1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo hiếu trong phật giáo và việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ việt nam hiện nay

78 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 859,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những tấm gương về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cũng như sự hi sinh lớn lao của các đấng sinh thành cho con cái, thì đâu đó vẫn thấy cảnh con cái bất hiếu, ngược đ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn : TS Trần Ngọc Ánh Sinh viên thực hiện : Phan Thị Cam

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Tôi

đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Giáo Dục Chính Trị - trường ĐHSP – ĐHĐN

Để khóa luận được hoàn thành như ngày hôm nay, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Giáo Dục Chính Trị - trường ĐHSP – ĐHĐN, khoa Lý luận Chính trị trường Đai học Kinh tế - ĐHĐN

Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS Trần Ngọc Ánh đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Đồng thời tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, mặc dù có nhiều cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của thầy giáo, cô giáo và các bạn!

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Bố cục đề tài 8

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 8

PHẦN NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO VỀ ĐẠO HIẾU 10

1.1 Vài nét về triết học Phật giáo 10

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo 10

1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo 12

1.1.3 Lịch sử du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam 17

1.2 Chữ Hiếu trong Phật giáo 19

1.2.1 Kinh Vu lan Bồn 20

1.2.2 Kinh báo ân cha mẹ 23

1.2.3 Một số kinh khác 30

1.2.4 Đánh giá quan niệm về chữ Hiếu trong Phật giáo 32

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CHỮ HIẾU CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ LÒNG HIẾU THẢO CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 36

2.1 Đạo hiếu và vai trò của đạo hiếu trong đời sống gia đình 36

2.1.1 Khái niệm về lòng Hiếu thảo và một số quan niệm về chữ Hiếu trong lịch sử 36

2.1.2 Bản chất và vai trò của đạo Hiếu 53

Trang 4

2.2 Giáo dục nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 55 2.2.1 Thực trạng việc nhận thức và hành động về đạo hiếu của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 55 2.2.2 Một số giải pháp nhằm việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 59

PHẦN KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước phương Đông, nơi mà tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa, tác động mạnh mẽ đến nếp sống tinh thần, thói quen, suy nghĩ của con người và xã hội.Trong các tôn giáo đó thì Phật giáo - một trong những tôn giáo lớn của thế giới đã du nhập vào nước ta từ rất sớm

và trở thành tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam Đất nước ta đang trong công cuộc xây dựng quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng chủ đạo,ngọn đèn dẫn đường,vũ khí lý luận Cùng với

đó, Phật giáo là lĩnh vực nghiên cứu tương đối rộng, ngoài việc nghiên cứu giáo lý, kinh điển, lịch sử của Phật giáo còn đề cập đến các lĩnh vực như triết học, văn học, khảo cổ, tâm lý học, xã hội học… Phật học đã trở thành một trong những khoa học tương đối quan trọng trong khoa học xã hội Phật giáo phát triển, truyền bá ở nước ta gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng đạo đức con người và sự tồn tại, phát triển của Nhà nước Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng ta không thể không đề cập đến Phật giáo đặc biệt là những quan niệm của phật giáo về đạo hiếu

Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo là con đường giải thoát của chánh pháp, là con đường của người Phật tử Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một người Phật tử chân chính được Hiếu thảo với cha mẹ là một đức tính tốt đẹp được mọi người ca tụng, đức tính ấy được coi như là một nền tảng của mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội Hiếu là chất liệu cho cuộc sống, là hương thơm cho đời, là hành trang vô giá và không thể thiếu vắng ở bất kỳ người nào Hiếu phản ánh đời sống văn hóa và đạo đức của xã hội Hiếu phân định

Trang 6

nhân cách, tri thức của con người Hiếu là chất liệu sống muôn thuở Nói đến hiếu là nói đến cái gì cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất đối với mọi người Hiếu

có vai trò quan trọng trọng, là một mặt không thể thiếu đối với sự hình thành nhân cách của con người

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước các gia đình Việt Nam đang có bước chuyển mình từ mô hình gia đình truyền thống tam,

tứ đại đồng đường sang mô hình gia đình hạt nhân, vấn đề các giá trị đạo đức gia đình rất cần thiết được đặt ra để xem xét Bên cạnh những tấm gương về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cũng như sự hi sinh lớn lao của các đấng sinh thành cho con cái, thì đâu đó vẫn thấy cảnh con cái bất hiếu, ngược đãi, thậm chí cướp đi sinh mạng của chính cha mẹ mình Đó thực sự là hồi chuông cảnh thức cho những người làm cha, làm mẹ, những đứa con và những người làm công tác giáo dục thế hệ trẻ

Nguyên nhân của tình trạng nêu trên chính là sự nhận thức chưa đúng đắn, chưa thấu đáo và sâu sắc về chữ hiếu và lòng hiếu thảo của thế hệ trẻ nên

đã có những hành vi đi ngược lại với các nguyên tắc của chữ Hiếu

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Đạo hiếu trong Phật

giáo và việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của đề tài: Thông qua việc nghiên cứu những kinh điển của Phật giáo về Hiếu hạnh làm cơ sở giáo dục nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

+ Làm rõ những nội dung cơ bản của Phật giáo về đạo Hiếu và vai trò của đạo hiếu trong đời sống gia đình

Trang 7

+ Tìm hiểu thực trạng việc nhận thức về đạo hiếu và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng:

+ Nghiên cứu đạo hiếu trong Phật giáo

+ Vận dụng chữ Hiếu của Phật giáo vào việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

- Phạm vi: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề về đạo hiếu trong Phật giáo và việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện bởi phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó chú trọng các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa…

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương (4 tiết):

Chương 1: Quan niệm của Phật giáo về đạo Hiếu

Chương 2: Vận dụng chữ Hiếu của Phật giáo vào việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, nhanh chóng hòa với tâm lý, tư tưởng, văn hóa tinh thần độc lập và suốt chiều dài lịch sử đã có những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, hiện tại vẫn giữ một

vị trí quan trọng trong đời sống, đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần nhân dân Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu Phật giáo nói chung và đạo Hiếu trong Phật giáo nói riêng là một vấn đề thu hút nhiều người quan tâm Trong đó

phải kể đến những công trình nghiên cứu quan trọng như: “Ảnh hưởng của

các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” do giáo sư

Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1997 Cuốn “Đạo

Trang 9

đức học Phật giáo” do Hòa thượng, Tiến sĩ Thích Minh Châu giới thiệu và

viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1995 là những bài tham luận

của nhiều tác giả Cuốn“Hạnh hiếu trong đạo Phật” của Thích Nhật Quang,

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999 Trong cuốn sách này, tác giả đã cho người đọc thấy được phương pháp báo hiếu cha mẹ ý nghĩa của Hiếu đạo trong kinh điển nhà Phật

Cuốn sách “Nhị thập tứ hiếu” của Đại Lãn, Nxb Đà Nẵng 1983 Trong

cuốn sách này tác giả đã khẳng định: “Nhị thập tứ hiếu có lẽ là những tấm gương sáng muôn đời cho những con người phải luôn nhớ giữ lòng Hiếu thảo với cha mẹ”

Gần đây có một số công trình nghiên cứu đề cập tới phạm trù Hiếu như:

“Luận điểm trung với nước, hiếu với dân trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí

Minh” của PGS.TS Lê Hữu Ái, tạp chí lý luận chính trị số 7/2004

Mỗi công trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo là một cách khai thác

riêng, với những góc độ khác nhau Đề tài “Đạo hiếu trong Phật giáo và việc

nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” là sự

kế thừa một số thành tựu, kết quả nghiên cứu về đề tài Phật giáo nói chung và đạo Hiếu Phật giáo nói riêng, kết hợp với những kiến thức và khả năng hiện

có Khóa luận chỉ là bước đầu của sự tìm hiểu, nghiên cứu, tóm lược một số khía cạnh của đạo Hiếu trong Phật giáo và định hướng những biện pháp có ý nghĩa nhằm nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO VỀ ĐẠO HIẾU

1.1 Vài nét về triết học Phật giáo

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo

Phật giáo là một học thuyết triết học do con người sáng tạo ra vì vậy nó chịu sự chi phối của nhân sinh quan, thế giới quan của con người, sự tác động của bối cảnh, tình hình xã hội thời đó Để nắm được tư tưởng cơ bản của Phật giáo thì trước hết phải tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của nó

Đạo Phật (Buddhism) xuất hiện và thế kỷ thứ VI trước CN, là một trào lưu tôn giáo triết học Phật giáo ra đời và đã nhanh chóng phổ biến ở Ấn Độ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa tinh thần của nhiều dân tộc phương

