1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu kỹ năng viết tiếng việt của học sinh kinh cơ tu trong một số lớp học ở hòa bắc, hòa phú, thành phố đà nẵng

76 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Chuẩn kiến thức kĩ năng cấp trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 bộ môn Ngữ văn nhằm giúp học sinh: - Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về văn học và tiếng Việt, bao gồm:

Trang 1

***

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

ĐỐI CHIẾU KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH KINH – CƠ TU TRONG MỘT SỐ LỚP HỌC Ở HÒA BẮC, HÒA PHÚ TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Đà Nẵng, 05/2014

Trang 2

***

ĐỐI CHIẾU KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH KINH – CƠ TU TRONG MỘT SỐ LỚP HỌC Ở HÒA BẮC, HÒA PHÚ TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Đối

chiếu kỹ năng viết tiếng Việt của học sinh Kinh – Cơ Tu trong một

số lớp học ở Hòa Bắc, Hòa Phú trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,

tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô khoa Ngữ văn, Trường Đại Học Sư Phạm và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo ở 2 trường Trung học cơ sở (THCS Ông Ích Đường xã Hòa Phú và THCS Nguyễn Tri Phương xã Hòa Bắc) đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi khảo sát và thu thập ngữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo Th.S Nguyễn Đăng Châu, là người đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp này tôi hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Đăng Châu Tôi xin cam đoan: đây

là công trình nghiên cứu, là kết quả của một mình tôi Những kết quả đạt được trong khóa luận không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2014

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 5

STT Kí hiệu viết tắt Nội dung viết tắt

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Phương pháp lý thuyết: 4

4.2 Phương pháp thực tiễn 4

4.3 Phương pháp Anket: 4

4.4 Phương pháp so sánh: 4

4.5 Một số công thức toán học: 4

5 Dự kiến đóng góp của đề tài 5

6 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Việc dạy học Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở 6

1.1.1 Tổng thuật chương trình sách giáo khoa 6

1.1.2 Hai loại học sinh: học sinh người Kinh và học sinh dân tộc 11

1.2 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh THCS 16

1.2.1 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 6 16

Trang 7

1.2.4 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 9 24

1.3 Dư luận chung về thực trạng sử dụng TV nói chung và kĩ năng viết TV nói riêng hiện nay 27

CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU KỸ NĂNG VIẾT TV CỦA HỌC SINH KINH – CƠ TU TRONG MỘT SỐ LỚP HỌC Ở TRƯỜNG THCS 33

2.1 Miêu tả quá trình thu thập và xử lý ngữ liệu 33

2.1.1 Thu thập ngữ liệu 33

2.1.1.1 Xác định yêu cầu về ngữ liệu 33

2.1.1.2 Quá trình thu thập ngữ liệu 35

2.1.2 Xử lí ngữ liệu 36

2.1.2.1 Phân loại 36

2.1.2.2 Thống kê 37

2.2 Tổng thuật thực trạng dạy học TV cho học sinh Kinh – Cơ Tu ở trường THCS Hòa Bắc, Hòa Phú hiện nay 43

2.2.1 Tỉ lệ học sinh Kinh – Cơ tu trong một lớp ở Hòa Bắc, Hòa Phú 43

2.2.2 Phân tích và đối chiếu kĩ năng viết tiếng Việt của học sinh Kinh – Cơ tu 46 2.3 Một số vấn đề về kĩ năng viết tiếng Việt của học sinh dân tộc Cơ Tu qua khảo sát 50

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TV CHO CÁC LỚP CÓ HỌC SINH CƠ TU Ở CÁC TRƯỜNG THCS HÒA BẮC, HÒA PHÚ 55

Trang 8

3.3 Nên có một số tiết dạy học song ngữ Cơ Tu – Kinh 61

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành phố Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng

cơ cấu dân tộc khá đa dạng với 10 dân tộc anh em cùng chung sống trên địa bàn thành phố Nhằm mục tiêu đưa thành phố phát triển sâu rộng về kinh tế,

xã hội, chính quyền thành phố đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới, phát triển giáo dục trong toàn thành phố nói chung và các xã miền núi có dân tộc thiểu số nói riêng Công tác giáo dục ngôn ngữ cho các dân tộc thiểu số là việc làm cấp thiết, ngoài tiếng mẹ đẻ thì việc dạy và học tiếng Việt (TV) là điều kiện quan trọng giúp họ tiếp cận những tri thức tiến bộ một cách dễ dàng và có hiệu quả

Với tổng dân số là 90 triệu dân, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86% tổng dân số cả nước điều đó cũng có nghĩa rằng TV là ngôn ngữ chính của

cư dân Việt Nam Đối với mỗi một công dân Việt Nam TV có vai trò quan trọng, là phương tiện giao tiếp để tiếp xúc và học tập các nền văn minh của nhân loại Vì vậy tiếng Việt là ngôn ngữ được chú trọng giáo dục trong các nhà trường hay nói cách khác việc dạy TV là nhiệm vụ hàng đầu để không chỉ phát triển giáo dục mà đó còn là điều kiện để tiến tới sự phát triển về kinh tế - xã hội nước nhà Vốn là quốc gia đa dạng dân tộc (54 dân tộc anh em) bên cạnh đó còn có những người nước ngoài nhập cư sinh sống trên lãnh thổ do đó ở nước ta dạy TV hướng đến ba đối tượng là người bản ngữ (người Kinh), đồng bào dân tộc thiểu số và người nước ngoài Để đạt hiệu quả tốt trong việc dạy TV thì cần có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng

Trang 10

Giáo dục miền núi là một trong những nội dung được quan tâm

hàng đầu, những “bài toán khó” đang dần được “giải” Tuy nhiên để có thể

dạy TV đạt hiệu quả tốt cho học sinh dân tộc thiểu số thì còn gặp những khó khăn bởi học TV là ngôn ngữ thứ hai của họ Từ thực tiễn đó chúng tôi

thực hiện đề tài : Đối chiếu kỹ năng viết tiếng Việt của học sinh Kinh – Cơ

Tu trong một số lớp học ở Hòa Bắc, Hòa Phú trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Thông qua việc thu thập ngữ liệu và thử đối chiếu chúng tôi thống kê

những lỗi sai cũng như kĩ năng viết TV của học sinh Cơ Tu ở trường THCS Hòa Bắc, Hòa Phú Từ đó người nghiên cứu đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao việc dạy học TV cho HS Cơ Tu trên địa bàn Đà Nẵng nói riêng và các vùng có dân tộc thiểu số trên cả nước nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm qua, giáo dục miền núi là một trong những nội dung được quan tâm hàng đầu Như một nhiệm vụ cấp thiết và mang tính xã hội cao, giáo dục miền núi đã thu hút được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các cấp ngành, đặc biệt với các dự án phát triển giáo dục miền núi cùng các bài nghiên cứu về dạy học TV cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung

và học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường THCS nói riêng Đến nay,

đã có các công trình nghiên cứu nổi bật sau:

 PGS.TS Trần Trí Dõi cũng nghiên cứu đề tài Thực trạng giáo dục ngôn

ngữ ở vùng dân tộc miền núi một số tỉnh của Việt Nam.(1999)

 PGS.TS Trần Trí Dõi đã tiến hành nghiên cứu đề tài Thực trạng giáo

dục ngôn ngữ vùng dân tộc miền núi 3 tỉnh phía Bắc Việt Nam – Những kiến nghị và giải pháp (2004)

Trang 11

 PGS.TS Trần Trí Dõi & Nguyễn Văn Lộc cùng nghiên cứu đề tài Thực

trạng sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số và vấn đề đặt ra cho giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường ở Việt Bắc (2006)

 Nguyễn Tri Hùng nghiên cứu về đề tài Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển

văn hóa các dân tộc thiểu số phía Nam Trong bài nghiên cứu đã đề cập

đến vấn đề chữ viết dân tộc Cơ Tu – Quảng Nam – Đà Nẵng với việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc

Như vậy, với một số công trình nghiên cứu thực tiễn của các tác giả

đã góp phần làm sáng tỏ thực trạng sử dụng tiếng Việt của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung ở một số tỉnh Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu kĩ năng TV của học sinh dân tộc Cơ

Tu trên địa bàn các xã Hòa Bắc, Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà

Nẵng Chính vì thế, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Đối chiếu kỹ năng

viết tiếng Việt của học sinh Kinh – Cơ Tu trong một số lớp học ở Hòa Bắc, Hòa Phú trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Với đề tài rất có ý nghĩa

này, chúng tôi hi vọng được đóng góp phần nghiên cứu khiêm tốn của mình vào công tác dạy học tiếng Phổ thông cho học sinh dân tộc ít người

ở nước ta

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kĩ năng viết của học sinh Cơ Tu trong quan hệ đối chiếu với kĩ năng viết của học sinh người Kinh cùng học

ở trường Trung học cơ sở ở Hòa Bắc và Hòa Phú

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 12

Đề tài này chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát ở trường Trung học sơ

sở trên địa bàn xã Hòa Phú và Hòa Bắc thuộc địa hạt quản lý của thành phố

Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu tốt đề tài này, chúng tôi áp dụng một số phương pháp sau:

Để có những ngữ liệu cụ thể phục vụ cho quá trình tổng hợp và miêu tả

nội dung của đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp này

Trong bài khóa luận này, chúng tôi sử dụng một số công thức toán học

để thống kê và tính tỉ lệ phần trăm về những lỗi sai trong quá trình viết tiếng Việt của học sinh dân tộc Cơ Tu

Trang 13

5 Dự kiến đóng góp của đề tài

Thực hiện đề tài này, chúng tôi khảo sát và nêu lên thực trạng dạy và học TV cho học sinh học sinh Cơ Tu trong một số lớp học ở trường THCS Hòa Bắc và Hòa Phú thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng; chỉ ra những yếu kém và nêu ra những ý kiến đề xuất, những kiến nghị của chúng tôi Hy vọng các khuyến nghị sẽ được tham khảo, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh Kinh – Cơ Tu của những vùng nói trên

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung của khóa luận có ba chương sau:

Trang 14

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Việc dạy học Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở

1.1.1 Tổng thuật chương trình sách giáo khoa

Môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình của cấp học THCS Bên cạnh việc củng cố những kiến thức đã được học trong chương trình giáo dục cấp Tiểu học thì đây còn là giai đoạn mới giúp các em học sinh phát triển kiến thức về môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng việt nói riêng để các em có kĩ năng trong việc sử dụng tiếng Việt Theo Chuẩn kiến thức kĩ năng cấp trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9) bộ môn Ngữ văn nhằm giúp học sinh:

- Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về văn học và tiếng Việt, bao gồm: kiến thức về những tác phẩm, đoạn trích tiêu biểu cho một

số thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một số tác phẩm, trích đoạn văn học nước ngoài, kiến thức sơ giản về lịch sử văn học và một số khái niệm lí luận văn học thông dụng, kiến thức về các đơn vị tiêu biểu của tiếng Việt (đặc điểm và các quy tắc sử dụng), kiến thức về các loại văn bản (đặc điểm, cách thức tiếp nhận và tạo lập)

- Hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn, bao gồm: năng lực

sử dụng tiếng Việt thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản (đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẫm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng

Trang 15

- Có tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lí tưởng xã hội chủ nghĩa

Có thể thấy với bộ môn Ngữ văn có tầm quan trọng không chỉ là một

bộ môn dạy học ở nhà trường mà còn là môn học có giá trị giáo dục, rèn giũa nhân cách, định hướng tình cảm và khám phá những vẻ đẹp tâm hồn của con người

Theo Bộ giáo dục và Đào tạo thì môn Ngữ văn gồm có ba phân môn, bao gồm: Tiếng Việt, Tập làm văn và Văn học Mỗi phân môn có những nội dung, kiến thức khác nhau; tuy nhiên giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, bởi để có thể cảm thụ văn chương tốt hay để làm một bài văn tốt thì trước hết người học cần phải có những kiến thức về tiếng Việt, phải

có những kĩ năng sử dụng từ ngữ, cấu trúc câu…Điều đó khẳng định dù ở bất kì trường hợp nào thì tiếng Việt luôn có vai trò quan trọng và kĩ năng sử dụng tiếng Việt lại càng quan trọng hơn Hay nói cách khác, phân môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, qui tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, vì tiếng Việt là một công cụ giao tiếp, học tập, tư duy và biểu hiện tư duy nên nó còn có tư cách là một phương tiện dạy và học trong nhà trường Điều này dẫn đến mối quan hệ liên đới giữa phân môn Tiếng Việt với các môn học khác Chính vì thế, trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn cấp Trung học cơ sở phân môn Tiếng Việt được đưa vào giảng dạy với số lượng tiết khá nhiều và kiến thức chủ yếu là Từ vựng và Ngữ pháp

Trang 16

Nội dung dạy học của phân môn Tiếng việt lớp 6:

 Từ vựng:

- Từ đơn và từ phức; các loại từ phức: từ ghép và từ láy

- Từ mượn; từ Hán Việt

- Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ

- Các lỗi thường gặp về từ và cách sửa lỗi

- Câu trần thuật đơn

- Dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than

 Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

- Các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ

 Hoạt động giao tiếp:

- Sơ lược về giao tiếp, các nhân tố giao tiếp

Nội dung dạy học phân môn Tiếng Việt lớp 7:

 Từ vựng:

- Từ ghép, từ láy

- Từ phức Hán Việt, sử dụng từ Hán Việt

- Các lỗi thường gặp về dùng từ và cách sửa lỗi

- Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm

Trang 17

 Ngữ pháp:

- Đại từ, quan hệ từ

- Thành ngữ

- Câu rút gọn, câu đặc biệt, câu chủ động, câu bị động

- Thêm trạng ngữ cho câu, dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu

- Dấu chấm phẩy, dấu chấm lửng, dấu gạch ngang

 Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

- Các biện pháp tu từ: chơi chữ, điệp ngữ, liệt kê

Nội dung dạy học phân môn Tiếng Việt lớp 8

 Từ vựng:

- Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội

- Từ Hán Việt

- Trường từ vựng

- Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ

- Từ tượng thanh, từ tượng hình

 Ngữ pháp:

- Tình thái từ, trợ từ, thán từ

- Câu kể, câu cảm, câu khiến, câu hỏi, câu phủ định

- Câu ghép

- Dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấm

 Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

- Các biện pháp tu từ: nói giảm nói tránh, nói quá, thay đổi trật tự từ trong câu

 Hoạt động giao tiếp:

Trang 18

- Khởi ngữ, các thành phần biệt lập trong câu

- Nghĩa tường minh và hàm ý

 Hoạt động giao tiếp:

- Các phương châm hội thoại

- Xưng hô trong hội thoại

- Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp

- Luyện nói: trình bày ý kiến cá nhân trong trao đổi, thảo luận theo các phương châm hội thoại, quy tắc xưng hô trong hội thoại, các nghi thức hội thoại

Qua việc tổng thuật nội dung chương trình phân môn Tiếng Việt ở nhà trường THCS, người viết nhằm thể hiện mục đích:

- Giúp cho người học cũng như người dạy có một cái nhìn tổng quát

về phân môn Tiếng Việt trong nhà trường THCS Thông qua nội dung tổng thuật để nắm rõ được khung chương trình cần đạt được

Trang 19

- Có một cái nhìn khái lược về phân môn Tiếng Việt trong nhà trường THCS

- Chương trình Tiếng Việt được thể hiện là một chương trình xuyên suốt, có tiếp cận, phát triển

1.1.2 Hai loại học sinh: học sinh người Kinh và học sinh dân tộc

 Học sinh người Kinh rèn luyện kĩ năng viết tiếng mẹ đẻ (TMĐ)

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của nước CHXHCN Việt Nam, là tiếng phổ thông của 90 triệu dân người Việt đang sinh sống trên lãnh thổ và hơn ba triệu người Việt đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài Tiếng Việt cũng chính là ngôn ngữ thứ hai của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam Với một diện tích hơn 329 ngàn km2, kéo dài trên một dải đất hình chữ S, tiếng Việt phân nhánh ra nhiều vùng phương ngữ khác nhau (tiêu biểu là 3 phương ngữ Bắc, Trung, Nam) Nhưng dù đã qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, tiếng Việt vẫn là một ngôn ngữ thống nhất, giữ vai trò là công cụ giao tiếp quan trọng trong một cộng đồng cư dân rộng lớn, đa dạng… Tiếng Việt chính là một nhân tố không thể thiếu được làm nên đặc thù và bản sắc văn hoá Việt Nam

Từ thực tế đó dẫn đến việc dạy học tiếng Việt trở thành một mục tiêu hàng đầu trong các trường học và khi nói đến cụm từ dạy TV với tư cách là TMĐ thì điều đầu tiên cần nghĩ đến là chúng ta đang bàn đến việc dạy TV cho học sinh người Kinh

Ở nước ta dạy học tiếng Việt là một trong số môn học có vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục đào tạo tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Việc dạy và học TV ở cấp Trung học cơ sở rất được

Trang 20

coi trọng; đây là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện những kiến thức mà các em

đã được học ở cấp Tiểu học và tiếp tục rèn luyện những kĩ năng tiếng Việt ở mức độ cao hơn nhằm giúp các em tiếp cận với tri thức khoa học và tri thức ngôn ngữ của mình

Được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp, do đó chương trình môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng đều được chia thành hai vòng: vòng 1 gồm các lớp 6 và 7, vòng 2 gồm các lớp 8 và 9

Chương trình tiếng Việt ở lớp 6 và lớp 7 nhằm giúp học sinh rèn luyện những kĩ năng về từ vựng và ngữ pháp với những nội dung ở mức độ đơn giản Tức là, các em học sinh chỉ cần đạt mức độ là nhận biết, ví dụ như: nhận biết từ đơn, từ phức, từ Hán Việt thông dụng trong văn bản….Đây là

cơ sở ban đầu giúp các em học sinh làm quen với lượng kiến thức mới, khó hơn, không đơn thuần là những kĩ năng nghe – nói – đọc – viết ở cấp Tiểu học Ở đây các em phải ghi nhớ những định nghĩa, khái niệm về từ, các loại

từ, câu và các loại câu…đồng thời, kĩ năng tư duy dần được hình thành để các em có thể nhận biết và vận dụng kiến thức tiếng Việt vào các phân môn khác

Vòng 2, lớp 8 và lớp 9 Đây là vòng tiếp tục chương trình của vòng 1, tuy nhiên với yêu cầu cao hơn Cũng tập trung vào kiến thức từ vựng và ngữ pháp nhưng ở mức độ phức tạp hơn và phải có tính hệ thống kiến thức

từ đó so sánh giữa các loại câu, nhận biết và biết cách sử dụng các biện pháp tu từ vào các bài viết tập làm văn …Và đặc biệt là giúp các em học sinh có khả năng sử dụng những kiến thức tiếng Việt vào các hoạt động giao tiếp một cách hợp lí nhằm đạt hiệu quả giao tiếp

Trang 21

Như vậy, dạy và học tiếng Việt cho học sinh người Kinh nhằm giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ của mình, rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc một cách thông thạo để từ đó các em có thể viết tiếng Việt – tiếng

mẹ đẻ chính xác hơn trong mọi trường hợp Đồng thời giúp các em học sinh bản ngữ hình thành và phát triển năng lực hoạt động giao tiếp bằng TMĐ đạt hiệu quả cao

 Học sinh dân tộc Cơ tu rèn luyện kĩ năng viết tiếng phổ thông

Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em hội tụ 54 nền văn hóa đậm

đà bản sắc, và mỗi dân tộc đều có một thứ ngôn ngữ riêng hay còn gọi là TMĐ của dân tộc đó Song song với việc học nhằm trau dồi và gìn giữ TMĐ của mình đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) còn có nhiệm vụ học tiếng phổ thông (TV) đầy đủ về lí thuyết và kĩ năng thực hành nghe, đọc, nói viết Học sinh DTTS học TV với tư cách là một ngôn ngữ thứ hai hay còn gọi là tiếng phổ thông Tuy vậy, chúng ta có những lí do để coi TV đối với học sinh dân tộc không phải là TMĐ mà cũng không phải là tiếng nước ngoài Bởi, với 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam thì mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng, từ đó, trong mỗi môi trường sử dụng TV khác nhau

làm cho tiếng phổ thông trở thành “nửa bản ngữ”

Trong mỗi gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số thứ tiếng mà họ nói chuyện và giao tiếp hằng ngày với nhau chính là tiếng của dân tộc mình Trẻ em người dân tộc bao giờ cũng học tiếng dân tộc mình trước TV bởi từ khi còn nằm trong bào thai mẹ cho đến lúc sinh ra nó đã được nghe và ảnh hưởng trực tiếp từ người mẹ Môi trường ngôn ngữ xung quanh của một đứa trẻ người dân tộc chủ yếu là TMĐ của dân tộc mình, đó là phương tiện ghi lại thế giới hiện thực trong trí giác của các em, tạo ra khái niệm bao bọc

Trang 22

trong các từ ngữ tiếng dân tộc Ngay cả trong gia đình song ngữ thì môi trường giao tiếp bằng tiếng dân tộc vẫn là chủ yếu, chỉ khi ra ngoài xã hội, gặp gỡ và tiếp xúc với người Kinh thi họ mới chuyển sang sử dụng tiếng phổ thông – tiếng Việt Từ đó cho ta thấy với học sinh dân tộc TV chưa bao giờ được sử dụng như TMĐ mà chỉ là thứ tiếng bổ trợ trong giao tiếp khi cần thiết, do đó để trang bị và giúp các em biết sử dụng thành thạo tiếng Việt là một việc làm cần thiết tuy nhiên phải mất nhiều thời gian nhiều năm tiếp xúc thường xuyên với người Kinh và trong những điều kiện thuận lợi Tâm lí, phong tục tập quán là một trong những lí do để khẳng định với đồng bào DTTS tiếng Việt không phải là TMĐ hay bản ngữ Bởi họ luôn

tự ý thức và nhắc nhở bản thân giữ gìn ngôn ngữ, nuôi dưỡng tiếng nói của dân tộc mình, vì đó là bản sắc văn hóa, là màu sắc cuộc sống, mà máu thịt của họ Họ vẫn sử dụng tiếng Việt nhưng chỉ với tư cách là ngôn ngữ phổ thông, là phương tiện giao tiếp trong cuộc sống và họ vẫn luôn để cho tiếng nói của dân tộc mình ngân vang và tồn tại mãi với thời gian Vì vậy, từ rất lâu tiếng phổ thông hay tiếng của các dân tộc khác vẫn chỉ là ngôn ngữ thứ hai bên cạnh TMĐ của học sinh DTTS

Theo chương trình giáo dục thì ngôn ngữ chuẩn là TV, vì vậy học sinh dân tộc thiểu số muốn tiếp cận tri thức khoa học thì bước đầu tiên là học tiếng Việt Việc học tiếng Việt của học sinh DTTS gặp rất nhiều khó khăn

và bất cập So sánh với HS bản ngữ chúng ta sẽ thấy điều đó

Với các em học sinh người Kinh, ngay từ lúc sinh ra cho tới lúc biết nói, học chữ đã có môi trường giao tiếp tiếng Việt thường xuyên và phong phú, đến trường HS người Kinh đã có vốn TV đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh Các em được học một ngôn ngữ đã sử dụng trong khoảng 5 năm

Trang 23

trước khi tới trường với vốn từ khoảng 4000 – 4500 từ và những cấu trúc cơ bản Bên cạnh đó, các em còn có thời gian và cơ hội sử dụng tiếng Việt liên tục với nhiều người, nhiều lứa tuổi, nhiều trường hợp giao tiếp khác nhau Còn với học sinh DTTS, sinh ra và lớn lên trong môi trường mọi người giao tiếp với nhau bằng thứ tiếng của dân tộc mình, tiếng Việt là ngôn ngữ chỉ biết khi đến trường, với các em chưa có vốn tiếng Việt nào, hoặc nếu có thì chỉ rất hạn chế và lại chưa chuẩn xác trong cách phát âm, cách viết và sử dụng Môi trường học TV của các em còn bó hẹp, chỉ tiếp xúc với thầy cô

và bạn bè trong trường với nội dung các vấn đề được đề cập trong các cuộc giao tiếp chỉ liên quan tới bài học trong khi các vấn đề của đời sống ngôn ngữ lại rất phong phú và đa dạng Đồng thời các em cũng chưa có điều kiện

để tiếp xúc giao tiếp nhiều với người Kinh do đó việc học tiếng Việt đối với

HS DTTS là một điều khó khăn và nhiều bỡ ngỡ

Một khó khăn nữa trong việc dạy học TV của học sinh DTTS đó là sự ngăn cản của tiếng mẹ đẻ Quá trình học TV của HS luôn chịu ảnh hưởng của TMĐ, theo thói quen sử dụng và bản năng các em thường đưa TMĐ của dân tộc mình vào trong quá trình học TV, chính điều đó gây khó khăn

và là sự cản trở việc học TV của các em Tuy nhiên, với những yếu tố tương đồng giữa TV và TMĐ cũng là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học TV đối với HS DTTS

Riêng về việc rèn luyện kĩ năng viết TV cho học sinh dân tộc Cơ Tu để viết được chữ HS cần phải nắm được những lý thuyết về kĩ năng, sau đó thực hành luyện viết sao cho viết đúng chính tả, kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng viết đoạn và bài văn

Trang 24

Với học sinh DTTS khi học ngôn ngữ thứ hai là TV thì các em là những người nói song ngữ Tuy nhiên, TMĐ của HS DTTS chỉ được sử dụng ở môi trường nhất định, với phạm vi nhỏ, còn dùng TV với tư cách là ngôn ngữ quốc gia trong những môi trường giao tiếp có tính quy mô hơn

Là người song ngữ nhưng HS DTTS không giống như những cộng đồng song ngữ khác Ngôn ngữ thứ nhất (dân tộc Kinh) là tiếng mẹ đẻ của cộng đồng ấy Ở đây TMĐ được dùng phổ biến ở quê hương, vùng lãnh thổ

mà cộng đồng song ngữ ấy sinh sống Tuy nhiên, trong một hoàn cảnh hoặc điều kiện nào đó, cộng đồng này phải sử dụng thêm một ngôn ngữ thứ hai không phải tiếng mẹ đẻ để làm công cụ phục vụ giao tiếp, thỏa mãn yêu cầu

tư duy, yêu cầu giao tiếp ở không gian rộng lớn hơn Trong trường hợp này, ngôn ngữ thứ hai có tác dụng tích cực bổ trợ cho ngôn ngữ thứ nhất là TMĐ Bên cạnh đó, có những cộng đồng song ngữ mà mối quan hệ TMĐ

và ngôn ngữ thứ hai không như vậy Khi ngôn ngữ thứ nhất không phải là TMĐ và người sử dụng không thể sử dụng TMĐ để phục vụ giao tiếp thường xuyên Ví dụ như: một số người thuộc dân tộc thiểu số sau một khoảng thời gian học tập và làm việc xa nhà rồi sau đó trở lại làm cán bộ thị

xã, thị trấn vùng cao, thì lúc đó ngôn ngữ thứ nhất của họ là ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ quốc gia – đóng vai trò là công cụ giao tiếp chính, còn ngôn ngữ thứ hai lại là ngôn ngữ của dân tộc mình

1.2 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh THCS

1.2.1 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 6

Chữ viết là phương tiện giao tiếp của con người Muốn người khác đọc được chữ viết của mình thì người viết phải viết đúng, đẹp, rõ ràng Kĩ năng viết là kĩ năng thiên về mặt kĩ thuật, viết chữ đòi hỏi sự công phu khéo léo,

Trang 25

qua chữ viết học sinh rèn luyện được tính thẫm mĩ, cẩn thận Về kĩ năng viết ở mức độ thấp là chép lại, ghi lại các văn bản đã có sẵn Đó là loại bài chính tả Ở mức độ cao hơn là sự sáng tạo các loại văn bản theo đề tài tự chọn hoặc quy định Viết các loại văn bản đòi hỏi phải nắm vững các hệ thống kĩ năng đa dạng, như về mặt ngôn ngữ: diễn ý thành câu, đoạn, kĩ năng kết bài văn, kĩ năng viết câu, dùng từ, dùng dấu câu…Để viết tốt một bài văn không chỉ đòi hỏi ở tư duy, tính sáng tạo mà còn đòi hỏi học sinh phải nhuần nhuyễn trong việc sử dụng kĩ năng viết các loại văn bản thuộc các thể tài khác nhau

Với chương trình môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng thì ở cấp Trung học cơ sở không còn những tiết tập viết,luyện chữ cho học sinh, mà là chương trình luyện tập, rèn luyện kĩ năng viết dựa trên những lý thuyết mà các em đã được học ở chương trình cấp Tiểu học Đồng thời, theo nội dung chương trình dạy học Ngữ văn Trung học cơ sở nhằm mục đích giúp học sinh nắm vững lý thuyết đặc điểm từ loại, câu, cấu trúc ngữ pháp trong câu…từ đó học sinh có thể sử dụng trong quá trình sáng tạo một văn bản mới theo yêu cầu Khi đó kĩ năng viết tiếng Việt của các em được rèn luyện

Nội dung dạy học Tiếng Việt lớp 6 tập trung vào hai nội dung chính là

Từ vựng và Ngữ pháp

 Từ vựng:

+ Cấu tạo từ: học sinh phải nhận biết các từ đơn, từ phức; các loại từ phức: từ ghép, từ láy trong văn bản

Trang 26

+ Các lớp từ: nhận biết các từ mượn trong văn bản, biết cách sử dụng

từ mượn trong nói và viết; hiểu, nhận biết và biết cách sử dụng một số từ Hán Việt thông dụng

+ Nghĩa của từ: nhận biết cách giải thích nghĩa của các từ trong phần chú thích của sách giáo khoa; biết giải thích nghĩa của các từ thông dụng bằng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa; biết dùng từ đúng nghĩa trong nói và viết và sửa các lỗi dùng từ; nhận biết và sử dụng được từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa

 Ngữ pháp:

+ Từ loại: Hiểu thế nào là danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng từ, chỉ từ, phó từ từ đó biết cách sử dụng các từ loại đúng nghĩa và đúng ngữ pháp trong nói và viết; nhớ quy tắc và biết viết hoa các danh từ riêng

+ Cụm từ: Nắm được cấu tạo và chức năng ngữ pháp của cụm danh

từ, cụm động từ, cụm tính từ, từ đó nhận biết và biết cách sử dụng các cụm

từ trong văn bản

+ Câu: Nắm được lý thuyết và nhận biết các thành phần chính trong câu, phân biệt các loại câu nhằm mục đích biết cách sử dụng các loại câu sao cho phù hợp trong nói và viết (câu trần thuật đơn trong viết văn bản tự

sự, miêu tả)

+ Dấu câu: Hiểu công dụng và biết cách sử dụng dấu câu trong viết văn bản tự sự và miêu tả (dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than)

Trang 27

Với nội dung dạy học tiếng Việt lớp 6 như trên cho ta thấy, kĩ năng viết tiếng Việt được thể hiện thông qua việc giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết về các loại từ loại, các kiểu câu, cấu trúc ngữ pháp trong câu, cách sử dụng các loại dấu câu…sao cho phù hợp khi viết văn tự sự, miêu tả

Ví dụ: Sau khi học lý thuyết về câu thì học sinh sẽ xác định được thế

nào là câu trần thuật đơn và biết được cách sử dụng của câu trần thuật đơn khi viết một văn bản tự sự hoặc miêu tả…

Mặt khác, sau mỗi bài lý thuyết tiếng Việt thì sẽ có phần luyện tập để các em thực hành những kiến thức lý thuyết vừa được học, đó có thể là một bài nhận biết từ loại, nhận biết các cụm từ… hoặc cũng có thể là yêu cầu học sinh viết một đoạn văn có sử dụng từ ghép, từ láy, từ Hán Việt…đó là các dạng bài tập nhằm giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và đặc biệt là giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết tiếng Việt tốt hơn với các dạng từ loại đa dạng, phong phú

1.2.2 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 7

Nội dung dạy học tiếng Việt lớp 7 tiếp nối nội dung dạy học tiếng Việt của chương trình lớp 6 Bên cạnh đó, hướng HS đến một lượng kiến thức mới và đa dạng hơn

 Từ vựng:

+ Cấu tạo từ: không còn đơn thuần là nhận biết từ đơn, từ phức mà ở đây các em cần hiểu cấu tạo các loại từ ghép (từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập); các loại từ láy (từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận) từ đó viết đúng

và biết cách sử dụng từ ghép, từ láy

Trang 28

+ Các lớp từ: nắm được cấu tạo của từ ghép Hán Việt, biết được trật

tự các yếu tố Hán Việt trong từ ghép chính phụ Hán Việt Bước đầu biết cách sử dụng từ Hán Việt đúng nghĩa, phù hợp với yêu cầu giao tiếp

+ Nghĩa của từ: Nhận biết và bước đầu phân tích được giá trị của việc dùng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa và chơi chữ bằng từ đồng âm trong văn bản Từ đó biết cách sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa phù hợp với tình huống và yêu cầu giao tiếp; biết cách sửa lỗi dùng từ

 Ngữ pháp:

+ Từ loại: Nhận biết đại từ và các loại đại từ (đại từ để trỏ, đại từ để hỏi); biết tác dụng của đại từ và quan hệ trong văn bản; biết sử dụng đại từ, quan hệ từ trong khi nói và viết

+ Cụm từ: Hiểu nghĩa và bước đầu phân tích được giá trị của việc dùng thành ngữ trong văn bản; biết cách sử dụng thành ngữ trong nói và viết

+ Các loại câu: Hiểu thế nào là câu rút gọn và câu đặc biệt; từ đó biết cách sử dụng hai loại câu sao cho phù hợp trong nói và viết; nhớ đặc điểm của câu bị động và câu chủ động

+ Biến đổi câu: Nắm vững kiến thức lý thuyết về trạng ngữ và biết cách sử dụng trạng ngữ trong viết văn bản; hiểu thế nào là dùng cụm chủ -

vị để mở rộng câu, biết mở rộng câu bằng cách chuyển các thành phần nòng cốt câu thành cụm chủ - vị

Trang 29

+ Dấu câu: Hiểu công dụng của một số dấu câu: dấu chấm phẩy, dấu chấm lửng, dấu gạch ngang; biết sử dụng các dấu câu phục vụ yêu cầu biểu đạt, biểu cảm

 Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

+ Hiểu thế nào là chơi chữ, liệt kê và tác dụng của các biện pháp tu từ

đó

+ Biết cách sử dụng các biện pháp tu từ chơi chữ, liệt kê, điệp ngữ vào thực tiễn nói và viết

Nhìn chung kiến thức về từ vựng và ngữ pháp lớp 7 phức tạp và khó hơn so với lớp 6 Ví dụ: chương trình lớp 6 chỉ yêu cầu “Nhận biết các từ đơn, từ phức; các loại từ phức (từ ghép, từ láy) trong văn bản” thì đến chương trình lớp 7 đề ra yêu cầu cao hơn: biết hai loại từ ghép (ghép chính phụ và ghép đẳng lập), các loại từ láy (từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận) Hay ví dụ như ở lớp 6 học sinh chỉ cần nhận biết từ Hán Việt còn đến lớp 7 còn đòi hỏi các em cần hiểu thế nào là yếu tố Hán Việt và cách cấu tạo đặc biệt của một số loại từ ghép Hán Việt…

Bên cạnh việc củng cố, rèn luyện những kiến thức lý thuyết cũng như một số kĩ năng thực hành của nội dung chương trình lớp 6, chương trình Tiếng Việt lớp 7 còn nâng cao cơ sở lý thuyết cho học sinh và giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết tiếng Việt với các từ loại đa dạng, với các kiểu câu phức tạp, dùng ngôn ngữ viết để bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách linh hoạt và sắc bén

Trong phần Ngữ pháp của chương trình lớp 7, cần lưu ý nội dung: Hiểu thế nào là đại từ, quan hệ từ? Đây là phần kiến thức lý thuyết khá quan trọng mà các em cần nắm rõ để khi đi vào thực hành viết một đoạn văn bất

Trang 30

kĩ các em biết cách sử dụng đại từ phù hợp trong từng ngữ cảnh khác nhau

và yếu tố quan hệ từ cũng khá quan trọng để tạo nên tính logic trong từng câu, đoạn văn

Biết cách sử dụng câu rút gọn và câu đặc biệt trong nói và viết cũng là một nội dung cần nhấn mạnh Với hai dạng câu này người học có thể thực hành viết loại văn bản Nghị luận hay Hành chính – công vụ nhằm thể hiện tính ngắn gọn, súc tích cho đoạn văn, bài văn nhưng vẫn thể hiện được nội dung cần bàn tới

Dấu câu cũng là một nội dung được đề cập lại, nhằm giúp học sinh ghi nhớ sâu công dụng và cách sử dụng của một số loại dấu câu, đồng thời mở rộng thêm một số loại dấu câu khác: dấu chấm lửng, dấu gạch ngang

Để rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh lớp 7, đòi hỏi các em không chỉ cần nắm vững, nắm chắc mà còn phải nắm đủ kiến thức lý thuyết để linh hoạt trong sử dụng Do đó, ở lớp 7,các em được bồi đắp thêm kiến thức về các biện pháp tu từ: chơi chữ, điệp ngữ, liệt kê mà các em sẽ sử dụng vào các bài viết tập làm văn nhằm tạo nên tính thẩm mĩ , tính nghệ thuật cho bài viết từ đó thu hút được người nghe và người đọc

1.2.3 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 8

Để có những kĩ năng viết tiếng Việt thành thạo, nhuẫn nhuyễn và đạt tới tính thẫm mĩ yêu cầu đầu tiên đòi hỏi người học phải thực hiện đó là nắm vững những kiến thức lý thuyết Với phân môn TV lớp 8 nội dung mà người dạy cần truyền đạt cho học sinh hay ngược lại nội dung kiến thức người học cần nắm cũng tập trung vào hai vấn đề chính, đó là: Từ vựng và Ngữ pháp

Trang 31

 Từ vựng:

+ Các lớp từ: Hiểu thế nào là từ ngữ địa phương,biệt ngữ xã hội; hiểu nghĩa và cách sử dụng một số từ Hán Việt thông dụng (biết nghĩa 50 yếu tố Hán Việt thông dụng xuất hiện nhiều trong các văn bản học ở lớp 8)

+ Trường từ vựng: Hiểu thế nào trường từ vựng , biết cách sử dụng các

từ cùng trường từ vựng để nâng cao hiệu quả diễn đạt

+ Nghĩa của từ: Hiểu, nhận biết và biết cách sử dụng từ tượng thanh, tượng hình

 Ngữ pháp:

+ Từ loại: Nắm vững kiến thức về đặc điểm và chức năng ngữ pháp của tình thái từ, trợ từ và thán từ, từ đó biết cách sử dụng trong nói và viết + Các loại câu: Hiểu thế nào là câu ghép; nhận biết quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép: quan hệ nguyên nhân, điều kiện, tăng tiến, tương phản, nối tiếp, giải thích; biết nói và viết đúng các kiểu câu ghép đã được học; hiểu thế nào là câu trần thuật, câu cảm thán, cầu cầu khiến, câu nghi vấn từ đó biết cách nói và viết các loại câu phục vụ cho mục đích nói khác nhau; hiểu và biết cách sử dụng câu phủ định trong nói, viết

+ Dấu câu: Hiểu công dụng và biết cách sử dụng các loại dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấm trong viết câu

 Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ: Nhận biết và biết sử dụng các biện pháp tu từ (nói giảm nói tránh, nói quá và sắp xếp trật tự từ trong văn bản) trong những tình huống nói và viết cụ thể

Theo yêu cầu tích hợp dọc, chương trình Ngữ văn lớp 8 nói chung, chương trình TV nói riêng thuộc vòng 2 (lớp 8, 9) chính vì vậy một số nội

Trang 32

dung đã được học ở vòng 1 (lớp 6 và lớp 7) được tiếp tục học ở vòng 2 với yêu cầu cao hơn

Dựa vào nội dung dạy học TV lớp 8 ở trên ta thấy, mức độ kiến thức được nêu ra đòi hỏi học sinh không chỉ là ghi nhớ mà còn phải có khả năng

tư duy logic Trong phần Ngữ pháp, học sinh cần nắm vững kiến thức lý

thuyết Thế nào là câu ghép, phân biệt câu đơn và câu ghép? Từ đó Nhận

biết quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép: quan hệ nguyên nhân, điều kiện, tăng tiến, tương phản, nối tiếp, giải thích…Có thể thấy, lý thuyết là một

phần không thể thiếu, nhưng bên cạnh đó còn đòi hỏi người học phải biết vận dụng lý thuyết sao cho hợp lý, kết hợp với khả năng từ duy để hiểu vấn

đề ở bề sâu hơn

Hay ở kiến thức về các loại dấu câu, lớp 8 các em được học ba loại dấu câu mới (dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấm) khác với những loại dấu câu trước đó các em đã được học là đều được sử dụng để ngắt ý trong câu hay ngắt câu với câu trong đoạn văn, bài văn Thì ở đây với dấu ngoặc đơn, ngoặc kép, dấu hai chấm nắm vững lý thuyết là một phần, nhưng khi

sử dụng vào quá trình viết văn bản học sinh phải sử dụng hợp lý từng loại dấu để từ hoặc cụm từ trong ngoặc thể hiện được nội dung, ý đồ nghệ thuật của câu văn, đoạn văn Khi đó các em đã thể hiện được tính thẫm mĩ trong

kĩ năng viết của mình

Mặt khác, kiến thức TV cũng là cơ sở để giúp các em học phân môn Tập làm văn tốt hơn Vận dụng lý thuyết TV để sáng tạo nên các thể loại văn bản khác nhau: văn bản thuyết minh, nghị luận…đạt yêu cầu đề lẫn yêu cầu về kĩ thuật, kĩ năng viết TV

1.2.4 Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 9

Trang 33

Chúng ta biết chữ viết là hệ thống kí hiệu của ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Muốn người khác đọc được chữ viết của mình thì người viết phải viết đúng, đẹp, rõ ràng Để có những kĩ năng viết đúng chính tả, đúng ngữ pháp, đẹp, các em phải trải qua một quá trình rèn luyện dài (5 năm cấp Tiểu học và Cấp trung học cơ sở: lớp 6,7,8) Còn với những kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết bài thì đòi hỏi các

em trong quá trình học tập phải tự ý thức rèn luyện thực hành bởi đây là những kĩ năng chủ yếu sử dụng các hoạt động của tư duy với sự kiểm soát của ý thức Cấp THCS đã rèn luyện cho các em kĩ năng đó, mà quan trọng nhất là ở nội dung dạy học TV lớp 9, với những trọng tâm kiến thức cần đạt tới như sau:

 Từ vựng:

+ Các lớp từ: Hiểu và biết cách sử dụng thuật ngữ, đặc biệt trong văn bản khoa học; hiểu nghĩa và biết cách sử dụng từ Hán Việt thông dụng (50 yếu tố Hán Việt thông dụng xuất hiện nhiều nghĩa trong các văn bản học ở lớp 9)

+ Mở rộng và trau dồi vốn từ: Biết các phương thức phát triển vốn từ

cơ bản của tiếng Việt: phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc, phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ, mượn từ ngữ nước ngoài, tạo từ ngữ mới; biết cách trau dồi vốn từ

 Ngữ pháp:

+ Các thành phần câu: Hiểu thế nào là khởi ngữ và các thành phần biệt lập (thành phần gọi – đáp, thành phần phụ chú, thành phần tình thái, thành phần cảm thán; biết cách cách tạo lập câu có khởi ngữ và các thành phần biệt lập trong nói và viết

Trang 34

+ Nghĩa tường minh và hàm ý: Nhận biết và hiểu tác dụng của nghĩa tường minh và hàm ý trong văn bản; biết cách sử dụng hàm ý phù hợp với tình huống giao tiếp

Là lớp cao nhất của cấp THCS chính vì thế mà kiến thức TV lớp 9 khá là khó và phức tạp Mặt khác nội dung dạy học TV lớp 9 chứa đựng những nội dung kiến thức nhằm định hướng, làm cơ sở và mở đầu đối với

học sinh khi bước vào cấp Trung học phổ thông Cụ thể như nội dung Mở

rộng và trau dồi vốn từ học sinh cần nắm được những kiến thức lý thuyết:

Biết nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của vốn từ vựng tiếng Việt; biết các phương thức phát triển vốn từ cơ bản của tiếng Việt (phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc, phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ, mượn từ ngữ nước ngoài, tạo từ ngữ mới)…Trước hết ta thấy với nội dung này người học không thể đơn thuần là học ghi nhớ lý thuyết mà còn phải có sự tư duy thì mới có thể nắm được cốt lõi và thành thạo các phương thức nhằm phát triển vốn từ, để sử dụng trong quá trình sáng tạo văn bản mới Đồng thời, đây là kiến thức mà các em sẽ được gặp lại và tìm hiểu sâu hơn ở chương

trình Phổ thông, ví dụ như bài “ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ”

(chương trình lớp 10)

Kĩ năng viết cần rèn luyện cho học sinh lớp 9 còn thể hiện qua kiến

thức lý thuyết về Thành phần khởi ngữ và các thành phần biệt lập (thành

phần gọi – đáp, thành phần phụ chú, thành phần tình thái, thành phần cảm thán) trong câu Nắm vững lý thuyết để vận dụng một cách sáng tạo, linh

hoạt vào quá trình viết, tức là học sinh biết cách tạo câu có khởi ngữ và các thành phần biệt lập Làm được điều đó thì đoạn văn, bài văn sẽ trở nên màu

Trang 35

sắc hơn, câu văn đa dạng, phong phú cả về hình thức lẫn nội dung, như vậy

sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc thể hiện nội dung văn bản

1.3 Dư luận chung về thực trạng sử dụng TV nói chung và kĩ năng viết TV nói riêng hiện nay

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, tiếng Việt vẫn luôn được gìn giữ, đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hóa, đáp ứng mọi nhu cầu giao tiếp của xã hội Việt Nam Tiếng Việt luôn được người dân Việt yêu quý và gìn giữ bởi nó là linh hồn của nước Việt Thấm nhuần

lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng lâu

đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng

nó, làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp” Ba từ: quốc kì, quốc ca và

quốc ngữ làm nên biểu tượng cho sự hình thành và tồn tại độc lập của một quốc gia Tiếng Việt cùng với lá cờ đỏ sao vàng năm cánh và quốc ca

"đoàn quân Việt Nam đi, trong lòng cứu quốc, " là biểu tượng cho một

nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa độc lập, thống nhất, đa dân tộc, đa văn hoá

và đa ngôn ngữ Đảng, Nhà nước và mỗi người dân Việt Nam luôn luôn bảo vệ và phát triển tiếng Việt Nhờ đó, tiếng Việt của chúng ta mới có được như ngày hôm nay

Trong quá trình phát triển theo hướng hiện đại hoá, tiếng Việt một mặt luôn là một hệ thống cấu trúc ổn định và được phát triển trên nền tảng của sự ổn định ấy, mặt khác, cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, những yếu tố mới luôn nảy sinh và các yếu tố cũ không phù hợp sẽ bị loại trừ Đó chính là những điều đáng quan tâm về thực trạng tiếng Việt trong những năm gần đây

Trang 36

Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là một trong những yêu cầu cấp thiết để bảo vệ Tiếng Việt của ta Thế nhưng thực trạng diễn đạt của người Việt hiện nay khiến chúng ta không khỏi giật mình Trẻ con viết sai, người lớn cũng viết sai; học sinh viết sai và thậm chí cả thầy cô cũng viết sai Theo nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Công Nghệ Thông Tin Đại học Quốc gia Hà Nội và trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ GRID thì tỷ lệ lỗi chính tả của văn bản Tiếng Việt là 7,79%, cao hơn nhiều

so với mức yêu cầu tối thiểu

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đem đến cho tiếng Việt một

sự biến động lớn Sự xuất hiện internet đã làm nảy sinh một loại hình báo chí mới, báo điện tử (trong mối quan hệ với báo in, báo nói, báo hình).Với đặc thù của giao diện báo và tốc độ truyền tin, tiếng Việt trên báo điện tử có một số đặc điểm riêng như tính khẩu ngữ cao (gần với tiếng Việt nói) và cách diễn đạt đơn giản hoá Điều này được thể hiện ở cách dùng từ ngữ ít có

sự cân nhắc, trau chuốt; có nhiều sự pha trộn yếu tố tiếng Anh với cách viết nguyên dạng trong văn bản; câu văn thường ngắn với sự xuất hiện liên tục của các câu quen gọi là câu đặc biệt (thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ hoặc cả hai

mà chỉ có thành phần phụ) Sự xuất hiện điện thoại di động và sự xuất hiện một loạt các phương tiện thông tin cá nhân sử dụng cả tiếng và chữ (hoặc một trong hai hình thức này) như chat, blog, nhắn tin ;theo đó, tiếng Việt trên các phương tiện này được các cá nhân sử dụng hết sức linh hoạt, tự do đến mức tùy tiện theo sở thích cá nhân

Đặc biệt, hiện nay dư luận xã hội đã và đang bày tỏ sự lo lắng và lên tiếng cảnh báo về hiện tượng sử dụng ngôn ngữ cẩu thả, tùy tiện, làm

Trang 37

“vẩn đục” tiếng Việt” Nhiều ý kiến còn nặng nề hơn khi cho rằng, “tiếng Việt đang bị làm hỏng”, “xuống cấp trầm trọng” và “cần phải có biện pháp

cụ thể để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”…

Đó là ngôn ngữ của cư dân mạng Bởi cư dân mạng, mà đa số là các bạn trẻ, chữ viết TV hiện nay đơn giản đến mức không thể đơn giản hơn so với cách viết chính tả tiếng Việt Ngắn gọn đến mức không thể ngắn gọn hơn trong cách diễn đạt, các cách viết, cách diễn đạt theo phong cách cá nhân trên biển báo, pano, tạo ra hàng loạt các biến thể tiếng Việt mới Một

số ý kiến của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Việt cho rằng giới trẻ

đã làm cho tiếng Việt méo mó đi nhiều Ngôn ngữ trên mạng của giới trẻ hiện nay rất bát nháo, điển hình là cách nói chuyện văng mạng (nói cho hả, nói lấy được), cách viết văng mạng bất chấp các chuẩn mực chính tả tối thiểu… cho đến nói bậy, nói lóng và “sáng tạo” ngôn ngữ theo kiểu tùy hứng, dẫn đến ứng xử ngôn ngữ kém: nói trống không, xách mé, tỉnh lược nhiều…Chẳng hạn như gọi bố mẹ là “tiền bối lỗi thời”, xe máy là “con nghẽo”, bạn gái là “gà tóc nâu”, bạn trai là “xe ôm”… Rồi nói tiếp âm các

từ với các tên nổi tiếng: “yết kiêu vừa chứ”, “lỗ tấn to rồi”, “chớ hồng lâu mộng”, “vô lý thường kiệt”… Chưa kể đến những lỗi sai chính tả (viết) nghiêm trọng trong cả những bài thi viết văn

Ngôn ngữ của giới trẻ còn có sự thay đổi trong cách viết, viết một cách ngắn gọn, viết tắt tùy tiện… “ e dag hk pai nak, a dag lm cj do” (em đang học bài nè, anh đang làm gì vậy?); “ThiẾu zẮng a e hUmz thỂ shỐng thÊm 1 fÚt jÂy nÀo nỮa”( Thiếu vắng anh, em không thể sống thêm một phút giây nào nữa); “Minh` xjn chia pun` dzoi ban nhaz.Chien tjnh` cua~

Trang 38

ban sao ma` chan wa’ …” (Mình xin chia buồn với bạn nhé/nha Chuyện tình của bạn sao mà chán quá ) Có thể thấy sự lạ hóa trong cách viết của giới trẻ ngày nay đã tạo ra một loạt từ ngữ mới lạ nhưng sự biến đổi đó làm mất đi vẻ đẹp của từ ngữ Việt như một lối viết cẩu thả, thiếu văn hóa… PGS – TS Phạm Văn Tình (nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt)

trong một lần trả lời PV Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam – VOV.vn cũng

đã nêu lên ý kiến thể hiện quan điểm của mình trước những biến thể ngôn

ngữ của giới trẻ hiện nay, theo ông: “Ngoài sự sáng tạo theo lối tùy hứng,

theo tôi, nguyên nhân của việc các em viết sai chính tả là do hệ thống giáo dục hiện nay không dành nhiều thời gian cho vấn đề luyện và chỉnh sửa chính tả Bên cạnh đó, công nghệ tiên tiến khiến giới trẻ lười, không viết bằng tay mà viết bằng máy tính hoặc trên điện thoại di động với những từ tắt như “ko” (không), “nhg” (nhưng) Điều đó làm cho thái độ của người viết chính tả bị lệch lạc

Giới trẻ có cách biểu đạt và trao đổi riêng trong một khuôn khổ nhất định của chính các em và tạo ra sự khu biệt khá rõ ràng Sự biến thể đó là vẫn chấp nhận được trong ngôn ngữ nói chứ không phải ở chữ viết Và cũng có thể thấy, rất ít khi các em đưa những từ như vậy vào trong các bài thi Chúng ta không thể đứng từ một phía và nói rằng phía kia đang lệch chuẩn quá nặng…”

Sự pha trộn của ngôn ngữ nước ngoài hiện nay cũng đang được dư

luận quan tâm Về sự du nhập từ ngữ nước ngoài mà cụ thể là tiếng Anh,

đây là vấn đề của các ngôn ngữ trên toàn cầu chứ không phải riêng của tiếng Việt Nhiều người đã coi đây là cơn đại hồng thuỷ thứ hai của ngôn

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm