[1-trang 10] Các cuộc khảo sát tại các nước công nghiệp phát triển trên thế giới cho thấy những tổ chức thành công trên thương trường đều là những tổ chức đã nhận thức được và giải quy
Trang 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1Vị thế của chất lượng trong xu thế cạnh tranh toàn cầu:
Các tổ chức trên toàn thế giới hiện nay đều phải đang đối đầu với thách thức “ chất lượng ”.Quá trình toàn cầu hoá, tính cạnh tranh và nhu cầu ngày càng tăng đã và đang làm thay đổi qui luật của cuộc chơi trên thị trường Chất lượng không còn là vấn
đề kỹ thuật đơn thuần nữa mà nó đã trở thành vấn đề mang tính chiến lược hàng đầu, liên quan tới sự sống còn của các tổ chức khác nhau [1-trang 9]
Vấn đề chất lượng được các quốc gia và các tổ chức trên toàn thế giới ngày càng quan tâm, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay.Điển hình là Nhật Bản, vào những năm 1970, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đi tiên phong trong lĩnh vực chất lượng thuộc các ngành công nghệ cao.Sản phẩm của Nhật Bản đã được khách hàng trên khắp các châu lục tiếp nhận và đánh giá cao vì chất lượng tốt, giá thành hạ các doanh nghiệp thuộc mọi quốc gia trên khắp thế giới không có sự lựa chọn nào khác là chấp nhận cạnh tranh.Muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải giải quyết nhiều yếu tố trong đó chất lượng là yếu tố then chốt. [1-trang 9]
Những thay đổi gần đây trên toàn thế giới đã tạo ra được những thách thức mới trong kinh doanh khiến cho các tổ chức càng nhận thức tầm quan trọng của chất lượng [1-trang 10]
Các cuộc khảo sát tại các nước công nghiệp phát triển trên thế giới cho thấy những tổ chức thành công trên thương trường đều là những tổ chức đã nhận thức được và giải quyết thành công vấn đề chất lượng.Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao
về chất lượng và đảm bảo chất lượng, yêu cầu tổ chức phải cung cấp những sản phẩm
có chất lượng đáp ứng và vượt sự mong muốn của họ.Để thu hút khách hàng, các tổ chức cần phải đưa chất lượng vào nội dung quản lý hệ thống hoạt động của mình
Sự phát triển mang tính toàn cầu có thể đặc trưng bởi các điểm sau đây:
- Hình thành thị trường tự do ở cấp khu vực và quốc tế
- Phát triển mạnh mẽ các phương tiện chuyên chở với giá rẻ, đáp ứng nhanh
- Các tổ chức và các nhà quản lý năng động hơn
- Hệ thống thông tin đồng thời và rộng khắp
- Sự bão hoà của nhiều thị trường chủ yếu
- Đòi hỏi chất lượng cao khi sự suy thoái kinh tế là chủ yếu
Trang 22
- Phân hoá khách hàng lẻ và khách hàng công nghiệp
- Nhà cung ứng nhiều, hàng hoá đa dạng, rào cản thuế quan chặt chẽ…
Các đặc điểm trên đã khiến chất lượng trở thành một yếu tố cạnh tranh.Các tổ chức đã chuyển vốn và sản xuất vào những quốc gia có khả năng đem lại lợi nhuận cao hơn.Sản phẩm có thể thiết kế tại quốc gia này, sản xuất tại quốc gia khác và thị trường là toàn cầu [1- trang 11]
Thực tế đã chỉ rõ, chất lượng là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sinh lợi của hoạt động sản xuất kinh doanh.Do đó, các tổ chức sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng sẽ đạt mức lợi nhuận cao hơn so với các tổ chức sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng [1-trang 12]
Chất lượng và cạnh tranh là những vấn đề đặc biệt chú trọng trong thế kỷ XXI –
thế kỷ chất lượng, như J.M Juran, một chuyên gia nổi tiếng người Mỹ đã dự báo.
[1-trang 13]
1.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Ngay khi các hệ thống quản lý chất lượng ra đời, nhiều tổ chức đã không ngừng
nỗ lực để đạt được.Một mặt nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm so đối thủ cạnh tranh, mặt khác nhằm nâng cao giá trị của doanh nghiệp trên thị trường Chính vì thế, vấn đề quản lý chất lượng tuy cũ nhưng lại mới Nó đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cải tiến để theo kịp yêu cầu của thị trường nói chung và người tiêu dung nói riêng Hệ thống chất lượng ISO/TS 16949 được viết riêng cho ngành công nghiệp tự động hóa ô tô, xe máy.Áp dụng cho các hoạt động từ thiết kế, phát triển, sản xuất, lắp đặt và cung cấp dịch vụ cho các sản phẩm liên quan
Là một trong những công ty sản xuất nhíp ô tô, 100% vốn nước ngoài.Chính sách chất lượng của công ty TNHH APM SPRINGS (Viet Nam) là trở thành nhà sản xuất hàng đầu thế giới,nhắm tới sự hoàn hảo,lấy khách hàng là ưu tiên hàng đầu Do nhu
cầu đó nên tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO/TS 16949:2009 giai đoạn 2010-2015” làm báo cáo nghiên cứu khoa học
của mình
Trang 3
1.3 Tư liệu sử dụng:
- Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008
- Tiêu chuẩn kỹ thuật ISO/TS 16949:2009
- Tài liệu về hệ thống quản lý chất lượng tại công ty TNHH APM SPRINGS (Viet Nam)
- Các tài liệu phân tích tình hình áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp
1.4 Mục tiêu nghiên cứu:
- Thấy được thực trạng quản lý chất lượng của công ty APM SPRINGS
- Chỉ ra những nguyên nhân tác động tích cực và tiêu cực đến hệ thống quản lý chất lượng của công ty nói chung và trong khâu sản xuất nói riêng
- Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng tại công ty giai đoạn 2010-2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đọc tài liệu, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, tổng hợp phân tích
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, phỏng vấn…
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Hệ thống quản lý chất lượng tại Công Ty
Trang 44
CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
2.1Các khái niệm cơ bản:
2.1.1 Chất lượng [1-trang 23,24]
Thuật ngữ chất lượng đã được nhiều tác giả định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau, ví dụ:
- Phù hợp với việc sử dụng (Juran)
- Phù hợp với những nhu cầu cụ thể được đặt ra (Crosby)
- Không có khuyết tật, hư hỏng
Về tổng quan, chất lượng có 5 đặc điểm cơ bản :
- Có thể áp dụng cho mọi thực thể
- Là một tập hợp các đặc tính của thực thể thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu
- Là sự phù hợp với nhu cầu
- Phải gắn liền với các điều kiện cụ thể
- Được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, nhưng trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi các Doanh nghiệp phải bán cái mà thị trường cần thì doanh nghiệp nên đứng trên góc độ của người tiêu dùng,của bạn hàng và của thị trường để quan niệm về chất lượng
2.1.2 Quản lý chất lượng: [1- trang 58,59,60]
Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng cũng không phải là một kết quả ngẫu nhiên.Nó là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn đạt được chất lượng một cách mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này.Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng
Trang 5
Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường kinh doanh mới
Như vậy, quản lý chất lượng nằm trong chức năng quản lý chung của một tổ chức tiêu chuẩn ISO 9000:2000 Định nghĩa quản lý chất lượng là các hoạt động phối hợp để chỉ đạo và kiểm soát một tổ chức về mặt chất lượng.Nó tạo nên chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và mục tiêu đề ra
Có thể liệt kê một số khái niệm quản lý chất lượng như sau:
- Kiểm tra chất lượng (Inspection): là hoạt động kiểm tra, phân loại sản phẩm theo tiêu chuẩn định sẳn.[1-trang 60]
- Hoạch định chất lượng (Quality Plan): là một văn bản chỉ rõ các quy trình nào
và các nguồn lực có liên quan được ai sử dụng và sử dụng khi nào cho một dự án, một sản phẩm, một quá trình hay một hợp đồng cụ thể
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control): là kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng: con người, các quá trình, nguyên vật liệu, thiết
bị, môi trường… nhằm thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng Kiểm soát chất lượng tập trung vào các quá trình để hạn chế và khắc phục những sai sót ngay trong quá trình thực hiện Tiến sĩ W.E Deming chia việc kiểm soát chất lượng thành 4 nhiệm
vụ chính, gọi là chu trình PDCA [1-trang 60,61]
Hình 1.1: Chu trình Deming (PDCA)
Chu trình PDCA được áp dụng ở mọi tình huống và mọi lĩnh vực cần đến sự kiểm soát chất lượng.Đây là một mô hình mang tính quốc tế và bao trùm lên mọi
C D
Trang 6- Cải tiến chất lượng QI (Quality Improvement) là những hoạt động nhằm đưa chấy lượng sản phẩm/dịch vụ lên cao hơn nữa, giảm dần khoảng cách giữa mong muốn và chất lựơng thực tế đạt được, tạo ra nhiều lợi ích hơn nữa của chính tổ chức cũng như khách hàng và các bên liên quan
- Kiểm soát chất lượng toàn diện TQC (Total Quality Control) là một hệ thống quản lý nhằm huy động sự nỗ lực hợp tác của mọi thành viên và mọi bộ phận khác nhau của tổ chức vào các quá trình liên quan đến chất lượng. [1- trang 63]
- Quản lý chất lượng toàn diện TQM (Total Quality Management) là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội (theo ISO 8402:1994) [1- trang 64]
Sự tiến triển của các phương thức quản lý chất lượng được biểu diễn ở hình 2
1920 1930 1940 1950 1960 1970 1980 1990
Hình 1.2: Sự tiến triển của các phương thức quản lý chất lượng
2.1.3 Hệ thống quản lý chất lượng: [1-trang 65]
Hệ thống quản lý chất lượng là hệ thống quản lý để chỉ đạo và kiểm soát một tổ chức về chất lượng.Hệ thống quản lý chất lượng bao gồm: cơ cấu tổ chức các quá trình, thủ tục (qui trình) và nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng
Kiểm soát chất lựơng tòan diện (TQC)
Kiểm soát chất lượng (QC) Đảm bảo chất lượng (QA)
TQM
Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Trang 7
Hệ thống quản lý chất lượng là hệ thống để thiết lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và đạt được mục tiêu đó.Một hệ thống quản lý của tổ chức có thể bao gồm các hệ thống quản lý khác nhau, như hệ thống quản lý chất lượng, hệ thống quản lý tài chính, hệ thống quản lý môi trường…
Mục tiêu của hệ thống quản lý chất lượng là giúp đỡ các tổ chức đạt, duy trì và cải tiến chất lượng một cách hiệu quả nhất
2.2 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
2.2.1Giới thiệu về tổ chức ISO: [1-trang 260]
ISO là một tổ chức phi chính phủ quốc tế về tiêu chuẩn hóa, ra đời và hoạt động từ ngày 23/2/1947, Trụ sở chính đặt tại Geneve (Thụy sỹ) ISO có tên đầy đủ là: “The International Organization For Standardization”
Các thành viên của nó là các Tổ chức tiêu chuẩn quốc gia của hơn một trăm nước trên thế giới
Việt Nam là thành viên chính thức thứ 72 từ năm 1977 Cơ quan đại diện là Tổng cục tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng
Nhiệm vụ chính là nghiên cứu xây dựng, công bố các tiêu chuẩn (không có giá trị pháp lý bắt buộc áp dụng) thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
2.2.2 Giới thiệu bộ tiêu chuẩn ISO 9000: [1-trang 261]
2.2.2.1 ISO 9000 là gì?
♦ ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ban hành nhằm đưa ra các chuẩn mực cho hệ thống đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng có thể áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ, kể cả dịch vụ hành chính
♦ ISO 9000 đề cập đến các quá trình chủ yếu trong việc xây dựng, triển khai
hệ thống quản lý chất lượng như: quá trình xây dựng chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, thiết kế triển khai sản phẩm và quá trình cung ứng, kiểm soát quá trình, bao gói, phân phối, lắp đặt, dịch vụ sau khi bán, xem xét đánh giá nội bộ, cải tiến liên tục hệ thống, kiểm soát tài liệu, đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo, đảm bảo đáp ứng đúng và gia tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và các bên có liên quan
Trang 88
2.2.2.2 Sự hình thành và phát triển của bộ ISO 9000:
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO-International Organization for Standardization) được thành lập từ năm 1947, có trụ sở đặt tại Geneva - Thụy Sĩ.Đến hết năm 2007 đã trở thành một hội đoàn toàn cầu vững mạnh với hơn 175 quốc gia và các nền kinh tế là đơn vị thành viên Năm 1977 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ISO với đơn vị đại diện là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Việt Nam
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ra đời vào năm 1987 nhưng đến năm 1995, Tập đoàn APAVE (Pháp) là đơn vị tiên phong đưa các giải pháp quản lý (chất lượng, môi trường, thử nghiệm không phá hủy, tư vấn giám định độc lập ) vào Việt Nam, trong
đó có ISO 9000
Quả thật, ISO 9000 đã góp phần không nhỏ làm thay đổi sự lãnh đạo và quản
lý các doanh nghiệp, thay đổi tư duy quản lý, kinh doanh của nhiều chủ doanh nghiệp, họ đã có tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh, làm ăn có bài bản, không theo kiểu trước mắt Mặc dù gần 15 năm đưa vào xây dựng và áp dụng tại Việt Nam nhưng phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều thắc mắc giữa những con số như: Tại sao có lúc là ISO 9000, 9001, 9001:2000, rồi 9001:2008 hay 9002, 9003.v.v Đối với những ai chưa nắm vững và có nhu cầu tìm hiểu, chúng tôi xin được chia sẽ từ kinh nghiệm của chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO tại Việt Nam, chúng tôi mong muốn mọi người khi xem qua thì một phần nào đó hiểu được sau những con số đó là gì