Đông và hiện nay đang lan truyền dần sang phương Tây

Mục đích cao nhất của Phật giáo là hướng thiện và cuộc sống đức độ, đó

là phương tiện để giải phóng con người khỏi vòng luân hồi bất tận Vì thế, từ phương diện này mà nói giá trị của Đạo Phật là bền vững Có thể nói, Phật giáo không hẳn là một tôn giáo vì họ không thờ một vị thần nào, ngoài ý nghĩa tôn giáo, Phật giáo là một hệ thống triết học và quy tắc đạo đức Có thể nói, Đạo Phật là một tôn giáo tâm linh sâu sắc nhất

“Phật” theo tiếng Phạn là Boddho, có nghĩa là đấng giác ngộ sáng suốt

và giác ngộ người khác “Phật” theo Phật giáo là bậc thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hóa và có thể chỉ bảo cho ta giải thoát khỏi luật luân hồi, sinh tử Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng của Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhartha), họ Cù Đàm (Gotama), vốn là con đầu của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) dòng họ Thích Ca (Sakya) và hoàng hậu MaDa (Mahamaya) ở Ca Tì La Vệ

Trang 11

Tương truyền Thái tử Tất Đạt Đa sinh vào ngày 15 tháng 04 năm 563 TCN tại khu vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) cách Ca Tỳ La Vệ không xa Kinh Phật chép rằng Thái tử có 32 tướng tốt, 80 dáng đẹp, thân cao trượng sáu, toàn thân đều màu vàng, đầu tỏa hào quang Thái tử Tất Đạt Đa theo học nhiều minh triết và lưu thông mọi triết thuyết được thời đó chấp nhận Ngài cùng vợ là Yasodhana và con trai là Rahula sống yên ổn trong cảnh phú quý được mọi người trọng vọng Nhưng bản tính đa sầu, đa cảm, khi thấy tình trạng thống khổ của người đời xung quanh mình, ngài quyết định đi tìm phương cứu khổ cho bản thân và mọi người Năm 29 tuổi rời bỏ hoàng cung

từ bỏ cuộc sống vương giả để đi tìm đạo cứu thế

Nhìn rõ tướng vô thường và đang bủa vây xung quanh cuộc sống, vào đêm rằm tháng 2 âm lịch, Thái tử lên ngựa Kiền Trách (Kanthaca) cùng với người cận hầu Xa Nặc (Chandaca) vượt Hoàng thành vào Hy Mã để lại đằng sau cuộc sống yêu thương và Vương vị: “Ta không muốn sống trong cung điện vàng ngọc, ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi và nước mắt của lê dân Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà ta đã chứng kiến Ta quyết định ra

đi, dù phải xông pha trên gió bụi bão bùng, ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho muôn loài”[17; tr.33]

Đến năm 35 tuổi, ngài đã giác ngộ được con đường giải thoát dưới gốc cây bồ đề (Pipala) ở Buddhagaya Ngài đi khắp nơi để truyền đạo trong suốt

45 năm Tôn giáo mới gắn liền với tên tuổi của ngài được hình thành từ đó Khi đã được giác ngộ phát hiện được căn nguyên nỗi khổ đau nhân thế và cách dứt bỏ nó, ngài được người đời tôn là Phật (Buddha) Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) nghĩa là nhà hiền triết xứ Sakya hay ông thánh của dòng họ Sakya Đức Phật qua đời tại rừng cây Sala (Cala) gần thành Câu Thi La (Kusinagara) vào đêm 15 tháng âm lịch năm 483 TCN, hưởng thọ 80 tuổi

Trang 12

Trong quá trình truyền đạo của mình, đức Phật không hề viết ra những lời giáo huấn, ngài chỉ bàn luận, giảng giải với học trò bằng lời nói của mình Tất cả đã được học trò của ngài ghi lại sau này phát triển tư tưởng đó, xây dựng thành một hệ thống triết học tôn giáo lớn Tư tưởng Phật giáo sau này mới được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn gọi

là Tam Tạng (Tripitaka) gồm ba bộ phận:

1 Tạng Kinh (Sutra pitaka) ghi lại những lời Phật dạy

2 Tạng Luận (Vinaya pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật

3 Tạng Luật (Abhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả

Đạo Phật nguyên thủy không thờ bất cứ một vị thần nào, Phật tổ Thích

Ca cũng chưa bao giờ coi mình là thần thánh Chỉ là do sau này, trong quan niệm của người đời, Phật dần mất đi tính cách một nhân vật lịch sử mà trở thành một đấng siêu việt, hiện thân ở cõi trần để thuyết pháp độ sanh Tức là

do cảm phục công đức của Phật mà người ta đã tôn sùng ngài như một vị thánh Bởi lý do không thờ bất cứ một vị thần nào nên người ta cho rằng Phật không hoàn toàn là một tôn giáo mà còn là một hệ thống triết học Có thể nói, triết học Phật giáo mang tính tâm linh sâu sắc nhất

1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo

Tư tưởng triết học Phật Giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “Tam Tạng”, gồm 3 Tạng kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quan điểm về thế giới và con người

* Bản thể luận

Tư tưởng thế giới quan hay còn gọi là bản thể luận của Phật giáo, chủ yếu nằm trong bộ Tạng luận, là các quan điểm luận giải về thế giới của triết học Phật giáo Đây là một học thuyết có sự đan xen giữa yếu tố duy vật và

Trang 13

duy tâm, thể hiện tính biện chứng khá sâu sắc, gồm nhiều thuyết như: Vô tạo giả, vô thường, nhân quả - nhân duyên…

Vô tạo giả: Là thuyết về nguồn gốc của vũ trụ

Triết học Phật giáo cho rằng không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên cho

sự hình thành vũ trụ Vũ trụ là vô thủy, vô chung, vạn vật trong thế giới biến hóa vô thường, vô định, không do một vị thần nào tạo ra cả

Vô thường: Là thuyết về sự tồn tại của thế giới

Thuyết vô thường cho thế giới là một dòng biến ảo vô thường, vạn vật đều biến đổi vô cùng theo chu trình sinh – trụ - dị - diệt hay thành – trụ - hoại – không, không có cái gì là vĩnh hằng tuyệt đối

Vô ngã: Là thuyết về bản chất sự tồn tại

Quan điểm vô ngã cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội đủ nhân duyên mà thành Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể hữu hình con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai phần: Thể xác và tinh thần, hai phần ấy là kết quả hợp tan của ngũ uẩn, tức là năm yếu tố: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức Vô ngã đó chính là chân lý cho ta biết cái tuyệt đối của vũ trụ và bản chất của con người

Nhân quả - nhân duyên: Tất cả sự vật hiện tượng tồn tại trong vũ trụ theo triết học Phật giáo đều không thoát nổi sự chi phối của quy luật nhân duyên Cái nhân nhờ cái duyên mới sinh ra được và thành cái quả, quả lại do duyên

mà thành nhân khác, nhân khác nhờ có duyên mà thành quả mới…cứ như thế nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa mãi

* Nhân sinh quan

Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong

thuyết “Tứ Diệu Đế” (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) tức là 4 chân lý

tuyệt diệu đòi hỏi mọi người phải nhận thức được Tứ diệu đế là:

Trang 14

Khổ đế (Dukkha satya):

Chân lí về sự khổ, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ Phật xác nhận đặc tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ Có

8 nỗi khổ là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không đạt được) và thụ ngũ uẩn (do 5 yếu tố tạo nên con người)

Như vây, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất Về phương diện triết học, khổ đau là một thực tại như thực đối với con người Khổ đế là một chân lý khách quan hiện thực, khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng lọat nhân duyên được tạo tác từ tâm thức Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình thái khổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nói

Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối Do

đó, con người ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới Phật ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”

Tập đế (Sammudaya satya):

Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ “Tập” là tụ hợp, kết tập lại Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng nhưng sở dĩ có ái dục là vì sự vô minh, từ cái mê lầm của con người do không nhận thức được bản chất của thế giới Con người muốn tồn tại mãi, nhưng thực tại luôn biến dịch, con người muốn trường tồn nhưng cuộc đời cứ luân

Trang 15

chuyển không ngừng nghỉ theo chu trình: Sinh – lão – bệnh – tử; hành – trụ - hoại – không; sanh – trụ - dị - diệt Vì thế con người mới sinh ra lòng tham, sân, si chiếm đoạt để gây nên nỗi khổ triền miên của cuộc đời, thập nhị nhân duyên là nguyên nhân cho cái tồn tại kéo dài không ngừng và liên tục trong vòng quay vĩnh cửu

Mười hai nguyên nhân ấy là: Vô minh, hành, thức, danh – sắc, lục, nhập, xúc, thụ, ái, hữu, sinh, lão – tử, đều là sinh khổ Duyên “lão – tử” vừa là kết quả cuối cùng của một quá trình nhưng cũng là nguyên nhân của vòng luân hồi mới từ vô minh của cuộc đời khác Tất cả mười hai nguyên nhân này là quan hệ ràng buộc dẫn tới cay đắng của cuộc đời

