1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh nghệ an hiện nay

98 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình đó đã tôi luyện và hun đúc nên những thế hệ con người Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, cần cù

Trang 2

2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo của khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và các thầy cô của trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đã hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài

Đặc biệt hơn, tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ của TS Trần Ngọc Ánh

Lời cảm ơn tới các thành viên lớp 09SGC – khoa Giáo dục chính trị, lòng biết ơn đến với gia đình, người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thủy Tiên

Trang 3

3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia văn hiến từ lâu đời Lịch sử nước ta đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Quá trình đó đã tôi luyện và hun đúc nên những thế hệ con người Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, cần cù sáng tạo…Những phẩm chất đó đã trở thành nét đẹp của đạo đức truyền thống

mà hàng ngàn đời nay những thế hệ con người Việt Nam luôn nâng niu và gìn giữ Những giá trị đó là linh hồn, là bản sắc văn hóa và là căn cước để nhận diện bản sắc dân tộc Việt Nam trong vô số nền văn minh trên thế giới

Sinh thời Bác Hồ luôn là tấm gương sáng trong việc nâng niu, gìn giữ

những gì mà cha ông để lại Người từng nói: “ Nhân dân ta sẵn có truyền

thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, lại có tinh thần yêu nước nồng nàn, chúng ta cần phải phát huy truyền thống và tinh thần ấy” Trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định: Xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc làm động lực cho sự phát triển đất nước Vì vậy, giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống trở thành một nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện nay

Thanh niên là một lực lượng xã hội đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển của xã hội Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng sự thành - bại, thịnh – suy của mỗi dân tộc phần lớn đều phụ thuộc vào thanh niên Thanh niên là một bộ phận nòng cốt của xã hội, rường cột của dân tộc, là lực lượng xung kích của cách mạng và là chủ nhân tương lai của đất nước Chính vì vậy việc giáo dục, đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên là một việc làm thường xuyên và cần thiết

Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã và đang mang lại những kết quả to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, có biết bao nhiêu cơ hội và cũng đan xen không ít những khó khăn, thách thức, thanh niên vẫn là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu

Trang 4

tố quyết định sự thành bại của cách mạng Thế nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được đã nảy sinh những hạn chế nhất định do cơ chế thị trường mang lại, đó là hiện tượng phản đạo đức, phi nhân tính của đời sống xã hội Tình hình thế hệ trẻ mắc vào tệ nạn xã hội, phạm tội không ngừng gia tăng Chính lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, thích hưởng thụ, thói ích kỷ, buông thả, phai mờ lý tưởng, bất chấp đạo lý… đang từng ngày, từng giờ làm xói mòn, băng hoại những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Mặc dù Đảng ta có nhiều quan điểm đường lối nhằm kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho mọi từng lớp nhân dân nói chung, cho thanh niên nói riêng, thế nhưng việc cụ thể hóa các quan điểm, đường lối ấy của Đảng ở một

số nơi làm chưa tốt

Nghệ An là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi nổi tiếng là một xứ văn hóa với nhiều truyền thống đặc sắc, hiện nay tỉnh với gần 1 triệu thanh niên chiếm 27% dân số và 47% lực lượng lao động tỉnh Cơ cấu đa dạng và có nét đặc thù: thanh niên trên địa bàn dân cư chiếm trên 70%; than niên là học sinh, sinh viên chiếm gần 25%; thanh niên CNVC và lực lượng vũ trang chiếm 5%; trong đó thanh niên dân tộc ít người chiếm 15%; thanh niên tôn giáo chiếm 9,5%; nữ thanh niên chiếm 50,3%, trong những năm qua mặc dù các chủ thể giáo dục đã cố gắng trong quá trình giáo dục các giá trị đạo đức cho thanh

Trang 5

5

niên, thế nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho hiệu quả giáo dục chưa cao, thậm chí ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chức Đoàn còn xem nhẹ hoặc chưa thấy rõ tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên

Trước thực trạng ấy, việc giáo dục đạo đức mới cho thanh niên nói chung, cho thanh niên Nghệ An nói riêng trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc như tinh thần Đại hội XI của Đảng xác định:

“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn

bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm

mỹ ngày càng cao” đang là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

Vì vậy tác giả chọn đề tài: “ Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ An hiện nay” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống để xây dựng đạo đức nói chung, cho thanh niên nói riêng đã được Đảng ta và nhiều

nhà khoa học bàn đến Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) Đảng ta đã đề cập

đến vấn đề kế thừa giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để xây dựng nền văn

hóa Việt Nam với nội dung “dân tộc – khoa học – đại chúng”; Giá trị tinh

thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1980) của Giáo sư Trần Văn Giàu

(NXB Khoa học xã hội); Về giá trị tinh thần truyền thống (1993), NXB Thông tin lý luận, Hà Nội; Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta

hiện nay, Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995; “Quan hệ kinh tế và đạo

Trang 6

6

đức trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn Thế

Kiệt ( Tạp chí Triết học, số 6, 1996); Nghị quyết Trung ương 6 Ban chấp

hành Trung ương khóa VIII (1998) với nội dung: “Xây dựng và phát triển nền

văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; “Giá trị truyền thống – nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của tác

giả Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 4, 1998); “Tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục, rèn luyện trong nền kinh tế thị trường” của

Hoàng Trung ( Tạp chí triết học, số 5, 1998);…

Một số chuyên khảo tiêu biểu đi sâu nghiên cứu nhằm xác định các giá trị đạo đức truyền thống làm cơ sở cho việc xây dựng đời sống văn hóa đặc

biệt là đời sống văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: “Giáo

dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Sĩ Phán (luận án Tiến sĩ, 1999); “Quan

hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Quế ( luận văn thạc sĩ, 2000); “Giá trị đạo đức

và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội” của Mai xuân Lợi ( Tạp chí Triết

học, số 3, 2001); “Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt

Nam hiện nay” của Doãn Thị Chín ( luận văn Thạc sĩ, 2004); “Đạo đức mới – đạo đức cách mạng từ các cách tiếp cận khác nhau” của Trịnh Duy Huy (

Tạp chí Triết học, số 1, 2006); “Toàn cầu hóa “nguy cơ tha hóa” và vấn đề

định hướng giá trị văn hóa tinh thần” của Đặng Hữu Toàn (Tạp chí Triết học,

số 5, 2006); “Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo

đức mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Phúc ( Tạp chí Triết học, số 11,

2006); “ Nhân ái – một truyền thống cần kế thừa và phát huy trong việc xây

dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” của Võ Văn Thắng (Tạp chí Triết học, số

7, 2007); “Một số giá trị đạo đức Việt Nam từ truyền thống đến Hồ Chí

Minh” (Sách học tập đạo đức Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2007); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của thanh niên đối với sự

nghiệp cách mạng” của Đào Thị Tùng (Thông tin công tác trường chính trị số

2, 2007)…

Nghiên cứu tác động của đạo đức trong việc rèn luyện và phát triển

Trang 7

7

nhân cách nói chung, thanh niên nói riêng, trên các tạp chí đã có một số tác

giả đề cập:“Về tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo

đức mới” của Nguyễn Văn Phúc (tạp chí triết học số 3, 2007); “Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của Ngô Thị Thu Ngà (Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 10, 2011);

“Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo đức đối với nhân cách

con người Việt Nam hiện nay” của Cao Thu Hằng (Nguồn

để xây dựng đạo đức nói chung, đạo đức mới cho thanh niên nói riêng là vấn

đề đang có biến đổi phức tạp, vì thế cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn tập trung:

- Làm rõ vai trò của giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức

mới cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Trang 8

8

- Nghiên cứu làm rõ giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên Nghệ An hiện nay thực trạng và giải pháp

c Phạm vi nghiên cứu

Đạo đức truyền thống của con người Việt Nam bao gồm cả tính tích cực

và hạn chế, trong luận văn này tác giả tập trung nhiều hơn đến mặt tích cực cần được kế thừa và phát huy trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh

niên tỉnh Nghệ An hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

a Cơ sở lý luận của luận văn

Luận văn này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức thanh niên, đồng thời kế thừa và chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài

b Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp giữa phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, thống kê…để thực hiện mục đích đề tài nghiên cứu đề ra

5 Nét mới của đề tài

- Phân tích và làm rõ thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ An hiện nay

