Chuyên đề góp phần làm sáng tỏ nội dung Di chúc Hồ Chí Minh như: Bác Hồ nói về nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ, lời căn dặn của Bác về Đảng, đoàn viên thanh niên, nhân dân lao động, về
Trang 1TRONG DI CHÚC HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA
ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN DANH TUYÊN Lớp : 10SGC
Giáo viên hướng dẫn : CN NGUYỄN DUY QUÝ
Đà Nẵng, 05/2014
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin chân thành bày tỏ tấm lòng biết
ơn sâu sắc đến thầy giáo - CN Nguyễn Duy Quý, người đã dày công dạy dỗ em trong suốt thời gian qua và nhất là đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin gửi đến quý thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm
- Đại học Đà Nẵng đã cung cấp cho em
những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học vừa qua lời tri ân sâu sắc
Với lượng thời gian có hạn và điều kiện của một sinh viên, khóa luận không tránh khỏi những hạn chế và sai sót Em kính mong nhận được lời góp ý chân thành của quý thầy
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM DI CHÚC VÀ GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG DI CHÚC HỒ CHÍ MINH 5
1.1 Hồ Chí Minh và tác phẩm Di chúc 5
1.1.1 Hồ Chí Minh thân thế và sự nghiệp 5
1.1.1.1 Hoàn cảnh gia đình và tiểu sử Hồ Chí Minh 5
1.1.1.2 Sự nghiệp và tư tưởng 9
1.1.2 Tác phẩm Di chúc Hồ Chí Minh 17
1.1.2.1 Hoàn cảnh ra đời 17
1.1.2.2 Nội dung chủ yếu trong tác phẩm Di chíc Hồ Chí Minh 20
1.2 Tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh 26
1.2.1 Đoàn kết thống nhất trong Đảng 26
1.2.2 Thực hành dân chủ rộng rãi 29
1.2.3 Thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình 31
1.2.4 Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau 34
1.2.5 Đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng 35
1.2.6 Phải bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau 38
1.3 Giá trị tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh 40
1.3.1 Giá trị lý luận tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh 40
Trang 41.3.2 Giá trị thực tiễn tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí
Minh 42
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG DI CHÚC HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 44
2.1 Thực trạng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua 44
2.1.1 Những thành tựu đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng 44 2.1.2 Những hạn chế của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng 55
2.1.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 57
2.2 Vận dụng tư tưởng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 59
2.2.1 Tình hình thế giới và trong nước 59
2.2.1.1 Tình hình thế giới và khu vực 59
2.2.1.2 Tình hình trong nước 60
2.2.2 Những giải pháp phát huy tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 61
2.2.2.1 Củng cố xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng phù hợp với tình hình mới của Đất nước 61
2.2.2.2 Xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ Đảng viên của Đảng đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới 64
2.2.2.3 Phát huy dân chủ trong xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng 67
2.2.2.4 Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng 70
2.2.2.5 Làm tốt công tác phát triển Đảng 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh suốt cả cuộc đời mình cống hiến cho sự
nghiệp cách mạng, Người từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc
là làm sao cho nước tôi được hoàn toàn độc lập, dân tôi được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [Hồ Chí Minh, Toàn
tập, 2011, t.4, NXB CTQG, tr.187] Ham muốn tột bậc, khát vọng cháy bổng đó là mục tiêu, là động lực thúc đẩy Người vượt bao gian khổ để tìm ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách nô lệ Cả cuộc đời Người đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng Viêt Nam, Người đã sáng lập, rèn luyện, dẫn dắt Đảng ta bước qua bao thăng trầm lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam
Trước lúc đi xa, Người đã “đ sẵn mấy lời” để đồng bào cả nước, đồng chí
trong Đảng và bầu bạn khắp nơi khỏi cảm thấy đột ngột, đó chính là bản Di chúc lịch sử của Người Di chúc chứa đựng những tư tưởng và tình cảm lớn của một lãnh
tụ thiên tài, một người thầy vĩ đại, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản Quốc tế, một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Di chúc là bản tổng kết hết sức cô đọng về cuộc đời của một con người, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại
Di chúc của Người là một án văn tuyệt bút chứa đựng những tư tưởng lớn, tầm nhìn xa trông rộng, đó là những lời dặn dò hết sức giản dị nhưng vô cùng ý nghĩa, định hướng cho sự phát triển của đất nước Hơn ai hết, Người thấy rõ vai trò công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đối với sự tồn vong của một chế độ nên lời dặn
đầu tiên trong Di chúc mà Người nhắn nhủ là lời căn dặn về Đảng: “Trước hết nói
về Đảng Nhờ đoàn kết chặc chẽ một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.621- 622] Ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn lúc nào hết vai trò lãnh đạo của Đảng cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa
Trang 6Trước những biến đổi của tình hình thế giới, âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch hòng chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng nước ta Đặc biệt, hiện nay đang tồn tại một thực trạng đau lòng là một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên ngày càng sa sút, suy thoái đạo đức tư tưởng làm ảnh hưởng không nhỏ tới truyền thống tốt đẹp của Đảng ta
Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân đang tích cực học tập, quán triệt, làm theo nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2011) càng cho ta thấy vai trò, ý nghĩa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và ý nghĩa to lớn, thiết thực lời căn dặn của Bác trong Di chúc đối với Đảng ta cách đây hơn 45 năm
Bản thân nhận thấy rõ vai trò ý nghĩa và mong muốn làm rõ thêm giá trị tư tưởng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc của Hồ Chí Minh đã thôi thúc
tôi chọn đề tài: “Giá trị tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí
Minh và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp cho mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Đảng ta vận dụng tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:
Tư tưởng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 7Giá trị, tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh và
sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa… để làm rõ nội dung vấn đề nghiên cứu
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng Làm tốt công tác xây dựng Đảng góp phần khẳng định vai trò vị trí lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và tư tưởng xây dựng chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh nói riêng đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trên nhiều phương diện khác nhau, điều kiện thực tiễn khác nhau, các nhà khoa học có những cách nhìn nhận, đánh giá với những mức độ khác nhau, từ đó các nhà khoa học đưa ra hệ thống các giải pháp góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng dựa trên nền tảng tư tưởng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh Cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu cụ thể như:
Di chúc Bác Hồ và công tác nghiên cứu tuyên truyền của Bảo tàng Hồ Chí
Minh, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002 của Bảo tàng Hồ Chí Minh Cuốn sách là hệ
thống các bài viết về Di chúc đề cập tới nhiều vấn đề nổi bật trong Di chúc như:
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vấn đề con người và giải phóng con người, tư tưởng đoàn kết, công tác đào tạo bồi dưỡng nhân tài… Cuốn sách đã góp phần làm
sáng tỏ nhiều vấn đề mà Bác Hồ đề cập trong Di chúc trong đó có công tác xây
dựng và chỉnh đốn Đảng
Trang 8Chuyên đề giới thiệu về Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh của Ban Tư
tưởng - Văn hóa Trung ương, 2007 Chuyên đề góp phần làm sáng tỏ nội dung Di chúc Hồ Chí Minh như: Bác Hồ nói về nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ, lời căn dặn của Bác về Đảng, đoàn viên thanh niên, nhân dân lao động, về phong trào cộng sản, công việc sau khi đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và công việc lo hậu sự của
Người Tác phẩm trình bày một cách có hệ thống, phân tích các nội dung trong Di
chúc giúp người đọc dễ dàng tiếp cận tư tưởng của Người trong Di chúc
Mấy vấn đề xây dựng chỉnh, chỉnh đốn Đảng, Nxb chính trị Quốc gia, Hà
Nội của tác giả Lê Đức Bình đã trình bày những vấn đề cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nêu bật sự cần thiết phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng lên trên các tạp chí, báo của các cơ quan
chính phủ như: “Tiếp tục thực hiện Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh về chỉnh đốn