Con người không hiểu được do nhân duyên chi phối khiến cho “chư hành đều vô thường”, “vạn pháp đều vô ngã”, nên người ta lầm tưởng rằng cái gì cũng thường định, cái gì cũng của ta, có ta, tham dục, hành động chiếm đoạt gây ra nổi khổ triền miên (karma) từ kiếp này sang kiếp khác (samsara)

Trong kinh “chuyển pháp luân”, Đức Phật nói: Bây giờ, hỡi các Tỳ Kheo, đây là chân lý cao thượng về nguồn gốc của sự khổ (dukkha sammudaya arya staya) Chính ái dục là nguyên nhân của sự tái sinh (ponabhavika), ái hợp với tâm thiết tha khao khát, bám víu cái này cái kia (của cuộc đời) chính cái ái dục đeo víu cái nhục dục của ngũ trần, ái đeo víu theo ý tưởng sinh tồn (bhavatanha): vô sinh ái, luyến ái trong ý tưởng cho rằng cái chết là hư vô Kinh “Cú pháp” viết: “Không có lửa nào như lửa tham, không có ngục tù nào như lòng sân Không có lưới nào như vô minh và không

có dòng sông nào như ái dục, do ái dục sinh ra phiền não, do dục ái sinh ra sợ sệt Người đã hoàn toàn chấm dứt ái dục thì không còn phiền não, lại càng ít

Trang 16

dục làm cho ta đeo víu sự sống dưới mọi hình thức và vì thế dẫn dắt, lôi kéo con người mãi mãi phiêu bạt trong dòng luân hồi, muốn thoát khỏi khổ não phải tận diệt ái dục, xóa vô minh đó

Diệt đế (nirodha satya): là chân lý về diệt khổ Phật giáo cho rằng mọi

nỗi khổ điều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết bàn” Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt Muốn diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh

Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ là con người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách khác diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinh tử

Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tĩnh táo hơn lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí không

bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị nung núng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng sợ hải mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn với mọi người xung quanh rộng lượng và bao dung hơn Tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy

Ðạo đế (marga):

Là chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ Đây là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân Khổ được giải thích là xuất phát Thập nhị nhân duyên, và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử Chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ niết bàn Có 8 con đường chân chính để đạt sự diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi

Trang 17

là “Bát chính đạo” Bát chính đạo bao gồm: Chính kiến, chính tư duy, chính

ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tịnh tiến, chính niệm, chính định Theo

con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vô minh, đạt tới

sự giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi

Ngoài ra Phật giáo còn đưa ra 5 đều nhằm răn đe đem lại lợi ích cho con người và xã hội Chúng bao gồm: bất sát (không sát sinh), bất dâm (không dâm dục), bất vọng ngữ (không nói năng thô tục, bậy bạ), bất âm tửu (không rượu trà) và bất đạo (không trộm cướp)

Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, có yếu tố duy vật

và tư tưởng biện chứng của thế giới Những tư tưởng xã hội phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ cổ – trung đại

và nêu lên ước vọng giải thoát nổi bi kịch cho con người lúc đó Phật giáo cũng nói lên được tự do bình đẳng trong xã hội nhưng triết lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội

1.1.3 Lịch sử du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử (ở Hưng Yên ngày nay) học đạo của một nhà sư Ấn Độ Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là thuộc quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của

Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189

Sau này, vào thế kỷ thứ IV, V các phái thiền và Đại thừa đến từ Trung Quốc và tạo ảnh hưởng lớn đến đường nét Đại thừa trong Phật giáo Việt Nam cho đến ngày nay

Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất

cả mọi vấn đề trong cuộc sống Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là

Trang 18

quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến đầu thế kỷ XVII, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất

mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam

Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh

Độ tông và Mật tông

Thiền tông (còn được biết là Zen hay Ch'an) là một tông phái Phật giáo

do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ VI "Thiền" là cách gọi tắt của "Thiền na" (Dhyana), có

nghĩa là "Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật Theo Thiền tông, "thiền" không phải là

"suy nghĩ" vì suy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và mầm mống của sanh tử luân hồi Cách tu theo Thiền tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian cộng với phải có khả năng đốn ngộ Yêu cầu đó chỉ có những

kẻ căn cơ cao mới có được nên người tu thiền thì nhiều nhưng người chứng ngộ quả thật rất là hiếm hoi Tuy nhiên lịch sử Thiền tông ở Việt Nam cũng

có một lịch sử rõ ràng hơn cả

Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni

Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền, dòng thiền này truyền được đến 19 thế hệ

Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người Trung hoa lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Dòng thiền này truyền được đến 17 đời

Dòng thiền thứ ba do Thảo Đường, người Trung hoa, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ

Trang 19

và cho mở đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069 Dòng thiền này truyền được đến 6 đời Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Uông Bí, Quảng Ninh, thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Sau này, một số thiền phái khác xuất hiện như phái Tào Động dưới thời Trịnh-Nguyễn, phái Liên Tôn vào thế kỷ XVI - XIX (có trụ sở tại chùa Bà Đá và chùa Liên Phái, Hà Nội), phái Liễu Quán (Liễu Quán

là tên một vị tổ thuộc dòng Lâm Tế) vào thế kỷ XVIII (miền Trung), phái Lâm Tế dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, và sau này phát triển ở miền Nam) Thiền tông Việt Nam đề cao cái "tâm": "Phật ở tại tâm", tâm là Niết Bàn, hay Phật

1.2 Chữ Hiếu trong Phật giáo

Đạo Phật có mặt ở nước ta từ hàng ngàn năm, với sự từ bi nhân ái, với những giá trị nhân văn sâu sắc, trong đó đặc biệt đề cao đạo Hiếu như một triết lí nhân sinh, như một truyền thống tốt đẹp của mình Phật giáo phổ độ khắp chúng sinh, bởi vậy hiếu đạo trong đạo Phật cũng mang một ý bao quát, ngoài việc báo ân cha mẹ, Phật giáo còn đề cập đến:

Ân thầy cô: Là ơn người đã dạy dỗ, mang lại cho ta kiến thức

Ân quốc gia xã hội: Là ơn đảm bảo cho ta cuộc sống hòa bình, ổn định

Ân chúng sinh đồng bào: Là ơn những người đã sản xuất ra của cải vật chất, giúp chúng ta tồn tại

Đó chính là “Tứ ân” trong đạo Phật

Lễ báo hiếu trong đạo Phật được gọi là lễ Vu Lan Tích Vu lan bắt nguồn

từ việc báo hiếu của Tôn giả Mục-kiền-liên Tích này được chép trong kinh

Vu lan bồn Chữ Vu lan bồn phiên âm từ chữ Sanskrit (Phạn) là Ularnbana Người Trung Hoa dịch nghĩa là Giải đảo huyền (Tội treo ngược người)

Trang 20

sở Ngài sử dụng năng lực thần thông của mình, đưa bát cơm đến dâng cho

mẹ Mẹ Ngài được cơm, lòng tham khởi lên, tay trái che bát, tay phải bốc ăn, nhưng cơm chưa tới miệng đã hoá ra lửa, nên không ăn được

Ngài Mục Kiền Liên xin Phật chỉ dạy phương pháp cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ Ngạ quỷ Đức Phật dạy rằng, phải nhờ đến uy lực của tập thể chúng tăng mới cứu được mẹ ông Vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tự

tứ sau 3 tháng an cư kiết hạ thanh tịnh, hãy sắm sửa vật dụng cúng dường chư tăng, nhờ chư tăng chú nguyện, mẹ ông mới thoát được khổ Ngài Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, thực hành phương pháp báo hiếu ấy nên đã cứu được

mẹ

Ngài Mục Kiền Liên xin Phật cho phép các phật tử sau này được thực hành phương pháp báo hiếu cha mẹ bằng cách cúng dường Vu - Lan - Bồn để báo đáp ân cha mẹ, đức Phật khen ngợi và chấp thuận Từ đó, ngày rằm tháng

bảy là ngày báo hiếu truyền thống của Phật Giáo

* Ý nghĩa phương pháp báo hiếu trong kinh

Ý nghĩa bát cơm hoá lửa:

Mẹ ngài Mục Liên đang sống trong cảnh giới đói khát của Ngạ quỷ do nghiệp nhân tham lam bỏn xẻn, thì quả tương ứng với nhân tham là cảnh thiếu thốn Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt nói: "Nếu người tham lam bỏn xẻn, không bao giờ biết bố thí do tánh keo kiệt bám víu vào tài sản của mình, nếu tái sanh làm người sẽ bị nghèo nàn thiếu thốn”[3 Tr 474]

Trong Phật giáo, hình ảnh ngọn lửa thường được dùng để ám chỉ sức mạnh của các thế lực tối tăm như lòng tham, sân, si thường gọi là lửa tham,

Trang 21

lửa sân, lửa si, do nghiệp nhân tham lam bỏn xẻn nên mẹ ngài Mục liên phải sống trong cảnh khốn khổ Ngạ quỷ Do lòng tham lam vẫn còn chi phối mạnh

mẽ tâm thức của bà, nên khi nhận bát cơm, bà đã vội vàng tay trái che bát, tay phải bốc ăn vì sợ kẻ khác cướp mất bát cơm của mình Sự tham lam ích kỷ đó bùng lên quá mạnh, như một ngọn lửa bùng lên bao phủ tâm thức của bà làm cho bà thấy lửa ở trong bát cơm của mình, lửa ở đây là lửa của tâm thức chứ không phải lửa ở bên ngoài Cho dù bát cơm không hóa lửa đi nữa bà cũng khó mà hưởng thụ được bát cơm một cách ngon lành, bởi lẻ với tâm lý tham lam bỏn xẻn, bà ăn trong vội vàng, lo lắng khiếp sợ, thì nuốt cơm cũng như nuốt đất mà thôi

Mặt khác, như đã nói theo định luật chiêu cảm của nghiệp báo, khi đã tạo nghiệp đói, thì dù có cơm canh ngon lành vẫn thấy lửa như thường, cũng giống như một người đã tạo nghiệp ngu si, thì dù có gặp sách vở hay ho, họ cũng coi như giấy lộn mà thôi, bởi lẻ nghiệp nhân và nghiệp quả phải tương đồng

Ngài Mục Liên không cứu mẹ được, vì sức của một mình ngài không đủ chế ngự và chuyển hoá được ngọn lửa tham của mẹ ngài, hay nói cách khác, thần thông không thể xoá được luật nhân quả Ngọn lửa xuất hiện ở đâu thì phải diệt ở đó, mẹ ngài đã tạo ra ngọn lửa thì chính bà mới dập tắt được ngọn lửa đó

Ý nghĩa chư tăng chú nguyện:

Đức Phật dạy phương pháp cứu mẹ cho ngài Mục Kiền Liên là phải nhờ vào sức mạnh tâm linh của chư tăng trong ngày Tự Tứ điều đó đã nói lên sức mạnh của tập thể bao giờ cũng thù thắng hơn sức mạnh của cá nhân, dù cá nhân đó vĩ đại như Đức Phật

Sau ba tháng an cư kiết hạ, đến ngày rằm tháng bảy thì giải chế phải làm

lễ Tự Tứ Chữ "Tự Tứ" tiếng Pali gọi là PAVARANA nghĩa là tuỳ ý, tức là xin chư tăng tuỳ ý chỉ trích những lỗi lầm của mình do chư tăng thấy, nghe

Trang 22

hay nghĩ để mình biết mà sám hối, nhờ sám hối nên thân khẩu ý được thanh tịnh thì công đức rất lớn Đây là cách thức hạ mình cầu xin chỉ lỗi, tương tự như câu nói của Nho là Khiêm Sinh Đức, có lẽ vì vậy mà phải nương nhờ ý lực chú nguyện của chư tăng trong ngày Tự Tứ chứ không phải những ngày khác

Với tâm lực thanh tịnh, đầy đủ các đức tính từ bi an lạc, chư tăng hướng tâm mình vào cảnh giới khổ đau của Ngạ quỷ, luồng tâm từ của chư tăng hợp nhất tạo thành một nguồn năng lượng lớn có tác dụng làm dịu mát môi trường nóng bức của cảnh giới Ngạ quỷ, như một luồng gió mát thổi qua buổi trưa hè

oi ả, làm cho thâm tâm của mẹ Ngài Mục Liên được nhẹ nhàng thanh thoát và bình tỉnh hơn, do đó đã tạo điều kiện cho thiện tâm của bà phát khởi, chuyển hoá được nghiệp lực của chính bà, từ đó thay đổi được môi trường sống của

bà Không những mẹ ngài Mục Liên được giải thoát, mà tất cả những người sống trong môi trường đó cũng được thừa hưởng luồng gió mát từ tâm ấy, và nếu họ phát khởi thiện tâm thì có thể giải thoát như nhau Thông thường sự tác động của ngoại cảnh có thể làm thay đổi tâm thức của con người, nhất là đối với những người chưa làm chủ được tâm thức của mình Khi bị sống trong hoàn cảnh bức xúc áp chế, lòng người trở nên cọc cằn thô lỗ, độc ác Khi hoàn cảnh thay đổi thuận lợi dễ chịu, mát mẻ, tâm tư của con người được thoải mái, tỉnh táo hơn, và do đó dễ nhận chân ra điều hay lẽ phải Cũng trên quy luật đó, khi nguồn năng lượng tâm từ chiếu toả vào cảnh giới nóng bức của Ngạ quỷ, tạm thời làm dịu mát và đình chỉ các nổi đau đớn, đói khát của

mẹ ngài Mục Kiền Liên và những ngạ quỷ khác, giây phút đó đã tạo ra cơ hội cho trí tuệ phát sinh và cứu được bản thân của bà

Tóm lại, sự chú nguyện của chư tăng trong ngày Tự Tứ không phải xóa được luật nhân quả, không phải trực tiếp cứu rỗi tội lỗi của con người, mà điều đó chỉ có tác dụng trợ duyên, tạo những điều kiện thuận lợi cho con

Trang 23

người đánh thức thiện tâm của chính mình Thiện tâm của mỗi người mới có thể cứu được chính họ mà thôi

1.2.2 Kinh báo ân cha mẹ

* Nội dung kinh

Đức Phật dạy ân đức cha mẹ có 10 điều:

Ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng

Ân thương mến trọn đời

Đức Phật dạy về sự bất hiếu của con cái:

Ăn nói hỗn hào với cha mẹ, xấc xược với anh em chú bác bà con…

Không tuân theo lời dạy của cha mẹ, các bậc trưởng thượng trong gia tộc

Theo bạn bè xấu ác, từ bỏ gia đình đi hoang, gây tạo tội lỗi làm cho cha

mẹ, bà con buồn khổ

Trang 24

Không lo học tập, xao lãng nghề nghiệp, không tạo dựng được một đời sống vững chắc, làm cha mẹ lo lắng

Không phụng sự cha mẹ về vật chất, không an ủi về mặt tinh thần, coi thường cha mẹ, coi trọng vợ con

Đức Phật dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù con cái báo hiếu bằng các cách như:

Vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, cắt da đến xương, nghiền xương thấu tủy, máu đổ thịt rơi cũng không đáp được công ơn cha mẹ

Giả như có ai gặp lúc đói khát, phá hoại thân thể, cung phụng cha mẹ cũng không đáp được công ơn cha mẹ

Vì cha mẹ mà trăm kiếp nghìn đời, đâm tròng con mắt, cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắc xuất nhập toàn thâncũng không trả nỗi công ơn cha mẹ

Dù vì cha mẹ, đốt thân làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ

Đức Phật dạy về phương pháp báo hiếu:

Ngoài việc cung phụng cha mẹ về mặt vật chất và an ủi tinh thần mà ai cũng biết, chúng ta phải:

Khuyến hoá cha mẹ thực hành thiện pháp

Phải vì cha mẹ mà thực hành tịnh giới, bố thí, làm các việc lợi ích cho mọi người

Phải truyền bá tư tưởng hiếu đạo này cho nhiều người được lợi ích

Phần kết thúc và lưu thông

Đức Phật khích lệ tinh thần báo hiếu

Đại chúng phát nguyện vâng lời phật dạy

Đặt tên kinh là Kinh Báo Ân Cha Mẹ

Trang 25

* Ý nghĩa báo hiếu và phương pháp báo hiếu trong kinh

Ý nghĩa về duyên khởi của kinh:

Duyên khởi của kinh bắt đầu bằng hình ảnh một đống xương khô, là một hình ảnh tạo ấn tượng mạnh cho người đọc, hình ảnh ấy nói lên quan niệm về hiếu đạo một cách rộng rãi và báo trước một phương pháp báo hiếu đặc biệt của Phật giáo, khác với những quan niệm báo hiếu thông thường

Đối với đạo Phật tất cả chúng sinh đều nằm trong vòng sinh tử luân hồi bất tận Trong ITIVUTTAKA nói rằng: "Đống xương tàn của một người xuyên qua nhiều kiếp sống trong một chu kỳ, có thể vòi vọi như một ngọn núi" Sự sinh tử tử sinh lặp lại nhiều lần đã để lại trên những chặn đường luân hồi biết bao là xương thịt của mỗi chúng sinh Căn cứ vào vòng luân hồn lẩn quẩn đó, Đức phật dạy rằng: "Ta thấy tất cả chúng sinh không ai không phải

là cha mẹ của nhau , hoặc ở trong quá khứ, hoặc ở hiện tại, hoặc ở tương lai" (Tiểu Bộ Kinh) Lời dạy trên, đức Phật muốn chỉ cho chúng ta thấy mối tương quan tương duyên giữa muôn loài chúng sanh sống trong vũ trụ này Chúng ta cần thấy được sự tương quan, tương duyên đó để thể hiện tinh thần tương thân tương ái, kính trọng và yêu thương giúp đỡ lẫn nhau Vì mọi người, mọi loài đều là bà con, thân bằng quyến thuộc của nhau từ trong muôn kiếp Cho nên nhìn thấy một đống xương mà liên tưởng đến xương người thân của mình là điều không có gì lạ đối với giáo lý Phật Giáo

Theo định luật luân hồi và duyên khởi, thì quan niệm về cha mẹ không còn hạn hẹp trong phạm vi gia đình bé nhỏ nữa Với tầm nhìn sâu rộng giữa không gian vô tận và thời gian vô cùng thì tất cả chúng sinh đã từng làm cha

mẹ, bà con quyến thuộc của nhau Với sự tồn tại chằng chịt tương hệ duyên sinh, Phật Giáo không những đề cao công ơn của cha mẹ mà còn mở rộng phạm vi nhớ ơn và báo ân quốc gia xã hội và tất cả chúng sinh Mặc dù khái niệm về cha mẹ rộng rãi như vậy nhưng trong kinh chỉ đề cập đến cha mẹ

Trang 26

hiện tại của chúng ta, đối tượng mà tất cả những người con hiếu thảo phải đền đáp thâm ân

Ý nghĩa về công ơn cha mẹ của kinh:

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi chúng ta có biết bao những tình cảm cao đẹp, đáng trân trọng và tôn vinh, những tình cảm mà chúng ta hằng khao khát, mơ ước Một trong những tình cảm thiêng liêng, sáng ngời nhưng vô cùng thâm thúy mà mỗi con người luôn khắc ghi trong lòng đó là tình thương,

là công ơn trời biển của cha mẹ Công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục và giới thiệu con vào đời không thể phủ nhận được Cha mẹ luôn luôn thương yêu con cái, hy sinh cuộc đời mình cho con cái về mặt tinh thần con cái là niềm vui, là niềm hy vọng của cha mẹ, nên khi nói đến cha mẹ là nói đến công ơn Ca dao việt nam có nói:

"Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"

Trong các kinh điển Phật Giáo Nam Tông và Bắc Tông đều đề cao công

ơn cha mẹ Kinh tăng Chi Phật dạy: "Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ và cha" [4, tr.75 ] hoặc trong Kinh Đại Tập dạy: "Ở thời không có Phật, thờ kính cha mẹ tức thờ kính Phật" Cha mẹ

ở đây đồng nghĩa với Phật, điều đó cho thấy Phật giáo đề cao hiếu đạo tới mức nào

Chúng ta cũng biết có một số cha mẹ không ngó ngàng gì tới con cái, thậm chí ghét bỏ con cái, nhưng đó chỉ là trường hợp cá biệt Phần lớn cha mẹ luôn thương yêu con cái, tình thương đó được biểu hiện ra bên ngoài một cách

rõ rệt đó là sự hy sinh tất cả cho con, vì con mình có thể chịu bao khó khăn vất vã chỉ mong con khôn lớn thành người Tình thương chân chính nào cũng được biểu hiện bằng sự hy sinh Kinh báo ân cha mẹ đề cập đến sự hy sinh cho con cái và lòng thương của cha mẹ hướng về con cái, vui cái vui của con, buồn cái buồn của con, Trong 10 điều ân đức của cha mẹ đã cho thấy rõ tình

Trang 27

thương bao la đó Những lời kinh hết sức cảm động và chinh phục lòng người như: "Nhổ ngọt không tiếc nuối, nuốt đắng không phiền hà, miễn sao con no

ấm, đói khát mẹ nào từ" [13, tr.34]

"Mẹ nằm chổ ướt át, nâng con chổ ấm khô, đôi vú lo đói khát, hai tay che gió sương, yêu thương quên ngủ nghỉ, sủng ái hết giá lạnh, chỉ mong con yên

ổn, mẹ hiền không cầu an" [13, tr.34]

"Mẹ hiền ân hơn đất, cha nghiêm đức quá trời, che chở ân cao dày, cha

mẹ nào tính toán, không hiềm không mắt mũi, không ghét què chân tay, sinh con từ bụng mẹ, con đổi dạ thương ai" [13, tr.35]

"Con đi đường xa cách, lòng mẹ bóng theo hình, ngày đêm không hả dạ, tối sớm nào tạm quên, khóc như vượn nhớ con, thương nhớ nát can trường” [13, tr.35]

"Mẹ già hơn trăm tuổi, còn thương con tám mươi, ân ái có đoạn chăng chỉ hơi thở cuối cùng" [13, tr.35]

Sự hy sinh cho con cái mà trong kinh đã đề cập, chỉ là những biểu hiện

có giới hạn xuất phát từ lòng thương yêu vô hạn Chính vì lòng thương yêu của cha mẹ đối với con cái là vô hạn, nên chúng ta không thể đáp đền nổi Cho dù người con thực hành các công đức lớn lao như trong kinh đã đề cập thì cũng không trả được ân đức của cha mẹ Bởi vì người con có làm gì đi nữa, lòng của người con đối với cha mẹ không thể sánh được lòng của cha mẹ đối với con cái, đúng như ca dao nước ta có câu: "Mẹ thương con biển hồ lai láng, con thương mẹ tính tháng tính ngày" Vì vậy, khi đề cập đến công ơn cha mẹ, các kinh đều cho rằng khó đền đáp nổi, là dựa vào tâm thức của người con đối với cha mẹ có giới hạn, điều đó là một quy luật tâm lý muôn đời

Phương pháp báo hiếu trong kinh:

Ngoài những phương pháp báo hiếu cung phụng vật chất và an ủi tinh thần cho cha mẹ mà ai cũng biết, Kinh Báo Ân đề cập đến cách thức báo hiếu

Trang 28

đặc biệt của Phật Giáo là giới thiệu chánh pháp để cha cha mẹ đoạn trừ gốc rễ của đau khổ, có ba phương pháp được đề cập:

Khuyến cáo cha mẹ thực hành chánh pháp:

Trong Kinh Tăng Chi Đức Phật dạy: “Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng, dâng cúng của cải vật chất tiền bạc, thì không bao giờ đủ để đáp đền ân cha mẹ Nhưng này các Tỳ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin Tam bảo, thì khuyến khích cho có lòng tin Tam bảo, đối với cha mẹ sống tà giới, thì khuyến khích vào chánh giới, đối với cha mẹ sinh khởi lòng tham, thì khuyến khích bố thí ,đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích vào chánh kiến, cho đến như vậy, này các Tỳ kheo, là làm đủ và đáp đền đủ cho cha và mẹ" [4, tr 75]

Theo đạo Phật sự đau khổ thật sự chính là vô minh, lòng tham sân si đó

là tác nhân gây đau khổ triền miên từ đời này đến đời khác Chỉ có chánh pháp, chỉ có trí tuệ mới giúp cho cha mẹ loại trừ gốc rễ đau khổ

Báo hiếu cho cha mẹ bằng vật chất và tình cảm thông thường chưa phải

là biện pháp hoàn hảo, bởi lẽ có khi vì lý do vật chất, có thể làm cho cha mẹ của mình tăng thêm tội lỗi, tăng thêm lòng tham như người xưa thường nói:

"Lòng tham của con người vô đáy" Vật chất hay những cảm giác lạc thọ của vật chất chỉ tạo thêm sự thèm khát và không bao giờ thoả mãn, sự đau khổ do

đó không bao giờ chấm dứt được

Người Phật tử thấy được bề sâu của lý nhân quả nghiệp báo cho nên khuyến khích cha mẹ thực hành thiện pháp, tạo cơ hôi cho cha mẹ phát khởi thêm thiện tâm để chuyển báo nghiệp nhân xấu ác, xây dựng cho cha mẹ mình một cuộc sống bảo đảm hạnh phúc lâu dài trong hiện tại và cả tương lai

Vì cha mẹ thực hành tịnh giới, bố thí và các công tác lợi ích cho con người và xã hội:

Sự thực hành thiện pháp của con người như giữ gìn nếp sống đạo đức,

mở rộng lòng bố thí, tích cực làm các điều thiện giúp ích mọi người Trước

Trang 29

hết đó như là một phương cách làm gương mẫu để tạo cho cha mẹ được ảnh hưởng thiện duyên của con làm tăng cường và củng cố thiện tâm của cha mẹ Mình khuyến cáo cha mẹ thực hành thiện pháp mà bản thân mình không thực hành thiện pháp thì sự khuyến cáo của mình sẽ mất tác dụng Hơn nữa, khi thực hành thiện pháp người con luôn hồi hướng công đức cho cha mẹ là sử dụng năng lực thiện tâm của mình hướng về cha mẹ, nó có tác dụng hổ trợ làm cho cha mẹ tăng trưởng thiện tâm