- Đề ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ

An hiện nay

6 Ý nghĩa của đề tài

Trên cơ sở chỉ ra thực trạng giáo dục giá trị truyền thống hiện nay cho thanh niên tỉnh Nghệ An từ đó nêu lên một số phương hướng, giải pháp, nhằm giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống Việt Nam hiện nay trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên Nghệ An hiện nay

- Ý nghĩa lý luận:

Đề tài nghiên cứu góp phần tìm hiểu hệ thống hóa các giá trị đạo đức

Trang 9

Nghệ An hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 10

10

Chương 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN VIỆT

NAM HIỆN NAY 1.1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

1.1.1 Giá trị, giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống

“ Giá trị” là một trong những phạm trù cơ bản có liên quan đến đời

sống con người, đến thực tiễn xã hội:

“ Giá trị là phạm trù người Chỉ trong con người xã hội mới có cái gọi

là giá trị Trong quá trình “chiếm hữu” để trưởng thành và để tự vượt lên mình giữa con người với ngoại giới, giữa con người với con người, trong xã hội xuất hiện khái niệm giá trị” Giá trị được đề cập và nghiên cứu trong rất nhiều lĩnh vực khoa học: Đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, triết học Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau, khái niệm về giá trị có thể mang những nội dung khác nhau

Ngay từ thời cổ đại, gắn liền với triết học, con người đã có những hiểu biết ban đầu sơ khai về “ giá trị”, “giá trị học” Mãi đến cuối thế kỷ XIX giá trị học mới tách riêng thành một lĩnh vực khoa học độc lập và từ đó thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học

Trong lĩnh vực kinh tế học, phạm trù giá trị gắn liền giá trị hàng hóa, giá cả và sản xuất hàng hóa và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của người làm ra hàng hóa Theo quan điểm kinh tế, giá trị kinh tế là sức mạnh của sản phẩm này khống chế những sản phẩm khác thông qua trao đổi, giá trị của một vật phẩm thể hiện ở tính có ích của nó, nghĩa là vật phẩm đó

có khả năng đáp ứng thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Do vậy, trong phân tích kinh tế thì giá trị là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự ưu tiên, vị trí của nó càng cao thì giá trị của nó càng lớn

Trong lĩnh vực triết học, khi đề cập đến phạm trù giá trị thì có nhiều quan điểm khác nhau Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan như Kant, M.SheLer…coi giá trị là sự tồn tại của những bản chất tiên nghiệm,

Trang 11

11

những chuẩn mực lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật không phụ thuộc vào nhu cầu và ham muốn của con người Trái lại, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà người đó đang đánh giá Những người theo thuyết tự nhiên chủ nghĩa lại coi giá trị là biểu hiện những nhu cầu tự nhiên của con người, từ đó làm nảy sinh các quan niệm xã hội, kinh tế và thực dụng

Chủ nghĩa Mác – Lenin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính nhận thức được và tính thực tiễn của giá trị và coi giá trị xã hội là những hiện tượng

xã hội đặc thù, giá trị không phải là những cái tiên nghiệm, thần bí, có từ hư

vô mà mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng và khi nói đến giá trị bao giờ cũng nói đến mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể Con người có khả năng nhận thức được giá trị và thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm giá trị Hay nói cách khác, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của giá trị

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về phạm trù giá trị, thế nhưng có thể khái quát lại rằng giá trị có một số điểm sau:

Một là, mỗi vật thể hay tư tưởng đều có những giá trị, nếu nó được con

người thừa nhận hoặc đặt cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ

Hai là, giữa bản chất và quy luật bản chất của bản thân sự vật, hiện

tượng có sự khác nhau rất cơ bản với giá trị của sự vật, hiện tượng Bản chất

và quy luật của sự vật, hiện tượng tồn tại không phụ thuộc vào nhu cầu của con người, còn giá trị chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con người

Vì vậy, tùy theo việc con người có hay không có nhu cầu nào đó mà một sự vật hay hiện tượng đối với con người là có hay không có giá trị

Ba là, giá trị luôn mang tính khách quan Điều đó có nghĩa là sự xuất

hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người không phải do ý thức mà do yêu cầu của hoạt động, của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động

Bốn là, trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm,

hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể

Trang 12

12

Tóm lại, “ nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến khả năng thôi thúc con người ta hành động

và nỗ lực vươn tới” [ 3, tr 16 -19]

Để phân loại giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận mà các tác giả nêu lên những căn cứ phân loại khác nhau về giá trị Thế nhưng thông thường cách phân loại khá phổ biến là chia giá trị thành hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất thể hiện rõ nhất trong đời sống kinh tế - nơi gắn bó trực tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại của xã hội loài người, vì vậy giá trị vật chất cũng liên quan mật thiết với các lĩnh vực chính trị, pháp quyền, thiết chế xã hội,…còn giá trị tinh thần “ vượt thoát” hiện thực nhưng không phải xa rời hiện thực mà là nhằm vươn tới một xã hội nhân văn, xã hội mà nhân loại tiến bộ đang mong tới

Trong các giá trị vật chất, người ta thường đề cập đến giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị như: giá trị khoa học (giá trị nhận thức, cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính nghĩa, cái cách mạng), giá trị tôn giáo (sự thiêng liêng, sự thánh thiện), giá trị đạo đức ( cái thiện, cái ác)…tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính tương đối Trong phạm vi luận văn tác giả xin góp phần làm rõ thế nào là “ giá trị đạo đức”?

Trong hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội thì giá trị đạo đức là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa hành vi của con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác Vì vậy, giá trị đạo đức được đánh giá là: “ có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình, dư luận biểu dương Giá trị đạo đức vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã hội” [17, tr.51] Theo Giáo sư Huỳnh Khái Vinh: “ Giá trị đạo đức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ người – người với giới tự nhiên và xã hội (gia đình, cộng đồng) trên tinh thần yêu thương hay

Trang 13

“truyền thống” là mức độ đóng góp của nó vào sự tiến bộ xã hội, sự phù hợp với quy luật khách quan hay không

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể nhận dạng về truyền thống qua những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của

con người trong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong tư duy, lối ứng xử, tâm lý

Thứ hai, truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng

người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, dòng họ, gia đình, làng xã ), là bản sắc của cả cộng đồng người

Thứ ba, truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của

môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản xuất và kết cấu kinh tế xã hội, sự tác động thường xuyên của lịch sử, tác động của môi trường văn hoá khu vực và thế giới

Thứ tư, truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người

sau, nó ăn sâu vào tâm lý, vào phong tục, tập quán, nếp nghĩ của con người

Trang 14

14

Như vậy, truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền Những đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khi những cơ sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộn nội dung của truyền thống cũng dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới Truyền thống không phải là một phạm trù khép kín mà

là hệ thống mở Cho nên, những giá trị được tạo ra hôm nay và ngày mai nếu trở thành phổ biến và ăn sâu vào đời sống tâm lý, lối sống của cộng đồng thì

sẽ tạo ra truyền thống mới

Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam là một bộ phận của hệ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bên trong của dân tộc Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa của dân tộc, được xác định là các giá trị nhân văn mang tính cộng, là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên

Xét trong mối tương quan với khu vực và thế giới, đặc biệt với các dân tộc ở phương Đông, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta có những nét tương đồng với nhiều dân tộc khác vì các dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển của mình đều phải giải quyết những vấn đề chung như, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ổn định và phát triển xã hội Mặt khác, sự giao lưu quốc tế và sự giao thoa giữa các nền văn hoá diễn ra thường xuyên ở mức

độ này hay mức độ khác, nhất là với những nước gần nhau đã ảnh hưởng lẫn nhau một cách khá rõ nét Tuy vậy, do đặc thù về điều kiện lịch sử dân tộc mà sắc thái truyền thống của mỗi dân tộc là không giống nhau

Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trị tinh thần đó Chính vì vậy, khi nói đến những giá trị tinh thần của dân tộc ta,

là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báu đã được hình thành và bảo lưu trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta được cô đúc, thử thách và tái tạo

Trang 15

15

qua nhiều thế hệ khác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử Nó chứa đựng một tiềm năng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc ta tồn tại và phát triển Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trong quá trình dựng nước và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù vốn có, đã tạo nên một bản sắc hết sức độc đáo cho dân tộc Việt Nam