Hiện nay ISO đã soạn thảo và ban hành gần 20.000 tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ, hệ thống quản lý, thuật ngữ, phương pháp…và đã có một quá trình phát triển phù hợp với từng thời khắc nhất định trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu
Như vậy nói đến ISO 9000 chính là nói đến bộ tiêu chuẩn chung của hệ thống quản lý chất lượng
2.2.2.3 Triết lý của ISO 9000: [17]
¾ Làm đúng ngay từ đầu
Đây là triết lý quan trọng nhất của bộ ISO 9000, triết lý này được hình thành từ
ý tưởng không sai lỗi – ZD (Zero Defect) của quản trị chất lượng tòan diện TQM
Trang 9
Dưới quan điểm của quản lý thì làm thế nào để đạt được cái gọi là “làm đúng ngay
từ đầu”.Nói thì dễ nhưng làm mới khó!Nhưng ta có thể hiểu “làm đúng ngay từ đầu” trước hết là công việc phải được làm đúng ở phân hệ thiết kế Ta phải hiểu thuật ngữ thiết kế theo nghĩa rộng hơn, đó là tiến hành thiết kế toàn bộ các quá trình của hệ thống
¾ Phòng ngừa là chủ yếu
Mọi quá trình phải được kiểm soát chặt chẽ, tránh tình trạng sai rồi mới sửa Phòng ngừa nhằm giảm thiểu sai phạm, giảm chi phí ẩn cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất
¾ Quyết định dựa trên bằng chứng
Doanh nghiệp phải văn bản hóa các công việc, các qui trình sản xuất dẫn đến phân công trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động rõ ràng, tránh đựơc
sự chồng chéo
¾ Đề cao quản trị theo quá trình
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều quá trình diễn ra Những quá trình này có liên quan với nhau, đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó, tàn bộ quá trình tạo thành một hệ thống
¾ Chất lượng sản phẩm do hệ thống chất lượng quyết định
Chất lượng sản phẩm được hình thành suốt trong quá trình sản xuất, kinh doanh của tổ chức
Chúng ta chỉ có thể sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng khi cả hệ thống được tổ chức tốt, hoạt động có hiệu quả Do đó, một sản phẩm có chất lượng thì cần có đội ngũ quản lý có năng lực, trình độ, công nhân có kỹ năng trong công việc Chất lượng của quản lý quyết định chất lượng của sản phẩm theo quy luật nhân quả Chất lượng của quản lý là nguyên nhân, chất lượng sản phẩm là kết quả
2.2.2.4 Tám nguyên tắc quản lý chất lượng : [17]
Trang 10¾ Ghi lại thành hồ sơ những gì đã làm
¾ Tập trung phân tích số liệu
¾ Tìm cơ hội cải tiến
2.2.3 Nội dung cơ bản của bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008:
2.2.3.1.Tiêu chuẩn áp dụng: ISO 9001:2008 ( Phiên bản cũ : ISO 9001:2000) 2.2.3.2 Tiêu chuẩn hướng dẫn:
- ISO 9000 : 2005 Hệ Thống Quản Lý Chất Lượng – Cơ Sở Từ Vựng
- ISO 19011 : 2002 Hướng dẫn đánh giá Hệ Thống Quản Lý Chất Lượng và Môi trường
- ISO 9004: 2009 Quản lý cho sự thành công lâu dài của tổ chức - Một cách tiếp cận quản lý chất lượng Ngày 10/11/09 tổ chức ISO đã chính thức ban hành phiên bản mới này thay cho phiên bản cũ ISO 9004:2000 ISO 9004:2009 thay đổi đáng kể đến cấu trúc và nội dung của các phiên bản trước đó dựa trên kinh nghiệm tám năm thực hiện các tiêu chuẩn trên toàn thế giới và giới thiệu những thay đổi nhằm nâng cao tính nhất quán với tiêu chuẩn ISO 9001 và tiêu chuẩn quản lý hệ thống khác ISO 9004:2009 cung cấp hướng dẫn cho việc cải tiến liên tục các hoạt động tổng thể của
tổ chức một cách hiệu quả dựa trên cách tiếp cận theo quá trình Nó tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng và các bên liên quan khác trong dài hạn và theo một cách cân đối ISO 9004:2009 không dành cho chứng nhận của
bên thứ ba hoặc mục đích hợp đồng và cũng không phải là hướng dẫn để thực hiện tiêu chuẩn ISO 9001:2008
- IWA 4: 2009 Hệ thống quản lý chất lượng – Hướng dẫn áp dụng ISO
9001:2008 cho cơ quan nhà nước
2.2.3.3 Một số hướng dẫn và tiêu chuẩn chuyên ngành
- ISO 10005:2005 Quality management (quản lý chất lượng) Guidelines for quality plans (hướng dẫn hoạch định chất lượng): giúp chuẩn bị, xét duyệt, chấp nhận
và rà soát lại kế hoạch về chất lượng
Trang 11
- ISO 10006:2003 Quality management (quản lý chất lượng) - Guidelines to quality in project management (hướng dẫn về chất lượng trong quản lý dự án): giúp đảm bảo chất lượng của các quy trình cũng như các sản phẩm của dự án
- ISO/DIS 10012 :2002 Quality assurance requirements for measuring equipment (yêu cầu về bảo hiểm chất lượng đối với thiết bị đo đạc) - Part 1: Metrological confirmation system for measuring equipment (phần 1: hệ thống xác nhận đo lường đối với các thiết bị đo đạc): hướng dẫn các điểm chính của hệ thống định cỡ nhằm đảm bảo việc đo lường chính xác
- ISO/TR 10013:2001 Guidelines for qualitymanagement system documentation (hướng dẫn đối với các tài liệu hệ thống quản lý chất lượng): cung cấp các hướng dẫn cho việc phát triển và duy trì các chỉ dẫn chất lượng, tuỳ theo các nhu cầu đặc thù
- ISO 10014:2006 Quality management – Guidelines for realizing financial and economic benefits (hướng dẫn nhận biết lợi ích tài chính và kinh tế): cung cấp chỉ dẫn nhằm thu được lợi ích kinh tế từ ứng dụng của quản lý chất lượng
- ISO 10015:1999 Quality management (quản lý chất lượng) - Guidelines for training (hướng dẫn đào tạo): cung cấp chỉ dẫn về phát triển, thực hiện, duy trì và cải thiện về chiến lược và hệ thống dành cho các hoạt động đào tạo có ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
- ISO/TS 16949:2009 Quality specification for automotive industry supply chain – Yêu cầu chất lượng đối với các nhà cung cấp thiết bị trong ngành ô tô
Tính chất của hoạt động sản xuất và các nhu cầu đặc thù là các yếu tố xác định tiêu chuẩn nào doanh nghiệp sẽ áp dụng để đạt được mục tiêu tốt nhất
• Nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng
• Tăng uy tín thương hiệu
• Tăng thị phần
Trang 12Ngoài ra không chỉ các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, thương mại hay dịch vụ mới thực hiện ISO 9001:2008 mà ngày nay các hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cũng đã áp dụng ISO
2.2.5 Các bước áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2008 tại doanh nghiệp: [11]
Các bước để áp dụng ISO từ phía doanh nghiệp:
- Tổ chức đặt ra mục tiêu và lên kế hoạch
- Bổ nhiệm đại diện lãnh đạo và ban ISO
- Tìm hiểu ISO 9001: 2008
- Soạn thảo hệ thống văn bản
- Ban hành, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008
- Đo lường, phân tích, cải tiến
- Đánh giá cấp chứng chỉ (nếu thấy cần thiết)
Về phía ban giám đốc,
- Phải lập các qui trình sao cho đảm bảo ban lãnh đạo luôn đưa ra các chính sách và mục tiêu phù hợp với công ty
- Phải lập qui trình đảm bảo ban giám đốc định kỳ họp lại để xem xét các hoạt động của công ty cần phải chỉnh sửa gì không?