Mặt khác, mối quan hệ tương ứng giữa tâm lý của cha mẹ và con cái, rất

tế nhị và đặc biệt Luồng tâm thức giao cảm giữa cha mẹ và con cái rất dễ dàng ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Cho nên hành vi đạo đức của con rất dễ tác động đến lòng cha mẹ, như đã nói con cái là niềm vui, là sự hy vọng của cha

mẹ, con cái rất được cha mẹ chiều chuộng và làm theo ý thích của con Tâm

lý tuỳ thuận con cái là mảnh đất tốt để những người con gieo hạt giống thiện pháp cho cha mẹ bằng chính hành vi ngôn ngữ của mình

Truyền bá tư tưởng hiếu đạo cho mọi người:

Truyền bá tư tưởng hiếu đạo cho mọi người là một phương pháp bổ sung cần thiết cho các phương pháp trên Tác dụng của nó trước hết là tăng cường sức mạnh hiếu tâm của chính bản thân mình, được thường xuyên có mặt, tâm

lý hiếu cũng như các tâm lý khác đều phát sinh và tồn tại có điều kiện, vì vậy nếu chúng ta không tạo điều kiện hâm nóng thường xuyên bằng những điều

kiện thích hợp, lâu ngày tâm lý hiếu bị phai nhạt, có thể nói: "Xa mặt cách

lòng" Như vậy truyền bá tư tưởng hiếu đạo, có tác dụng trước hết là củng cố

sức mạnh hiếu tâm của người con thường xuyên

Mặt khác, như đã nói đạo Phật quan niệm tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình ngoài việc báo đáp thâm ân cha mẹ của mình hiện nay, người Phật tử còn có nhiệm vụ báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời của mình bằng phương thức gián tiếp Truyền bá tư tưởng hiếu đạo để cho những người con học tập và thực hành phương pháp báo hiếu đúng chánh pháp, đem đến lợi ích cho tất cả

Trang 30

những người cha, người mẹ khác trong xã hội Từ đó xây dựng một nền tảng đạo đức cơ bản cho xã hội con người, tâm hiếu là một tâm lý có tính văn minh, văn hoá Truyền bá đạo hiếu sẽ tạo nên một truyền thống văn hoá tốt đẹp, để xã hội có điều kiện xây dựng hạnh phúc cho con người

1.2.3 Một số kinh khác

Kinh Địa Tạng

Tông chỉ của bộ Kinh Ðịa Tạng nằm trong tám chữ: "Hiếu đạo, Ðộ sanh, Bạt khổ, Báo ân” Tám chữ này muốn nói lên đạo lý hiếu thảo với cha mẹ Con người biết hiếu thảo với cha mẹ thì sẽ làm trời đất rạng rỡ Việc khiến trời đất cảm động, cũng chính là lòng hiếu thảo cha mẹ, nên nói: "Thiên địa trọng hiếu, hiếu đương tiên" chữ Hiếu này rất quan trọng chỉ cần một chữ

"Hiếu" thì cả nhà được bình an "Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử." (Cha

mẹ biết hiếu thảo thì sẽ sinh con hiếu thảo) Nếu như chúng ta hiếu thảo với cha mẹ mình, thì sau này con cái sẽ hiếu thảo với chúng ta, còn nếu như chúng ta không hiếu thảo, thì con cái của chúng ta sẽ không hiếu thảo với chúng ta Ðừng nói rằng tôi sinh ra làm người, một cách quá mơ hồ là xong Không phải vậy đâu! Gốc rễ của cách làm người là ta phải biết bổn phận hiếu thảo với cha mẹ Bởi vì cha mẹ chính là trời đất, cha mẹ là sư trưởng, cha mẹ cũng là chư Phật Nếu như chúng ta không có cha mẹ thì chúng ta sẽ không có được thân thể này, mà không có thân thể này thì chúng ta sẽ không bao giờ thành Phật Cho nên chúng ta muốn thành Phật thì trước tiên phải hiếu thảo với cha mẹ Do vậy điều thứ nhất chính là Hiếu Ðạo

Thứ hai "Ðộ sinh", nói độ sinh chính là độ chúng sinh Ðộ chúng sinh không phải nói độ một người, hai người, cũng không phải độ ba người, năm người mà gọi là độ chúng sinh Ðộ chúng sinh là độ tất cả mười hai loài chúng sinh, giáo hóa, khiến họ đều phát tâm Bồ đề, sớm thành Phật quả Ðây mới gọi là độ chúng sinh

Trang 31

Thứ ba là "Bạt khổ", vì đây là bộ Kinh dạy ta bạt trừ những khổ não của chúng sinh

Thứ tư là "Báo ân", nghĩa là phải báo ân cha mẹ Tám chữ Hiếu đạo, Bạt khổ, Ðộ sinh, Báo ân này là Tông chỉ của Kinh Ðịa Tạng

Hiếu có bốn loại: Có tiểu hiếu, đại hiếu, viễn hiếu, cận hiếu Tiểu hiếu là hiếu với gia đình, chính là có hiếu thuận với cha mẹ của mình ở nhà, chứ chưa hiếu thuận với tất cả mọi người, chưa có thể làm một người hiếu quảng đại Hiếu quảng đại chính là "Ðại hiếu", hiếu với khắp thiên hạ, xem tất cả cha mẹ trên đời là cha mẹ của mình Ðây gọi là hiếu thảo với tất cả mọi người

Cận hiếu là con người theo thời đại ngày nay mà hiếu thảo với cha mẹ, đi học cũng là phương pháp hiếu thảo với cha mẹ, đây gọi là cận hiếu "Viễn hiếu" là hiếu thảo muôn đời, cận hiếu là hiếu thảo đời này Cận hiếu cũng có thể nói là tiểu hiếu, nhưng cũng có ít nhiều không giống Viễn hiếu là hiếu thảo muôn đời, như Trung Quốc có 24 người con hiếu, 24 người con hiếu này

là hiếu thảo muôn đời, vì họ đã để lại tiếng thơm cho muôn đời

Nói đến "Nhị thập tứ hiếu" này thì Trung Quốc có một người gọi là Ðổng Vĩnh, Ðổng Vĩnh còn gọi là Ðổng Ảm Ðổng Vĩnh rất hiếu thảo với cha mẹ, hàng xóm của anh ta có một người họ Vương, gọi là Vương Kỳ Ðổng Vĩnh là người nghèo, không có tiền, Vương Kỳ là người giàu có Nhưng mẹ của Ðổng Vĩnh, vì nhờ có người con hiếu thảo nên được khỏe mạnh mập mạp Mặc dù

đã lớn tuổi, nhưng từ sáng đến tối bà luôn cảm thấy vui vẻ Còn bà mẹ của Vương Kỳ mặc dù tiền bạc sung túc, ăn thì có thịt heo, thịt gà, cá, vịt, toàn thứ ngon vật lạ, nhưng lại ốm yếu bệnh hoạn Bà ta không có một chút vui vẻ, luôn đau buồn Có một hôm Ðổng Vĩnh không có ở nhà, Vương Kỳ cũng không có ở nhà, bà ốm mới hỏi bà mập: "Nhà bà nghèo như thế, cũng không

có gì ngon để ăn Vậy tại sao bà mập như vậy? Bà lớn tuổi như thế, mà mập như vậy là lý do gì? Mẹ của Ðổng Vĩnh mới nói với mẹ của Vương Kỳ rằng:

"Bởi vì con của tôi rất là hiếu thảo, nó không dám làm một việc gì xấu cả, lại

Trang 32

rất thật thà đúng đắn, cần cù làm việc Tôi không có điều chi đau buồn về nó, lại rất hài lòng Tâm hồn thoải mái, thân thể khỏe mạnh, tôi thích như vậy, nên tôi mập được "Sau đó mẹ của Ðổng Vĩnh tức là bà mập hỏi lại bà ốm:

"Bà có tiền như thế, ăn toàn là thứ ngon vật lạ, tại sao lại ốm như vậy? Bà ốm như cây sậy, có phải là bệnh gì không? Bà ốm này liền trả lời: "Tôi hả! Tuy

có tiền, tuy có đồ ăn ngon, nhưng đứa con của tôi, tánh nó không thật thà, không đúng đắn, thường làm những hành vi phi pháp; hôm hay phạm pháp, ngày mai cũng phạm pháp Ba hôm nay bị sai nha bắt tra hỏi, mai lại có lệnh gọi của phủ đường gửi đến Tôi từ sáng đến tối, chỉ lo lắng cho đứa con này,

ăn dù ngon cách mấy cũng cảm thấy không vui, từ sáng đến tối lúc nào cũng

ưu sầu, lo buồn Cho nên tôi càng ngày càng ốm đi, mập không nổi, đều là vì buồn bực chuyện này"

