1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng kinh tế kế hoạch đà nẵng làm đề tài

130 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác, đào tạo là quá trình hoạt động thống nhất hữu cơ của hai mặt dạy và học trong một cơ sở giáo dục mà trong đó được qui định về tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, qui trì

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hồ Đại Sỹ

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG 5

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo 5

1.1.2 Thành quả nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo 6

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN: 7

1.2.1 Đào tạo và quá trình đào tạo 7

1.2.2 Quản lý, quản lý nhà trường, quản lý quá trình đào tạo 11

1.2.3 Chương trình đào tạo, tín chỉ, khóa học, lớp học: 13

1.3 ĐẶC TRƯNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG 17

1.3.1 Sự khác nhau giữa đào tạo theo học chế tín chỉ với đào tạo theo niên chế 17

1.3.2 Thuận lợi của đào tạo theo học chế tín chỉ 20

1.3.3 Khó khăn của đào tạo theo học chế tín chỉ 21

1.4 YÊU CẦU XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG 22

Trang 4

1.4.1 Yêu cầu về thực hiện mục tiêu đào tạo 22

1.4.2 Yêu cầu về xây dựng nội dung và chương trình đào tạo 23

1.4.3 Yêu cầu về phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo 26

1.4.4 Yêu cầu đối với giảng viên và sinh viên 29

1.4.5 Yêu cầu về các điều kiện đào tạo 30

1.4.6 Yêu cầu về nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo 31

1.5 CÁC NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG 33

1.5.1 Quản lý hoạt động xây dựng và thực hiện mục tiêu đào tạo 34

1.5.2 Quản lý xây dựng và thực hiện chương trình, nội dung đào tạo 34

1.5.3 Quản lý thực hiện phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo 36

1.5.4 Quản lý công tác tuyển sinh 37

1.5.5 Quản lý giảng viên 38

1.5.6 Quản lý sinh viên 38

1.5.7 Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động đào tạo 39

1.5.8 Quản lý việc đánh giá kết quả đào tạo 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 43

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KẾ HOẠCH ĐÀ NẴNG 45

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KẾ HOẠCH ĐÀ NẴNG 45

2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng 45

2.1.2 Khái quát về Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng 47

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KẾ HOẠCH ĐÀ NẴNG 52

2.2.1 Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu đào tạo 52

2.2.2 Thực trạng quản lý xây dựng chương trình và giáo trình đào tạo 53

2.2.3 Thực trạng quản lý giảng viên 55

Trang 5

2.2.4 Thực trạng quản lý sinh viên 57

2.2.5 Thực trạng quản lý công tác tuyển sinh 61

2.2.6 Thực trạng quản lý các hình thức tổ chức đào tạo 62

2.2.7 Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động đào tạo 63

2.2.8 Thực trạng quản lý môi trường đào tạo 66

2.2.9 Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo 67

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KẾ HOẠCH ĐÀ NẴNG 69

2.3.1 Mặt mạnh và nguyên nhân 69

2.3.2 Mặt hạn chế và nguyên nhân 70

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KẾ HOẠCH ĐÀ NẴNG 73

3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 73

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn diện 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 74

3.2 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KẾ HOẠCH ĐÀ NẴNG 74

3.2.1 Tổ chức xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo sát hợp với nhu cầu và yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực lao động của xã hội 74

3.2.2 Triển khai các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và CBQL nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục trong bối cảnh hội nhập 79

Trang 6

3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của đội ngũ

giảng viên và tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên 83

3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành quả nghiên cứu khoa học vào dạy học và thực hành nghề nghiệp 89

3.2.5 Tăng cường trang bị CSVC&TBDH theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và sử dụng có hiệu quả CSVC&TBDH trong hoạt động đào tạo 90

3.3 TÍNH CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

1 KẾT LUẬN 97

2 KHUYẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO) PHỤ LỤC 113

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô đào tạo cao đẳng của Trường từ năm 2007 đến

năm 2011

50

Bảng 2.3 Đánh giá của sinh viên về cơ cấu thời gian giảng của

giảng viên

56

Bảng 2.5 Đánh giá của học viên về các hình thức quản lý bằng

Bảng 2.7 Đánh giá của cán bộ, giảng viên và sinh viên về các hình

thức thi, kiểm tra

68

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nói chung; giáo dục đại học, cao đẳng nói riêng là bước mở đầu của chiến lược con người, là điều kiện cơ bản để hình thành, phát triển và hoàn thiện lực lượng sản xuất của xã hội Con người cùng với trí tuệ đã trở thành nhân tố quyết định phát triển KT-XH

Ngày nay, tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, vượt bậc, trong đó tri thức khoa học, công nghệ và thông tin ngày càng đóng vai trò quyết định đối với nền sản xuất của cải vật chất trên quy mô toàn cầu Điều đó đã mở ra cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam những cơ hội và thách thức lớn

Nhận thức rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta có nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

và đào tạo như: xác định giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; ban hành các chính sách ưu đãi trong giáo dục; tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo; chiến lược phát triển giáo dục 2002 - 2010, được phê duyệt theo quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng chính phủ; nghị quyết số 4/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020; quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 500/TTg ngày 08 tháng 7 năm 1997 về việc xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam đến 2020;

dự thảo chiến lược phát triển giáo dục Việt nam 2009 -2020 lần thứ 14; xã hội hóa giáo dục hoặc cơ chế tự chủ tài chính; tạo điều kiện cho các trường phát huy nội lực khả năng của mình đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

xã hội Nhà trường từ tổ chức khép kín chuyển sang mở rộng, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng Thầy

Trang 10

giáo thay vì truyền thụ tri thức chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin có tư duy và tự phân tích tổng hợp

Để đạt nhiệm vụ này, vấn đề cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục là: “tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục” Trong đó, đổi mới công tác quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Thực tế hiện nay, một trong những lo ngại được ngành giáo dục và toàn

xã hội quan tâm là chất lượng nguồn nhân lực đã qua đào tạo và đặc biệt, có một tỷ lệ không nhỏ trong số sinh viên tốt nghiệp hằng năm không đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để có thể làm việc theo đúng trình độ của văn bằng được cấp; năng lực chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội, của các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp,

Trường cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng có nhiệm vụ chủ yếu đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp quản lý kinh tế cho các tỉnh miền trung và tây nguyên Trong những năm gần đây, Trường đã chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ đối với hệ cao đẳng nhưng việc đáp ứng trước những sự thay đổi về yêu cầu nguồn nhân lực của xã hội còn nhiều hạn chế Trước thực tế đó, một trong những vấn đề quan trọng là tìm biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ, đáp ứng yêu cầu xã hội

Vấn đề nghiên cứu biện pháp quản lý quá trình đào tạo nói chung đã được nhiều tác giả đề cập đến, song vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng, chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống

Trang 11

Từ các lý do trên, bản thân chọn đề tài nghiên cứu: Biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng làm đề tài luận văn tốt nghiệp là phù hợp

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Kinh

tế - Kế hoạch Đà Nẵng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp và đồng bộ với quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo ở trường Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý quá trình đào tạo theo học chế

tín chỉ trong trường Cao đẳng

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý quá trình đào tạo

theo học chế tín chỉ tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ

của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

Trang 12

6 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung vào các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với việc quản

lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

7 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận

b Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp thống kê toán

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn này có các chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín

chỉ trong trường cao đẳng

Chương 2: Thực trạng quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

Chương 3: Biện pháp quản lý quá trình đào tạo tại Trường Cao đẳng

Kinh tế-Kế hoạch Đà Nẵng

Kết luận và Khuyến nghị

Cuối luận văn có danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo

Quá trình đào tạo ở trường cao đẳng được cấu thành bởi các thành tố cơ bản: mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, lực lượng đào tạo (cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên), các điều kiện, môi trường và kết quả đào tạo Nghiên cứu các thành tố này đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới đặc biệt quan tâm Nghiên cứu tổng thể

về quá trình đào tạo với quan điểm vận dụng công nghệ đào tạo đã được UNESCO bàn tới tại hội thảo ở Giơnevơ từ 10-16 tháng 5/1970 Có một số nhà khoa học như GS David G Hawkridge, Janskieviz, GS Lê Khánh Bằng, PGS Đặng Bá Lãm, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Đức, đề cập đến trong nhiều bài viết, bài giảng Việc nghiên cứu một hoặc vài thành tố riêng biệt của quá trình đào tạo cũng đã được nhiều nhà khoa học bàn đến tại các hội nghị, hội thảo và bài báo khoa khọc Bàn về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học ở đại học có GS

Vũ Văn Tảo, GS.TSKH Lâm Quang Thiệp, PGS.TS Hà Thế Truyền, GS Nguyễn Văn Đạo, GS Trần Bá Hoành và GS Nguyễn Như Ý, Bàn về phát triển chương trình đào tạo có TS Lê Viết Khuyến, Phạm Văn Lập, Vấn đề hình thức tổ chức đào tạo, chủ thể đào tạo, đối tượng đào tạo, các điều kiện đào tạo, kết quả đào tạo cũng đã được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới nghiên cứu một cách hệ thống Vận dụng thành quả nghiên cứu các thành tố của quá trình đào tạo vào công tác quản lý một nhà trường cụ thể đã có một số tác giả quan tâm nhưng chưa nhiều

Trang 14

1.1.2 Thành quả nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo

Tại các hội nghị, hội thảo và trên một số công trình khoa học, các nhà khoa học trong nước và thế giới đã nghiên cứu và bàn luận đến các thành tố của quá trình đào tạo trên nhiều phương diện khác nhau và đạt được nhiều thành quả đáng kể Các kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Quan điểm công nghệ đào tạo xem quá trình đào tạo như là một quá trình công nghệ đặc biệt nhằm sản xuất ra những sản phẩm cao cấp, những con người, những cán bộ khoa học kỹ thuật Theo phương thức tiếp cận này, các nhà khoa học đã chỉ ra một số yếu tố cần được chú trọng như sau:

+ Đầu ra của quá trình đào tạo là mục tiêu đào tạo

+ Đầu vào là sinh viên, nội dung, chương trình dạy học, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học (CSVC&TBDH) và các điều kiện khác

+ Các quy trình công nghệ vĩ mô và vi mô nhằm biến đầu vào thành đầu ra

+ Hiệu quả kinh tế của quá trình đào tạo

- Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo đối với sinh viên nước ta trong giai đoạn hiện nay:

+ Các tiềm năng để học tập, nghiên cứu: dựa trên việc đào tạo chuyên môn, nhưng còn bao gồm tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, có năng lực đổi mới tư duy và học lại trong suốt cuộc đời

+ Các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội: Tự tin, quyết tâm cao, tôn trọng các giá trị đạo đức, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới

+ Các kỹ năng sáng nghiệp: các tiềm năng đáp ứng cả việc lãnh đạo

và làm việc đồng đội, làm chủ công nghệ thông tin truyền thông và các công nghệ khác

- Phương pháp dạy học: ba tiêu chí quan trọng để dựa vào khi chọn một

hệ phương pháp dạy và học cho từng trường hợp cụ thể gồm:

Trang 15

+ Nội dung cần thể hiện bao quát là cách học

+ Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học

+ Biện pháp khai thác triệt để là công nghệ thông tin truyền thông

- Kết quả đào tạo: bao gồm chất lượng và hiệu quả đào tạo, không chỉ phản ánh số lượng và chất lượng sinh viên tốt nghiệp mà còn thể hiện ở hiệu quả đào

tạo Hiệu quả đào tạo được thể hiện ở hiệu quả trong và hiệu quả ngoài

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN:

1.2.1 Đào tạo và quá trình đào tạo

a) Đào tạo

Có nhiều cách diễn đạt khái niệm đào tạo tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau của các nhà khoa học Ví dụ:

một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích

Trang 16

nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách” [27, 298]

thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập

và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước” [30, 76]

có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ, để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo tiền

đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả” [13, 45]

tạo là quá trình hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là quá trình truyền đạt và lĩnh hội tri thức một cách

có hệ thống với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật cần thiết Nói cách khác, đào tạo là quá trình hoạt động thống nhất hữu cơ của hai mặt dạy và học trong một cơ sở giáo dục mà trong đó được qui định về tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, qui trình một cách chặt chẽ với những quy định cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, CSVC&TBDH, đánh giá kết quả đào tạo một cách có hệ thống cho mỗi khóa học với những quy định về thời gian, về đối tượng đào tạo cụ thể Quá trình này được tiến hành ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp

và các cơ sở giáo dục khác tùy theo từng cấp học, chương trình và nội dung

Trang 17

đào tạo của mỗi khóa học Kết thúc khóa học, người học đạt những yêu cầu đã được định trước, sẽ được cấp văn bằng tốt nghiệp

b) Quá trình đào tạo

Theo nghĩa rộng, quá trình đào tạo được hiểu là việc tiến hành có trình

tự các khâu từ xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, giáo trình và tài liệu đào tạo, lực lượng đào tạo (chủ yếu là người dạy, người học), chuẩn bị các điều kiện cho hoạt động đào tạo (tài chính, CSVC&TBDH, các mối quan hệ trong môi trường đào tạo), phương thức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo để tiến hành các khâu từ chiêu sinh, đến tổ chức việc dạy và học trong một

cơ sở giáo dục; nhằm giúp người học có được các chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với mục tiêu đào tạo (yêu cầu nguồn nhân lực xã hội đáp ứng sự phát triển KT-XH trong một giai đoạn lịch sử cụ thể)

Cụ thể hơn, quá trình đào tạo là một quá trình giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục của mỗi chuyên ngành đào tạo Quá trình này được cấu trúc bởi các thành tố như mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, chủ thể đào tạo nhà giáo dục và người học (đối tượng đào tạo), các điều kiện đào tạo (CSVC & TBDH, tài chính, môi trường đào tạo), kết quả đào tạo (chất lượng và hiệu quả đào tạo tương xứng với mục tiêu đào tạo) và công tác quản lý đào tạo, Cụ thể:

- Mục tiêu đào tạo “được hiểu là mô hình nhân cách có tính định chuẩn

của cả hệ thống giáo dục quốc dân hay của tổng phân hệ giáo dục được xác định trên cơ sở những yêu cầu của xã hội về người công dân, về nguồn nhân lực; hoặc kết quả được xác định với độ chính xác mà chủ thể phải đạt được ở trong hoặc ở cuối một tình huống sư phạm hoặc một chương trình học tập: có mục tiêu của bậc, cấp, ngành học, mục tiêu của môn học” [29, 272] Nói cách khác là chuẩn nhân cách người học (thể hiện ở 3 lĩnh vực kiến thức, kỹ năng

và thái độ) được xây dựng từ yêu cầu của xã hội, nhà nước, gia đình người

Trang 18

học và người học nhằm đáp ứng sự nghiệp phát triển KT-XH của cộng đồng, địa phương, quốc gia và quốc tế ở mỗi thời kỳ lịch sử

- Nội dung và chương trình đào tạo: những kiến thức cơ bản, toàn diện,

thiết thực, hiện đại, khoa học và có hệ thống theo chuyên ngành đào tạo được sắp xếp theo các môn học để người dạy truyền thụ và người học lĩnh hội nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo

- Phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo: các tri thức về triết học,

giáo dục học, tâm lý học, điều khiển học và kinh tế học, được người dạy và người học vận dụng sáng tạo, phù hợp với các nguyên lý, quy luật, nguyên tắc, nội dung chương trình giáo dục; với đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh của người học và với điều kiện môi trường (ở trên lớp, trong phòng thí nghiệm của trường, cộng đồng, cơ sở sản xuất; bằng giáo dục chính quy, không chính quy, giáo dục từ xa, giáo dục tại chức, chuyên tu, giáo dục thường xuyên, vừa

làm vừa học hoặc bằng E.leanning, ) nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo

- Phương tiện và điều kiện đào tạo: các nguồn lực tài chính, CSVC &

TBDH, phương tiện kỹ thuật dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông,

được người dạy và người học sử dụng trong quá trình đào tạo

- Lực lượng đào tạo: các lực lượng tham gia đào tạo như các chuyên gia

giáo dục, nhà quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, tập thể sư phạm, gia đình

người học, trong đó chủ yếu là người dạy và người học (hai chủ thể của

hoạt động đào tạo)

- Kết quả đào tạo: chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo tương xứng

với mục tiêu đào tạo (kiến thức, kỹ năng và thái độ người học) thông qua hoạt

động kiểm tra và đánh giá

- Môi trường đào tạo: các điều kiện tự nhiên như đặc điểm địa hình, khí

hậu, sinh thái, phát triển dân số, nhu cầu và yêu cầu xã hội về lực lượng lao động có trình độ và kỹ năng thuộc chuyên ngành đào tạo; các luật pháp, cơ

Trang 19

chế tổ chức và quản lý, chiến lược phát triển KT-XH và chiến lược phát triển giáo dục,

- Quản lý đào tạo: việc thực hiện các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức,

chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá của chủ thể quản lý (CTQL) đào tạo nhằm phối hợp hiệu quả nhất sự vận động của các thành tố trong cấu trúc của quá trình đào tạo nêu trên, nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo

Theo khái niệm đào tạo và sự nhận biết các thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo nêu trên, thì để cho các thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo vận động đúng quy luật, hỗ trợ và tương tác với nhau để phát triển tích cực nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo, thì các chủ thể đào tạo (người dạy, người học) phải tạo được sự cộng tác tối ưu nhằm xác định đúng mục tiêu dạy học, lựa chọn nội dung thích hợp, tuân thủ các nguyên tắc và quy luật giáo dục, áp dụng hài hoà các phương pháp và hình thức dạy học, sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học, tận dụng tốt các yếu tố của môi trường (tự nhiên và xã hội); đồng thời tìm được phương thức đánh giá kết quả đào tạo đáng tin nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo

1.2.2 Quản lý, quản lý nhà trường, quản lý quá trình đào tạo

a) Quản lý

Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một

hệ thống tổ chức xã hội ở tầm vĩ mô hoặc vi mô Có nhiều cách thể hiện khác

nhau về khái niệm quản lý Ví dụ:

- W.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

rẻ nhất” [31, 85]

- TS Nguyễn Quốc Chí và PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã viết: “Quản

lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản

Trang 20

lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho

tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, 1]

- Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang thì "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [22, 24]

- Theo GS Nguyễn Văn Đạo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,

có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý”

Qua các định nghĩa trên, chúng tôi thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu:

- Quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức (hệ thống); với các tác động có tính hướng đích của CTQL đến khách thể quản lý, nhằm phối hợp

nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức

- Phải có mục tiêu quản lý và phải có hệ thống phương tiện thực hiện mục tiêu (luật pháp, chính sách và cơ chế; bộ máy tổ chức và nhân sự; cơ sở vật chất; môi trường hoạt động và thông tin cần thiết, )

- Đối tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, hệ thống (tổ chức); có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể,

Như vậy, theo chúng tôi: quản lý một tổ chức là sự tác động có định

hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho

tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu

Trang 21

b) Quản lý nhà trường

Thuật ngữ “Quản lý nhà trường” có thể được xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô Đây là những tác động quản lý giáo dục diễn ra trong phạm vi nhà trường (một phần tử cơ bản của hệ thống giáo dục) Trong nhà trường, hệ bị quản lý là tập thể nhà giáo, nhân viên và tập thể người học; hệ quản lý là lãnh đạo nhà trường Như vậy, quản lý nhà trường cơ bản là tác động đến tập thể nhà giáo để tổ chức phối hợp hoạt động của họ trong quá trình giáo dục nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo

Từ phương diện vi mô của quản lý giáo dục, có thể hiểu “Quản lý nhà

trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”

Chú ý: Quản lý nhà trường cao đẳng về thực chất và trọng tâm là quản lý

quá trình đào tạo, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục Song nó không đơn thuần chỉ quản lý việc dạy của thầy và việc học của trò mà còn bao gồm cả quản lý các điều kiện thiết yếu của việc dạy và học

c) Quản lý quá trình đào tạo

Từ các khái niệm đào tạo, quá trình đào tạo, quản lý, quản lý nhà trường;

có thể hiểu quản lý quá trình đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đào tạo đến các thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo

1.2.3 Chương trình đào tạo, tín chỉ, khóa học, lớp học:

Nhằm đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các trường đại học từ năm học 2008-2009 chuyển đổi từ việc thực hiện chương trình đào tạo theo nhóm SV được chia thành lớp theo kiểu Đông Âu (Xô Viết)

Trang 22

thành thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ kiểu Hoa Kỳ và phải hoàn tất việc chuyển đổi này trước năm 2012

Trước hết cần phải khẳng định rằng phương thức đào tạo theo tín chỉ là sản phẩm trí tuệ của người Mỹ Nó được hình thành và phát triển để phục vụ cho các mục đích cụ thể của nền giáo dục nước này Vào cuối thế kỉ 19, ở Mỹ

số lượng học sinh THPT ghi danh vào học đại học ngày càng tăng, gây áp lực không nhỏ cho quá trình xét tuyển của các trường đại học Học chế tín chỉ được thiết kế ra để ghi lại và giải thích một cách tường minh năng lực học tập của học sinh THPT, giúp chuyên viên các phòng đào tạo của trường đại học có căn cứ tin cậy để tuyển chọn được những SV có chất lượng theo những chuẩn mực mà trường đại học của mình đề ra Từ nguồn gốc đó, hệ thống tín chỉ dần dần thâm nhập vào các trường đại học, lúc đầu chỉ để ghi lại điểm số của các môn học lựa chọn Sau đó, do áp lực của các nhà tài trợ, các tổ chức từ thiện yêu cầu phải làm rõ hay lượng hóa năng lực chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp của SV và hiệu quả đào tạo của trường đại học, học chế tín chỉ được mở rộng

ra tất cả các môn học thuộc các khối kiến thức khác trong chương trình đại học

và trở thành một phương thức đào tạo chính thức

Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp dụng mạnh mẽ trước hết ở các nước Tây Âu từ những năm 1960 Ở Châu Á, tín chỉ cũng được áp dụng mạnh mẽ, bắt đầu từ Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, Trung Quốc Phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng được áp dụng mạnh mẽ ở các nước thuộc khối Liên hiệp Anh ở Nam Thái Bình Dương như Australia, New Zealand, v.v

Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của

Trang 23

thị trường lao động ngoài xã hội Nó cho phép họ chọn trong số những môn học được thiết kế trong chương trình, nhiều trong số những môn học đó có thể thay thế được với nhau và hữu ích như nhau

a) Chương trình đào tạo

- CTĐT là tập hợp các môn học được bố trí giảng dạy học tập kế tiếp nhau theo một trình tự khoa học nhằm đào tạo người học có đủ kiến thức, khả năng, và tiềm năng cho một lĩnh vực khoa học kỹ thuật Người học hoàn thành một CTĐT thì được cấp một văn bằng tương ứng

Nội dung đào tạo trong toàn khóa học của từng ngành ở mỗi trình độ được thể hiện thành CTĐT CTĐT của mỗi ngành đào tạo do Trường xây dựng trên cơ sở khung chương trình do Bộ GD&ĐT qui định và tham khảo chương trình đào tạo của các trường đại học danh tiếng nước ngoài

Mỗi CTĐT có thời lượng từ 120 đến 135 tín chỉ và thời gian đào tạo 4 năm bao gồm các loại môn học như sau:

- Nhóm môn học bắt buộc gồm những môn học chứa đựng những nội dung chính yếu của ngành đào tạo và bắt buộc SV phải tích lũy

- Nhóm môn học tự chọn là những môn học mà SV được tự chọn để tích lũy đủ số tín chỉ qui định Trong đó có thể chia ra:

+ Môn học tự chọn định hướng: là những môn học tự chọn được xác định theo định hướng chuyên ngành của một CTĐT, chứa đựng những nội dung cần thiết mà SV phải chọn trong số các môn học tự chọn do trường qui định theo nhóm ngành và ngành

+ Môn học tự chọn tự do: là các môn học mà SV có thể chọn tùy ý theo học

Việc hoàn tất đạt yêu cầu của CTĐT là điều kiện để người học được cấp bằng cho mỗi cấp học

Trang 24

c) Khóa học

Khóa học là thời gian qui định để SV hoàn tất một CTĐT của một ngành nhất định Khóa học theo một CTĐT được quy thành số học kỳ chính hay thành số tín chỉ tối thiểu phải tích lũy Tùy ngành nghề đào tạo, khóa học được thiết kế từ 8 đến 10 học kỳ chính cho bậc đại học

Tùy theo khả năng, SV có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập, nhưng không được kéo dài quá thời gian qui định cho toàn khóa học như sau: rút ngắn tối đa 2 học kỳ, kéo dài tối đa 4 học kỳ

d) Lớp học

* Lớp sinh viên

Được tổ chức cho các SV học cùng ngành chuyên môn trong cùng một khóa đào tạo Lớp sinh viên được tổ chức tương đối ổn định từ đầu đến cuối khóa học nhằm duy trì các sinh hoạt đoàn thể, các phong trào thi đua, các hoạt động chính trị-xã hội, văn hóa thể thao để quản lý SV trong quá trình học tập theo qui định của Nhà trường

* Lớp môn học

Bao gồm các SV theo học cùng môn học, có cùng thời khóa biểu của môn học Mỗi lớp môn học đều được ký hiệu bằng một mã số riêng Số lượng SV của lớp môn học được Trường quy định

*Đăng ký môn học

Việc đăng ký môn học nhằm giúp cho sinh viên chủ động trong việc xây

Trang 25

dựng kế hoạch học tập của mình, lựa chọn các môn học cho từng học kỳ trong toàn khóa học sao cho phù hợp với năng lực, hoàn cảnh cá nhân nhằm đạt hiệu quả học tập cao nhất Phòng Đào tạo phối hợp với các Khoa/ Bộ môn tổ chức

và hướng dẫn cho SV đăng ký môn học Quy trình đăng ký môn học gồm các bước sau:

- SV được cung cấp toàn bộ các thông tin về kế hoạch tổ chức giảng dạy học kỳ của nhà trường, các thông tin về chương trình đào tạo và kết quả học tập của cá nhân;

- SV chính thức đăng ký môn học của học kỳ mới trên hệ thống máy chủ của trường thông qua tài khoản đã được cấp theo lịch dưới sự hướng dẫn, ký duyệt của GVCN;

- Phòng Đào tạo tiến hành xếp lịch học trên cơ sở ĐKMH của SV, đăng

ký của cán bộ giảng dạy và các nguồn lực của trường;

- SV bổ sung hoặc thay đổi môn học, lớp môn học nhằm hoàn chỉnh thời khóa biểu cá nhân trong thời gian cho phép theo quy định của nhà trường;

- SV nhận bản chính kết quả ĐKMH của học kỳ

- SV được phép đăng ký và theo học bất cứ môn học nào có mở trong học

kỳ nếu thỏa mãn các điều kiện ràng buộc riêng của môn học và nếu lớp môn học tương ứng còn khả năng tiếp nhận SV

- SV bắt buộc phải tuân thủ các quy trình và tiến hành đăng ký môn học

để có thời khóa biểu cá nhân trong mỗi học kỳ

1.3 ĐẶC TRƯNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.3.1 Sự khác nhau giữa đào tạo theo học chế tín chỉ với đào tạo theo niên chế

* Khái niệm chung

Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ

Trang 26

chức đào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng được sự phát triển các ngành nghề của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Cả hai hình thức đào tạo này đều có lịch sử phát triển từ lâu, mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khăn riêng và đều đạt những thành quả rất to lớn

Đào tạo theo niên chế

Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định Ví dụ chương trình đào tạo trình độ đại họcđược cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm SV học hết thời gian quy định nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường

Đào tạo theo học chế tín chỉ

Đào tạo theo học chế tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức, SV tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, được ra trường

* Tổ chức đào tạo

Tổ chức đào tạo theo niên chế

Trong đào tạo theo niên chế lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn

bị sẵn Các lớp SV được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi

có sự biến động SV chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của nhà trường, tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt Tổ chức đào tạo theo niên chế tương đối thuận lợi, kế hoạch đào tạo, lịch giảng, lịch thi

có thể làm ngay từ đầu năm học và ít khi có sự biến động

Trang 27

Tổ chức đào tạo theo tín chỉ

Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, SV phải tự đăng ký lịch học (đăng ký môn học), SV không đăng ký sẽ không có lịch học (thời khóa biểu) Để làm được việc đó SV phải nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường như quyển niên giám, sổ tay SV, nắm vững chương trình đào tạo, các học phần tiên quyết, các học phần học trước, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyên nghiệp… để đăng ký lịch học cho từng học kỳ phù hợp (với quy định của nhà trường và sức học của SV) SV phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự Ưu điểm của cách

tổ chức này là SV có quyền lựa chọn không những các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng ký học thêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề sau này

* Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo theo niên chế

Chương trình đào tạo theo niên chế có khối kiến thức giáo dục đại cương

và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, các khối kiến thức này được bố trí theo một tỷ lệ nhất định Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc và các bậc học tiếp theo (các bậc học cao hơn), còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một trình độ đào tạo Vì vậy chương trình đào tạo của các ngành khác nhau trong cùng lĩnh vực

ít nhiều mang tính độc lập, không tận dụng được hiệu quả đào tạo Trong đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học là rất khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho nhau trong quá trình công tác sau này

Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ

Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong xây dựng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ là các chương trình đào tạo có tính liên thông

Trang 28

cao Một chương trình giáo dục đại học bao giờ cũng có khối kiến thức đại cương và các môn chung như Mác - Lênin, ngoại ngữ, tin học Các môn học này được xây dựng trên một nền chung đáp ứng cho tất cả các ngành đào tạo trong một lĩnh vực đào tạo nhất định Việc tổ chức xây dựng chương trình có tính liên thông ngang cao như vậy sẽ đào tạo cho SV một tiềm năng lớn và SV

có khả năng học liên thông các ngành trong cùng một lĩnh vực

Khi đã xây dựng được chương trình có tính liên thông cao, liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một khối và liên thông dọc từ cao đẳng lên đại học thì SV rất có điều kiện để học cùng một lúc nhiều ngành và trong một thời gian nhất định có thể phấn đấu học được hai hoặc ba bằng cao đẳng, đại học

Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với SV tự học là vấn đề quan trọng nhất,

SV phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ) Muốn tự học trên lớp có hiệu quả SV phải tự đọc tài liệu trước, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng Các vấn đề liên quan đều phải được đánh dấu, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay

SV học ở trên lớp phải chịu khó ghi chép, hăng hái phát biểu, tích cực tìm hiểu, phấn khởi khi được GV kiểm tra, vấn đề gì chưa rõ phải hỏi GV cho rõ, nếu vẫn chưa hiểu thì trao đổi lại với nhóm học tập (thảo luận nhóm) Thảo luận nhóm là hình thức rất quan trọng, qua thảo luận nhóm SV phát hiện những vấn đề mình còn thiếu hụt để tự bổ sung Những vấn đề đã nắm bắt được qua thảo luận nhóm cũng được khẳng định

1.3.2 Thuận lợi của đào tạo theo học chế tín chỉ

Bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ mà quy chế đào tạo là cơ sở để

Trang 29

vận hành, nó luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người học phát huy cao độ năng lực của bản thân

SV tiếp cận được với phương pháp học tập chủ động, lấy tự học và học tập theo nhóm làm chính, để đáp ứng được yêu cầu của đào tạo và quan điểm học tập suốt đời của thời đại ngày nay

SV chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích hợp nhất Với việc được chủ động ghi tên học các học phần khác nhau, SV dễ dàng thay đổi chuyên ngành trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu Với học chế tín chỉ, các trường có thể mở thêm ngành học mới một cách

dễ dàng, giúp cho việc quản lý đạt được hiệu quả cao và giảm giá thành đào tạo

Triển khai học chế tín chỉ trong một trường đại học lớn, đa lĩnh vực có thể

tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi Ngoài ra, SV có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ GV giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học

1.3.3 Khó khăn của đào tạo theo học chế tín chỉ

Đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi cả nhà trường phải có những đổi mới

cơ bản về tư duy tổ chức đào tạo để đáp ứng với yêu cầu chuyển từ đào tạo lấy nhà trường và thầy cô giáo làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm Đây là vấn đề thuộc về tư tưởng nên không thể thay đổi trong một sớm, một chiều mà cần có thời gian trên con đường chuyển đổi từ cái cũ sang cái mới Đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi SV phải nắm chắc quy chế đào tạo và được tư vấn đầy đủ, để lập được kế hoạch học tập thật phù hợp với điều kiện

và năng lực cụ thể của mình

Hiện nay, tính chủ động của SV rất thấp, họ không quen làm việc độc lập, vẫn giữ tư duy dựa vào đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, đội ngũ cán bộ lớp để

Trang 30

nắm bắt những thông tin của nhà trường

1.4 YÊU CẦU XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Quá trình đào tạo ở trường cao đẳng là một quá trình xã hội, nó tồn tại như một hệ toàn vẹn cân bằng động giữa chất lượng đào tạo với yêu cầu phát triển KT-XH; đó là một quá trình sư phạm đặc thù được thể hiện ở những đặc điểm riêng của các yếu tố cấu thành nên nó mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây

1.4.1 Yêu cầu về thực hiện mục tiêu đào tạo

Trước hết mục tiêu giáo dục cao đẳng phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và phải thực hiện được mục tiêu giáo dục đại học là

“đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; tuy nhiên về cấp độ thì mục tiêu giáo dục cao đẳng có đặc thù riêng là giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo

Trong giai đoạn hiện nay, có những yêu cầu chủ yếu của xã hội đối với việc xác định mục tiêu đào tạo trong trường cao đẳng là phải căn cứ vào những yêu tố chủ yếu dưới đây:

từng vùng lãnh thổ, quốc gia và của cả quốc tế

Trang 31

- Thực trạng về năng lực đào tạo (nguồn nhân lực, tài lực, vật lực và quỹ thời gian) của cơ sở đào tạo và của cả hệ thống đào tạo trong điều kiện phát triển KT-XH nói chung

Khi xác định mục tiêu đào tạo của trường cao đẳng, phải chú ý đến một

số yêu cầu cơ bản sau của người học:

- Yêu cầu về khả năng xử lý tình huống, năng lực thực hành, năng lực đặt và giải quyết vấn đề, năng lực lựa chọn và ra quyết định trong hoạt động nghề nghiệp, chuyên môn, trong đời sống thực tế xã hội và cá nhân

- Phát triển năng lực lập luận lôgic, năng lực trừu tượng hóa (tư duy phân tích, tổng hợp, phê phán, khái quát), sáng tạo và chiếm lĩnh vững chắc những nội dung đào tạo cơ bản và chuyên môn cần thiết cho việc thích ứng với thị trường việc làm luôn thay đổi và sự phát triển nhanh của KH&CN; đồng thời

có được những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếp theo đại học hoặc tự nâng cao trình độ

- Phát triển được những thái độ tích cực của người học để có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, hướng tới một thế giới hoà bình và phát triển bền vững

1.4.2 Yêu cầu về xây dựng nội dung và chương trình đào tạo

Theo quy định chung, nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp bản sắc văn hóa dân tộc tương

ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới Trong đó, đối với cao đẳng,

nội dung đào tạo phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ

Trang 32

bản và chuyên ngành cần thiết; chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn

Quy định về chương trình giáo dục cao đẳng được dựa trên quy định về chương trình giáo dục đại học Đó là phải thể hiện mục tiêu giáo dục đại học;

quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác Tuy nhiên, trên

cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng với cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng được quyền xác định chương trình giáo dục của trường mình

Những yêu cầu về chương trình và nội dung đào tạo trong trường cao đẳng bao gồm:

- Tăng trách nhiệm quản lý từ phía nhà nước đối với các trường cao đẳng

ở chỗ Bộ GD&ĐT không chỉ đưa ra khung chương trình như trước đây mà phải nắm đến tận chương trình khung

- Trường cao đẳng được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các hoạt động xây dựng chương trình, giáo trình; kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo

- Cơ cấu chương trình đào tạo cao đẳng được Bộ GD&ĐT quy định:

Phần nội dung cứng ở đây được hiểu là những nội dung cốt lõi, chuẩn mực, tương đối ổn định theo thời gian và bắt buộc phải có trong chương trình

Trang 33

đào tạo của các trường cao đẳng Như vậy, các chương trình khung mà Bộ GD&ĐT ban hành sẽ không phải là một chương trình đào tạo hoàn chỉnh mà chỉ là phần nội dung cứng để đưa vào chương trình đạo tạo, từng trường sẽ bổ sung thêm phần nội dung mềm, cấu trúc, sắp xếp lại các học phần một cách hợp lý để thiết kế ra chương trình đào tạo cụ thể

Xuất phát từ mục tiêu đào tạo; đòi hỏi nội dung, chương trình đào tạo cao đẳng phải vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, sự phát triển của KH&CN, vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển của cộng đồng, địa phương, của đất nước và của thời đại Có nhĩa là phải cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam, cân đối giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và nhân loại, giữa khu vực và toàn cầu, giữa phần cứng và phần mềm Trong đó phải chú trọng đến tính nhân bản, văn hóa, kỹ thuật, tiếp thị, biết quản lý; đồng thời hướng vào việc giáo dục sinh viên làm việc có năng suất, bảo vệ hòa bình, bảo vệ môi trường, quán triệt giáo dục dân số Đặc biệt, nội dung dạy học cần quán triệt bốn mục tiêu nền tảng (bốn trụ cột) của giáo dục thế kỷ thứ XXI (theo UNESCO – 1996): học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống với nhau

Chú ý:

- Chương trình, nội dung đào tạo của những học phần tự chọn thuộc khối kiến thức chuyên môn do chính khoa hoặc bộ môn xây dựng và quản lý

- Đào tạo ở trình độ cao đẳng có hai loại hình chính là: cao đẳng thực

hành (như cao đẳng kỹ thuật, cao đẳng nông nghiệp, cao đẳng nghệ thuật, cao

đẳng y tế, ) và cao đẳng cơ bản (như cao đẳng sư phạm và một số cao đẳng

nghiệp vụ ) Chương trình cao đẳng thực hành có chủ định cung cấp cho người học có kiến thức và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp là chủ yếu, do đó trong chương trình đào tạo khối kiến thức khoa học cơ bản giới hạn ở mức vừa đủ cho người học tiếp thu được các kiến thức nghề nghiệp và một phần

Trang 34

kiến thức nghề nghiệp được bố trí dưới dạng các học phần thực hành (có thể 50% hoặc nhiều hơn) Ngược lại, chương trình cao đẳng cơ bản có thể xem như một bộ phận cấu thành của chương trình đào tạo đại học thuộc ngành tương ứng Do đó, chương trình của các dạng cao đẳng này có thể chứa trọn vẹn hoặc chứa một phần khối lượng kiến thức khoa học cơ bản ở chương trình đại học

1.4.3 Yêu cầu về phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo

Đặc trưng của thời đại là sự thay đổi hết sức nhanh chóng của thời đại về

sự gia tăng kiến thức, về bùng nổ về thông tin (cả về khối lượng và nội dung, tốc độ và phạm vi lĩnh vực), về xu thế hội nhập; thì cách nâng cao chất lượng đào tạo chủ yếu dựa vào kiến thức là ở thế bị động, khó đạt mục tiêu đào tạo con người có bản lĩnh giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra Cho nên phải có một sự chuyển biến mạnh về quan niệm dạy học trong trường cao đẳng là tập trung vào giảng dạy theo hướng tích hợp, liên môn, liên ngành, dựa trên chủ đề, vấn đề để chuẩn bị thái độ, khả năng đặt ra và giải quyết vấn

đề (problem posing and solving ability) cho người học ngay trong quá trình học tập ở trường; đồng thời đặc biệt chú ý đến dạy cách học để sinh viên đạt tới các tầng bậc cao hơn của quá trình nhận thức: biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá

Trên thế giới, các quan điểm sư phạm được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đã được thực hiện hiệu quả ở nhiều quốc gia là:

- “Tăng cường áp dụng các phương pháp sư phạm tích cực hướng vào

việc đặt và giải quyết vấn đề để cho người học nhận ra vấn đề và cung cấp

cho người học tất cả các thông tin và phương tiện cần thiết để giải quyết vấn

đề Phương pháp này vai trò của người thầy chủ yếu là giúp người học tự tìm

ra những giải pháp hơn là cung cấp cho người học những lời giải đáp đã có sẵn” [30, 322] Ngày nay những phương pháp luận được đánh giá cao về chức

Trang 35

năng tích cực hóa có thể bao gồm: dạy học phát triển (dựa vào hoạt động của

người học, trước hết là hoạt động cảm tính, nâng cao tính khái quát của nội

dung học vấn, đồng thời là nội dung của hoạt động học tập); dạy học giải

quyết vấn đề (dựa vào hoạt động tìm tòi, phát hiện, ra quyết định và nghiên

cứu của người học, hướng vào quá trình học tập nhiều hơn vào kết quả cuối

cùng); dạy học hợp tác (dựa vào các quan hệ trao đổi, chia xẻ trong hoạt động

chung, kết hợp những kinh nghiệm, tư tưởng và năng lực cá nhân thành sức mạnh chung, đồng thời phát triển cá nhân nhờ chỗ dựa là sức mạnh chung

này); phát triển giá trị (dựa vào mặt cảm xúc của quá trình học tập để thúc

đẩy nhu cầu và thái độ học tập tích cực) Những phương pháp luận này mở ra khả năng xác định và lựa chọn các mô hình kỹ thuật của những phương pháp dạy học cụ thể

- Áp dụng công nghệ dạy học: tận dụng tối đa những công cụ và công

nghệ mới mà các thành tựu của khoa học, công nghệ mang lại Theo Janskieviz (Ba Lan 1971): “Công nghệ dạy học là hệ thống các chỉ dẫn sử dụng các phương pháp, phương tiện hoạt động, mà kết quả là phải đào tạo được những người tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian ngắn nhất có thể được, với sự chi phí phương tiện một cách tối ưu” [3, 21] Bản chất của công nghệ dạy học là sự áp dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích giáo dục với hiệu quả kinh tế cao Công nghệ này dựa trên cơ sở tổng hợp những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt những thành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học có liên quan như sinh học, tâm lý học, điều khiển học, lý thuyết tổ chức, lôgic học, kinh tế giáo dục học, Công nghệ giáo dục

tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo con người bằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng tối ưu đầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (sinh viên), nội dung dạy học, các điều kiện và phương tiện kỹ thuật dạy học,

Trang 36

các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích cực hóa, chương trình hóa, quy trình hóa và cá thể hóa quá trình dạy học, nhằm đạt được mục đích giáo dục với chi phí tối ưu về thời gian, sức lực, tiền của của giáo viên, sinh viên, nhân dân và nhà nước; nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thời đại

- Phương pháp dạy học (PPDH) cao đẳng gắn liền với thao tác thực hành nghề của sinh viên Đặc điểm này đòi hỏi giảng viên khi lựa chọn các phương pháp dạy học cho từng bộ môn phải hướng vào mục tiêu đào tạo của nhà trường, đặc biệt chú ý đến việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho sinh viên

- PPDH cao đẳng gắn liền với phương pháp tư duy thực tiễn cuộc sống trong xã hội và sự phát triển của KH&CN Đặc điểm này đòi hỏi giảng viên trong quá trình giảng dạy phải luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn KT-XH và

sự phát triển KH&CN, đặc biệt là sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới để cập nhật và kịp thời đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức

tổ chức dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

- PPDH cao đẳng ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học Đặc điểm này đòi hỏi giảng viên trong quá trình dạy học phải chú ý trình bày các tư tưởng, quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau, các cách giải quyết khác nhau về một vấn đề nào đó; đặc biệt phải quan tâm đến việc bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên

- PPDH cao đẳng có tác dụng phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên nhờ các tiện ích của công nghệ thông tin và truyền thông Các đặc điểm này đòi hỏi giảng viên phải tôn trọng ý kiến của sinh viên, hướng dẫn sinh viên tích cực tham gia hoạt động học tập, tự học, nghiên cứu khoa học và sáng tạo ra cái mới; đồng thời biết sử dụng các thiết bị thông tin và truyền thông để khai thác và cập nhật tri thức, phương pháp thực hành

Trang 37

Từ các đặc trưng, từ yêu cầu xã hội nêu trên, đòi hỏi phương pháp và hình

thức đào tạo trình độ cao đẳng phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng; chú trọng cung cấp phương pháp nhận thức, tiếp cận kiến thức và năng lực giải quyết vấn đề; lựa chọn để có hình thức đào tạo đa dạng, phong phú (theo niên chế, theo học chế tín chỉ, chính quy, tại chức, chuyên tu, tổ

chức đào tạo từ xa, )

1.4.4 Yêu cầu đối với giảng viên và sinh viên

a) Giảng viên

Nhìn chung, đội ngũ giảng viên với tri thức, tài nghệ và kinh nghiệm; sự hiểu biết sâu sắc về bản chất quá trình đào tạo ở trường đại học, cao đẳng; là nhân vật trung tâm trong nhà trường quyết định chất lượng đào tạo góp phần hình thành và xây dựng mô hìmh nhà chuyên môn có trình độ cao theo mục tiêu đào tạo bằng giảng dạy, giáo dục và tổ chức cuộc sống cho sinh viên Theo quy định, giảng viên đại học, cao đẳng vừa là nhà khoa học có trình độ cao, chuyên môn sâu, có điều kiện nghiên cứu khoa học và tiếp cận thực tế; vừa là nhà giáo dục, sự sáng tạo sư phạm gắn liền với sáng tạo khoa học Giảng viên giảng dạy môn học đồng thời là người nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện cái mới, mở rộng và làm sâu sắc, phong phú hơn những tri thức khoa học

của bộ môn mình Cụ thể về tiêu chuẩn trình độ giảng viên dạy cao đẳng là có

bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng

Ngoài các yêu cầu về phẩm chất, về trình độ đào tạo, yêu cầu của xã hội đối với giảng viên của các trường cao đẳng hiện nay về năng lực là phải biết tổ chức có hiệu quả hoạt động dạy học theo hướng đổi mới việc thực hiện các phương pháp dạy học để thực sự đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động dạy học

Trang 38

b) Sinh viên

Người học trình độ cao đẳng (sinh viên trường cao đẳng) phải được học

từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành Như vậy sinh viên trường cao đẳng là những thanh niên đã bắt đầu trưởng thành về thể chất, ý thức, trí tuệ; có khả năng tự học, có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, có mục đích và động cơ học tập rõ rệt: học không chỉ để nâng cao trình độ mà còn học để lập thân, lập nghiệp, học để xác lập một chỗ đứng trong xã hội và hòa nhập vào cuộc sống

Yêu cầu của xã hội đối với sinh viên hiện nay là phải học được cách học để tìm đường lĩnh hội mọi tri thức nhân loại, biết vận dụng các tri thức vào thực tiễn lao động và nghiên cứu (phát hiện được vấn đề và biết cách giải quyết vấn đề xuất hiện trong thực tiễn lao động và học tập suốt đời của mình) để mưu sinh cho bản thân, tạo ra việc làm cho xã hội, đóng góp vào sự nghiệp phát triển KT-XH bền vững của cộng đồng, địa phương, quốc gia trên cơ sở hướng tới sự phát triển toàn cầu

1.4.5 Yêu cầu về các điều kiện đào tạo

Các điều kiện đào tạo ở trường đại học, cao đẳng là tổng hợp các yếu tố dưới đây:

- CSVC&TBDH với yêu cầu ngày càng phải được phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa

- Các nguồn tài chính phục vụ đào tạo được huy động không chỉ dựa trên nguồn đầu tư của Nhà nước mà còn có các nguồn khác như: thu học phí, hợp đồng đào tạo, hợp tác trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học, sản xuất

và dịch vụ xã hội,

Trang 39

- Môi trường đào tạo: “tập hợp những không gian, những hoạt động xã hội và cá nhân, những phương tiện về giao lưu, những quá trình, phối hợp lại với nhau và tạo điều kiện thuận lợi để đạt những kết quả đào tạo có hiệu quả nhất” [30, 264]

- Các quan hệ đào tạo rất phong phú và đa dạng, bao gồm: quan hệ với Nhà nước; với Bộ chủ quản hay Bộ chuyên ngành; với các cơ quan hành chính trên địa bàn dân cư; với các tổ chức quốc tế; với gia đình sinh viên; với các cơ sở GD&ĐT khác để thực hiện đào tạo liên thông trong đào tạo

Yêu cầu của xã hội về các điều kiện đào tạo hiện nay là:

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng CSVC&TBDH được trang bị theo hướng xã hội hoá, chuẩn hoá và hiện đại hoá

- Huy động trí lực, tài lực và vật lực của các lực lượng hưởng lợi từ giáo dục cao đẳng (người học, gia đình người học, các cơ quan hoặc doanh nghiệp

sử dụng người học sau tốt nghiệp, ) tham gia vào hoạt động đào tạo của nhà trường

- Kết hợp đồng bộ trách nhiệm của Nhà nước, Bộ chủ quản hay Bộ chuyên ngành; với các cơ quan hành chính trên địa bàn dân cư; với các tổ chức quốc tế để thực hiện tốt các mối quan hệ quản lý, quan hệ liên kết về nhận lực, tài lực, vật lực và tri thức khoa học trong hoạt động đào tạo

1.4.6 Yêu cầu về nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

Kết quả đào tạo ở trường đại học, cao đẳng không chỉ phản ánh số lượng và chất lượng sinh viên tốt nghiệp hằng năm mà còn thể hiện ở hiệu quả đào tạo Theo quy định, những sinh viên tốt nghiệp trường cao đẳng được cấp bằng theo quy định của Luật Giáo dục Cụ thể: sinh viên học hết chương trình cao đẳng, có đủ điều kiện thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì được Hiệu trưởng trường cao đẳng cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng Tuy nhiên, sản phẩm đào tạo của trường cao đẳng được

Trang 40

xã hội yêu cầu phải đánh giá trên hai mặt chủ yếu dưới đây:

a) Chất lượng đào tạo

Hướng chung của chất lượng đào tạo thế kỷ 21 là hình thành những năng lực cơ bản mà thời đại mới đòi hỏi như: năng lực thích ứng với những thay đổi, năng lực tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tự học thường xuyên suốt đời và tự đánh giá Để thực hiện điều này, tiêu chuẩn chất lượng đào tạo cần thực hiện tốt ba mục tiêu:

- Dạy để sinh viên biết thực hành nghề nghiệp: trang bị cho sinh viên

những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật nhất định ở trình độ hiện đại để sau khi ra trường họ có khả năng lập nghiệp

- Dạy để sinh viên biết phương pháp giải quyết vấn đề: trang bị cho sinh

viên phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự học; giúp họ phát triển những phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ sáng tạo

- Dạy để sinh viên có thái độ đúng đắn: trang bị cho sinh viên lý tưởng,

niềm tin; hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan; những phẩm chất đạo đức tốt đẹp; thái độ, tác phong của người cán bộ khoa học kỹ thuật

có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành; năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng với những thay đổi nghề nghiệp, có bản lĩnh tự tìm và tạo được việc làm, có ý thức thực hiện nghĩa vụ công dân,

b) Hiệu quả đào tạo

Hiệu quả đào tạo trong trường cao đẳng bao gồm:

- Hiệu quả trong: được tính trong mối tương quan giữa kết quả đào tạo

so với mục tiêu đào tạo, giữa kết quả đào tạo với nguồn lực đầu tư (nhân lực, vật lực, tài lực) và với thời gian đào tạo

- Hiệu quả ngoài: thể hiện mối tương quan giữa kết quả đào tạo với kết

quả sử dụng sinh viên ra trường và khả năng tiến thân hoặc hòa nhập của sinh

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w