- Phải lập sơ đồ tổ chức, mô tả trách nhiệm & quyền hạn của các vị trí chủ chối trong công ty, đảm bảo mọi người hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình
- Phải tổ chức đánh giá nội bộ thường xuyên để nhanh chóng phát hiện những vấn đề của công ty từ đó đưa ra những hành động khắc phục, sửa chữa
Trang 13Về phía phòng kinh doanh
- Phải lập qui trình đảo bảo mọi yêu cầu của khách hàng được ghi nhận, và những thông tin từ phía khách hàng kể cả phàn nàn của khách hàng được giải quyết đầy đủ, hợp lý
- Phải lập một qui trình để biết được mức độ thoả mãn của khách hàng, từ đó có những điều chỉnh hợp lý để ngày càng thoả mãn khách hàng hơn
Về công việc thực hiện:
- Phải lập một qui trình để xử lý, khắc phục và phòng ngừa các sai sót trong quá trình thực hiện (các sai sót trong quá trình thực hiện theo thuật ngữ ISO 9001:2008 gọi là sự không phù hợp) nhằm đảm bảo các sai sót này được sửa chữa và sau này không lặp lại với cùng một nguyên nhân trước đó
2.2.6 Tầm quan trọng của việc áp dụng ISO 9001:2008 [12]
2.2.6.1 Lý do để doanh nghiệp áp dụng ISO 9001:2008
Có nhiều lý do để bạn cần có Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) theo tiêu
chuẩn quốc tế ISO 9001:2008
- Khách hàng (thị trường) yêu cầu
- Cạnh tranh giữa các Tổ chức
- Cải tiến hoạt động quản lý sản xuất
- Xu thế hội nhập quốc tế
- Nâng cao ý thưc làm viêc nề nếp – khoa học hơn
- Công cụ để quản lý sản xuất kinh doanh
Nguyên tắc của ISO là LÀM ĐÚNG ngay từ đầu, KIỂM SOÁT chặt chẽ từng
công việc của quá trình…thay vì kiểm tra sau sản xuất
Giấy chứng nhận phù hợp với ISO 9000 coi là Bằng chứng khách quan về việc Tổ chức hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế
Trang 1414
2.2.6.2 Các lợi ích của việc áp dụng bộ tiêu chuẩn này: [12]
Kết quả của việc áp dụng ISO 9001:2008 mang lại cho Tổ chức các lợi ích sau:
- Sản phẩm có chất lượng cao hơn - ổn định hơn
- Tăng sản lượng do kiểm soát được thời gian trong quá trình sản xuất
- Lợi nhuận tăng cao hơn nhờ áp dụng hiệu quả các quy trình sản xuất
- Giảm giá thành sản phẩm do giảm các sản phẩm sai hỏng ngay từ đầu
- Kiểm soát được chất lượng nguyên vật liệu đầu vào do kiểm soát được nhà cung cấp
- Luôn cải tiến chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu khách hang
- Tăng uy tín trên thị trường nhờ giải quyết được vấn đề chất lượng sản phẩm Mọi cán bộ công nhân viên có ý thức kỷ luật lao động tốt hơn, làm việc khoa học
nề nếp hơn thông qua việc quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của mỗi vị trí công việc
2.2.7 Quy trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng trong doanh nghiệp theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008
1.1 Bảng quy trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng cho doanh nghiệp
TT NỘI DUNG CÔNG VIỆC
THỜI GIAN
Tiêu chuẩn ISO 9000
1/2 - 1 ngày Chuyên gia tư
vấn + Cán bộ chủ chốt của
Cung cấp kiến thức chung cho toàn thể cán bộ quản lý
Trang 15Cung cấp cho các cán bộ quản lý hiểu các yêu cầu của tiêu chuẩn Đào tạo:
- cách thức xây dựng Hệ
thống tài liệu và phương
pháp quản lý tài liệu
- vai trò của các văn bản
trong công tác quản lý
1/2 - 1 ngày
Chuyên gia tư vấn + Cán bộ chủ chốt của Đơn vị
Trang bị kiến thức cho thành viên nhóm soạn thảo để chuẩn bị soạn thảo tài liệu của HTQL
Soạn thảo các văn bản của
chậm, ) cho bên Tư vấn
Cán bộ chủ chốt của Đơn vị + Chuyên gia tư vấn
Tập tài liệu về hệ thống QLCL đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn ISO
Áp dụng Hệ thống tài liệu (HTTL) đã xây dựng vào hoạt động thực tế của Đơn vị
III
- Hướng dẫn áp dụng 1 - 2 ngày Chuyên gia tư
vấn
Để các thành viên biết cách áp dụng
Hệ thống tài liệu
Trang 16Đánh giá HTQLCL theo ISO 9001:2008 (đánh giá nội bộ)
Cung cấp kiến thức
và kỹ năng cần thiết cho cán bộ làm công tác đánh giá chất lượng nội bộ
Hướng dẫn và Đánh giá nội
Đơn vị + Tư vấn
Kiểm tra vận hành của HTQLCL trên thực tế và so sánh với hệ thống tài liệu xem có thể chỉnh sửa lại ở đâu?
IV
Khắc phục, cải tiến sau
đánh giá nội bộ
Phụ thuộc tình hình thực tế
Đơn vị + Tư vấn
Chuẩn bị cho đánh giá chứng nhận của
tổ chức chứng nhận độc lập
Xem xét của lãnh đạo về
Đưa ra các quyết định liên quan đến việc áp dụng HTQLCL
Đánh giá sơ bộ/ đánh giá
giai đoạn 1(nếu cần) 1/2 — 1 ngày
Tổ chức chứng nhận
Đánh giá chứng nhận/
đánh giá giai đoạn 2 1 ngày
Tổ chức chứng nhận
Báo cáo kết quả, kiến nghị cấp Giấy chứng nhận
Đơn vị + Chuyên gia Tư vấn
Hồ sơ về hành động khắc phục, gửi cho
Tổ chức chứng
Trang 17
chức chứng nhận
nhận
Cấp chứng chỉ
Sau đánh giá chứng nhận
10 ~ 15 ngày
Tổ chức chứng nhận
Bản chứng chỉ HTQLCL phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9001:2008,được thừa nhận trên toàn cầu
[Nguồn: 12]
*Ghi chú:
o Các khoá đào tạo ở phần in nghiêng sẽ được thực hiện theo hình thức đào tạo tập
trung tại Doanh nghiệp
o Tổng số thời gian để thực hiện kế hoạch trên (không kể thời gian cho hoạt động Chứng nhận) là khoảng từ 4 đến 6 tháng (tuỳ thuộc vào sự nỗ lực, quy mô và phạm
Việc đưa vào của TS 16949 dẫn đến kết quả cải tiến đáng kể trên mọi khía cạnh
về chất lượng, giao hàng và hiệu quả tổng thể thông qua chuỗi cung ứng.Áp dụng tiêu chuẩn này cũng giảm bớt các yêu cầu của việc đánh giá phức tạp của các nhà sản xuất
Tổ chức tự động hóa quốc tế đại diện cho các nhà sản xuất thiết bị chính được cam kết là đảm bảo rằng TS 16949 duy trì tiêu chuẩn chất lượng tự động hóa trong tương lai
Trang 1818
2.3.2 Đối tượng áp dụng TS 16949? [11]
Tiêu chuẩn này áp dụng cho bất kỳ tổ chức sản xuất bộ phận, lắp ráp và thiết
bị để cung ứng cho ngành công nghiệp tự động hóa
Một vài thành viên trong Hiệp hội ôtô quốc tế (IATF) như: Toyota, Ford, BMW… đã có sự bắt buộc đối với những thành viên là đơn vị cung cấp thiết bị và linh kiện ngành xe hơi
2.3.3 Lợi ích khi áp dụng ISO/TS 16949 là gì? [11]
Ngành công nghiệp chế tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm ô tô hiện nay
là một ngành hoạt động có tính toàn cầu.Một nhà sản xuất phụ tùng ô tô có thể chỉ là rất nhỏ như một con ốc bắt trong chi tiết máy đều có thể tổ chức sản xuất hàng loạt sản phẩm với số lượng rất lớn và có khả năng xuất khẩu để phục vụ việc lắp ráp tại tất cả các hãng ô tô lớn trên toàn thế giới Vì thế các sản phẩm đầu vào của các nhà sản xuất ô tô mang tính đa dạng, chi tiết và thể hiện tính chuyên nghiệp hoá thông qua việc sử dụng nhiều sản phẩm của nhiều nhà cung cấp linh phụ kiện và ngược lại một nhà sản xuất linh phụ kiện có thể cung cấp cho rất nhiều hãng sản xuất ô tô lớn khác nhau Điều này dẫn đến nhu cầu cần phải xác định được các tập hợp chung giữa đặc điểm địa lý, văn hoá, khí hậu, sự phát triển của nền kinh tế, mẫu mã hay thậm chí yêu cầu của pháp luật tại mỗi quốc gia Nhu cầu này đòi hỏi các nhà cung cấp phải đảm bảo thực hiện theo đúng cam kết, tiến độ, số lượng, chủng loại, yêu cầu nghiêm ngặt trong yêu cầu phê duyệt sản phẩm (PPAP), hoạch định chất lượng theo yêu cầu khách hàng (APQP), phân tích mối nguy tiềm năng (FMEA), phân tích sai số trong dụng cụ đo ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (MSA) Toàn bộ các yêu cầu hợp nhất này sẽ được giải quyết khi doanh nghiệp áp dụng và được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo ISO/TS 16949
Việc áp dụng ISO/TS 16949 về cơ bản có các đặc điểm tương đồng với ISO 9001.Đặc điểm này mang lại cho ISO/TS 16949 một lợi thế lớn khi cùng lúc có được
sự công nhận của toàn hiệp hội cũng như sự phổ cập có tính toàn cầu của một tiêu chuẩn thông dụng Thuận lợi này giúp cho doanh nghiệp vượt qua rào cản bởi các yêu cầu khắt khe mang tính đặc thù của từng hãng lớn trên thế giới thông qua:
1 Cải tiến chất lượng sản phẩm và quá trình quản lý thông qua hoạt động bằng việc bám sát và cập nhật thường xuyên các yêu cầu của khách hàng, nâng cao sự thoả
Trang 19
mãn của khách hàng; hợp lý hoá và tối ưu hoá mặt bằng, dây chuyền sản xuất; đặc thù và phù hợp trong ngành ô tô nhằm ứng phó với các biến đổi của môi trường kinh doanh, đòi hỏi của thị trường;
2 Cung cấp niềm tin đối với các tổ chức áp dụng và được chứng nhận ISO/TS
16949 trên toàn thế giới nhằm giảm bớt các chi phí sản xuất không cần thiết như chi phí vận chuyển, bảo quản hoặc phải làm lại do làm đúng ngay từ đầu thông qua mục tiêu, kế hoạch, chi phí phí chất lượng hay tiến độ giao hàng;
3 Giảm thiểu sự khác biệt về chất lượng;
4 Tăng năng suất lao động;
5 Hình thành ngôn ngữ chung trong sản xuất và kinh doanh, tránh các hiểu lầm hoặc cản trở hoạt động cải tiến
Hình 1.3: Tác động của các quá trình với khách hàng
Do được xây dựng theo tiêu chuẩn ISO 9001 nên các công ty đã áp dụng ISO 9001
sẽ gặp thuận lợi trong việc áp dụng ISO/TS 16949 bằng cách bổ sung các quy định chi tiết của quy định kỹ thuật này vào hệ thống quản lý chất lượng đang áp dụng Các công ty sản xuất linh kiện ô tô, xe máy và cung cấp các dịch vụ có liên quan cho các công ty sản xuất ô tô, xe máy có thể tìm kiếm sự chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận độc lập (chứng nhận của bên thứ ba) Các tổ chức này không chỉ tiến hành đánh giá để cấp giấy chứng nhận ban đầu mà còn định kỳ thực hiện hoạt động đánh giá giám sát (trong thời gian 3 năm hiệu lực của giấy chứng nhận) để đảm bảo các công
ty vẫn luôn duy trì hệ thống quản lý phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn này
Trang 2020
2.3.4 Lịch sử hình thành bộ tiêu chuẩn ISO/TS 16949:2009 [16]
Dựa trên những nhu cầu về chất lượng áp dụng đối với các nhà sản xuất và cung cấp trong ngành công nghiệp ô tô trên toàn cầu như: Hiệp hội ô tô quốc tế (IATF) bao gồm các nhà sản xuất ôtô như: BMW, Daimler, Chryster, Fiat, Ford, General Motor, PSA Peugeot-Citroen, và các hiệp hội thương mại quốc gia: AIAG (Mỹ), VDA (Đức), SMMT (Anh), ENFIA (Ý), FIEV (Pháp), hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Nhật Bản (JAMA)
Trên cơ sở nền tảng của tiêu chuẩn QS- 9000, tiêu chuẩn EAQF của Pháp, AVSQ của Italia, và VDA6 của Đức ISO/TS 16949 được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999 do tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) và Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô lớn trên thế giới (IATF ) biên soạn và phát triển.Trên cơ sở của ISO 9000, ISO/TS
16949 quy định thêm các yêu cầu cụ thể nhằm quản lý chất lượng chặt chẽ trong ngành công nghiệp sản xuất ô tô bao quát tất cả các công đoạn gồm thiết kế, phát triển sản xuất lắp ráp, dịch vụ và hoạt động sản xuất phụ tùng để cung cấp cho dây chuyền chính
Vào tháng 3 năm 2002 phiên bản mới Tiêu chuẩn ISO/TS 16949:2002 thay thế cho phiên bản cũ ISO/TS 16949:1999 và tiếp tục phát triển tiêu chuẩn này trên nền tảng của ISO 9001:2000 với việc quy định các yêu cầu hệ thống quản lý chất lượng đối với thiết kế/phát triển, sản xuất, lắp ráp và các dịch vụ liên quan đến ngành công nghiệp ôtô
Tiêu chuẩn ISO/TS 16949:2002 là quy định kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn HTQLCL ngành công nghiệp ôtô toàn cầu như: QS 9000 (Mỹ), VDA6.1 (Đức), EAQF (Pháp), AVSQ (Ý) với mục đích loại bỏ nhiều chứng nhận nhằm thoả mãn yêu cầu của nhiều khách hàng
Tuy nhiên, sự kết hợp với tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đặc biệt là ở phiên bản ISO/TS16949:2002 tiêu chuẩn này đã mang tính phổ cập toàn cầu và trở thành một phương pháp quản lý chất lượng hưu hiệu cho các nhà sản xuất, lắp ráp, dịch vụ kỹ thuật liên quan đến ngành công nghiệp ô tô và được khuyến khích áp dụng rộng rãi
Ngày 15/6/2009 ISO/TS 16949:2009 ra đời thay thế cho phiên bản ISO/TS 16949:2002 trên nền tảng của phiên bản mới ISO 9001:2008 mặc dù nội dụng không
có sự điều chỉnh nhiều nhưng tại phiên bản mới một vài thành viên trong Hiệp hội ôtô
Trang 21
quốc tế (IATF) như: Toyota, Ford, BMW… đã có sự bắt buộc đối với những thành viên là đơn vị cung cấp thiết bị và linh kiện ngành xe hơi
2.3.5 Lợi ích khi áp dụng ISO/TS16949: 2009 [16]
Chất lượng quá trình và chất lượng sản phẩm được cải tiến, tạo nền móng cho sản phẩm có chất lượng, tăng năng suất và giảm giá thành, làm tăng thêm năng lực cạnh tranh và uy tính,thế mạnh cạnh tranh trên thị trường
• Nâng cao cơ hội xuất khẩu, vượt qua các rào cản kỹ thuật, thâm nhập các thị trường xuất khẩu
• Phát huy nội lực và tiết kiệm chi phí xây dựng hệ thống.Tiết kiệm chi phí kiểm tra thử nghiệm
• Thời gian giao hàng được đảm bảo đáp ứng yêu cầu của khách hàng Nâng cao
độ tin cậy của người mua
• Yêu cầu cải tiến chất lượng đối với nhà cung cấp
• Giảm bớt sự kiểm soát thường xuyên của khách hàng
• Cải tiến hoạt động nội bộ, nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc
• Giảm áp lực của các yêu cầu chế định về chất lượng, giấy chứng nhận hỗ trợ cho việc lưu thông sản phẩm trên thị trường
• Đáp ứng được các yêu cầu phải có Chứng chỉ khi tham gia đấu thầu, bán hàng
• Lợi thế cạnh tranh đối với những công ty không có Hệ thống quản lý QS 9000 được chứng nhận
• Thỏa mãn các yêu cầu bắt buộc của các nhà sản xuất ôtô lớn là thành viên của IATF
• Giảm thiểu việc đánh giá chứng nhận của bên thứ 3
• Cho phép tổ chức được cập nhật chuyển đổi từ QS 9000 trong những lần đánh giá giám sát định kỳ bởi tổ chức chứng nhận được sự đồng ý của IATF
• Nâng cao hình ảnh tổ chức, doanh nghiệp
2.3.6 Phân tích mô hình quản lý chất lượng chung của các nước trên thế giới
Hai mô hình quản lý MBO-MBP:
Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm khác nhau về quản trị, đó là quản trị theo mục tiêu tài chính MBO-Management By Object và quản trị theo quá trình MBP-Management By Process Mỹ và Nhật là hai quốc gia điển hình áp dụng hai mô hình này:
Trang 2222
- Mỹ: quản trị theo mục tiêu tài chính MBO
- Nhật: quản trị theo quá trình MBP
Qua nhiều thập niên qua, MBO đã có những đóng góp tích cực trong phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế của nhiều quốc gia.Ngày nay, do trình độ phát triển của xã hội, của khoa học-kĩ thuật, của công nghệ - thông tin và xu thế toàn cầu hóa về kinh tế làm cho môi trường kinh doanh trở nên cạnh tranh khốc liệt MBO dần dần xác định những nhược điểm của nó và người ta có xu hướng hướng tới quản lý theo quá trình MBP [20]
Sự khác biệt giữa hai mô hình quản lý MBO, MBP được trình bày như bảng sau:
Bảng 1.2 Hai mô hình MBO, MBP
Mục tiêu kinh doanh Tối đa hóa lợi nhuận do
tăng doanh thu, giảm chi phí
Lợi nhuận từ khách hàng trung thành,thường xuyên
Lợi thế hướng tới Doanh thu, chi phí Thị phần, thời gian lòng tin
của khách hang
Cơ cấu tổ chức Dọc, dày, trực tuyến Ngang, mỏng, chéo, chức
năng Lãnh đạo Tập quyền Kiểm soát các quy trình bằng
thống kê-SPC (Statistical Process Control)
Phương thức quản lý Kiểm soát sản phẩm do
[Nguồn: 19]
Trang 23
Nhận xét: Tùy theo tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh doanh mà các công ty có sự lựa chọn mô hình quản lý chất lượng phù hợp nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp
2.4 TÌNH TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN: [1-trang 13,14,15]
Mong muốn mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, thúc đẩy đầu tư nước
ngoài trực tiếp và tham gia vào thị trường toàn cầu đã đặt các nước đang phát triển phải đối đầu với hàng loạt những thời cơ và thách thức.Trong số những đòi hỏi cấp thiất và nổi bật phải kể đến vấn đề chất lượng.Đối với các nước đang phát triển chất lượng vừa là một thách thức vừa là cơ hội.Là một cơ hội, vì người tiêu dùng trên mọi quốc gia ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ mua.; hệ thống thông tin lại mang tính chất toàn cầu nên các tổ chức có điều kiện thuận lợi trong việc học hỏi kinh nghiệm, rút ngắn những đường đi mà người đi trước đã trải qua.Là một thách thức, vì các tổ chức trong các quốc gia phát triển đã tiến rất xa trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt.Lấp được khoảng cách là một việc rất khó khăn, nó đòi hỏi các tổ chức phải thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi cung cách quản lý đã hình thành từ lâu đời
Sau đại chiến thế giới thứ II, hầu hết các quốc gia độc lập đều áp dụng chính sách
tự lực.Để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, các tổ chức sở hữu nhà nước được thành lập.Nhằm bảo vệ nền công nghiệp non trẻ, hầu hết các chính phủ áp dụng chính sách bảo hộ, như hạn chế nhập khẩu và lập hàng rào thuế quan cao.Xét về lâu dài, sự thiếu cạnh tranh quốc tế đã tạo ra sự tự mãn, kém hiệu quả và ảnh hưởng đến việc xây dựng, phát triển nền văn hóa chất lượng
Các tổ chức tại các nước đang phát triển còn gặp nhiều khó khăn khác nhau như: thiếu phương tiện thông tin, năng lượng, vận tải, lại bị các yêu cầu về số lượng thúc bách.Tất cả những yếu tố trên đã góp phần làm cho chất lượng sản phẩm, kể cả sản phẩm xuất khẩu không đáp ứng yêu cầu của thị trường Do chất lượng hàng nội địa thấp nên hàng nhập được đánh giá cao đặc biệt đối với những người có thu nhập cao Ngoài ra, các chiến dịch quảng cáo tốn kém của các công ty đa quốc gia cũng tạo nên
sự tin tưởng quá mức đối với sản phẩm của các công ty này
Các nhà kinh doanh công nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi quan niệm này, nguyên vật liệu và chi tiết nhập từ bên ngoài được coi là có chất lượng tốt, việc kiểm tra
Trang 2424
mang tính chất chiếu lệ.Lợi dụng điều đó và việc thiếu phương tiện kiểm tra nên một
số công ty nước ngoài đã trút vào các quốc gia đang phát triển những hàng hóa những nguyên vật liệu có chất lượng thấp.Các nguyên vật liệu này khi sử dụng sản xuất sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thành phẩm
Trong tình hình toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia đang phát triển phải có biện pháp cải thiện tình hình và chấp nhận sự cạnh tranh.Để giải quyết vấn đề này, các nước đang phát triển phải thay đổi nhận thức của mình về chất lượng cũng như học được cung cách quản lý mới
2.5 TÌNH TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI VIỆT NAM: [1-trang 16,17]
Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đang là xu hướng tất yếu của mọi nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.Hội nhập với khu vực và thế giới sẽ tạo ra những cơ hội to lớn giúp các tổ chức Việt Nam mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, có cơ hội tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý mới… nhưng kèm theo đó cũng là những thách thức.Thách thức lớn nhất trong quá trình hội nhập chính là vấn đề năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các tổ chức Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực.Năng lực cạnh tranh thể hiện thông qua ưu thế về năng suất và chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm vốn là điểm yếu kéo dài nhiều năm ở nước ta.Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung trước đây, vấn đề chất lượng đã từng được đề cao và được coi là một mục tiêu quan trọng để phát triển nền kinh tế, nhưng kết quả mang lại chưa được là bao do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã phủ định nó trong những hoạt động cụ thể