1.2.4 Đánh giá quan niệm về chữ Hiếu trong Phật giáo

Từ câu chuyện về đức hiếu của ngài Mục-kiền-liên, Đức Phật đã dạy chúng ta về hiếu hạnh trong khắp chúng sanh, công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục là thiêng liêng nhất không gì so sánh được, và đạo làm con phải thực hiện tròn bổn phận của mình Đức Phật cũng nói ta được như ngày hôm nay là nhờ công ơn cha mẹ, vậy nên người muốn học đạo không thể không hiếu với cha mẹ Và sự tu nhân tích đức, lòng hiếu thảo đó sẽ được đền đáp bằng sự chứng quả giải thoát Mục tiêu của đạo Phật là đưa con người đến sự giác ngộ, đến sự giải thoát an lạc, vì thế người con có tấm lòng chí thành chí hiếu, không chỉ phụng dưỡng cha mẹ, mà còn làm cho cha mẹ thoát khỏi những cội rễ “vô minh” quay về với con đường quang minh sáng lạng, cầu siêu đưa cha mẹ thoát khỏi khổ ải nơi địa ngục đến cảnh giới an lành Khi cha

mẹ chưa an trú trong Chánh pháp, làm sao giúp đỡ, dẫn dắt cha mẹ an trú trong Chánh pháp, cha mẹ chưa an trú trong điều lành thì làm sao đưa cha mẹ

an trú trong điều lành Như vậy cha mẹ không những được hưởng phúc lạc vật chất bên ngoài mà còn được hưởng phúc lạc trong tâm hồn, giải thoát bớt

Trang 33

phiền muộn, xa lánh thế gian chấp trước, vọng tưởng luân hồi sinh tử Khi cha

mẹ giải thoát, an vui thì sự báo hiếu của người con mới thành tựu Ấy mới gọi là: “Phụ mẫu đắc ly trần, hiếu đạo phương thành tựu” (Cha mẹ được giải thoát lìa khỏi trần ai thì người con mới tròn hiếu đạo) Nhưng phải làm thế nào để giúp cha mẹ đạt được điều đó? Đức Phật đã dạy rằng: “Nếu gia đình nào có người con biết Bố thí, biết Ái ngữ, biết Lợi hành, biết Đồng sự thì cha mẹ mới nhận được sự hiếu kính của con” (Kinh Trường A-hàm) Người biết bố thí là người luôn đem tâm hoan hỉ bố thí cho mọi người, đó không cứ phải là vật chất hay tiền bạc, nhiều khi sự bố thí ấy chỉ là một cử chỉ một nụ cười nhưng cũng đem lại cho mọi người sự an vui, tiêu tan sự đau khổ Và như thế người con biết bố thí là người con biết hiếu thảo với cha mẹ Thứ hai là ái ngữ, tức

là lời nói nhẹ nhàng, cung kính Điều này rất dễ mà cũng rất khó làm, người con đối với cha mẹ lúc nào cũng thể hiện được ái ngữ, đấy là đã làm tròn đạo hiếu vậy Thứ ba là lợi hành, nghĩa là biết làm điều có ích, cho mình, cho gia đình, cho xã hội Nếu người con không biết lợi hành thì làm sao cha mẹ có thể được hưởng sự hiếu kính Thứ tư là đồng sự, cùng nhau làm lụng, cùng nhau chia sẻ sự đùm bọc yêu thương, đó chính là bày tỏ lòng hiếu kính vậy Đấy là khi cha mẹ còn sống, còn khi cha mẹ “hoa khai cực lạc”, đạo làm con lại càng cần thực hiện đầy đủ hạnh tu Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự Đó cũng là

để cho cha mẹ được siêu thoát, được đến cõi thanh bình cực lạc Thế nhưng không phải trên thế gian này không còn những người con bất hiếu, vì sự “lầm đường lạc lối” mà sa vào bến mê, quên đi công lao cha mẹ sinh dưỡng, phạm vào tội “nghịch tử” bất hiếu Như Đức Phật đã dạy: “Thế Tôn lấy một ít đất trên móng tay rồi nói với các Tỳ khiêu: Các ngươi nghĩ thế nào? Đất trên đầu móng tay ta hay đất trên trái đất này nhiều Các Tỳ kheo trả lời: Bạch Thế Tôn đất trên đầu móng tay Người quả là rất ít so với đất trên trái đất Cũng thế

ấy, này các Tỳ kheo, chúng sinh có hiếu đối với cha mẹ thì rất ít so với chúng sinh bất hiếu như đất trên trái đất”(Kinh Tương Ưng Bộ) Vậy nên chúng sinh

Trang 34

cần sớm tỉnh ngộ, theo con đường chân tu để thoát khỏi cảnh đoạ đày muôn kiếp về sau.Nhìn chung hiếu trong kinh điển Phật giáo đã thể hiện trọn vẹn cả hai phương diện hiếu dưỡng vật chất và hiếu dưỡng tinh thần Ðể hiếu dưỡng cha mẹ về vật chất, người con phải cúc cung tận tụy nuôi nấng, chăm sóc, tôn kính cha mẹ đúng pháp, phục vụ cha mẹ bằng mồ hôi và tài sản có được từ nếp sống lành mạnh, chân chánh, làm cho cha mẹ sống an vui, thoải mái với những tình cảm tốt đẹp nhất Ðể hiếu dưỡng cha mẹ về phương diện tinh thần, người con trước hết phải tự trau dồi tốt bản thân mình, làm tất cả những gì tốt đẹp nhất, xa lánh những điều xấu xa, tội lỗi, đem tiếng thơm về cho gia đình,

để cho cha mẹ có thể tự hào và hãnh diện với mọi người Kế đến nếu cha mẹ chưa biết tam bảo thì phải khéo léo hướng dẫn cha mẹ trở về quy y và sống dưới ánh sáng của chánh pháp, trau dồi chánh kiến, đức hạnh chân chánh, làm hành trang cho một đời sống an lạc và hạnh phúc hiện tại và về sau Nội dung hiếu dưỡng cha mẹ về đời sống tinh thần chính là mục tiêu giáo dục của đức Phật Ðây chính là điểm vượt trội của Phật giáo so với ca dao Việt Nam cũng như chữ hiếu trong các tôn giáo và học thuyết khác từ trước đến giờ

Mở rộng hơn về triết lí nhân sinh, đạo Phật còn đề cập đến ân thầy cô dạy dỗ, ân quốc gia xã hội, ân chúng sinh đồng bào Nếu cha mẹ là người sinh dưỡng ra ta thì thầy cô là người đem lại cho ta sự hiểu biết, trang bị cho ta kiến thức về cuộc sống, về hành vi ứng xử Điều này còn đặc biệt có ý nghĩa với những người xuất gia tu hành Bởi vì người thầy dạy đạo là người dẫn dắt

ta trên con đường tu tập, hướng ta tới sự giải thoát, để đạt đến cõi niết bàn Đạo Phật cũng đề cập đến ân quốc gia xã hội đã cho ta cuộc sống yên bình, ổn định, ân chúng sinh đồng bào đã sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống chúng

ta Đức Phật đề cập đến những ân đức này bởi vì con người không thể tồn tại chỉ như là một cá nhân đơn lẻ, mà ngược lại con người sống cần có cộng đồng

xã hội, cần có sự gắn kết giữa các cá nhân, trong các mối quan hệ xã hội Chúng ta biết và chịu ơn tất cả mọi người, từ người nông dân trồng lúa để cho

Trang 35

ta có cái ăn, người nuôi tằm dệt vải để ta có cái mặc và biết bao ngành nghề khác để phục vụ ta trong cuộc sống đời thường Chúng ta cũng chịu ơn cỏ cây hoa lá, chim muông đã cho ta môi trường thanh sạch… Đó là vì thảy chúng sinh đều có quan hệ thân thuộc lẫn nhau Vậy nên Đức Phật đã dạy chúng ta hãy mở rộng lòng thương đến khắp chúng sinh, không sát hại sinh vật để thoả mãn nhu cầu của riêng mình

Chữ hiếu trong Phật giáo xây dựng chính yếu trên nền tảng lợi ích thiết thực hiện tại và lợi ích an lạc giải thoát Chữ hiếu như vậy thật chất đã trở thành một phương tiện thể hiện hành "lợi hành và đồng sự" cùng cha mẹ kết làm thiện tri thức, làm pháp lữ, trên con đường thực hành chánh pháp của đức Phật, tại đây và bây giờ Hiếu như vậy đã trở thành một phương tiện của đạo đức và giải thoát cho mình và người

Như vậy, nói đến đạo Phật – đạo Hiếu Việt Nam là nói đến toàn bộ tư tưởng mà toàn bộ người dân Việt Nam đã hấp thụ từ nhiều nền văn hóa khác nhau, biết ứng dụng nhuần nhuyễn những phạm trù đó cho phù hợp với hoàn cảnh và cung cách ứng xử trên phương diện Hiếu để phù hợp với quốc độ hiện tại Nếu chỉ xem chữ Hiếu trong ý nghĩa đơn thuần là hành xữ xã hội, là phép tắc để định lượng nhân phẩm của một con người, tưởng chừng như đây

là một thiếu sót, rất nhiều khiếm khuyết để diễn đạt ý tưởng này Trong bốn

ân nặng của đạo Phật đề cập đến đã nói đầy đủ ý nghĩa của nhân, trung, nghĩa của con người Việt Nam khi tiếp thu văn hóa ứng xử xã hội của Khổng học Trung Hoa Ngoài Hiếu với cha mẹ theo nghĩa hẹp, trung với nước, nghĩa với dân mở rộng thêm là thương yêu tất cả chúng sanh hữu tình từ hiện kiếp cho đến tương lai và trong đời sống dương thế hay đời sống âm cảnh, đạo Phật đã