Đảng” của PGS -TS Phạm Hồng Chương “Tư tưởng về xây dựng Đảng trong Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh” của Đại tá, TS Nguyễn Duy Thông, khoa triết
học, Trường Sĩ quan Chính trị “Xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của
chủ tịch Hồ Chí Minh” của ThS Đỗ Thanh Bình - Phó hiệu trưởng trường chính trị
Lâm Đồng “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện
Đảng cầm quyền” của TS Dương Trung Ý, tạp chí Xây Dựng Đảng, 08-12-2011…
Các công trình nghiên cứu của các tác giả hết sức phong phú, đa dạng, mang tính tổng hợp cao Đây cũng là điều kiện thuận lợi, nguồn tài liệu tham khảo quý báu giúp tôi nghiên cứu hoàn thiện hơn khóa luận này
Trang 9PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM DI CHÚC VÀ GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG
1.1 Hồ Chí Minh và tác phẩm Di chúc
1.1.1 Hồ Chí Minh thân thế và sự nghiệp
1.1.1.1 Hoàn cảnh gia đình và tiểu sử Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho cấp tiến, gần gũi với nhân dân Tấm gương hiếu học, giản dị, giàu lòng bác ái của người cha cùng với đức hi sinh của người mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của Người Được sinh ra ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến tiêu biểu như: Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Bội Châu Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước
khác Người muốn biết ở đấy họ sống và lao động ra sao, rồi sau đó sẽ trở về nước
để giúp đỡ đồng bào mình, suốt 30 năm hoạt động, Người hòa mình với những phong trào của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiên cứu các học thuyết cách mạng Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Từ đây, Người đã nhận rõ
đó là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp Tháng 06 năm 1919, thay mặt Hội Những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị Versailles (Pháp) Bản yêu sách của nhân dân
An Nam, yêu cầu Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam
Trang 10Tháng 7 nǎm 1920 qua báo Nhân đạo (L'Humanité) Pháp, Nguyễn Ái Quốc
được đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I Lênin Sau
này nhớ lại niềm sung sướng khi đọc Luận cương của V.I Lênin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết: “Luận cương của V.I Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng
tỏ tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng
mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.12, tr.562] Từ đó Người
đã có một sự lựa chọn tán thành Quốc tế thứ III Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con
đường cứu nước, Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.12, tr.563] Cũng từ đây Người hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ III
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tours, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản
Năm 1921, tại Pháp, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, nhằm tuyên truyền cách mạng trong nhân dân các nước thuộc địa Người
viết nhiều bài đăng trên các báo “Người cùng khổ”, “Đời sống thợ thuyền” Đặc biệt, Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” lên án mạnh mẽ chế độ
thực dân, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân các nước thuộc địa Tất cả các bài viết của Người đều được bí mật chuyển về nước và lưu truyền trong mọi tầng lớp nhân dân
Ngày 30/06/1923, Người đến Liên Xô và bắt đầu một thời kỳ hoạt động, học tập và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trên đất nước Lênin vĩ đại Tại Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (10/1923), Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân Năm 1924, Người dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được cử làm cán bộ Ban Phương Đông của Quốc tế
Trang 11Cộng sản, đồng thời là Ủy viên Đoàn chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc được giao theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước Châu Á
Năm 1925 - 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồng chí hội, ra báo Thanh Niên Cũng trong thời gian này Người trực tiếp mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam Đầu năm
1927, các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp học ở Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại và xuất bản thành
sách với tên gọi Đường cách mệnh Tác phẩm là sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng trong nước và quốc tế, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lý luận cách mạng, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối của cách mạng Việt Nam
Trong năm 1929, ở Việt Nam đã ra đời ba tổ chức cộng sản Tháng 06-1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản 5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ Tháng 07-1929 An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ Tháng 09-1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo Trước tình hình trên, mùa xuân năm1930, tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc (Hồng Kông), Người triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thống nhất thành Đảng cộng sản Việt Nam
Từ năm 1930 đến năm 1940, Người tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản
ở nước ngoài, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chỉ đạo đúng đắn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, mùa xuân năm 1941 Người về nước, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận Việt Minh, gấp rút xây dựng lực
Trang 12lượng vũ trang, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, tại khu rừng Sam Cao, thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy
Tháng 08 năm 1945, Người cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và chủ trì Đại hội Quốc dân ở Tân Trào Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã nhất tề đứng lên tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân lao
động Ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”
khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Người tuyên bố trước nhân dân cả
nước và nhân dân thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và
sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn th dân tộc Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải đ giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.4, tr.3]
Tháng 09 năm 1945, thực dân Pháp câu kết với đế quốc Mỹ, Anh và lực lượng phản động Quốc dân Đảng (Trung Quốc) trở lại xâm lược nước ta một lần nữa Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam và lấn dần từng bước kéo quân đánh chiếm miền Bắc, âm mưu tiến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 09/01/1946, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần đầu tiên trong cả nước Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Tháng 07 năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Miền Bắc được giải phóng Miền Nam bị đế quốc Mỹ xâm lược biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng Người cùng với Trung ương Đảng
Trang 13lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Tháng 09 năm 1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Ngày 02/09/1969, mặc dù đã được các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do tuổi cao sức yếu Người đã từ trần, hưởng thọ 79 tuổi
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc,
đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, cho nhân dân,
vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức, vì hòa bình và công lý trên thế giới
Năm 1987, tại kỳ họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục - Văn hóa - Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại”
1.1.1.2 Sự nghiệp và tư tưởng
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam Người đã nêu một tấm gương sáng trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo Người đã nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác - Lênin, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết ấy phù hợp với hoàn cảnh thực tế nước ta, đồng thời Người đã kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa của nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc đó Việc Đại hội VII khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động là một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy
lý luận của Đảng ta
Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan
Trang 14trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Tư tưởng của Người đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam và lan toả ra thế giới
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là luận điểm trung tâm của tư
tưởng Hồ Chí Minh, nó thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người trong các thời kỳ và trên các lĩnh vực
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát huy tác dụng trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945 - 1954) mà còn xuyên suốt quá trình tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, nhưng có quan hệ khăng khít với nhau: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (giai đoạn 1954 - 1975) cũng như trong nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Đó là con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại nhằm đi tới mục tiêu cao cả là giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội và giải phóng con người Đó cũng là nội dung tổng quát của tư tưởng
Hồ Chí Minh
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [ Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.15, tr.130] là điểm xuất phát của tư tưởng Hồ Chí Minh Dưới
ánh sáng Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin và tấm
gương Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã tìm ra con đường giải phóng cho
dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc thuộc địa Người khẳng định: “Chỉ có chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và
Trang 15những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.12, tr.563] Người đưa ra hình ảnh so sánh nổi tiếng: Chủ
nghĩa đế quốc là “con đỉa hai vòi”, do đó cách mạng giải phóng dân tộc muốn
thắng lợi phải thực hiện được sự liên minh chiến đấu giữa vô sản ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc nhịp nhàng như hai cánh của một con chim Vì bóc lột thuộc địa
là một trong hai nguồn sống của chủ nghĩa tư bản, cho nên muốn đánh đổ chủ nghĩa
đế quốc, trước hết phải xoá bỏ thuộc địa của chúng đi Do đó, cách mạng thuộc địa không chỉ trông chờ vào kết quả của cách mạng vô sản ở chính quốc mà phải tiến hành song song với cách mạng ở chính quốc, hơn nữa nó cần phải chủ động và có thể giành thắng lợi trước, và bằng thắng lợi của mình nó có thể đóng góp vào sự
nghiệp giải phóng anh em vô sản ở phương Tây Người viết: “Ngày mà hàng trăm
triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh đ gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng
lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có th giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
2011, t.1, tr.48]
Đó là một luận điểm sáng tạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa Trên nền tảng lý luận đó, Người đã cùng với Đảng ta đề ra và giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề về chiến lược và sách lược, dẫn đến thắng lợi lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám
Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc thầy về phương pháp cách mạng Việt Nam
Phương pháp cách mạng của Người là sự vận dụng một cách sáng tạo phương pháp luận phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh và điều kiện
cụ thể của cách mạng nước ta để tìm ra những con đường, hình thức, biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Phương pháp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hệ thống được thể hiện đa dạng và phong phú ở các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau, trên tinh
thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy mục tiêu không thay đổi là độc lập, thống
nhất của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm gốc
Trang 16Điểm nổi bật của phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, như Đảng ta đã tổng kết tại Đại hội lần thứ IV, đó là phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang của nhân dân, tiến hành khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; lợi dụng triệt để những mâu thuẫn nội
bộ của địch, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù, giành thắng lợi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, cuối cùng đi đến thắng lợi hoàn toàn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản lãnh đạo, đặc biệt trong điều kiện
Đảng đã nắm chính quyền, là một đóng góp mới vào lý luận xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Là người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng và rèn luyện Đảng cộng sản thành một Đảng cách mạng chân chính, bộ tham mưu sáng suốt và kiên cường của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, để lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết
hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.12, tr.406] Người nói, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện ở chỗ nó được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả
khuynh Người cũng nói rõ: “Đảng ta đại bi u cho lợi ích chung của giai cấp công
nhân, của toàn th nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG,
HN, 2011, t.11, tr.607]
Lần đầu tiên trong các Đảng cộng sản cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nêu lên tư tưởng: Đảng phải xứng đáng vừa là người lãnh đạo sáng suốt, vừa là
người đày tớ thật trung thành của nhân dân Muốn thế, Người đòi hỏi Đảng ta một
mặt phải ra sức nâng cao trí tuệ cho ngang tầm nhiệm vụ lịch sử, mặt khác phải trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng tăng cường mối liên hệ máu thịt với nhân dân
Trang 17Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh cùng với đạo đức và nhân cách vô
cùng cao thượng và trong sáng của Người đã quy tụ được khối đại đoàn kết dân tộc,
đấu tranh vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Người cho rằng: “Hễ là người Việt
Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, nên ngay sau khi thành lập Đảng,
Người đã đề ra chủ trương thành lập Hội phản đế đồng minh, một hình thức mặt
trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống đế quốc Góp ý kiến về đường lối, chủ trương của Đảng
Thời kỳ 1936 - 1939, Người đã bổ sung vào tên gọi mặt trận thành Mặt trận
dân tộc dân chủ rộng rãi, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai
cấp tư sản dân tộc và nhắc nhở phải tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận Ngay sau khi về đến Cao Bằng năm 1941, Người đã cho tổ chức thí điểm các hội quần chúng
để rút kinh nghiệm tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh
Nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là: lấy liên minh công - nông làm nền tảng, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, vừa đoàn kết, vừa đấu tranh; lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, trên cơ sở đó bảo đảm có sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế
Phương pháp đi tới đại đoàn kết của Người là vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy thẳng thắn chân thành để đối xử, lấy tin yêu giúp đỡ để cảm hoá, trân trọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả vào
sự nghiệp cách mạng chung
Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một chiến lược cơ bản, lâu dài trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh mãi mãi là một sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng về kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh vũ trang Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được thể hiện đặc sắc ở vấn đề
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến
đấu” với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; vấn đề
Trang 18xây dựng căn cứ địa cách mạng, vấn đề khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân Chính tư tưởng quân sự ấy đã chỉ đạo nhân dân ta đi tới thắng lợi lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám và tiếp đến tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh lâu dài nhất trong lịch sử Để chống lại những kẻ thù có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn mình nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng thật tốt mối quan hệ tiền tuyến - hậu phương Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh lấy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân làm nền tảng Trên cơ sở đó mà phát huy tài thao lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự kế thừa truyền thống quân sự quý báu của dân tộc và tiếp thu tinh hoa quân sự của thế giới Chính Người đã cùng với Đảng ta nâng nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân ở thời đại Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là sự
vận dụng sáng tạo học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin, chọn lọc, kế thừa cả những tinh hoa trong việc xây dựng nhà nước đã có trong lịch sử dân tộc và nhân loại
Vấn đề cơ bản của nhà nước là quyền lực thuộc về ai, phục vụ quyền lợi của
ai Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm cách mạng là để giành quyền lực về tay nhân
dân Người khẳng định “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương
do dân cử ra” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.6, tr.232] “Tất
cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân”
[Điều 4, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 1959, Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.12, tr.375]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta, đồng thời, Người cũng nhấn mạnh tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc của Nhà nước
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một Nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải là một Nhà nước làm cho mọi người dân biết sống và làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật, mặt khác Nhà nước đó “phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với