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hiện nay, cùng với quá trình mở cửa
sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng ngay gắt, quyết liệt.Sức ép của hàng nhập, của người tiêu dùng trong và ngoài nước buộc các nhà kinh doanh cũng như các nhà quản lý phải hết sức coi trọng vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượng Chất lượng ngày nay đang trở thành nhân tố cơ bản quyết định sự thắng bại trong cạnh tranh, quyết định sự tồn tại, hưng vong của từng tổ chức nói riêng, cũng như sự tụt hậu hay
Trang 25
Kết luận:
Từ cơ sở lý luận trên đây thì công ty TNHH APM SPRINGS (Việt Nam) cần nghiên cứu ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng cho ngành công nghiệp tự động hóa ô tô ISO/TS 16949:2009 mà nền tảng là bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001:2008
Trang 2626
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG
TY TNHH APM SPRINGS (VIỆT NAM) 3.1Giới thiệu chung về công ty:
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển: [18]
Công ty TNHH APM SPRINGS (Việt Nam) là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.Được thành lập theo quyết định số 106/GP-KCN-BD ngày 02/05/2001 của Ban Quản Lý Các Khu Công Nghiệp Bình Dương
Là công ty chuyên sản xuất các loại nhíp xe ôtô và các linh kiện liên quan xuất khẩu cho các nước Malaysia, Trung Quốc…
- Tên giao dịch quốc tế: APM SPRINGS (VIET NAM) CO., LTD
- Trụ sở chính đặt tại: Số 25 Đại Lộ Tự Do, KCN Việt Nam- Singapore, Thuận An, Bình Dương
- Nguồn vốn kinh doanh: 32 tỷ đồng
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty: [18]
¾ Chức năng hoạt động chính: chuyên sản xuất các loại nhíp xe ôtô
và các linh kiện liên quan
¾ Nhiệm vụ:
- Phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước
- Đảm bảo các chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viên
- Giữ gìn môi trường, công tác an ninh được tốt
- Phấn đấu tăng cao kim ngạch xuất khẩu và nâng cao tỷ trọng trong tương lai
Trang 27− Xác định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị
− Hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty
− Trực tiếp chỉ đạo công tác tài chính - kế toán, kế hoạch, tổ chức cán bộ, đầu
tư phát triển
− Xây dựng chính sách chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội
− Cung cấp nguồn lực đầy đủ và thích hợp để thực hiện tốt kế hoạch của công
Trang 2828
− Định kì tổ chức xem xét hệ thống quản lý để đảm bảo hệ thống luôn phù hợp
và hoạt động có hiệu quả
− Là người chịu trách nhiệm cao nhất về hệ thống quản lý của công ty
− Báo cáo cho công ty mẹ tình hình hoạt động của công ty
Phó tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát các mặt công tác: đào tạo, quản lý nguồn nhân lực, vật tư-nguyên vật liệu…chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về mọi hoạt động trong các lĩnh vực được giao
Giám đốc điều hành: là người điều hành mọi hoạt động của công ty, đồng thời chịu trách nhiệm trước toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty trước cấp trên và trước pháp luật, có quyền quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm trưởng phòng, phó phòng, có quyền trong điều lệ công ty
Phòng sản xuất: điều khiển hoạt động sản xuất dưới phân xưởng, kịp thời đưa ra các giấy tờ cần thiết cho việc sản xuất không gặp trở ngại Đứng đầu
có quản đốc phân xưởng, là người trực tiếp chịu trách nhiệm với cấp trên đối với các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất
Bộ phận kỹ thuật (R& D): chịu trách nhiệm về bản vẽ và các chi tiết liên quan tới bản vẽ, kiểm tra chất lượng sắt,chất lượng sản phẩm sau khi hoàn thành Đây là bộ phận khá quan trọng,đòi hỏi bảng vẽ phải đáp ứng được yêu cầu của khách hang
Phòng nhân sự: tham mưu cho giám đốc công ty về công tác: bố trí, quản lý, điều động nhân sự, chế độ tiền lương, thanh tra pháp chế, hành chính quản trị nội vụ cơ quan
Phòng tài chính-kế toán:
- Thực hiện các chức năng về tài chính kế toán Hạch toán sổ sách kế toán
- Tham gia quản lý nguồn vốn cũng như bảo vệ tài sản của công ty
- Chịu trách nhiệm cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước: cơ quan thuế, ban quản lý khu công nghiệp, các nhà đầu tư…
- Lập kế hoạch các nguồn vốn, kế hoạch chi phí và đề xuất phương án xử lý
- Tổ chức phân phối và tích lũy lợi nhuận
Trang 29ủy thác Làm thủ tục xuất, nhập, khai báo hải quan,và những vấn đề liên quan…
Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ thực hiện các chức năng quản lý,tổ chức và
đề ra kế hoạch kinh doanh của công ty ngoại giao với các đơn vị trong và ngoài nước tìm nguồn hàng Nắm bắt giá cả thị trường, nhu cầu người tiêu dùng, tìm kiếm các hợp đồng kinh doanh Tổ chức tiếp thị, triển khai thực hiện các kế hoạch, theo dõi và soạn thảo các hợp đồng kinh tế, giám sát và kiểm tra chất lượng sản phẩm
Phòng bảo trì: chịu trách nhiệm đảm bảo các thiết bị máy móc hoạt động tốt nhất Thường xuyên theo dõi và kiểm tra tình trạng máy móc để kịp thời sửa
chữa đáp ứng yêu cầu sản xuất
Bộ phận kho: chịu trách nhiệm nhận nguyên vật liệu đầu vào sau khi đã kiểm tra chất lượng.nhập thành phẩm sau khi hoàn chỉnh Đồng thời, kiểm tra các phụ liệu kèm theo xem còn hay hết để kịp thời báo cho bộ phận mua hàng
mua về đáp ứng nhu cầu của đơn hàng
Mỗi bộ phận có một chức năng khác nhau, tuy nhiên giữa các bộ phận có mối liên
hệ chặt chẽ và qua lại với nhau tạo nên thể thống nhất.Chính điều này đã thúc đẩy công ty ngày càng phát triển
Trang 3030
Mr Ng Kok Choo Prod Manager
Tống Thành Nên
Leader Forming
Nguyễn Phi Nhạn Leader HT
Lưu Minh Tuấn Leader PF
Nguyễn Thị Kim Lành Clerk Production
¾ Leader Heatreament : Nguyễn Phi Nhạn, chịu trách nhiệm từ khâu 13 đến khâu 20 trong qui trình
¾ Leader Part finishing: Lưu Minh Tuấn, chịu trách nhiệm quản lý các khâu từ sơn lót và sơn hoàn chỉnh lá nhíp, đóng thành bộ (đối với nhíp bộ) trước khi đưa ra thành phẩm nhập kho
Trang 31
3.2.4 Bảng cơ cấu nhân sự:
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân sự và trình độ nhân viên
Đvt: Người
Trong đó Các phòng ban Tổng
số ĐH và > ĐH CĐ và TC PTTH LĐPT 1.Ban giám đốc 2 2
Nhận xét: Qua bảng cơ cấu nhân sự trên đây ta thấy, số lượng công nhân viên
có trình độ đại học và trên đại học còn ít ở mỗi phòng ban Số lượng nhân viên
trung cấp, cao đẳng và lao động phổ thông còn khá nhiều Do đó, công ty nên có
chiến lược tận dụng tốt nguồn nhân lực sẵn có và có chính sách khuyến khích giúp
đỡ công nhân viên học thêm để nâng cao trình độ
3.2.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty:
3.2.5.1 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2 năm gần đây:
Doanh thu là một nhân tố thể hiện hiệu quả kinh doanh của một công ty, từ
doanh thu chúng ta có thể biết được tốc độ phát triển về thu nhập của công ty qua các
năm Cũng từ doanh thu đó ta có thể biết được hiệu quả sử dụng vốn của công ty
thông qua chỉ tiêu lợi nhuận
Đồng thời, thông qua doanh thu mà các cơ quan nhà nước như: cơ quan thuế, bộ
kinh tế, bộ đầu tư… có chính sách quản lý kịp thời đối với doanh nghiệp Do đó, các
công ty phải có báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh rõ ràng, cụ thể cho các cơ
quan chức năng
Trang 323.Doanh thu thuần về bán hàng
6 Doanh thu hoạt động tài chính 21 VI.26 290,818,500 345,793,000
7.Chi phí tài chính 22 VI.28 2,138,405,360 3,249,157,250
8 Chi phí bán hàng 24 1,718,345,532 2,356,896,648
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 25 3,632,565,828 3,901,039,236
10 Lợi nhuận thuần từ HĐKD 30 9,841,071,052 9,550,438,050
15.Chi phí thuế TNDN hiện hành 51 VI.30 - -
16.Chi phí thuế TNDN hoãn lại 52 VI.30 - -
17.Lợi nhuận sau thuế 60 8,493,358,137 9,601,911,114
[Nguồn: 2]
Tình hình sản xuất hoạt động kinh doanh năm 2009 có khả quan hơn năm 2008,
chứng tỏ công ty đang dần phục hồi sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu Doanh thu tăng từ 71,051,995,476 đ năm 2008 lên 90,904,236,528 đ năm
2009, điều này làm cho lợi nhận thuần cũng tăng theo từ 8,493,358,137 đ năm 2008
lên 9,601,911,114 đ năm 2009.Để thấy rõ hơn tác động của từng nhân tố đối với lợi
nhuận sau thuế ta phân tích như bảng sau
Trang 33Biểu đồ sản lượng cho thấy được sản lượng sản xuất trong năm 2009 giảm đáng
kể so năm 2008.Sở dĩ như vậy vì, sau khủng hoảng kinh tế nhu cầu tiêu dùng của
người dân chưa tăng, các ngành công nghiệp sản xuất các mặt hàng xa xí phẩm chưa
phục hồi sản xuất.Chính điều này đã kéo theo các công ty sản xuất linh kiện, phụ tùng
thay thế không thể tăng năng suất được.Nhưng điều này cũng phần nào thấy được
tình trạng phục hồi của công ty còn hạn chế, chưa có chính sách tăng năng suất và sản
lượng sau cuộc khủng hoảng Do đó, sản lượng năm 2009 giảm hơn 1000 tấn
3.2.6 Phân tích mối quan hệ giữa sản lượng, doanh thu, giá vốn và lợi nhuận:
Bảng 1.5: Bảng phân tích quan hệ sản lượng, doanh thu và lợi nhuận
Đơn vị tính: VNĐ
[Nguồn: 2]
Qua bảng phân tích ta thấy được lợi nhuận năm 2009 tăng so với năm 2008 là
1,672,168,912 vnđ, tăng 9% Sở dĩ lợi nhuận tăng do:
+ Doanh thu năm 2009 tăng 27%, tức tăng 19,852,241,052 vnđ so năm 2008
+ Giá vốn hàng bán cũng tăng 36%, tăng 19,180,072,140 vnđ so năm 2008
Chỉ tiêu
1.Sản lượng (tấn) 3752 2482.4 1269.6 66 2.Doanh thu thuần 71,051,995,476 90,904,236,528 19,852,241,052 127
3 Gía vốn hàng bán 53,012,426,204 72,192,498,344 19,180,072,140 136
4.Lợi nhuận gộp 17,039,569,272 18,711,738,184 1,672,168,912 109
3752
2482.4
Trang 3434
Ta thấy tỷ lệ tăng của giá vốn hàng bán tăng nhiều hơn so tỷ lệ tăng của doanh thu thuần, vì thế làm cho lợi nhuận gộp của công ty có tăng nhưng không đáng kể Đồng thời sản lượng tiêu thụ năm 2009 giảm so 2008 là 1269.6 tấn, giảm 34%.Điều này cho thấy do tốc độ tăng giá vốn hàng bán quá nhanh làm cho việc tiêu thụ đạt hiệu quả không cao.Công ty cần:
- Cần phải có bộ phận lập kế hoạch giá thành thích hợp với bộ phận chịu trách nhiệm sản xuất.Hai bộ phận này phải xem xét, đối chiếu với nhau để việc thực hiện giá thành đạt hiệu quả cao hơn Tránh trường hợp bộ phận lập giá thành đưa ra kế hoạch ngoài sự quản lý của bộ phận sản xuất
- Tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu tồn kho để đảm bảo chất lượng, phẩm chất đạt yêu cầu cho sản xuất Tránh tình trạngnguyên vật liệu tồn kho không được bảo quản tốt làm kém chất lượng và phẩm chất Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc tăng chi phí nguyên liệu sản xuất, dẫn đến tăng giá thành
- Bộ phận thu mua phải tìm nguồn cung ổn định để đảm bảo giá mua vào không không biến động khi nguyên vật liệu khan hiếm, gây tăng giá trị mua vào Và đó cũng
là nguyên nhân gây tăng chi phí nguyên vật liệu
- Bên cạnh đó, công ty cần đề ra chính sách giá bán mới sao cho phù hợp với tình hình hiện tại nhằm nâng cao doanh thu, nâng cao hiệu quả tiêu thụ, góp phần giảm hàng tồn kho
3.3 Phân tích hệ thống quản lý chất lượng hiện nay tại công ty:
3.3.1Sơ đồ qui trình sản xuất:[5]
Trang 362 Shearing: cắt tạo hình lá nhíp theo mẫu/kích thước tương đối bằng máy cắt
3 Centrer punching: định hình 2 đầu lá nhíp đúng kích thước bằng máy uốn
4 Diamon cut: cắt phần đầu lá nhíp theo hình lục giác (cắt nóng)
5 Side cutting: cắt gọt phần giữa lá nhíp
6 End heating: nung nóng phần đầu lá nhíp
7 Eye forming: uốn cong phần đầu để tạo mắt cho lá nhíp
8 Eye grinding: mài mắt cho đúng kích thích theo yêu cầu bản vẽ
9 Taper: cán dẹp 2 đầu thanh sắt
10 End punching: sau khi cán dẹp phần đầu,đem đi cắt (cắt nguội)
11 Width cutting: gọt 2 bên mép của thanh sắt để dễ uốn cong
12 Wrapper: uốn cong phần đầu thanh sắt để làm mắt cho nhíp nhưng có khe
hở
13 Heating: nhiệt luyện là quá trình xử lý nhiệt nhằm tăng độ cứng sản phẩm
14 3 point press: đối với các lá nhíp ngắn đục lỗ 3 điểm
15 Finger press: đục lỗ nhiều điểm
16 Curving rolling:uốn cong thanh thép theo hình mẫu
17 Quenching: nhúng dầu cho lá nhíp
18 Tempering: để ráo dầu sau khi nhúng
19 Shot peening: bắn cát lên bề mặt cho nhíp để làm nhẵn bề mặt
20 Stress peening: bắn cát lên bề mặt nhíp đồng thời dùng lực đè nhíp thẳng
24 Touch-up & Marking:dán nhãn chất lượng cho sản phẩm
25 Final inspection: kiểm tra lần cuối trước khi sản phẩm nhập kho