Sớm xác định được vai trò quan trọng của giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đối với sự phát triển đất nước, nên nhân dân ta luôn giữ gìn và tôn trọng những giá trị quý báu ấy và xem chúng như là những tiêu điểm để mọi người hướng tới, làm theo Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “ Giá trị đạo đức truyền thống là những cái gì sừng sững, vững chắc, cao vọi, tôn nghiêm như những ngọn núi, đời qua đời làm tiêu điểm để các tầng lớp đồng bào theo đó

mà gióng hướng mà không đi lạc, mà phân biệt chính tà, phải trái, nên chăng, tốt xấu để mọi người xác định thái độ, hành tung của mình” [10, tr.93]

1.1.2 Các giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cho nên những giá trị tinh thần và đạo đức, nhân cách của người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa là bắt nguồn từ những hoàn cảnh địa lý, môi trường tự nhiên, lịch sử xã hội

Việt Nam là một nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, đời sống người nông dân quanh năm gặp nhiều khó khăn, vất vả, phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên Mặt khác, do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Bắc

và Đông Nam nên điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, điều đó đã gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, dẫn đến mất mùa Chính trong điều kiện khó khăn đó đã hình thành ở con người Việt Nam những giá trị quý báu như: sự gắn bó cộng đồng chặt chẽ, yêu thương đùm bọc, giúp đỡ nhau,…từ đó hình thành thói quen cần cù, tiết kiệm

Việt Nam là đất nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý báu “ rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”; mặt khác, lại nằm ở đầu mối giao thông quốc tế, cho nên Việt Nam thường xuyên là mục tiêu của các thế lực ngoại xâm và trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sự đe dọa của ngoại xâm, để tồn tại và phát

Trang 16

là đặc điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam

Trong các chủ trương, đường lối của Đảng ta và nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam bao gồm “ lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người”[17, tr.74], còn theo Giáo sư Trần Văn Giàu, thì giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: “ yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [10, tr 94] Trong các văn kiện của Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng đã xác định: “ Những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động” [8, tr.19] Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII, đã khẳng định:

Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – tổ quốc, lòng nhân

ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động,

là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, là sự tế nhị trong cư xử, tính giản dị trong lối sống [6, tr.10]

Quan điểm trên của Đảng ta và các nhà khoa học tuy có những điểm cụ thể khác nhau, cách diễn đạt khác nhau, thế nhưng đều khẳng định rõ vị trí nổi bật của các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Dựa trên cách tiếp cận về giá trị, giá trị đạo đức truyền thống, ta thấy rằng dân tộc Việt Nam trong quá trình

Trang 17

17

dựng nước và giữ nước đã tạo nên những giá trị đạo đức truyền thống cơ bản sau:

- Truyền thống yêu nước

Bất cứ một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới đều có tình yêu đất nước Nhưng lòng yêu nước của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc lại có sự hình thành và biểu hiện những bản sắc riêng

Yêu nước là một truyền thống cực kỳ quý báu, lâu đời của dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Từ những buổi đầu tiên dựng nước, dân tộc Việt Nam lại phải đương đầu với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, với giặc ngoại xâm – những kẻ thù hung hãn và hùng mạnh Để tồn tại và phát triển, đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải có lòng yêu nước, bởi vì có yêu nước thì mới có quyết tâm, dám chịu hy sinh để bảo vệ nền độc lập cho dân tộc

Mặc dù cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng người có nhiều khác biệt, nhưng yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi người Việt Nam, là “ tiêu điểm của mỗi tiêu điểm”, là “ giá trị trên các giá trị” Giáo

sư Trần Văn Giàu cho rằng: “ yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch

sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” [10, tr.94]

Sự hình thành chủ nghĩa yêu nước gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Tinh thần yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm

mà còn là một tư tưởng thiêng liêng, cao quý nhất, được bắt nguồn từ những tình cảm đơn sơ và bình dị của mỗi người dân Tình cảm đó ban đầu bắt nguồn từ sự yêu thương, quan tâm đến những người thân thương, ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc Tình yêu tổ quốc không chỉ gắn liền với quá trình dựng nước mà nó còn thể hiện rõ trong quá trình bảo vệ đất nước Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được thể hiện ở lòng dũng cảm, ý chí bất khuất, kiên cường; đó là tinh thần hết mực yêu hòa bình, yêu tự do, nhưng khi đất nước có ngoại xâm thì “ thà hy sinh tất

cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Chính tinh thần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược Qua những cuộc chiến tranh trường kỳ đầy

Trang 18

18

gian khổ đó, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành dòng chủ lực của đời sống Việt Nam, thành một triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Dân tộc Việt Nam có lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước” [37, tr.171]

Tóm lại, chính lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường dân tộc đã tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn, giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi gian nguy, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, tự do cho Tổ quốc Chính

vì vậy yêu nước là niềm tự hào của dân tộc và là một truyền thống cực kỳ quý báu mà chúng ta cần phải kế thừa và đổi mới trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay

- Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo

Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo cũng là một trong những giá trị đạo đức có từ bao đời của dân tộc Việt Nam Nó được hình thành và phát triển trong điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội khó khăn khắc nghiệt ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước Trong quá trình sản xuất, con người luôn phải sống và lao động trong những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như: hạn hán, lũ lụt,…Mặt khác, Việt Nam là một nước có nhiều tài nguyên khoáng sản, là đầu mối giao thông của các nước, nên thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm xâm lược Chính vì vậy người dân Việt Nam trong quá trình lịch sử đã kiên trì bám làng, bám đất, vừa sản xuất, vừa đánh giặc để giữ gìn chủ quyền và độc lập cho dân tộc Sống trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả tưởng chừng như không thể nào vượt qua nỗi, nhưng nhờ có đức tính cần cù và dũng cảm mà nhân dân ta đã vượt qua, để từng bước tự khẳng định mình trong quá trình phát triển của dân tộc Tất cả những khó khăn đó được thể hiện trong rất nhiều câu ca dao, dân ca Việt Nam: “ Cày đồng đang buổi ban trưa, mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”…Chính vì sự khó nhọc

đó đòi hỏi con người phải quý trọng những thành quả lao động ấy: “ Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” Cần cù của dân

Trang 19

19

tộc Việt Nam là sự siêng năng trong lao động, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là “ cần cù bù thông minh” mà cần cù ở đây là sự lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao

Truyền thống dũng cảm của dân tộc Việt Nam xuất phát sâu xa từ điều kiện tự nhiên và lịch sử dựng nước và giữ nước chống giặc ngoại xâm và chống thiên tai địch họa Quá trình đó đã tôi luyện con người Việt Nam qua bao thế hệ tinh thần dũng cảm, dám đối mặt với sự thật dù nó có khó khăn và rất gian nan, không trốn tránh, là tinh thần luôn lạc quan để vượt qua bao sóng gió của cuộc sống, là làm những việc mà người khác không dám làm, là dám đương đầu với những khó khăn thử thách của bản thân, dám đối diện với chính mình Trong lịch sử nước nhà chúng ta đã có rất nhiều những tấm gương dũng cảm, vì nước quên thân, luôn sẵn sàng đối mặt với kẻ thù, với khó khăn gian khổ, thậm chí cả hy sinh mất mát Đó là anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản bóp nát quả cam và anh dũng đứng lên chống giặc Nguyên Mông tàn bạo, là Lê Lai liều mình cứu chúa Trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc lòng dũng cảm ấy là phẩm chất quan trọng nhất của những người hùng trong cuộc kháng chiến Đúng như Tố Hữu

đã viết : “Dân ta gan dạ anh hùng Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn

Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc Tay chém thù tay sắc như gươm” Họ đã

cùng toàn dân quyết tâm làm nên một chiến công Điện Biên Phủ “Chín năm

làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” Những chiến sĩ Điện

Biên là những con người mang trong mình chất thép của lòng dũng cảm:

“Chiến sĩ Điện Biện, chiến sĩ anh hùng Đầu nung lửa sắt, gan không núng,

chí không mòn…Những đồng chí thân chôn làm giá súng; đầu bịt lỗ châu mai, băng mình qua núi thép gai, ào ào như vũ bão Những đồng chí chèn lưng cứu pháo, nát thân, nhắm mắt còn ôm” Những hình ảnh những anh vệ quốc quân, giải phóng quân đã trở thành những biểu tượng đẹp về lòng dũng cảm như chị Võ Thị Sáu đứng trước họng súng quân địch mà vẫn cất cao tiếng hát, anh Hai Thương bị địch bắt và tra tấn dã man, anh đã dũng cảm chịu đựng khi bị địch cưa chân đến sáu lần với biết bao đau đớn nhưng anh nhất quyết không khai một lời nào Chú bé loắt choắt chạy như bay dưới làn

Trang 20

20

đạn quân thù để đưa thư cho được bức thư đề "thượng khẩn" Đó còn là cô

thanh niên xung phong ”Lấy thân mình hứng lấy luồng bom” (Thơ Lâm Thị

Mĩ Dạ), anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang ra pháp trường, chị Đặng Thùy Trâm, anh Nguyễn Văn Thạc dũng cảm lên chiến địa… tất cả đều là những tâm gương sáng ngời của lòng dũng cảm Nhờ có tinh thần đó góp phần to lớn

để chúng ta có ngày 30/4 lịch sử: “Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp! Bác

Hồ ơi! Toàn thắng về ta Chúng con đến xanh ngời ánh thép.Thành phố tên người lộng lẫy cờ hoa.” Cùng với lòng yêu nước thiết tha, lòng dũng cảm của

những người chiến sĩ ấy đã giúp họ có được lẽ sống rất đẹp: sẵn sàng đổ máu mình cho cây Tổ Quốc đơm hoa Độc lập, kết trái tự do và viết nên trang sử mới của thời đại Hồ Chí Minh đầy tự hào

Trong cuộc sống hoà bình, tiếp nối lòng dũng cảm của cha ông, hiện nay chúng ta vẫn hàng ngày hàng giờ chứng kiến những hành động dũng cảm Dũng cảm vạch trần những việc làm sai trái của người khác dù đó là những kẻ

có chức có quyền, những chiến sĩ công an, những hiệp sĩ dũng cảm bắt tội phạm để giữ cho nhân dân có cuộc sống thanh bình, một bạn học sinh sẵn sàng lao xuống dòng nước chảy xiết đề cứu bạn Những con người dũng cảm

ấy đã góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

Thực tiễn chứng minh, nhờ có tinh thần dũng cảm, cần cù và sáng tạo trong lao động và kháng chiến mà ông cha ta đã xây dựng và bảo vệ được non sông gấm vóc và giữ vững nền độc lập của đất nước đến ngày nay Trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay, chúng ta phải kế thừa và phát huy những truyền thống đức tính tốt đẹp đó

- Truyền thống nhân nghĩa

Nhân nghĩa là truyền thống đạo đức cao quý và thiêng liêng của dân tộc

ta Nó là một giá trị đạo đức cơ bản của con người, được thể hiện ở suy nghĩ, hành động, cách cư xử với người theo lẽ phải, giúp đỡ người khi gặp khó khăn hoạn nạn

Nhân được hiểu là lòng thương người, yêu người, yêu quý kính trọng con người

Trang 21

Tinh thần nhân nghĩa của người Việt Nam thể hiện sâu sắc ở lòng vị tha

và sự cao thượng, không cố chấp với người có lỗi lầm, biết hối cải, họ đối xử khoan hồng ngay cả với tù binh, hàng binh trong chiến tranh “ Đánh kẻ chạy

đi, không ai đánh kẻ chạy lại” Bác Hồ đã từng dạy: “ Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài, nhưng ngắn, dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác, đều là dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ…ta phải lấy tình nhân ái để cảm hóa họ” Lòng nhân ái của dân tộc ta không chỉ dành riêng cho người Việt Nam mà còn mở rộng ra là tình yêu thương nhân loại Khi quân Minh bại trận thì Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã cấp thuyền, lương thực

để quân giặc về nước, hay trong thời kỳ chống quân Nguyên – Mông cũng vậy Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, khi quân xâm lược đầu hàng thì Chính phủ và nhân dân ta đã tạo điều kiện cho quân lính trở về nước Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “ Trước bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” Chính tinh

Trang 22

22

thần nhân nghĩa đã cảm hóa lòng người, đã đem đến sức mạnh cho nhân dân

ta trong đấu tranh giành độc lập Trong tác phẩm “ Bình Ngô Đại Cáo” Nguyễn Trãi đã viết: “ Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, nhân nghĩa sẽ đem lại sức mạnh, đem lại niềm tin cho nhân dân

ta dành chiến thắng

Tư tưởng nhân nghĩa có từ lâu đời trong lịch sử, được bắt nguồn từ khi vua Hùng dựng nước, tồn tại và phát triển qua các thời kỳ Nhân dân ta có mấy ai không biết đến những vị anh hùng hào kiệt của dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…truyền thống nhân nghĩa được đúc kết, được họ kế thừa và phát triển Đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống nhân nghĩa đã thấm sâu vào tình cảm, suy nghĩ, hành động của mỗi con người Việt Nam

Truyền thống nhân nghĩa của dân tộc được kết tinh rõ nhất ở Hồ Chí Minh Suốt cuộc đời mình, Người đã chiến đấu không mệt mỏi cho hạnh phúc của nhân dân Đồng chí Lê Duẩn viết: “ Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng, đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân tha thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị và “trái tim khối óc của Người dành cho dân tộc Việt Nam cũng hướng về giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức” ( Điếu Văn của Bộ Chính trị) Lòng thương yêu con người, thương dân, thương đồng bào, thương các dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng chính là nét nổi bật trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Một nét nổi bật nữa của truyền thống nhân nghĩa của dân tộc là các thế

hệ sau luôn ghi lòng tạc dạ công lao của các vị anh hùng dân tộc, các thế hệ đi trước, những người đã ngã xuống trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những người có công khai sáng nền văn hóa dân tộc, có công với làng xóm, dòng họ Hầu hết nơi nào trên đất nước Việt Nam cũng có đền thờ các vị anh hùng, đền thờ thành hoàng làng, dòng họ, tổ tiên, ví dụ như đền thờ các vị anh hùng: Tản Viên, Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,

Lê Lợi, Quang Trung, rồi đến thờ các dòng họ, các ông tổ của nghề, Thành hoàng làng…Hàng năm, nhân dân ta thường mở lễ hội để tưởng nhớ những

Trang 23

23

người có công với đất nước Mỗi con người Việt, dù họ sống ở đâu, làm nghề

gì thì cũng đều nhớ ngày giỗ Tổ Ngày giỗ Tổ là ngày hội lớn nhất của dân tộc: “ Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba”

Truyền thống nhân nghĩa trong thời đại ngày nay được thể hiện ở đường lối đối ngoại của Đảng với phương châm: “ Khép lại quá khứ hướng đến tương lai”, “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” nhằm xây dựng nước Việt Nam giàu đẹp, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bảo vệ hòa bình và an ninh quốc gia

“Truyền thống nhân nghĩa còn thể hiện ở niềm tin vào con người, tin vào tiền đồ phát triển của đất nước với quan niệm “ Hậu sinh khả úy”, “ Con hơn cha là nhà có phúc” [11, tr.87] Điều này được chứng minh qua mỗi thế

hệ con người Việt Nam đều ham học hỏi, kính trọng, biết ơn công lao của những người đi trước Trong mỗi gia đình đó là sự hy sinh của cha mẹ dành cho con cái, là sự hiếu thảo của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ đã dạy dỗ nuôi nấng thành người

Phát huy truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, ngày nay chúng ta đang khơi dậy các phong trào “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Đền ơn đáp nghĩa”, thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ đồng bào lũ lụt, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người già và trẻ em cơ nhỡ không nơi nương tựa, người tàn tật, khó khăn hoạn nạn…

- Truyền thống đoàn kết cộng đồng sâu sắc

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã tổng kết và rút ra kết luận: “ Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, nhân dân lao động Việt Nam cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nền văn hiến Việt Nam” [60, tr 303]

Tư tưởng đoàn kết giữa các dân tộc anh em được thể hiện rất sớm trong cách lý giải về sự ra đời của dân tộc Việt Nam trong truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con” Cho đến lịch sử hình thành dân tộc: theo tiếng gọi của tiếng trống Hùng Vương, mười lăm bộ lạc hợp thành quốc gia Văn Lang

Trang 24

24

thống nhất Thấy rõ vai trò của đoàn kết, cha ông ta đã luôn có ý thức chống chính sách chia rẽ của các thế lực ngoại bang cũng như xu hướng cát cứ của các thế lực phong kiến Do vậy, từ chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” của bọn phong kiến phương Bắc đến chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ đều lần lượt bị thất bại trước tinh thần đoàn kết của nhân dân ta

Tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, nó được hình thành trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên nhiên khắc nghiệt Bởi trong những điều kiện khó khăn đó, con người muốn vượt qua họ phải “ Chung lưng, đấu cật”, góp sức, góp trí…vì vậy tinh thần đoàn kết cộng đồng sâu sắc được hình thành là một lẽ tất nhiên trong đời sống của con người, để đáp ứng nhu cầu khách quan đang đòi hỏi Dân tộc Việt Nam luôn xem đoàn kết là một sức mạnh làm nên mọi thắng lợi Đoàn kết thể hiện trong mọi thành công và thất bại, “ có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia” Đặc biệt tinh thần đoàn kết thể hiện rõ nhất và quý nhất khi gặp khó khăn, hoạn nạn Khi đói rét thì “nhường cơm sẻ áo” khi gặp hoạn nạn, khó khăn thì “Chị ngã em nâng”…

Một câu hỏi được đặt ra, vậy truyền thống đoàn kết bắt nguồn từ đâu? Truyền thống đoàn kết trước hết bắt nguồn từ gia đình, làng xã “ Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn”, “ Anh em như thể tay chân”, “ Máu chảy ruột mềm”,…từ tinh thần đoàn kết trong gia đình đã phát triển thành tình đoàn kết làng xóm “ Bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “ Tối lửa tắt đèn có nhau”

Có thể nói rằng, ít quốc gia, dân tộc nào trên thế giới, tinh thần đoàn kết lại thể hiện phong phú đa dạng như ở Việt Nam Tinh thần đoàn kết được thể hiện ở ba không gian nhà – làng – nước

Từ đoàn kết gia đình, làng xã mở rộng ra đó là đoàn kết toàn dân tộc Lịch sử qua hàng ngàn năm cho thấy “ Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng tinh thần đoàn kết là một yếu tố vô cùng quan trọng, cái đảm bảo chắc chắn cho thắng lợi của dân tộc,

Trang 25

đi xa, Người còn căn dặn các cán bộ, đảng viên: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta Các đồng chí từ Trung ương cho đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố năm 1969)

Ngày nay, truyền thống đoàn kết được thể hiện trong việc toàn dân tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa xã hội, ra sức phấn đấu xây dựng nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh Nước ta đang tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, điều đó lại càng đòi hỏi toàn dân tộc phải phát huy truyền thống đoàn kết, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Để đấu tranh chống lại các thế lực phản động và các thế lực thù địch đang ra sức chống phá Nhà nước ta Đảng và Nhà nước phải luôn chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, có chính sách chăm lo cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, phá vỡ mọi âm mưu chia rẽ của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của kẻ thù, bảo vệ vững chắc hòa bình cho đất nước

Nhờ có tinh thần đoàn kết chặt chẽ, sâu sắc ấy mà cộng đồng người Việt Nam luôn duy trì được các quan hệ xã hội hài hòa, giữ được sự đồng thuận, bình yên cho xóm làng, quê hương, đất nước

- Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo

Trang 26

26

Cha ông ta từ xưa tới nay luôn nhắc nhở con cháu rằng: “ Nhân bất học, bất tri lý” ( Không học không hiểu biết), tức là nói đến vai trò của tri thức đối với cuộc sống của con người Muốn hiểu biết, muốn thành đạt, muốn tiếp thu những tri thức văn minh nhân loại, mỗi chúng ta phải học Do đó mà từ lâu đời trong lịch sử dân tộc, truyền thống hiếu học đã ra đời và phát triển Hiếu học là một trong những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Hiếu học nghĩa là sự ham học hỏi, ham hiểu biết, tìm tòi khám phá tri thức, khám phá ra những điều mới để khuyến khích và cổ động việc học tập Hiếu học có cơ sở bền vững từ trong mỗi gia đình, mỗi quê hương của người Việt Nam Dù ở bất cứ lúc nào, ở đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta vẫn bắt gặp những tấm gương hiếu học đáng trân trọng Các bậc cha mẹ ở các thế

hệ nối tiếp nhau từ xưa đến nay đều có mơ ước con mình học giỏi để thành người hữu dụng Trong lịch sử của dân tộc, mặc dù có những hoàn cảnh khó khăn, thậm chí đói nghèo nhưng vẫn có những bậc cha mẹ đã quan tâm đến việc học hành của con cái, tạo được gai đình khoa bảng nhiều đời sử sách lưu danh đến ngày nay Họ đã cống hiến cho đất nước những danh nhân văn hóa, những nhân tài đáng trân trọng – đó là những tấm gương hiếu học sáng ngời như: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn,…Mặc dù những gương hiếu học đó có những điều kiện hoàn cảnh cụ thể khác nhau, nhưng điểm chung của họ là tuy sống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nhưng với tinh thần hiếu học, kiên trì, vượt khó họ đã vươn lên trở thành những danh nhân đất Việt

Do hiếu học, nên dân tộc Việt Nam sớm có truyền thống “tôn sư trọng đạo”,

“Tiên học lễ, hậu học văn”, học trước hết là để làm người sau đó để làm việc Cho nên để trở thành người tốt, làm việc tốt thì phải học Người có học thức cao luôn được xã hội suy tôn Vì vậy “tôn sư trọng đạo” trở thành một truyền thống vô cùng cao đẹp của dân tộc ta, nó góp phần định hướng giá trị trong quá trình phát triển xã hội Trong tác phẩm “ Bàn về khoan dung trong văn hóa” của Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Khái Vinh và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn

đã nhận định rằng: “Giá trị hiếu học, coi trọng học vấn và tôn sư trọng đạo là truyền thống lâu bền và là một hàm nghĩa của văn hiến Việt Nam” [63,

Trang 27

27

tr.316] Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu thì cho rằng: “Hiếu học là truyền thống quý báu từ ngàn xưa của dân tộc ta Truyền thống ấy cần được gìn giữ và phát huy trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bất chấp những “sóng gió” của kinh tế thị trường” [ 2, tr 4]

Hiếu học là một truyền thống tốt đẹp, nó được kế thừa và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Trong xã hội Phong kiến, trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, sự thiếu thốn về mọi thứ nên người Việt Nam sớm ý thức được rằng chỉ có học mới có thể thoát khỏi những đói nghèo, khổ cực Hình ảnh Mai Thúc Loan đầu đội mâm đồng nặng trĩu nhưng

vì ham học đã “học trộm” đến tê cả gót chân mà vẫn không hay, về sau trở thành vị vua nổi tiếng của nước ta; Nguyễn Hiền, mồ côi cha, sống trong túp lều ở chùa, nghèo nên phải bắt đom đóm làm đèn để học, năm 13 tuổi đã đỗ Trạng nguyên – đây là vị trạng nguyên nhỏ tuổi nhất lịch sử khoa bảng Việt Nam; Mạc Đĩnh Chi, mồ côi cha sớm, nhà nghèo phải đốt lá rừng để học và

đã trở thành vị trạng nguyên giỏi của dân tộc…và còn nhiều gương hiếu học khác in dấu ấn trong lịch sử của dân tộc Có thể nói rằng, trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng truyền thống hiếu học luôn được nhân dân ta kế thừa, phát huy và nâng lên thành lẽ sống

Trong cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn thử thách, nhưng truyền thống hiếu học vẫn luôn được nhân ta kế thừa và phát huy cao độ Trong điều kiện “ khói đạn, mưa bom” vẫn xuất hiện những con người mang trong mình truyền thống hiếu học của dân tộc đã không ngại khó khăn, nguy hiểm để vượt lên hoàn cảnh để học hành thành đạt

Khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, cả nước tập trung cải tạo xã hội cũ, tiến lên CNXH, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nhận thức được rằng chúng ta không thể khắc phục nghèo đói, đưa đất nước phát triển nếu không

có tri thức khoa học Chính điều đó đã có nhiều chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm khuyến khích nhân dân phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc Mặc dù điều kiện sống chưa cao, thế nhưng vẫn có

Trang 28

1.2 ĐẠO ĐỨC MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

1.2.1 Đạo đức mới và những chuẩn mực của đạo đức mới

Đạo đức không sinh ra từ đạo đức, mà nảy sinh do nhu cầu của đời sống

xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử Đạo đức được hình thành từ rất sớm, ngay từ khi bắt đầu hình thành lịch sử loài người Tùy thuộc vào các giai đoạn lịch sử và cách tiếp cận khác nhau mà vấn đề đạo đức được hiểu theo những nghĩa khác nhau Ở phương Đông cổ đại, người Trung Quốc đã đưa ra nhiều học thuyết về đạo đức được biểu hiện trong quan niệm về “đạo” và

“đức” của họ “Đạo” mang nghĩa là đường đi, con đường Về sau khái niệm đạo đức được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Ngoài

ra đạo còn là một phạm trù để chỉ đường sống của con người trong xã hội Khái niệm “Đức” lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu Trung Quốc và sau được người Trung Quốc sử dụng nhiều “Đức” là sự biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Nói tóm lại, theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại thì đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc

do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo

Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại cũng có nhiều nhà triết học đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề đạo đức Trong số đó, Xôcrát

(469 - 399 TCN) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học

Về sau Arixtot (384 – 322 TCN) đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh con người

và cho ra đời bộ sách đạo đức học Nội dung của phẩm hạnh con người theo Arixtot chính là ở chỗ con người biết định hướng đúng, biết làm việc thiện

Trang 29

29

Epiquya là nhà triết học rất quan tâm đến vấn đề đạo đức ông là người đầu tiên đưa ra phạm trù lẽ sống và là một trong những người có công luận giải về

sự tự do của con người

Kế thừa những tư tưởng quý báu về đạo đức trước đó, chủ nghĩa

Mác – Lênin đưa ra quan niệm về đạo đức: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh

và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với

xã hội, chúng được biểu hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [12, tr.7]

Từ quan niệm trên, đạo đức trước hết được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực của đời sống đạo đức xã hội Quan điểm này đã khắc phục những sai lầm của các nhà triết học trước Mác (cả duy vật lẫn duy tâm) khi họ xem xét các vấn đề xã hội và đạo đức Theo họ, đạo đức là biểu hiện của một sức mạnh siêu nhiên nào đó, là biểu hiện của những năng lực “tiên nhiên” nhất thành bất biến của lý trí con người Những nhà triết học duy vật trước Mác tiêu biểu là Phoiơbắc đã nhìn thấy đạo đức trong quan hệ con người, người với người Nhưng với ông con người chỉ

là một thực thể trìu tượng, bất biến, con người nhân bản, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại

Những người theo quan điểm Đácuyn xã hội đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy vật bằng cách cho rằng, những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ đạo đức, về thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, ngoài xã hội Như vậy nét chung của các lý thuyết này là coi đạo đức không phải là cái phản ánh cơ sở xã hội hiện thực khách quan

Khác với tất cả những quan niệm trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã quan niệm đạo đức được nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử Trong tác phẩm “ Chống ĐuyRinh”, Ph.Ăngghen đã viết:

“ Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [34, tr.137]

Trang 30

30

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, do tồn tại xã hội sinh ra và phản ánh tồn tại xã hội, cho nên đạo đức không đứng yên mà luôn vận động

và biến đổi cùng với sự biến đổi của cái đã sinh ra nó

Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất còn thấp kém, quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở của chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Điều đó đã quy định đời sống làm chung, ăn chung, ở chung của người nguyên thủy Chính vì vậy mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thủy các dấu hiệu về đạo đức đã xuất hiện, nhưng biểu hiện của nó còn sơ khai, mang tính trực quan, cụ thể nhưng nó đã được là mầm mống đầu tiên của đạo đức Đạo đức trong xã hội Cộng sản nguyên thủy tồn tại và thể hiện trong xã hội và thông qua các quan hệ xã hội khác trên cơ sở phong tục, tập quán, thói quen, kinh nghiệm…

Đến cuối chế độ Cộng sản nguyên thủy, xã hội đã xuất hiện giai cấp, xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Trong các xã hội có sự phân chia giai cấp thì đạo đức cũng mang tính giai cấp, đó là đạo đức của những người bóc lột Chính vì vậy đạo đức mang tính chất đối kháng, nên những chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xây dựng trên cơ sở bất bình đẳng,

sự nô dịch, sự áp bức và bóc lột Điều này thể hiện rất rõ trong các chế độ xã hội Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản Chủ nghĩa Trong ba nền đạo đức

ấy, chúng ta phải thừa nhận rằng mỗi nền đạo đức như thế, nó có vị trí riêng, vai trò riêng trong quá trình phát triển của nhân loại Mặc dù đạo đức Tư sản

đã từng có vai trò to lớn trong lịch sử, mà cụ thể là nó đề cao vai trò của cá nhân, thế nhưng khi đạo đức Tư sản tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, dẫn đến chủ nghĩa cá nhân thì nó đã thể hiện rõ mặt trái của nó, đó là lối sống chạy theo đồng tiền, vị kỷ, chạy theo những ham muốn bản năng thấp hèn…điều

đó đã làm cho các quan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn theo lối “ trả tiền ngay không cần tình nghĩa”, đồng tiền trở thành chân giá trị cuối cùng trong tất cả các quan hệ xã hội Khi nhận định về đạo đức của

xã hội Tư bản người ta thấy rằng cùng với việc tạo ra bước tiến khổng lồ và những thành tựu to lớn trong sự phát triển, Chủ nghĩa Tư bản cũng đã để lại

Trang 31

Trên cơ sở nắm được những quy luật vận động và phát triển của đạo đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo về sự xuất hiện nền đạo đức mới với

tư cách là biểu hiện về mặt đạo đức của xã hội mới – xã hội Cộng sản chủ nghĩa và sự hình thành đạo đức mới trên cơ sở gắn đạo đức vô sản với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản và do đó nhân loại thoát khỏi sự phân biệt giai cấp Vì vậy, theo Mác đạo đức Cộng sản là một thứ “đạo đức thực

sự có tính người, đứng trên những đối lập giai cấp và trên mọi hồi ức về những đối lập ấy” [34, tr.137]

Tuy nhiên, đạo đức mới - đạo đức cộng sản được hình thành là một quá trình lâu dài, phức tạp Thắng lợi của giai cấp vô sản chỉ là cơ sở, nền móng đầu tiên cho sự xác lập đạo đức cộng sản Sự nghiệp xây dựng đạo đức mới – đạo đức cộng sản là một quá trình lâu dài phức tạp và là một quá trình tự giác

Với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, Lênin là người đầu tiên lĩnh sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chế độ CSCN và đạo đức Cộng sản Theo Lênin đạo đức cộng sản “ là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới” [27, tr.369] Lênin cũng chỉ ra rằng: “cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản”

Trang 32

32

[27, tr 372]

Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và

lý luận về đạo đức nói riêng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “ Nói tóm lại đạo đức cách mạng là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên hết, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc Ra sức học tập Chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [38, tr.285]

Hồ Chí Minh đã coi đạo đức cách mạng là “gốc”, là nền tảng của mọi người cách mạng, Người nói: “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [36, tr.252 – 253]

Khác với các nền đạo đức trước đây, đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, đạo đức cộng sản hay đạo đức mới – là nền đạo đức tiêu biểu cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động, là nền đạo đức hướng tới

sự xóa bỏ hoàn toàn sự áp bức và bóc lột, mà chỉ có dưới CNXH mới có thể thực hiện được Như vậy, so với các nền đạo đức trước đây thì đạo đức mới

là một bước phát triển cao về chất Nó là kết quả của sự kế thừa những nội dung tốt đẹp nhất của các nền đạo đức trước đó, vì vậy đạo đức cách mạng bao hàm rất nhiều yếu tố mang tính nhân loại và nền đạo đức ấy sẽ được xây dựng thành công trong tương lai trên toàn thế giới, cùng với sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản

Tính cách mạng và khoa học của đạo đức mới thể hiện ở chỗ nó là sự phản ánh sáng tạo thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, ở sự kế thừa có phê phán chọn lọc những giá trị truyền thống của dân tộc và những tinh hoa văn hóa của nhân loại Nội dung đạo đức mới

Trang 33

33

mang tính khách quan, được quy định bởi địa vị và vai trò của giai cấp công nhân trong nền sản xuất vật chất xã hội, bởi bản chất cách mạng và nhân đạo của giai cấp vô sản Chính tính cách mạng và khoa học của đạo đức mới đã quy định bản chất của đạo đức mới

Chủ nghĩa tập thể là cơ sở của đạo đức mới:

Chủ nghĩa tập thể là nguyên tắc, là cơ sở của đạo đức mới Ở đây con người không chỉ suy nghĩ và hành động vì mình, vì bản thân mình mà còn vì người khác, có tinh thần trách nhiệm và thái độ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau Tập thể ở đây vừa là mục đích, vừa là phương tiện, là hình thức để cho các cá nhân phát triển Chủ nghĩa tập thể là kết quả của sự phát triển hợp quy luật của lịch sử xã hội loài người, là sự tổng hợp của những nhân tố chủ quan và khách quan của đời sống con người và xã hội loài người

Chủ nghĩa tập thể hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa cá nhân là biểu hiện của sự tuyệt đối hóa lợi ích của cá nhân, của gia đình mà xem thường hay tạo sự đối lập với lợi ích của tập thể, của xã hội Thế nhưng dưới CNXH cũng không chấp nhận sự tuyệt đối hóa lợi ích tập thể, lợi ích xã hội mà xem thường lợi ích cá nhân Cái mà CNXH kiên quyết xóa bỏ là chủ nghĩa cá nhân chứ không phải là lợi ích cá nhân - cái lợi thu được hợp pháp trong quá trình lao động, sản xuất và kinh doanh của mỗi cá nhân Để khắc phục chủ nghĩa cá nhân, theo Chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ dừng lại ở việc giáo dục cá nhân mà điều quan trọng là phải xây dựng những tập thể thực sự tốt đẹp Ở đâu tập thể tốt thì ở đó chủ nghĩa cá nhân ít có điều kiện nảy nở Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thường xuyên nhắc nhở cán bộ, Đảng viên và nhân dân ta phải nâng cao tinh thần tập thể, chống chủ nghĩa

cá nhân Theo Bác, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mọi người chúng ta phải luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt chúng, tuy vậy cuộc đấu tranh ấy là một quá trình lâu dài, phức tạp

Chủ nghĩa tập thể đòi hỏi tập thể phải có nghĩa vụ đối với cá nhân, quan tâm đến mọi mặt của đời sống cá nhân, đồng thời cũng yêu cầu mỗi cá nhân phải biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội với tinh thần: “mọi người

vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” Trên tinh thần ấy sẽ tạo điều kiện

Trang 34

34

cho sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội Như vậy chỉ có dưới CNXH mới đem lại giá trị của con người trả lại cho con người, coi con người là mục đích cao nhất Ở đây biểu hiện quan hệ mới giữa cá nhân và xã hội (thông qua mối quan hệ về lợi ích) là thống nhất với nhau, vai trò Nhà nước biểu hiện thực sự lợi ích của quần chúng lao động Quan hệ giữa người với người trong tập thể là quan hệ bình đẳng, hợp tác, là quan hệ đồng chí Giữa các cá nhân có mục tiêu chung là sự phát triển của cá nhân làm tiền đề, sự phát triển tự do, toàn diện của con người là mục đích, sự phát triển tự do cho cá nhân mỗi người là điều kiện phát triển tự do cho mọi người Trong điều kiện

ấy con người không chỉ quan tâm đến mình mà còn quan tâm đến người khác với tinh thần trách nhiệm cao, luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thực hiện mục tiêu chung phù hợp với sự tiến bộ xã hội, vì thế nó là cơ sở của chủ nghĩa nhân đạo cao nhất

Lao động sáng tạo, tự giác là cội nguồn của đạo đức mới:

Lao động là hoạt động đặc thù của con người, nhờ có lao động mà xã hội loài người vận động và phát triển Trong cuộc sống con người, để đo phẩm giá của mình con người đã sử dụng rất nhiều chuẩn mực khác nhau, chẳng hạn như lương tâm trong sáng, động cơ hành vi hợp đạo đức, cuộc sống tinh thần lành mạnh, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức…trong số những chuẩn mực đó thì thái độ đối với lao động được xem là một trong những chuẩn mực quan trọng nhất Bởi vì thông qua thái độ đối với lao động mà người ta đánh giá con người đó là lao động nghiêm túc hay không nghiêm túc; trung thực hay giả dối; có trách nhiệm hay vô trách nhiệm; tiết kiệm hay lãng phí…

Đạo đức mới luôn kính trọng, tôn vinh những người có thái độ tốt đối với lao động, đó là những người có tính tự giác trong lao động, lao động có tổ chức, kỷ luật, cần cù và sáng tạo; chăm lo lao động, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, lười lao động…nhưng đạo đức mới cũng hoàn toàn xa lạ và đối lập với kiểu lao động hình thức, vô trách nhiệm, kém hiệu quả và vụ lợi, kiểu: “ngồi mát ăn bát vàng” như các nền đạo đức của giai cấp bóc lột trước đây

Trang 35

35

Dưới CNXH đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều của cải vật chất, do đó người lao động phải lao động một cách nhiệt tình, sáng tạo với năng suất, chất lượng cao và thông qua thái độ lao động tự giác, có kỷ luật, lao động sáng tạo thể hiện bản chất con người, lao động cho mình và vì sự tiến bộ của

xã hội

Chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế:

Yêu nước là một thuộc tính tự nhiên có ý nghĩa phổ biến đối với tất cả mọi người, mọi dân tộc Bởi vì bất kỳ cá nhân nào được sinh ra đều có cội nguồn nhất định: có quê hương, dân tộc, Tổ quốc của mình Do đó dù có đi nơi đâu

họ cũng nhớ về những kỷ niệm vui buồn nơi “chôn nhau cắt rốn” và có niềm

tự hào sâu sắc về quê hương của mình Trong đó truyền thống dân tộc được xem là một niềm tự hào cao cả nhất, có sức cổ vũ mạnh mẽ nhất Chính lòng

tự hào đó đã đem lại cho tình yêu Tổ quốc một nội dung phong phú sâu sắc

ở mỗi con người Khi lòng yêu nước được nâng cao đến tầm triết lý nhân sinh, triết lý xã hội, một lối sống, một trình độ nhận thức sâu sắc và có hệ thống chi phối một cách có ý thức mọi hành vi và cách ứng xử của con người thì trở thành chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước bao hàm cả tư tưởng và tình cảm yêu nước, nó vừa là nguyên tắc đạo đức nhưng cũng vừa

là nguyên tắc chính trị Ngoài tình yêu đối với đất nước, chủ nghĩa yêu nước còn là lòng trung thành với Tổ quốc và khát vọng phục vụ những lợi ích cao

cả của Tổ quốc và nhân dân

Trong lịch sử của nhân loại, chủ nghĩa yêu nước có quá trình phát triển lâu dài, có tính lịch sử Trong các xã hội có giai cấp, chủ nghĩa yêu nước cũng mang tính giai cấp Chẳng hạn yêu nước theo quan niệm của giai cấp Phong kiến là “trung quân”, yêu nước theo tư tưởng của giai cấp Tư sản là

“yêu chế độ tư sản”, còn yêu nước trong chế độ XHCN là yêu nhân dân lao động, là lòng tự hào dân tộc, lòng tự hào trong lao động, tự hào về những gương anh hùng giải phóng dân tộc…và như vậy chủ nghĩa yêu nước của giai cấp công nhân luôn gắn liền với lợi ích của nhân dân lao động, gắn liền với mục tiêu giải phóng nhân dân lao động vĩnh viễn thoát khỏi sự áp bức

Trang 36

Chủ nghĩa nhân đạo XHCN:

Chủ nghĩa nhân đạo, theo tiếng Latinh có nghĩa là về con người, về tính người, có học thức Trong thời kỳ Phục hưng, theo nghĩa hẹp chủ nghĩa nhân đạo gắn liền với việc nghiên cứu các di sản cổ đại trong triết học, luân lý học, nghệ thuật và mô tả đặc điểm của nền văn hóa thời kỳ Phục hưng Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa nhân đạo là một trào lưu xã hội tiến bộ, là tổng hợp những quan điểm nhằm bảo vệ phẩm giá, bảo vệ sự tự do và sự phát triển toàn diện, bảo vệ tính người của các quan hệ xã hội

Tư tưởng nhân đạo đã được hình thành từ xa xưa, trong cuộc chiến tranh chống áp bức, bóc lột và những hành vi vi phạm đạo đức Nhưng nó được hình thành rõ nét từ phong trào Phục hưng văn hóa thế kỷ XV – XVI ở Italia khi giai cấp tư sản đang lên chống lại những tư tưởng của giai cấp phong kiến và tư tưởng kinh viện của nhà thờ đã giam hãm con người trong đêm dài trung cổ nhằm giải phóng con người, đòi tự do, bình đẳng, bác ái

Chủ nghĩa nhân đạo XHCN và chủ nghĩa nhân đạo Tư sản có sự đối lập với nhau về chất Điều này thể hiện ở chỗ chủ nghĩa nhân đạo XHCN là sự kế thừa và phát triển trên quan điểm biện chứng những tinh hoa lý tưởng nhân đạo trong lịch sử nhân loại, nhưng đó không phải là lý tưởng nhân đạo của CNXH không tưởng – là một thứ tình cảm chung chung, trừu tượng phi giai cấp, phi lịch sử, mà đó là chủ nghĩa nhân đạo có tính chất hiện thực và trực tiếp nhằm vào hành động và giải phóng con người Với ý nghĩa đó chủ nghĩa nhân đạo XHCN là nguyên tắc, là nội dung cơ bản của đạo đức mới Chỉ có

Trang 37

37

chủ nghĩa nhân đạo XHCN và chủ nghĩa nhân đạo Cộng sản mới có thể biến ước mơ nhân đạo thành hiện thực phổ biến, tạo những điều kiện để xóa bỏ tận gốc mọi hình thức áp bức, bóc lột và nô dịch con người, do vậy chủ nghĩa nhân đạo Cộng sản là lý tưởng nhân đạo triệt để, là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực

Vai trò đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay

Bất kỳ một giai cấp nào sau khi đã giành được chính quyền về tay giai cấp mình đều tiến hành cải tạo mọi mặt của đời sống xã hội có lợi cho giai cấp mình Giai cấp vô sản cũng không nằm ngoài quy luật đó Sau khi giành được chính quyền giai cấp vô sản đã xác lập được địa vị thống trị về mọi mặt của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa và tư tưởng

Đạo đức mới – đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ khi được tiến hành đến nay đã dần dần khẳng định địa vị thống trị của mình trong đời sống đạo đức xã hội và là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân trong quá trình xây dựng xã hội mới Đạo đức mới của thanh niên có vai trò

đó đòi hỏi thanh niên phải được nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường đạo đức mới, phải là lực lượng tiêu biểu mang trong mình đầy đủ những chuẩn mực của nền đạo đức mới Bởi đạo đức mới của thanh niên là những quy tắc, chuẩn mực mang tính cách mạng và khoa học, có khả năng hướng tới hình ảnh hoàn thiện nhất của con người, góp phần giải phóng người lao động vĩnh viễn thoát khỏi sự áp bức bất công vì một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Vì vậy có thể nói rằng đạo đức mới của thanh niên là mục tiêu hướng tới của người thanh niên

Khi đã có đạo đức mới người thanh niên mới có thể hoàn thành được nhiệm

vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng Vì đạo đức mới mang tính cách

Trang 38

Đạo đức mới của thanh niên có tác dụng giáo dục nêu gương góp phần xây dựng nếp sống và quan hệ xã hội mới:

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh những tác động tích cực, mặt trái của nó cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định đến đạo đức, đặc biệt là đạo đức trong lực lượng thanh niên Đó là những biểu hiện suy thoái về mặt đạo đức, lối sống trong một bộ phận thanh niên Trong tình trạng đó, đạo đức mới của thanh niên có tác dụng nêu gương, góp phần xây dựng nếp sống mới và những quan hệ xã hội mới với tinh thần: “ mỗi người

vì mọi người, mọi người vì mỗi người” Trên tinh thần đó, mọi người sẽ có điều kiện quan tâm, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển

Đạo đức mới của thanh niên là nhân tác động tích cực trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng: tham nhũng và tệ nạn xã hội là những vấn đề

gây nhức nhối trong xã hội chúng ta hiện nay Tham nhũng do nhiều nguyên nhân gây nên nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do sự suy thoái về mặt đạo đức, lối sống cán bộ, đảng viên Để đấu tranh phòng chống tham nhũng đòi hỏi phải có sự kết hợp của toàn xã hội với nhiều sự tác động khác nhau, trong

đó đạo đức mới của thanh niên là nhân tố tác động tích cực trong cuộc đấu tranh ấy Đạo đức mới của thanh niên dựa trên một nền đạo đức của nhân dân lao động, là những chuẩn mực quy định mọi nhận thức và hành vi của con người phải dựa trên lợi ích chung của toàn thể nhân dân lao động, phấn đấu vì một xã hội công bằng dân chủ và văn minh Chính vì vậy đạo đức mới của thanh niên hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa cá nhân và những hành vi tham

Trang 39

39

nhũng Sự đối lập ấy tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh Trong cuộc đấu tranh đó, đạo đức mới của thanh niên sẽ cổ vũ, biểu dương những đức tính và hành vi trung thực, thẳng thắn, cần kiệm, chí công, vô tư, đồng thời kịch liệt lên án phê phán những biểu hiện tiêu cực của tệ nạn tham nhũng, từ đó sẽ góp phần ngăn chặn và đẩy lùi hiện tượng tham nhũng

Không chỉ có vai trò tác động tích cực trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, mà đạo đức mới của thanh niên còn là nhân tố tác động tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội Trong quá trình mở cửa giao lưu, hội nhập ở nước ta hiện nay là điều kiện thuận lợi làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội Chính vì thế Đảng, nhà nước, nhân dân ta rất quyết tâm phòng chống nó và đã sử dụng nhiều biện pháp tác động Trong số những biện pháp

đó thì đạo đức mới của thanh niên có vai trò tác động tích cực Vai trò tác động tích cực của nó thể hiện ở chỗ nó góp phần định hướng cho mọi người đến với cuộc sống tốt đẹp, góp phần phát triển con người một cách toàn diện

về thể xác và tâm hồn, nó tích cực phê phán và lên án tệ nạn ma túy và mại dâm – hai nguyên nhân làm hủy hoại tán phá sức sống con người và làm băng hoại mọi giá trị xã hội

Tóm lại, đạo đức mới của thanh niên có vai trò rất quan trọng đối với xã hội nói chung nên việc phát huy vai trò của đạo đức mới của thanh niên là một việc làm rất cần thiết và quan trọng, góp phần cải tạo xã hội cũ, xây dựng

xã hội mới

1.2.2 Yêu cầu đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay

Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đưa nước nhà thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu đòi hỏi rất nhiều điều kiện Trong số những điều kiện ấy thì việc phát huy vai trò nhân tố con người là một yêu cầu rất quan trọng và có tính chất quyết định Để con người phát triển một cách toàn diện thì phải có sự thống nhất giữa đức và tài Trong mối quan hệ giữa

“đức” và “tài” thì đức là “gốc”, là nền tảng; tài trên cái nền của đức mà phát huy, nhằm mang lại những lợi ích cho cá nhân và xã hội; còn tài là điều kiện cần thiết để đức phát huy, để giữ vững đức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng

Trang 40

Một là, phải có tinh thần yêu nước mới Yêu nước là yêu xã hội XHCN, yêu

nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, nhân dân vì lý tưởng cách mạng Đây

là một trong những phẩm chất hàng đầu của thanh niên, vì trong giai đoạn cách mạng nào thì yêu nước vẫn là giá trị đạo đức vô cùng quý báu Ở nước ta hiện nay, trong quá trình đổi mới đất nước, do tình hình thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, mặt khác các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách chống phá CNXH, hòng xóa bỏ những thành quả mà cách mạng đã đạt được Chính vì vậy, bên cạnh những thành tựu thuận lợi mà quá trình đổi mới mang lại, chúng ta lại phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách Trước tình hình đó, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam có thành công hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng tinh thần yêu nước là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đòi hỏi thanh niên phải có được Chính vì thế Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể phải giáo dục thanh niên, biến chủ nghĩa yêu nước, lợi ích chân chính của dân tộc thành nội lực bên trong cho mỗi thanh niên, nhờ thế nó thôi thúc, khơi dậy nhiệt tình cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, biết kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc với tinh thần không chịu nghèo đói, lạc hậu Yêu nước theo đạo đức mới phải gắn liền với CNXH, bảo vệ Đảng cộng sản Việt Nam, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, quyết tâm xây dựng xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc

Hai là, phải nâng cao nhận thức và hoạt động thực tiễn trong việc giải quyết

hài hòa mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Để phát triển nền kinh tế nhiều

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w