đề cập và hướng đến

Trang 36

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CHỮ HIẾU CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ LÒNG HIẾU THẢO CHO

THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Đạo hiếu và vai trò của đạo hiếu trong đời sống gia đình

2.1.1 Khái niệm về lòng Hiếu thảo và một số quan niệm về chữ Hiếu trong lịch sử

* Khái niệm lòng hiếu thảo

Chữ HIẾU được Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh định nghĩa là “hết lòng thờ cha mẹ” Từ điển tiếng Việt cũng nói tương tự: Hiếu là “lòng kính yêu và biết ơn cha mẹ”

Theo Hán - Việt tự điển định nghĩa: Hiếu (thảo): “Con thờ cha mẹ hết lòng gọi là hiếu” [12, tr.137]

Trong Nho giáo, chữ Hiếu mang một nội dung rộng lớn hơn nhiều những điều vắn tắt kể trên Nho gia cho rằng: Hiếu là kinh sách của trời, nghĩa lý của đất mà con người có bổn phận phải tuân theo (Phù Hiếu, Thiên chi kinh, Địa chi nghĩa, Dân chi hành giả)

Theo Phật Quang Đại Từ Điển quyển 2: Hiếu có nghĩa là hết lòng thành kính và phụng dưỡng cha mẹ Những ai siêng năng tu tập hiếu dưỡng cha mẹ thì phước báu bằng với phước cúng dường chư Phật Nếu cung cấp tứ vật dụng cho cha mẹ thì là hiếu thế gian, còn đem Phật pháp hướng dẫn cha mẹ là hiếu xuất thế gian[27, tr.2137]

* Một số quan niệm về chữ Hiếu trong lịch sử

- Hiếu trong dân gian Việt Nam

Trong văn hóa của dân tộc Việt Nam, ý nghĩa hiếu đạo được xem là một

di sản quí báu, một chất liệu sống tốt đẹp được mọi người yêu chuộng và giữ gìn Khi Phật Giáo xuất hiện ở Việt Nam thì đạo đức dân tộc và đạo đức Phật

Trang 37

Giáo hòa quyện vào nhau như nước với sữa Do người Việt sẵn có tinh thần yêu chuộng đạo hiếu và giá trị giải thoát nên đã tiếp nhận giáo lý Phật Giáo một cách dễ dàng Làm người ai cũng mang ơn sanh thành dưỡng dục của cha

mẹ Người Phật tử Việt Nam hướng về Lễ hội Vu Lan vào ngày rằm tháng bảy mỗi năm là thực hiện một phương thức báo hiếu vốn có từ lâu đời, và xem đó như là một tín ngưỡng truyền thống Đây là nét đẹp của đạo hiếu xuyên suốt chiều dài lịch sử vốn có trong dân gian Việt Nam

Trong văn học dân gian còn lưu lại những dấu tích về tấm lòng yêu chuông đạo hiếu của người con Việt Trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử với những phương diện trong đời sống con người, như kinh tế, chính trị, văn hóa và nghệ thuật nó cùng ảnh hưởng tương tác giúp cho người Việt Nam làm nên văn hóa của dân tộc trong quá khứ và hiện tại Văn học dân gian Việt Nam đã đề cao văn hóa gia đình và dòng tộc Trong truyền thuyết hay truyện cổ tích, người Việt luôn tự hào là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên Lạc Long Quân như là một người cha mẫu mực, anh hùng, thương yêu và che chở con cái lúc hoạn nạn, thường khuyên mọi người ăn ở hiền lành, sống đúng đạo lý cha con và tình nghĩa vợ chồng Đó là ý thức về hiếu hạnh, đặt nền tảng gây dựng đạo đức xã hội

Câu chuyện về sự tích bánh chưng bánh dầy đã bày tỏ công lao sanh dưỡng của cha mẹ Lang Liêu, vị hoàng tử thứ mười tám, là người con hiếu thảo, hiền lành đã dâng lên vua cha thứ bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh dầy tượng trưng cho trời, với ý nghĩa xem công cha nghĩa mẹ to lớn như trời cao đất rộng, che chở cho con cái sống an vui giữa đời Do vậy mà được vua Hùng truyền trao ngôi vua Tiền bạc, vàng ngọc châu báu, của ngon vật lạ của các người con khác dâng lên đều bị vua từ chối Ý thức ấy như ngọn gió đạo đức đã thổi vào luồng văn hóa dân tộc để xây dựng nền đạo lý lâu dài Chiếc bánh chưng, bánh dầy đã trở thành một sản phẩm cổ truyền, một chứng tích

Trang 38

của đạo lý, chiếc bánh ấy thường được dâng cúng tổ tiên trong dịp Tết Nguyên Đán và các lễ hội hàng năm

Trong ca dao Việt Nam, tiếng nói đạo đức mang truyền thống văn hóa dân tộc được kết tụ mấy nghìn năm lịch sử Với những lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu đã đề cao được công lao dưỡng dục của cha mẹ, nó không nằm trong phạm vi văn chương bác học, mà trở lại gần gủi và phổ cập với đời sống con người qua bao thế hệ:

Công cha nhơ núi thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Ca dao Việt Nam đã diễn tả tình cha mẹ rất chính xác Cha thương con cứng rắn, nghiêm nghị nên được ví với sự sừng sửng của núi Thái, một ngọn núi to lớn, hùng vĩ Mẹ thương con ngọt lịm dịu dàng nên được sánh ví với suối nguồn chảy tuông êm ả, nhẹ nhàng, bất tận Ca dao Việt Nam còn nhấn mạnh đến nỗi cực nhọc chín tháng cưu mang, ba năm bồng ẳm của người mẹ:

Nhớ ơn chín chữ cù lao

Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình

Chính vì công lao sâu dày của cha mẹ là không cùng, ca dao Việt Nam khẳng định vị trí của cha mẹ là vô song, không có gì có thể sánh bằng Một khi cha mẹ mất, con cái phải chật vật, đau khổ và dường như mất cả ý nghĩa của cuộc đời:

Còn cha còn mẹ thì hơn Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây

Trong các thứ tình cảm, ca dao khẳng định tình cảm giữa mẹ con và con cái là cao quý nhất, vượt hơn tình yêu đôi lứa:

Cha mẹ già thật đã khó tìm Ðạo vợ chồng chẳng hiếm chi nơi

Trang 39

Ca dao còn sánh ví cha mẹ như Phật, mà theo kinh điển Phật là đấng cao quý nhất trong ba cõi, là thầy của chư thiên và loài người Nghĩa là ca dao đã trân trọng đặt cha mẹ lên vị trí tôn quý nhất trong tam giới:

Gió đưa cành trúc la đà Cha mẹ còn sống Phật đà hiện thân

Do sự tôn kính đó, ca dao đã dạy trước phải kính dưỡng đức Phật - Cha

mẹ trong nhà rồi sau mới kính dưỡng đức Phật ngoài đồng Trên cơ sở này, ca dao có quan điểm rằng sự đi tu với hình thức "cắt ái từ thân, xuất ly gia đình" không còn là điều tiên quyết:

Tu đâu cho bằng tu nhà Thờ cha kính mẹ cũng là chân tu

Tình cảm hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ đã trở nên một thứ tình cảm gắn bó Và do vậy, phận làm con phải luôn kính cha thương mẹ:

Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha

Tuy nhiên ca dao cũng tích cực lên án những hạng người con bất hiếu, bỏ quên công ơn sanh thành dưỡng dục lao khổ của cha mẹ, trở lại tính tháng đếm ngày với cha mẹ, khi phải nuôi nấng cha mẹ:

Mẹ nuôi con bằng non bằng bể Con nuôi mẹ con kể từng ngày

Ca dao cũng khen ngợi những người con có hiếu thảo, tảo tần chịu gian khó, hiếu dưỡng cha mẹ từng cái ăn cái uống, cho thỏa dạ chân tình:

Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già

Ca dao Việt Nam còn tin vào nghiệp báo luân hồi, tin vào sự tái sanh, vào kiếp sống đời sau, tin vào những thiện nhân phước báo mà con cháu làm

để hồi hướng cho cha mẹ là có tác hưởng thật sự Chính hiếu hạnh đó đã cảm hóa tâm tính cha mẹ và cộng với phước báu của con cháu đã tạo mà cha mẹ

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w