Trang 19nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự ki m soát của nhân dân” [Hồ Chí Minh,
Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.12, tr.375] Một trong những mối quan tâm của Người là lo làm sao đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ chính quyền
phù hợp với bản chất của Nhà nước ta, thấm nhuần tinh thần “dân là chủ, cán bộ là
đầy tớ trung thành của nhân dân” Rất đề cao pháp quyền, nhưng Chủ tịch Hồ Chí
Minh không lúc nào coi nhẹ vai trò của giáo dục đạo đức Trong tư tưởng của Người, nhà nước pháp quyền chỉ phát huy được đầy đủ hiệu lực khi nó biết coi trọng kết hợp giáo dục đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội và Nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, đồng thời là nhà quốc tế chủ
nghĩa trong sáng, hiện thân của tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh
thời đại Người nói: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả” [Hồ
Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.2, tr.329] Vì vậy, trong đấu tranh
giành độc lập dân tộc, một mặt Người nhấn mạnh tư tưởng phải “lấy sức ta mà giải
phóng cho ta”, mặt khác Người luôn luôn kêu gọi phải tăng cường sự đoàn kết,
giúp đỡ và phối hợp nhịp nhàng cuộc đấu tranh của vô sản ở chính quốc với vô sản
ở thuộc địa, như hai cái cánh của một con chim Ngay đối với các nước tư bản phát
triển, từ rất sớm, Người đã tuyên bố: Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả mọi nước
dân chủ và không gây thù oán với một ai” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG,
HN, 2011, t.5, tr.256], vì mục tiêu độc lập, hoà bình, hữu nghị và tiến bộ xã hội
Một mặt ra sức tranh thủ sức mạnh của thời đại có lợi cho cách mạng Việt Nam, mặt khác, Người không quên nhắc nhở nhân dân ta hết lòng, hết sức làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình đối với phong trào giải phóng dân tộc và phong
trào cộng sản, công nhân quốc tế, coi “giúp bạn là tự giúp mình” Hồ Chí Minh chính là biểu tượng của tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em”
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một thể thống nhất giữa đạo đức với
chính trị, đạo đức với tài năng, giữa nói và làm, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Trong khi sử dụng lại một số khái niệm và thuật ngữ của đạo đức truyền thống vốn đã phổ biến và quen thuộc trong nhân dân, Người đã đưa vào đó những nội dung mới, mang ý nghĩa nhân văn và cách mạng của đạo đức mới Tư tưởng
Trang 20đạo đức Hồ Chí Minh là bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức sống mãnh liệt, đã sớm đi vào nhân dân, được nhân dân tiếp nhận, vận dụng và nêu cao Nó đã trở thành một bộ phận của văn hoá dân tộc, thành vũ khí của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại các hiện tượng tha hoá về đạo đức của xã hội như quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, ức hiếp quần chúng
Cùng với tư tưởng đạo đức, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một đóng
góp rất có giá trị vào triết học về con người của chủ nghĩa Mác - Lênin Chủ tịch
Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2011, t.4, NXB
CTQG, tr.187] Đó là lý tưởng chính trị, lý tưởng đạo đức và cũng là lý tưởng nhân văn của Người Đối với Hồ Chí Minh, giải phóng con người trước hết là giải phóng
họ khỏi những tai họa do cái đói, cái rét, cái dốt gây nên Cuộc chiến đấu đó không thể tách rời cuộc chiến đấu để giải phóng dân tộc Chỉ có thoát khỏi thân phận nô
lệ, mỗi con người mới lấy lại được phẩm giá làm người Hơn nữa, đó còn là cuộc chiến đấu vì hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, vì sự giải phóng của toàn nhân loại Đó chính là giá trị của nhân văn, một chủ nghĩa nhân văn hành động, chủ nghĩa nhân văn chiến đấu, chủ nghĩa nhân đạo hiện thực
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú, nó thấm đậm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người, được toả sáng trong từng việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan tâm ân cần đối với mỗi con người, tất cả đều toát lên tình yêu thương, sự tôn trọng, thái độ bao dung và niềm tin vào khả năng cải tạo của con người, dù cho họ có nhất thời lầm lạc Bằng hành động và ứng xử của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền lại cho chúng ta một đạo lý làm người là phải biết yêu thương và sống với nhau có tình có nghĩa
Chủ nghĩa nhân văn là bản chất cốt lõi, là kết tinh của văn hoá Chủ tịch Hồ
Chí Minh được loài người tiến bộ suy tôn là một nhà văn hoá lớn còn vì những thành tựu xuất sắc của Người trong lĩnh vực hoạt động và sáng tạo văn hoá Tư
tưởng văn hoá Hồ Chí Minh được biểu hiện ở chỗ Người thấy rõ và khẳng định rất
sớm vai trò quyết định của văn hoá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những tập tục
Trang 21lạc hậu cũng là một loại kẻ thù Người khẳng định văn hoá là tinh hoa của dân tộc, văn hoá phải góp phần khẳng định dân tộc và bản sắc dân tộc
Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa kỳ thị
- độc tôn về văn hoá Là người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá phương Đông và phương Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại Những tư tưởng lớn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về văn hoá đang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hoá với thế giới
Tính khoa học đúng đắn và tính cách mạng sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được lịch sử kiểm chứng Trải qua những biến động của thời cuộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh càng chứng tỏ giá trị và sức sống mãnh liệt của nó Tư tưởng
Hồ Chí Minh là tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào vô hạn của mỗi chúng ta
1.1.2 Tác phẩm Di chúc Hồ Chí Minh
1.1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Ngày 15-5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Di chúc đầu tiên Bản Di
chúc này do Người tự đánh máy, gồm 3 trang, có chữ ký của Người và chữ ký
chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, khi đó là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Năm 1966, 1967 không có bản viết riêng, chỉ có hai bản bổ sung vào Di
chúc năm 1965 do chính Hồ Chí Minh viết thêm ở phần nội dung Người viết về
Đảng Ở khổ văn thứ nhất có nội dung này, Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ,
một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân” Đến đây, Người thêm các chữ “phục vụ Tổ quốc” Ở khổ văn thứ ba trong nội dung viết về Đảng, Người viết:
“Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất đ củng cố và phát tri n sự đoàn kết và thống nhất của Đảng” Đến đây, Người thêm câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” vào cuối khổ văn
Trang 22Năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bổ sung một đoạn gồm 6 trang viết tay Năm 1969, vào ngày 10-05, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lại toàn bộ phần mở
đầu Di chúc gồm một trang viết tay
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969, có đề ngày 10-05
gồm 4 trang in khổ 14,5 x 22 cm Bản Di chúc này chủ yếu dựa vào bản Người viết
năm 1969, trong đó có đoạn mở đầu là bản viết năm 1969, đoạn về việc riêng là phần đầu bản viết năm 1968
Các bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI công bố năm 1989, vào dịp chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người
*Về chủ quan
Đến năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự cảm nhận được sức khỏe của Người giảm sút so với những năm trước đó Người cho rằng, ở tuổi 75, Người
thuộc lớp người “xưa nay hiếm” Tuy cảm thấy “Tinh thần vẫn sáng suốt, thân th
vẫn khỏe mạnh”, nhưng Người dự báo: “Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa” Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã dự
cảm được thời khắc quan trọng của thời gian còn lại Từ dự cảm đó, Người viết:
“Vì vậy, tôi đ lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi Phòng khi tôi sẽ đi gặp
cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.15, tr.611]
Đến năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự cảm thấy “sức khoẻ có kém so với
vài năm trước đây” Chủ tịch Hồ Chí Minh bình tĩnh, chủ động nhận biết quy luật
của tự nhiên, khi Người viết: “Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay
hiếm”… Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp Điều đó cũng không có gì lạ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011,
t.15, tr.621]
Vì vậy, Người đã chủ động viết Di chúc, để lại tình thương yêu và những lời căn
dặn tâm huyết cho nhân dân ta, cho Đảng và bạn bè gần xa Tuy sức khỏe giảm sút, nhưng ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nồng cháy một tình yêu lớn và tinh thần trách
Trang 23nhiệm cao với đồng chí, đồng bào, toàn dân tộc, với cách mạng Việt Nam và với cách mạng thế giới
*Về khách quan
Tháng 05-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc Đúng thời điểm
này, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam nước ta bị thất bại hoàn toàn Ngoan cố và liều lĩnh, đế quốc Mỹ đã ào ạt đưa quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực của Quân giải phóng miền Nam, đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ đánh phá huỷ diệt miền Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta không bất ngờ trước việc đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam Ngay tháng 3-1964, căn cứ Điều 67 của Hiến pháp và trước âm mưu của đế quốc Mỹ đang đẩy mạnh và mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội Người khẳng định: nếu đế quốc Mỹ liều lĩnh đụng đến miền Bắc thì nhất định chúng sẽ bị thất bại thảm hại Người kêu gọi đồng bào miền
Bắc ra sức thi đua “mỗi người làm việc bằng hai đ đền đáp cho đồng bào miền
Nam ruột thịt” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn dân thể hiện ý chí của toàn
dân tộc ta sẵn sàng chiến đấu chống đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh để bảo vệ miền Bắc và chi viện tích cực cho cách mạng miền Nam Đến tháng 3-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp Hội nghị lần thứ 11 đã hạ quyết tâm: quyết chiến và quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược
Cuộc chiến tranh cục bộ mà quân Mỹ là nòng cốt diễn ra ở miền Nam qua hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967 và chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân Mỹ đã đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn Trong thế thắng đó, Đảng ta chủ trương đánh một đoàn chiến lược vào ý đồ xâm lược của đế quốc Mỹ
Thực hiện chủ trương chiến lược này, Tết Mậu Thân 1968, ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc
Mỹ, buộc chúng phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận đàm phán với
ta tại Pari Tuy nhiên, do bản chất xâm lược và hiếu chiến, ngoan cố, chúng bắt đầu
áp dụng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam
Trang 24Trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới và nhất là phong trào phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ
Cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đến thời điểm đó, mặc dù
còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng khả năng thắng lợi “đánh cho Mỹ cút, đánh
cho nguỵ nhào” đã thể hiện rõ Trong bài thơ mừng Xuân 1969, Bác đã viết:
“Vì độc lập, vì tự do, Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào, Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!” [Hồ Chí Minh, Toàn
tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.532]
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết trong thời điểm bản lề của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; cách mạng dù còn khó khăn, song đang trên đà thắng lợi, đòi hỏi sự đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng
1.1.2.2 Nội dung chủ yếu trong tác phẩm Di chíc Hồ Chí Minh
* Lời dặn của Hồ Chí Minh về Đảng
Nói về Đảng là lời dặn đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Người khẳng định: “Vấn đề đoàn kết có tầm quan trọng hàng đầu của công
tác xây dựng Đảng” Đoàn kết là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do sự
đoàn kết trong Đảng đem lại Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ mà Đảng ta đã
đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.621]
Người khẳng định, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và của dân ta Người tâm huyết căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi
bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622]
Để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, làm cho Đảng ta thật sự
Trang 25trong sạch, vững mạnh Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi,
thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” [Hồ Chí Minh, Toàn tập,
NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Theo Người, đó là cách tốt nhất để củng cố
và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng
Bằng chính tấm gương sáng ngời của đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tình cảm giai cấp và đồng chí trong Đảng, coi đó là một nhân tố quan
trọng để đoàn kết trong Đảng Người yêu cầu, trong Đảng “phải có tình đồng chí
thương yêu lẫn nhau”
Trong Di chúc, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nhân tố đạo đức khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền Theo Người, Đảng cầm quyền là bước chuyển trọng đại trong sinh hoạt Đảng Đảng cầm quyền có sứ mạng lãnh đạo giai cấp và dân tộc xây dựng thành công xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Để hoàn thành xứ mạng
đó, Đảng ta phải “là đạo đức, là văn minh”
* Về đoàn viên thanh niên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương, sự quan tâm và niềm tin sâu sắc Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn viên, thanh niên là đội hậu bị của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước Trải qua thực tiễn cách
mạng, Người nhận xét: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều
hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” Người nhấn mạnh, thế
hệ trẻ mới là người xây dựng thành công xã hội mới ở Việt Nam Để họ hoàn thành
vai trò lịch sử của mình, Người yêu cầu “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011,
t.15, tr.622]
* Về nhân dân lao động
Chủ tịch Hồ Chí Minh có một tình cảm đặc biệt và niềm tin mãnh liệt vào
nhân dân Người nêu rõ: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi,
đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622]
Trang 26Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trách nhiệm to lớn của Đảng với nhân dân là
“Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt đ phát tri n kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG,
HN, 2011, t.15, tr.622]
* Hồ Chí Minh nói về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lƣợc
Năm 1965, Hồ Chí Minh dự đoán “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có th sẽ
kéo dài mấy năm nữa”
Năm 1969, mở đầu Di chúc, Người viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của
nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi Đó là một điều chắc chắn” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
2011, t.15, tr.621]
Nhận định về thời gian “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có th sẽ kéo dài”, dự liệu
“Đồng bào ta có th phải hy sinh nhiều của, nhiều người”, nhưng Người khẳng
định một quyết tâm lớn của Người và của cả dân tộc là: “Dù sao chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn” Từ quyết tâm đó, Người tin
tưởng chắc chắn rằng “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ
hoàn toàn thắng lợi Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà Nước ta sẽ
có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” [Hồ
Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.623]
Trong Di chúc, Hồ Chí Minh đã khẳng định một quan điểm, giành độc lập tự
do của Tổ quốc là để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập
và giàu mạnh Người truyền niềm tin đó cho nhân dân qua câu thơ:
“Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” [Hồ Chí Minh, Toàn
tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.623]
* Về phong trào cộng sản thế giới
Trước sự bất hoà đang tồn tại trong phong trào cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh rất day dứt Với trách nhiệm của người cộng sản chân chính, Người tự sự:
“Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của
Trang 27phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!” [Hồ Chí Minh, Toàn tập,
NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.623] Đó chính là một hình thức gián tiếp, Người gửi tới những người cộng sản chân chính trên thế giới quan điểm và trách nhiệm của mình về sự đoàn kết quốc tế của những người cộng sản
Với chủ nghĩa quốc tế trong sáng và phương pháp tư tưởng tuyệt vời, Hồ Chí Minh không bày tỏ “lời khuyên” hay sự nhận xét đúng sai với người này, người
khác, mà Người xác định trách nhiệm của Đảng ta đối với sự bất hoà ấy Trong Di
chúc, Người viết: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình” [Hồ Chí Minh, Toàn tập,
NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.623] Người bày tỏ niềm tin “các đảng anh em và
các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”
* Công việc sau chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lƣợc
Là một nhà chiến lược thiên tài, nắm vững quy luật và cục diện của cuộc chiến, Hồ Chí Minh tin tưởng chắc chắn rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước nhất định sẽ thắng lợi Trong thời điểm viết Di chúc, dù khẳng định cuộc kháng chiến “còn kéo dài”, Hồ Chí Minh đã nhìn xa đến các nhiệm vụ sau khi
kháng chiến thắng lợi Người căn dặn các công việc phải làm sau chiến tranh để đạt mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta là:
Ngay sau khi kháng chiến thắng lợi, công việc đầu tiên mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải ra sức làm là hàn gắn vết thương chiến tranh nghiêm trọng
do đế quốc Mỹ gây ra Theo Người, đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và
khó khăn Người đề nghị Đảng ta phải “có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, đ
tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm” [ Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG,
HN, 2011, t.15, tr.616]
Để hoàn thành nhiệm vụ to lớn đó, theo Hồ Chí Minh, “việc cần phải làm
trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.616] Người
khẳng định, “Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng
Trang 28ta cũng nhất định thắng lợi” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011,
t.15, tr.616]
Với niềm tin vào nhân dân, vào con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Đầu tiên là công việc đối với con người” Người căn dặn Đảng và Nhà nước phải
quan tâm tới mọi đối tượng trong xã hội, không quên bất cứ ai Sự quan tâm của Người thể hiện tình thương yêu bao la của Người với mọi tầng lớp nhân dân Hồ
Chí Minh dặn lại: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu
của mình (cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người đ họ có th dần dần “tự lực cánh sinh”” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15,
tr.616]
Đối với các liệt sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò: mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta
Đối với cha mẹ, vợ con của thương binh, liệt sĩ mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét
Với những người trẻ tuổi tham gia bộ đội, thanh niên xung phong là những người đã được rèn luyện trong chiến đấu, có lòng dũng cảm và tương lai của họ còn dài, Hồ Chí Minh căn dặn Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cử họ đi học thêm các ngành, các nghề, đào tạo họ thành những người có chuyên môn giỏi,
có tư tưởng tốt và lập trường vững chắc Người cho rằng, họ sẽ là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta phải tiếp tục thực hiện sự nghiệp giải phóng phục nữ Người đánh giá cao công lao của phụ nữ trong sự nghiệp chống
Mỹ, cứu nước Đất nước hoà bình, cần thực hiện hai điều để tiếp tục giải phóng phụ nữ: Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ phụ nữ, để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo Đồng thời, bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên
Trang 29Theo Người thực hiện được hai điều này “là một cuộc cách mạng đưa đến
quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
2011, t.15, tr.617]
Với nông dân, lực lượng cách mạng đông đảo nhất, Hồ Chí Minh khẳng định: nông dân nước ta luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta Trong cách mạng cũng như trong kháng chiến, nông dân ta ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ Người đề nghị Chính phủ, khi sự
nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng hãy “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các
hợp tác xã nông nghiệp đ cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15,
tr.617]
Với những người trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v… Hồ Chí Minh coi đó là nạn nhân của chế độ xã hội cũ Bởi vậy, Nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp đỡ họ trở nên những người lao động lương thiện
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là những nhiệm vụ phải thực hiện sau chiến tranh, là những công việc rất to lớn, nặng nề, phức tạp, nhưng cũng rất vẻ vang Theo Người, công việc này là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái cũ kỹ,
hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi Người nhắn nhủ, để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu này phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân
* Về việc riêng
Cuối Di chúc, Hồ Chí Minh mới đề cập đến “việc riêng”, những nghi thức
sau khi Người về với “thế giới người hiền”, qua đó thể hiện rõ những phẩm chất đạo đức vô cùng cao quý
Người đề nghị “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, đ khỏi lãng phí thì
giờ và tiền bạc của nhân dân” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011,
t.15, tr.623]
Người đề nghị hoả táng thi hài bởi thế vừa “tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn
đất” và căn dặn “tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn”, “Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm” “Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và
Trang 30lợi cho nông nghiệp” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15,
tr.615]
Người có tâm nguyện “gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam” Năm
1968, Người bổ sung thêm: “Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành Một
hộp cho miền Bắc, một hộp cho miền Trung, một hộp cho miền Nam Đồng bào mỗi miền nên chọn quả đồi mà chôn hộp tro đó” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG,
HN, 2011, t.15, tr.615]
* Về lời vĩnh biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối Di chúc
Những dòng cuối Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lời vĩnh biệt, thể hiện
tình yêu thương bao la và khát vọng của mình
Trước hết, Người “đ lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng,
toàn th bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” [Hồ Chí Minh, Toàn tập,
NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.624]
Tiếp đó, Người “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các
cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
2011, t.15, tr.624]
Cuối cùng, Người thể hiện mong muốn tột cùng, mục đích sống và mục tiêu
phấn đấu suốt cuộc đời mình, đó là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu,
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,
và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [Hồ Chí Minh, Toàn
tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.624]
1.2 Tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh
Di chúc Hồ Chí Minh là tác phẩm chứa đựng nhiều tư tưởng lớn, có giá trị cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trong đó nổi bật là tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng Tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc Hồ Chí Minh được thể hiện ở những nội dung sau:
1.2.1 Đoàn kết thống nhất trong Đảng
Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, toàn Đảng phải thống nhất ý chí và hành động, mọi đảng viên phải bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng Phải xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng để làm nồng cốt cho việc xây dựng khối đại đoàn kết, thống
Trang 31nhất trong toàn dân Từ những hoạt động đầu tiên chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam đến khi về cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh luôn xem việc giữ gìn, củng cố sự đoàn kết thống nhất của Đảng là nguyên tắc quan trọng của công tác xây dựng Đảng
Tư tưởng đoàn kết thống nhất trong Đảng của Hồ Chí Minh là nhất quán Cơ
sở để xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ của Đảng Sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức sẽ tạo nên sự thống nhất về hành động trong trong toàn Đảng, nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, biến thành hành động cách mạng không chỉ của đảng viên mà
cả quần chúng nhân dân
Bằng lời lẽ mộc mạc nhưng vô cùng súc tích, Di chúc tuy ngắn gọn nhưng
bao chứa toàn bộ tình cảm và tư tưởng của Người đối với sự nghiệp cách mạng
Việt Nam, với các thế hệ Việt Nam Trong Di chúc, ngoài 79 chữ nói “Về việc riêng” tương ứng với 79 mùa xuân của mình, Người dành trọn tình cảm cho dân, cho Đảng Trước hết, khi nói về Đảng trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định vị trí, vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân
tộc ta Người viết: “Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái
đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Đây là sự tổng kết lý luận và thực tiễn sâu sắc về vị
trí, vai trò của Đảng Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, lập nên nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử nước ta Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược và cho đến thời điểm Người
viết Di chúc, Đảng ta đã và đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai nhiệm vụ chiến
lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà Khẳng định vị trí, vai trò to lớn của Đảng trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dụng ý để lại thông điệp về những thắng lợi tiếp theo của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng
Không chỉ khẳng định vị trí, vai trò của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng
nước ta, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đúc kết, khái quát mang tầm lý
luận sâu sắc về những nguyên nhân, yếu tố cốt lõi dẫn đến sự tổ chức, lãnh đạo
Trang 32thành công của Đảng ta Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục
vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.15, tr.621] Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên nhân
tạo cho Đảng ta có khả năng tổ chức, lãnh đạo, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc trong sự nghiệp cách mạng là sự đoàn kết chặt chẽ trong Đảng và Đảng một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc
Đặt nguyên nhân dẫn đến sự tổ chức, lãnh đạo thành công của Đảng ta trong một mệnh đề, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn chỉ ra mối quan hệ nhân quả, chặt chẽ giữa đoàn kết và kiên định tôn chỉ, mục đích của Đảng Đảng có đoàn kết chặt chẽ thì mới thực hiện được tôn chỉ, mục đích phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục
vụ Tổ quốc Ngược lại, phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc là cơ
sở để tạo ra và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Kết hợp cả hai yếu tố: đoàn kết chặt chẽ trong Đảng và phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc là nguyên nhân của mọi nguyên nhân Đảng ta tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Từ khẳng định nguyên nhân dẫn đến sự tổ chức và lãnh đạo thành công của
Đảng, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn xây dựng sự đoàn kết nhất trí của Đảng Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và
của dân ta”, và căn dặn, chỉ đạo: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”
[Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Bối cảnh lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc (5-1965), là thời điểm cách mạng nước ta đang
phải đương đầu với nhiều khó khăn và thử thách mới Ở Miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiện “chiến lược chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ và quân chư hầu vào tham chiến hòng ngăn chặn sự tiến công và nổi dậy của quân và dân ta Ở miền Bắc, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Trong tình hình đó, sự đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng kẻ thù
Trang 33Từ khẳng định vị trí, tầm quan trọng của sự đoàn kết trong Đảng, trong Di
chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên từ Trung ương cho đến các
chi bộ “phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình” Sự so sánh giữa “giữ gìn đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” hàm chứa ẩn ý rất sâu sắc; có giữ gìn được đoàn kết trong
Đảng mới giúp cho Đảng ta sáng suốt trong tổ chức, lãnh đạo nhân dân, trong xác định đường lối cách mạng Ngược lại, Đảng không giữ gìn được sự đoàn kết, khác nào “con mắt bị hỏng con ngươi”, như người mù không thấu tỏ đường đi Với mỗi đảng viên, đôi mắt, con ngươi chính là cái giúp họ có thể “nhìn cho rộng”, rồi “suy cho kỹ” “Nhìn cho rộng” tức là hướng về lợi ích toàn cục, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, về chiến lược, sách lược, về mục tiêu lý tưởng của Đảng
Bài học về sự đoàn kết thống nhất, độc lập, tự chủ về đường lối, về chủ trương chiến lược là bài học có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta
căn dặn: “ trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất đ củng cố và phát tri n sự đoàn kết
và thống nhất của Đảng Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [Hồ Chí
Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Người nhấn mạnh thực hành dân chủ chứ người không nói là dân chủ Phải chăng, Người thấy việc nói về dân chủ trong Đảng nhiều nhưng thực hành dân chủ rộng rãi thì còn có những hạn chế
Trang 34Người khẳng định: “đ làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”, trong Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ đ tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của
mình”
Như vây, phát huy dân chủ trong Đảng là phát huy dân chủ nội bộ Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi nhận thấy nhiều lần Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề
dân chủ trong Đảng Trong bài viết “Xây dựng những con người của Chủ nghĩa xã
hội” in trên báo Nhân dân, ngày 25-3-1961, Bác viết: “Chúng ta phải làm đúng lời dạy của Lênin vĩ đại: giữ gìn sự thống nhất của Đảng như con ngươi của mắt Phải hết lòng tôn trọng tập th , phát huy dân chủ nội bộ; tuyệt đối không được độc đoán
cá nhân, tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật” [Hồ
Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.13, tr.67]
Người nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của sự đoàn kết trong Đảng, nhất
là đoàn kết chặt chẽ giữa các đồng chí cán bộ lãnh đạo Khối đoàn kết đó được xây dựng trên cơ sở thống nhất về tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ Đồng thời cần tiến hành phê bình và tự phê bình một cách rộng rãi, nhất là cần tổ chức cho nhân dân
phê bình cán bộ “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan Phải luôn luôn
dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em”, ngăn cản quần chúng phê bình Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr.283-284]
Trong Di chúc, Người nói rất ngắn về dân chủ trong Đảng: “Trong Đảng
thực hành dân chủ rộng rải và thường xuyên” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
Trang 35CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Tuy Người nói rất ngắn gọn song lại rất đầy đủ và
ý nghĩa Về thực hành dân chủ trong Đảng, thực hành dân chủ trong Đảng đòi hỏi phải thực sự, tránh hình thức và phải được thường xuyên như vậy sẽ phát huy được sức mạnh của toàn thể đảng viên để mỗi đảng viên sẽ là một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng và sẽ quy tụ được quần chúng nhân dân một lòng đi theo Đảng, đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại khỏi
áp bức bất công, xây dựng xã hội mới tốt đẹp, không có người bóc lột người
1.2.3 Thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình
Đối với công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều nội dung từ việc khẳng định Đảng ta là Đảng của giai công nhân và không ngừng phấn đấu nâng cao tính giai cấp công nhân của Đảng, và đã là Đảng của giai cấp công nhân thì phải lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, nhưng dân chủ
phải đi đôi với kỉ luật Để giữ vững kỉ luật của Đảng Người căn dặn: “Cán bộ,
Đảng viên phải thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” Nguyên
tắc tự phê bình và phê bình được Người đặc biệt quan tâm Trong Di chúc Người
viết: “Nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất đ cũng cố và phát
tri n sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Như vậy, Hồ
Chí Minh coi đây là biện pháp tốt nhất để củng cố, phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng Người yêu cầu tự phê bình và phê bình phải thường xuyên, nghiêm túc, không nể nang, qua loa đại khái, hình thức Mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho bản thân và đồng đội ngày càng tiến bộ hơn; tuyệt đối không vì
mâu thuẫn cá nhân, động cơ cá nhân mà phê bình theo kiểu “vạch lá tìm sâu”, “bới
lông tìm vết” nhằm trù dập, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau Theo Hồ Chí Minh, tự phê bình
và phê bình là công việc thường xuyên; ngừng tự phê bình và phê bình tức là ngừng tiến bộ, là thoái bộ
Tự phê bình và phê bình là vấn đề rất quan trọng, là một trong những quy luật phát triển của Đảng và là nguyên tắc, chế độ thường xuyên trong tổ chức và
sinh hoạt Đảng Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường nhắc nhở: “Mỗi cán
bộ, đảng viên, mỗi ngày tự ki m đi m, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”[ Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr.279] Do đó, để
Trang 36thực sự trong sạch, vững mạnh, Đảng ta yêu cầu mọi tổ chức cơ sở Đảng, mọi cán
bộ, đảng viên đều phải thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, trong đó đặc biệt chú
ý đến phê bình và tự phê bình từ trên xuống dưới, cán bộ lãnh đạo phải làm gương cho cấp dưới, phải thể hiện đúng bản lĩnh của người cán bộ cách mạng Có như vậy
mới khiến cho cán bộ, nhân viên cấp dưới của mình “tâm phục, khẩu phục”
Người coi “tự phê bình và phê bình” cũng như cơm ăn, nước uống, như không khí để thở của người cách mạng “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa
mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm” [Hồ Chí
Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.7, tr.82] Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hiện chứ không phải chờ khai hội mới tự phê bình, không phải khi làm khi không, phê bình thật sự chứ không phải hình thức, chiếu lệ chung chung
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người thường nhắc nhở: “Một đảng
mà giấu khuyết đi m của mình là một đảng hỏng, một đảng có gan thừa nhận khuyết đi m của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết đi m đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết đi m đó, rồi tìm kiếm mọi cách sửa chữa khuyết đi m đó Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” [Hồ Chí Minh,
Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr.301]
Không chỉ coi trọng tự phê bình và phê bình, Người luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên trong quá trình tự phê bình và phê bình thì cần có cái tâm trong sáng
hơn Bác Hồ căn dặn mỗi đảng viên là: “Khi phê bình mình cũng như phê bình
người khác phải ráo riết, triệt đ , thật thà, không n nang, không thêm bớt Phải vạch rõ cả ưu đi m lẫn khuyết đi m Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc, phê bình việc làm chứ không phải phê bình người” [Hồ Chí Minh,
Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr.272] “Mục đích phê bình cốt đ giúp
nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ Cốt đ sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
2011, t.5, tr.272]
Như vậy, thực chất của tự phê bình và phê bình là góp ý giúp đồng chí, đồng nghiệp và tự bản thân kiểm điểm lại xem cái làm được và chưa làm được, làm hay hoặc còn thiếu sót, sai lầm và từ đó phát huy cái tốt, tìm ra biện pháp khắc phục,
Trang 37sửa chữa cái chưa hay, cái khuyết điểm, sai lầm Phê bình là để giúp nhau cùng tiến
bộ, vững vàng hơn và nó thể hiện tình cảm chân thành chứ không phải lợi dụng phê bình để đấu đá, hạ bệ lẫn nhau, thậm chí xúc phạm danh dự, xỉ vả nhau, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khối đoàn kết nội bộ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng Phê bình nhằm mục đích cao cả là giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, ngày càng đoàn kết và gần gũi nhau hơn Nhưng để phát huy được giá trị của phê bình, người phê bình cũng cần phải tự xem xét, tự phân tích Tự phê bình là phân tích hành vi, những khuyết điểm của chính bản thân mình và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, để cảm thông và chia sẻ nhằm giúp đồng chí mình nhận thức rõ hơn những sai sót, khuyết điểm còn mắc phải để cùng nhau khắc phục Do đó, tự phê bình và phê bình chính là nhằm củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của đơn vị
Thực chất tự phê bình và phê bình chính là giải quyết mâu thuẫn trong nội
bộ tổ chức đảng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc và Điều lệ của Đảng, trong mối quan hệ của những người đồng chí cùng mục đích, lý tưởng Tự phê bình và phê bình vừa mang tính cách mạng và khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới
sự hoàn thiện Do đó, tự phê bình và phê bình đòi hỏi tính đảng, tính nguyên tắc cao, phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, chân thành, công khai, có lý, có tình,
phải được thực hiện nhằm mục đích xây dựng và“Phải có tinh thần đồng chí
thương yêu lẫn nhau” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, cần tránh hiện tượng
thổi phồng hoặc bóp méo sự thật và đặc biệt cần tránh thành kiến, định kiến, thái độ ghen ghét, ganh tỵ với cá nhân nào đó để rồi luôn chú tâm đến những khuyết điểm của họ, cho dù đó chỉ là một khuyết điểm nhỏ cũng đem ra cuộc họp chi bộ để phê bình còn những việc làm tốt, cách làm hay thì chẳng để ý, chẳng khen ngợi, chẳng quan tâm học hỏi Do vậy phê bình và tự phê bình tốt thì sẽ là điều kiện, là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp để củng cố và phát triển sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, giữ vững và phát huy sức mạnh của Đảng ta
Trang 381.2.4 Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau
Cả cuộc đời Bác Hồ luôn sống thân ái, giàu tinh thương yêu con người, Người luôn dặn dò mọi người phải sống với nhau có tình có nghĩa, yêu thương đồng bào, đồng chí, đồng loại Đối với Người, mỗi con người sống trên đời này phải có tình thương yêu lẫn nhau, sống với nhau có tình có nghĩa Người từng nói:
“Nhân dân ta từ lâu đã sống có tình, có nghĩa như thế Từ khi Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn bi n một nhà Hi u chủ nghĩa Mác là sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là chủ nghĩa Mác - Lênin được” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN,
2011, t.15, tr.668]
Theo lời kể của đồng chí Vũ Kì: “ Ngày 14-05-1966, vào lúc 8 giờ, Bác đến
nói chuyện với lớp huấn luyện Đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức tại Trường Chu Văn An Là người sáng lập Đảng, tự tay vun trồng những mần non của Đảng ngay từ những ngày đầu tiên, mỗi lần gặp các thế hệ Đảng viên mới, Bác bao giờ cũng rất vui, cảm thấy như mình trẻ lại Trong bổi gặp mặt hôm ấy, sau khi nói xong bài nói đã chuẩn bị sẵn, Bác nói thêm một câu thật thấm thía: “Con người trước hết là phải có đạo đức, sống với nhau phải có tình, có nghĩa Nếu đọc bao nhiêu sách chủ nghĩa Mác - Lênin mà sống với nhau không có tình có nghĩa, thì chỉ
là giáo điều, sách vở”” [Những câu chuyện chưa kể về Hồ Chí Minh,
Với Bác không chỉ mỗi người cần phải sống với nhau có tình, có nghĩa, thương yêu lẫn nhau Song trong Đảng thì càng phải sống với nhau có tình có nghĩa, thương yêu lẫn nhau
Cán bộ, đảng viên trong Đảng càng cần phải có tình đồng chí, tình thương yêu lẫn nhau Trong Đảng nếu mọi người sống với nhau không có tình có nghĩa, luông kèn cựa, mưu hại lẫn nhau thì Đảng không có sức chiến đấu, không có sức mạnh và không thể đoàn kết, tập hợp, cảm hóa nhân dân Do vậy trong Đảng cần phải có tình yêu thương lẫn nhau Trong Di chúc Người nói rất ngắn gọn: Trong
Đảng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
Trang 39CTQG, HN, 2011, t.15, tr.622] Đó là những lời căn dặn của một người cha đối với đàng con trước khi đi về cõi vĩnh hằng
1.2.5 Đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính, trong sạch vững mạnh Nhận thức rõ tầm quan trọng của đạo đức cách mạng, Người đã không ngừng chăm lo giáo dục, rèn luyện
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Người nói: “Cũng như sông
thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB
CTQG, HN, 2011, t.5, tr.292]
Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là gốc, là nguồn, là nền tảng,
là sức mạnh tinh thần của người cán bộ, đảng viên, thể hiện trong các mối quan hệ
xã hội hàng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng bào, đồng nghiệp và mọi người xung quanh mình Coi trọng việc giáo dục đạo đức cách mạng, sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Hồ Chí Minh càng quan tâm nhiều đến đạo đức của cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền Người hiểu rất rõ rằng, suy thoái về đạo đức là khởi điểm của sự tha hóa, mà tha hoá về đạo đức sẽ dẫn đến tha hoá về chính trị, nên mong muốn Đảng phải trong sạch, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên không để chức, quyền, danh, lợi làm hoen ố lương tâm, bôi nhọ danh dự, dẫn đến suy thoái, biến chất.v.v… Cũng theo Người, trong bất kỳ thời điểm nào, làm công việc gì, muốn quy tụ và hấp dẫn quần chúng, người cán bộ, đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau và đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng, đó là tính Đảng
Thực tiễn xây dựng và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam hơn 80 năm qua cho thấy: uy tín, sức mạnh và năng lực lãnh đạo của Đảng phụ thuộc vào sự vững mạnh, trong sạch của mỗi đảng viên và mỗi cơ sở đảng, hay nói cách khác sự trong sạch vững mạnh của Đảng quyết định uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng
cầm quyền “Trong sạch” được thể hiện trước hết và nổi bật ở vấn đề tư cách, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên “Vững mạnh” không phải do số lượng đảng
viên nhiều hay ít, mà là ở sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và
Trang 40hành động, trong sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ở chính tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần đấu tranh phê bình, tự phê bình và mối liên hệ mật thiết với nhân dân…
Không chỉ sớm tiên lượng những căn bệnh của những người có chức, có quyền, những người mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đồng thời chỉ ra những biện pháp để đề phòng và khắc phục, trong đó yêu cầu hàng đầu là thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng
viên Theo lời Người: “Cán bộ, đảng viên muốn trở nên người cách mạng chân
chính, không có gì là khó cả Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra Lòng mình chỉ biết có Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư Mình đã chí công vô tư thì khuyết đi m sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm… vì vậy, ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì đều không sợ khó không sợ khổ, là tận trung với nước, tận hiếu với dân” [Hồ Chí Minh, Toàn
tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr.291] Giản dị và ngắn gọn, Người căn dặn trong
Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011,
t.15, tr.622]
Cũng không phải ngẫu nhiên và chắc chắn Người đã cân nhắc rất nhiều khi trong một đoạn văn ngắn chỉ có 57 từ, lại nhấn mạnh bốn lần chữ “thật” và “thật sự” Thật có nghĩa là đối lập với giả, với dối Thật sự là đối lập với qua loa, nửa vời, không đến nơi đến chốn Người dạy chúng ta rèn luyện đạo đức mới, đạo đức cách mạng - đạo đức phục vụ cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân Chữ “thật” là biểu hiện của chữ “chính” trong tứ đức: cần, kiệm, liêm, chính - tức
là trung thực, thật thà, đúng đắn Chữ “thật” cũng là chữ “liêm”, vì có thật thà mới không tham lam và mới “liêm” được Chữ “thật” ấy là lời để lại, căn dặn mỗi cán
bộ, đảng viên và đó cũng là cốt lõi của văn hoá cầm quyền, của một Đảng cộng sản chân chính có sứ mệnh lãnh đạo nhân dân kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội