1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ngành quản trị kinh doanh hình thức vừa làm vừa học ở trung tâm đại học mở hà nội tại đà nẵng

111 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.4 Đánh giá chất lƣợng đào tạo học viên tốt nghiệp ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng 42 Bảng 2.5 Thực trạng quản lý chất lƣợng tuyển sinh đầu

Trang 1

ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trịnh Hoàng Yến

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Giả thiết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Bố cục luận văn 6

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC 8

1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 11

1.2.1 Chất lượng, chất lượng đào tạo 11

1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục 14

1.2.3 Quản lý chất lượng, quản lý chất lượng đào tạo 16

1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 18

1.3.1 Đặc điểm của học viên theo hình thức vừa làm vừa học ở trường đại học 18

1.3.2 Đặc trưng và nội dung đào tạo hình thức vừa làm vừa học 19

1.4 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 21

1.4.1 Mục tiêu của quản lý chất lượng đào tạo ở trường đại học 21

1.4.2 Nguyên tắc của quản lý chất lượng ở trường đại học 22

Trang 4

học ở trường đại học 25

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRUNG TÂM ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ NẴNG 34

2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG T M ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ N NG 34

2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 36

2.2.1 Mục đích khảo sát 36

2.2.2 Nội dung khảo sát 37

2.2.3 Tổ chức khảo sát 37

2.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TR KINH DOANH THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRUNG T M ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ N NG 38

2.3.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, HV về tầm quan trọng của chất lượng đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học 38

2.3.2 Kết quả học tập của học viên ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng 40

2.3.3 Thực trạng chất lượng đào tạo ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng 42

2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH QTKD THEO HÌNH THỨC VLVH Ở TRUNG T M ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ N NG 43

2.4.1 Thực trạng quản lý chất lượng tuyển sinh đầu vào ngành QTKD theo hình thức VLVH 43

Trang 5

2.4.4 Thực trạng quản lý chất lượng học tập của học viên 50

2.4.5 Thực trạng quản lý chất lượng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học viên 52

2.4.6 Thực trạng quản lý chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 54

2.4.7 Thực trạng quản lý chất lượng sau đào tạo và đánh giá mức độ đáp ứng công việc của học viên ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm ĐH Mở Hà Nội tại Đà Nẵng 56

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ C NG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH QTKD THEO HÌNH THỨC VỪA HỌC VỪA LÀM Ở TRUNG T M ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ N NG 60

2.5.1 Mặt mạnh 60

2.5.2 Hạn chế 61

2.5.3 Thuận lợi 61

2.5.4 Thách thức 62

2.5.5 Đánh giá chung 63

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRUNG TÂM ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ NẴNG 65 3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 65

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 65

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 65

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 66

3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính lịch sử 67

Trang 6

3.1.7 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 69

3.1.8 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 69

3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TR KINH DOANH THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRUNG T M ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ N NG 70

3.2.1 Nâng cao nhận thức của CBQL, giảng viên và học viên về tầm quan trọng của chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH 70

3.2.2 Phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm bảo về số lượng và chất lượng 73

3.2.3 Tăng cường quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên 76

3.2.4 Tăng cường quản lý chất lượng học tập của học viên 78

3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập 80

3.2.6 Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 82

3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 84

3.4 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 84

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

Ký hiệu các từ viết tắt Nội dung viết đầy đủ

Trang 8

Bảng 2.4 Đánh giá chất lƣợng đào tạo học viên tốt nghiệp ngành

QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng

42

Bảng 2.5 Thực trạng quản lý chất lƣợng tuyển sinh đầu vào theo

hình thức VLVH

44

Bảng 2.6 Thống kê số lƣợng giảng viên tham gia giảng dạy 46

Bảng 2.7 Thực trạng quản lý chất lƣợng giảng dạy của giảng viên 48

Bảng 2.8 Thực trạng quản lý chất lƣợng học tập của học viên 51

Bảng 2.9 Thực trạng quản lý chất lƣợng kiểm tra - đánh giá kết quả

Bảng 2.13 Thực trạng đáp ứng nhu cầu công việc của học viên ngành

QTKD theo hình thức VLVH sau khi tốt nghiệp

59

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện

pháp

85

Trang 9

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, chất lượng đào tạo được xem là yếu tố sống còn của bất kỳ cơ sở giáo dục và đào tạo nào Chất lượng đào tạo không chỉ là điều kiện cho sự tồn tại

mà còn là cơ sở cho việc xác định uy tín, “thương hiệu” của một cơ sở giáo dục và đào tạo, là niềm tin của người sử dụng “sản phẩm” được đào tạo và là động lực của người học Chính vì lẽ đó, việc quan tâm đến chất lượng đào tạo, đặc biệt là ở bậc đại học trở thành một nhu cầu vừa bức xúc trước mắt, vừa là định hướng cho tương lai

Hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận Sau 25 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đã hình thành được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học Mạng lưới các trường phổ thông được xây dựng rộng khắp trên toàn quốc… Mạng lưới cơ sở giáo dục được

mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc Cơ sở vật chất

kỹ thuật của các trường được nâng cấp, cải thiện Số trường lớp được xây dựng mới theo chuẩn quốc gia ngày càng tăng… [11]

Giáo dục đại học đã có những đóng góp to lớn trong sự phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, chất lượng đào tạo còn nhiều vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết thích đáng nhằm đạt những chuẩn mực tiên tiến trong khu vực và trên thế giới “ Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, hiệu quả giáo dục còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước " [23]

Trang 10

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập, việc cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ tiến trình hội nhập toàn diện của đất nước Giáo dục đại học hiện nay hướng đến đạt mục tiêu “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, hội nhập quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những biện pháp hiệu quả trong quá trình quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo ở mọi cấp học đặc biệt là đối với giáo dục đại học là cấp bách, mang tính thời sự cao Những mục tiêu ở trên là thách thức không nhỏ đối với giáo dục đại học, trong đó có đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học

Khác với phương thức đào tạo chính quy, đào tạo không chính quy trong đó có hình thức vừa làm vừa học là phương thức đào tạo linh hoạt, mềm

d o, hình thức học tập đa dạng, thủ tục đơn giản, giúp cho mọi người có nhu cầu, có điều kiện, khả năng có thể tự chọn cho mình một nội dung học tập với hình thức phù hợp Đây là loại hình đào tạo giúp cho mọi người có cơ hội học tập suốt đời, nhằm góp phần nâng cao dân trí, bồi dư ng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Là đơn vị trực thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội, Trung tâm Đại học Mở

Hà Nội tại Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 104/QĐ ngày 05 tháng 5 năm 1994 của Giám đốc Đại học Mở Hà Nội Trung tâm có nhiệm vụ phát triển và đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa và đào tạo tại chỗ, với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên, cũng như việc mở rộng cơ hội học tập cho mọi người đặc biệt là khu vực miền núi ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên

Trang 11

Trong những năm qua, công tác đào tạo đại học nói chung, đào tạo cử nhân ngành Quản trị kinh doanh nói riêng theo hình thức VLVH của Trung tâm ĐH Hà Nội tại Đà Nẵng đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh đó v n còn một số hạn chế, bất cập đặc biệt là chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế so với yêu cầu thực tiễn của công việc và xu thế phát triển kinh tế của đất nước

Với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học của Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng đặc biệt là chất lượng đào tạo cử nhân ngành Quản trị kinh doanh của Trung tâm, chúng

tôi chọn đề tài: “

doanh ” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý chất lượng đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học, tiến hành đánh giá thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ngành quản trị kinh doanh theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành Quản trị kinh doanh theo hình thức VLVH

ở Trung tâm ĐH Mở Hà Nội tại Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

4 Giả thiết khoa học

Chất lượng đào tạo ngành Quản trị kinh doanh theo hình thức VLVH ở

Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng trong thời gian qua đã đạt được

những kết quả đáng kể, tuy nhiên so với yêu cầu v n còn những hạn chế nhất

định

Nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của

giảng viên và học viên về tầm quan trọng của chất lượng đào tạo; phát triển

đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm bảo về số lượng và chất lượng; tăng cường

quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên; tăng cường quản lý chất lượng

học tập của học viên; đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập;

đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, thì sẽ góp phần nâng cao chất

lượng đào tạo ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm ĐH Mở Hà

Nội tại Đà Nẵng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo đại học

theo hình thức VLVH

5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng đào tạo

ngành Quản trị kinh doanh theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở

Hà Nội tại Đà Nẵng

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ngành Quản trị

kinh doanh theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại

Đà Nẵng

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 ó ơ ê yế

6.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Tổng quan các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích phần

tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức để tìm hiểu được những dấu hiệu

Trang 13

đặc thù, bên trong của lý thuyết và trên cơ sở đó tổng hợp lại để tạo ra hệ thống, thấy được mối quan hệ, mối tác động biện chứng để xác lập cơ sở lý luận của luận văn về quản lý chất lượng đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học

6.1.2 Phương pháp phân loại tài liệu

Trên cơ sở phân tích lý thuyết để tiến tới tổng hợp, tiến hành thực hiện quá trình phân loại tài liệu để xác lập cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào

tạo đại học theo hình thức VLVH

6.2 ó ơ ê ự ễ

6.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát

Xây dựng bằng phiếu hỏi là phương pháp thu thập thông tin trên phổ rộng, với số lượng khách thể lớn cho phép người nghiên cứu rút ra kết luận có

độ tin cậy cao Nhằm mục đích thu thập thông tin về thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ngành QTKD theo hình thức VLVH, công tác quản lý chất lượng đào tạo ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm ĐH Mở Hà Nội tại Đà Nẵng, tiến hành khảo sát CBQL, GV, HV Trung tâm ĐH Mở Hà

Nội tại Đà Nẵng

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu các Nghị quyết, chiến lược phát triển, báo cáo tổng kết năm học của Trung tâm ĐH Mở Hà Nội tại Đà Nẵng giai đoạn 2009 – 2012 Đồng thời nghiên cứu CTĐT, tài liệu học tập, kế hoạch giảng dạy của giảng viên

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi với GV, HV những thông tin về thuận lợi khó khăn của họ trong quá trình giảng dạy và học tập, đồng thời những đánh giá của họ về thực trạng QLCL đào tạo ngành QTKD theo hình thức vừa làm vừa học ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng hiện nay nhằm thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát

Trang 14

6.2.4 Phương pháp chuyên gia

Tiến hành trưng cầu ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý thực tiễn về tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp QLCL đào tạo ngành QTKD theo hình thức VLVH ở Trung tâm ĐH Mở Hà Nội tại Đà Nẵng

6.3 ó ơ xử ô

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để tổng hợp, xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra, phương pháp khảo sát

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả luận văn đã đọc và nghiên cứu tổng quan tài liệu về quản lý, quản lý giáo dục; quản lý chất lượng giáo dục làm cơ sở xác lập cơ sở lý luận của luận văn như: Khoa học tổ chức quản

lý - một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1999); Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Trần Kiểm (2004); Quản lý chất lượng trong tổ chức của nhóm tác giả Tạ Thị Kiều An, Ngô Thị Ánh, Nguyễn

Trang 15

Văn Hóa, Nguyễn Hoàng Kiệt, Đinh Phượng Vương (2004); Quản lý chất lượng giáo dục của tác giả Phạm Thành Nghị (2000); Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học ở trường đại học của tác giả Nguyễn Quang Giao (2012);

Bên cạnh đó, tác giả luận văn đã đọc tham khảo các văn bản của Chính phủ, của Bộ GD & ĐT về giáo dục đại học nói chung và về đào tạo đại học theo hình thức VLVH nói riêng như: Luật giáo dục đại học (2012); Quy chế Tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học (2008);

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ N N CH Ư NG

I HỌC HE HÌNH HỨC ỪA ỪA HỌC

1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trong bất kỳ thời đại nào hay ở bất kỳ quốc gia nào, chất lượng giáo dục luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới và của toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước Đối với các trường ĐH cũng như các cơ sở đào tạo hiện nay, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo luôn được xem là nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất

Chính vì vậy, chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục ĐH nói riêng từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề chất lượng, chất lượng đào tạo đại học

Ở nước ngoài, về mặt lý luận, đã có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng, hệ thống đảm bảo chất lượng… Chất lượng là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó

đo lường, và cách hiểu của người này khác cách hiểu người kia

Đối với chất lượng trong giáo dục đại học, các nhà nghiên cứu phân ra

ba trường phái lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm; lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu

Trước tiên, trường phái lý thuyết về sự khan hiếm chứng minh chất lượng tuân thủ theo quy luật hình chóp Chất lượng chỉ có ở số lượng sản phẩm rất hạn chế và nó phụ thuộc vào: Chi phí, nguồn lực; quy mô của trường ĐH; sự tuyển chọn; sự công nhận trong phạm vi toàn quốc

Lý thuyết về sự gia tăng giá trị với Astin (1985) trong tác phẩm

"Achieving educational excellence: A critical assessment of priorities and

Trang 17

practices in higher education" cho rằng các trường đại học có chất lượng cao tập trung vào làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học viên từ khi nhập trường đến khi ra trường

Đại diện của trường phái lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu Bogue và Saunders (1992) "The evidence for quality" cũng như Green D trong "What

is quality in higher education?" cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mạng và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai” Đồng quan điểm này, Green (1994) trong định nghĩa trường ĐH chất lượng cao là “nơi tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu đã chứa đựng ý nghĩa chất lượng và được thực hiện một cách có kết quả

và hiệu quả”

Sallis (1993) trong tác phẩm “Total Quality Management in Education”

đã phân biệt chất lượng theo nghĩa tuyệt đối và tương đối Chất lượng hiểu theo nghĩa tuyệt đối là chất lượng cao, chất lượng cao nhất Quan niệm chất lượng theo nghĩa tương đối là xem xét sản phẩm, dịch vụ theo những thuộc tính mà người ta gắn cho nó Sản phẩm hay dịch vụ có chất lượng khi chúng đạt những chuẩn mực được qui định từ trước Các chuẩn mực chất lượng được người sản xuất xác định theo yêu cầu của khách hàng Sản phẩm, dịch

vụ được coi là chất lượng khi chúng làm hài lòng, vượt nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng

Ở Việt Nam, vấn đề chất lượng và chất lượng giáo dục đại học được sự quan tâm đông đảo các nhà giáo và các nhà khoa học giáo dục Đến nay đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học đã nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học như: Nguyễn Đức Chính (2002) với “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”; Nguyễn Quang Giao (2012) với “Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học ở trường đại học”; Phạm Thành Nghị (2000) với “Quản lý chất lượng đại học”; Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006) với

Trang 18

“Quản lý giáo dục”,… Các công trình này đã đề cập đến các khái niệm về chất lượng, chất lượng giáo dục và các cách tiếp cận khác nhau về chất lượng, trong đó các tác giả đều thống nhất khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu

Ở cấp độ vĩ mô, Bộ GD & ĐT đã ban hành một số văn bản liên quan đến chất lượng giáo dục đại học như: Quyết định ban hành quy định tạm thời

về kiểm định chất lượng trường đại học (2004), Quyết định ban hành quyết định chu kỳ và qui trình kiểm định chất lượng chương trình giáo dục của các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp (2008), Thông báo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học (2009),…

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mặt lý luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý

đã được thực hiện công phu Các công trình nghiên cứu này đề cập công tác quản lý và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục đại học nói riêng như: Tác giả Nguyễn Hữu Châu với báo cáo tổng kết đề tài B2004-CTGD “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục”; tác giả Bùi Mạnh Nhị và các cộng sự với báo cáo tổng kết đề tài “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn từ nay đến năm 2010”;

Đối với chất lượng đào tạo hình thức VLVH, hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và phổ biến rộng rãi Một số công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đi sâu vào việc nghiên cứu đào tạo hệ VLVH dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tác giả Nguyễn Đình Phan với bài báo “Một số ý kiến về đào tạo không chính quy tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 3 năm 2004 đã nêu ra một số biện pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo hệ không chính quy ở Trường Đại học Kinh tế

Trang 19

quốc dân trong những năm tới; tác giả Nguyễn Thị Tuyết với bài báo “Những vấn đề cần được quan tâm trong công tác đào tạo tại chức” đăng trong Kỷ yếu khoa học lần thứ nhất Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐH Đà Nẵng đã bàn về những vấn đề cần làm như: Làm thế nào để tạo được sức hút đối với người dạy và người học đến với các lớp tại chức? Làm thế nào để cải thiện được chế

độ thù lao cho giảng dạy tại chức ở xa và tại chỗ như đối với lớp tại chức các ngành học khác?; tác giả Nguyễn Nam với bài báo “Chất lượng đào tạo hệ tại chức - Vấn đề cần được nghiêm túc nhìn nhận”, đăng trên tạp chí Giáo dục và thời đại chủ nhật số 43

Trong các công trình khoa học các cấp và luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục, các tác giả đã quan tâm đến đổi mới quản lý hình thức VLVH, nâng cao hiệu quả quản lý công tác đào tạo theo hình thức VLVH như: Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến với đề tài “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cử nhân tiếng Anh hình thức vừa học vừa làm tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng”; tác giả Hồ Thị Kim Loan với đề tài “Đổi mới quản lý hình thức đào tạo VLVH của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng”;

Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo ở các trường đại học, song chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ngành quản trị kinh doanh theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Chất lượng, chất lượng đào tạo

C

Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ thời cổ đại, tuy nhiên khái niệm chất lượng nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Nguyên nhân bắt nguồn từ nội

Trang 20

hàm phức tạp của khái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và tính đa diện,

đa chiều của khái niệm này Chất lượng luôn là đề tài của những cuộc tranh cãi gay gắt trên nhiều lĩnh vực Có khá nhiều định nghĩa khác nhau xung quanh khái niệm này

Ở góc độ quản lý, chất lượng được trình bày theo từng cách tiếp cận khác nhau Với cách tiếp cận tiên nghiệm, chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh,

tự nó là cái tốt nhất Theo cách tiếp cận này, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền Sản phẩm đó nổi tiếng trên thị trường và tôn vinh người sở hữu

Với cách tiếp cận từ góc độ tiêu chuẩn, chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn thì chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được qui định trước đó

Với cách tiếp cận khái niệm, chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng thì chất lượng không có nghĩa gì hết nếu không gắn kết với mục đích của sản phẩm đó Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích tuyên bố

Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [29]

Theo từ điển Oxford Poket Dictionary thì chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”

Theo Philip B.Crosby, chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu [38]

Bogue và Saunders thì cho rằng, chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai [37]

Hay chất lượng sản phẩm là tập hợp tính chất sản phẩm có khả năng thoả mãn những m u xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm [8]

Trang 21

Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO 9000:2008), chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, “trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc”

Từ những quan điểm về chất lượng trên, chúng ta thấy chất lượng có những đặc điểm cơ bản sau:

- Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái tốt nhất;

- Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn;

- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng;

- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng;

- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó có khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn

Như vậy, chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó nắm bắt Mặc

dù có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau nhưng có thể khái quát lại chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu và hướng đến thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Trên cơ sở định nghĩa chất lượng, CLĐT được hiểu là sự phù hợp mục tiêu đào tạo và hướng đến thỏa mãn nhu cầu khách hàng bao gồm học viên và người sử dụng lao động

Trang 22

Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào

tạo sau khi hoàn thành CTĐT Năng lực này bao gồm 4 thành tố sau:

- Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo;

- Kỹ năng kỹ xảo thực hành được đào tạo;

- Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo;

- Phẩm chất nhân văn được đào tạo

Do có sự khác nhau về các hoạt động quản lý, cung cấp nguồn lực, thực hiện dịch vụ, đo lường - phân tích và cải tiến nên chất lượng đào tạo đại học ở từng cơ sở sẽ không giống nhau Tuỳ theo mức độ của các quá trình này d n đến chất lượng của từng cơ sở đào tạo đại học thay đổi trong việc đáp ứng yêu cầu của người học và các bên quan tâm

1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:

- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và r nhất

- Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức

- Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng d n, chỉ huy hoạt động của những người khác

Như vậy, QL là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có

tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về

Trang 23

tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định

Trong các diễn đạt trên đây đều cho thấy những điểm chung như sau:

- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, hoạt động xã hội loài người Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển

- Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay nhóm xã hội

- Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người

bị quản lý, họ giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý

Nói một cách tổng quát nhất, có thể xem quản lý một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung

Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ), quyết định (thông qua văn bản hoặc không bằng văn bản), các văn bản luật, chính sách chương trình, mục tiêu Phương pháp quản lý có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể đến khách thể Trong quản lý hiện đại, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học

xã hội và khoa học hành vi

b dụ

QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến QLGD theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát

Trang 24

huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu

QLGD được phân chia thành hai cấp là cấp vĩ mô và vi mô [19]

- Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản

lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ tr mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục

- Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

QLGD là quản lý quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị xã hội khác nhau mà trách nhiệm là của nhà nước và ngành giáo dục từ trung ương đến địa phương và đơn vị cơ sở là nhà trường

1.2.3 Quản lý chất lượng, quản lý chất lượng đào tạo

Trong giáo dục, người ta ngày càng chú trọng đến chất lượng gắn liền với lợi ích của người học và xã hội Không chất lượng, kém chất lượng đồng nghĩa với sự thất bại, với sự lãng phí trong giáo dục Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động hàng loạt các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này

Quản lý chất lượng là tìm ra các biện pháp khắc phục kịp thời các nguyên nhân d n đến sự giảm sút chất lượng đào tạo cũng như ở học viên,

Trang 25

hạn chế đến mức tối đa tỉ lệ học viên không đạt mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã

đề ra ở từng giai đoạn trong suốt quá trình đào tạo

Theo tác giả A Feingenbaum, QLCL “đó là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai những tham số chất lượng, duy trì và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng một cách kinh tế nhất, thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng”

Tác giả Kaoru Ishikawa định nghĩa “QLCL là hệ thống các biện pháp tạo điều kiện sản xuất kinh tế nhất những sản phẩm hoặc những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”

Theo Waren Piper, QLCL đòi hỏi sự cam kết cải tiến liên tục, tựu trung bao gồm 3 hoạt động: Xác lập các mục tiêu và chuẩn mực; Đánh giá thực trạng đối chiếu với chuẩn; Cải tiến thực trạng theo chuẩn Ba hoạt động này được tiến hành đồng thời, liên tục chính là hoạt động QLCL

Theo tác giả Nguyễn Quang Giao, QLCL được quan niệm là [17]:

- Quản lý chất lượng là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả các phương pháp hoặc qui trình nhằm kiểm tra đánh giá xem các sản phẩm có đảm bảo các thông số chất lượng theo yêu cầu, mục đích đã định sẵn không

- Quản lý chất lượng là quản lý theo chuẩn, duy trì cho sự vật trạng thái

ổn định và phát triển, tập trung bao gồm ba hoạt động được tiến hành đồng thời, liên tục, bao gồm: Xác lập các mục tiêu và chuẩn mực, đánh giá thực trạng đối chiếu với chuẩn, cải tiến thực trạng theo chuẩn

- Quản lý chất lượng bao gồm các cấp độ là: Kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, và QLCL tổng thể

Tóm lại, khái niệm quản lý chất lượng được sử dụng trong đề tài là quản lý theo chuẩn nhằm đạt được mục tiêu và hướng đến thỏa mãn nhu cầu khách hàng

Trang 26

b

Quản lý chất lượng đào tạo là quản lý theo các chuẩn mực đã được xác lập nhằm đạt được mục tiêu đào tạo và hướng đến thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Quản lý chất lượng đào tạo bao gồm QLCL tuyển sinh đầu vào, QLCL quá trình đào tạo, QLCL sản phẩm đào tạo hay nói cách khác là trình độ hiện thực hóa hay trình độ đạt được của mục tiêu đào tạo thể hiện ở trình độ phát triển nhân cách của người học sau khi kết thúc quá trình đào tạo

1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.3.1 Đặc điểm của học viên theo hình thức vừa làm vừa học ở trường đại học

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với nhịp độ cao, sự bùng nổ thông tin, những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và công cuộc bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa đang đặt ra những đòi hỏi mới đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trong đó giáo dục hệ VLVH Giáo dục theo hình thức VLVH sẽ ngày càng mở rộng để bổ sung cho giáo dục chính quy, giúp cho thế hệ tr cũng như người lao động đẩy mạnh sự

tự học để tự biến đổi phù hợp với những thay đổi của xã hội

Đối tượng tuyển sinh của loại hình đào tạo này rất đa dạng, bao gồm học sinh vừa tốt nghiệp trung học phổ thông, sinh viên đã tốt nghiệp đại học, cán bộ công chức các cơ quan nhà nước và công ty tư nhân,…

Căn cứ vào các đối tượng tuyển sinh mà quá trình đào tạo hình thức VLVH được phân loại như sau:

- Lớp ĐH tại chức (4,5 năm) là những học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông thi không đậu đại học, học viên đang theo học các trường đại học khác,

Trang 27

những cán bộ công nhân viên chức đã tốt nghiệp trung cấp các ngành hoặc những người chưa có bằng đại học

- Lớp ĐH tại chức (Bằng 2) là những người đã có 1 bằng đại học phần lớn là cán bộ công nhân viên chức đang làm trong các cơ quan nhà nước và các công ty tư nhân

- Lớp ĐH tại chức (Liên thông) là những HV đã tốt nghiệp cao đẳng muốn hoàn chỉnh kiến thức để lấy bằng đại học

Do đó, học viên của hình thức đào tạo này đại bộ phận là những người

đã trưởng thành, có độ tuổi chênh lệch nhau, có sự khác biệt về nhận thức cũng như vốn sống, sở thích, vị trí xã hội, mục đích học tập… Mục tiêu học tập của họ của rất đa dạng và ở nhiều cấp độ khác nhau Do đặc thù công việc,

họ thường đi công tác nên việc chuyên cần và chuẩn bị bài rất hạn chế, song yêu cầu của họ đối với đội ngũ giảng viên và bộ phận phục vụ rất cao Hơn nữa nhu cầu học tập của họ tập trung vào những vấn đề cần giải quyết các tình huống cụ thể trong công việc mà họ đảm nhận thực tế hàng ngày

1.3.2 Đặc trưng và nội dung đào tạo hình thức vừa làm vừa học

Thực hiện theo quyết định số 36/2007/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2007 về việc ban hành quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung CTĐT đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác Các trường tổ chức đào tạo theo khóa học, năm học, thời gian hoàn thành một chương trình theo hình thức VLVH phải dài hơn so với chương trình đó ở cùng trình độ hệ chính quy từ nửa năm đến một năm

Đối với hình thức đào tạo vừa làm vừa học là phương thức giáo dục hết sức mềm d o, linh hoạt, đa dạng về đối tượng, phong phú về nội dung chương

Trang 28

trình Vì vậy, để hiểu về chất lượng giáo dục không chính quy phải có quan điểm động về hình thức đánh giá, rộng về thời gian, mở cho tất cả các loại hình đào tạo và nhân văn đối với các đối tượng

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới bước dần vào kỷ nguyên của xã hội thông tin, trong đó thông tin và tri thức sẽ là lực lượng phát triển xã hội Xã hội thông tin có quan hệ chặt chẽ với giáo dục và đào tạo, đặc biệt là với giáo dục không chính quy Từ xưa tới nay đã có nhiều danh nhân, nhiều tác phẩm

và gần đây có nhiều hội nghị nói về giáo dục suốt đời, giáo dục không chính quy Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ai cũng được học hành” nền giáo dục nước ta luôn luôn phát triển với hai bộ phận lớn đó là bộ phận giáo dục chủ yếu dùng cho thế hệ tr trong

độ tuổi đi học thường gọi là giáo dục chính quy và bộ phận dành cho những người lớn tuổi, những người đang lao động, những người không có cơ hội được học trong hệ giáo dục chính quy hoặc đã ra khỏi hệ đó dưới các hình thức khác nhau, gọi chung là bộ phận giáo dục không chính quy

Chương trình giáo dục cho mọi người ở Châu Á - Thái Bình Dương (APPEAL) phát động năm 1985 và hội nghị cấp cao toàn thế giới về giáo dục cho mọi người tại Jomtien (Thái Lan) năm 1990 đã đề ra các hoạt động xóa

mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục thường xuyên đã đòi hỏi phải mở rộng không ngừng quy mô giáo dục thông qua các hoạt động này Từ cuốn sách “Học để là người” của Edgar Faure năm 1972, quan niệm, giáo dục ngày càng được mở rộng, đó là giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, giáo dục tiếp tục, giáo dục không chính quy phải được coi là bộ phận chủ yếu, quan trọng và cùng với giáo dục chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho người học

Báo cáo của Hội đồng quốc tế về “Giáo dục cho thế kỷ XXI” năm 1996 nêu lên rằng quan niệm về học tập suốt đời là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ

Trang 29

XXI; nó vượt qua sự phân biệt truyền thống giữa giáo dục ban đầu và giáo dục thường xuyên, đáp ứng những thách thức của một thế giới thay đổi nhanh chóng và gắn với quan niệm xã hội học tập Giáo dục không chính quy cùng với các hình thức đa dạng của nó là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống giáo dục, có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong bối cảnh của kỷ nguyên mới và cần được phát triển mạnh mẽ để tương xứng với vai trò đó

Hình thức đào tạo VLVH hiện nay đang được xã hội quan tâm, đặc biệt

về chất lượng Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trước hết là do nhận thức của các cấp, các ngành và của chính HV về vai trò của hình thức VLVH trong hệ thống GD quốc dân; chưa được quan tâm, đầu tư thỏa đáng

về CBQL và cơ sở vật chất, kinh phí; nội dung chương trình, tài liệu học tập chưa phù hợp với thời kỳ hội nhập; phương pháp giảng dạy chưa được cải tiến phù hợp với đối tượng, phổ biến v n là lối dạy thầy truyền đạt, HV tiếp thu thụ động; chưa phân luồng tốt đối tượng học viên

1.4 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.4.1 Mục tiêu của quản lý chất lượng đào tạo ở trường đại học

Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục đại học nói riêng luôn được xem là một trong những yếu tố quan trọng vào bậc nhất thúc đẩy sự phát triển bền vững của mọi quốc gia và luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Sản phẩm đào tạo của các trường ĐH quyết định gần như toàn bộ chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Vì vậy, quản lý chất lượng đào tạo được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tất cả các trường ĐH

Trang 30

Quản lý chất lượng đào tạo ở trường ĐH là việc làm thiết thực nhằm đảm bảo chất lượng học tập của học viên; và không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên

Quản lý chất lượng đào tạo ở trường ĐH bao gồm:

- Tuyển sinh đúng số lượng, chất lượng theo quy định;

- Đảm bảo kế hoạch học tập;

- Giảng dạy theo đúng chương trình và nội dung môn học;

- Xây dựng đội ngũ giảng viên đồng bộ, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng;

- Đảm bảo chất lượng giảng dạy của GV;

- Đảm bảo chất lượng học tập của HV;

- Hoàn thiện nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập;

- Xây dựng và hoàn thiện môi trường giáo dục lành mạnh thống nhất và thường xuyên cải tiến công tác quản lý chất lượng theo mô hình tiến tiến và hiệu quả

1.4.2 Nguyên tắc của quản lý chất lượng ở trường đại học

- QLCL phải được định hướng bởi khách hàng

Khách hàng là người chấp nhận và tiêu thụ sản phẩm Vì vậy, QLCL phải hướng tới khách hàng và nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Các hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường, xây dựng và thực hiện chính sách chất lượng, thiết kế sản phẩm, sản xuất, kiểm tra đều phải lấy việc phục vụ, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng (Giảng viên, học viên, phụ huynh học viên, doanh nghiệp sử dụng lao động) làm mục tiêu

- Coi trọng con người trong QLCL

Con người giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành, đảm bảo, nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy, trong công tác QLCL cần áp dụng các biện pháp và phương pháp thích hợp để huy động hết nguồn lực, tài

Trang 31

năng con người ở mọi cấp, mọi ngành vào việc đảm bảo và nâng cao chất lượng

- QLCL phải được thực hiện toàn diện và đồng bộ

Chất lượng sản phẩm là kết quả tổng hợp của các hoạt động như nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, xây dựng chính sách chất lượng, thiết kế, thực hiện, kiểm tra, giám sát Nó cũng là kết quả của những cố gắng, nỗ lực chung của những người quản lý cũng như những người trực tiếp sản xuất Do vậy, đòi hỏi phải đảm bảo tính toàn diện và sự đồng bộ trong các hoạt động liên quan đến đảm bảo và nâng cao chất lượng

- QLCL phải thực hiện đồng thời với các yêu cầu đảm bảo và cải tiến chất lượng

Đảm bảo và cải tiến chất lượng là sự phát triển liên tục, không ngừng của công tác QLCL Đảm bảo chất lượng bao hàm việc duy trì và cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cải tiến chất lượng bao hàm việc đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả, hiệu suất của chất lượng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng Muốn tồn tại và phát triển, tổ chức phải đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng không ngừng

- Quản lý theo quá trình

Có nhiều quá trình diễn ra trong nhiều lĩnh vực hoặc chức năng của một

tổ chức Những quá trình này có liên quan với nhau, trong đó đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó QLCL theo quá trình là cách quản

lý chú trọng đến mọi khâu liên quan đến việc hình thành chất lượng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các nguyên nhân gây ra chất lượng kém, giảm đáng kể chi phí kiểm tra và sai sót trong khâu kiểm tra

- Nguyên tắc kiểm tra

Kiểm tra là khâu rất quan trọng trong bất kỳ hệ thống quản lý nào Trong QLCL, kiểm tra nhằm mục đích phát hiện và điều chỉnh kịp thời các

Trang 32

sai lệch trong quá trình, tìm nguyên nhân của sai lệch, đề xuất các biện pháp khắc phục và phòng ngừa để đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm ngày

càng hoàn thiện hơn, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng

1.4.3 Lợi ích của việc áp dụng quản lý chất lượng ở trường đại học

Thực hiện đề án đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 -

2012 của Bộ Giáo dục và đào tạo, áp dụng QLCL trong quản lý ở các trường

ĐH là việc làm thiết thực, cần thiết với những lợi ích của việc áp dụng quản

lý chất lượng mang lại đối với nhà trường

Lợi ích có được khi các trường đại học áp dụng quản lý chất lượng trong quản lý ở trường ĐH sẽ làm thay đổi văn hóa làm việc của đơn vị bởi do

nó không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của một bộ phận mà đòi hỏi toàn bộ nhà trường trên xuống dưới, từ lãnh đạo trường đến nhân viên, từ lãnh đạo khoa đến giảng viên đều nỗ lực, tự giác thực hiện tốt công tác giảng dạy và phục vụ với phương châm đảm bảo chất lượng, lấy sự thỏa mãn nhu cầu “khách hàng”

là thước đo thành công trong công việc

Các lĩnh vực quản lý nhà trường sẽ được quy định bằng các văn bản cụ thể và được niêm yết công khai Đồng thời tất cả các công việc sẽ được tiêu chuẩn hóa tạo nhiều thuận lợi cho người học trong liên hệ công việc cũng như các phòng ban trong quá trình giải quyết công việc Bên cạnh đó, chức năng nhiệm vụ nói chung cũng như trách nhiệm đối với từng công việc cụ thể của các bộ phận chức năng (Khoa, Phòng) trong trường được qui định rõ ràng bằng văn bản Điều này khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các đơn vị khi thực thi công việc, đồng thời khuyến khích sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn

vị trong trường nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong công việc

Triển khai áp dụng QLCL ở trường ĐH là cơ sở cho việc không ngừng cải tiến công tác quản lý, lề lối làm việc, giúp xác định các quy trình cần phải

Trang 33

thực hiện để hạn chế sai sót, tiết kiệm thời gian, hạn chế sự phụ thuộc vào các

cá nhân, tạo lòng tin cho lãnh đạo và các bên liên quan

Ngoài ra, các trường ĐH áp dụng QLCL sẽ tăng sự hài lòng đồng thời củng cố niềm tin của người học, của xã hội về chất lượng đào tạo, môi trường học tập thuận lợi, tích cực của nhà trường cũng như đáp ứng nhu cầu hội nhập của giáo dục đại học hiện nay

Áp dụng QLCL trong quản lý ở các trường ĐH là một trong quản lý là một trong những giải pháp quan trọng để nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của người học và của xã hội

1.4.4 Nội dung quản lý chất lượng đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học ở trường đại học

yể s ầ

Hình thức đào tạo vừa làm vừa học có vai trò và vị trí khi hình thức này thỏa mãn nhu cầu học tập suốt đời của mọi người và tạo nên một xã hội học tập Chất lượng tuyển sinh đầu vào là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến CLĐT theo hình thức VLVH Nhìn chung chất lượng tuyển sinh đầu vào của học viên theo hình thức VLVH nói chung và học viên ngành QTKD có chất lượng tương đối thấp do chưa chú ý đến đối tượng chính là cán

bộ công chức muốn học để nâng cao chuyên môn mà chủ yếu học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông không thi đậu đại học hệ chính quy muốn học để xin việc làm Đa số học viên học ở bậc ĐH văn bằng một, văn bằng hai, liên thông đều có thể tham gia thi tuyển sinh đầu vào Vì vậy công tác tuyển sinh hằng năm sẽ có 4 đợt thi tuyển vào các trường ĐH, cao đẳng ở hệ này

Căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh ĐH, cao đẳng hình thức VLVH; công tác tuyển sinh học ngành QTKD theo hình thức VLVHđảm bảo các tiêu chí bao gồm:

- Tổng số học viên theo chỉ tiêu phân bổ;

Trang 34

- Cách thức tuyển sinh và các chế độ ưu đãi;

- Động cơ học tập;

- Đủ sức khỏe để tham gia học tập theo qui định;

- Những người đã có bằng tốt nghiệp ĐH, có nguyện vọng học ĐH ngành học khác theo hệ VLVH, được xét tuyển thẳng vào ĐH theo hình thức VLVH;

- Những người đã có bằng tốt nghiệp CĐ, có nguyện vọng học CĐ ngành học khác theo hình thức VLVH, được xét tuyển thẳng vào CĐ theo hình thức VLVH;

- Những người tốt nghiệp trung học phổ thông tham gia kỳ thi VLVH

do nhà trường tổ chức

b Qu n lý ch ng n d , ơ t o

Quản lý chất lượng việc thực hiện nội dung, CTĐT là quản lý việc thực hiện nội dung CTĐT, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tế của giảng viên và học viên sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian và các yêu cầu của mục tiêu đào tạo Khi xác định đào tạo cho một ngành

cụ thể phải lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đề ra, phát huy được tài nguyên, tiềm năng mà con người đang cần khai thác, phù hợp với phương hướng và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu được tiến bộ khoa học kỹ thuật

Theo điều 4 khoản 3 của quy chế 36 đào tạo đại học và cao đẳng hình

thức vừa làm vừa học của Bộ GD và ĐT được quy định cụ thể đầu khóa học, nhà trường phải thông báo công khai về nội dung và kế hoạch học tập của từng chương trình; quy chế đào tạo; nghĩa vụ và quyền lợi của học viên, phương pháp giảng dạy, hình thức đánh giá, thi, kiểm tra [4]

Trang 35

Theo điều 2 khoản b của quy chế Tuyển sinh đại học và cao đẳng hình

thức vừa làm vừa học quy định cụ thể CTĐT theo hình thức VLVH được thiết

kế như CTĐT chính quy cùng trình độ Kế hoạch đào tạo được xây dựng phù hợp với việc tổ chức đào tạo theo hình thức VLVH [5]

Chương trình đào tạo cần cụ thể, bao quát và là một phức hợp bao gồm

Cấu trúc cụ thể của chương trình đào tạo bao gồm:

- Nhu cầu đào tạo;

- Mục đích, mục tiêu đào tạo;

- Nội dung đào tạo;

- Phương thức đào tạo;

- Các hình thức tổ chức hoạt động đào tạo;

- Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo

Chương trình đào tạo một khoá học là yếu tố then chốt không thể không quan tâm hàng đầu ở bất kỳ một trường học nào Chương trình đào tạo sẽ quyết định nội dung dạy và học; phương pháp dạy học

d y ủ ê

Quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên thực chất là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên và của từng giảng viên Giảng viên

Trang 36

trong các nhà trường đại học có các nhiệm vụ giảng dạy, đồng thời họ phải học tập rèn luyện, bồi dư ng và tự bồi dư ng để nâng cao trình độ nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động giảng dạy Trong quản lý quá trình đào tạo, giảng viên vừa là đối tượng quản lý nhưng cũng vừa là chủ thể quản lý của quá trình đó

Người giảng viên dù dạy ở hệ đào tạo nào cũng cần phải đáp ứng được những yêu cầu đối với người dạy Dạy học theo hình thức vừa làm vừa học, giảng viên phải là người định hướng, tạo điều kiện, đánh thức và tạo hứng thú học tập ở người học, tạo cho họ thấy khả năng và có niềm tin thành công trong việc học,…

Tóm lại, GV phải giúp người học biến những điều học thành năng lực

- GV chuẩn bị đầy đủ các bài giảng, soạn giáo án và đảm bảo giờ giấc lên lớp dạy hàng ngày, để giúp cho học viên tiếp thu và nắm vững kiến thức;

- Thực hiện các giờ dạy lý thuyết/thực hành/tích hợp theo đúng giáo án, đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ theo quy định;

- Biết vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực tự học của người học;

- GV quan tâm hướng d n, bồi dư ng phương pháp tự học cho học viên;

Trang 37

- GV sử dụng công nghệ thông tin, các phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học

d ậ ủ viên

Nếu quản lý hoạt động của giảng viên là khâu quyết định chất lượng đào tạo trong nhà trường, thì quản lý chất lượng học tập của học viên đồng thời có ý nghĩa quan trọng Quản lý chất lượng quá trình học tập của HV ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, tác động đến tinh thần thái độ học tập của học viên đồng thời cũng ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi của học viên khi đang học và sau khi tốt nghiệp

Trong bối cảnh mới, học viên không còn là người thụ động tiếp nhận kiến thức từ giảng viên, mà trở thành một chủ thể tự giác, tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm về quá trình nhận thức của bản thân dưới sự hướng d n và tổ chức của giảng viên Chất lượng của quá trình dạy học phụ thuộc không nhỏ vào việc cá nhân người học có tích cực trong việc học hay không Do đó, để đạt được hiệu quả của việc dạy học, phát huy tính chủ động của người học, người thầy phải đặt người học vào trung tâm việc học của họ, giúp họ chủ động tiếp nhận kiến thức, biến những kiến thức đó thành kiến thức của mình

Quản lý chất lượng học tập của học viên là quản lý tự học, việc thực hiện các nhiệm vụ học tập tại lớp, nghiên cứu của học viên trong quá trình đào tạo

QLCL học tập của học viên có các nội dung cơ bản chủ yếu sau:

- Xây dựng thái độ động cơ học tập của học viên;

- Quản lý nề nếp, kỷ cương trong học tập của học viên;

- Quản lý học tập trên lớp của học viên;

- Quản lý hoạt động tự học, tự bồi dư ng của học viên;

- Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực của học viên trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập;

Trang 38

- Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích học viên phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày càng cao

e ể - ế ậ

ủ ê

Chất lượng đang là vấn đề có tính thời sự được đặt ra đối với mỗi cơ sở đào tạo trong thời điểm hiện nay Để quản lý chất lượng hoạt động kiểm tra -đánh giá kết quả của học viên là một khâu hết sức quan trọng và cần thiết của nhà trường

Quản lý chất lượng hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học viên được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học bao gồm từ việc KT - ĐG bài làm về nhà của học viên, mức độ hiểu bài của HV trong giờ học đến KT - ĐG kết quả học tập của học viên Kiểm tra - đánh giá sẽ giúp xác định rõ, miêu tả cụ thể và đưa ra những minh chứng xác thực về trình độ người học Bên cạnh đó, nhờ có KT - ĐG mà người học cũng tự nhận thấy được mình đã thu nhận được những gì hay đạt được mục tiêu nào trong quá trình học tập Người học cần phải hiểu rằng họ đã xác định được mục tiêu nhất định dựa trên những tiêu chí đánh giá đã được xác định từ trước Đối với giáo viên, KT - ĐG sẽ giúp họ xây dựng được kế hoạch giảng dạy phù hợp đối với mỗi người học

Để quản lý công tác KT - ĐG kết quả học tập của học viên có đạt mục đích, cần xác định trình độ đầu vào của học viên để so sánh, đối chiếu với trình độ đầu ra nhằm KT - ĐG chất lượng giảng dạy và học tập của GV và

HV sau khi hoàn thành chương trình môn học; xem xét nội dung, chương trình môn học, phương pháp dạy có phù hợp với học viên hay không để có kế hoạch điều chỉnh

Trang 39

Công tác kiểm tra - đánh giá học tập của học viên đang thực hiện theo

Quyết định số 36/2007/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Bộ

trưởng Bộ GD & ĐT

Quản lý chất lượng hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của

học viên bao gồm các nội dung:

- Các hình thức ra đề thi trắc nghiệm tự luận, vấn đáp được lựa chọn để

kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học viên tùy thuộc theo từng môn học

cụ thể;

- Công tác tổ chức coi thi, phân công cán bộ coi thi, quán triệt nhiệm vụ

coi thi cho từng cán bộ tham gia coi thi theo đúng quy chế thi, kiểm tra - đánh

giá của Bộ GD & ĐT;

- Công tác chấm thi luôn duy trì chế độ xây dựng quy trình và thao tác

chung; duy trì phân công giảng viên tham gia chấm thi (một bài thi có 2 GV

chấm)

- Công việc ghi điểm, quản lý điểm và lưu giữ bài thi theo đúng quy

chế của Bộ GD & ĐT;

- Việc công bố điểm thi được công khai sau khi chấm thi xong 10 ngày

và đăng trên bảng thông báo, bảng tin của nhà trường;

- Việc lấy thông tin phản hồi từ phía học viên sau 5 ngày khi công bố

kết quả điểm thi

Trong quá trình đào tạo, công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập

của người học là khâu cơ bản, là nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường, là

yếu tố thúc đẩy việc học tập, rèn luyện của người học Nội dung quản lý công

tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của người học tập trung chủ yếu vào:

Xây dựng mục tiêu đào tạo, chuẩn đánh giá, lựa chọn các hình thức, phương

pháp và công cụ kiểm tra - đánh giá phù hợp; Tổ chức quản lý kết quả học tập

Trang 40

f ơ s ậ , ế b d y

Quản lý chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là tăng cường phương tiện vật chất để phục vụ quá trình đổi mới phương pháp dạy học giúp cho giảng viên và học viên thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy và học, thiết bị dạy học cũng tạo điều kiện trực tiếp cho học viên phát huy tích cực chủ động, phát triển năng lực sáng tạo trong tiếp thu kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Quản lý chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống CSVC và trang thiết bị dạy học phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo

Thực tiễn cho thấy CSVC và trang thiết bị dạy học chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục và đào tạo khi được quản lý tốt Do đó, đi đôi với việc đầu tư trang thiết bị, điều quan trọng hơn là phải chú trọng đến việc quản lý CSVC và trang thiết bị dạy học trong nhà trường

Do CSVC và trang thiết bị dạy học là một lĩnh vực mang đặc tính kinh

tế vừa mang đặc tính khoa học - giáo dục nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, khoa học Mặt khác, cần tuân thủ các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục

Như vậy, có thể nói quản lý CSVC và trang thiết bị dạy học là một trong những công việc của người cán bộ quản lý, là đối tượng quản lý trong nhà trường

Quản lý chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học gồm có các nội dung:

- Đảm bảo số lượng phòng học phục vụ dạy học;

- Phòng học đảm bảo về diện tích, ánh sáng;

- Có phòng vi tính, phòng thí nghiệm, thư viện;

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w