày”,
họ là những anh nho sĩ thi hỏng, một ông thầy đồ ngồi dạy học trong làng,
Trang 23một ông tú tài, cử nhân Tuy nhiên, sau một thời gian quen với những cuộc hát phường vải thì bản thân những chàng nho sĩ trực tiếp đứng ra hát Phần lớn những nho sĩ tham gia hát phường vải là những người long đong trên con đường sự nghiệp hay những nhà nho bất mãn với thời cuộc, đồng thời dùng những câu hát phường vải để thể hiện, khơi gợi, cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí căm thù giặc trong nhân dân Một trong những người như vậy là Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu
Có thể nói rằng việc các nho sĩ tham gia vào tham gia sinh hoạt tại những cuộc hát phường vải đã có những đóng góp khá đáng kể trong việc sử dụng những câu từ trau chuốt, hát phường vải không đơn thuần là những câu hát đối đáp trao duyên mà còn là nơi để các nghệ sĩ rèn luyện nghệ thuật văn chương, để các sĩ phu yêu nước thể hiện tinh thần dân tộc, tuyên truyền hoạt động cứu nước cứu dân
Hiện nay, hát phường vải ngày càng bị mai một, tuy nhiên trong những năm gần đây tại Nghệ An và Hà Tĩnh đã và đang có nhiều biện pháp nhằm phát huy và gìn giữ những làn điệu dân ca đằm thắm mượt mà này Đó là những cuộc thi như Tiếng hát dân ca xứ Nghệ, Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, Ví giặm – lung linh hồn quê xứ Nghệ
1.3.2 Nội dung của hát phường vải
Hát phường vải là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo có
từ lâu đời của vùng quê Nghệ Tĩnh Nội dung căn bản của hát phường vải đậm đà tính chất trữ tình Nó không phải là dân ca trong hội hè, đình đám mà gắn liền với quá trình lao động, sản xuất, với nghề quay xa dệt vải Một cuộc hát phường vải thường kéo dài từ ba, bốn đêm có khi năm, sáu đêm mới đủ qua mọi chặng, mọi bước: hát dạo, hát chào, hát mừng, hát mời, hát đối, hát
xe kết và hát tiễn Hát phường vải là một loại hình sinh hoạt văn nghệ thu hút đông đảo sự tham gia của trai gái
Trang 24Hát phường vải thường là những câu hát trao duyên dưới hình thức đối đáp của chị em phường vải với những chàng trai phường vải hay những phường khác Qua quá trình đối đáp giữa hai bên giúp họ thêm hiểu nhau về
cả danh tính, tài năng từ đó nhiều cặp trai gái thành đôi, thành lứa
Một trăm thứ dầu, dầu chi không ai thắp, Một trăm thứ bắp, bắp chi không ai rang, Một trăm thứ than, than chi không ai quạt, Một trăm thứ bạc, bạc chi không ai mua, Trai nam nhi đối được, gái bốn mùa xin theo?
- Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp Một trăm thứ bắp, bắp chuối chẳng ai rang Một trăm thứ than, than thân không ai quạt, Một trăm thứ bạc, bạc tình không ai mua, Trai nam nhi đà đối đặng, gái bốn mùa tính răng
Ngoài việc thể hiện tình cảm đôi lứa, nói về cuộc sống hằng ngày thì hát phường vải còn là phương tiện để các nhà nho yêu nước thể hiện tâm tư, tình cảm của mình Một trong số đó phải nói đến Phan Bộ Châu, ông là người
đã thổi một luồng sinh khí mới vào hát phường vải, đánh dấu một cái mốc mới khi đưa nội dung dân tộc và yêu nước vào hát phường vải Dùng hát phường vải để tuyên truyền động viên lòng yêu nước của quần chúng nhân dân Trong những lần Phan Bội Châu vận động công cuộc cứu nước, nhiều trai gái đã tham gia nhiệt tình Trong một lần biết ông sắp phải đi xa lo việc cứu nước các o phường vải Nam Kim hát tiễn:
Nên chăng trống giục tranh hồi, Thuyền tình ta sẽ ra vời rộng thênh
Sau khi Phan Bội Châu trở về, các o hát phường vải hát mừng:
Mừng chàng nay đã phản hồi,
Trang 25Mấy lâu góc bể chân trời ra sao
Phan Bội Châu cũng hát mừng, đồng thời qua đó thể hiện chí khí của mình:
Mừng nay ta được trùng phùng Cánh bằng tiện gió vẫy vùng biển khơi
Bằng sự tài hoa, thông minh nhanh nhẹn cùng với tinh thần yêu quê hương, đất nước Phan Bội Châu đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong điệu hát ví phường vải Nghệ Tĩnh, góp phần phát triển loại hình dân gian độc đáo này
1.3.3 Quá trình của một hội hát phường vải
Thủ tục sinh hoạt của hát phường vải khá chặt chẽ với ba chặng
- Chặng thứ nhất gồm 3 bước: hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi
- Chặng thứ hai gồm 2 bước: hát đố, hát đối
- Chặng thứ ba gồm 3 bước: hát mời, hát xe kết, hát tiễn
Chặng thứ nhất: hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi
Hát dạo là phần mở đầu cho một cuộc hát phường vải:
Nghe đây có giếng mới đào
Có chợ mới họp, anh tạt vào bán mua
Còn không ta đợi ta chờ, Hay là như ruộng có bờ thì thôi
Hay như :
Đi xa nghe tiếng em reo Nghe xa em kéo muốn đeo em về Hát chào mừng là những câu hát chào, hát mừng nhằm tăng tính chất lịch sự cho người hát phường vải Đó là những câu hát khá niềm nở, cung kính, có khi e dè bóng gió; có khi mạnh dạn, thiết tha; khi thì trang trọng kiểu cách
Trang 26Cau non tiện chũm lòng đào Trầu têm cánh phượng ra chào bạn quen
Hát hỏi là những câu hỏi về quê quán, tên tuổi của khách khi tới chơi
Hỏi anh tên họ là chi Nói cho em biết mai đi em chào
Hát hỏi là quá trình để hai bên tìm hiểu nhau, sau mỗi câu hát thì bên nam hoặc bên nữ lựa ý, lựa lời để đáp lại Hát hỏi chủ yếu đơn thuần chỉ hỏi
về tên, họ, quê quán về gia cảnh:
- Đến đây hỏi thật quê chàng Hỏi danh hỏi họ, hỏi làng làng chi?
- Giằng đầu nhất khẩu chữ điền, Thảo đầu vương ngã là miền quê anh
(富 義 Phú Nghĩa tên một huyện ở Quỳnh Lưu)
- Phụ mẫu sinh được mấy người,
Mà anh băng bể vượt vời tới đây?
- Phụ mẫu anh sinh được mười người, Anh là con rốt sang chơi bên này
Chặng thứ hai là hát đố, hát đối: chặng này là chặng trai gái đố nhau những tri thức về đời sống thông thường, tri thức về sản xuất, tri thức sách vở, chữ nghĩa Đây là cơ hội mà hai bên tạo ấn tượng ban đầu cho nhau về lối đối đáp, những câu trả lời thể hiện sự thông minh, nhanh trí
- Đố anh biết rết mấy chân, Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đồng Xuân mấy người ?
- Em ơi rết ba mươi sáu chân, Cầu Ô ba mươi sáu nhịp, chợ Đồng Xuân ba mươi sáu người Hay những câu hát đố về tri thức sách vở, chữ nghĩa như :
- Nghe tin chàng học kinh thi,
Trang 27Ba ngang ba sổ chữ chi rứa chàng?
- Anh đây học sách thánh hiền,
Ba ngang ba sổ chữ “điền” em ơi!
Trong hát phường vải Nghệ Tĩnh còn có những câu đối về ngôn ngữ, đó là những câu đối về nghĩa, về địa danh, nói lái
- Con ngựa chạy giữa đất nói con ngựa cất Con cá bán giữa chợ nói con cá thu,
Chàng mà đối được thiếp làm du mẹ thầy?
- Con rắn bò giữa đàng nói con rắn lại Con cá lội dưới nước nói con cá leo,
Anh đây đối được em phải theo anh về
Hay như:
Lập Thạch có hòn đá dựng, Thanh Thủy có vũng nước trong,
Chàng mà đối được thiếp theo không chàng về?
Chặng thứ 3: hát mời, hát xe kết, hát tiễn Sau khi thử thách tài trí qua phần hát đối, hát đố thì bên trai được bên gái hát mời vào nhà:
- Chàng đến mời chàng vào đây, Trầu têm cánh phượng, ghế mây chàng ngồi
- Cửa ngõ em tấp gây Cửa cổng em tấp gây, Anh vô không được đứng đây em nì
Hay
Bạn đến mời bạn vô nhà, Đừng đứng ngoài ngõ sương sa lạnh lùng
Sau khi mời bạn trai vào nhà là hát xe kết, hát xe kết là phần quan trọng nhất trong một cuộc hát phường vải Không có bước này sẽ không có hát
Trang 28phường vải cũng như các điệu ví, hát giao duyên khác Đây là lúc, hai bên nam nữa nói lên những lời tâm sự, thổ lộ, nói lên nỗi lòng của mình đồng thời gửi gắm tình cảm bấy lâu
- Anh quen em năm ngoái lại giừ, Cơi trầu anh mang đến, em chối từ không ăn
- Có phải mô anh, có rứa mô anh, Năm qua em bé nhỏ, chưa dám ăn trầu người
- Thương chàng lắm lắm chàng ơi, Như nước sông Vịnh chảy xuôi cửa Tiền
Hát xe kết là chặng hát được kéo dài nhất trong một cuộc hát phường vải, đó là quãng thời gain hai bên tìm hiểu về nhau, bộc lộ tình cảm để cuối cùng là những lời ước nguyện, hát cưới Sau khi đôi nam nữ thuận tình xe kết
là đến những câu hát thách cưới của bên nữ, hay lời hứa hẹn của bên nam:
- Anh về sắm nón sắm quai, Sắm thức ăn vật đựng để giêng hai em về
- Anh về lo đủ trăm mâm,
Để cho hai họ tri âm một nhà
- Anh về mua nứa làm giàn
Để mời hai họ đưa hai ngàn nón sơn
Cũng có khi người con gái từ chối người con trai một cách thẳng thắn, nhưng trường hợp này không nhiều
Khi nào trâu đực sinh con,
Trang 29Người con gái quyến luyến muốn giữ chân chàng trai, muốn tiếp tục cuộc trò chuyện:
- Chàng về chi sớm rứa chàng,
Để vườn xuân vắng vẻ, con phượng hoàng bơ vơ
- Chưa chi anh đã vội về, Hay là xuân giục, anh về với xuân
Cuối cùng là những lời hò hẹn, lời dặn dò giữ vẹn lòng chung thủy:
- Ra về dặn bạn một hai, Bóng bạn thì tựa bóng ai thì đừng
- Trồng tre thì chớ bẻ măng,
Đã thương em thì chớ than rằng với ai
Quá trình của một cuộc hát phường vải là như vậy, nó diễn ra một cách
tự nhiên nhưng lại rất tình cảm Những chặng hát phường vải thể hiện một chặng đường mới của sự phát triển trong mối quan hệ tình cảm giữa hai bên trai gái Những câu hát phường vải là phương tiện để họ đến với nhau, hiểu nhau, thông cảm cho nhau, những câu hát vừa thể hiện tình cảm chân thành, mộc mạc của con người xứ Nghệ vừa thể hiện sự chân thành, cái sâu sắc của lòng người
Như lời bài hát Nghe câu hát phường vải:
Những đêm mẹ hát phường vải
Là cha đứng nghe mê mãi Rồi nên nhân tình nhân ngãi Rồi ra thắm duyên vợ chồng
Để đời con tắm mát giữa dòng suối dân ca
Để giờ nghe ai hát con thương mẹ lệ (ơ) nhòa
Chính những cuộc hát phường vải trong những đêm trăng thanh đã là nơi hẹn hò, kết duyên cho bao cặp trai gái
Trang 30CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH
2.1 Khảo sát tần số xuất hiện của các đại từ trong hát phường vải
2.1.1 Đại từ xưng hô gốc chỉ người nói
Bảng 1: Khảo sát tần số các đại từ xưng hô gốc chỉ người nói
Đại từ xưng hô Tần số xuất hiện
2.1.2 Đại từ xưng gốc chỉ người nghe
Bảng 2: Khảo sát tần số các đại từ xưng gốc chỉ người nghe
Đại từ xưng hô Tần số xuất hiện
2.1.3 Đại từ xưng hô gốc chỉ người, vật được nói tới
Bảng 3: Khảo sát tần số các đại từ xưng hô gốc
chỉ người, vật được nói tới
Đại từ xưng hô Tần số xuất hiện
Trang 312.1.4 Tiểu kết
Qua việc khảo sát đại từ xưng hô gốc trong hát phường vải Nghệ Tĩnh chúng tôi thấy việc sử dụng những đại từ xưng hô gốc tương đối ít Trong này
chúng tôi đã khảo sát 6 đại từ là đại từ xưng hô gốc: mình, tôi, ta, hắn, họ, nó
với tần số xuất hiện của 6 đại từ này ở cả vai người nói, người nghe, người vật
được nói tới là 364 lần Trong đó đại từ ta được sử dụng nhiều nhất với 246 lần, tiếp đó là đại từ mình với 94 lần, đại từ tôi 11 lần, đại từ hắn 7 lần, đại từ
họ 4 lần và ít nhất là đại từ nó với chỉ 2 lần xuất hiện
Trong hát phường vải đại từ xưng hô gốc được sử dụng nhiều nhất là ta
được sử dụng ở ngôi thứ nhất số ít và số nhiều, có khi ta được dùng để chỉ người nói, có khi lại cả người nghe “đôi ta”, “hai ta”
Đại từ xưng hô mình được sử dụng ở cả hai ngôi, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, tuy nhiên mình được sử dụng nhiều ở ngôi thứ hai (người nghe) với
84 lần
Xét trên cương vị người nói, người nghe, người, vật được nói tới thì tỉ
lệ xuất hiện các đại từ xưng hô gốc là người được nói tới chiếm tỉ lệ nhỏ nhất
với 3 từ (hắn, họ, nó) xuất hiện 13 lần (chiếm 3,57 %), tiếp theo đến người nghe chỉ có đại từ mình với tần số xuất hiện 83 lần (chiếm 22,80 %), đại từ với cương vị người nói chiếm tỉ lệ lớn nhất với 3 đại từ (mình, ta, tôi) 268 lần
(chiếm 73,62%)
Qua đây, chúng tôi thấy được số đại từ xưng hô gốc được sử dụng
trong hát phường vải rất ít với 6 đại từ (mình, ta, tôi, hắn, họ, nó), những đại
từ xưng hô gốc này được sử dụng chủ yếu là để xưng (ngôi thứ nhất), chỉ có
đại từ mình là dùng ở ngôi thứ hai
Trang 322.2 Khảo sát tần số đại từ lâm thời trong hát phường vải
2.2.1 Đại từ xưng hô chỉ người nói
Bảng 4: Khảo sát tần số các đại từ xưng hô lâm thời chỉ người nói
Đại từ Tần số
Xuất hiện Đại từ
Tần số xuất hiện
2.2.2 Đại từ xưng hô chỉ người nghe
Bảng 5: Khảo sát tần số các đại từ xưng hô lâm thời chỉ người nghe
Đại từ Tần số
xuất hiện Đại từ
Tần số xuất hiện
Trang 332.2.3 Đại từ xưng hô lâm thời chỉ người, vật được nói đến
Bảng 6: Khảo sát đại từ xưng hô lâm thời chỉ người, vật được nói đến
Đại từ Tần số
Xuất hiện Đại từ
Tần số xuất hiện
Trong luận văn chúng tôi khảo sát trên 38 đại từ bao gồm cả người nói, người nghe, người vật được nói tới Tần số xuất hiện của 38 đại từ là 2526
lần Trong đó ở lớp đại từ xưng hô gốc với 6 đại từ (hắn, tôi, ta, mình, họ, nó)
xuất hiện 364 lần, chiếm tỉ lệ 14,41 %; đại từ xưng hô lâm thời với 32 đại từ
bao gồm:anh, em, chàng, thiếp, nàng, bạn, người, người ta, ai, nường,
chường, mự, o, ả xuất hiện 2162 lần chiếm tỉ lệ 85,59 %
Xét trên cương vị người nói, người nghe, người, vật được nói tới thì các đại từ xưng hô là người được nói tới xuất hiện 223 lần chiếm 8,83%, tiếp theo đến người nói xuất hiện 1004 lần chiếm 39,74 %, đại từ xưng hô là người nghe xuất hiện 1299 lần chiếm tỉ lệ cao nhất với 51,43 %